Showing posts with label Nhật ký xã hội 2010. Show all posts
Showing posts with label Nhật ký xã hội 2010. Show all posts

Monday, December 20, 2010

Ghi chép hàng ngày ( 15)

28-11

TÌNH CẢNH HẬU CHIẾN

Có một việc tôi đang muốn dành thời gian để làm—đọc lại sử mình những năm sau chiến tranh.

Ví dụ sau khi đánh xong quân Nguyên, nhà Trần ra sao?

Sách vở hiện đại ghi về chuyện này hơi ít. Cụ thể là trong các sử gia hiện thời, chỉ có Đào Duy Anh làm, và tôi chỉ mới đọc có ông chứ chưa có dịp đi vào mấy bộ sử cổ, song đã thấy cả một đề tài chưa ai khai phá.





Trong cuốn Lịch sử VN- từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX,  ĐDA dành hẳn một chương, chương XXV, nói về Bước suy đốn của nhà Trần, trong đó nói rõ việc đầu tiên Trần Nhân Tông cho làm sau khi quân Nguyên rút lui năm 1285 là duyệt lại hộ khẩu trong nước.

      Để làm gì? Theo ĐDA, để tìm cách “lấy tiền của mà tu bổ những tổn hại do chiến tranh gây nên.”
    Tiếp đó, ĐDA kể ra nhiều việc nhà Trần đã làm sau 1288 nhằm “ra tay bóc lột nhân dân thêm nữa “.
     “Ngay năm 1290, sử đã chép có nạn đói lớn, mỗi thưng gạo giá đến một quan, nông dân nhiều người phải bán ruộng đất và bán vợ con làm nô tì. Sau khi đã ra sức tham gia kháng chiến trong quân đội hay trong dân quân, người nông dân thấy đời họ không được cải thiện mà lại còn bị bóc lột hơn xưa, họ rất lấy làm bất bình mà đã rục rịch phản đối. Không thể dùng ngay thủ đoạn khủng bố,   Trần Khâm ( tức Nhân Tông—VTN ) lại nghĩ ngay đến việc dụng binh đối với các nước nhỏ láng giềng  để đánh lạc hướng bất bình của nhân dân” (Sđd, bản của Nxb Văn hóa Thông tin, 2002, tr. 258-259)  


        Một khía cạnh khác, gần đây báo chí nói nhiều tới việc Nhân Tông thượng hoàng đi tu. Hôm nọ gặp nhau ở SG, anh Trần Đĩnh -- bậc thày của tôi trên phương diện miên man tự học, bằng sự lịch lãm của một người đã qua sống qua ba chục năm chiến tranh và thường xuyên tiếp xúc với nhân học hiện đại -- dự đoán, chắc là thượng hoàng thấy chiến tranh khủng khiếp quá, nên tìm cách tách mình ra mà suy nghĩ đấy thôi.
        Cũng là một cách ghi nhận tâm lý hậu chiến!
        Chỉ có điều cái tâm thế cao quý ấy là một cái gì mà người nay chỉ ngưỡng mộ chứ chả thấy ai làm theo cả.
   
MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM- TRUNG HOA CUỐI ĐỜI TRẦN
     Đánh xong quân Nguyên, nhà Trần cũng dần dần rơi vào khủng hoảng.
     Sau khi Nhân Tông Trần Khâm qua đời, người kế ngôi là thái tử Trần Thuyên, đế hiệu là Trần Anh Tông (1293-1314)
     Việt nam sử lược của Trần Trọng Kim ghi:” Anh Tông lúc đầu hay uống rượu và đêm thường lẻn ra ngoài kinh thành đi chơi, có khi bị đồ vô lại phạm đến “.
     Tiếp đó là các vua Minh Tông (1314-1329), rồi đến Hiến Tông. Ông sau này lên ngôi lúc mới 10 tuổi, và làm vua được 13 năm, tới 1341 thì qua đời, khi mất mới 23 tuổi.
      Dụ Tông lên ngôi từ 1341. Vẫn theo Trần Trọng Kim, ông Dụ Tông này“ rượu chè chơi bời, xây cung điện đào hồ đắp núi, rồi lại cho gọi những người nhà giàu vào trong điện để đánh bạc. Bắt vương hầu công chúa phải đặt chuyện hát tuồng ( do quân Nguyên sang, mới du nhập – VTN chú), và bắt các quan thi nhau uống rượu, ai uống được một trăm thăng thì thưởng cho hai trật.
      Chính sự như thế cho nên giặc cướp nổi lên như ong “.
      Dụ Tông chết, không có con.
      Bà Hoàng thái hậu lập một con nuôi là Dương Nhật Lễ, vốn dân con hát, lên thay, nhưng bị tôn thất nhà Trần giết, dành ngôi cho Nghệ Tông.
       Ông này là một vị vua lạ, ở ngôi chỉ hai năm (1370  -- 1372) lại nhường ngôi cho em là Trần Duệ Tông.
      Lúc này ở Trung quốc, nhà Minh đã thay thế nhà Nguyên.
      Xẩy ra một việc rất giống với ngày hôm nay.
      Lúc Nhật Lễ đương quyền, vua nhà Minh lợi dụng nước ta lộn xộn, nghe theo bầy tôi thuộc bộ Lễ, cho bọn này đem các thần sông núi ở nước ta phụ tế vào đền nhạc độc của TQ.
      Rồi sai đạo sĩ là Diêm Nguyên Phục đến tế thần ở ta. Đại Việt sử ký tiền biên ghi đó là thần núi Tản Viên và các thủy thần sông Lô.
     Đến khi Nghệ Tông lên, theo Tiền biên, ông cho hủy bỏ những điều sai trái do các nho sĩ thời trước sinh ra, đó là những gì bắt chước Trung Quốc.
      Nghệ Tông nói “ Tiên triều dựng nước có chế độ phép tắc, không theo chế độ nhà Tống, bởi lẽ phương nam phương bắc đều có vua của nước mình, không phải theo nhau.” 
     Nghệ Tông nói tiếp, thời Dụ Tông, kẻ học trò mặt trắng không thấu đạt được ý của sự lập pháp, đem phép cũ của tổ tông bày đặt theo tục của xứ người. Như các loại quần áo nhạc chương không thể kể hết được. Nay việc gì cũng phải theo lệ cũ thời Trần Minh Tông (1314-1329).


      Thế mới biết lúc này, ý thức về bản sắc đã hình thành, có điều nó còn  mong manh và phải luôn luôn gia cố.


     Trong Đại Việt sử ký tiền biên, sử thần Ngô Thì Sĩ cho biết người Minh khen Nghệ Tông là “hiếu hữu cung kiệm, bác học minh mẫn”.
      Hai năm sau khi lên ngôi vua, Nghệ Tông lại lập em lên thay  thành vua Duệ Tông.  
      Tức Nghệ Tông là loại xem thường chính sự, coi lên xuống ngôi vua như chuyện cởi chiếc giầy, thay chiếc áo --- Ngô Thì Sĩ bình luận.


2-12
TIẾP TỤC CÂU  CHUYỆN TỰ DO HOANG DẠI
    Bác sĩ Zhivago trong cuốn tiểu thuyết cùng tên của Boris Pasternak  có lần nói với bạn gái:
  “ Cô thử nghĩ xem cái thời đại chúng ta thật là lạ lùng. Và cô với tôi đang phải sống trong đó. Thật ngàn năm một thuở mới lại xẩy ra những chuyện điên rồ như thế này. Cô có thấy cả nước Nga như mất nóc --  tôi và cô, tất cả những người như chúng ta đang sống ngoài trời. Không còn ai kiểm soát chúng ta. Tự do ! Đúng là tự do thực chứ không phải những lời rỗng tuếch, nhưng đó là một thứ tự do ngoài mọi sự chờ đợi của chúng ta, tự do vì tình cờ vì ngộ nhận.”
    Tôi ngờ rằng lẽ ra ở đây, tác giả sẽ viết thêm …”tự do vô chính phủ, tự do làm khổ nhau hành hạ nhau.“  
     Giá biết trước câu này, tôi sẽ dẫn vào bài Một thứ tự do hoang dại mới viết hai tháng trước.
     Hóa ra ở đâu cũng thế!
    
    Từ những biến thiên kiểu ấy, nay nước Nga rơi vào tình cảnh thế nào?
    Có hai chi tiết đáng nhớ nhất từ các bài báo mà rải rác tôi đã đọc.
     Một là về các vùng quê, thấy rất nhiều người đàn ông say rượu, có khi tất cả đàn ông trong làng say rượu. Còn đàn bà thì dạy nhau để làm sao bán được thân mình cho những người giầu có.
     Và thứ hai, nếu ngày xưa, các phương tiện truyền thông chuyên môn đóng vai giảng đạo thì nay ngược lại. Xem ti-vi, dân không phải nghe dậy bảo là hãy sống như thế này thế nọ nữa. Trong khi tha hồ lê lết trong cực khổ, giờ đây họ toàn được nghe những điều họ muốn nghe, những lời nịnh nọt rằng nước Nga thuộc loại cường quốc dắt dẫn thế giới, người dân Nga đang sống cực kỳ hạnh phúc.




   6-12
       PHẢI MẠNH MẼ THÌ MỚI CÓ THỂ TRUNG THỰC
     Năm nay là năm kỷ niệm một trăm năm ngày mất của L. N.Tolstoi.
     Tờ Văn học nước ngoài của Hội nhà văn đăng lại diễn văn  của Văn hào Pháp Anatole France  tại Đại học Sorbonne 12-11-1911 trong đó có đoạn:
      “Bằng cuộc đời của mình, Người đưa ra tuyên ngôn của cái chân thực, thẳng thắn trung tín kiên quyết; của chủ nghĩa anh hùng điềm đạm và bền vững. Người dạy chúng ta phải thực thà và mạnh mẽ.
      Quả vậy, chúng ta phải mạnh mẽ để không tàn bạo phải mạnh mẽ để có thể trung thực để được hiền hòa để được an dịu. Phải mạnh mẽ thậm chí là để cười nữa. Chính vì Người có đầy sức mạnh cho nên bao giờ Người cũng trung thực. Yếu ớt thì không thể truyền bá được chân lý.
   (… ) Tolstoi kêu gọi chúng ta phải chân thực và như thế là Người đang khơi gợi để chúng ta tranh luận với Người một khi Người mắc sai lầm...”


  Tôi rất thích cái ý người ta phải mạnh mẽ thì mới không tàn bạo, phải mạnh mẽ để có thể trung thực, và yếu ớt thì không thể truyền bá được chân lý.
       Có thể dùng nó để giải thích tình trạng hiện thời trong cách đối xử với nhau của cộng đồng Việt. Nhiều khi người ta tàn bạo với nhau giả dối với nhau chỉ vì quá yếu. Yếu nhưng lại ác. Càng yếu càng ác.


 7-12
   GIẦU CÓ NHƯNG KHÔNG THÀNH NGƯỜI
    Dạo này đi đâu cũng thấy dân tình bàn tán về hành xử của đám nhà giàu trọc phú vừa rồi, mang việc đấu giá làm từ thiện ra đùa cợt. Đùa cợt trên sự cùng cực của người nghèo.
    Đấy, đám người giàu có, tức những người năng động thành đạt những người ưu tú của xã hội ta là thế đấy!
     Lại nhớ gần đây một người Đức đã viết trên mạng về “người Việt xấu xí’.
    Ông ta bảo hình như nhiều người Việt hiện nay cũng biết mình hư hỏng nhưng lại có lối đổ thừa cho hoàn cảnh.
     Tức là bảo rằng tại chúng tôi nghèo quá nên chúng tôi mới hư hỏng thế này, còn nếu giàu có lên thì chúng tôi sẽ tử tế ngay.
     Còn theo kinh nghiệm của người Đức, và nhiều cộng đồng khác, con người phải tử tế thì mới có được sự giàu có chắc chắn.
     Có vẻ như các vụ việc gần đây cho thấy người Đức kia nói đúng.     
     Sự giàu có hiện nay của một số người ở VN chỉ là sự giàu có giả tạo. Họ vẫn chưa thành người.


        Tại sao người dân tha hóa vậy? Câu trả lời có thể là:
-- đi qua chiến tranh người ta sống cảm giác kẻ sống sót, không thấy cuộc đời có ý nghĩa gì ngoài sự hưởng thụ.
-- chiến tranh không đào tạo người ta thành người lao động bình thường, trước cuộc mưu sinh ngày nay, mỗi người hoàn toàn bất lực.
     Nên nhớ là dưới bom đạn, ảo tưởng lại được nuôi nấng, và đến nay khi ảo tưởng đó tiêu tan, thì con người ta như con trâu đứt mũi, thả mình phiêu lưu trong sự hư hỏng.


   Các nguyên nhân khác:
    Nguyên nhân căn cốt cộng đồng. Ngay từ hồi chiến tranh, tôi nhớ một người như nhà văn Đỗ Chu đã có lúc trầm ngâm nói với tôi rằng đọc lại sách vở xưa, bên cạnh rất, rất nhiều tự hào, nhiều khi chợt thấy dân mình có quá nhiều tính chất của một đám đông lêu lổng(?!).
   Có đúng thế không ? Không đúng hẳn, cũng đúng một phần?


    Nghe chuyện lừa lọc thời nay, luôn luôn tôi nhớ đến Ba Giai Tú Xuất.
   Không hiểu sao truyện này không được nổi tiếng bằng Trạng Quỳnh ? Có lẽ vì thiếu chữ trạng là cái chữ dân ta rất khoái? Mà có lẽ  có cái việc là Trạng Quỳnh chửi vua quan và sứ Tầu để rồi giải thích mọi sự hư hỏng của mình là do phải đối phó với họ -- trong khi Ba Giai Tú Xuất chỉ nói cái việc người ta trở thành lưu manh bịp bợm và lừa lọc nhau …một cách hồn nhiên và đầy hào hứng ra sao.


8-12  
 MỘT NIỀM TIN PHẢNG PHẤT,
   Ngày càng có nhiều người nước ngoài nghiên cứu về người Việt, trong đó có cả những người đi vào những khu vực tối tăm bí hiểm của chúng ta. Như việc cúng bái các hoạt động cúng bái và nghề lên đồng.
    TT&VH  ( tôi quên ghi số) có lần kể về một ông Tây đang làm nghề thầy cúng ở chung quanh Hà Nội. Ông ta đi học cẩn thận. Và ông ta nhận xét người Việt hình như cái gì cũng tin mà lại chẳng tin một điều gì.
      Nhớ một ý của nhà văn Mỹ Kurt Vonnegut về mối quan hệ  của ông với tôn giáo. Ông tự nhận là humanist — người theo chủ nghĩa nhân bản, “một phần có nghĩa là, tôi đã cố gắng ứng xử tử tế xứng đáng mà  không vì kỳ-vọng nào về phần thưởng hay trừng phạt ở đời sau,”
      Lại tự nhận là freethinker — “người suy nghĩ tự do, không bị ràng buộc vì tín niệm tôn giáo hay gì khác, nhưng vẫn trân trọng những điều rao giảng tốt lành của các tôn giáo “.
      Tôi ghi lại đoạn này vì thấy nhiều phần ngược với người Việt.  Chúng ta chỉ cố gắng tử tế vì hy vọng được phần thưởng mà không bị trừng phạt.  Và chúng ta làm việc này một cách dung tục cẩu thả. Chùa chiền ở miền bắc hiện nay sư mô nhiều người không biết chữ Hán, không thuộc kinh kệ và hiểu không đúng kinh kệ. Dân cũng vậy. Điều quan trọng là con người  ít nghiền ngẫm về “những điều rao giảng tốt lành “ của tôn giáo. Chỉ có chủ nghĩa thực dụng đang thắng thế. Thực dụng ở đây tạo nên một tình trạng nước đôi ( = lưỡng trị ), bảo là tin cũng được mà bảo là không tin cũng được.
     
11-12.
 SẢN PHẨM NƯỚC NGƯỜI  TRÊN XỨ MÌNH
   Có một dạo Hà Nội có phong trào nuôi chó Nhật xuất sang Trung quốc. Sau do người mình lai tạp lung tung, nên họ không nhập nữa, người làm ăn tử tế mất nghề.
   Trên đường phố, giờ đây tôi thỉnh thoảng vẫn gặp vài con chó Nhật còn sót lại. Chúng nhem nhuốc bẩn thỉu và cũng lam lũ chúi đầu vào đống rác kiếm ăn như chó bản địa.
     Không muốn nhìn nữa... Chỉ thấy nhớ thuở chúng được chăm bẵm nâng niu… mà thoáng qua một chút ngậm ngùi giùm cho kiếp lưu đầy xứ lạ.


    Lạ lùng cho đất An Nam      
Trời sinh ra thế biết làm sao đây
    Cái gì tốt tốt hay hay
Nước ngoài  đem lại cũng quay ra xoàng 
   Khoai tây trồng hóa khoai lang
 Thủy tiên cụ Tiễu đâm ngang hóa … hành
    Tú Mỡ trong bài Biến đổi, in trên Ngày nay 8-7-1939, đã viết vậy. Ông cười vì những cái tốt đẹp của nước ngoài khi vào xứ mình bị biến dạng như thế nào.


19--12
  NÓNG LẠNH BẤT THƯỜNG       
     Khái quát về không khí thành phố hồi đại lễ nghìn năm, tôi đọc trong một bài báo người ta dịch lại từ The New York Times.
Trong lúc Hà Nội đánh dấu Sinh nhật thứ 1.000, một số người khác thì diễu cợtAs Hanoi Marks 1,000th Birthday, Some Are Cynical  “Tính không hòa hợp là điển hình của Hà Nội ngày hôm nay, một thủ đô Cộng sản đang vội vã trong một tương lai hướng theo thị trường hơn – lớn hơn, nhanh hơn, ồn ã hơn bao giờ hết, tham lam cho một bộ mặt mới như là nó bao quát cả thế giới hiện đại”. “The dissonance was emblematic of Hanoi today, a Communist capital hurrying into a more market-driven future — bigger, faster, noisier than ever, grasping for a new identity as it embraces the modern world.”


       Sở dĩ tôi phải dán lại mấy câu nguyên văn tiếng Anh vì trong đó có từ The dissonance. Dịch tính không hòa hợp là sát nghĩa, nhưng theo tôi nên nói rõ hơn Đây vốn là một từ trong âm nhạc chỉ sự kết hợp giữa các nốt nhạc mà hiệu quả gợi ra chỉ là sự khó chịu. Và như vậy, ở đây, nó muốn nói tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược trong bản thân một cơ chế hoặc một tâm thế  thảng thốt nóng lạnh bất thường của một con người, một xã hội.


      Không có một từ nào miêu tả tình trạng cộng đồng chúng ta hôm nay đúng như từ này.
 
        Chẳng hạn  như trong câu chuyện cả nước sôi sục vì hai trận bóng đá VN—Malaysia và sự đối lập giữa cái nồng nóng hôm trước với cái lạnh lẽo hoang vắng hôm sau.
        Sự nóng lạnh bất thường ở đây hình như đã như một thứ khí hậu bao trùm khiến người ta cảm thấy phải đặt cho mình một câu hỏi: Chung quanh không bình thường hay là mình không bình thường?
            Một khía cạnh nhỏ nữa-- tự nhiên cảm thấy một mất mát quá lớn; từ nay không chừng nhiều người sẽ sinh ra ngờ vực sẽ dửng dưng nếu không muốn nói là còn cười thầm trước những giọt nước mắt ?
           Nhưng làm sao không đổ đốn được như vậy khi mà chứng kiến sự cảm động vô nghĩa của cả một đám đông chung quanh ?  
           Chúng ta không còn biết ta là ai ta sẽ làm được gì, và ta đành lòng làm con tin cho những may rủi hay sao?
           
             Trước 1964, tức là trước chiến tranh, đời sống Hà Nội khá thanh bình, khá hòa hợp. Một trong những bài hát mà bọn đội viên đeo khăn đỏ chúng tôi hay hát là bài nói về tâm trạng của một đứa trẻ khi ngồi trên đu quay, trong đó có câu: Bay lên nào em bay lên nào !
             Đến những năm khoảng từ 1970 trở đi, cuộc sống thời chiến đẩy con người vào những tình thế vô cùng bi đát, người ta thường rất dễ nổi khùng với nhau trước khi hành hạ làm khổ nhau, và câu hát ấy được bọn tôi lúc này đã lớn đọc chệch đi là : Điên lên rồi ông điên lên rồi!
              Cơn điên ấy còn đang kéo dài cho đến hôm nay?


          
20-12
 TÌNH THẾ BẤT LỰC 
  Ở  Hà Nội trước 1954 có một bài học thuộc lòng mà  học sinh tiểu học chúng tôi phải học.
  Hôm nay trời lại mưa phùn
 Đường em đi học lầy bùn khổ chưa
 Trên đầu không nón che mưa
 Có đôi guốc vẹt lại vừa đứt quai
  Một tay che vạt áo dài
 Một tay túm chặt lấy hai ông quần
 Bùn sâu đến mắt cá chân
 Sách em xốc lại mấy lần chực rơi
 Xa xa trống đã điểm hồi
  Em còn đứng mãi ngoài trời đội mưa.


     Vào những ngày mưa phùn giá rét ở HN hôm nay, tự nhiên những câu lục bát ấy cứ lởn vởn trở lại trong đầu. Cái cảm giác lúng túng bất lực từng có từ  hồi tuổi nhỏ hình như kéo dài cho đến bây giờ. Mà có phải riêng mình đâu, chắc những người “ cũng một lứa bên trời lận đận” hôm nay cũng thường có lúc chạnh lòng thấy mình chưa thoát khỏi tình cảnh năm mươi năm trước sáu mươi năm trước…



Tuesday, November 16, 2010

Ghi chép hàng ngày ( 14)

25-10

MỘT LÝ DO KHIẾN GIAO THÔNG HỖN LOẠN

Ở Hà Nội trước năm 1954 và tính rộng ra từ 1975 về trước, đời sống khá bình lặng, phương tiện cơ giới như ô tô rất ít, mọi người có ý để đi cho đúng nền nếp.

Tuy không thành luật, nhưng có một điều, loại học sinh mới lớn như tôi bao giờ cũng được giáo dục để chôn chặt vào đầu:



Đó là, người đi xe đạp và đi bộ không những phải đi vào đường của mình để bảo đảm an toàn tính mạng -- mà cái chính là xe thô sơ phải nhường đường cho xe cơ giới.

Vì đó là những phương tiện dùng cho những người quan trọng hơn, cần phải được đi nhanh hơn.

Còn bây giờ, đường xá hỗn loạn chẳng những là vì ai cũng vội, ai cũng muốn làm ông tướng trên đường, mà một phần là vì chúng tôi, đám người dùng xe thô sơ, chẳng tìm ra lý do gì để phải thương phải nể những người có các phương tiện hơn hẳn chúng tôi cả.

Nếu đó không phải là những quan chức nhân danh việc công để vơ vét cho đầy túi tham, thì cũng là những người giàu lên do ăn cắp do trốn thuế, đang cuồng nhiệt trong việc truy tìm đồng tiền.

Tôi biết rằng nói thế là hàm hồ, là vơ đũa cả nắm, nhưng cuộc sống nhiều khi bất công và vô lý quá, khiến chúng tôi không thể mà cũng không muốn tìm tới một cách nghĩ đúng.

Cái sự không kính trọng được những người (có phương tiện giao thông ) tốt hơn, đã khiến cho một số dân thường chúng tôi, cả già lẫn trẻ, trong khi điều khiển cái phương tiện thô sơ của mình, nhiều khi sinh ra ba bửa làm liều trêu tức thiên hạ.

Một lần đến nơi đây, diễn viên điện ảnh Catherine Deneuve lập tức kêu lên cuộc sống Hà Nội giao thông ở Hà Nội sao mà hoang dã!



27-10

NHỮNG BIẾN THÁI TỪ HAI CÂU THƠ TẢN ĐÀ

Đạt tới tầm khái quát về dân mình, dạo này câu thơ sau đây của Tản Đà thường được nhiều người nhắc lại:

Dân hai lăm triệu ai người lớn

Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con

Đó là một trong những câu thơ loại “sấm truyền” từng được bọn tôi ở Hà Nội kháo nhau từ hồi đầu chống Mỹ, đúng hơn là trước sau 1970.

Bọn tôi nói ở đây là một vài anh em tôi quen, vừa tốt nghiệp đại học trong ngoài nước loại khá, mới được tuyển dụng về làm bên Ủy ban khoa học xã hội. Như anh Bằng Việt bên Viện Luật, anh Tạ Ngọc Liễn bên Viện Sử, anh Dương Tất Từ bên Viện Văn..

Một trong những băn khoăn của bọn tôi những năm đó là tính xem lúc này đất nước mình đang ở vào một tình thế như thế nào.

Nên chúng tôi hay đọc lại người xưa, tìm thấy nhận thức của mình trong suy nghĩ của người xưa.

Câu thơ của Tản Đà nói trên còn được đám bạn tôi -- tạm gọi là lớp trí thức trẻ lúc ấy -- đọc trệch đi theo nhiều kiểu.

Dân luật thì “ Nước bốn ngàn năm không có luật—Dân hai lăm triệu đã thừa người “.

Dân sử thì “ Nước bốn ngàn năm không có sử—Dân hai lăm triệu đã thừa người “.



Một câu thơ khác của Bằng Việt viết những năm ấy khó lòng nói là hay, song tôi rất thích mà thỉnh thoảng cứ nhẩm lại: Đánh Mỹ rồi em lại trẻ con.

Nó nói cái gì ở đây nhỉ, tôi cứ nhẩm lại để nhập tâm, dù đầu óc chưa hiểu và phải nói thật là đến bây giờ vẫn chưa hiểu.

Phải chăng đó là lúc chúng tôi dự cảm thấy rằng từ đây nước mình dân mình không bao giờ có sự phát triển hồn nhiên được nữa, và càng vậy thì lại càng muốn trở về với , đáng lẽ phải bắt đầu từ , cái tình trạng hồn nhiên ấy…



28-10

CUỘC SỐNG VÔ NGHĨA

Trên báo TT hôm nay, Lê Đức Dục kể là ở Hà Nội có một tốp bạn trẻ rất tài hoa, trí tuệ, nhưng chỉ tập hợp nhau để tán gẫu và tự xác định mình là thành viên “ Hội của những người sống không mục đích”.

Trên một mạng nào đó tôi quên tên, còn thấy kể một phóng viên nước ngoài từng đến SG hồi trước 1975, nay quay trở lại chợt nhận ra sao một số người hồi trước làm ăn đứng đắn nay cũng quay ra chơi bời hư hỏng. Gặng hỏi thì được người ta trả lời rằng nay chẳng thấy cuộc sống có ý nghĩa gì, nên quậy phá cho qua ngày.



PHÚ QUÝ GIẬT LÙI

Sau 5 năm tuyển sinh liên tục, Khoa sáng tác - Lý luận - Phê bình văn học, thuộc trường Đại học Văn hoá Hà Nội, cho biết sĩ số càng về sau càng thưa vắng, từ 27 (khoá 11), 19 (khoá 12) và khoá mới nhất là 12 sinh viên.



Lại nhớ có lần một người thống kê là Hà Nội thời hiện đại có mấy cái cầu qua sông Hồng thì càng về sau làm càng mất lâu thời gian và càng chóng hỏng.



31-10

GIÁO DỤC & ĐỒNG TIỀN

Một người lái xe ôm quen tôi đã kể là con anh ta đi học mỗi học kỳ ít nhất phải nộp cho các thầy bộ môn tối thiểu vài trăm, bất kể dốt giỏi thế nào, nếu không không có điểm.

Mạng Dân trí ghi lại lời than thở của một giáo viên Đau xót thay khi sinh viên gọi tiền “đi thầy” là: Tiền Vàng Mã

“Các thầy ơi! Các thầy có biết trò bây giờ gọi số tiền trong phong bì đó là gì không. Tôi cũng là một nhà giáo, nghe được tôi thấy cay đắng quá.”



Báo Tiền Phong thì có bài Đại học hạ sàn, sinh viên mất giá.

Theo Đào Duy Huân- ĐH Tài chính Marketting, mặc dù hơn 90% sinh viên tốt nghiệp ĐH, CĐ có việc làm nhưng tỷ lệ có việc làm đúng ngành nghề đào tạo còn rất khiêm tốn, chỉ khoảng 60%.

Ông Huân cho biết: Chi phí đào tạo một sinh viên một năm ở nước ta từ 6 - 10 triệu đồng, tương đương 300 đến 500 USD, trong khi ở các nước tiên tiến từ 10.000 đến 15.000 USD (gấp 30 lần).



Theo thống kê từ năm 1987 đến nay, tốc độ phát triển các trường ĐH, CĐ rất nhanh, năm 1987 có 101 trường thì năm 2010 là 440 trường. Số sinh viên cũng tăng từ 130.000 lên đến 1,7 triệu (tăng 13 lần), nhưng số giảng viên chỉ tăng 3 lần. Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ sau 22 năm chỉ tăng 0,07%, từ 10,09% năm 1987 lên 10,16% năm 2009. Nhiều trường mới lập ra thiếu cán bộ quản lý, đội ngũ giảng viên, người học, cơ sở vật chất



Với một tình hình thế này, thì đám phụ huynh chúng tôi còn biết đặt hy vọng gì ở lớp con cái đang lớn nữa?





LÀM THUÊ NGAY TRÊN NƯỚC MÌNH

Không phải chỉ công nghiệp nước ta giỏi hớt thứ bèo bọt của thiên hạ bằng “gia công” mà nông nghiệp ở ta cũng không thua kém. Một con số trong ngành chăn nuôi đã nói lên điều đó:

“90% thức ăn tinh và thô của bò đều là nhập khẩu”.

Nên báo PLTP mới có bài Trồng nhiều cỏ để giảm giá sữa.



Trong y tế : Đến 90% nguyên liệu làm thuốc cũng mua từ nước ngoài.



Con số trên mạng VN Economy - Doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng giá 180.000 đồng/ha (=10 bát phở)



2-11

Tuyên dương Nobel cho Mario Vargas Llosa : vì “sự phân tích các cấu trúc quyền lực và những mô tả sắc sảo về sự phản kháng, nổi loạn và thất bại của cá nhân”



Tại buổi giao lưu ở Huế 21-10, một tờ báo kể, Linda Lê ca ngợi tất cả những gì tương phản. Trong cuộc đời nhà văn, bà cho rằng điều đáng nói là sự di chuyển ( tôi đoán là di chuyển theo nghĩa bóng, tức khả năng thay đổi, khả năng làm khác mình – VTN), tính không chính thống. Với bà, văn học là điều luôn vượt qua mọi rào cản.



3-11

CÁI HIỆN ĐẠI & CÁI TRUNG CỔ

Con đường ven đê vùng tôi ở từ ngày được nâng cấp trải nhựa thì lại khiến tôi ngại đi. Đường càng tốt xe càng rồ máy phóng ào ào. Có nghĩa bản năng người đi đường càng được kích động, nên nó trở nên đáng sợ hơn.

Ở VN, cái hiện đại chỉ làm cho cái trung cổ sẵn có được dịp bộc lộ đầy đủ. Cái hiện đại chỉ đóng vai trò như một yếu tố phụ trợ. Chủ đạo vẫn là cái trung cổ. Một sự chuyển pha nửa vời, và vì thế, tình trạng lạc hậu càng trở nên đậm nét.



Điện thoại di động càng phổ biến thì càng cho thấy người mình nói nhiều tào lao với nhau là nhiều, các mối giao tiếp xã hội bùng nổ đến mức thừa thãi nhưng trống rỗng không có nội dung, ồn ào mà vẫn vắng lặng.



Không chỉ đi ô tô bằng tâm lý người đi xe đạp, người ta còn đang làm những ngôi nhà bê tông cốt sắt bằng tư duy của người làm nhà lá.

Trước tiên là đất nào cũng làm nhà được. Và làm theo lối gạn từng thước đất khiến cho các căn nhà như chềnh ềnh ra đường, để tố cáo chủ nó là con người không bỏ nổi tính tham vặt.

Con người giàu có hôm nay từ trước chưa có nhà mà cũng chưa biết thế nào là cuộc sống trong những ngôi nhà hiện đại cả.



4-11

THƯƠNG NHAU KHÔNG XONG

Lũ lụt quá nặng nên người ta tổ chức làm từ thiện tự phát. Nhưng ở một số xã vùng lũ lụt, chính quyền dứt khoát cự tuyệt vì người làm từ thiện đưa hàng thẳng cho dân mà không qua mình.



Lại nhớ hồi chống Mỹ, anh Hoàng Hưng đã khái quát xứ mình là một xã hội thích không được. Muốn học không được mà muốn bỏ học cũng không ai cho phép; muôn khôn không được muốn dại không được; muốn hư hỏng không được mà muốn tử tế cũng không được nốt.





7-11

NHỮNG LIÊN HỆ TỪ NƯỚC NGA

Viết về văn học Nga hôm nay, Sergei Filatov trên Văn học trong thời kỳ quá độ in trên Báo Văn, có đoạn ghi nhận:

Nhà phê bình trẻ Lidija Dovletkireeva ( Nga) khi phân tích nhiều cuốn sách viết về chiến tranh do các nhà văn Chechnja và Nga viết, đã rút ra kết luận rất đáng chú ý: "Chính những cuộc chiến tranh gần đây đã dẫn người đương thời đến ý niệm về sự cần thiết quý báu của hòa bình, đã hướng dẫn người ta trong việc lựa chọn sự ưu tiên không phải là chiến thắng một kẻ thù nào đó mà là khắc phục chiến tranh theo đúng nghĩa của nó vì cuộc sống sáng tạo thanh bình".

Bài phê bình có đoạn viết tiếp:

“ Những vấn đề của ngày hôm nay vốn gắn liền với quá khứ của chúng ta, với cuộc sống tinh thần của chúng ta và với những ưu thế giả tạo vốn ngăn cản việc tạo ra ở trong nước bầu không khí đạo đức lành mạnh.

Không một nước nào trên thế giới lại bị bao bọc bằng những huyền thoại đầy mâu thuẫn trong lịch sử như nước Nga và không một dân tộc nào trên thế giới lại được đánh giá một cách rất khác nhau như dân tộc Nga. Một trong những nguyên nhân, như N. Berdjaevđã nhận xét, là do tính phân cực của tính cách Nga mà trong đó những nét đối lập được kết hợp với nhau một cách kỳ lạ - lòng nhân hậu với tính tàn bạo, sự tinh tế của tâm hồn và chất thô lỗ, lòng yêu chuộng tự do với sự chuyên chế độc tài, sự tự ti với tính ngạo mạn dân tộc và chủ nghĩa Sôvanh.”

Từ Bản tin tham khảo của TTXVN, tôi đọc được một câu trong bài Nước Nga một xã hội không công dân trên Le monde diplomatique tháng 10-2010:

“Quái gở dưới nhiều khía cạnh, chế độ hiện nay điều khiển một đất nước tự do một cách ngược đời”.

Đó là một sự pha trộn giữa “hầu như là Liên Xô “ và “phương Tây giả hiệu”.

Một nhà sử học kết luận ”người ta cuối cùng cũng cảm thấy có được tự do ở một nước triệt để không tuân theo những tiêu chuẩn dân chủ”

Có lẽ đó là cái món tự do vô chính phủ mà tôi đã thoang thóang cảm thấy trong bài Một thứ tự do hoang dại ?

9-11

Sau gần một tháng nô nức đại lễ, nay bình tĩnh nhìn lại, người ta cho rằng đợt phim Thăng Long nghìn tuổi chỉ cho thấy giới điện ảnh tan nát không làm gì nên hồn.

Giới kiến trúc cũng đang hoàn toàn thất vọng về mình. Hình như có một số người chỉ còn có cách trông chờ vào sự có mặt của những ông lớn nước ngoài. Nhưng có người bác ngay, làm gì có ông lớn nào, toàn dân thất nghiệp bên họ sang kiếm ăn, có ai hiểu gì về mình đâu mà đòi có công trình lớn.



THỊ DÂN HUNG DỮ

Tình cờ đọc lại một đoạn ghi chép cũ

Báo Pháp Khoa học & đời sống viết về Tám hiểm họa môi sinh của thế kỷ XXI, Tia sáng số 9-98 dịch lại :

1/ Nhiệt độ tăng 2/ Đất thoái hóa 3/ Nước hết 4/ Hóa chất làm ô nhiễm 5/ Vùng biển bị khai thác quá mức 6/ Phá rừng gây nên dịch bệnh mới…

Sáu cái đó tôi đã nghe ở một vài chỗ khác.

Nhưng có hai khía cạnh mà tôi thấy mới, nó thuộc về hiểm họa xã hội 7/ Mất cân đối dân số, nam nhiều hơn nữ, khoảng cách giàu nghèo ngày càng rõ rệt và 8/Đô thị hỗn loạn.

Người ta giải thích thêm điểm cuối: nay là thời của những thị dân hung dữ; cuộc sống vô cùng hỗn độn bởi một số dân quá đông cùng sống trong một diện tích quá chật chội.

“Trong một lô cốt không có pháp luật, luật rừng sẽ thay thế luật pháp”



13-11

NHỮNG LIÊN HỆ TỪ NƯỚC TẦU

Báo mạng Thanh niên đưa tin TQ Thả người điên, bắt người tỉnh

Hôm nọ là một tin khác, ở tỉnh Tứ Xuyên, sau động đất, bởi thấy cuộc sống mong manh quá, người ta ly dị nhiều hơn.

Ông Trần Văn Đoàn người Việt dạy khoa chính trị ở Đại học Đài Loan nói, chính ra đám người trung lưu ở đại lục còn đang lo làm giầu. Từ bao đời nay họ đã quen với các triều đình chuyên chế nên nhu cầu dân chủ chẳng là bao.

Trong các ý kiến mà Lưu Á Châu phát biểu, tôi nhớ có cái ý, nhiều người trong hàng ngũ quan chức TQ hiện nay lấy chuyện lo cho con cái trong tương lai để càng điên cuồng tham nhũng.

Các học giả TQ – các giáo sư đại học -- nói về nước họ với nhiều băn khoăn. Họ cũng thường tỏ ra e ngại trước việc Trung Quốc không được các nước láng giềng ưa thích.

Tự nhiên tôi nhớ tới một câu của nhà văn nhà triết học Pháp Ch.Montesquieu ( các cụ ta hồi Đông Kinh nghĩa thục gọi là Mạnh đức tư cưu )

-“ Nếu tôi biêt được điều gì đó có ích cho tôi, nhưng hại cho gia đình tôi, tôi sẽ đuổi ngay chúng ra khỏi đầu.

-Nếu tôi biết được điều gì đó có ích cho gia đình tôi, nhưng lại không có ích cho tổ quốc tôi, tôi sẽ tìm cách quên nó đi.

-Nếu tôi biết được điều gì đó có ích cho Tổ quốc tôi, nhưng lại hại cho châu Âu và cho cả loài người, tôi sẽ coi đó là một tội ác.”

Câu này không có trong cuốn Tinh thần pháp luật mà trong một văn bản khác, nhưng được viết lại và đặt trước cửa khu lưu niệm Montesquieu. Anh Nguyễn Quang Thân khi đến thăm khu lưu niệm này đọc thấy thích quá nên ghi lại và trích in trên báo Nông thôn ngày nay 15-9 -06.

Không biết có nhà trí thức Trung Quốc nào thấy cũng cần phải chia sẻ ý tưởng này của Montesquieu?

Wednesday, October 27, 2010

Ghi chép hàng ngày ( 13)

11-10

NHỮNG SẮC THÁI KHÁC NHAU CỦA CÁI ĐẸP

Một trong những câu nói về Hà Nội hay nhất độc đáo nhất trong dịp Ngàn năm Thăng Long thuộc về nhà văn Nguyên Ngọc. Ông bảo: Hà Nội của ta đẹp thật, đẹp khủng khiếp, đẹp đến mức người ta đã phá nó ghê gớm, phá nó riết ráo thế mà nó vẫn còn đẹp như vậy.



Sở dĩ nhiều người thích vì theo tôi câu nói thỏa mãn cả tình yêu của chúng ta với Hà Nội lẫn cảm giác đau đớn rằng nó bị phá hoại, tự chúng ta đã phá nó một cách tàn bạo.

Nhưng nói Hà Nội đẹp có lẽ còn chung chung quá. Đẹp như thế nào, chúng ta còn phải tìm cách nói rõ.



12-10

QUẢNG CÁO TRÊN TV

Mấy năm trước, tôi nhớ vào trước bản tin thời tiết, thường có cảnh quảng cáo sữa, một em bé đi đâu về chạy sầm sầm vào nhà, mở tung tủ lạnh lấy ra que kem, rồi thè lưỡi ra trước mặt ống kính.

Tôi hay nói với người trong gia đình ngày xưa trẻ mà như thế thì chết đòn với các cụ. Có thèm ăn thèm uống đến mấy cũng không thô bỉ như thế được. Mà lại nhơn nhơn ra nữa chứ. Đưa lên TV để trẻ em nhà nào cũng xem trong bữa cơm chiều liệu có nên không?



Còn đây là quảng cáo điện thoại di động: một nhóm công chức trẻ mặt mũi cực kỳ sáng sủa nhưng trong giờ làm việc chỉ chơi bời nhẩy nhót, đến lúc sếp gọi mới cuống cuồng chạy đi lấy dữ liệu.

Xin nhắc lại người thanh niên ở đây mặt mũi rất thông minh, cái nhìn thẳng đầy tự tin rõ ra người có học hành. Nhưng cảm tình của tôi với anh ta bay biến hẳn khi anh ta vênh mặt sung sướng gặp ai cũng khoe vì có được chiếc điện thoại di động hiện đại.



Thời HN còn xe điện, tôi nhớ có những người bán kem trên tàu và những người quảng cáo lơ tẩy hồng hoặc kim băng, đá lửa…Họ có lối nói thế nào đó mà làm cho người ta dù biết là mình bị lừa, vẫn cứ cuống cuồng đi tìm hàng lạ.

Cách nói của những người quảng cáo trên TV hôm nay thường cũng vậy. Cả nước lúc nào cũng như đang ngồi trên toa xe điện ngày cũ.



16-10

NGƯỜI TẦU TRONG

CÁC CÔNG VIỆC TRIỀU CHÍNH Ở NƯỚC VN PHONG KIẾN

Trong các bộ Đại việt sử ký toàn thư, Đại việt sử ký tiền biên đều có ghi, thừa tướng của Lê Đại Hành một thời chính là Hồng Hiến, một người phương Bắc tức người Trung Quốc. Ông này, theo Toàn thư ( I, tr. 223) thông hiểu kinh sử, thường theo vua đi đánh giặc, làm quân sư, khuyên vua lên ngôi, mưu bàn việc nước, có công lớn vua tin dùng như người tâm phúc.

Thời Trần Dụ Tông (1341 1369) có dùng một viên thầy thuốc là Trâu Canh. Cha Canh là Tôn từng theo quân Nguyên vào VN, đến khi quân Nguyên đi thì ở lại, theo Tiền biên, thâm nhập vào hàng ngũ cầm quyền ” nhân đó dùng thuốc chữa cho các vương hầu trong nước đa số là hiệu nghiệm”.

Canh có lần đã mách vua một phép lạ chữa bệnh, được ưu ái ngày đêm ở luôn trong cung cấm. Các sách đều ghi lúc trò chuyện với vua, Canh thường dùng những câu kỳ quặc nghĩ những kế xảo quyệt để mê hoặc.

Theo Tiền biên, từng được phong là Phục hầu Tuyên Huy viện đại sứ kiêm Đại y sứ.



Đến thời Nguyễn , thì khá nhiều quan lại vốn người Minh sang VN một vài đời, nhập quốc tịch VN. Phan Thanh Giản là một ví dụ .



19-10

CHIÊM THÀNH DỊCH NGỮ

Đến bây giờ tôi mới có dịp đọc các báo cáo trong Hội thảo Việt Nam học lần thứ III tổ chức tại TPHCM cuối 2008. Một báo cáo loại đó là của Lưu Chí Cường , Đại học Bắc Kinh.

Ông này cho biết giới nghiên cứu TQ vừa phát hiện thấy một cuốn từ điển Chăm—Hán đơn sơ mang tên Chiêm Thành dịch ngữ, làm từ đời Minh (1368-1644).

Người Hoa thời ấy đi tới đâu ở Đông Nam Á thường cũng lo tìm hiểu ngôn ngữ người bản xứ. Việc đào tạo thông sự (interpreter) và chuyển dịch giữa chữ Hán và ngôn ngữ địa phương được xem như một việc không thể thiếu khi xâm nhập vào các vùng đất mới.

Với Việt Nam, họ đã có làm một cuốn An Nam dịch ngữ. Cuốn này có thể là bằng chứng tốt cho những ai muốn tìm hiểu quan hệ Trung Việt thời ấy, cũng như tìm hiểu một trạng thái lịch sử của tiếng Việt .



Trong một bài báo viết về việc Ấn độ trong việc chống lại xu thế bành trướng của Trung quốc, người ta tỏ ý lo, TQ có nhiều chuyên gia rất giỏi về Ấn độ, trong khi việc triển khai nghiên cứu TQ của Ấn độ khá chậm và lực lượng thì quá mỏng.



Lang thang trong kho báo bày sẵn thư viện thấy có một tạp chí của Bộ ngoại giao mang tên Nghiên cứu quốc tế. Số ra 6-2010 của tạp chí này đưa tin hiện Bộ có cả một nhóm chuyên nghiên cứu về đề tài Sống chung với nước láng giềng lớn hơn, thực tiễn và chính sách . Có một bài của Nguyễn Vũ Tùng , có thể đọc lại ở địa chỉ sau:

http://www.dav.edu.vn/nr040730095659/nr040730100743/nr100819150732/dt100819150734



Trong một số khác của tạp chí, ở chuyên mục này, tôi đọc thấy một bài nghiên cứu về cách tồn tại của Phần Lan bên cạnh nước Nga của Lenin, Stalin.



20-10

VINH QUANG CỦA NGHỀ DỊCH

Đang có chủ trương xét tặng giải thưởng HCM và giải nhà nước. Tôi chỉ chú ý, không có giải cho những người dịch.

Còn nhớ, ở Liên xô trước đây có những nhân vật như Nikolai M. Liubimov ( sinh 1912). Ông này từng dịch nhiều tác phẩm cổ điển của phương Tây sang tiếng Nga, và nhờ thế được giải thưởng nhà nước Liên xô 1972. Ông cũng có tên trong Bộ Đại bách khoa toàn thư Liên xô 30 tập, đứng ngang hàng với các nhà hoạt động văn hóa tầm cỡ khác.

Một tác phẩm lớn của Pháp được Liubimov dịch là bộ Gargantua Pantagrue của F. Rabelais.

Nhớ khoảng 1972-1973, Nguyễn Khải đọc ở đâu đó về kể là dân Pháp cho rằng có hai người Nga được coi là rất hiểu Rabelais. Một là M.M. Bakhtin, ông đã “dạy” cho con người hiện đại đọc nhà văn này như thế nào ( ý nói tới cuốn Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian trung thế kỷ và phục hưng ). Hai là Liubimov. Có người nói đùa, giá kể bản tiếng Nga Gargantua Pantagrue của Liubimov được dịch ngược lại ra tiếng Pháp , chắc sẽ giúp người Pháp hiểu và yêu Rabelais hơn.



21-10

Đọc tin trên Đại đoàn kết

Công ty khoá Minh Khai (Hà Nội) “làm giả thương hiệu của chính mình”, nhập hàng Trung Quốc về rồi lén lút gắn thương hiệu mình vào.

95% hàng may mặc tại thị trường Trà Vinh là hàng Trung Quốc, trong đó 50% là hàng Trung Quốc dán nhãn mác Việt Nam.

“Ty tỷ” các loại mặt hàng khác nhau hiện có trên thị trường Việt Nam, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền biển, đều mang “quốc tịch” hàng hoá made in China .

Cả những món đồ thực phẩm khô như ô mai, mứt hoa quả, khô lóc, khô nai... đã có thương hiệu truyền thống và hình thành từ những làng nghề vài trăm năm tuổi trở lên, bây giờ đều gần như bị “Trung Quốc hoá” ( bị TQ cướp mất nghề thì đúng hơn—VTN )

Tại sao người ta vẫn dùng? Tham rẻ thì đã đành, bài báo cắt nghĩa tiếp, nhưng điều này còn chứng tỏ người tiêu dùng Việt Nam mất lòng tin vào ngay sản phẩm của đất nước mình.

Với tôi, cái chính cần nhìn vào đám người tổ chức nhập hàng Tầu về rồi dán nhãn VN kia. Họ cho thấy nhiều người mình hiện đã đánh mất một cái gì rất lớn, đánh mất lòng tự trọng và một suy nghĩ nghiêm chỉnh về đời sống. Đánh mất cả thói quen làm việc bình thường lẫn khả năng kiếm sống một cách lương thiện.

Người ta sẵn sàng làm mọi việc dù đã biết đó là việc xấu, chỉ cần to mồm lấp liếm nói ngược lại là yên tâm cứ thế tiếp tục.



MỨC ĐỘ CỦA TAI HỌA

Một đại diện của Hồng thập tự quốc tế nhận xét về tình hình lũ lụt miền Trung: “Tôi cho rằng thách thức đối với miền Trung Việt Nam đó vừa là mức độ ảnh hưởng trở nên ngày một nghiêm trọng hơn và đồng thời vừa là tình trạng không biết trước điều gì sẽ xảy ra cũng gia tăng.”



22-10

VỀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG NGHỆ THUẬT

ĐƯỢC DÁN NHÃN QUỐC TẾ

Một ám ảnh của người làm nghệ thuật thời nay là muốn đưa mình gia nhập các sinh hoạt quốc tế. Chỉ có điều ham muốn không đi liền với khả năng thực hiện, chúng ta đã xa rời thế giới lâu ngày và hiện đang ở vào trình độ thấp quá, tới mức những ao ước quay trở lại chỉ là câu chuyện hài hước và nhiều khi là kệch cỡm.

Một khách mời có cỡ tại Liên hoan phim quốc tế Hà Nội lần thứ nhất khuyên ta phải có cái gì của mình thì mới mời được người khác tới, không một liên hoan phim quốc tế nào chỉ sống bằng phim của các vị khách.

Sự hào phóng thương hại không bao giờ kéo dài. Chủ thế nào, khách như thế.



23-10

CÂU THƠ NÀO ĐÚNG CHỮ NÀO ĐÚNG

Dưới đây là bài thơ của Chế Lan Viên làm khi tạm biệt người vợ đầu, chưa đăng ở báo nào, những năm chiến tranh tôi biết là do Lưu Quang Vũ đọc



Đến chỗ đông người anh biệt em

Thôi đừng ngoái lại để anh nhìn

Mày ai trăng mới in ngần thật

Dao khía lòng anh trăng của em



Tôi đã ghi lại trong một bài báo có in vào tập Chuyện cũ văn chương ( 2001)



Giờ đây lại thấy trên báo chép thành :

Đến chỗ đông người anh biệt em

Quay đi thôi chớ để anh nhìn

Mày em trăng mới in ngần thật

Cắt đứt lòng anh trăng của em



24-10

Kỳ này thật đã đầy là các tài liệu viết về Linda Lê. Tôi sẽ phải đọc các bài viết của nhà văn này một cách từ từ vì ở nhiều bài, gần như phải dừng lại ở từng câu một. Hàm súc và cô đọng quá.

Nhưng có những chi tiết trong tiểu sử chỉ cần nhớ tới là thấy thú vị : Từ 26 tuổi, 1989, trước khi viết văn, cô đã từng làm ở nhà xuất bản Hachette ở đó đã viết rất nhiều những lời dẫn của nhà xuất bản cho hàng loạt tác phẩm nổi tiếng . Tới năm 1999 thì những bài viết này được tập hợp trong một cuốn sách mang tên Tu écriras sur le bonheur (Mi sẽ viết về hạnh phúc) sau đó còn được tái bản.

Có nghĩa là trước khi viết văn, -- nói theo ngôn ngữ của văn học VN hiện nay—nhà văn này đã viết phê bình và từ sách vở mà cô tìm thấy gợi ý về sáng tác.

Có người viết rằng tác giả này có thể đi từ Havre, nơi trú ẩn đầu tiên của cô ở Pháp có hình bóng J. Sartre, làm bài văn luận đầu tay về chủ đề bánh Madeleine của M. Proust, rồi đến đường de l'Odéon để thăm E.M.Cioran và không hề quên lời khuyên của F. Kafka...



Nên chú ý thêm là không chỉ sống với văn học đương đại, tác giả này cũng đã đi tới cùng trên con đường tìm hiểu văn học cổ điển

Tôi đắm mình trong những tác phẩm cổ điển của đất nước hình lục lăng, trong nghiên cứu những người viết Từ điển bách khoa toàn thư thế kỷ Ánh sáng. Tôi ngập trong thơ của Victor Hugo, của Verlaine, Rimbaud. Tôi thấy gần gũi với những vở kịch của Racine. Tôi đam mê "Xưng tội" của Rousseau, những cuộc lao dốc xuống địa ngục của Nerval, cách mạng văn học được những nhà siêu thực khởi xướng, những giáo hoàng của tiểu thuyết mới.



Không biết bao giờ, loại nhà văn đơn độc như Linda Lê mới xuất hiện ở xứ ta. Hôm nay đây ai định đi theo con đường đó thì liền bị lôi về cuộc sống “đội ngũ’ thực chất là một cuộc sống bày đàn. Làm gì có ai đủ bình tâm mà ngồi đọc như nhà văn ấy? Và nếu có định đọc chăng nữa thì lấy đâu ra vốn văn hóa vốn ngôn ngữ vốn tâm lý để chung sống với cả thế giới hôm qua lẫn thế giới hôm nay như thế?

Tuesday, October 12, 2010

Ghi chép hàng ngày (12 )

1-10

Một tờ báo nước ngoài nói VN chi trả cho giáo dục nhiều hơn các nước láng giềng.

Đã tính đóng góp của dân chưa? Nếu tính cho đủ, thì người ta kết luận ra sao?

Tôi hay nói với các gia đình quen, cố mà cho con đi du học.

Đi thế, đắt lại hóa rẻ.



( Cố nhiên không phải cố với bất cứ giá nào. Nếu con không có khả năng hội nhập, thì đi đâu cũng cứ bật về, mà lại hư thêm.)

Cái gì ở VN cũng thế -- chúng ta chỉ biết làm ra những sản phẩm kém bằng một chi phí lớn hơn nhiều so với cách làm của các nước khác.

Các ngành nông lâm ngư của một số đại học các tỉnh không có người nộp đơn theo học.



Báo Thanh niên có bài nói về rác nhập từ nước ngoài.

Chắc nhiều người nghĩ như tôi -- kiểu nhập rác hiện nay là tột cùng của sự tha hóa của con người Việt Nam.

Vì lợi riêng, cả người đứng ra nhập và người cho phép nhập, dám làm cái việc mà ngàn đời con người trên mảnh đất này còn nguyền rủa.

Thế nhưng thử nghĩ lại:

Hãy nghĩ đến những người cho nhập tràn lan phim ảnh khiêu dâm và trò chơi bạo lực.

Hoặc nghĩ tới ngành giáo dục.

Hàng mấy trăm trường đại học bất thành nhân dạng mở ồ ạt ở các tỉnh.

Theo tin ĐĐK, chuẩn để học sinh vào các trường sư phạm ngày càng thấp.

Toàn ngành ngày một xuống cấp. Cả về tư cách làm người lẫn việc nắm chắc kiến thức, học sinh phổ thông cũng như sinh viên ra trường ngày một kém.

Vậy thì chúng ta đang gửi vào tương lai những người như thế nào đây ?

Cả ngành là một guồng máy khổng lồ, một quốc gia đâu có đến hơn hai chục triệu sinh mạng, chẳng ai kiểm soát nổi, người ta rất dễ ngụy biện về thành tích do người ta đã làm, các bậc phụ huynh thì không đủ trình độ để cãi lại người đã dạy dỗ con em mình.

Nhưng thử đứng ở một vị trí khách quan mà nhìn nhận. Thử so sánh với nền giáo dục trong các thời trước. Thử nhìn ra thế giới.

Tạm để sang một bên những cố gắng lẻ loi, mà xét đại trà, tôi có cảm tưởng nhiều người có lúc trong đầu cũng thoáng qua cái ý nghĩ như tôi lúc này. Là trong việc làm hỏng tương lai, cái tội của ngành giáo dục hôm nay cũng chẳng kém gì những người cho nhập trò chơi bạo lực và những người nhập rác nói trên!



Hôm nay là ngày Thế giới phi bạo lực. Ông Tổng thư ký Liên hiệp quốc khi phát biểu dẫn một câu của Gandhi—sức mạnh thế giới là phi bạo lực.



2-10

Lướt qua các chương trình văn nghệ Hà Nội. HN đã quá lai căng. HN không tìm thấy mình. Và chúng ta đang tự lừa mình bằng một thứ tạp pí lù mà ta không biết.



4-10

Đọc bài tường thuật hội thảo về kiến trúc HN. Tôi muốn mạnh dạn mà nói rằng cái mà ta làm cho Hà Nội mấy chục năm nay về căn bản, chỉ là một thứ kiến trúc nông thôn hoặc là kiến trúc đô thị tủn mủn thời phong kiến được nhân lên bằng các yếu tố hiện đại. Không chỉ là xấu xí tùy tiện nhếch nhác kỳ dị …mà là lạc hậu cả một thang bậc tư duy về lịch sử phát triển xã hội.



5-10

Lũ lụt. Có tin hàng vạn học sinh các tỉnh miền Trung nghỉ học vì lũ lụt.

Người dân méo mặt nhận quà của cấp trên gửi tặng. Chú thích ảnh” lá lành … hành lá rách”.

Lũ lụt trong dịp đại lễ chỉ làm tăng thêm cái tình thế trớ trêu đã sẵn có trong tình hình hiện nay.

Một bên là cuộc sống xa hoa trụy lạc hoang phí ngày một gắt lên chói lên ở các đô thị.

Một bên là cảnh lạc hậu nghèo nàn, một sự xác xơ tàn lụi của các vùng nông thôn nghèo và các vùng sâu vùng xa.

Sực nhớ tới một bài thơ của Văn Cao viết đầu 1945 và từng in trên tạp chí Tiên Phong của Hội Văn hóa Cứu quốc mang tên Chiếc xe xác đi qua phường dạ lạc.

Ở một đoạn giữa bài thơ, tác giả viết:

Ta về gác, gió cài then, cửa rú

Trên đường tối gió khỏa thân khiêu vũ

Kèn nhịp xa điệu múa vô luân

Run rẩy giao duyên khúc nhạc trầm trầm

Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc

Kiếp người tang tóc

Loạn lạc đòi nơi xương chất lên xương

Một nửa kêu than ma đói sa trường

Còn một nửa lang thang tìm khóai lạc



6-10

Bài viết Một Nghìn Năm Thăng Long - Hà Nội, Nhìn Lại Giá Trị Tác Phẩm" Thiên Đô Chiếu" Của Thái Tổ Lý Công Uẩn của Nguyễn Phạm Hùng Đại học Quốc gia Hà Nội, có cái ý rất hay, bài chiếu tuyên bố quan điểm thay đổi đường lối chính trị của cả vương triều Lý, chuyển chế độ chính trị từ "vũ trị" sang "văn trị".

Tác giả lưu ý không khí nội chiến bao trùm các triều Ngô, Đinh, Lê với nghĩa tranh giành quyền bính của các tù trưởng, các thủ lĩnh.

Các vương triều đó thực chất là các thể chế quân sự. Các bậc đế vương và người đương thời thường tôn vinh sức mạnh vũ trang, sức mạnh cơ bắp hơn là sức mạnh kinh tế, văn hoá và trí thức.

Ngô Vương Quyền gắn với hình ảnh "tay nâng đỉnh", "thong thả như cọp, có trí dũng, sức có thể cầm vạc giơ lên". Đinh Tiên Hoàng gắn với hình ảnh viên tướng bách chiến bách thắng, Vạn Thắng Vương. Họ đều xuất thân từ trận mạc nổi tiếng có tài quân sự rồi mới làm vua.

Hoa Lư là thành lũy, kinh đô quân sự của nhà nước "vũ trị" chứ không phải là kinh đô văn hoá – chính trị của nhà nước "văn trị".

Rồi tác giả chỉ rõ trong hòan cảnh ấy, Lý Công Uẩn hiện ra với sắc thái khác hẳn.



Tôi muốn mượn cái ý của ông Hùng về các thời Ngô, Đinh, Lê để đưa lên thành một khái quát: thật ra cho đến cuối thế kỷ XIX, xã hội VN vẫn giống như một đạo quân hơn là một xã hội theo nghĩa tối thiểu của khái niệm này mà các nhà lịch sử vẫn thường sử dụng.



Bữa nọ đọc Nghiên cứu Huế tập 7, đã nhặt được cái ý “ biến dân thành lính” là một chính sách lớn chi phối việc tổ chức quốc gia mà các chúa Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài trong hai thế kỷ XVII—XVIII cùng theo đuổi.

Hà Nội thời Gia Long vẫn do các võ quan cai trị, lúc đó nó còn gọi là Bắc thành đứng ngang với Gia Định thành, mãi sau này Minh Mạng mới cho lập tỉnh Hà Nội.

Nhưng có nhân vật “ văn trị” nào được nhắc tới trong lịch sử HN thế kỷ XIX đâu?!



Vào dịp nghìn năm Thăng Long này, người ta chỉ nhắc tới HN thanh lịch và HN hào hùng chiến đấu.

Chưa ai nghĩ tới chuyện viết một lịch sử làm ăn buôn bán, lịch sử kiến thiết xây dựng HN ?



7-10

Em ơi Hà Nội bụi.

Tôi muốn kêu lên như thế trong mấy ngày đầu thu đầy cảm xúc này.

Mùa thu là mùa của gió.

Gió cho người ta cảm giác rằng cuộc đời không phải tù túng như người ta đang sống đâu, còn có những phương trời khác, những không gian khác.

Bụi làm mất đi quà tặng thiên nhiên tuyệt vời ấy.

Nhớ thơ Huy Cận, bài Chín

Thu tới ngoài kia

Nghe nhân thơm trong trái nặng

Nghe nhựa ấm trong cành thưa

Nghe run rẩy tiếng gió ru lúa chín

Xôn xao cuống lá rụng thay mùa



Nhớ những trang Nguyễn Tuân tả gió trong Thiếu quê hương.



Tập sách thu góp cả đời thơ Lưu Quang Vũ có cái tên Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi. Chịu khó nhặt sẽ được nhiều câu viết về gió rất đáng nhớ. Nhất là trong các bài thơ tình.

Bài Phút em đến

Dù nơi đâu anh cũng là của em

Đợi nhau trong mưa, tìm nhau trong gió

Bài Quả dưa vàng, viết trong xưởng họa Nguyễn Thị Hiền

Mùa hạ đầu tiên chiến tranh chấm dứt

Bụi trắng đường, gió lộng mặt hồ xa

Đây là hai câu thơ viết khi Vũ còn đối với Xuân Quỳnh bằng một tình cảm ngập ngừng

Nơi đảo xa chỉ nước với trời

Nơi bãi cát em đi bao ngả gió

Còn đây là hai câu viết khi hai người sợ hãi mà vẫn cả quyết về với nhau

Mưa như bước chân những khát vọng vô hình

Trên một biển lá vàng đang nổi gió



9-10

Phố tôi nhiều nhà mới xây có kiểu rất lạ, khiến tôi mỗi lần đi qua không thể nhìn vào bên trong, sau đó rồi lại xấu hổ vì sao mình thô lỗ vậy…

Cuối cùng mới vỡ nhẽ, cái chính là xưa nay dân mình ăn ở vốn kín đáo, không ai mở tô hô cả bức tranh sinh hoạt của gia đình mình cho thiên hạ thấy. Phô phang là lối sống phổ biến của người thời nay.

Xưa nay còn khác nhau ở nhiều chuyện nữa.

Xưa có tiền trăm người ta mới tiêu tiền chục, không ai đi vay tiền mà làm nhà vay tiền mà ăn chơi như thời nay.

Xưa chính quyền thực dân luôn luôn đặt ra giới hạn cho việc rượu chè. Nay thì các tỉnh đua nhau mở nhà máy bia. Báo Tuổi trẻ 14-9 đưa lên trang đầu bài Ào ào nhập bia

Xưa huyện nào có đê vỡ thì tri huyện mặc nhiên là bị cách chức, chuyển đi xa. Nay đê đập có vỡ, chỉ thấy đưa tin địa phương đã trích quỹ công để úy lạo cho các gia đình khó khăn, ngoài ra, ai ở nguyên địa vị người ấy

Monday, October 4, 2010

Ghi chép hàng ngày(11)

 5-9
 XIN XỎ HAY LÀ SỰ TỘT CÙNG CỦA TRƠ TRÁO
Sao mà đi đâu cũng gặp những cảnh xin xỏ! Đến ông xe ôm chở tôi từ chợ về nữa, đã mặc cả là từng này tiền rồi, lúc tới nhà còn nài bác cho thêm, hình như ông ta nghĩ không được cũng chẳng mất gì, mà nhỡ được thì …hóa ra nước bọt làm ra tiền.

 Trong cuốn Nhân nào quả ấy, tôi đã có bài nói tới tình trạng vô lối của một số kẻ ăn mày thời nay. Nhân đây xin nhắc lại một áng văn chương gợi ý tôi viết. Đó  là bài Hịch đuổi kẻ ăn mày của Tản Đà.
 Người trong gia đình Tản Đà đến nay còn kể: Trong những lời ông dặn dò con cháu, có hai điều cấm, cấm không được làm quan và cấm đi ăn mày. 
Mở đầu bài hịch lạ lùng này, Tản Đà  dẫn lại một câu trong sách Mạnh Tử: “Sự cho người có khi làm hại sự ân huệ”. Rồi tác giả nói thêm “sự không đáng thương xót mà thương xót, đó là vô học”. Tiếp đó, trong phần chính văn, tác giả viết :
Hôm hôm mai mai
Bị bị bát bát
Quỷ đưa đường, ma dắt lối
quen ngõ thời vào
Nay được thịt, mai được xôi
thấy mùi đánh mãi
Cửa ô, xe điện
Rêu rao quạ vỡ chiều hôm
Đám hội, nhà chay
quấn quýt gà què gặm cối
Làm xấu hổ cho cả nước
Khéo bêu nhuốc cho loài người
Bảo mãi mỏi mồm
Trông càng nhớp mắt
Nào là
Người nhà, con vú
Thằng ở quân hầu
Truyền là bay đóng chặt cửa vào
Thây cha chúng nó.
...
 7-9
      Đọc một bài trên Bản tin tham khảo  của TTXVN,   thấy một nhà báo phương Tây nhắc lại câu của Ôn Gia Bảo nói ở Cambridge (TQ gọi là Đại học Kiếm Kiều): Chúng tôi là một quốc gia đang muốn học hỏi … Chúng tôi còn phải tiếp tục khám phá bản thân.
    Tháng trước đi đâu cũng thấy nói tới bài của Lưu Á Châu. Tôi nhớ một ý của ông tướng TQ này. Nhiều người TQ  thấy vụ 11/9 xẩy ra, ăn mừng. Không thể trẻ con thế được. Phải  tính chuyện chung sống với nước Mỹ. Phải hiểu nước Mỹ.


10-9
     Có hai cuốn sách ảnh khổ to, dạo này tôi hay mở ra xem, mỗi khi bí viết.
     Một là cuốn Chùa Việt Nam của các tác giả Hà Văn Tấn—Nguyễn Văn Kự-- Phạm Ngọc Long.
    Sách dày 536 trang với trên 1.000 bức ảnh. Các tác giả có nhã ý tặng tôi nhân sách được in lần thứ tư ở NXB Thế giới.
      Hơn chục năm trước, nhóm tác giả này đã cho tôi cuốn Đình Việt Nam, và tôi đã có hai bài viết ngắn về nó, một là Làm quen với chùa Việt Nam, hai là Qua đình ngả nón trông đình.
     Lần này tôi chưa thể viết gì về cuốn Chùa, trong bụng chỉ nghĩ:
    Những  ngôi chùa như chùa Bút Tháp, Tây Phương, đáng được xem như những kiệt tác trong kiến trúc dân tộc. Chúng tương đương với những Truyện Kiều, Nhị độ mai…
      Sao chúng ta không  nghiên cứu về chúng kỹ lưỡng ít ra như các tác phẩm văn chương?
 
     Một cuốn ảnh khác là  Khám phá các làng nghề quanh Hà Nội  của hai tác giả nước ngoài.
       Người ta có một lối chụp ảnh mà sao cũng cảnh làng nghề đấy, mình như bắt gặp một xứ sở khác.
       Và người ta có một lối viết sách  mà dù đã đọc đủ thứ sách của  các tác giả người Việt, thì mình cũng vẫn cứ phải đọc.
     Cố nhiên ngôn từ làm nền cho câu chuyện cũng được viết rất hay. Một đoạn nhặt ra ngẫu nhiên
     Tôi cũng rất ấn tượng với nhịp sống của các làng nghề này. Nằm cách không xa thủ đô nhộn nhịp, nhưng những ngôi làng này lại giữ được nhịp sống bình lặng, chậm rãi và đều đặn. Ở nhiều nơi khác, do nhu cầu việc làm, kiếm sống, làn sóng người nhập cư đổ về các thành phố lớn khiến dân số ở các làng quê giảm hẳn đi. Chính những làng nghề thủ công này đã góp phần giữ cho Hà Nội “sống sót” trong làn sóng nhập cư. Những người dân vẫn sinh sống ở làng, tiếp tục giữ nghề truyền thống, và tự hiện đại hoá cuộc sống của họ chứ không đổ xô ra thành phố.
       Tôi học được cách người ta ghi nhận một vùng đất: phải ghi được cái nhịp điệu của nó.
        Và tôi thấy tự tin hơn với những nhận xét về Hà Nội mà lâu nay vẫn ám ảnh trong đầu: Không khéo thì Hà Nội sẽ bị chết chìm bởi làn sóng dân nhập cư tự phát.


11-9
 CÁI HAY KHÔNG THEO, THEO CÁI DỞ 
  Nhân 65 năm ngành giáo dục, Tuổi trẻ  có bài viết kể là tháng 9-1945, khi lên báo cáo công việc với Chủ tịch Hồ Chí Minh,  Bộ trưởng GD lúc đó là Vũ Đình Hòe đã có nhiều ý kiến, trong đó có cái ý sau đây:
     Tôi nêu vấn đề cải cách giáo dục, đề nghị thay thế hẳn nền giáo dục vị học thuật (kiểu Pháp - đào tạo những bậc tài hoa) bằng nền giáo dục vị nhân sinh (kiểu Anh - Mỹ), đào tạo những nhà hành động, sớm phân chuyên ngành, phân từ rộng đến hẹp, sớm dạy nghề sát với yêu cầu xây dựng kinh tế và chú trọng dạy đạo làm người.
    Đọc mà thấy lạ quá. Ở miền Nam sau 1954, người ta mới làm được cái việc là thay đổi mô hình này, tức là từ đại học kiểu Pháp chuyển sang đại học kiểu Mỹ, từ đó đưa nền đại học trong nước nhập vào trào lưu hiện đại.
  Không ngờ là năm 1945, nhiều trí thức nước mình đã biết điều đó. Thế rồi kháng chiến. Thế rồi chúng ta có nền giáo dục đại học tạm bợ ở Việt Bắc. Sau 1954, nhân rộng ra cả miền Bắc. Sau 1975, thành mô hình của cả nước. Chẳng những không so được với Anh Mỹ mà so với Pháp xưa cũng thua xa. Như một đứa trẻ tiên thiên bất túc, có lớn mà chả bao giờ thành người. Như một đoàn tầu đã chật bánh rồi, không đổ, nhưng không bao giờ trở lại được con đường đáng lẽ phải đi.


12-9
     Có lệnh cấm đốt vàng mã nơi công cộng. Làng Đông Hồ lo. Một người dân bảo “ Hay là chính phủ giúp chúng tôi xuất khẩu vàng mã?”. Tôi đọc mà phì cười. Ra người ta hiểu về hội nhập với thế giới là thế đấy!


13-9
     Nhà văn Phùng Ký Tài (tác giả cuốn tiểu thuyết văn hóa Gót sen ba tấc )được cử làm  tham sự cho Quốc vụ viện TQ. Trannhuong.com đưa một tin ngắn mới đây (tháng 9-201010), ông bảo trách nhiệm chủ yếu của người trí thức là giáo dục  lãnh đạo.


15-9
     Đọc trên Bản tin tham khảo một bài về Ấn Độ. Họ biết TQ bành trướng, nhưng họ không chạy đua vũ trang. Có phải dễ mà TQ dám đánh họ đâu? Ừ thì cảnh giác, nhưng họ chỉ phát triển quân sự tới mức đủ làm cho TQ ”phải tính kỹ “ nếu muốn động đến họ. Trong các vấn đề quốc phòng, họ luôn luôn biết rằng trên thế giới này, còn có nước Mỹ.
      Còn họ lo làm kinh tế vì biết thời nay, đấy mới là cáí cần nhất để một dân tộc khiến cho dân tộc khác phải nể. Năng lực kinh tế nói ở đây là sự phát triển một cách có văn hóa, nên chắc chắn, ổn định.


16-9
    LẠI CHUYỆN RÁC
         Tin  VNexpress.  Chuyện về hai người nước ngoài. Một là Edward năm nay 65 tuổi, một người Mỹ da màu thường gọi là chàng "Đông ki sốt", ông hay dọn rác khu phố mình ở. Hai là Oshima Mitutere, vốn người Nhật quản lý Viện mẫu tóc Mano Mano. Ông này cũng thường cùng các nhân viên lo chung các hoạt động xã hội trong đó có dọn rác.
     Không những không chia sẻ với người ta, mà dân Việt mình quanh vùng cả hai người ở còn coi là sự kỳ cục, có người vứt rác thêm cho người ta lượm, rồi cha con vợ chồng cùng đứng xem và cười với nhau. 
     Đọc những tin loại này chỉ cảm thấy hình như người Việt, xã hội Việt hôm nay  ngày càng xa lạ và không hiểu được những gì bình thường. Cái tốt nhiều khi đâm ra lạc lõng.
     Lưu ý càng ngày rác càng  thành ra một ám ảnh trong xã hội. Báo Nông thôn ngày nay 9-9-10 đưa lên trang nhất dòng tít chữ to Cảng Hải Phòng thành bãi rác quốc tế.
     Một điều cũng chắc chắn là nếu nghe được,  chắc thấy trong câu chuyện của những người nước ngoài về VN, chữ rác chắc cũng xuất hiện với mức độ dày đặc. Rác vô cơ, rác hữu cơ. Rác là chất lỏng, rác là chất rắn. Rác ở dạng hình thể, rác ở dạng âm thanh ( tiếng ồn). Rác vật chất, rác tinh thần. Rác trong các văn bản nghiêm túc lẫn rác trong các bài làm của học sinh. Rác nội rác ngoại. Đủ kiểu!


22-9


     Một câu thơ Tagore do Trịnh Lữ dẫn trong một hội thảo:
Ta chạy như con hươu xạ chạy trong bóng tối của rừng,
 điên dại với hương thơm của chính mình…
Ta lạc lối và ta lang thang,
 tìm cái ta không thể có
và có cái ta chả kiếm tìm…


23-9
      Phan Cẩm Thượng trả lời phỏng vấn về làm phim Đường tới Thăng Long. Lúc làm việc với chuyên gia TQ về trang phục mới thấy người mình cẩu thả quá. Ở Trung Quốc từng thời người ta ăn mặc thế nào đều có lưu trữ cả. Ta thì không có gì chắc chắn.
      Cũng có một vài thứ, lấy cho họ xem. Họ bảo, à cái này ở Trung  quốc có sẵn, các anh lấy của chúng tôi thôi. Đây, xem sách đây.
      Chuyên gia VN bảo, cứ làm theo cách người Việt đã làm. Thì lại nẩy sinh vấn đề, những thứ của mình bất tiện quá. Phải làm như  cái của TQ xưa vốn có thì mới tiện sử dụng.


26-9
   Đến tham gia cuộc đối thoại trẻ ở VTV6.
   Có nhiều điều tôi còn phải nghĩ tiếp.
   Cảm tưởng còn lại, tôi chỉ thấy sao mà xa lạ với lớp trẻ hiện nay quá.
   Các bạn đó đang bị ám ảnh với câu hỏi Tôi là ai?.
   Câu hỏi đó, thú thực, về già tôi mới nghĩ.
   Còn lúc 20-25, tôi chỉ nghĩ cố học hỏi để có thể  có đóng góp cho xã hội.
   Tôi cũng đi tìm bản thân, nhưng câu hỏi thường đến trong đầu tôi là mình sẽ trở thành một người như thế nào?
    
      Sao mà thời nay các bạn trẻ thích đi thi thế.
     Cả xã hội sống bằng sự cầu may?
     Lớp trẻ hiện nay tự tin hơn hẳn chúng tôi.  Nhưng cái tự tin của họ nhiều khi quá viển vông và lẫn với cái vu vơ.     
    Chẳng hạn các nhà văn trẻ bây giờ toàn tìm học những người được Nobel.
     Tôi thì lúc trẻ, tôi lại chỉ lo học những người bình thường. Những năm 1970,  mới vào nghề,  tôi từng lo dịch linh tinh để học thêm về văn học nước ngoài. Có một chi tiết tôi cứ nhớ mãi. Một nhà thơ trẻ Bungari dịch xong Evgeni Oneguin liền cho vào tủ khóa lại và vứt cái chìa khóa  vào thùng rác. Anh ta lại để ba năm nữa dịch. Dịch xong lần thứ hai, mới phá cái tủ cũ ra, lấy hai bản dịch ra so sánh để tìm ra một bản tốt nhất. Cái ví dụ này cho tôi thấy dù thế nào người ta cũng phải tiến đến gần cái hoàn thiện trong nghệ thuật.


27-9

SÁCH CŨ SÁCH MỚI

     Một đoạn lấy từ blog Thích học tóan:

Yourcenar là một nhà văn nữ viết tiếng Pháp, có nhiều người hâm mộ, và cũng có nhiều người chê. Người ta chê bà viết văn theo phong cách “cứu hỏa”, có nghĩa là câu văn kêu boong boong như chuông. Nhưng thỉnh thoảng, bà viết được một câu hay tuyệt, tỉ như câu này :

Đọc sách không thích bằng đọc lại sách.

 Suy rộng ra

Gặp người không thích bằng gặp lại người.

   Từ kinh nghiệm của mình trong mấy năm về hưu, tôi cũng thấm thía điều này. Tôi muốn đọc lại nhiều tác phẩm cũ, trước đã từng đọc, để hiểu ra sự ngớ ngẩn của mình ngày xưa, và tiềm năng vô tận của những trang sách tuyệt vời mà mỗi tuổi người ta lại có thể tìm ra khía cạnh mới.

   Nhưng cũng phải nói thêm. Loại người như bà  Yourcenar nói ở đây hồi nhỏ đã được học hết những cái cơ bản, những kiệt tác, những gì mà mọi người ở xã hội có giáo dục bắt buộc phải biết.
   Còn chúng tôi, nhét đầy đầu óc của chúng tôi thời trẻ là những cái ngớ ngẩn(  chẳng hạn, có dịp tôi sẽ chép lại mấy bài học thuộc lòng mà tôi học trong các sách Văn tuyển in ở Hà Nội những năm tôi học cấp II, 1955 –1958)
    Năm ngóai, đọc một cuốn sách loại như cuốn Nhiệt đới buồn của Levi—Strauss mới dịch ra tiếng Việt, tôi tự nhủ giá kể biết đến nó sớm, có lẽ cả cách nghĩ của mình lúc trẻ cũng đã khác đi.
   Nên những ngày này, cái nhu cầu đọc sách mới vẫn rất lớn.
   Thậm chí chưa đọc chỉ liếc qua một chút, hớt lấy chút “ tinh  thần” của nó cũng đã quý lắm rồi.
    Một trong những người tuổi đã cao mà luôn lao tới cái mới là Nguyên Ngọc. Một bữa gặp ông, tôi than phiền nhiều sách mới in ra quá đọc không xuể. Và nhất là không hiểu nữa.
     Chẳng hạn như cuốn Nền đạo đưc Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản.
      Từ lâu đã nghe nói tới nó. Thấy bản dịch in ra ở NXB Tri thức thì lao đi mua liền. Nhưng về, đọc một ít trang rồi bỏ đấy. Lại nghe nói là ông Chu Hảo cho ra những quyển mới, đi lùng liền, rồi lại mang về xếp xó.
     Đây là câu Nguyên Ngọc bảo tôi hôm ấy:
-- Trước tiên hãy cố đọc lấy Lời giới thiệu của Trần Hữu Quang với Bùi Văn Nam Sơn để hiểu sơ sơ cái đã. Rồi khi nào có hứng đọc tiếp.
     Tôi thấy gợi ý thật hay, mà cái tối thiểu như thế cũng chưa làm được. Thảm cho bản thân quá!


28-9
   Trao đổi về di sản.  Có ai coi thường đâu? Cái chết của chúng ta chỉ là  tầm thường hóa di sản.
     Làm cho những cái tuyệt hảo như chùa Kim Liên hỏng. Và những thứ đền chùa loi thoi bé nhỏ cũng trở thành di sản, đến mức người ta phát chán.


     Tạp chí Nghiên cứu lịch sử tháng 4-5/2010 có bài đăng mấy số liền về  người Hoa và nền ngoại thương của chúa Nguyễn. Các nhà nghiên cứu cho biết  ở Hội An mấy thế kỷ phát triển ngoại thương đó, họ có vai trò lạ lắm.
     Họ là người buôn, người Việt chỉ là người gom hàng.
     Họ thao túng cả định hướng buôn bán của các hãng nước ngoài vào VN.
      Họ tham gia vào việc định giá các sản phẩm.


     Có những thương nhân người Hoa cho chúa vay những khoản tiền khổng lồ và qua đó thao túng bộ máy cầm quyền.


      Họ từ TQ vào Nam ra Bắc như đi chợ – một điều mà người Việt nói chung không được phép làm. Người Việt chỉ là người của một phía, Đàng trong hay Đàng ngoài.
      Nên có chúa đã dùng họ như lực lượng do thám, giúp chúa có tìm ra sách lược đối phó với đối phương. 


30-9
   Mấy chục năm nay tôi mới trở lại Văn Miếu. Đi loanh quanh. Dừng lại ở một số chỗ trước kia không để ý.
    Đến cái bản tiểu sử ở đây Khổng tử cũng viết sai. Ví dụ viết Các sách do môn đồ biên soạn ghi lại lời giảng và học thuyết của ông là tứ thư: Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh tử. Có thể nói Mạnh tử là tác phẩm của Nho giáo chứ sao lại nói là tác phẩm của Khổng tử được?
    Lại viết Nhân gồm có trung hiếu đễ thứ.  
     Có lẽ lúc viết vậy, người viết không nghĩ rằng mình đang đại diện cho hiểu biết về văn hóa phương Đông của cả một cộng đồng.
    Trong số khách đến tham quan Văn miếu sáng nay có một đoàn du lịch TQ. Tôi thấy khi đọc một số câu chữ trong các văn bản ở đây, một số trong họ cười to.