Friday, August 31, 2012

Một bài ký viết về Trị Thiên 1972 của Dương Nghiễm Mậu







Lời dẫn


 Như tôi đã kể trong một vài lần trước, mấy năm từ 1972 trở đi, các báo lớn ra ở Sài Gòn có mặt rất sớm Thư viện quân đội 81 phố Lý Nam Đế Hà Nội.


 Tháng 9- 1972, từ Quảng Trị trở về, tôi đọc được ở đó hai bài ký Một ngày ở Trị Thiên của Ngụy Ngữ, tạp chí Bách Khoa số 376 (khoảng tháng 6, tháng 7 1972) và Quảng Trị đất đợi về của Dương Nghiễm Mậu, Chính văn số 1, 15-7-72.








Bài của Ngụy Ngữ kể tác giả theo một xe con vào Huế, ra Mỹ Chánh, Hải Lăng. “Đến Diên Sanh xe không đi thêm được; quân dù động chạm súng trên quốc lộ cách 1km”.


Đọng lại trong tôi là cái câu than tiếc của tác giả “Có nơi đã được sinh ra đời, có nơi tôi đã ấu thơ lui tới, có nơi tôi đã cười cợt với bạn bè… tất cả bây giờ là một miền vỏ đạn.”


Tiếc là hiện nay tôi không có trong tay Bách Khoa để đọc lại Ngụy Ngữ.


Còn bài của Dương Nghiễm Mậu, tôi cũng đọc trong tinh thần đối thoại trước một hiện tượng mà mình cùng chứng kiến.


 “Quê hương ta những vùng đất hứa có thật vẫn còn đó nhưng chừng như lúc nào cũng ở ngoài tầm tay với…” Tôi đã ghi lại câu này trong sổ tay 1972, vì nó như vang hưởng của cả bài mà cũng vì … chính tôi cũng có lúc có ý nghĩ tương tự.                


             So với Bách Khoa, thì Chính Văn là tờ báo không mấy người biết, nhưng may mà một vài mạng hôm nay do chú ý tới Dương Nghiễm Mậu còn in lại Quảng Trị đất đợi về để tôi lấy lại giới thiệu sau đây, xin phép tạm gọi gọi là phụ lục cho những trang Nhật ký Quảng Trị hè 1972.


                                                      



                                                 Quảng Trị, đất đợi về


Mỗi lần trước khi trở lại miền Trung, điều tôi thường hỏi: ngoài đó bây giờ mưa hay nắng. Lần này cũng thế, người em tôi vừa từ Huế trở về sau hai mươi ngày công tác nói: trời đang nắng và thành phố đầy hoa phượng, hoa sen. Bây giờ ngoài đó mùa hè và tôi nhớ tới không khí oi bức trong những chuyến đi cũ vào những thời gian đầu mùa hè: hoa phượng đỏ trên những ngọn cây, hoa sen nở đầy trong hồ Tĩnh Tâm, chung quanh trường thành, những trái nhãn nhỏ sai trên ngọn cây trong Thành nội. Nhưng khi tôi đặt chân tới Đà Nẵng, buổi chiều mây thấp và mưa nhỏ hạt. Người bạn nói với tôi trời mới đổ mưa từ buổi sáng. Tôi nhìn thấy mây thấp trên phía đèo Hải Vân. Đà Nẵng mưa thì chắc Huế mưa. Tôi hỏi về con đường qua đèo, người bạn nói: đi được như thường, hôm qua hơi bị kẹt vì cầu Nam Ô bị gẫy. Tôi hỏi cây cầu nào. Anh bạn nhắc lại: cầu Nam Ô. Tôi nói không phải, tôi biết ở đó có hai cây cầu, tôi muốn biết cầu nào vì trong chuyến đi trước, cây cầu mới xây cất, thứ cầu cho những xa lộ chưa dùng được, hôm trước đã có tin cho biết cầu Nam Ô bị sập, nhưng là cây cầu cũ, cầu xe lửa, người bạn nói, bây giờ thì cả hai nhưng đang được sửa chữa. Trời mây thấp, mưa nhỏ hạt, những di chuyển ướt át khiến cho thị trấn có một khung cảnh đìu hiu.



Tôi gởi hành lý lại nhà người bạn rồi chạy quanh, vẫn khung cảnh quen thuộc, thêm một vài ngôi cao ốc đang được xây cất nhưng chừng như công việc đã ngừng lại, những trường học trở thành trại tạm cư. Tại trường nữ, tôi thấy những nữ học sinh ngồi gác cổng ra vào trong khi đó có một gia đình thì chất hành lý lên hai chiếc xích lô, tôi hỏi và được biết: họ dời ra trại Hòa Khánh. Trại tạm cư Nguyễn Thượng Hiền cũng đã đóng cửa với tấm vải lớn kẻ những hàng chữ cho thấy những người tị nạn đã ra sống ở trại tạm cư Hòa Khánh. Đi bộ trên đường phố tôi thấy số xe ôm gia tăng với những chiếc xe ghé lại lề đường. Buổi chiều báo từ Sàigòn ra trễ và những nhà sách đông người ghé lại đợi chờ những tờ báo phát hành từ chiều hôm trước tại Sàigòn... Tôi ghé lại nhà những người quen, nơi nào cũng có những người thân từ Quảng Trị, từ Huế vào tạm trú, một vài người đã trở lại Huế, hoặc đi Sàigòn, tôi được nghe nói về những người tị nạn đã vào Chu Lai, đã đi Long Khánh. Một gia đình trong khi chạy khỏi Quảng Trị đã bị thất tán, một nửa vào được Đà Nẵng, còn một nửa không biết đâu, những người thân đang đi tìm kiếm nhau. Đài phát thanh Đà Nẵng với mục nhắn tin đài của những người ở Quảng trị tìm tin cha, tìm mẹ, chồng con thất lạc. Có những đứa trẻ tám chín tuổi bị lạc gia đình trên đường chạy giặc. Theo dõi mục nhắn tin tôi thấy nỗi tan hoang đối với hơn ba trăm ngàn dân chúng vùng giới tuyến.



Trại tạm cư lớn nhứt ở Đà Nẵng dành cho Quảng Trị nằm ở Hòa Khánh, một quận ở ngoài thị xã, nằm phía nam đèo Hải Vân, ngay ven quốc lộ Một. Tôi ngạc nhiên khi vừa từ thị xã tới đây lúc đứng trước một ngã ba đường có tấm bảng lớn sơn xanh, kẻ trắng hàng chữ: QUẬN GIO LINH. Quận Gio Linh, tôi nói với người bạn: quận Gio Linh ở Đà Nẵng! Tôi nhớ tới nơi tôi đã từng ghé lại trong những năm trước trên đường công tác. Ngày ấy tôi theo quốc lộ Một vượt Đông Hà ra tới đồn A2 nằm ngoài cùng giáp với vùng phi quân sự sau khi quân đội ta đã bỏ chân cầu Hiền Lương trở vào trấn đóng phía trong gần với quận Gio Linh. Trên con đường đầy những bom đạn tôi chỉ thấy những cánh đồng hoang vu không bóng người, dân chúng đã phải rời làng mạc trở vào sống trong khu định cư Hà Thành, còn lại chăng một số thôn ấp nhỏ bé nằm ở giữa quốc lộ với bờ biển, còn lại phía Tây quốc lộ thì coi như bình địa với vùng oanh kích tự do. Nay Gio Linh chỉ còn là tên gọi của một vùng đất. Hai tiếng Gio Linh đã đi theo dân chúng vào Đà Nẵng. Bỏ quốc lộ đi sâu vào gần bờ biển, nơi đây có hàng trăm lều vải mới được dựng lên cho dân chúng tạm trú. Người trưởng trại ngày nay là ông quận trưởng của vùng đất cũ. Vị thiếu tá này người nhỏ bé trong bộ đồ đen nói cho tôi biết qua tình hình dân chúng, ông không thể đoán chắc về số dân chúng tại Gio Linh đã ra đi, vì hiện dân chúng không những chỉ sống tại Đà Nẵng, họ còn vào Chu Lai và nhiều nơi khác nữa, con số phỏng chừng khoảng 28 ngàn người ra đi so với dân hơn ba chục ngàn người. Ông kể lại cho tôi nghe những ngày kinh hoàng ở Quảng Trị khi đoàn người rời khỏi nơi đây để vào Huế: cả đoàn xe bị mìn và pháo kích, nhiều người bị thương phải nằm lại với tiếng kêu la thảm thiết...

- Ông thấy dân chúng có muốn đi vào lập nghiệp ở trong Nam không?

- Phần lớn dân chúng không muốn đi, họ mong trở lại Gio Linh.

Khi tôi từ trong lều đi ra thì có một người đàn ông giữ tôi lại và hỏi tôi có phải nhà báo không? Tôi nói không phải. Ông ta nói điều muốn nhờ. Tôi nói cho tôi biết. Sau đó ông ta giới thiệu là một người thuộc làng Gia Hải, một làng phần lớn sống bằng nghề chài lưới tại Cửa Việt, tôi ngạc nhiên khi biết dân chúng tại làng này đã cùng nhau xuống thuyền đi về phía Nam bằng những chiếc thuyền đánh cá nhỏ bé của họ. Điều mà người này muốn nhờ tôi là: tranh đấu cho họ được ở lại Đà Nẵng sinh sống, họ chỉ cần giúp đỡ lương thực một tháng đầu rồi sẽ tự túc bằng nghề đánh cá của mình. Sau đó ông ta cho tôi thấy, dân chúng tại Gia Hải đưa được vào Đà Nẵng 150 chiếc thuyền, chuyến ra đi của họ hết sức gian khổ, trước hết khi ra khỏi Cửa Việt họ đã bị cộng quân ngăn cản, súng đã nổ vào đoàn thuyền, một số dân chúng đã không ra đi được vì những làn đạn này, nhiều người đã bị thương và chết trong chuyến ra đi, trước hết họ tới được cửa Thuận An. Sau đó tới Thuận An vào trong bãi biển Đa Phước. Khi tôi nói tới chuyện đi vào miền Nam ông ta nói chính phủ có thể mang được người đi nhưng còn thuyền bè của chúng tôi thì sao, chúng tôi sống bằng nghề biển như vậy làm sao để thích ứng với nghề nông trong khu vực khai hoang? Chung quanh tôi mỗi lúc một đông người, mỗi người góp một câu chuyện, ai cũng trông được sống ở Đà Nẵng và chờ ngày trở lại quê hương của họ, tôi cũng đã được nghe câu chuyện thương tâm của một người mẹ kể lại cái chết của con mình trên chuyến đi Nam, đứa con của bà đã chết trên chiếc thuyền của gia đình trong khi vượt biển vào cửa Thuận. Tôi mường tượng thấy cảnh tượng bi hùng của chuyến ra đi, cảnh tượng giống như những người dân miền Bắc trong vụ Trà Lý, những người đã chọn để được sống tự do hoặc là chết... Gần hai mươi năm sau, cảnh tượng đó lại tái diễn một lần nữa.



Câu hỏi mà tôi hỏi đi hỏi lại nhiều lần với những người đã gặp là: tại sao không nghĩ tới việc vào các vùng đất an ninh, phì nhiêu ở Nam lập nghiệp? Tất cả đều nói: chúng tôi chờ đợi trở về. Trở về, họ như gắn liền với đất đai khô khan cực nhọc, họ không muốn rời khỏi quê hương nơi có những mái tranh nghèo, những mồ mả tổ tiên, nơi họ đã sinh ra lớn lên trong nhọc nhằn. Trước đây, ngay từ thời Đệ nhất Cộng hòa, công việc di dân lập ấp được đặt ra, dân chúng tại đây cũng đã từ khước ra đi, ngày nay họ vẫn không thay đổi ý muốn đó. Chừng như quê hương càng đau khổ, đời sống càng nhọc nhằn người dân càng gắn bó keo sơn với nó. Vùng Gia Đẳng, Gia Hải... những vùng cát trắng khô khan kia vẫn còn lại những gì mà người dân thấy không thể bỏ nó mà ra đi được cho dù họ biết chắc rằng ra đi họ sẽ có một nơi sung sướng hơn, đầy đủ hơn.

Những gia đình với hành lý nghèo nàn người dân ở trong trại tạm cư chia nhau những diện tích nhỏ hẹp để sống, những trẻ con vẫn nô rỡn trên bãi cát, những bà mẹ vẫn nhẫn nại nhóm những bếp lửa nhỏ lo bữa ăn đạm bạc hàng ngày. Tôi thấy chiếc áo màu của một sinh viên ra đây lo cứu trợ như lạc lõng với khung cảnh.

Trại tạm cư Hòa Khánh lớn lao hơn nhiều trại tạm cư dành cho người thuộc quận Gio Linh. Nơi đây bao gồm dân chúng thuộc nhiều quận, phần lớn họ được sống trong những ngôi nhà tôn của một trại binh Mỹ. Những con đường trong trại tráng nhựa phẳng lì còn tốt nguyên vẹn, nhưng những ngôi nhà thì phần lớn đã hư vì thời gian, nhiều vách gỗ đã bị gỡ, những bao cát phần lớn đã mục khiến cho khung cảnh có vẻ điêu tàn. Ngay trong những ngã tư đã có những hàng quán giải khát, dân chúng như đã thấy bắt tay ngay vào việc tìm sống. Nhiều người lo đi tìm kiếm những người quen, người ra kẻ vào tấp nập. Đại tá Hòa, người tôi gặp lúc ông cầm đầu một phái đoàn, là vị tỉnh trưởng Quảng Trị. Ông mới về làm tỉnh trưởng được ba tháng, nay ông đã ở Đà Nẵng với những người tị nạn. Trông ông thấy phảng phất một vẻ buồn. Dân số Quảng Trị có hơn ba trăm ngàn, con số còn bị kẹt lại khoảng 50 ngàn, tôi thấy số dân chúng ra đi thật lớn lao và thực sự là đau đầu với chính người cộng sản khi tới chiếm Quảng Trị. Họ phải nói thế nào với quốc tế và điều họ vẫn nói: dân chúng ủng hộ họ và về chiêu bài giải phóng vẫn không ngớt được nói đến. Không, dân chúng đã ra đi khi bom đạn và người cộng sản đến. Không có dân, đất đai còn có nghĩa gì nữa?

Người thanh niên ấy có nước da ngăm đen, vẻ ngơ ngác trên mắt nhìn, gò má cao, cằm vuông anh hơi chút mỉm cười ngậm ngùi khi tôi hỏi anh về chuyến hành trình đã trải qua. Anh lặng đi rất lâu, giọng anh trầm xuống, có lúc tôi chỉ thấy môi anh mấp máy và như tiếng nói biến mất: trước hết chúng tôi về Quảng Trị, thực chúng tôi không nghĩ có lúc sẽ ở đây, nếu biết vậy chúng tôi đã đi thẳng tới đây, chúng tôi không ai nghĩ thế cả, nhưng rồi chúng tôi phải đi khỏi Quảng Trị, ngày đó là ngày mấy nhỉ, không rõ là 28 hay 29 gì đó, mà chừng như…, phải rồi, pháo kích, rồi mìn anh ạ, rồi cả một cuộc giao tranh nữa, những chiếc xe nổ tung, những thân người văng lên, tan tác những tiếng kêu khóc thảm thiết, mạnh ai nấy chạy, không còn ai nghĩ tới chuyện cứu ai nữa… Chúng tôi chạy, chỉ biết chạy thế thôi… với hai bàn chân chúng tôi tiếp tục đi, trước hết là Huế, sau tiếp tục đi nữa, không, anh không thể hiểu được nếu anh không cùng chúng tôi trong chuyến ra đi ấy, chúng tôi có cảm tưởng như ngay sau chân chúng tôi cộng sản bén gót. Chúng tôi như tranh nhau lấn bước về phía trước, người ta có phương tiện để đi, chúng tôi thì không, quốc lộ như thế mà bốn hàng xe chạy thì anh thử hỏi làm sao chúng tôi len chân, và trên dọc đường ấy người ta như đứng lại với nhau, không còn trật tự nữa, thỉnh thoảng súng lại nổ và người nháo nhác… Tôi đã thấy ngay trước mắt tôi chiếc xe lật xuống đèo và những người chết, tôi đã thấy những bà mẹ kêu gào tìm đứa con thất lạc… Tôi không hiểu tại sao sự việc lại xảy ra như thế, bây giờ nhìn lại tôi càng thấy vô lý, bọn nó chưa tới được vòng đai mà sao mình đã bỏ lại hết để chạy… Tôi lạc mất một người em gái, cho đến hôm nay tôi vẫn không hiểu nó còn sống hay đã chết phơi xác dọc theo quốc lộ…


Người thanh niên lặng đi, đôi mắt nhìn xuống trũng bóng tối. Tôi không còn biết có lời nào để nói với anh. Tôi nhớ lời anh Cường kể lại chuyến đi của chính anh, thực anh chưa muốn đi nhưng sau nhìn lại thấy mọi người đi hết thì anh sợ, người anh nghĩ chưa đi là anh Du thì anh đã thấy lên trực thăng đi rồi, cuối cùng anh phải đi chiếc xe cũ đưa anh lên đèo nhích từng chút, có lúc xe không đứng lại được mà tụt xuống, đi từ sáng cho mãi tới 9 giờ tối mới vào tới Đà Nẵng, trên đường anh đã thấy những người lính nổ súng bắt xe cho họ lên, anh đã thấy một bà cụ già ngồi trên một tấm gỗ có gắn bánh xe tay bám lấy chiếc dây thừng buộc vào chiếc xe đạp của người con đạp phía trước… Mường tượng tới cảnh ra đi, quãng đường Quảng Trị-Huế-Đà Nẵng trở thành một cuộc trường chinh cho người dân Trị Thiên, tôi nghĩ nếu con đường đèo bị cắt, hay một cuộc phục kích xảy ra thì họ sẽ ra sao?



Trời mưa nhỏ hạt suốt đêm, sáng hôm sau trời vẫn thấp mây, tôi mang theo hành lý để tới Huế như dự định, trước khi đi tôi ghé lại thăm anh Lam, tôi nghĩ anh nắm được nhiều dữ kiện về những sự việc đã xảy ra. Tôi thấy anh hết sức bình tĩnh và nói với tôi về công việc anh đang làm, giúp vào công việc đưa dân chúng Quảng Trị vào miền Nam theo chương trình di dân khẩn hoang của chính phủ, anh cho thấy dân chúng không muốn đi riêng, họ muốn đi cả quận, cả làng. Anh cũng nói tới hoạt động của các đảng phái một cách lạc quan. Khi hỏi anh: ai ra lệnh rút khỏi Quảng Trị, anh nói không phải Tướng Lãm ra lệnh. Anh cười khi đặt với tôi một vài vấn đề sau khi rút khỏi phần đất này, việc oanh tạc Bắc Việt, việc thả thủy lôi xuống các cửa biển và sông ngòi miền Bắc…



Tôi ra bến xe, trời mưa nhỏ, tôi chờ cho những chuyến xe từ Huế vào tới nơi thì leo xe trở ra. Tôi thường theo cách đó để có thể yên tâm lên đường mỗi khi ra đây công tác. Chuyến xe quen thuộc màu đen với mười chỗ ngồi, số người trở ra Huế chờ đợi từng chuyến xe đến và trong chốc lát lên đường trở ra. Đường ra khỏi thị xã xe cộ đủ loại nối đuôi nhau, có hàng trăm xe vận tải đưa đạn vượt qua đèo. Trước khi tới cầu Nam Ô xe bị đọng lại với sự chờ đợi oi bức, xe nhích từng khoảng ngắn. Khi ngang qua tôi thấy dòng sông rộng. Cây cầu xi măng bị hư một nhịp đang được sửa chữa và hiện có một cầu tạm bắc lên cho xe cộ lưu thông. Cầu Nam Ô là cây cầu xe lộ độc nhất được hãng thầu Mỹ làm cho suốt dọc quốc lộ từ Đà Nẵng tới Huế, cầu Lăng Cô là cầu cũ được sửa lại, còn hầu hết những cây cầu khác được làm bằng gỗ ở đây đã bị phá sập, những chiến sĩ công binh đang lo đắp một con đường vòng và sửa lại cây cầu. Chiếc xe tôi đi chạy hơi ra ngoài bị chận lại, như một hình phạt không được qua, người tài xế bứt đầu bứt tai nhìn những chiếc xe chạy sau vượt lên phía trước, tôi thấy nhiều xe chở hàng không có mui chở đầy người, đó là những gia đình ở Huế trở lại nhà, họ mang những hành lý. Có những chiếc xe có mui thì người ngồi cả trên mui cao, trên quãng đường này tôi cũng thấy nhiều xe chạy đường xuyên Việt, từ Quảng Trị tới Sàigòn, nhưng vì biến cố trong những ngày qua đã khiến cho những chuyến xe này không thể trở lại Sàigòn được. Những chuyến xe sẽ thương nhớ đường dài… Mưa vẫn đổ mau hạt trong khi xe qua đèo, con đường rộng, nhựa phẳng trở thành nguy hiểm, tôi nghĩ tới những ngày tháng trước khi đoàn người tỵ nạn phải ngang qua đây. Một trăm cây số của đường dài những lo âu chất ngất và nỗi kinh hoàng nhìn về ngày mai… Vùng biển Lăng Cô làm tôi nhớ lại mộng ước được về sống trong một xóm dân chài của Ninh Hòa, hai tiếng Hòn Khói vẫn còn ghi nhớ với những cồn cát trắng như tuyết và những ngọn dương cao cùng với biển xanh bao la phía trước… Quê hương ta những vùng đất hứa có thật vẫn còn đó nhưng chừng như lúc nào cũng ở ngoài tầm tay với…



Cầu Phú Lưu bị sập nhưng vẫn di chuyển một chiều, khoảng đường từ phía chân đèo trở lại Huế tôi thấy nhiều binh sĩ thuộc Sư đoàn 3, họ có mặt nơi những chiếc cầu còn lại. Trên một thành cầu sắt của đường xe lửa tôi nhìn thấy hàng chữ: bảo vệ cây cầu tới giọt máu cuối cùng. Tôi buồn rầu nghĩ tới những cây cầu đã gãy. Tôi nghĩ tới những cây cầu gỗ trên quốc lộ 9 nối Đông Hà tới biên giới và trên quốc lộ 1 Gio Linh tới Đà Nẵng.



Năm 1968, khi tôi theo quốc lộ 9 lên Cam Lộ, nơi có trên 6 ngàn dân chúng quận Hướng Hóa từ trong núi về tị nạn, trong số này phần lớn là sắc tộc Bru. Bấy giờ trận chiến ác liệt ở Khe Sanh, trong khi xe ủi đất Mỹ làm việc không ngừng, họ mở rộng đường trải đá, trải nhựa và làm cầu. Tôi tự hỏi như vậy có phải con đường sẽ được dùng để sang Lào không? Năm 1970 trở lại, cả vùng đã hết lính Mỹ, chúng tôi dùng xe díp chạy từ Quảng Trị lên Cam Lộ uống cà phê và nói chuyện hòa bình, ngày lên xin đất mở đồn điền trên Khe Sanh… Tôi nghĩ tới những cây cầu và hỏi: những cây cầu bằng gỗ này chịu đựng được bao nhiêu năm? Tại sao không phải là cầu xi măng? Không ai trả lời. Và tôi cũng đã hỏi: sao Mỹ làm con đường này tốt vậy mà không dùng? Và câu trả lời mãi tới khi có cuộc hành quân sang hạ Lào tôi mới thấy, mỗi ngày hàng trăm xe đạn dược theo đó mà tới Khe Sanh. Nói tiếp về những cây cầu tôi cũng thấy từ Gio Linh vào Huế chỉ có một cây cầu mới đúc, còn hầu hết là cầu gỗ. Và bây giờ tôi lập lại câu hỏi: những cây cầu chưa bị phá sẽ còn chịu đựng được bao nhiêu lâu?



Phú Lộc, La Sơn, Phú Bài, Phú Lương, Dạ Lê, An Cựu… và cầu Trường Tiền. Huế vẫn còn đó, một sinh hoạt lặng lẽ, nhiều căn nhà cửa đóng nhưng có toán công nhân sửa đường vẫn làm việc, những người thợ nề vẫn tiếp tục chát vôi nơi bệnh viện trung ương đang xây cất… Hoa phượng đỏ như máu trên những con đường hai bên bờ sông, trong Thành nội, ghe thuyền đầy trong lòng sông nhà bè và vùng Bao Vinh không khí như thưở thanh bình, tôi nghe thấy một không khí chìm chìm nhưng đầy đe dọa. Tôi tìm gặp lại những người bạn cũ, gần hết đã ra đi. Anh Tấn bây giờ nuôi râu dài như một đạo sĩ, anh Du như già hơn mấy tuổi, anh nói lại một ngày từ sở làm ra đường tìm xe về nhà, phố vắng tanh, không một chuyến xe khiến anh ngao ngán thấy mình như con chó hoang, và mắt anh như rưng rưng khi kể lại chuyến bay đưa anh khỏi Thành nội trong không khí nháo nhác tan vỡ. Bây giờ thì anh đã trở về một mình sống như mình muốn sống. Thục nói: ở lại với ý nghĩ ngông cuồng làm kẻ tuẫn đạo… Liệu có mất Huế không?



Cộng sản có đánh Huế không? Tại sao Huế không bị pháo kích? Những câu hỏi đặt ra mà không ai dám trả lời khẳng định, ai cũng có ý kiến nhưng sao đó là cái mỉm cười ngụ ý… Thành phố đầy những lính, đủ màu áo, hình như không thiếu một binh chủng nào, ít hoặc nhiều họ đều có mặt. Tôi gặp lại những người bạn trong quân đội những ngày cũ. Những hàn huyên không hết về kẻ sống người chết, những người ở An Hậu, những ngày ở Phú Thứ, những ngày trong Dãy Phố Buồn Hiu, những ngày ở Khe Sanh, những ngày rong chơi yên bình trong những làng xóm ở Triệu Phong nói chuyện về những nàng cung phi sinh trưởng ở Sải, và vẻ đẹp tây phương của những cô gái ở Mỹ Chánh, dòng sông mà người bạn tôi nói nửa đục nửa xanh, nơi những thuyền bè tây phương từ thế kỷ trước đã vào đó…



Trên máy bay nhìn xuống quốc lộ 1 chỉ thấy một dòng xuôi về Nam hỗn độn…



Buổi chiều mưa thật lớn, người bạn nói với tôi cơn bão đang tiến tới. Một người bạn nói với tôi về Huế: đất gì lạ, một năm ở đây thì có ba tháng để tranh đấu, ba tháng để chịu tai ương, ba tháng để cứu trợ, còn ba tháng để làm thơ. Điều người bạn nói thực đúng với thời gian 10 năm trở lại đây, Huế đầy những tai ương và đau khổ, cơn ác mộng Mậu Thân với hàng ngàn người bị chôn sống vẫn còn ám ảnh tôi những người sống sót, đó là một trong những điều giải thích vì sao họ đã lũ lượt kéo nhau ra khỏi Huế dù thực sự chiến tranh chưa đến.



Tôi theo xe người bạn ra khỏi Huế, hiện đang có những cuộc chuyển quân vào phía Tây và phía Bắc, những chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến đã đột kích ba lần vào vùng đất Quảng Trị, nhưng sông Mỹ Chánh vẫn là chiến tuyến. Quốc lộ 1 chạy về phía Bắc vắng hoe, chỉ có những xe nhà binh di chuyển với vận tốc nhanh hơn thường ngày, những cánh đồng ở Hương Điền vẫn có bóng người nông phu, thiên nhiên vẫn như một ngày thanh bình cũ. Trong phòng tuyến, tôi hỏi một anh bạn: bao giờ qua bên kia? Người bạn cười, định qua rồi nhưng mưa nên ngừng. Sao vậy? Hết mùi thối rồi… Tôi không hiểu. Người bạn nói: Mấy hôm trời nắng, gió Nam thổi hôi quá chịu không nổi tính hành quân để chôn xác chết của mấy trận, nhưng mưa rồi nên đỡ.



Tôi rùng người và thấy như đầy mùi tử khí. Tôi mường tượng tới khoảng đường còn lại để tới Quảng Trị, những làng mạc và đồng ruộng ngày nay còn ngổn ngang những xác người đã nằm xuống trong những ngày trước, nắng lửa làm cho những tử thi trương lên và bây giờ những cơn mưa làm cho tan rã… Đêm lại cơn mưa lớn. Tôi cùng người bạn ngồi trong quán cà phê, chút rượu khiến cho chúng tôi ngây ngất. Trên chiếc xe nhỏ chúng tôi đi trên những con đường vắng không có bóng người, chỉ có những tàn cây và bóng tối, thỉnh thoảng mới gặp những người lính ướt nước. Tường thành lầm lì, những bãi cỏ tranh cao với bông trắng, tất cả như thầm thì một tâm sự. Không khí lặng như một cõi chết nào. Thiên nhiên kia còn nghĩa gì khi không còn những mắt nhìn chan chứa, không còn nhịp tim rộn ràng? Tôi như nghe thấy tiếng thở dài của những cánh sen hồng về nỗi tàn tạ. Mùa hè đã đến rồi đấy nhưng như đã mất vì không có tiếng guốc khuya trên cầu, hoa phượng đã nở đỏ nhưng không còn là màu của nắng lửa, nó trở thành những vũng máu đọng chờ khô của một cái chết.



Người bạn nói: Tôi ở lại đây và tôi chờ ngày vào Quảng Trị.



Tôi nhìn người bạn.

Wednesday, August 29, 2012

Đường ra




Tiếp tục nhật ký Quảng Trị hè 1972


 —từ Vĩnh Linh ra Hà Nội





15/8 Mỹ Thủy Quảng Bình


Từ Quảng Bình về Hà Nội, ít ra sẽ mất 15 ngày. Bằng thời gian một đoàn nhà văn VN được Hội các nước Đông Âu mời sang thăm rồi quay về.


1964-1972, tám năm chiến tranh, cái cảm giác chính của mọi người là mệt mỏi. Đất nước nghèo quá. Nhà cửa thấp lè tè, đồng áng xơ xác.














Chiến tranh là một cuộc xô đẩy tất cả, xô đẩy cho đến đứt gốc đứt rễ. Tuy nhiên, mọi sự lộn nhoèo cũng đã loáng thoáng khuôn lại thành những nền nếp, tạm gọi là ổn định trong cái đại cục không ổn định. Nhiều gia đình ở Quảng Bình có thêm một nếp nhà hầm góc vườn. Có khi là hậu cứ bộ đội.


Nhà dân rặt đồ quân trang quân dụng, mọi thứ như đã trở thành bão hoà.


Người  ta cần nhân dân để làm môi trường sống cho quân đội, chứ không phải là một nhân dân sản xuất bình thường.


 Việc làm ăn có đi lên chút ít. Một HTX, “hợp” Mỹ Lộc An Thuỷ có 6 máy kéo (4 bánh lồng) 3 máy bơm. Mỗi đội 1 máy tuốt lúa. Nông nghiệp 8 đại trà 2 năm. Năng suất chiêm 1972: 32 tạ/1ha (Trân châu lùn 35 tạ) Nông nghiệp 8 rải vụ nếu có gặt muộn, lúa cũng không rã.




16/8


Lệ Thuỷ. Phải cái huyện mà Nguyễn Minh Châu nói trong Tuổi trẻ cầm súng? Người Quảng Bình đi chiến đấu như đi làm một công việc của gia đình mình. Ông chủ nhà tôi nói ở đây 17, 18 mà không đi bộ đội, là nhấp nhổm không sao yên lòng được.


Con ông về qua nhà. Đi bộ đội, anh chàng không thích vào báo vụ, chỉ thích đi đánh nhau. Từ Yên Thành vào, bom đạn đánh dọc đường, cán bộ hy sinh, cậu ta chỉ được về qua nhà chốc lát, nhưng vẫn hăng. Úi giời, một thằng cùng đi với tôi, hắn chui vào hầm không chịu lên. Thò hai cái chân ra ngoài. Nghe lục xục, hắn tưởng còn máy bay, nhất định không ra. Những chuyện đầu tiên của anh ta là như vậy.


Bà mẹ thấy con về bảo tổ cha mi, không gửi thư về. Cô con gái khẽ dừng sàng sàng thóc, mắt ngước lên, nhìn chung quanh ra hiệu rằng anh về, rồi lại cúi xuống làm việc.


Nhưng rồi cả cái bộ máy gia đình âm thầm chuyển vận, theo cái nhịp  của người con trai trở về.





Một khí cụ hiện đại: máy bay phản lực. Sự xa cách giữa hình và âm thanh giữa ánh sáng và tiếng động. Là chuyện gì vậy?


 Đặc sản Quảng Bình, những xe trâu bánh rất to. Như bánh những guồng nước lớn, bánh cao ngang đầu người. Cong thành đòn, hai trâu gánh đầu đòn.


Một ông đội trưởng ở An Thuỷ kể mấy năm mới có chiến tranh, ngoài đồng rất an toàn. Mọi người chỉ có việc sản xuất, nên  thu hoạch khá. Mấy năm nay, người đi thăm bà con, người làm nhà..., sản xuất lại đâm kém.





Hành quân trên đường giao liên


Đêm đêm, không gian đất nước bị đánh mất. Lúc nào máy bay địch cũng rập rình đánh xuống đầu chúng ta. Nhưng cũng đêm đêm, đất nước được lấy lại, khi người ta vượt được một đoạn đường, đưa qua một chuyến hàng.


 Nhờ một ánh sao đêm, rất xa, nhưng là vì rất sáng, nên vẫn cảm thấy lờ mờ bóng người trên mặt đất.


Hành quân, lính vào ngồi trên võng, thấy lính ra, nheo nhéo gọi. Đồng hương ở đâu đấy các ông ơi, có người Nghệ An không? Như một thứ rao hàng, nhắc rằng mình ở đâu vậy.


Chiều trên sông Long Đại, chờ đò. Những chiếc thuyền rất dài, người lái đứng ở trên mũi, thuyền veo vẻo đi, cái dáng, cái cử động thoăn thoắt. Một cậu nói đùa—không biết có đúng không-- y như trên những cái trống đồng Đông Sơn ( tỉ lệ khoảng cách những người chèo, tư thế chèo, cái dáng chèo).


Quá khứ, sự giống quá khứ. Tôi cười nhạo cái ý nghĩ vu vơ của mình. Lúc này nó vô tích sự.


Một người lính khái quát:


-- Tố Hữu bảo Bắp chân đầu gối vẫn săn gân. Đằng này bây giờ mọi thứ mình như là một miếng thịt thối thế này, thì còn được việc gì nữa.


 Những con đường Quảng Bình. Nhan nhản những cái hố rất nhỏ, đút vừa một cái sanh, một cái nồi.


Lo nhiều hầm hố thế này, thì còn làm ăn sản xuất bằng cách nào. Chẳng lẽ cuộc sống chỉ còn thu vào việc tự bảo vệ mình, loanh quanh dọn nhà, phòng tránh v..v.. Có nên gọi đó là cuộc sống? Tôi hay tự hỏi vậy.


Nhưng có lẽ là tôi lẩn thẩn quá.




17/8


 Tháng tám lịch sử. Đã ba lần, tôi đi công tác trở về trong cái không khí những ngày lịch sử thế này: 1968, 1970, và 1972. Chỉ có hai phen tôi ở nhà vào tháng 8 nhưng là những tháng tám nhiều điều buồn. Tháng 8/69, Bác đang ốm, và tháng 8/71, nước rất to.


Tưởng tượng những ngày này, trời Hà Nội tháng 8 trở nên xanh hơn. Thời tiết dịu đi, một ít mùa thu bắt đầu len vào giữa những ngày hè. Nơi ở xa bao giờ cũng là nơi rất đẹp.


Nhưng mà luôn luôn lại có cảm tưởng giá kể ở nhà, thì cũng đến thế. Chẳng qua tôi đi trên con đường xa nên cảm thấy vậy. Ngoài ấy, người ta còn đang chúi mũi vào bao nhiêu việc khác ai nhớ tới chuyện chuyển mùa.





2/9 năm nay, chắc là còn tiếng súng Quảng Trị. Mới nghe phổ  biến sẽ có hai giải pháp -- sau một thứ Genève tập II, lại có một thứ “nửa” mới của miền Nam, một góc nhỏ nào đó... Nhất định là mọi người sẽ cảm thấy thất vọng... Nhưng biết làm thế nào. Cái đài, như một thứ đồ vật ít biết xúc động, vẫn xoen xoét nói những chuyện đâu đâu (Tôi chợt nhận ra, cả lúc chúng tôi cởi quần lội đồng, cái đài vẫn len vào, tiếng nói cứ ráo hoảnh đi, không một chút thông cảm).


Nhưng là những người trong cuộc, có lẽ chúng ta biết hơn - Dù hôm nay,  buồn  đến đâu thì ngày mai sẽ lại còn buồn hơn vì những thất vọng mới.


... Hôm nay, báo Nhân Dân lại chửi xa xả những kẻ thoả hiệp một cách độc ác, ném cái phao bơi cho tên cướp sắp chết đuối, hô hào cách mạng thế giới bằng những lời nói suông chứ không phải bằng những hành động cụ thể - những kẻ coi việc hoàn thành cách mạng nước mình là xong mọi chuyện, không còn nghĩ gì đến việc hoàn thành cách mạng thế giới.


Tôi cũng không đủ hiểu biết để gọi là minh định những gì đằng sau điều người ta nói. Chỉ biết cuộc chiến đấu vừa qua, nếu chỉ đạt được ít kết quả như tôi nghe được ( một góc miền nam -- Quảng Trị!!) thì cay đắng thật. Kẻ địch của chúng ta là tàn ác, nhưng sao nó vẫn cứ nhơn nhơn đứng đó. Tại ai? Tình hình thế giới thế nào? Tại sao các nước bạn lại hành động như vậy - chịu.




18/8


Đi hơn một tiếng đồng hồ, qua một cánh đồng. Cánh đồng từ An Thuỷ sang Hoa Thuỷ, đồng sâu, con đường lầy lội nhiều, mấp ma mấp mô. Doãn Nho kể sáu năm trước đã qua đây. Đi đò. Bây giờ đi bộ. Nhưng vẫn nghèo đói vậy, ôi những làng xóm chúng ta. Lòng người như cũng có thay đổi. Người ta phân biệt đen trắng giỏi hơn. Ở nhiều nhà trên đường, tôi chỉ còn thấy những ảnh Marx, Engels, Lénin, Stalin, Hồ Chí Minh.. Thế thôi. Không còn ai nữa. Đó đều là những người chết cả rồi, không còn ai sống cả. Bây giờ thờ những người sống sao đặng? Có ai đáng thờ? Chỉ có những người chết mới để cho chúng ta yên, và chúng ta mới để cho họ yên - những người sống không làm nổi cả hai việc đó.




19/8


 Từ đầu tôi đã hình dung thời gian đi từ Quảng Bình về Hà Nội bằng thời gian từ một nước nào đó, sang Việt Nam và trở về. Nghĩa là y như thời kháng Pháp, hai chục năm trước.


 Biết mà vẫn chán, chán kinh khủng. Nóng ruột quá. Đi bộ, vượt rừng, chậm đến tưởng như thời gian ngưng lại.


 Thế hệ chúng tôi không phải là một lớp người đi nhanh, nhưng có lẽ đã bắt đầu cảm thấy cần phải đi nhanh. Điều đau khổ là chúng tôi vẫn phải đi rất chậm.





 Một người ở 559  kêu cứ tưởng trên miền Bắc đâu ra đó. Biết đâu ra miền Bắc, mọi chuyện cũng lộn xộn. Ăn tiêu chuẩn lung tung, nơi thì 7 hào, nơi thì 1đ2, nơi thì 1đ6. Tôi hùa theo, rồi còn nhiều chuyện khác nữa, đánh nhau mà, sao thoát khỏi lộn xộn.





Tôi luôn luôn nghĩ về những yếu tố chi phối cuộc chiến tranh này.


 Có vấn đề dân tộc. Người ta sẽ không hiểu gì cả nếu như người ta không hiểu trình độ kinh tế, đặc điểm tâm lý của người Việt Nam. Cũng giống như cần phải hiểu cái gọi là đặc điểm của người lao động Nhật, cái lý do tại sao ở Nhật, lại có nhưng cái máy tuyệt vời như vậy.


Nhưng vẫn có những đặc điểm thuộc về chế độ. Chắc chắn rằng những ngày vừa qua, không có cách nào khác để huy động người vào chiến tranh, nếu không phải chế độ chúng ta đang sống. Một thực thể cần thiết, hình như là chỉ nó mới hợp cho một giai đoạn nào đó, một lớp người nào đó, một mục đích nào đó.


 Một lần tôi đã buột miệng nói với ai đó rằng không cần báo chí cũng được, không cần dân chủ cũng được -- nhưng vấn đề là không thể kéo dài mãi  cái lối làm ăn năng suất thấp, và nhiều người chỉ sống cầm chừng sống ỷ lại như thế này. Nhất là những người lao động trí óc  thì như anh sống bên lề, anh chầu rìa, không được lao động hết mình.


(Nhớ có lần Xuân Quỳnh nói, xin nhận cái sự hy sinh của chính mình, để sống cái phần chung của dân tộc.)


Nhưng có thể đặt vấn đề như thế không? Có cần phải lựa chọn giữa dân chủ và độc lập tự do, giữa dân chủ và phồn thịnh kinh tế, giữa văn hoá, tự do cá nhân, và số mệnh chung của cộng đồng. Giữa hai cái đó cần phải lựa chọn lấy một, chỉ một thôi? Hay thực ra là hai cái đó liên quan đến nhau, yếu tố này thống nhất với yếu tố kia. Và người ta sẽ hoặc được cả hai, dựa vào cái nọ đồng thời đạt được cái kia,  hoặc hỏng thì hỏng cả hai, chứ không phải là cần chọn lựa.





19/8 – Cách mạng. Cái tiếng được nhắc nhiều nhất trong những ngày này, cái tiếng quả thật là tốt đẹp. Nhưng không thiếu trường hợp cái gọi là vậy lại không phải vậy. Nghĩa đã thay mà chữ vẫn cũ.


 Vĩ đại...Hình như cái từ này ngày càng thấy rất ít dùng trong báo chí phương Tây, trong khi nó còn dùng quá nhiều ở  châu Á.








20/8  Đại Trạch


Đi theo đường giao liên năm ngày hôm nay. Đi vào con đường của cả dòng người vĩ đại từ nam ra bắc từ bắc vào nam. Nhập vào cuộc sống, trong cái thế lộn xộn thật sự. Đó là niềm an ủi của tôi, nhưng cũng là đau khổ của tôi.


Hôm qua, đêm 19/8, xe đi trong đêm, người như bị lấy roi mà giần, sứt dập lung tung. Ra để đối phó với mọi thứ trên đời, người ta chỉ có cái da thịt của mình, nó là một thứ vũ khí cuối cùng, đau đớn vậy, da thịt mà bất cứ thứ gì cũng làm sây sát được, da thịt đó lại là để cấu tạo nên con người, cái mà chúng ta bảo rằng quý báu hơn tất cả.


Nhưng khổ hơn cho tôi, và cũng là sướng hơn cho tôi, là được đi với những người làm nên cuộc chiến đấu, trong cái thế tự do, vô tổ chức, cũng là trong hình thức cá nhân của họ (khá nữa thì là những tổ chức 2-3 người), và thấy được họ khá toàn diện. Những người lính lắm điều, những người lính tham lam của cải, những người lình hầu như thiếu một cái gì chung nhất, nó làm nên phần ổn định nhất của con người.


Như là để trả thù những lúc phải tốt, phải tinh thần tập thể một cách... bắt buộc --  bây giờ người ta trở nên phá phách, tạm bợm vô nguyên tắc... một cách đáng sợ. Vì có một điều rất đơn giản, mà tôi nhận ra, chúng ta rất nhiều người, nhiều vô kể, ở đâu cũng có thể nhận ra người, nhưng nay đã đến lúc đám đông biến dạng, và cái sự đông đảo kia chỉ gợi nên cảm giác ngán ngẩm.


        Số đông là rất vĩ đại, nhưng khi mà bao nhiêu cố gắng của họ, là dành cho chiến tranh, tôi lại thấy cái vẻ đẹp chủ yếu của họ đang mất đi. Sự bất lực của một đám đông là sự bất lực không gì có thể cứu vãn. Đông thế mà sao bước tiến của chiến tranh vẫn chậm. Chợt sợ hãi khi nghĩ rằng không biết cần bao công lao nữa, cuộc sống của số đông này mới nâng dậy trở lại, và khi đó, mới có bước chuyển của cả dân tộc.





... Nhưng mà thôi, như ai đó nói, chỗ mà ta có thể tránh, lại là cả thế giới này. Tôi đang như một người hành hương, như Eluard bỏ Paris một thời gian, vào với những người kháng chiến Hy Lạp, như Evtouchenko trên đường trở về xứ Zima của mình. Tôi nguyện chịu mọi thử thách. Hôm qua gặp một em bé ở Quảng Ngãi ra. 13 tuổi, bố chết 1970, mẹ chết 1972, cùng với chị và một đứa em. Nhà cửa đồ đạc không có gì. Mùng màn là dù pháo sáng đắp tạm, giường bàn bị đốt, vườn thì cỏ ăn.


Trả lời “phỏng vấn” của tôi, chú bé bảo ra đây là đỡ rồi, cháu có thể làm bất cứ việc gì mà sức cháu làm được, với lại cháu giờ có sợ nữa gì đâu, ở nhà đã cuốc đất mãi rồi.


Tương tự em bé ấy là tôi. Chỉ cần đối với tôi, đừng có những thử thách quá sức, đến không chịu nổi, còn như thế nào thì tôi cũng xin can đảm nhìn vào  tình thế để cố vượt lên. Tuổi trẻ vốn dễ hồi phục sức lực. Có nhiều buổi đi mệt,  nói theo tiếng Quảng Bình là mệt đọa đi, nhưng rồi chỉ một giấc ngủ, một bữa cơm nóng sốt, những người như tôi và trẻ hơn tôi lại trở lại bình phục. Tôi, tôi cần giữ được sự luôn luôn hồi sinh, sự nhanh chóng bình phục đó trong tâm hồn, và chỉ có thế, tôi mới vừa vượt lên những cực nhọc của cuộc sống này, vừa có thể sống sót để làm một người chiến thắng. Còn những tai nạn đó lại là chuyện khác.


19/8 năm nay, người ta vẫn làm như thông lệ lấy lại trong lòng người cái tinh thần cách mạng 27 năm về trước, xem hôm nay là một sự kế tục của những ngày hôm quá, trong phần đơn giản nhất của nó.


       Ông Thanh Tịnh ở nhà hay nói, cái chế độ Mỹ - Thiệu ở miền Nam hiện nay không sao bền vững được bằng chế độ phong kiến. Vậy mà Bảo Đại, vậy mà cả bọn phong kiến cũng bị lật đổ...


       Tôi biết mình không có cái may mắn sống những giờ phút cách mạng ở những hình thái nguyên vẹn và trong sáng của nó. Tôi hiểu bây giờ, và mãi mãi về sau, cuộc sống là một thứ cách mạng thường trực. Nhưng sao người ta cứ ấn vào đầu chúng tôi rằng cách mạng hôm nay giống như cách mạng hôm qua, những bài học cũ cứ lặp lại nguyên xi là cái gì cũng làm được. Chính cách mạng đã tự khác đi, từ 1968 đến 1972 bây giờ. Điều chắc chắn hơn là một số việc chưa làm được, chứng tỏ nhiều phương sách cũ là không còn thích ứng nữa. Lịch sử hay được viện dẫn, nhưng nên biết lịch sử không bao giờ lặp lại, người ta không học được gì ở lịch sử. Còn như phải làm như thế nào, thì chính chúng ta phải tìm, người làm ra lịch sử không chắc là người đã biết “nó”. Làm sao nhỉ, làm sao để trong những ngày tới, tìm lại được cái hăng hái sục sôi của cách mạng,  cái không khí thực sự, cái cách mạng đúng như thế, chứ không phải bất cứ một sự đắp điếm đồng bóng nào. Hay là thời đại hôm nay sẽ không bao giờ chấp nhận những sự sôi nổi như vậy. Cái thời đại của trí tuệ lạnh lùng này, người ta làm việc, làm nên lịch sử, tạo nhưng bước ngoặt theo nhưng kiểu khác, và sự sôi nổi hôm qua chỉ còn đồng nghĩa với những ấu trĩ.


...  Cái cần nhất lúc này là nắm được xu thế của thời đại, khi đó, với người viết là người ta sẽ có những trang viết chân chính.  Văn chương cách mạng 27 năm trước là phù hợp với trình độ trí thức lúc ấy. Những bài ca cách mạng  là những sáng tác theo quan niệm cổ truyền.


 Thời đại mới, đòi hỏi thứ văn nghệ mới. Nhưng nó là thế nào, không ai biết. Đã làm thử nhưng có lẽ chưa phải là nó.


... Và một hệ luận cuối cùng. Phải trước kia, chúng ta khác, cho nên chúng ta có thể đủ sức cho nói một cách thoải mái, tuyên truyền một cách thoải mái còn như bây giờ, trói nhau chặt chẽ, vì cái thế của ta yếu hơn. Được mùa Cách mạng mất mùa văn chương và ngược lại.





21/8 Cự Nẫm


 Những buổi tối ở Quảng Bình, xe không hiểu ở đâu ra mà nhiều vậy. Những tiếng nói mà suốt cả ngày ta không nghe, bây giờ tự nhiên lại râm ran đây đó, là cái gì thật hơn mọi thứ trên đời.


 Chập choạng tối là thời điểm của những chuyến xuất phát hào hứng, còn như đến khuya thì đã là một nhịp lao động kéo đi rất bình thường.


Bao nhiêu hố bom! Những hố bom rất lớn, và những mái nhà ở Quảng Bình thì rất nhỏ, đến nỗi là cả hai bên đan xen nhau rất hài hòa. Số hố bom e nhiều bằng số mái nhà. Và mỗi hố bom là nơi trú ngụ những gì, ai mà biết được.


Na, một chiến sĩ:


-- Lắm lúc nghĩ mình chả khác gì con cua, ngày hai bữa ra vơ cái gì vào miệng, tối lại chui vào hang. Lại chẳng khác gì con cá nằm trên thớt. Tất cả đổ vào hai chữ: chiến tranh...





22/8


 “Triết lý” phổ biến của người dân Quảng Bình. Ăn mánh cho bui chứ no béo gì cho cam. (Tô Hoàng “dịch”: Làm một bát cho xong). Triết lý sống tạm bợ, và lì lợm. Cuộc sống giống như mảnh đất cằn -- dẫu sao cũng chỉ có nó, không có mảnh đất nào khác.


Những đứa trẻ Quảng Bình, đồ chơi là cát tút đạn, cát tút đạn chọi nhau như những đồng hào trẻ con ngoài kia dùng để đánh đáo với nhau.


Một số đứa trẻ ở miền Nam ra, quần áo dài, khăn mặt quàng cổ, đầu đội mũ, ngực đeo huy hiệu Bác Hồ. Trẻ Quảng Bình quần áo ngắn ngủn, đen đủi. So với cánh bản địa này, lũ trẻ từ xa tới rõ ràng cứng cáp hơn hẳn.


Cái đặc điểm sống thích ứng - là đặc điểm của người lính hay đặc điểm chung của tất cả mọi người trong chiến tranh.


Tục ngữ mới Đi buôn học tính Đi lính học khôn.




23/8 Quảng Liên


Chợ miền Trung. Màu đen của áo quần, trong buổi chiều trông kín đáo và đáng mến .Từng ngườ nhìn tối tăm không thích; nhưng nhìn cả đám, tôi thấy nó nhập vào cái không khí buổi chiều, không khí sông nước dễ chấp nhận hơn.


Thỉnh thoảng một màu áo trắng trẻ trung vào đây cũng không xa lạ. Cái thật thà của cảnh và người miền Trung, khi được bên sông nuớc thì thêm phần trong sáng.


Tháng 7 âm lịch, nắng chiều, tất cả như đậm lên, sắc nét hơn. Đồng thêm xanh, núi xa thêm khắc lên nền trời. Sông thêm trong và sắc lạnh giữa một vùng đất bao la. Đồi nối tiếp đồi, để làm cho mặt đất không bằng phẳng, để cho trời không lẻ loi, và để cho có thể nhìn thấy người đi rất xa dọc những con đường đất đỏ lúc gồ lên, lúc võng xuống.


Những người phụ nữ đi chợ chiều, như vừa ở bếp ra, như vừa làm xong một phần công việc đồng áng mà đi chợ, quần ống thấp ống cao, đi nhiều lúc như chạy gằn. Cái thế khoẻ, cái hồn người thì thật sức lực.


Tôi ngồi một lúc trong buổi chiều mà đâm buồn. Những người đi chợ, những người ra giếng gánh nước. Đoàn người khăn áo vắt vẻo trên vai đi làm thuỷ lợi về. Tất cả hồn nhiên, cả đám đông tự tin, đượm đà như đang vận hành theo nhịp sống của muôn đời. Chắc không có ai nghĩ như  mình – tôi giật mình khi chợt nhận ra một ý tưởng vừa len vào trong đầu, sao  chung quanh cổ sơ cũ kỹ và tĩnh mịch đến phát sợ?!





24/8.


Mãi không đi hết đất Quảng Bình. Mãi không đi hết những cực nhọc của ngày hôm nay. Mặc dù biết chắc rằng về đến Hà Nội cũng chả làm gì, đến Nghệ An Thanh Hóa càng chẳng là gì, không bao giờ mình đi hết được cuộc sống khốn khổ này, nhưng dẫu sao, cũng muốn kết thúc chuyến đi để cho xong được một thứ việc.


         Từ nay trở đi, cảm hứng lớn nhất trong cuộc đời mình có lẽ là một cảm giác ê chề, đau khổ vì đất nước nghèo nàn và lạc hậu, dân tộc sống khó khăn. Trong chấp nhận vẫn có cảm giác bị thách thức -- trước hoàn cảnh như vậy, mình sẽ đóng góp như thế nào cho có hiệu quả nhất.


Với thế hệ sinh 1930, có lẽ xong cuộc chiến tranh này, là các anh có thể nghỉ. Hai cuộc kháng chiến còn gì! Nhưng chúng tôi, lớp người sinh 1940 -- 1950, chúng tôi mới bắt đầu cuộc đời, chúng tôi phải xây dựng lại tất cả. Thế nào là một thái độ tích cực với đời bây giờ. Có phải trước khi xây dựng thì tố cáo, căm phẫn, đập phá, không thoả mãn cũng là rất cần thiết.


(Chợt nhớ bè bạn hay bảo tôi là đã trở nên chính thống quá đi. Còn riêng tôi, tôi tin nhận xét của những người ở cơ quan VNQĐ, rằng tôi chông chênh và hoài nghi - Thú thực, cũng chẳng muốn thế đâu, nhưng số phận là như vậy).





Nghe nói một đạo diễn điện ảnh chiêu hồi.  Sau khi ở Liên Xô về, tuyên bố rằng 50 năm nữa, Việt Nam cũng không có điện ảnh chân chính. Rồi bảo: Phải vào trong chiến đấu, mới có phim. Và dinh-tê.


Đó cũng là một sự thách thức với tôi..... Hành động không đúng, nhưng nhận xét của hắn đúng. Vậy phải làm thế nào.


Một thoáng rất nhanh, đọc Nguyễn Mạnh Tường,[ bài phát biểu trước hội nghị Mặt trận tổ quốc, bản in lại của SG, tôi nhặt được hồi tháng sáu vào thị xã Quảng Trị], thấy rất thấm thía. Câu chuyện năm 1956 tức 16 năm trước vẫn là câu chuyện của những ngày này. Trước sau, đều là những chuyện ấu trĩ, dù là bây giờ ở một giai đoạn đã cao hơn, nhưng vẫn là ấu trĩ, vả lại giờ đây sự ấu trí có nền nếp, có lý lẽ để bảo vệ, cho nên khó lay chuyển hơn.





25/8


1) Cố sống, bám lấy cuộc sống, yêu cuộc sống hết lòng -- vì không nơi trú ẩn nào khác --, nhưng là yêu một cách cay đắng; từ đó hình một thói quen lao đầu vào công việc, làm việc không rời tay, không ngơi nghỉ.


2) Sự ích kỷ, thái độ hết sức nồng nàn đối với chính mình - làm sao để kích thích được mình làm việc, không phải sự bê tha hưởng lạc, nhưng là khát khao đóng góp, khát khao phát huy cái tôi của mình, tin rằng thế giới sẽ thêm được một chút gì đấy, nếu những người như mình lớn lên một cách công chính ( chữ của đạo Ki tô). Tin rằng mỗi sự thu góp, giành giụm thời giờ, sức lực không phải để cho mình, mà để cho cả xã hội.


3) Trâng tráo - đó là một từ khác để chỉ một thái độ bình tĩnh trước cuộc sống. Tin rằng thế giới lộn xộn, không thể hy vọng một cách hão huyền rằng nó tốt đẹp, trọn vẹn. Trái lại, biết nó thế mà vẫn dám sống. Trâng tráo để chống lại  thái độ tình cảm chủ nghĩa cũ, ru rín, vuốt ve người khác và chính mình. Trâng tráo để chứng tỏ biết rằng chính mình cũng không toàn vẹn, nhưng không vì thế mà phủ định mình. Trâng tráo vì tin rằng có những cái quan trọng và những cái không quan trọng, cái thứ nhất thật đáng chú ý, cái thứ hai có thể bỏ qua được. Trâng tráo vì tin rằng thế giới còn rất nhiều điều vớ vẩn, thế giới có thế nhích lên, như thế thì trước tiên phải chú ý mình làm được cái gì, đừng quá chú ý mình làm thế nào. Trâng tráo: sống thô, sống không trau chuốt.





Có lẽ trên đây là phác họa mấy khuôn mặt của một thái độ sống hiện đại. Hơn đâu hết, trong cuộc sống hiểu theo nghĩa này, người ta chú ý tới quan điểm động, quan điểm về sự mài rũa của thời gian và biến động luôn xảy ra ở mỗi cá nhân. Người ta chú ý cuộc sống như một sự thách thức. Chính là trong quan niệm sống kiểu này, vai trò của xã hội được đặt ra thật cao, mà sự tồn tại của cá nhân cũng được chế định, xác định thật dứt khoát. Mà người ta vẫn thấy xã hội là không làm gì được cá nhân, và cá nhân không làm gì được xã hội.





       Nhiều trạm giao liên còn gửi khách vào nhà dân. Những cái nhà rộng có khi đủ chỗ cho cả tiểu đội. Nhưng hãy nhìn vào cách mắc võng của chúng ta. Trong cái nhà vốn ngăn nắp, tất cả bị nháo nhào cả lên, cột ngang cột dọc, tầng dưới tầng trên xen kẽ đâm bổ vào nhau không ra sao cả. Dấu hiệu của một cuộc sống sống cá thể phân tán. Nhưng đã quá đủ để chen chúc qua ngày. Lúc nào thoáng cảm thấy ngột ngạt thì chỉ cần nghĩ tới những phút nằm hầm là lại có ngay một chút an ủi - được như thế này cũng đã may lắm.





Cầm cái đài lên. Tìm một giọng nói bật lên. Là bắt đầu một hành động lớn, cá nhân tiếp xúc với cả thế giới.


 Dù vô hình những vẫn đầy sức mạnh, cái giọng nói ấy đại diện một sự tồn tại. Ta muốn tìm một sự giao cảm.


 Nhưng cứ như tôi với cái đài hiện nay, quả thật vừa nghe nhau, vừa chán nhau, cái bình có nối thông thì vẫn là nhiều cản trở.


Rất nhiều lần, tôi đặt tay vào hàng phím trên đài, tắt rồi lại bật, bật một tí lại tắt, không biết làm sao tìm được một tiếng nói đáng nghe. Tiếng nói của những người bên này thi leo lẻo một giọng đều đều, tiếng nói của những kẻ bên kia thì u ám, xa lạ, giả dối.


Tôi chỉ là một người lính hạng bét, toàn phải đi nghe nhờ đài người khác, lòng lúc nào cũng thầm mong có một cái đài của mình. Để làm gì, để khi thích thì tìm nghe, nhưng luôn luôn có thể tắt đi khi không cần. Tiếng nói trên thế giới hỗn loạn thật nhiều bề, mà cái đáng nghe vẫn là ít. Thật hiếm hoi, thất ít ỏi, là những tiếng nói đáng nghe.





26/8 Kỳ Thượng


Một cậu bộ đội nói với hai đứa trẻ từ miền Trung Trung bộ ra:


- Không có cách mạng, chắc gì chú cháu mình đã gặp nhau ở đây phải không mày. Chúng mày ra Bắc cố học, rồi đi đánh nhau thay chúng tao.


Một người lính Hà Nội mới vào kể chúng em được huấn luyện có 3 tháng, cứ chơi bời đi về luôn, có thằng tập chưa được một tháng.


Hà Nội không có điện. Mỗi khu phố một ngày điện sáng trong một tuần. Công nhân đi đắp đê cả.





27/8 Đức Lạc Hà Tĩnh


Thật là một điều tôi không muốn tí nào: tôi đã nghĩ không hay về những đám đông và muốn tránh những đám đông - Một đám người ô hợp kinh khủng. Rất khó tìm được một sự tự nguyện sống có văn hoá, sống có tri thức.


Càng ngày, tôi càng thấy rõ, những người lính trẻ của chúng ta thiếu một điều kiện căn bản này—thiếu giáo dục trước khi vào bộ đội. Rất nhiều cậu đã có dáng dấp một chiến binh thành thạo, trước khi trở thành người. Và hình như vào bộ đội cái khuynh hướng chưa thành người đó càng phát triển.


Y hệt cuộc chiến tranh lần trước, một lực lượng dân công khổng lồ được huy động trong chiến tranh. Xem một đám đông tụ tập, tôi chợt nghĩ sao người của chúng ta nói nhiều làm vậy? Và người ta còn làm dáng. Có những người, khi mặc bộ quần áo mới, là cảm thấy bước vào cách mạng. Chính họ không ngờ đang đi giữa cõi sống và cõi chết.




28/8


Những đứa trẻ con liệt sĩ, những đứa trẻ đi theo đường giao liên từ Quảng Ngãi Phú Yên ra- lại là những đứa trẻ rất hư. Chúng nó chạy loăng quăng trong hàng quân xin thuốc. Chúng nó cũng chửi giao liên như bội đội, chửi luôn mồm, và một lần, tôi đã chứng kiến một thằng bé chửi vào mặt một người lính khi anh chiến sĩ này lên mặt dạy đứa trẻ kia (Những người ở chiến trường về, lại dễ bị nhiễm các loại tệ nạn ở Hà Nội hơn cả).


Những đứa trẻ bao giờ cũng là hình ảnh của những người lớn.


Không gì quý cho bằng sự giáo dục của cha mẹ, đối với những đứa trẻ.





Những ông già thích nghe đài. Một ông già ở Cự Nẫm kể: Nó họp với mình ở Pa di. Có 2 nước không muốn hop. Mình bảo: Anh không hợp mời anh về. (cụ nghe hội nghị Georgetown ra hội nghị Paris)


Chính trị lôi cuốn mỗi con người dân tộc tôi, cũng như các dân tộc khác. Cả thế giới sống như vậy. Nhưng trình độ kinh tế nước tôi đã đủ để mọi người sống vậy đâu.





Văn Thảo Nguyên:  Đất trời của mình mà cứ chui rúc như một bọn ăn trộm.


Nh: Tôi luôn cảm thấy bị đe doạ. Việc đi trên đường luôn luôn là bị đe doạ.


Anh Vinh: Bởi anh coi mình đặc biệt hơn, mọi người thì anh mới có ý nghĩ đó còn như anh xem, tất cả mọi người đều đang bị đe doạ như anh thôi.


...


Tôi đang đi trên con đường giao liên vĩ đại trên đó, theo chiều chảy ngược từ nam ra bắc. Ở đây, có ít nhất mấy hạng người.


- Những cán bộ ưu tú đi học ngay trong chiến tranh


- Những kẻ đào lạc ngũ


- Tốp trẻ con đi bộ từ Khu 5 ra


- Và một ít nhà báo.


Tất cả là một đoàn người hẩu lốn, lúc nào cũng nhao nhao lên đòi ăn, đòi uống, tính chuyện mua đài để nghe nhạc, mua thức ăn, ăn thêm. Người nào cũng sống vì những mục đích lớn lao, nhưng lại hết sức thiển cận, vụ lợi trong những mục đích cụ thể và suy cho cùng là chỉ biết có mình, biết công việc của mình một cách rất là bị động, bó buộc. Bước đi của người ta nhích tới một cách chậm chạp, cả đoàn người nhích tới quá chậm chạp. Nhưng tôi không biết nói với mọi người làm sao.


Cuộc chiến tranh này là một cuộc chiến tranh hậu cần, và bên phía chúng ta,  chiến tranh hậu cần với nghĩa một đống người chỉ có việc lo ăn lo mặc cho đám ít hơn đi trận mạc,  cả hai chỉ vừa đủ để mà sống lè tè sát mặt đất, và gọi là chiến tranh đấy nhưng tất cả là cầm chừng.


Tôi hiểu ý nghĩa cao cả của sự hy sinh, nhưng sao vẫn luôn luôn cuộn lên trong đầu cái ý nghĩ ngược lại, giá đừng hy sinh thì hơn. Những người con trai của mọi miền quê tự nhiên họp thành một bọn đi dọc đất nước, và sống tạm bợ, vì những mục đích ai cũng bảo là vĩ đại, nhưng đang là không đâu vào đâu...


 Mọi làng xóm tiếp những người con trai này đã quen. Nhưng tôi vẫn thấy khó quen quá.


Kẻ thù của đã đẩy chúng ta vào một cái thế cùng cực. Tại kẻ thù thôi, người ta chỉ cho phép chúng tôi nghĩ thế. Nhưng tôi muốn thêm vào, suy cho cùng cũng tại ta, mà có khi chủ yếu là tại ta. Điều chắc chắn nhất --cùng cực quá.


Văn Thảo Nguyên kể một chuyện ngoài lề. Cách dạy con của loài cò lạ lắm. Khi cò con sắp sửa tập bay, cò bố cò mẹ sắp cả bọn thành hàng rồi lần lượt đá chúng khỏi tổ để chúng rơi từ ngọn cây xuống đất. Con nào bay được thì sống. Còn nào yếu thì chết ngay lập tức.


(còn tiếp)

Saturday, August 25, 2012

Nghiêm Đa Văn và rất nhiều dang dở



Hồi chúng tôi cùng học Đại học Sư phạm, sinh viên gần như là bắt buộc trăm phần trăm phải ở nội trú, nhưng không hiểu sao Nghiêm Đa Văn vẫn xin được đặc cách ở ngoài cùng gia đình, hàng ngày dong xe vào trường. Ở Hà Nội những năm ấy, một chiếc xe đạp còn là rất quý, cả cuộc đời cán bộ nhà nước nhiều khi rút lại chỉ thấy treo trước mắt cái ước mơ là được mua cung cấp với giá rẻ một chiếc xe Thống Nhất.


Vậy mà Văn đã sớm xoay đâu được một chiếc xe riêng, tôi không nhớ của Tiệp hay của Trung Quốc nhưng chỉ biết chắc là loại xe trâu rất thô. Nhìn Văn ngồi xe thật buồn cười: Không chút mặc cảm rằng mình đang ngự trên một chiếc xe cà tèng thảm hại, mặt anh thường vẫn cứ ánh lên một thứ vênh vênh không hề đáng ghét mà là đáng yêu lạ. Và Văn cười, nét cười còn hơi trẻ con, dường như muốn nóvới cả bọn: “Chúng mày trông tao có oách không?”.

Về sau, gặp lại nhau trong nghề làm văn làm báo, có khi mỗi tuần ngồi với nhau vài buổi ở căn nhà 330 Khâm Thiên của Văn hoặc kéo về căn gác trên phố Phan Bội Châu của Lâm Quang Ngọc, cùng với những Trần Hoàng Bách, Trần Cương, Nguyễn Vĩnh, Nguyễn Lâm tức Lâm “râu” đôi khi có cả Đỗ Chu, Lưu Quang Vũ..., cái cảm tưởng nhìn Văn đi xe đạp hôm trước càng đậm lên trong tôi. Nghĩa là trong văn chương, Văn cũng có chút vênh vênh đáng yêu như vậy: “, các con trời cứ chờ đấy, tao sẽ ra tay!”. Cái câu tuyên bố xanh rờn ấy của Văn không nhằm răn đe ai, cũng chẳng phải một thứ kiêu ngạo gì, chẳng qua là một kiểu tự động viên mình. Viết lách là chuyện khó. Nhưng đừng có hù doạ tôi! Trong nghề này, mỗi người có cái duyên riêng của mình, không ai thay thế được ai. Vậy thì, cứ chờ đấy, các anh sẽ được xem tôi lật con bài của tôi, hay dở tôi chịu.
Rút lại, cái điều Văn muốn nói ghê gớm như thế, mà cũng chỉ là như thế. Trước con mắt một người sống chỉ biết thu mình lại nặng về e dè sợ sệt như tôi, cách cư xử của Văn gắt quá, mạnh quá, tôi không đủ sức làm theo, nhưng trong thâm tâm, thấy thật hấp dẫn: Hãy chủ động làm lấy số phận văn chương của mình. Ngoài ra mọi sự khiêm tốn vờ vịt chẳng giúp được ai có tài hơn, do đó, đáng yêu hơn chút nào hết!
Hình như có lần Nguyễn Khải đã viết đại ý một người đến với nghề văn như thế nào thì về sau sẽ ở lại với nghề theo kiểu như vậy.
Nhớ chuyện ngày xưa, Nguyễn Tuân từng đã kể mình từ biệt tỉnh Thanh ra đi với tâm sự “Rồi đời sẽ xem. Đời sẽ xem chúng tớ húc đầu vào ánh sáng. Chúng tớ là những cục vàng mười. Chỉ có cái hòn than tây ở ngoài ấy mới thử được cục vàng mười này thôi”.
Ngoài ấy nói ở đây là Hà Nội. Ông Nguyễn lúc ấy đang còn trẻ và đầy hiếu thắng đã “khoái trá vô cùng khi được vứt lại cả cái tỉnh nhỏ ra đằng sau mông của mình “(Đôi tri kỷ gượng).
Con đường của Nghiêm Đa Văn và một số những người bạn cùng tuổi chúng tôi những năm trước chiến tranh thì có khác. Trước tiên phải ra khỏi Hà Nội đã rồi mới trở về thủ đô sau. Chúng tôi chấp nhận đi đường vòng.
Lâm Quang Ngọc kể: Học xong lớp 10 (tương tự như lớp 12 về sau), Văn rủ Ngọc đi lao động ở Thái Nguyên. Bọn bất tài mới phải vào đại học, còn tao với mày chúng ta là những ông Gooc-ki rồi chỉ có viết thôi, Văn không úp mở gì, nói thẳng như vậy.
Vào những năm cuối thế kỷ XX này, trong hoàn cảnh đất nước lo làm ăn kinh tế và mở cửa để đón nhận mọi thành tựu khoa học kỹ thuật thì trước mắt người thanh niên mở ra nhiều con đường lập nghiệp khác nhau và số người tính chuyện viết văn hình như chẳng là bao; nhưng vào khoảng những năm sáu mươi bảy mươi thì nghề văn oai vệ và hấp dẫn lắm. Muốn có một cái tên để cho người đời nhớ mà lại sang trọng thơm tho, tốt hơn hết có lẽ là cầm lấy cây bút.
Song một trong những tiêu chuẩn đầu tiên, và chắc chắn tiêu chuẩn quan trọng nhất của nghề văn lúc này phải là sự từng trải kinh nghiệm sống. Nôm na mà nói, giá anh không sinh trưởng ở thành phố mà lớn lên từ những vùng quê xa xôi, không tỏ ra thành thạo sách vở mà thạo cuộc sống của những người lao động thì dễ được chấp nhận nhất. Lịch sử văn học nửa sau thế kỷ XX còn ghi lại bao nhiêu trường hợp của những thanh niên từ nông thôn lên và sau này sẽ làm chủ văn đàn. Họ là những Lê Lựu, Đỗ Chu, Phạm Tiến Duật...
Một cách bản năng, những thanh niên lớn lên ở Hà Nội như Bùi Minh Quốc, Trần Nhật Lam cũng như Nghiêm Đa Văn, Hoàng Hưng... hiểu ngay cái điều mà xã hội yêu cầu. Theo lời kêu gọi của báo chí, họ nhập vào những đoàn quân đi vỡ đất hoang, lên công trường... Và nhanh chóng, Bùi Minh Quốc được nhiều người biết tiếng với bài Lên miền Tây:
Xe chạy nghiêng nghiêng trèo dốc núi
Lên miền Tây vời vợi nghìn trùng
Ơi miền Tây ở dưới xuôi sao nghe nói ngại ngùng
Mà lúc ra đi lửa trong lòng vẫn cháy
 Cái tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy
Thì xa xôi gấp mấy cũng lên đường
Sống ở thủ đô mà dạ để mười phương
Ngàn khát vọng chất chồng mơ ước lớn
Đây miền Tây núi rừng dang tay đón
Những con người sung sướng nhất trần gian
Là được lên đây đem sức lực căng tràn
 Với sứ mệnh vinh quang là vỡ đất
Nhưng rồi Bùi Minh Quốc cũng trở về để học Đại học Tổng hợp. Mà Văn với Ngọc của tôi thì về học Đại học Sư phạm. Đằng nào thì cũng là một cách để học thêm một ít kiến thức và chờ ngày nhảy ra viết lách.
“Chỉ thi chơi thôi không ôn ngày nào, vậy mà cũng đỗ”, sau này Văn vẫn thường biện hộ cho cách sống ào ào của mình bằng cách nhắc lại kinh nghiệm như vậy. Và người ta có thể tin được điều này nếu biết rằng thời ấy trường Đại học Sư phạm điểm không lấy gì làm cao bởi lúc đầu chỉ học có hai năm để đi dạy cấp ba, sau hình như thấy chất lượng yếu quá nên mới cho học thêm một năm nữa.
Cái niên học 1963-1964 đối với chúng tôi là một thời điểm rất lạ! Chắc chắn không ai dự đoán nổi rằng ngày 5-8 Mỹ sẽ ném bom miền Bắc và một giai đoạn lịch sử mới bắt đầu. Nhưng lòng người thì tự nhiên đã có một chút gì nhộn nhạo. Chúng tôi băn khoăn về nỗi không biết ra trường chúng tôi sẽ được ném đi đâu. Như thể có một bàn tay của số mệnh đang dăng ra và chúng tôi thì giãy giụa không chịu. Tôi nhớ mang máng một câu trong Hoàng Lê nhất thống chí “lòng người ao ước sự loạn lạc”, và tuy không biết rõ ràng nhưng cứ thầm ước ao là có một cách nào để mình chưa phải đi dạy học ngay thì tuyệt biết bao nhiêu. Có lẽ là đồng lương lúc ấy đã quá thấp và trước mặt người thanh niên mọi con đường kiếm tiền chưa mở ra rộng rãi như bây giờ, nên chúng tôi không muốn sớm bị bắt vít lại ở một công việc cố định. Giá kể được đi đây đi đó để vùng vẫy một hồi mà cũng là hiểu biết thêm thì có tới cùng trời cuối đất chúng tôi cũng không ngại.
Không ai nói ra miệng nhưng giờ đây nghĩ lại thấy không chừng đấy cũng là một lý do khiến chúng tôi hào hứng đến với chiến tranh từ những ngày đầu.
Lệnh động viên, gọi một số đi nghĩa vụ quân sự đến với cái lớp văn III thật đúng lúc. Một tốp gồm những Phạm Tiến Duật, Tô Hoàng, Nguyễn Đình Ánh, Vương Trí Nhàn v.v... đội mũ đeo sao lên trấn thủ Tây Bắc, và không phải ngẫu nhiên trong số này một tỷ lệ đáng kể sẽ bắt đầu hí hoáy viết văn.
Còn Nghiêm Đa Văn được phân công vào dạy học ở Đức Thọ, Hà Tĩnh. Cũng đất lửa chứ có phải vừa đâu, so với cánh bộ đội Tây Bắc chúng tôi, ai khổ hơn ai mà cũng là ai có thực tế hơn ai thật không dễ dàng phân định, có lẽ vì thế, mà cũng như chúng tôi, cái cơn cớ để lao đầu vào viết lách ở Văn càng mạnh. Báo Văn Nghệ bắt đầu có đăng thơ của người thày giáo trẻ. Tuyển tập thơ mang tên Sức mới ra đời năm 1965, rồi sau đó tuyển Thơ ba năm chống Mỹ đều lấy bài Đàn trâu Nghệ của Văn. Rồi Văn viết truyện ngắn Ngã ba đất đỏ. Cho đến khi được gọi về làm báo Người giáo viên nhân dân thì Nghiêm Đa Văn của chúng tôi chưa mô phạm lên được bao nhiêu mà vẫn còn nhiều nét của anh sinh viên văn III hồi nào, chỉ riêng cái mộng văn chương là lại càng cháy bỏng hơn bao giờ hết.
Nhà văn Vũ Bằng trong hồi ký Bốn mươi năm nói láo từng đã định nghĩa một cách đơn giản văn chương chữ nghĩa là một thứ không trường không thầy. Nguyễn Công Hoan, một trong những tác giả đặc biệt chú ý mẹo mực khi sáng tác (có nghĩa là một bực thầy về kỹ thuật) lại càng thích nhấn mạnh rằng không cần học, không có gì phải lo học. Trong hồi ký Đời viết văn của tôi, ông nhắc đi nhắc lại một lời khuyên mà ông coi như chân lý ấy là nếu thích viết văn thì phải mạnh dạn viết, như người muốn biết bơi phải nhảy xuống nước chứ cứ ở trên bờ mà nghe giảng về bơi (ý nói đọc các loại sách lý luận) thì cả trăm năm cũng không biết bơi. Vào khoảng thời gian mà những cây bút trẻ thời chống Mỹ bắt đầu viết, những cuốn hồi ký nói trên chưa được in ra. Nhưng cái tinh thần vô chiêu ấy là tinh thần chung mà giới viết văn ở ta vẫn ngầm lưu truyền từ lớp này sang lớp khác và đến thời chúng tôi bắt tay vào viết thì các bậc đàn anh càng thích nói ra công khai. Thành thử nó cũng đến với các bạn của tôi một cách tự nhiên, và quả thật có tạo nên một nguồn cảm hứng mạnh mẽ có ý nghĩa kích thích.
Lấy ví dụ trường hợp một cây bút cùng tuổi với chúng tôi, mà lại xuất thân từ hoàn cảnh khác, tức đi một con đường khác, mãi sau 1975 bọn tôi mới có dịp gặp, đó là nhà văn Thái Vượng. Ít lâu sau khi Thái Vượng qua đời, một người bạn cũ là Vũ Đình Minh có nhắc lại nhiều kỷ niệm về con người này. Trước mắt chúng ta là một Thái Vượng đến với văn chương cũng từ rất sớm, và phải nói cũng đầy ảo tưởng:
“Năm 1958, Thái Vượng từ Lập Thạch về học lớp 8 trường cấp II-III Trần Phú, thị trấn Phúc Yên huyện Mê Linh, Vĩnh Phú (...). Thái Vượng học kém, nhất là các môn khoa học tự nhiên. Suốt ngày anh cởi trần, hì hục viết lách. Sau đó, tôi thấy anh đưa xem cuốn vở học trò, dày độ 48 trang mà anh gọi là tiểu thuyết với nhan đề kẻ vẽ kỹ ở ngoài bìa: Đôi uyên ương. Tôi đọc thấy bi luỵ, kiểu mức tập tọng của văn chương Tự Lực văn đoàn. Nhưng mãi về sau, khi tôi giễu cợt cái điều ấy, anh trợn mắt: “Cuốn đó bọn con gái Lập Thạch xé ra từng trang để đọc rồi học thuộc lòng đấy!” (...) Học kỳ hai năm lớp 8, anh đột ngột bỏ học, có lẽ vì không thể chịu đựng nổi môn Toán. Anh ghi vào sổ lưu niệm của tôi: “Hẹn sẽ cùng nhau sánh bước trên văn đàn Việt Nam” (báo Văn nghệ 14-12-96).
Mẫu người Thái Vượng mà Vũ Đình Minh nói ở đây cũng là mẫu chung của lớp nhà văn trẻ mà nay một số sách vở vẫn gọi là lứa chống Mỹ. Có thể bắt gặp cái nét chung đó ở nhiều người khác. Nếu như những năm ấy, Đỗ Chu hiện ra như một thanh niên vùng quê Kinh Bắc tài hoa, duyên dáng trong cách nói năng, nếu như Triệu Bôn cũng nông dân nhưng lại là thứ nông dân gan lỳ chắc thiệt thì một số bạn bè khác như Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Anh Ngọc... còn nhiều chất của cánh học sinh Hà Nội chỉn chu, sách vở; riêng Nghiêm Đa Văn thì lại là hiện thân của thứ nhất quỷ nhì ma bạt mạng: tưởng lông bông mà không việc gì không thử làm; nhố nhăng mà lại rất tình nghĩa; chẳng chuyên sâu vào cái gì cả nhưng hình như cái gì cũng biết và thường xuyên nhởn nhơ cười cợt ngay trong sự tháo vát của mình.
Mới mon men vào đời và vừa võ vẽ đọc dăm quyển sách mà dám đến với nghề văn, tức đã là loại điếc không sợ súng, tay không lao thẳng vào văn đàn rồi - nói chung nhiều người chúng tôi có ai kém ai về những mơ mộng hão? Song Nghiêm Đa Văn mới thật là tay tổ trong sự liều lĩnh. Thứ nhất, tuốt tuột mọi nghề từ âm nhạc, sân khấu, tới điện ảnh, xiếc... không việc gì đối với Văn bị coi là khu vực cấm. Văn cộng tác với nhạc sĩ Mộng Lân làm nhạc cảnh và nhạc cảnh này được giải thưởng của Hội Nhạc sĩ. Văn viết cả kịch bản phim hoạt hình và có vài ba kịch bản phim truyện đã được in ra... Thứ hai, ngay trong khu vực chữ nghĩa, Văn cũng lăn từ thể loại này sang thể loại khác. Làm thơ thì là chuyện tự nhiên rồi, nhưng Văn còn viết truyện ngắn (tập Ngã ba đất đỏ) và hàng loạt tiểu thuyết như Tầm cao năm tháng, Gió mặn...
Lâm Quang Ngọc, lúc ấy đã đánh tháo được khỏi việc dạy học ở một trường phổ thông để chuyển sang ngành điện ảnh và cũng như Văn lúc làm thơ lúc viết truyện, Lâm Quang Ngọc hay ngỏ ý vừa thắc mắc mà cũng vừa khâm phục: “Tao không hiểu thằng Văn nó viết vào lúc nào nữa!”. Văn đắc ý, càng cười hì hì, những ngày hè cởi trần thân hình ngồn ngộn như một phản thịt.
Ngỡ một người như thế sẽ không biết lao tâm khổ tứ là gì, có hay đâu, với một chiếc máy chữ cọc cạch, Văn có thể lọ mọ cả đêm viết đủ thứ, và thứ gì cũng in dấu tài hoa.
Nhưng có lẽ không ở đâu, cái võ công “không biết mặc cảm” ở Văn lại có khả năng giải phóng một sức sáng tạo kỳ lạ như trong lĩnh vực tiểu thuyết lịch sử. Dù không chuyên tâm khảo sát kỹ lưỡng nhưng ai người quen bắt đầu mọi sự hiểu biết bằng sách vở hẳn cũng hiểu rằng muốn viết được loại truyện này phải đọc thiên kinh vạn quyển. Bởi vậy tôi không khỏi ngạc nhiên khi đến nhà Văn chơi nhìn quanh căn phòng phải nói là rộng rãi chỉ thấy mấy cuốn sách lịch sử loại đã quá cũ vứt lổng chổng chân giường, góc bàn và hình như tuy cũng giở ra luôn nhưng chủ nhà chưa đọc cuốn nào đến trang chót. Đã thế, tôi còn được ngớ người ra khi nghe Văn tuyên bố một câu xanh rờn: Viết tiểu thuyết lịch sử là dễ nhất vì tha hồ bịa. Văn đưa ra dẫn chứng: trong khi đi hỏi thêm vài chi tiết có liên quan đến nhân vật lịch sử nọ (một người cũng mới qua đời khoảng 1930), Văn được hai địa phương khác nhau cung cấp những dữ kiện hoàn toàn ngược nhau. Trở về Văn mừng lắm, trong bụng chắc mẩm rằng bịa đến mấy cũng không sợ bị ai hạch.
Theo dõi bước đi của bạn, chúng tôi chỉ thầm bảo nhau: cũng là một cách tồn tại trong văn học.
Nên nhớ là hồi chiến tranh và những năm sau 1975 việc in sách là nằm trong kế hoạch nhà nước, việc sử dụng giấy là theo quy định chứ không phải ai cũng có quyền bỏ tiền in sách miễn làm đúng luật định như sau này. Văn của chúng tôi đã bắt trúng một yêu cầu của đời sống lúc ấy nên sách của Văn mới được in như vậy.
Một lý do nữa khiến bọn tôi dù thích hay không cũng phải chấp nhận sáng tác của Nghiêm Đa Văn: anh đã viết đúng như anh đã sống.
Mặc dù đã trải qua những giây phút lịch sử là cái không khí sôi động của Đại thắng mùa xuân và đất nước thống nhất, song nhịp sống của Hà Nội những năm sau 1975 đại khái vẫn như những năm chiến tranh: vẫn những chiếc xe đạp chậm rãi đi về trên những đường phố yên tĩnh. Sự sôi động có xảy ra với những chuyến nhân dân cán bộ kéo nhau vào Sài gòn “nhận họ nhận hàng” mà nhà văn Nguyễn Khải một lần đã nói đùa với tôi là một dịp để cả nước được đi nước ngoài. Song một vài cái mô-bi-lét cá xanh chưa làm cho đường phố ồn ào là bao, cũng như tiếng hát Khánh Ly Trịnh Công Sơn chỉ mới cất lên từ những bộ A-kai cổ lỗ không làm cho những nếp nhà tường vôi cũ kỹ có được không khí như sau này. Nhìn vào cái sự ăn uống thì lại càng rõ. trên tôi đã nói là có thời gian tuần nào chúng tôi cũng vài ba lần tụ tập với nhau ở nhà Văn hay nhà Ngọc. Để bàn về sự viết lách. Để thông báo với nhau về vài cuốn sách mới đọc, kể từ những cuốn sách triết học hiện đại đến những bộ chưởng của Kim Dung, tất cả đều từ Sài gòn mang ra. Câu chuyện thì sang trọng hơn xưa song cái chất để dẫn chuyện thì vẫn tầm thường lắm, chỉ có ít rượu ngang đắng ngắt với vài chục ngàn tiền lòng cho đâu bảy tám mống cả đàn ông lẫn đàn bà. y vậy mà theo tôi nhớ là chuyện rất vui mà người thấy hể hả nhất phải kể là Nghiêm Đa Văn. Một sự dễ dãi thường trực nơi Văn, hình như anh ăn thế nào cũng được mà ở thế nào cũng được. Hơn thế nữa anh có cả một triết lý chỉ đạo cho sự bằng lòng cuộc sống của mình. Anh vừa cười vừa bảo với tôi:
- Chỉ có những người anh hùng với những thằng điên mới tính chuyện thay đổi cuộc đời. Chúng mình không phải loại thứ nhất cũng không phải loại thứ hai, chúng mình hãy cứ sống như mình đang có!
Còn đây là chuyện lê la trên đường của Nghiêm Đa Văn do một bạn trẻ hơn là anh Trần Đình Nam (từng có thời gian là học trò Văn ở trường cấp III Đức Thọ) ghi lại:
Cái quán bia phố Cổ Tân chiều hôm ấy đông như một buổi chợ phiên. Nếu không phải dân nhậu thật khó mà hiểu được tại làm sao hàng trăm con người lại ngồi cắm cọc trên một đoạn vỉa hè xi-măng nóng hầm hập, mồ hôi mẹ mồ hôi con cứ ô-tô-ma-tích bò ra ướt sũng cả quần lót áo lót, rồi ướt ra quần dài, áo sơ mi chỉ để uống vài cốc bia, nhá vài lát ngẩu pín, nói vài câu chuyện tầm phào. Trên cái bãi người ướt sũng bị cái nắng mùa hạ hầm cho chín nẫu ra ấy là một đám khói thuốc lá vần vụ như một đám mây. Thầy Văn mặt đỏ mọng, cười nói oang oang như một anh xích lô chuyên nghiệp. Thầy là con người của đám đông. Thầy mê mẩn những bãi bia quán rượu tạm bợ, chật cứng người, những câu chuyện không đầu không cuối. Hoà vào đám đông, thày như cá gặp nước. Sau này, ngày nào tôi cũng thấy thầy đạp xe lêu têu ngoài phố như một gã vô công rồi nghề (Ba lần uống rượu với thầy Văn, bài đăng trên báo Văn nghệ Bà Rịa-Vũng Tàu).
Dân dã, tầm thường, ngầu đục bụi bậm, bám sát vào mặt đất cái cách ăn uống và nói chung là cách sống của chúng tôi đã thế thì văn chương của chúng tôi như thế, có gì trái quy luật đâu mà ngạc nhiên! So với chúng tôi, Nghiêm Đa Văn chỉ trắng trợn hơn tí chút, bất cần hơn tí chút chứ anh cũng là sản phẩm của hoàn cảnh như tất cả chúng tôi vậy.
Những chuyện tôi vừa kể trên chủ yếu liên quan đến những năm chống Mỹ, và kéo dài ra khoảng chục năm sau, tức tới giữa những năm tám mươi... Rồi sự thay đổi đã tới. Một không khí bình lặng tưởng như đã bắt rễ vào đời sống và mãi mãi như thế hoá ra cũng có lúc bị đẩy vào quá khứ. Đời sống hiện đại là gì? Là đường phố lúc nào cũng rồ lên tiếng xe máy. Là những mặt người sát khí đằng đằng lao đi kiếm sống. Là những quán ăn đẹp đẽ sang trọng như nơi vui chơi của các ông hoàng và những cửa hàng sách đủ loại best-seller dịch vội dịch vàng bản in rất nhiều lỗi chính tả... Cái áp lực đó của đời sống cố nhiên cũng làm cho giới viết văn của tôi xao động hẳn lên và một người nhạy cảm như Nghiêm Đa Văn làm sao có thể ngồi yên. Từ những năm thời chiến theo dõi sáng tác của Văn, tôi sớm nhận ra một điều: anh làm thơ ít dần, và về sau gần như bỏ hẳn thơ. Nhưng điều đáng nói là ở chỗ chính anh đã cố ý làm vậy. Một lần nhân có chuyện gì đó liên quan đến Lưu Quang Vũ, Văn buột ra lời thú nhận: “Một trong những thằng khiến tao bỏ thơ chính là thằng Vũ”. Như thế nghĩa là thế nào? Là Văn của tôi chả lơ mơ gì cả. Anh luôn luôn vừa sống vừa quan sát những người chung quanh. Anh không hề có ảo tưởng về mình. Và trong cái sự gọi là bèo dạt mây trôi lang chạ kiếm ăn anh vẫn có những sự tính toán nghiêm chỉnh. Trong khi luôn mồm tuyên truyền cho sự thích ứng thì anh vẫn âm thầm chuẩn bị cho những thay đổi mà không cần lớn tiếng ráo trước một lời nào hết. Trong Văn vẫn có một người anh hùng chưa chịu chết hẳn!
Nhưng đến cái lần anh bỏ luôn cả nghề văn thì đối với chúng tôi quả là một sự lạ lùng không ai lường trước được.
Trước sự tấn công của kinh tế thị trường, bao nhiêu giá trị thay đổi huống chi là giới cầm bút? Từ lúc nào không rõ, trong đám bạn bè chúng tôi, sự khảng tảng bắt đầu xuất hiện, và tới giữa những năm tám mươi, thì tán loạn mỗi người một phương; thậm chí có khi vẫn là người ấy, và anh ta vẫn quanh quẩn giữa đám làm nghề, nhưng đã hoá ra “không phải mình nữa”, tự mình mất hút ngay trong cái làng văn tưởng rất bé nhỏ này. Người đi viết sử cho các nhà máy xí nghiệp để lấy mỗi cuốn vài chục triệu. Người đi làm phim viết kịch với nghĩa làm hàng chiều lòng các ông chủ tỉnh nhỏ. Người chuyên đi bình thơ nói chuyện theo giá thoả thuận... Lại có cách mất hút với nghĩa rõ ràng hơn mất hút vào chuyện làm ăn buôn bán. Theo lời kể của Chu Lai (trong một bài viết in trên Văn nghệ quân đội 12-1996) thì Thái Vượng mà ở trên tôi có nhắc, nhà văn Thái Vượng trở về sau chiến tranh và tâm huyết đầy mình ấy trước khi mất cũng đã sớm tính lại cuộc đời “Sách của anh vẫn in truyện ngắn, vẫn cho ra đều đều nhưng trong con mắt đa cảm của anh đã vắng đi nhiều lắm cái ánh tự tin và mơ mộng. Có lần trong một bữa rượu, anh đã ngậm ngùi nói: “Mình thua rồi. Thua cả chất lượng lẫn số lượng rồi”. Thay vào đó,cuộc mưu sinh lôi cuốn Thái Vượng. “Với sức khoẻ trời cho, anh lang bạt khắp nơi. Khi một mình chống bè xuôi thác dữ, khi mượn xe máy của bạn bè lên tận nẻo biên cương, khi lại nhảy tàu hoả vào tận những nơi thâm sơn cùng cốc”. Về phần mình, Nghiêm Đa Văn cũng bắt đầu một hành trình dài dặc và rắc rối tương tự. Có hồi nghe bảo anh đang làm tham mưu, cố vấn gì đó, xách xe chạy suốt ngày để giúp việc cho một ông trùm bên điện ảnh. Lại có hồi nghe anh chuyển đi làm kinh tế, các-vi-dít đề rõ là chuyên viên thương mại, trông nom quyền lợi cho một công ty nào đó tận trong Nam. Tôi được nghe kể là trong giới âm nhạc có một nhạc sĩ sáng tác cũng giỏi mà buôn bán bất động sản cũng tài, ông đã tổng kết một cách chí lý rằng sáng tác thì thanh cao mà việc kiếm tiền thì đầy sức quyến rũ. Song trong thiên hạ may ra được một vài người văn võ song toàn như người nhạc sĩ kỳ tài ấy. Còn với số đông các nghệ sĩ, bao gồm cả giới cầm bút, tôi chỉ thường xuyên chứng kiến một sự nông nổi tưởng mình làm gì cũng được, và lúc nào cũng tự nhủ giá mà thế nọ, giá mà thế kia, chứ vào cuộc là ngã ngựa! Nghiêm Đa Văn của chúng tôi cũng không thoát khỏi ảo tưởng đó. Vốn người thông minh, nên anh nhìn đâu cũng thấy việc để làm. Khốn nỗi, chỉ giỏi bày mưu cho người khác, chứ toàn tính nhầm cho mình, tính nết lại nghệ sĩ, hay chạnh lòng, hay tự ái, hơi cảm thấy bị xúc phạm là vỗ đít đứng lên, nên việc gì rồi cũng dang dở, tay trắng vẫn hoàn tay trắng, mà loanh quanh mất dăm bảy năm như chơi. Hết bôn ba ở các tỉnh miền Nam, mấy năm cuối đời, Văn quay lại các tỉnh miền Bắc, nhưng lang bạt lên tận Lạng Sơn, Cao Bằng. Thỉnh thoảng gặp lại nhau trên đường Hà Nội, anh hiện ra trước mắt chúng tôi không còn cái vẻ non tơ hồn nhiên như hồi nào. “Trước mắt tôi không còn ông hộ pháp nói cười hỉ hả, luôn luôn tràn trề hy vọng nữa, mà là một thầy Văn khác, khí sắc thất thần, mặt sưng chảy, bàn tay đặt trên bàn bợt ra như tay người chết với những cái móng dài tím tái. Con người đăng ký hộ khẩu ngoài đường phố, con người phải lòng các bãi bia quán rượu tạm bợ ồn ào và những câu chuyện tầm phào không đầu không cuối, con người ấy đang ngồi đó bơ vơ đơn độc”. Gương mặt mà đầu những năm chín mươi Trần Đình Nam bắt gặp ở một quán rượu Hà Nội ấy cũng là gương mặt hiện ra trước mắt bọn tôi, những Ngọc, Vĩnh, Nghiệp, Hồng... của Văn hồi nào. Có thể dự đoán là chắc đang có một sự đổ vỡ trong anh thì phải. Thôi thì thời buổi kinh tế thị trường này, ai muốn làm gì thì làm, miễn dám gánh chịu lấy kết quả công việc, mà cái ý thức tự trọng ấy ở Văn có thừa, nên nhìn theo Văn, những người quen cũ chỉ còn biết kính trọng pha chút ái ngại.
Cuối tháng mười 1996, Văn ngã bệnh. Thận không làm việc bình thường. Từ một nơi xa, một người mới quen chở anh thẳng về Bạch Mai, đến lúc tạm đỡ bạn bè mới biết mà đến thăm. Sau đó, ra viện phải thuê một căn phòng ngay gần đấy để hàng ngày vào chữa ngoại trú, vẫn cái bệnh thận chết tiệt. Song tất cả những ngày sau đó, Văn sống trong sự đơn độc, không muốn ai biết là mình đang sống thế nào. Cho đến rạng sáng 7-6-1997, cái chết ập đến, con người có thời béo tốt bảy tám chục cân gì đó, giờ héo hon chỉ còn một nửa, ai nhìn cũng xót.
Không chút màu mè hình thức như nhiều đám ma đương thời, buổi chia tay Văn đơn sơ nhưng cảm động. Giữa một ngày hè nóng nực chỉ có những người thân và một ít anh em viết văn hoặc làm nghệ thuật cố kết với Văn từ xưa có mặt để vĩnh biệt người bạn xấu số.
Lần này thì mới thật là Nghiêm Đa Văn mất hút hẳn!
Trong những ngày cuối cùng sống trên dương gian, đã có lúc Văn có được một cái nhìn hư vô về cuộc đời mình. Người thầy giáo ấy tâm sự với học trò cũ nay đã thành một đồng nghiệp: “Thoắt cái đã ba mươi năm có lẻ. Hồi 64 vào khu Bốn dạy học, gia tài tao chỉ mỗi cái ba lô đựng vài bộ áo quần, dăm cuốn sách; giờ tao cũng chỉ có dăm cuốn sách vài bộ áo quần và cái ba lô. Ngày trước chúng mày gọi tao là thầy. Bây giờ chính tao cũng không biết gọi tao là gì nữa. Nhà văn, nhà biên kịch, nhà báo, người chào hàng, nhà doanh nghiệp cố vấn... Loanh quanh một vòng giờ lại quay về nơi xuất phát”.
     Tôi không trực tiếp được nghe những lời bộc bạch ấy của Văn nhưng tôi tin anh đã nghĩ như thế. Cuộc đời anh có nhàu nát xẹo xọ thật, nhưng suy cho cùng so với cuộc đời nhiều người chúng tôi chỉ một bên phô ra tanh bành, một bên đắp điếm che giấu chứ thực ra đâu có khác gì nhiều. Dẫu sao thì đây cũng là một con người dám nhìn thẳng vào kiếp sống của mình ngay cả khi biết chắc rằng nó không ra sao. Hơn thế nữa anh còn tính chuyện thay đổi, anh không muốn nó truồi đi giống mọi người, cái ý hướng chống chọi lại số phận ấy đáng quý lắm chứ.
Gia đình phát hiện rằng người quá cố để lại cả mấy bao tải những bản thảo chưa hoàn thành: Đúng là sự nghiệp văn chương của Văn rất nhiều dang dở. Nhưng ở một người lúc nào cũng đầy ắp những ý đồ làm việc thì cái chết nào chẳng là sự dang dở?!
Mấy hôm sau khi Nghiêm Đa Văn qua đời, đôi lúc tôi cứ nghĩ vớ vẩn: giá kể... Vâng, giá kể Văn cứ yên tâm viết lách nhì nhằng như bọn tôi thì có kém ai! Khai thác cho hết cái oai của nghề làm báo, chạy rông ở hành lang các cuộc họp, cùng nữa đến xí nghiệp nọ công ty kia vỗ vai mấy ông giám đốc nửa ngửa tay xin nửa bắt buộc người ta phải cho..., những việc ấy có gì là khó với Văn và đâu phải là chuyện Văn chưa từng làm. Sau mấy chục năm lập nghiệp vất vả giờ đến kỳ thu hoạch, cứ trì một chút là được! Rồi biết đâu chả có lúc thiên hạ lại đồn ầm lên là cái anh chàng Văn bát nháo ấy cũng đang xây nhà rồi, ồ, có thể thế lắm chứ, với Văn điều gì chả có thể xảy ra!
Song hình như tất cả những giá kể ấy là ngược với tính cách của người đã khuất. Trong sự thường xuyên thích ứng với đời, trong Văn vẫn đau đáu một niềm tin: tất cả có thể làm khác, và văn chương nếu rất thích hợp với tuổi trẻ thì cuối cùng vẫn không phải là cái lối thoát duy nhất của một người có tâm huyết.
Lại nhớ có lần Văn đã kể với tôi một cách nghiêm chỉnh:
- Chính ra các cụ đặt tên cho tao là Nghiêm Văn Đa. Nhưng tao không thích, đến lúc đi học phải làm khai sinh, mới đảo ngược lại là Nghiêm Đa Văn. Chả phải mê văn chương gì đâu, mà chỉ đảo ngược cho vui. Mày xem, có chết ai đâu?
Thế thì còn giá kể cái quái gì nữa, Văn nhỉ!


Đã in trong Cây bút đời người 2002