Wednesday, October 31, 2012

Thô bỉ hủ bại bạc bẽo đê tiện




Trích từ chuyên mục


 Người
xưa cảnh tỉnh


đã in trên Thể
thao và văn hóa
2005-2007


Các đầu đề nhỏ và chú thích là của người biên soạn 





Nhìều
chuyện đáng xấu hổ


    
Trong một họ, tôn trưởng thời lèm nhèm, con em thời vô lại;


     trai ăn trộm đánh bạc gái làm biếng chửa
hoang;


     nhà thờ tổ có kẻ giỡ ngói bán, ngày giỗ tổ
uống rượu để rức  nhau (1);






     nhà
bác cưới con gái nhà chú không được tiền thời sinh sự để trở hôn, người này
chết vợ con người kia có sự bất bình
thời sinh sự để ngăn cản việc tống táng


      Ấy là những sự xấu hổ của một dòng họ.


  
  Trong một làng, đàn anh chỉ ăn
bẫm, đàn em chỉ kiện nhau;


      đình điếm tồi tàn, đường bến rác uế,
tiếng chửi mất mạ ở ngoài đồng, tiếng chửi mất gà ở trong xóm;


     nhà nào có tang ma thời quan viên hạch
sách sự ăn uống, nhà nào có thất hoả (2) thời hàng xóm láng giềng đến hôi đồ


       Ấy là những sự xấu hổ của một
làng.


 
   Trong giới thực nghiệp (3), người có tư bản mà
không có chí khí, lấy giàu đủ hơn người khác làm mãn nguyện mà không mở rộng
được công việc;


      hiệu mở rồi lại đóng, hội họp rồi lại
tan;


      việc canh nông không khảo xét mà chỉ mong
nhờ trời làm được mùa, việc công nghệ không cầu tinh mà chỉ lấy bán đắt làm lãi


       Ấy là những sự xấu hổ của giới thực
nghiệp.


 
    Sự đáng xấu hổ thì nhiều mà
người biết xấu hổ thời ít.





(1) nhiếc móc nhau


(2) bị cháy


(3) chỉ chung các nghề làm ăn kiếm sống


                                                                            
       Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu


                                                                        
   
Sự xấu hổ, Hữu thanh,
1921        





Vục đầu ăn uống 

trách sao dân chẳng hèn nước chẳng nhược?


    Người thi đỗ, người được bổ làm quan, người
được phẩm hàmđều phải khao vọng. Nhà
vua cũng đã đặt lệ giản tiện cho người ta dễ theo. Đại để như đỗ tú tài thì
khao một con gà một đĩa xôi và ba quan tiền, đỗ cử nhân thì khao một con lợn
một mâm xôi và năm quan tiền.


     Nhưng ngặt vì tục dân đã quen, chiếu lệ ra
mà làm thì họ cũng phải chịu, nhưng tình ý không thoả hiệp thì họ sinh ra lắm
sự ngăn trở.


     Họ
có câu rằng “Phép vua thua lệ làng “, thực là một lời nói đáng khinh bỉ.


     Lại có một câu nữa là câu “vô vọng bất
thành quan “(1). Cứ như câu ấy thì ra có xôi thịt cho họ ăn thì họ tôn kính, kém xôi thịt thì họ coi thường. Vậy thì họ chỉ vì miếng ăn mà đổi lòng khinh
trọng, sao đê tiện hèn hạ làm vậy?


     Lại ngán nỗi cho hạng kỳ mục(2), động ai
có việc gì mời mọc đến ăn uống no say rồi thì giở ra cách chơi bời, thuốc phiện
hút khói um nhà, bài bạc đùa cười rầm rĩ, ấy thế là thoả thuê, ấy thế là hể hả.
Giá đám nào kém thì đã thấy lắm kẻ hậm hà hậm hực, tiếng nọ tiếng kia, làm cho
người ta khó chịu.


 Than ôi! Ngoài chốn hương thôn không còn biết
trời đất là đâu, ngoài sự ăn uống không còn có sự nghiệp gì, như thế thì trách
làm sao mà dân chẳng hèn, nước chẳng nhược?





(1)không khao vọng không phải là quan


(2) kỳ
đây là già cả. Các từ điển cũ ghi kỳ mục là những người già cả “tai mắt” trong
làng


                                        


 Phan Kế Bính


 Việt Nam phong tục 1915


Chưa làm quan đã nghĩ tới 

trộm cướp của công để hưởng lạc


   Có những người nộp một quan tiền thuế mà tựa
hồ bị cắt mất một miếng thịt, rên siết than vãn, thế mà đến sòng bạc thì cầm
nhà bán cửa không tiếc.


    Có những hạng giàu có phong lưu, ăn mày
chầu chực trước nhà không xin nổi một đồng điếu, người làng thiếu thuế không
vay lợi được một quan, thế mà đến chỗ ăn chơi thì ngàn vàng mua một trận cười,
trong cơn sát phạt, trăm vạn chỉ đặt một tiếng. Hạng người này nhiều lắm, không
xe nào chở hết...


   Cũng có nhiều người mới học kha khá đã truy
hoan, ngày nào cũng mài miệt trong cuộc đỏ đen, thường lui tới các chủ nợ hứa
với người ta rằng “Đợi tôi dạ một tiếng trước cổng trường (1) thì mọi việc sẽ
đâu vào đấy”.


     Rắp tâm hành động như thế, rõ ràng là quân
trộm cướp của công chứ còn gì?





(1)   Tức là thi đỗ, rồi ra làm quan, tha hồ kiếm
chác





 Nguyễn Trường Tộ


 Tám việc cần làm gấp, 1867








Tham giàu cho mau nên sinh cờ gian bạc
lận


     Cũng bởi người mình tục quấy (1) nhiều,
cho nên mới sinh bài bạc nhiều. Bài bạc ham nghĩa chi? Nghĩa là tham cho mau có
tiền, đặng khoe khoang nhà cao cửa lớn, đặng cho khỏi bị người giàu có khinh
khi bỉ bác. Tại bởi quấy, ít thương nhau cho nên sinh ra tranh đua về lý tài
(2). Lý tài gấp thì có món chi mau hơn cờ gian bạc lận? Rõ là tục quấy làm cho
người trở lòng tham lam.





(1)   Tục
quấy có nghĩa thói quen xấu. Theo
Đại
nam quốc âm tự vị, quấy có nghĩa rất rộng chỉ sai lầm giả dối không nên
không phải   


(2)   cốt
sao kiếm lợi


 Lương Dũ Thúc,


Nông cổ mín đàm, 1902








Những mộng
tưởng hão


   Nghề cờ bạc hại như thế, mà sao lại lắm
người đam mê? Đó chẳng qua mấy bác ăn không ngồi rồi, không nghĩ cách xa xôi,
trước còn  cho là một cuộc tiêu khiển,
rồi cay vào thành ra gỡ gạc. Các tay đại phú, các bậc hào thương, thường cũng
có kẻ đam mê mà bỏ cả công việc buôn bán. Hạng ấy thì lại mộng tưởng những sự
may rủi lớn lao, tưởng những sự gỡ một ngày còn hơn buôn cả tháng.


  Người ta không biết trọng cái thực lực mà
muốn trông cậy về vận may thì chí khí cũng đã kém rồi, huống chi là cái may
cũng không mấy khi được gặp.     


                                                                                                                                                                                              Phan
Kế Bính
                                                                                               


                                                                                             
Việt Nam phong tục,1915





Ăn uống chơi bời bên cạnh


nỗi đau của người khác 


    Cái tục tang ma ở ta, hiếu chủ (1) đã có
nhiều cách phiền phí (2), đến như lệ làng lại càng phiền nhiễu nữa.


     Việc tử
biệt
là cái cảnh rất thương xót, mà sự trợ
tang
thì là một nghĩa vụ của xã hội.


     Đã gọi là nghĩa vụ thì khi người ta đau
đớn có thể giúp được gì thì giúp chứ ai còn tưởng gì đến sự ăn uống. Mà hiếu
chủ đang lúc buồn bã âu sầu, còn bụng nào mà nghĩ đến việc thù tiếp. Vậy mà ép
cho người ta phải cỗ bàn khoản đãi thì cái nghĩa vụ cứu giúp nhau ở đâu?


      Trừ
người cùng kiết (3) quá, còn như người có thể lo được hoặc có thể vay mượn
được, không mấy ai chịu kém cái sĩ diện.


      Vậy tiếng là tuỳ tiện (4), mà cũng là buộc
một cái nợ miệng cho người.


       Đến như các làng, dẫu ai đau đớn khổ sở
thế nào mặc lòng, hễ có ăn thì còn để cho người ta giữ hiếu nghĩa, không có ăn
thì hiếu nghĩa của người ta cũng bỏ.


        Tục ấy là một tục rất thô bỉ, rất hủ
bại, rất bạc bẽo, không có tục nào xấu xa đê tiện bằng!





(1) người đứng ra chịu tang


(2) bận
rộn tốn kém


(3) nghèo túng


(4) dễ
dãi sao cũng được


 Phan Kế Bính


 Việt Nam phong tục, 1915











Lười nhác không
chịu vận động,


không biết thế nào là  thể
thao thể dục


      Người nước ta quý trọng các ông thầy đồ lưng dài tốn áo ăn no lại nằm đã thành
ra một cái bệnh gần chết không có thuốc chữa. Đến lúc sóng Âu châu ập vào,
người ta coi chừng đã tỉnh dậy, nhưng mà công phu về đường thể dục còn chưa
nghiên cứu đến nơi.


      Cái
căn tính lười nhác đã quen nết lâu ngày, lại nhiều điều thói đãng tính dàm dê
(1) cho hại đến sinh mệnh, người ta lấy thế làm sự thường, không lo đường cải
cách nào là công khoá (2) về đường thể
thao
, nào là lợi ích về cách vận động.


      Trong một ngày có 12 giờ, nửa ngồi chết
trước cuộc tài bàn (3), nửa nằm chết bên đèn thuốc phiện.


      Vận động đã không có công phu thì huyết
mạch lấy gì làm lưu thông; huyết mạch đình trệ thì thân thể phải hèn ốm cho rồi,
dân mới hoá ra dân nô lệ, nước mới hoá ra nước bạc nhược.





(1)  
Thói đãng là cách
sống buông thả; riêng dàm dê là gì, chúng tôi chưa tra cứu được, không rõ có phải
là dâm dê hay không (?).


(2)  
Những công việc
khi vào học phải làm là công, những thứ  học trò phải học là khoá, gọi chung là công
khoá


(3)  
Một loại tổ tôm, nhưng
chỉ có ba người, và đánh không có chừng mực nào cả (Theo cách giải thích của
Phan Kế Bính trong
Việt Nam
phong tục)





 Phan Bội
Châu


                                                                               
Bài diễn thuyết tại Trường quốc học Huế,1926











Sự xa xỉ mang hại lớn


      Đua nhau may những hàng đẹp mặc những
hàng mới, chửa được bao lâu lại đổi mặc hàng khác, ấy là cái thói đua mới
chuộng lạ của người dân ta. Có sự xa xỉ bởi có sức trợ chưởng(1) từ bên ngoài.


     Những người thượng lưu không vụ lấy tài
đức hơn người, chỉ cốt chăm chăm về đường hư sức (2), bề ngoài dễ khiến người
đời xu thượng (3).


       Lòng người đã khuynh hướng về sự xa xỉ,
thời tất không thích dùng những hoá vật trong nước mà lại coi nhưng đồ ngoại
quốc là lạ là quý hơn, ấy lại là một sự thiệt hại cho nước mình nữa.





(1) bàn tay giúp sức


(2) vẽ vời giả tạo


(3) mải chạy theo


 Trịnh Đình Rư


                                                                             Phép thực dụng kinh tế
trong một nhà Hữu thanh, 1921























Mê tín thủ cựu
dốt nát


  
  Đâu đâu cũng thấy những ng­ười nông dân mê tín
thủ cựu và dốt nát.   Thư­ờng xuyên có sự lãng phí sức lực. Một
thói quen lâu ngày đã làm họ thích nghi với cuộc sống khốn khổ.


     Khi
có một ít tiền, họ liền tiêu bừa bãi trong những hội hè. Nếu mùa màng thu hoạch
tốt, ngày tết đến họ đốt pháo tha hồ, họ tổ chức những hội hè kéo dài đến mười
lăm hoặc hai mư­ơi ngày. Sự thiếu lo xa hầu như­ không có giới hạn.


  
Ruộng đất khai thác chỉ cho một năng suất thấp, khiến sự nghèo đói của
ngư­ời làm ruộng lại càng trầm trọng thêm.


   Vì
thế ngư­ời nông dân thư­ờng xoay sở bằng mọi cách. Cách xoay sở tốn ít công sức
nhất là cờ bạc.


 
Trong xã hội Việt Nam,
mọi người đàn ông, đàn bà, trẻ con đều đánh bạc.


 
Tôi đã đếm đ­ược ở một hội làng tới 22 lối cờ bạc, và 150 chiếu chơi xóc
đĩa. Các tội ác, các vụ trộm cư­ớp, những hành động phạm pháp th­ường chỉ là do
cờ bạc mà ra.


 
Ng­ười ta đánh bạc với hy vọng làm cho hoàn cảnh của mình khấm khá hơn.
Đôi  khi điều đó dẫn đến những hậu quả
khôn lường.





Nguyễn Văn Huyên


 Vấn đề nông dân Việt
Nam ở Bắc Kỳ,
1939














Từ lệ hương
ẩm tới óc xôi thịt


     Trong
các tục lệ của xã hội Việt Nam,
lệ hương ẩm(1) là một lệ phổ thông hơn cả. Người ta thường tranh nhau ngôi thứ
để đạt quyền lợi. Vì góc chiếu trên nơi đình trung mà nhiều người tranh giành
thưa kiện nhau đến mất nghiệp; vì một miếng xôi phần thừa huệ thánh  sau khi tế lễ tại đình  mà nhiều người thành ra thù địch nhau.


     Cái khiếu xã hội (2) của nhiều người không
tìm được lối thoát khác để thoát ra, nên đã lạc hướng mà biến thành óc xôi
thịt.





(1)  lệ ăn
uống ở các làng xã


 (2)  ý
thức về vị trí xã hội nơi mỗi cá nhân 





                                                                                                                     
                    Lương Đức
Thiệp


                                                                                                                           
Xã hội Việt nam 1944





 Càng nghèo càng
thích chạy theo những trò nhảm nhí


     Thử nhìn vào đám dân quê dư dật xem họ có
việc gì, ta thấy ngoài công cuộc làm ăn, họ chỉ còn quân bài lá bạc thuốc phiện
hay cô đầu.


     Đám dân nghèo cũng vậy, không phải là họ
không biết cờ bạc, ngược lại càng nghèo họ càng lăn vào cuộc đỏ đen, hòng kiếm
thêm ít tiền mà mồ hôi nước mắt không đủ mang lại cho họ.


     Thành ra, từ trên xuống dưới, giàu cũng
như nghèo, không to thì nhỏ, cờ bạc đã trở nên một tập quán ăn sâu vào đầu óc
dân chúng, đó thực là một mối tai ương cho dân tộc ta vậy.


     Ngoài
ra nếu không cờ bạc thì người ta lại đua nhau đồng bóng, lễ bái nhảm nhí, từ đó
sinh ra biết bao nhiêu mối tệ đoan khác.


 Đỗ Đức Dục


 Vấn đề tổ chức những thì giờ nhàn rỗi của
người


 bình dân ở xứ ta, Thanh nghị, 1945

Saturday, October 27, 2012

Tương tự như quấn lốp xe



Ngoài việc thông báo tình hình
nắng nóng lũ lụt, các bản tin thời tiết còn hay nói tới nạn cháy rừng.



Với đám dân thành phố chúng tôi
những lần chứng kiến các cảnh ấy quả thật thấy buồn. Đã buồn vì rừng bị cháy
lại càng buồn vì những chậm trễ trong việc dẹp các đám cháy.







Tôi không biết rõ lắm, nhưng vẫn
nhớ là ở các nước công nghiệp, người ta có nhiều phương tiện khá hữu hiệu. Đằng
này ở mình thì sao ? Ngao ngán nhất là một lần trên màn ảnh thấy cái cảnh chữa
cháy ở Kong Tum. Vòi rồng không có. Nước không có. Mấy ông bảo vệ tay chỉ có
cành cây bẻ vội để xông vào với lửa. Thế thì còn kiềm với chế gì nữa !


Có một câu tục ngữ khuyên răn về
việc sử dụng công cụ để giải quyết sự cố : “ Đừng dùng dao mổ trâu để cắt tiết
gà ”.


Nó rất thích hợp trong nghề văn
chương của tôi, nơi người ta hay thi nhau đao to búa lớn trong những cuộc tranh
cãi lặt vặt.


Đằng này trong đời sống, tôi cảm
thấy một tình hình ngược lại: luôn luôn chúng ta phải dùng dao cắt tiết gà để
mổ trâu.


Việc sử dụng những công cụ chữa
cháy trên những cánh rừng mênh mông như trên là ví dụ. Và cố nhiên là còn thấy
ở nhiều lĩnh vực khác.


_Thứ nhất là câu chuyện
ứng phó trước các bệnh dịch, từ cúm gia cầm tới lợn tai xanh. Cơn dịch bùng
phát như những cơn bão. Báo chí đưa tin ở huyện nọ heo chết mang trôi sông, cả
quãng sông dài ba chục ki lô mét ngập xác lợn. Lúc bấy giờ huyện tỉnh mới biết
và phát thông báo có dịch. Còn biện pháp để chạy chữa thì nhỏ giọt.


_Thứ hai là tình hình lạm phát gần đây. Giá cả leo thang. Đến gói
xôi bát phở ăn sáng giá cũng tăng, chứ đừng nói những thứ to lớn hơn. Mà cách
kiềm chế xem ra cũng đơn sơ lắm.


Theo sự tường thuật của báo Tiếng
nói Việt Nam số ra ngày 29-3-05, tại một cuộc hội thảo, một nhà nghiên cứu tài
chính cho rằng chúng ta thường chỉ biết giải quyết ở tầm vi mô, như khi cái
chăn rách đi vá từng lỗ thủng một, chứ chưa tính được xa hơn.


Nói chung chỉ thấy những cam kết
duy ý chí, những quyết định hành chính, chứ các nhận thức ở tầm vĩ mô và các
công cụ quan trọng kèm theo, thì chưa khởi động.


Bảo chẳng khác gì bẻ cây dập lửa
cháy rừng, hoặc dùng dao cắt tiết gà để mổ trâu, e cũng không phải quá.


Khi bàn về cái sự kiềm chế lạm
phát này, cũng ông tiến sĩ tài chính nói ở trên còn đưa ra một hình ảnh thú vị
khác. Ông bảo cái cách ta xử lý nền kinh tế hiện nay là kiểu “ quấn lốp xe đạp
“.


Chuyện này bây giờ các bạn trẻ
ít người biết và đám người tuổi từ sáu mươi trở lên may ra mới nhớ, vậy tôi xin
phép nhắc lại.


Hồi chiến tranh ngay ở Hà Nội
chứ đừng nói nông thôn hay tỉnh lẻ, cái gì cũng thiếu. Ví dụ như bút bi, ngay
dân viết lách chúng tôi cũng dùng theo định mức, sau khi dùng hết một lượt
ruột, chúng tôi phải nộp cơ quan cái ruột rỗng, thì mới được nhận ruột mới.


Nếu dùng quá tốn, vượt mức cơ
quan cung cấp thì phải ra phố bơm lấy. Có nhiều cửa hàng chuyên bơm mực như vậy.


Hoặc như cái chuyện lốp xe.
Phương tiện đi lại hồi ấy chủ yếu là xe đạp, mà săm lốp rất khó kiếm. Lốp phân
phối về cơ quan. Vài chục người mới được một chiếc. Công đoàn đứng ra tổ chức
bình bầu hoặc rút thăm.


Khốn nỗi có phải lốp Sao Vàng
lúc ấy cái nào cũng tốt như cái nào đâu. Nhận lốp về có thấy cái cong cái vênh
cũng bấm bụng chịu.


Thế còn khi lốp xe quá hỏng, mà
không được bình bầu, thì làm thế nào? Có hai cách. Một là ra các cửa hàng chữa
xe đạp, nhờ các bác ấy đắp lại. Hai là – trong những lúc vội và chưa có tiền --
nhiều người phải có lối dùng những sợi dây cao su quấn chung quanh.


Lốp được đắp lại cố nhiên khá
hơn. Còn quấn tạm thì khổ lắm.


Đi trên đường phẳng mà xe cứ
giật giật như trên đường mấp mô. Tốc độ chậm một cách khó chịu.


Nhưng thôi quấn lại lốp đi tạm
còn hơn lẽo đẽo đi bộ, -- không phải một người mà hầu như tất cả dân cán bộ èng
èng cấp thấp ở Hà Nội lúc ấy đều tự nhủ như vậy.


Bây giờ bạn đọc hẳn đã có cách
đánh giá của mình với cái hình ảnh mà vị chuyên gia tài chính kia đưa ra và từ
đó hình dung cái khó của chúng ta trong việc chống lạm phát trên bề rộng.


Nói mãi chuyện buồn tôi muốn
tiếp tục câu chuyện bằng một chi tiết vui vui, liên quan đến cháy rừng.


Lần ấy, một xã của huyện Tương
Dương Nghệ An có rừng bị cháy. Xã mãi mới biết, và tổ chức cứu hộ cũng quá
chậm. Huyện thì chỉ lo tin loang ra mang tiếng, dặn kỹ là đừng làm to chuyện.


Bốn ngày mới dập tắt. 130 héc –
ta rừng bị mất đứt. Cụ già có lỗi ngồi hối hận. Đám thanh niên thì chỉ bàn nhau
có đôi rắn chạy ra đường, chắc đã thành những cặp thịt chín vàng, giúp cho đám
bợm rượu thêm khoái khẩu khi đánh chén.



vầ đưa vào Những chấn thương tâm lý hiện đại, 2009









Monday, October 22, 2012

Kém học, ít nghe, cạn nghĩ







Trích từ chuyên mục


 Người
xưa cảnh tỉnh


đã in trên Thể
thao và văn hóa
2005-2007


Các đầu đề nhỏ và chú thích là của người biên soạn











Đối với những tư tưởng lớn


 chỉ hiểu sơ sài


      
Thu nhặt tất cả những gì về văn chương nghệ thuật đã được làm ra trên đất
nước ta, dễ thấy nguồn tài sản tổ tiên ta để lại là mỏng mảnh so với các dân tộc
khác. Không thể từ cái di sản đó tiếp thêm sức mạnh trong cuộc chiến đấu giành
một chỗ đứng trên thế giới.






      Những tác phẩm đã đóng góp vào việc
nâng cao trình độ học thức của người Trung quốc thật là nhiều, nhưng với các nhà
của ta, hình như các ông ấy chỉ biết mỗi một mình Khổng Tử.


       Đạo
Khổng dưới dạng một món hàng xuất khẩu mang sang nước An Nam đã gây tai hại:
Các nhà nho ta muốn Khổng hoá tất cả những gì nằm trong tầm mắt của họ, giải
thích mọi thứ theo cách hiểu hẹp hòi của họ.


       
Hiểu biết của ta về các vấn đề Trung Hoa, về nền văn hoá Trung Hoa còn rất
xa yêu cầu hiểu biết thực sự (những người đã hiểu thấu đáo văn hoá Trung Hoa có
đủ trình độ để tiếp thu mọi luồng tư tưởng của nhân loại). Cũng như, cho đến
nay, chưa có một người Việt Nam
nào tiếp thu đầy đủ ý nghĩa của văn hoá Pháp.


 Nguyễn An
Ninh


 Lý tưởng của thanh niên
An Nam,
1924








 


Điểm xuất phát quá thấp


    Cái mà
ta gọi là tư trào văn học do chế độ phong kiến và chế độ thực dân để lại  chỉ là những hình thái hết sức gày còm bạc
nhược. Nền văn học bình dân chưa được phát triển. Bản sắc của dân tộc luôn luôn
bị bóp chẹt dưới tư tưởng bản xứ xưa kia, nghĩa là kẻ học trò của tư tưởng
phong kiến Trung Hoa, và sau đó là tôi đòi của chủ nghĩa thực dân Pháp. Tất cả
tư trào văn học chính thức là nhặt vét trên mép mấy bộ kinh, sử, tử, tập
của Trung Hoa đưa qua. Sau đó là những vẩy sơn hào nhoáng nhặt được trong văn
học cổ điển Pháp đã hoàn toàn biến chất trên tập chương trình các trường Pháp
Việt  khắp các cấp. Công tác nghiên cứu
văn học cổ không có cơ sở, không có phương pháp. Bắt chước người ngoài chỉ đi
đến chỗ hy sinh tất cả bản ngã. Cho nên trong công cuộc sáng tác, so với người
ngoài thì nhà văn Việt Nam
là những lực sĩ đi dự một cuốc chạy
việt dã mà phải bắt đầu chạy sau người ta đến mấy thế kỷ.  


                                                                               


Đặng Thai Mai


                                                     
Văn học bình dân và văn học cao cấp, 1948
                                           





Thiếu sự hướng dẫn của tinh thần trí thức


     Phủ huyện nào cũng đều có hội Văn chỉ, các
hội ấy làm giềng mối chủ trương dư luận cả xã hội, người ta quen gọi là cái nền
danh giáo hay cơ quan thanh nghị (1). Chẳng những người trong hội cho đến người
thường ở ngoài, nếu có làm việc gì phạm tới luân lý trái với đạo đức thì không
thể nào tránh khỏi sự công kich của hội.


    [Nhưng các hội ấy ở
nhiều phủ huyện nước ta thời xưa chỉ là hình thức].


  
Người An nam mình kém học, ít nghe, cạn nghĩ, lại thêm không biết phán
đoán, mà  cái lòng ghét điều ác quá nồng
nàn, bao biếm (2) nhiều khi thất thiệt, bị người ta lợi dụng mà gieo điều nghi
kỵ, thành ra ngờ vực nhau chia rẽ nhau.





(1) Bàn bạc xét đoán thẩm
định việc đời


(2) khen chê  





Phan Khôi


 Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở
nước ta
, Thần chung, 1930











Không có hiểu biết thì làm sao


nghĩ chuyện tranh đấu?


    Đời Trần Nhân Tông niên hiệu Thiên Bảo (1280)
năm thứ hai, thổ tù ở Đà Giang là Trịnh Giốc Mật làm phản, vua sai Trần Nhật
Duật đi đánh dẹp. Nhật Duật biết tiếng Mường, lại biết phong tục như ăn bốc
uống ngụp, người Mường rất mừng. Mật dẫn cả gia thuộc ra hàng.


    Ôi! Là
một vị thân vương mà thông hiểu được tiếng người các xứ xa xôi, đó cũng là một
người khai thông (1) thứ nhất vậy!


   Tôi nay
làm một người dân thuộc địa của Pháp mà hỏi tiếng Pháp chữ Pháp như câm như
điếc, thì tranh đấu làm sao? Ở vào thời đại giao thông (2), phải cùng người
ngoài tranh cạnh (3), mà tôi ngu lậu như thế này, nhìn tấm gương xưa càng thêm
tự thẹn cho mình nhiều lắm. Giữa thời đại cạnh tranh mặc sức này, việc học tập
ngôn ngữ đã là việc thường, vậy làm sao để có được mấy trăm người như Trần Nhật
Duật.





 (1) tức người mở đường trong một sự nghiệp
nào đó


 (2) ý muốn nói thời đại các dân tộc mở rộng
giao lưu tiếp xúc


 (3) cũng như tranh đua.





 Phan Bội Châu   


 Việt Nam quốc sử khảo, 1908





Lấy khôn vặt thay cho tư tưởng học thuật


 
Thời bây giờ quá chuộng văn chương, tư tưởng phần nhiều chật hẹp, học
thuật nông cạn, chỉ cứ khư khư đóng cửa ngăn sông, không biết giao thiệp với
người các nước, để học hỏi thâu thái lấy cái văn hoá nước ngoài.


 
Các bực học thức sớm có tư tưởng cao xa rộng rãi, biết nước nhà cần phải
mở mang học thuật  rộng lối giao thông
(1), mới  đứng vững được cùng các nước,
đã nhiều lần bàn đến, mà không ai kẻ biết nghe.


  
Tình thế bây giờ đâu có lấy văn chương hoạt bát với những lời ứng đối
tinh ma mà đối phó với các nước được.





(1)   tức
có sự giao lưu tiếp xúc với các nền văn hóa khác
     


Nguyễn Khắc Bình


An nam tạp chí, 1931 














Nô lệ nước ngoài như đã nô lệ cổ nhân


  Hết thảy
mọi phương diện, chẳng hạn, từ văn học tới nghệ thuật – chúng ta đều ăn của
người, nhưng đã biết hoá để làm của riêng của mình chưa ?


  Bình tĩnh mà xét, từ hình thức đến tinh thần
ta nay cũng có một đôi phần tiến. Nhưng cái óc mô phỏng hãy còn rõ sờ sờ trong
hết thảy mọi mặt.


   “ Chúng ta 
phải làm con cháu của cổ nhân chứ không nên làm nô lệ của cổ nhân “. Đối
với cổ nhân ta nay còn phải dè dặt thay, huống chi  đối với gió bốn phương,  há lại nên bạ chiều nào che chiều ấy ?!


                                                                                                     
Hoa
Bằng


Phải có cái gì để làm đặc tính của người
mình chứ ? Tri tân, 1941








Tinh hoa trở thành phù phiếm


     Lệ
trường quy rắc rối và hà khắc. Một nét phẩy bỏ sót, một chữ tên huý lỡ phạm
phải,  một vết mực làm tì ố quyển thi,
một lời bình luận trái với tư tưởng Tống nho (1), hoặc một ý kiến mạnh dạn cũng
đủ làm cho kẻ ứng thí (2) nếu không bị đánh hỏng cũng bị khép vào một tội vu
vơ. Sáng kiến của mỗi cá nhân bị dập tắt, tư tưởng của cá nhân bị đàn áp. Cả
cái phần tinh hoa của dân chúng Việt Nam chỉ còn một lối duy nhất để
tiết ra: văn chương phù phiếm.





(1)Bộ phận bảo thủ cứng
nhắc nhất trong đạo Nho


(2)Dự thi


Lương Đức Thiệp


                                                                                                  

hội Việt nam
1944





Sử ta, ta không biết


     Tại
sao tôi viết bộ Việt nam sử lược? Nước ta có sử từ đời nhà Trần, đến nay
kể đã sáu bảy thế kỷ, nhưng sử của ta chép theo lối biên niên của Tàu, ngày nào
năm nào thì ghi lấy một cách vắn tắt không tìm đến cái gốc ngọn và sự liên can
đến việc.


     Nhà
làm sử lại là người làm quan, vua sai coi việc chép sử, không được tự do phải
chiều nhà vua, chép việc nhà vua, ít khi để ý đến những sự tiến hoá của nhân
dân trong nước …


     Thành
thử ra đọc sử thấy tẻ và không giúp được sự học vấn mấy.


    Sử của
ta thì thế mà người mình thì lại quá lãnh đạm với nó. Quy lỗi cho dân tộc mình
có lẽ là không đúng, vì từ trước tới nay, cái học vấn đã bắt buộc ta phải thuộc
sử Tàu hơn là sử của mình. Học để đi thi, để làm thơ phú văn chương, theo những
cái điển của Tàu. Trước là một sự bó buộc, sau thành một thói quen. Lúc ấy
những chuyện nước mình, so sánh với những chuyện nước người, đều không đáng kể.
Thật đáng buồn!.


 …Lắm lúc
tôi nhìn thấy những điều trước mắt mà lo. Ở xã hội ta ngày nay, có một hạng
người nghe nói đến nước mình thì ngây ngây như người ngoại quốc, sử nước mình
không biết, tiếng nói nước mình chỉ biết qua loa, đủ dùng cho sự giao thiệp
hàng ngày. Nếu sự đời cứ theo chiều ấy và cái đà ấy mà thay đổi, thì không hiểu
dân tộc mình sẽ ra sao?








 Trần
Trọng Kim


 Theo Lê Thanh, Cuộc phỏng vấn các nhà văn,
1943








Để cho tan
biến mọi
dấu xưa


        
Những chốn ăn chơi của Hà Nội là nhất Bắc kỳ, cái đó rành rành không ai
chối cãi. Nhưng chúng ta phải buồn phiền mà nhận ra rằng những hiệu cao lâu có
danh và bền vững đều là của người Tàu.


      Về
cách tổ chức một chốn ăn, về danh vọng của một ngôi hàng cơm, thật quả chúng ta
không có nền nếp, tục lệ và quy củ.


     Hồi
Hà Nội còn là kinh đô của vua Lê chúa Trịnh 
chắc cũng còn nhiều  quán rượu
tươm tất do người mình chủ trương. Nhưng bây giờ vết tích còn đâu?


    Cái
quán rượu mà cụ Nguyễn Du lúc còn trẻ tuổi đã dắt ba bốn người bạn vào uống và
bàn chuyện về lũ kiêu binh, cái quán ấy 
chẳng hạn mà còn đến bây giờ, còn cả bộ trường kỷ Nguyễn Du  đã ngồi, thì hẳn là một chốn đáng cho chúng
ta trọng vọng dường nào.  


 





                                                                                                                             Thạch Lam


                                                                        
Hà Nội băm sáu phố phường,
1940








Làm hỏng mình vì không biết
vay mượn


  Cái thời kỳ vay mượn của Tàu đến nay đã qua
rồi, nhưng điều di hại vẫn còn.


   Ta hãy để lại một bên những người say mê
Pháp văn -- những đứa con bội bạc ấy --- ta chỉ nói đến nói đến những ngòi bút
vẫn một niềm phụng sự tiếng mẹ đẻ, và chỉ nên tiếc rằng: Cũng như xưa, tiếng mẹ
đẻ không được phụng sự một cách toàn vẹn.


   Họ là những người học Tây; họ có cái khuynh
hướng Âu hoá những danh từ, những điệu ngữ, cả cái cách xuất diễn tư tưởng...


   Họ sửa đổi cả những tiết tấu thiên nhiên,
những âm luật huyền bí của tiếng Việt.


   Xưa kia kia chúng ta có những cái sáo rỗng
mượn của Tàu thì bây giờ chúng ta cũng lại có những chữ sáo vô nghĩa dịch của
Tây. Những ngữ điệu bị Pháp hoá chỉ chứng tỏ một cái bệnh về tinh thần. Cái
hình thức kia chỉ là kết quả đương nhiên của sự biến đổi một tâm hồn.





Lưu Trọng Lư


 Một nền văn chương Việt Nam, Sông Hương, 1939








Thực dụng,
tinh vặt, vụ lợi


       Về tính chất tinh thần thì người Việt Nam
phần nhiều là thông minh, song những người có trí tuệ lỗi lạc thì xưa nay vẫn
hiếm. Nhiều khi trí thông minh không có chỗ dùng thuận tiện thường lại biến ra
não tinh vặt.


        Trí nhớ của người Việt Nam rất nẩy nở,
đến não tưởng tượng thì hoàn toàn bị não thực tiễn làm tê liệt.


       
Não thực tiễn này mở nguồn cho nhiều đức tính khác, cho nên người Việt Nam hiếu học
không phải vì khát hiểu biết mà chỉ vì mong một địa vị ưu thắng trong xã hội.
Học đối với người Việt không phải  để
thoả mãn một khát khao trí tuệ, mà chính là để làm kế mưu sinh.


                                                        
                                                    


                                                                                                               
Lương Đức Thiệp


                                                                         
                  
Việt Nam
tiến hoá sử
,1944





Tình cảm nhợt
nhạt


    Trong
quyển  Le Francais par  les 
textes
  (1), tôi đọc được  một đoạn ký ức  của văn sĩ Nga L. Tolstoi,  nhắc lại cái tình  mẹ đối với con và con đối với mẹ trong hồi
còn thơ ấu. Một đoạn văn bình dị mà cảm động vô cùng.


   Rồi tôi
cố tìm lại trong văn thơ ta một đoạn tương tự như vậy. Thì ra cái xứ vẫn nổi
tiếng là hết sức tôn sùng đạo hiếu này lại không hề có một tác phẩm văn chương
ca tụng tình cha con, mẹ con.


   Những
bài ca Nhị thập tứ hiếu chỉ là những bài ca khuyến hiếu (2).Cho đến
quyển Kim Vân Kiều cũng chỉ là một bài ca khuyến hiếu. Ở trong ấy
chỉ có những điều bắt buộc của lễ nghi của luân lý mà không sao tìm thấy cái
tình đối với song thân hồn nhiên, chất phác mà trời đã phú cho con người.


   Vì sao
lại có sự lạ lùng vậy? Hay là cái tình cha con, mẹ con ở xứ mình quá ư bạc
nhược, nên người ta phải mượn luân lý để ràng buộc lại?! 





     (1)Tiếng Pháp qua các
bài khóa


     (2)Khuyên
người ta phải có hiếu


                                                               


   
Hoài Thanh


                           Về văn học xứ ta cũng còn là một đất hoang Sông Hương, 1938

Wednesday, October 17, 2012

Nhật ký Hà Nội tháng 9-10/1972 (tiếp hai kỳ trước)








20-10 (tiếp)

Lên Hương Ngải. Chưa nói tin Hà Nội thì những người ở cái đất sơ tán này đã đoán có thể 22 sẽ có một cái gì đó . Vì đài UPI nói 22/10, Nixon sẽ đọc một bài diễn văn quan trọng, và sẽ đi vận động bầu cử.



Tôi phục những người ở đây, vì sự đoán định khá chi tiết. Đoán hai bên Bắc Việt & Mỹ đã kịp xong, sắp tới ký 4 bên. Đoán Kíssinger sẽ đến Hà Nội. Và lại đoán ông ta sẽ ở nhà khách của chính phủ. Sẽ gặp các ông trên. Hẳn sẽ rất thú vị. Được nói chuyện với Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng -- những người đối mặt với mình bấy lâu. Có thể là xin gặp cả tướng Giáp. Hai bên có những điểm trọng nhau nên cũng tương đắc với nhau.


Rồi mọi người nói về những ngày hòa bình. Thế là dân tộc này có thể gọi là từ giã vũ khí. Không ai xúi bẩy được nữa - Nguyễn Minh Châu nói vậy.


Nguyễn Khải thích chí vì hãy biết rằng không phải cái chết lúc nào cũng treo trên đầu mình nữa. Từ nay trở đi, chỉ còn những bi kịch cá nhân.


Nguyễn Minh Châu lại bảo hoà bình nghĩa là một cái nhà không bị đuổi, có chỗ ngồi viết.


Hải Hồ hào hứng vì sẽ đi công tác nay Vinh, mai Đồng Hới, sẽ không bị cảnh gia đình thúc bách.


Nhưng có người như Nhị Ca nói:


- Ngày mai, các ông sẽ thấy có những yêu cầu khác. Sẽ thấy chiến tranh làm kiệt quệ đi, bào mòn sức lực và bao nhiêu khả năng nâng cao đời sống bị bỏ qua. Như ông Nhàn không nói làm gì, đó là một trường hợp thành đạt và hãnh tiến rồi. Còn như bao nhiêu thằng thương binh, bệnh binh, nó mới bị khổ sở, thiệt thòi... nó kêu lên thì mới thật ghê đấy.


Dẫu sao tất cả đều nghĩ những ngày cực khổ đã qua rồi. Dự đoán sẽ là nửa năm đầu, mọi người còn vui thoải mái. Độ nửa năm trở ra, lúc bấy giờ mới lại có những tâm trạng bất mãn, những sự cáu kỉnh, những người đòi nghĩ lại về những năm chiến tranh - còn nhiều chuyện lắm.





 Chuyện văn học. Ng Khải cho biết vừa rồi, thường vụ (bộ phận nòng cốt của BCH) họp, cũng bàn về giải thưởng văn học 15 năm. Nhưng mà là cho tác giả, chứ không phải cho những quyển sách cụ thể.


- Tôi viết cái Chủ tịch huyện đưa ra năm 1965 thì mọi người kêu nhiều lắm. Bảo là nặng quá. Đến năm nay thì mọi người lại kêu là nhẹ tay quá rồi.


- Thế thì anh mừng chứ gì (tôi muốn nói: mừng vì trình độ quần chúng)?


- Mừng cái chết tiệt . Xã hội mình ngày càng nhiều chuyện tham ô mà lại mừng.





Một hôm, ông Khải sang nhà mình -- Xuân Sách kể -- Thôi thế là hỏng rồi, công lao lo liệu của mình là đi toi cả rồi, ông Sách ạ.


- Sao thế?


- Thằng Huỳnh nằm nghe ông Ngô Thảo và ông Thái nói thế nào mới xoay ra làm đơn xin đi bộ đội, chỉ còn thiếu lấy máu ra viết quyết tâm thư nữa thôi.


Mình( XS) phải sang, dùng mọi cách giảng giải cho nó biết. Ví dụ bây giờ muốn đi, phải tập trung ở trường, ở xã như thế nào, qua các khâu khám sức khoẻ như thế nào, để cho nó sợ. Dĩ nhiên không nói là ông Khải bảo.


 Thỉnh thoảng, ông Khải lại khoe:


- Thằng H, thế mà nó cũng biết gớm đấy.


- Chứ sao, ông áp bức nó lắm, nhưng nó vẫn phải có cuộc sống của nó chứ.


Sách ( bình luận về sau):


 - Hai người con của ông Khải mang hai đặc tính của thời đại - một là đặc tính của những người anh hùng. Hai là đặc tính của bọn cơ hội.





Những chuyện về văn nghệ.


Khải: Tôi thấy ông Hồ Phương, ông Hữu Mai cứ tí tởn, vì những chuyện nào là phải xem hội nghị Hà Nội người ta làm sao, nào là phải viết cái gì đó đúng với thời kỳ được viết này... Toàn là các ông dại. Qua khúc quanh, chính là nên đi chậm lại.


Châu: Kinh nghiệm làm ăn là mình cứ từ từ. Nhà tiên tri không thể giống như một anh chàng láu táu.


Khải: Với lại tiên tri là trong lĩnh vực tư tưởng. Còn đây là về nghệ thuật, trình độ mình tiên tri gì!


Châu: Cái cửa sắp tới mở vẫn là cửa giả thôi. Còn cánh cửa thật còn lâu mới thấy. Anh nào dại thì cứ đi làm mồi.


Trong những lúc này, có thể viết hẳn một quyển sách về cách làm tư tưởng và công tác tổ chức của trên. Họ dùng mọi người như là một thứ đi làm thuê. Họ nhìn một người như ông Khải chỉ thấy ông ta không giúp được cho mình cụ thể gì cả.





 Lưu Quang Vũ kể: Các ông lại bảo tôi đi làm thơ tình. Nhưng tôi cần gì phải làm thơ tình?


Trong khi đó, - vẫn theo Vũ - các ông già được đánh bóng , chữ dùng hiện nay đã trở nên quen thuộc.


Ông Hoàng Tùng nói chuyện: Báo chí của ta cường quyền, công chức và công thức. Báo chí của ta cũng giống như một công báo vậy.


Trên cứ làm như trách nhiệm về báo chí hiện nay là do ai khác chịu trách nhiệm chứ không phải là trên. Rồi than trách là từng ấy năm cách mạng, không có một nhà báo nào cho ra hồn.


- Thì toàn bộ lối tổ chức của xã hội ta là cửa quyền, công thức và công chức chứ gì, báo chí, ông ấy nói thế, nhưng trên thít một lần, dưới thít chặt hơn, dưới nữa lại thít chặt hơn một mức nữa. Trách gì được người cán bộ.


... Nhưng, có phải hoài nghi không, khi nghĩ cái thế sắp tới là cái thế tạm thời. Mọi người đều cảm thấy bị theo dõi rất nghiêm nhặt. Và đừng có lơ mơ vào. Ví dụ như ba khẩu hiệu hiện nay: hoà bình, xóa bỏ hận thù, và hòa hợp dân tộc. Các ông trên nói thế, nhưng phải hiểu, phải nói thế nào?


Nói hoà bình nhưng không được chống chiến tranh. Phải thấy đây là thắng lợi của chiến tranh.


Nói xóa bỏ hận thù, nhưng nên nhớ rằng tiếng súng nhỏ còn nổ, còn người chết. Và chính các cụ ấy "đánh chẳng được thì tha làm phúc" . Chứ các cụ thích thú gì những tay chóp bu bên kia. Chính các cụ thù hằn nặng hơn hết.


Và hoà hợp dân tộc. Mọi người tin rằng còn lâu mới có thể hòa hợp được thống nhất được. Chẳng qua, cái thế cùng phải chịu. Rồi cũng đến để miền Nam cho nó, coi là việc nhà nó. Bây giờ nó tạm đuổi mình ra một góc nhà, để rồi nay mai đuổi tuốt.


Vậy mà văn nghệ lại đòi hầm hè tranh khôn ư? Đừng hòng .


Người ta có thể dùng văn nghệ như một thứ trò chơi, nói nhăng nói cuội thì được, nhưng chớ có động vào những vấn đề cơ bản.


Một người như tôi, trong những lúc này, làm sao tôi không buồn được? Những gì tôi đọc được cho tôi biết rằng chung quanh ta, các nước người ta đã đi xa lắm, và chúng ta đã lạc hậu lắm.


Vậy thì thắng lợi đối với tôi là gì? May lắm chỉ là một dịp làm cho mọi người thức tỉnh. Không thể sống như hôm qua được nữa. Cách lãnh đạo hiện nay đã cũ. Cách quan hệ với thế giới hiện nay đã cũ. Như về mối quan hệ quốc tế, thời đại này là của 2 phe. Phải chơi với cả 2 phe. Phải như Sihanuk trước kia vậy. Sihanuk gọi đó là chính sách chui vào mắt bão mà sống.


Như về cách quan hệ với thế giới. Nước Nhật đi với Mỹ, Trung quốc thì sao? Phải việc gì  cũng dám làm làm, miễn là có ích.


Tôi không hình dung ra những hậu họa sẽ đến về sau. Nhưng tôi nghĩ rằng là cách duy nhất lúc này là phải từ bỏ thế cô lập để ra với thế giới.





Tự hỏi:


- Người ta được lợi gì sau cuộc chiến tranh này?


- Một nền hòa bình con đẻ của nền chiến tranh, là hòa bình thế nào?


Nhớ một ý của Ng Khải: Ví dụ như về vấn đề quân sự, mình thấy nguyên lý của mình đúng thôi, mình làm sai nguyên lý nên hỏng. Ông Văn từng nói quân đội ta có thể đánh thắng bất cứ một đội quân tay sai nào khác của đế quốc. Nhưng quân sự là tiếp tục của chính trị. Ở miền Nam, mình không nắm được dân nữa, mà nó cũng không phải là tay sai theo nghĩa cũ nữa, thì quân sự mình còn xoay làm sao nổi. Đó là mình đi ngược lý thuyết của mình chứ gì?


(Nhị Ca: một nước nông nghiệp như mình, không thể nuôi một đội quân viễn chinh quá lớn được).





Dân tình, cái gọi là dân tình trong những năm tháng này.


Ngày bắn rơi 4000 máy bay tôi đi ra đường, thấy hai ông xích lô gặp nhau hỉ hả: Mới ngày nào Johnson thách bắn rơi 1000 máy bay thì bó giáo lai hàng. Giờ đã 4000 rồi.


Thế nhưng, người ta đã bắt đầu lo sống sao những ngày hòa bình tới.


Dân bàn giăng giăng ở đường ở chợ. Dân là như vậy, như một cái đê. Khi bình thường thì không sao. Nhưng khi đã rã, là vỡ, lở hàng loạt. Người ta đã không quan tâm đến gì thì thôi. Khi đã quan tâm, thì quan tâm đến cùng.


Chị tôi, một người buôn bán nhỏ cũng bảo: Người ta đồn ký cả rồi, 25 này thì công bố.


Bàn nhiều quá, đến nỗi trên cũng phải sợ, tự hỏi, cho đi kiểm tra, không hiểu ở đâu mà tin tung ra như vậy?


Rồi khi thất vọng, thì mọi người lại đùa với nhau: Không phải mùa vịt mà Hà Nội phải ăn bao nhiêu vịt giời.



25/10


 Mỗi ngày một tin. Thời tiết lúc ấm lúc lạnh. Lúc nghe tin ngừng bắn 0 giờ ngày này, lúc nghe tin 0 giờ ngày kia. Rồi không có giờ nào cả. Vì 19 không, 20 không, đến 23, 24 không, và hôm nay 25 thì theo ngôn ngữ phương Tây, đài BBC mới mô tả, hình như là có một sự ngừng bắn từ vĩ tuyến 20 trở ra, còn như cũng không có lời tuyên bố chính thức nào cả.


Bây giờ ở đâu người ta cũng bàn tán. Một câu ca dao hồi ông Pốt – goóc - nưi  (Podgornyi ) sang đây được nhắ lại :


Trước là để đón bác Nưi


Sau là bu cháu xả hơi vài ngày


...


Hôm nay bác đã đi rồi


Lại lên sơ tán, lại ngồi săn tin


Lắng nghe ngoài đường thôi, thử nhìn cái người đi xe đạp kia  hay người  ngồi quán bia nọ, họ đang nói gì với nhau? Họ đang bàn về thời sự. Những người không quen biết gì nhau, ở những nơi công cộng, như là thư viện, cũng có thể nói chuyện với nhau về chiến sự. Vì mọi người đều cảm thấy bây giờ, nói như chữ nghĩa trong thơ, là đứng chung trong một chiến hào, một số phận và nói nôm na, tức là chung một hố.


Sáng nay, lúc đi đường, tôi được nghe kể, như vậy là Kissinger lật lọng rồi. Hà Nội trải thảm trên đường, mà vẫn không thấy lão ta đâu. Y như những ngày trước đám cưới, họ nhà gái đã sửa soạn, họ nhà giai thì mãi không đến mà rước dâu đi. Ở nhà thì con gái bụng cứ to mãi ra. Một nền hòa bình đẻ non cũng không có.