Thursday, February 28, 2013

Một truyện ngắn của Nguyễn Tuân về báo oán: Thạch tinh trong ruột một người







"…đến lúc nào mà đá lại biết nói nữa, thì chúng bay sẽ chết hết "  Kinh Sám Hối

     Dưới đây là một truyện ngắn thuộc dạng yêu ngôn của Nguyễn Tuân, thiên truyện ma quái bậc nhất mà lại chưa hề xuất hiện trong một tuyển tập nào của tác giả mấy chục năm nay.

        Sở dĩ người sưu tầm tha thiết muốn nhiều bạn đọc cùng đọc lại truyện ngắn in ra lần đầu đúng 70 năm trước này vì hai lẽ.





     Thứ nhất nó có những đoạn cực tả về tình trạng thụ bệnh của một con người.

    Xã hội ta hiện  đầy rẫy những người bệnh tật, bệnh nổi có bệnh chìm có; và tổng quát lại có thể coi là một xã hội trong thời hậu chiến bệnh tật.

     Chắc hẳn là sau những trạng thái bệnh bình thường, còn có biết bao nhiêu thứ bệnh kỳ lạ mà chỉ thời hiện đại mới có.

      Hơn nữa, chữ bệnh theo nghĩa đen thường cũng tương ứng với một tình trạng bệnh tật về tinh thần,-- chữ bệnh theo nghĩa bóng

    Với cả hai dạng đó, trước khi bàn chuyện kê đơn chữa chạy, đang cần những người biết miêu tả biết nói ra cho mọi người rõ về bệnh để cùng biết, cùng ngấm, cùng sợ.

    

     Thứ hai truyện nói về sự báo oán báo thù cũng là cái thứ rất nặng nợ trong mối quan hệ giữa người với người thời nay.

    Trong truyện ngắn dưới đây của Nguyễn Tuân, báo oán  là sự trừng phạt kỳ cục với những kẻ lừa dối dẫn đến cái chết của mấy người đàn bà trẻ tuổi.

    Ngày nay đang nẩy sinh những tội ác trên quy mô lớn, động chạm đến số phận tài sản nhân cách hàng vạn hàng triệu người. 

     Các nạn nhân chỉ còn có cách cầu cứu tới những thế lực siêu nhiên. 

    Người ta cùng mong đợi một sự báo oán ghê rợn tột cùng sẽ xẩy ra với bọn ác.

    Niềm tin vào cái công lý mơ hồ huyền bí ấy hình như rất sâu sắc nơi Nguyễn Tuân. Nó buộc ông ở cuối truyện, mượn lời một nhân vật , phải công khai đứng ra khuyên mọi người qua các tình tiết éo le “tìm lấy một ý niệm trong đời sống đạo đức”.

     Tác giả thường bị mọi người coi là một ngòi bút ngang ngược, phá cách, duy mỹ, bất chấp cả những lẽ phải thông thường. Ở đây, qua việc tự nguyện đóng vai giáo huấn, ông có dịp thể hiện một sự “phá cách ngược” nghiêm trang hiếm thấy. 

      Chính nó là cái dư vị kéo dài  khiến tôi tin là thiên truyện đáng được đông đảo chúng ta đọc đi đọc lại và liên hệ với tình hình thời sự.





      Từ cái chuyến đi chơi hội Đèn mùa Xuân năm ấy và đánh Tổ Tôm Người (*) ở làng Nguyệt Tường - về , là cậu Bảy đau nặng. Bệnh lạ quá. Động ăn chút gì vào là thổ ra hết. Thuốc, đến chén này là chén thứ bốn mươi hai -- tính đến cụ lang xóm Bình Xa này là ông danh y thứ mười một --, không chén thuốc nào chịu đi qua cổ họng cậu Bảy.

       Mặc dầu con bệnh cố nuốt nước thuốc mà thuốc không chịu xuống.

       Hễ uống ngụm nào là lại trả ra ngay.

      Nền gạch lá nem dưới giường kia, từ ngày cậu Bảy nằm liệt đó, đã mất cái màu hồng tái cố hữu của nó. Những nước thuốc thổ ra đây đã sơn lên một màu cánh gián dày cộm, mỗi khi gặp kỳ hanh nó lại nứt rộp ra từng tảng cạnh uốn cong. Gặp gió nồm, những tảng sơn đó lại nhũn sũng ra, lênh láng sánh đặc.

     Trông cứ như là thuốc phiện tốt, chan hoà mà không trôi chẩy đi đâu cả.

      Đến thế này thì con bệnh đã phụ thày và phụ thuốc nhiều quá.

      Nước thuốc của đơn nào, cậu Bảy liền giả ngay cho thày đó, không hợp với ai cả.

     Trong khi nằm chờ sự lành vững cũ trở về với thể xác, ở các lỗ chân lông con bệnh vẫn tiết ra một thứ mồ hôi đỏ như máu, mỗi ngày thay đều mấy lượt quần áo mà người vẫn cứ đỏ đẫm ra như máu.

       Máu ấy khô cứng lại, dính bám vào da thịt, mỗi lần con bệnh bị dựng dậy để thay mặc, sự đau khổ thực không biết thế nào mà nói cho hết được.

      Đũng và cạp quần, đường hồ lá sen áo cánh dính bết vào đã đành.

      Lại đến cả đường bâu áo dài cũng phải khéo tay gỡ lắm thì mới tránh được sự nhăn nhó rên la cho con bệnh. Nhục hình đó, sớm chiều ngày nào cũng diễn lại.

      Vào những buổi thay áo và tắm khan cho cậu Bảy, thân quyến đều lánh đi hết. Chỉ có một người đầy tớ già làm việc bên giường.

       Cậu Bảy lo khổ về bệnh thì có một phần và đau xót về nỗi nhục nhã này thì có đến muôn nghìn.

       Không rõ có phải đây là một chứng nan y hay không, nhưng con bệnh tưởng phụ ngay được đời sống bằng một việc quyên sinh, còn hơn là kéo dài ngày chờ khỏi với cái cảnh tượng một phế nhân tanh tởm xấu xí này.

      Hỡi ôi, trông cậu bây giờ, ai dám nghĩ rằng con người ấy, trước đây, đã từng bao nhiêu lần mặc áo gấm lam có vảy bạc và cưỡi một con ngựa màu phấn đạm.

     Cậu Bảy tuy là người của thế kỷ này, nhưng nhất định không dùng ô-tô, mặc dầu cậu thừa sức sắm được - mỗi lần ngừng nhạc (1) ở cổng vườn nhà nào để hỏi thăm tiểu chủ nhân xem đêm trước hoa rụng nhiều hay ít, thì miệng nói ra toàn là thơ và nhời của câu đối cả!

      Con người phong lưu mã thượng ấy, giờ trông đáng kinh tởm lắm.

      Ngày nào cũng vậy, ở các lỗ chân lông, thay cho mồ hôi của một thứ bệnh thoát dương, chưa có tên chua trong y khoa xứ này thời này, máu cứ đều đều rỉ tuôn ra tưởng như không bao giờ cái chất quý ấy ở một người lại có thể cạn kiệt được.

       Gian buồng bệnh, tanh hơn lòng thuyền của người đi bể đánh cá dài hạn.

       Cho người lạ chợt vào đây, cái cử chỉ đầu tiên của người ấy là cứng chân kìm đà bước, ưỡn ngửa người ra sau để đưa tay lên cố mà băn khoăn với một cơn mửa lộn hộc.

          Và nhìn người nằm đờ trên giường bệnh áo quần tẩm ướt đỏ ngòm và dưới gầm bóng loáng nước thuốc nâu cô sánh lại, người ta nghĩ đến một vụ án mạng -- tử thi nằm chờ quan huyện đến khám nghiệm, đối chiếu xác với phép sách Tẩy Oan.

       Thân quyến cũng héo dần trong sự ngậm ngùi.

      Hết lễ bái ở đền này phủ nọ, hết bói toán tướng số thì lại ngờ đến mồ mả gia tiên xem có ai phạm tới không.

      Ông thầy địa lý cũng không hơn gì được ông thầy bói và ông thầy thuốc.

         Cô Chín -- em ruột cậu Bảy -- vốn biết anh mình không phải là một người thẳng thắn, trong tâm tính những lúc ra ngoài, ngờ anh đã dính vào một việc tình cảm ở chỗ đầu sông ngọn nguồn xứ Mường, đã chót chỉ non thề bể với con nhà lang đạo nào ở thượng du, để đến nỗi người ta phải hờn giận mà chài ốm chăng. Bèn nói với mẹ nên đem vàng nhang lên dò hỏi ở những chỗ rừng xanh núi đỏ.

        Cũng vô hiệu. Cũng vẫn không chỉ được cái thứ mồ hôi đó ngày ngày tuôn rỉ ra khắp mình Cậu Bảy.

       Ấy là sự thuốc thang chạy chữa.

        Còn như việc cơm cháo hằng ngày thì con bệnh chỉ chịu uống có nước đậu xanh xanh lòng; còn bất cứ cái gì khác là cũng đều trả ra hết.

        Người, ăn uống như thế, gì mà chẳng teo ngót mãi đi.

        Tứ chi như bốn thân que, khắp mình đường gân xanh nổi lên rõ;

        ổ mắt trũng xuống, xương lồng ngực đội mãi lên;

        cuống họng thắt lại, tiếng nói bé dần, nói ra không ai nghe thấy gì nữa;

         rồi đến thính giác lại càng hỏng quá; không nghe thấy một tiếng động gì của ngoại cảnh lọt được vào và riêng trong đầu mình thì suốt ngày đêm cứ thấy có cái gì nó kêu gào ngay ở đấy --

         lắm lúc nghe sợ quá, con bệnh lại rú lên, vật vã giẫy giụa, trông thương thảm vô cùng.

        Một hôm, theo lệ thường vào thay quần áo lần thứ nhất mỗi ngày cho Cậu Bảy, người nghĩa bộc có tuổi bỗng kêu to lên, làm kinh động cả một gia đình ít lâu nay chỉ còn sống trong âm thầm.

         Y gọi cả nhà lại giường bệnh mà xem.

         Người nằm đây không đỏ đẫm như mọi ngày nữa và giờ lại trắng bệch. Thì ra, không hiểu vì phép sinh lý gì, máu đỏ trong người con bệnh đã hết từ đêm trước và, tuôn ra các lỗ chân lông, giờ chỉ toàn là một thứ máu trắng.

          Lấy tờ giấy bản để lên mình con bệnh một lúc lâu cho nó thấm hút lấy ít máu trắng, người lão bộc thè lưỡi nếm vào mảnh giấy ướt, thấy nó nhạt như vị nước lã, bèn khóc oà lên với một câu: "Thế này thì cậu con chẳng còn sống được mấy chốc nữa đâu. Cả nhà lo liệu đi thì vừa thôi."

        Từ buổi nếm phải một thứ máu không có chất tanh, mặn và thay những quần áo không còn màu đỏ máu như trước nữa, người đầy tớ già xác tín rằng mình đang liệm sống cho một người lả dần về cõi khác.

          Cuối tháng đó, nguời chú Cậu Bảy lật đật về đến nhà, sau khi nhận được gia thư do Cô Chín gởi đi. Ông tức tốc vào buồng bệnh, đem thẳng ngay cát bụi của đường xa vào gian phòng sâm tịch (2), muốn giáp mặt ngay đứa cháu để hỏi chuyện.

          Đã từ lâu, Cậu Bảy vốn không nghe được tiếng gì và không nói được ra tiếng, chú cháu phải lấy giấy mực ra để bút đàm. Tờ giáp (3) cuộc hội đàm thân mật bằng bút này, xem lại y như những lời hỏi cung và những lời thú tội. Gọn rõ và cảm động.

         Chú hỏi: "- Tháng giêng mùa vừa rồi, mày cho ngựa ngày ăn cỏ ở vùng nào?"

         Cậu Bảy, cố thu hết thân lực vào đôi mắt, nhìn ông chú không chớp cố tỏ cho chú biết rằng mình không có điều gì phải minh (4) cùng ai hết.

        Biết đứa cháu có tính gan bướng, ông chú bèn đấu dịu. Bèn viết lại: "Thầy cháu mất đi rồi, lớn nhất trong chi họ nhà ta, chỉ còn có chú. Vì sự mưu sinh, chú phải đi xa luôn. Chú không ở luôn ở nhà được để góp thêm tâm ý vào việc phục hưng gia tộc, thật là một điều lỗi đối với các cháu hàng dưới. Nay nhận được thư của em Chín cháu, kể rõ sự tai biến, chú vội về thăm cháu và cần nhất là hỏi cháu mấy điều, trước khi cháu chết -- chú chẳng cần phải giấu mà không dám nói ngay cho cháu biết rằng sự sống của cháu bây giờ cũng chỉ là việc của khoảnh khắc đây thôi; có kéo dài lắm thì cháu cũng chỉ đậu được đến ngày thu phân tháng sau thôi".

        Đến đây, ông chú chừng cũng bùi ngùi thay cho đứa cháu bạc mệnh, ngừng viết, nhìn Cậu Bảy. Mặt Cậu Bảy rớm lệ. Ông chú viết tiếp:

- Tháng giêng vừa rồi, cháu chơi ở làng Nguyệt Sương?

- Vâng. Chơi Tổ Tôm Người.

- Đúng rồi. Chẳng lúc về đây, tiện đường, chú rẽ vào làng Nguyệt Sương thăm ông Chánh Ba và được nghe một câu chuyện tự ải (5). Người con gái quan Lãnh Tín gieo mình xuống đầm. Rồi ông Chánh Ba lại kể cho chú nghe về phong tư diện mạo một người khách phương xa đến chơi Tổ Tôm Người, khăng khít với một con Thang Thang. Cứ những dáng điệu người và lời thơ hạ chữ đối và gieo tử vận (6), do ông Chánh Ba thuật lại, thì chú đoán ngay ông khách phương xa ấy lại là cháu chú rồi.

     Thế còn cái con Thang Thang ấy? Ai sắm Thang Thang trong hội bài người?

   - Bẩm chú, chính là con gái quan Lãnh.

     Ông chú lịm người đi, tay rời hẳn bút ra. Thế này thì ông hiểu rồi. Chợt trong có một phút của trực giác, ông nhận thấy ngay liên can giữa bệnh người cháu và cái chết đuối của người con gái kia.

     Ông gặng hỏi: "Vậy chớ mày thề thốt những gì với con gái ông Lãnh Tín?".

      Cậu Bảy không trả lời, khẽ thở dài.

       Ông đổi câu chuyện:

    - Giờ tao hỏi về bệnh mày. Thế trong người mày bây giờ nó như thế nào? Kể rõ cho chú nghe.

    - Kể lại cũng vô ích. Thuốc thầy nào chữa nổi. Cháu chỉ còn chờ có chết để tạ lỗi cùng con bài Thang Thang. Việc cô con gái quan Lãnh tự vẫn, cháu được biết từ trước khi chú nói. Chỉ có lửa vạc dầu sôi của một thế giới khác là mới tẩy hết được căn bệnh của cháu. Lửa của cuộc đời này, không đủ nóng để diệt những trùng trong mình cháu. Thôi, ngày giờ của cháu đang bị tính đếm từng li từng phút, chú để cho cháu được yên tĩnh mà nghĩ tới một hậu kiếp của cháu ở ngoài thế giới này.

   - Làm ích được cho đời sống này chút nào, ta vẫn cứ phải gắng, gắng cho tới phút cuối. Bệnh của cháu, tự cổ lai đến giờ, chưa có một y gia cổ kim Đông Tây nào nói đến. Y học Thái Tây thì lại càng không có bàn đến nữa. Nó là ở ngoài khu vực y khoa hiện đại.

       Cháu cứ kể rõ chú nghe. Chú ghi lại để rồi sau sẽ thuật chép ra để chất chính (7) cùng những bậc Biển Thước của năm cõi lục địa. Đã hay rằng việc này là một việc quả báo, một việc âm oán.

       Nhưng biết đâu đấy? Cháu cứ kể rõ. Cháu gây nên tội ác, cháu đau khổ nhục nhã đến như thế, tưởng cũng là đủ cho linh hồn cháu siêu thoát rồi. Đời cháu, vào quãng cuối, thế mà lại còn hơn cả những cuộc đời kẻ khác trọn đời không làm một điều thiện nào và cũng chẳng làm một điều ác nào.

       Cháu cứ bình tĩnh mà kể lại chứng bệnh cháu, may ra có bổ ích gì cho người đồng thời không?

     Tay run run, Cậu Bảy cầm bút.

       Những giòng chữ chằng vào nhau và chữ nọ dính bắt qua chữ khác như chữ phép lá bùa trừ tà.

       Chữ ít, không có linh khiếu, thiếu cả kiến lẫn thức (8), và lại không bác văn quảng học thì có người lại sẽ tưởng đây là một câu thai (9) của sứ Tầu gởi đố và ai giảng được thì sẽ nhất đán (10 )được làm Trạng - theo đúng vào một lời tiên tri của Tả Ao bắt hòn đất nhà mình phải phát vào ngày giờ ấy đây.

      Cậu Bảy kể rằng:

     "Tính về thời kỳ thụ bệnh kể từ hôm người cháu tiết ra một thứ máu trắng cho đến về trước, cháu không biết gì cả. Thân xác cháu ở ngoài Thời Gian và Không Gian. Những chuyện mồ hôi đỏ như máu tuôn rỉ khắp mình cháu là sau này người lão bộc kể lại thì cháu mới rõ đấy thôi. Rồi mới biết kinh sợ và cháu thừa biết là cháu hỏng mất rồi, là đời cháu hết rồi.

      "Máu đỏ chảy cạn hết, thì tiếp ngay đến việc cháu điếc và cháu câm. Ngày lại ngày, cháu nhìn lớp máu trắng tuôn đầy trên mình cháu thay cho lớp máu đỏ trước, tịnh không nghe được ai nói vào một câu nào và cũng tịnh không nói ra với ai một lời nào.

     "Đầu cháu rức nặng như bị đánh đai sắt vào. Ngủ được tí nào thì thôi, chứ hễ thức giấc dậy là như có người la ó trong đó. Tiếng kêu trong đầu rất là phồn tạp hỗn loạn. Có khi như gió ngàn đuổi mãnh thú. Có khi như bẻ bão rượt sóng bờ. Có khi vang dậy như hầm thuốc súng nhỡ bén chạm phải lửa ngoài. Có khi lại xa vắng u tịch như vọng hưởng của đàn chiêu hồn bên sông không có đò chở.

      Ở trong đầu thì vang dậy kinh động như vậy mà nhìn ra quanh mình để lắng lấy tiếng một cái gì quen thuộc của hằng ngày nó có thể làm bạn với mình và nhắc cho mình nhớ rằng mình vẫn là người của cuộc đời này, thì cháu chỉ thấy có im lặng.

      Những bóng người qua lại của cả nhà này đều câm cả. 

       Những hình ảnh đó cử động và mấp máy môi như người trong trò phim câm.

      "Mất đến ba tuần khổ loạn như thế ở trong đầu.

      Được đúng một ngày một đêm, trong đầu cháu tắt hẳn tiếng kêu.

      Nhưng đến ngày sau thì trong người cháu lại có một việc biến rất mới lạ. Là ở trong bụng, lại có tiếng người rì rầm lào xào.

       Hình như đấy là một cuộc nói chuyện tay đôi của hai con người. Không rõ họ là già hay trẻ, đàn ông hay là đàn bà. Vì cái tiếng nói của họ là một thứ âm thanh không có tuổi không phân ra giống cái giống đực.

      Họ nói tuy bé nhưng rồi sau cháu cũng nghe được. 

      Có lẽ vì cháu đã thành một người điếc đối với tất cả biểu diễn của cuộc đời bên ngoài bằng tiếng động, có lẽ vì thính giác của cháu chỉ còn có thu dồn vào để mình lại lắng cái tiếng của cuộc đời bên trong thôi, có lẽ vì thế mà cháu đã nghe nổi những cuộc đối thoại của họ trong bụng cháu chăng? Buổi sớm họ cười đùa, buổi trưa họ hờn giận, buổi chiều họ cãi nhau xỉ vả nhau để lúc khuya khoắt thì lại làm lành và cợt nũng nhau. Không rõ họ có ngủ phút nào trong người cháu không, chứ hễ cháu thức lúc nào là nghe thấy họ kể lể than vãn khúc khích lúc ấy.

      "Một buổi nặng bụng buồn tay quá, cháu có đem việc này kể ra giấy cùng tên nghĩa bộc vẫn luôn luôn có mặt ở bên giường cháu. Ngay chiều ấy, cháu nghe thấy một cuộc than khóc vật vã của họ, tiếng thê thảm đưa từ dưới lên trên đầu, rung mạnh các thớ màng óc. Cháu nghe rõ mồn một. Câu của người thứ nhất:

    " -Này, nó định trục hai đứa ta ra khỏi lòng nó đấy.

    " Câu của người sau:

    " - Sao biết? Và nó định dùng thuật pháp gì? Lòng nó là quê của ta rồi. Một vào nổi là ở mãi, trăm ngàn năm cũng không ra nữa. Chỉ có nó chết, là ta mới chịu rời đi đâu thôi. Chúng ta mà vào ngồi vững được ở đáy lòng nó thì càng là việc Giời. Giời đã bảo ta vào thì rồi cũng chỉ có Giời là bắt ta ra được thôi. Chứ thứ nó thì làm gì nổi.

   "Đến đây, hai người lại hạ thấp giọng xuống.

   " - Tao nghe thấy người nhà nó đang định cho nó ăn thịt chó để đánh bật chúng ta ra ngoài. Người nhà nó, chắc đoán ra hai đứa ta là ai rồi. Vậy chớ mày có sợ mùi thịt chó không?

   " - Nếu thế này, thì cơ nguy đã đến nơi rồi. Ra ngoài, lạnh và lạ lắm. Mà rồi ăn vào đâu, ở vào đâu.

   " - Vậy mày sợ? Tao thì yên trí lắm. Nó muốn làm gì thì làm. Tao vững lắm. Không ra.

   " - Người có chất dương như anh, không sợ đã đành. Nhưng tôi thuộc về chất âm, nghe cái tin này, rất lấy làm buồn sợ. Chúng ta sẽ phải chia rời từ đây. Ra rồi thì khó mà vào lắm. Những lúc tưởng nhớ đến nhau, tôi ở ngoài sẽ thông tin với người ở trong bằng cách nào? Chẳng nhẽ biệt nhau lại có nghĩa là mất hẳn?

    "Đến lúc này, cháu mới rõ rằng trong lòng cháu, có cả một người đàn ông và một người đàn bà và họ đang xây dựng một cái gì trong người cháu. 

      Cháu lấy làm nghĩ nhiều. Cháu liền cho gọi lão bộc vào hỏi. Y cũng nói lại rằng ở nhà ngờ bệnh cháu thuộc về âm loạn và có người mách cho rằng muốn trừ tà khí thì không gì bằng thịt loài cầy và sắp nấu cầy cho cháu ăn.

      Cháu cười và bảo lão bộc nên thôi việc ấy đi. Cháu nghĩ rằng đằng nào thì cháu cũng tận số đến nơi rồi. Có trừ khử được những quái vật ấy ra khỏi lòng dạ mình thì cuộc đời của cháu ở cõi đời này cũng vẫn cứ phải tắt hết như thường. 

      Trước, lúc còn lành mạnh, đã gây nên điều lỗi với đàn bà; giờ, người đã bạc nhược hao mòn đến thế này thì còn nên gây oán luỵ làm gì với một người đàn bà khác - mặc dầu người đó là thuộc về giống yêu, giống quái đang mượn cái lòng bị hình phạt của mình để làm một nơi chung họp với một con quái khác. 

     Không phải là cháu nghĩ đến sự báo thù của giống yêu quái này mà cháu sợ đâu. Điều oán của cháu gây nên ở đời thực tại này, cháu tin rằng cháu đã trang trả xong bằng cái chết mòn này rồi.

     Nhưng cái tương lai của cháu là ở ngoài đời thực tại này kia.

     Công việc kiến thiết của cháu lại phải ở ngoài thế giới này.

      Chết trong bây giờ ở đây, để mai kia cháu sẽ gặp lại con gái quan Lãnh ở chỗ khác để lập lại với nàng một cuộc sống khác công bằng hơn và đẹp hơn.

    "Bây giờ cháu nhờ chú một việc này. Là chú sẽ cho táng cháu ở mé gò Bạch Ảnh, ở bờ phía đông đầm làng Nguyệt-Sương, gần ngay chỗ con quan Lãnh gieo mình. Các bề trên trong gia tộc có gì phản đối về việc chôn cất này, chú thề với cháu là phải làm theo ý nguyện của cháu. 

      Thôi, lạy chú, chú ra đi. Và cho đào huyệt sẵn đi thì vừa. Cái chết đã dâng lên đến nửa phần người cháu rồi."

*

     Lúc Cậu Bảy vừa thở hơi cuối cùng, quạ ở tám phương trời rủ nhau bay đến sao mà nhanh và nhiều đến thế.

       Những cây và các luỹ tre các làng phụ cận bỗng hoá ra màu đen cả.

     Ở những cây đen ngòm ấy, loài ác điểu ngày đêm kêu không ngớt tiếng.

    Trông thi hài Cậu Bảy, người thương tiếc thì ít mà sợ tởm thì rất đông.

     Trời là một đấng biết tha thứ, biết xoá bỏ, đối với một người đã biết hối lỗi là gì rồi, sao Trời lại còn bày thêm ra một việc thảm mục (11) đến thế nữa.

      Cái thây Cậu Bảy ở giữa giường thực không còn hình nữa. Ra từ lúc còn sống, xương Cậu Bảy đã rũa mòn dần mà không ai để ý tới.

       Thành thử cỗ quan làm cho người chết hoá ra to rộng quá. Bỏ bao nhiêu cỗ tổ tôm, bao nhiêu cuốn lịch, bao nhiêu giấy bản, bao nhiêu trà phát du (12) vào đấy cho vừa. Nói cho đúng ra, thì phải đến năm cỗ thi hài Cậu Bảy nữa thì mới chắc kín lòng săng.

     Người ta lại phải thửa áo quan khác. Nó lại chỉ bé bằng thân hình cái tiểu sành có viền đường gấm hoa chanh. Thành ra lúc đám khởi hành, việc hung táng mà người không rõ chuyện lại tưởng là cát táng (13).

     Lúc hạ huyệt, quạ trên một giời cao, một loạt chà xuống mép bờ đầm bâu cứ đen đặc lại. Đứng xa trông, bờ đầm Nguyệt Sương như có người viền một vành khăn đen tròn không nhoè lép lấy một nét.

     Việc tang ma chôn cất người cháu quá mấy tuần cơm cúng rồi, bấy giờ ông chú mới ngồi ở buồng sách tại mái tây biệt thự đã được xông hương trầm mà giở cuốn Gia huấn trong họ nhà ra ghi vào đấy những dòng dưới đây:

    " Đây là những lời quý báu ta để lại cho lũ con chính thống của ta và cho lũ cháu trong họ nhà. Tụi bay, đứa lớn rồi thì phải đọc lấy mà làm trọng và đe mình từ ngay phút này; còn đứa nhỏ thì noi các đàn anh mà gắng hiểu ngay để sớm biết mà e sợ.

    "Việc Cậu Bảy bị chết trong cảnh nghịch biến thương thảm - ta đã có thuật rõ kèm vào đây, ở chương Cố sự nơi cuối tập Gia huấn này - là một điều cảnh cáo của ý Trời. Ta vốn nặng lòng với những điều thuộc về đạo đức thường, ta rất lấy làm đau xót cho danh dự gia tộc đã bị Cậu Bảy làm tì ố. Người chết đã biết sám hối. Ta cũng đã biết tha thứ. Nhưng còn ta còn sống, còn lũ bay còn sống đó!

    "Nhân việc tai biến vừa xảy đến trong họ, ta lại nhớ đến một việc cũ.

    "Trước đây, ta đã nhiều phen lên rừng xuống biển để tìm chân nhân.

     Một chuyến đò đi bể, còn độ phần tư đường, thì ghé được tới đảo có người bên ta bị bọn giặc bể Tầu Ô bắt.

     Ta được thoát chết vì cái đức bình thản của ta trước sự rộ nạt của giáo mác lũ giặc. Đứa đầu đảng bèn đãi ta vào bực khách, lúc ăn ngủ ra vào đều lấy các thứ lễ tiết đối với cao sĩ ra mà dùng. Ngoài những lúc chúng phải bóc lột thuyền buôn để duy trì cuộc sống của chúng trên mặt nước cả, đầu đảng bọn cướp thường vời ta tới bàn để hỏi về thiên văn, địa lý và nhân luân.

     Hắn biết rằng hắn hỏi ta chẳng phải để mà theo; ta biết rằng ta có nói ra, cũng chẳng phải là để cho hắn nghe.

    Nhưng đã đãi nhau là đám có chữ, lấy chữ ra mà nói chuyện thì hỏi đến đâu ta đều trả lời rất thành thực và hắn cũng lấy lễ độ cất những câu ta viết ra.

     Từ đấy, hắn đãi ta vào bực thượng khách.

     Một buổi thuyền Tầu Ô vào vịnh Hạ Long, ghé đảo Cát Bà. Đổ bộ, hắn đưa ta vào hầm đựng của, ở trong một hang núi cách bờ độ lụi hết hai nén hương. Ta vào, chân tay bị vướng bởi vàng lụa, ngà voi, sừng tê, quế chính sơn, mật ong, sa nhân và nhiều thứ nữa.

      Hắn hỏi ta muốn gì và cười, tay giơ thẳng vào đống của cướp.

      Ta cũng cười, hai tay giơ lên giời, nghĩa là đụng vào trần hang.

     Ta để ý xem xét thấy bị mắc kẹt vào bọn châu báu phi nghĩa kia là một cuốn sách đã gần mục. Giở ra xem thì đấy là một tập lữ ký của Trần Dĩ Luyện - một hàng nhân trong một đoàn tuế cống sứ (14) qua Trung-Quốc, về đời Thiệu-Trị -- nói về những điều tai nghe mắt thấy, bên cạnh con đường đi sứ ở Tàu (Ta vốn có khiếu riêng để nhớ những dã sử của nước nhà).

      Ta không đủ thời giờ để hỏi tên cướp xem hắn bắt được sách này ở trường hợp nào. Ta chỉ kịp bảo hắn rằng vàng bạc của hắn định cho ta, ta không lấy gì làm thú bằng việc xin hắn cuốn sách ấy.

       Hắn thuận và cố giữ ta ở lại.

       Ta nhất định bỏ hắn và thoái thác là nhớ quê cũ lắm. Sau hắn phải chịu, cho ta xuống thuyền nhỏ nhìn ta xuôi về Hải Ninh (15) với một cuốn sách cũ.

      "Sách đó, Cậu Bảy, vì thiếu tiền đi chơi đã bán cho một người nước Hiệp Chủng du lịch qua xứ mình.

       Ta tiếc giận vô cùng. (Nếu tụi bay mà tiền và lực có dư và lại muốn nhìn thấy sách đó, ta dám cam đoan với lũ bay rằng sẽ thấy sách đó ở tủ kính một viện bảo tàng Mỹ nào, chứ không sai).

       Sách mất, nhưng trí nhớ của ta thì mất sao được. Ta đọc sách đến đâu, chữ cứ như chôn vào ruột. Vì thế mà ta mới nhớ nổi chuyện lạ của quan Hàn Lâm Trần Dĩ Luyện chép được ở dọc đường đi sứ, để kể nữa - không sai lấy một chữ một lời -- cho tụi bay nghe lại:

     "Đất Giang-Tô, nhiều người đưa lụa trắng ra cho đoàn sứ nước ta đề thi. Thi (16) hay và chữ đẹp quá, họ đều lấy làm cảm kích. 

      Một nhà kia thanh bạch, không biết lấy gì tạ lại người đi qua chỉ có một thuở, bèn đem luôn một cái thảm sử trong gia tộc ra mà kể, tưởng làm như thế cũng là đáp được cái duyên tri ngộ trong muôn một.

      Tổ họ ấy ở đất ấy - tên người và tên đất, ngài Phó Công Sứ Nguyễn Đại Nhân có ghi rõ --, vốn là người có tài và có duyên, lúc ra ngoài, quanh năm chỉ đi chơi, chẳng mấy khi phải ăn bữa nào ở nhà. 

      Những lúc ra ngoài, lại hay thề thốt với rất nhiều giai nhân bên đường. 

      Cơm thiên hạ hay có nhiều sạn sỏi, ăn nhiều vào, sỏi sạn ấy tích lữy và đúc lại thành những hòn cuội trong dạ dầy. Ruột ông tổ nhà họ ấy đã có cuội. 

      Kế đến một lần, ông tổ nhà họ ấy dám thề nhảm với một nguời đàn bà và rủi lại gặp giờ thiêng, sau khi uống láo những giọt nước mắt của người đàn bà vào ruột, những hòn cuội cũ kia bèn hoá thành thạch tinh (17). 

      Những thạch tinh ấy biết nói chuyện và biết làm hại người sống. Nó phá từ trong lòng người ta mà phá ra. Phá hại lúc còn sống chưa đủ, nó lại còn theo rồi đến lúc xuống huyệt nữa kia. 

      Vì thế mà thi hài tổ họ ấy đã mai táng xong xuôi tưởng yên ấm, bỗng một đêm về sáu tháng sau, nó bật lên như có kẻ cắm cốt mìn vào mà bắn.

     "Có lẽ hai con nguời biết nói chuyện trong ruột Cậu Bảy là giống thạch tinh đó.

      Đời Cậu Bảy, tung tích bôn tẩu hồng trần, chắc trong bụng không thiếu gì sỏi sạn của cơm thiên hạ. Và nước mắt thiêng Cậu Bảy uống liều vào trong cơn trí trá với lòng người, chính là nước mắt của con gái quan Lãnh Tín làng Nguyệt Sương đó.

     "Lũ bay nên khớp hai chuyện chênh nhau về cả thời lẫn không-gian, nhưng đều chung một lý do huyền bí, để tìm lấy một ý niệm trong đời sống đạo đức.

   "Ta góp việc này vào tập Gia huấn, tự coi nó như một điều cần đáng thêm vào thập điều trong gia pháp. Lũ bay khá vâng theo”./.



GHI CHÚ VỀ VĂN BẢN

      Sinh thời Nguyễn Tuân, các truyện Yêu ngôn đã viết chỉ mới kịp đăng báo chứ chưa được ráp thành tập. Dựa trên ý đồ và tài liệu sẵn có của tác giả, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã tìm cách dựng lại Yêu ngôn rồi khai sinh cho nó thành một tập sách riêng. Yêu ngôn in ra lần đầu ở nhà xuất bản Hội Nhà văn 1999.

      Chúng ta có dịp đọc lại ở đây Đới roi, Rượu bệnh, Xác ngọc lam, Loạn âm, Lửa nến trong tranh, ngoài ra còn có Khoa thi cuối cùngTrên đỉnh non Tản (lấy từ Vang bóng một thời ), Tâm sự của nước độc (lấy từ Chùa đàn).

       Song theo chúng tôi tìm hiểu, Yêu ngôn không chỉ có vậy.

       Thiên truyện trên đây in ra lần đầu ở một tập sách mang tên Thơ văn mùa xuân ( 1943 ), vốn là một thứ sách tập hợp sáng tác của nhiều người khác nhau. Điều đáng chú ý là trong truyện này, tác giả đã ghi chú là sẽ cho in Tổ tôm người và ở cuối truyện thì có ghi rõ là rút ở tập Yêu ngôn. Tiếp đó, tới đầu 1945, trên tạp chí Thanh Nghị số đặc biệt ( 100,101.102,103,104) , còn thấy NXB Tân Việt quảng cáo rằng đã in của Nguyễn Tuân một tập ký mang tên Xe đào ( ghi rõ bản thường mỗi cuốn 7 đồng ) và sẽ cho in Cậu lãnh một.

       Xe đào nói ở đây tức là xe điều, một quân trong cỗ tam cúc; còn lối gọi nhân vật là “cậu lãnh một” cũng xui người ta liên tưởng tới cách gọi nhân vật trong Chùa đàn.

    Lại một lần nữa chúng ta thấy sự liên tục của những mô típ và chất liệu.

     Bởi vậy mặc dù chưa tìm thấy các cuốn sách trên trong các thư viện ( thậm chí Cậu lãnh một có thể là mới rao thế thôi, nhưng tác giả chưa cho in, thậm chí chưa viết ), chúng tôi vẫn muốn tin rằng có cả một mạch tư duy “ kiểu yêu ngôn “ mà vào khoảng 1942 - 1945, Nguyễn Tuân đã theo đuổi.

     Có khả năng cả loạt tác phẩm đã được thai nghén, và dù chỉ một số đã xuất xưởng, số ấy cũng nhiều hơn những truyện trong tập Yêu ngôn chúng ta đang có.

       Thiên truyện Thạch tinh trong ruột một người, in đúng như văn bản đã tìm thấy, kể cả cách viết hoa trong một số trường hợp ; chỉ riêng cách viết một số từ, chúng tôi sửa theo quy định chính tả hiện nay. Chú giải đầu tiên của tác giả đánh dấu hoa thị, các chú giải sau đều là của người sưu tầm.



Chú giải

(*) Xem truyện Tổ tôm người sẽ đăng ở Thơ văn, tập mùa hạ

(1 ) tức là dừng ngựa

(2) sâu và vắng

(3) Ngày nay hay viết : tờ nháp

(4) làm rõ,cắt nghĩa

(5) Cũng có nghĩa tự tử tuy nghĩa ban đầu nói rõ là tự thắt cổ

(6) Cái vần gieo đến mức tuyệt vời . Tương tự như tử công phu là hết sức công phu .

(7) Gạn hỏi để tìm câu trả lời đúng

(8) Kiến : điều thấy ; thức : điều biết ; đây chỉ cả kinh nghiệm lẫn hiểu biết qua sách vở

(9)Câu đố

(10) Một ngày kia

(11) Đau xót cho con mắt ( khi phải chứng kiến những chuyện thương tâm )

(12) Chúng tôi chưa tra cứu được

(13 ) Người chết chôn xuống lần đầu gọi là hung táng , bốc mả chôn lại gọi là cát táng

(14) Đoàn đi cống theo chu kỳ hàng năm ; hành nhân , nghĩa đen là người đi đường , nhưng đây chỉ người phiên dịch đi theo các sứ bộ

(15) Tên một tỉnh cũ sát biên giới Việt Trung , sau nhập vào thành tỉnh Quảng Ninh

(16) Đầu thế kỷ XX, trong ngôn ngữ hàng ngày , nhiều người vẫn gọi thơ là thi .

(17) Chỉ phần tinh tuý của đá






























Tuesday, February 26, 2013

Hà Nội tháng 2 1973




Nhật ký chiến tranh








4/2


     Trong lúc này vẫn không thể quên được các
vấn đề cơ bản như vấn đề  trí thức.




    Nhàn: Tôi khổ tâm lắm. Tôi không dám tin gì
cả.


    Khải: Tất nhiên, mọi chuyện ngày mai có thể
là vẫn thế thôi. Nhưng tôi cũng mong rằng ông sai, tôi sai, nghĩa là mọi chuyện
lại thay đổi theo kiểu khác. Ví dụ như về các chuyện hòa bình này nhớ. Hôm qua
tôi ngồi ở nhà Nguyễn Thành Long, ngồi bàn, thấy không ngờ hòa bình lại có thể
gọn ghẽ như vậy. Thế có phải là có gì ngoài mong ước không. Lãnh đạo một cuộc
chiến tranh như thế này khó lắm chứ. Thằng Mỹ nó cũng biết không phải nó đứng
bên bờ vực thẳm, mà là mình bên bờ vực thẳm. Nó biết rằng mình đã bị lừa nhiều
rồi. Rằng mình rất cay mấy tay kia (Cụ Hồ hồi 46: Thà ngửi phân tây còn hơn dọn
cứt cho thằng Tàu, nhưng biết bao giờ hết mùi) Rằng cơ sở kinh tế của mình khốn
khó.Thế nhưng mà nó vẫn chịu mình.


    - Thế nghĩa là có một cái gì đấy thuộc về
bí mật của giới lãnh đạo Bắc Việt? Tôi cũng nghe thằng Chu nói rằng ông Duẩn rất
ghê, đến nỗi Chu chỉ sợ ông ấy bị lật.


   - Không, cái ông này nói thì bao giờ cũng có
những khía cạnh mới (như ông ấy nói về sử, dân tộc mình nhuộm răng đen, không
bó chân, làm cho nó khác người Trung quốc) cho nên, vấn đề không phải chỉ là
nói, vấn đề là làm cơ!


    - Tôi thấy cái cách làm ăn như của mình
không được. Phải tạo điều kiện cho giới trí thức làm nhiệm vụ kích thích, nhiệm
vụ nói lên một tiếng nói thách thức....


    - Không, ông ơi, chính những người như
Kíssingger lại nói nhiều đến quyền lực. Tay mưu sĩ ấy rất thích đe dọa, rất coi
thường quần chúng. Quần chúng là cái gì đâu, Quốc hội Mỹ làm được việc gì đâu.


   - Dẫu sao thì vẫn phải nói đến trí thức.


   Ví dụ như trong tác phẩm của anh, hay nói đến
chuyện khôn dại là đúng thôi. Điều tôi lo ngại chỉ còn là chỗ này. Làm sao để
người ta khôn lớn, chứ không phải là sự tính toán lặt vặt.


   - Đúng, chỗ ấy thì đúng. Chính là tôi thấy
dân mình lại quá ít suy nghĩ, quá ít trí tuệ. Người mình hay thay đổi lắm, nông
nổi, nhẹ dạ, cả những người ghê gớm nhất cũng hay thay đổi. Còn tin vào cái gì
được nữa? Cho nên tôi cứ nghĩ được cái gì, biết cái ấy. Tôi không thể nào xây dựng
được điển hình.


   - Sao có lúc, anh nói rằng ông Đồng rất tuyệt
vời. Rồi có lúc, các anh lại nói ông ấy rất vớ vẩn (có mỗi cái trò: "Các đồng
chí viết không bằng tôi!")


  - Thì ông phải biết rằng chúng tôi là cái dân
văn nghệ bốc phét. Có lúc tôi vui, có lúc tôi buồn. Khi tôi khen người này hết
lời. Cũng có lúc tôi lại chê thẳng cánh. Chúng tôi là như thế. Bao nhiêu chuyện
tôi nói với ông, lẽ ra đều nên viết ra cả.


    ... Cái thân anh văn nghệ báo chí ở cái xứ
Đông Nam Á da vàng mũi tẹt này thì khổ lắm. Như vừa rồi Kíssingger sang Thái
Lan ở sân bay xuống, nó không thèm tiếp các nhà báo, nó mới thả một lô chó ra,
chó cứ sủa các nhà báo đi thôi.


 6/2


    Chiều
nghe ông Đồng nói chuyện.  Một sự loanh
quanh, không biết chính sách là hoà bình hay chiến tranh. Một sự răn đe, rằng  cẩn thận không có Nhân văn Giai phẩm.


   Bùi Bình Thi: Đề phòng giai cấp lãnh đạo Bắc
Việt ngủ lì trên thắng lợi!


   Nhàn: Có nhiều chuyện, hồi trước chịu được,
bây giờ không chịu được.


   Khải: Thế thì anh chết thôi. Anh có thấy
không, hiện nay các nước nó bò sát mặt đất mà ca ngợi mình (Bà Gandi: Thử xem
người châu Âu mà đổ máu như vậy, thì người ta có chịu không?). Mà càng như thế,
tức là càng chứng tỏ đường lối của mình là đúng đắn. Anh mà nói ngược, anh lại
càng bỏ mẹ. Rồi nay mai, còn học chính trị, còn là nhồi nhét mọi chuyện vào đầu
óc.





    Ông Lê Duẩn vào trong 559: Bây giờ mà đòi hỏi
địa vị, hưởng lạc là tàn ác.


    Ông Tố Hữu: Hôm qua không đi miền Nam tội một
-- Hôm nay tội mười


...


   Tôi biết sống sao đây? Những hiểm hoạ trong
thời bình sẽ rất khủng khiếp. Cái ác trong hoà bình sẽ biến hóa khôn lường.
Nhưng biết làm sao được, mọi chuyện là vậy.





10/2 (2 tuần sau hoà bình)


     Cán
bộ trung cấp tập họp, nghe nói về vụ chống Đảng.


     Khải : Xem mới thấy các ông ấy, khi phun
ra nhau, cũng khủng khiếp lắm.


    - Thế họ có gì là xấu, hay họ chỉ khác về
quan điểm?


    - Bán bí mật cho nước ngoài, phản bội, phản
quốc, thế là xấu quá rồi còn gì? Ở các nước khác, người ta còn mang xử công
khai nữa!


...


     - Cho nên, tôi chỉ thấy tốt hơn hết là anh
nên yên tâm với công việc đã có. Không nên biết nhiều. Biết nhiều quá, lại sinh
ra thắc mắc. Yên chí làm một người lao động bình thường.


     - Tôi cũng nghĩ rằng chính quyền này là
chính quyền của các anh, hết những ông Lê Duẩn, Trường Chinh, lại đến các ông Nguyễn
Lam Vũ Quang. Lớp già như thế nào, thì lại đẻ ra lớp trẻ như vậy.


    - Phải, nghĩ thế là phải.


   - Nhưng nhỡ ra, chính giữa các ông ấy nổ ra
mọi chuyện thì sao?


   - Không, không thể có chuyện gì cả, vì trong
số đó, đã có một thiên tài rồi.


     -…


    -  Nghĩ mọi chuyện lắm lúc cũng không biết đằng
nào mà ho he cả. Nó là cả một guồng máy. Người khá nhất trong những người vừa
qua, rồi cuối cùng cũng thành một người vô hiệu.





      Đôi lúc, tôi cảm thấy như có vẻ mình nghe
được một điều gì đấy thuộc về đời sống tinh thần của đất nước nói chung. Tất cả
hôm nay sẽ  là như hôm qua, như chiến
tranh, như trong mãi tận chiến trường. Nhưng vẫn là có những dấu hiệu của cái
gì đó khang khác. Ví dụ như đây là dấu hiệu của những ngày này. Người ta đang bất
mãn, đang đòi hỏi, người ta đang muốn đánh giá lại, suy xét lại mọi thứ. Cái
yêu cầu của cấp dưới thì bao giờ cũng hơi quá lên một ít. Yêu cầu của trên lại chỉ
muốn giữ một sự chỉ đạo, chỉ huy đúng như hôm qua khồng có gì thay đổi cả.


11/2


    Chủ
nhật đầu tiên sau tết.


    Đêm
thứ bảy hôm qua, tôi đến nhà những người công nhân đường sắt. Quyền, một người
nông dân, đi làm cách mạng, chân thành và dại dột. Nhuận và cái khu nhà mênh
mông trong Nhà hát nhân dân. Tôi chỉ có họ.


   Ga Hà Nội lại đông. Những đám người tụ tập đầy
đường (Quyền: Toa tầu bẩn như lòng đường nhựa. Năm nay, bao nhiêu người khu Bốn
về thăm nhà!).


     Sáng chủ nhật, tôi và Tính ngồi bàn nhau định
đến thăm một trận địa ở giữa sông. Tính giở ảnh vợ con ra xem (những đứa trẻ,
người ta ghép cho nó đến lắm khả năng và ý nghĩa!)


    Mấy người bạn của Tính đến chơi. Hiệu,
trung đoàn phó, một D trưởng, 1 C trưởng. Trông ba người ra ba dáng khác nhau.
Một cán bộ chỉ huy kiểu Tsapaev nông dân, thô tục, nhưng lại sắc sảo. Một anh
chàng quê mùa, ngậm miệng như cóc. Một anh chàng học sinh duyên dáng mới ra Hà
Nội đã sắm dép nhựa. Họ rủ nhau đi xem B52 (trong kia, thấy nó thả từng dây,
bây giờ mới tận mắt nhìn thử xem nó thế nào) Họ còn nói chuyện về chiến trường,
những ngày E27 vào tận Hải Lăng.... Trên người cậu D trưởng, là một chiếc áo của
địch. Loại áo vi ny lông, nhưng may theo kiểu va rơi, và cung đã hơi cổ. Anh
khoe một hôm, mưa rất to, cái áo cũng không ướt.


    Hỏi đường đi xem B52 xong, họ hỏi đường ra
Hàng Trống, may những bộ quần áo vi ny lông. Cái cảm tưởng chính: họ là những
người quá tự do. Họ làm chủ cái đất nước này.





     Tôi đi cắt tóc. Từ chuyện rẽ đầu ngôi, ra
đủ mọi chuyện.


    - Thôi cần gì đầu ngôi, để cho gọn là được.


     - Không. Khối anh chải đầu chải óc cẩn thận,
ăn mặc đẹp, mà nói năng không ra sao cả.


    - Bây giờ chính phủ còn đang bận bao nhiêu
chuyện, chưa dạy được. Hoà bình được ít ngày, mấy cái thằng trong kia lại còn
phá thối. Nhưng mà thầy nó theo mình rồi, thế là được rồi.


      (Lại nhớ lời ai đó nói cuộc chiến đấu của
dân tộc làm cho người dân thường của mình cũng có những hiểu biết rất đặc biệt)





     Mai 12/2, ngày trả tù binh Mỹ (140 tay Mỹ
về nước!) ở bên sân bay Gia Lâm.Từ ngày người phi công Mỹ đầu tiên bị bắt đến
hôm nay đã gần 9 năm,một quãng đời người, dài lắm!


   ... Ngày mai, các trường Hà Nội khai giảng.


    Hôm nọ, tôi đã thấy các em ở trường Hàng
Than quét lá, thu dọn trường. Bọn con trai lấy chổi phi trên trời, như những
chiếc máy bay.


     Hôm nay, tôi thấy học trò Chu Văn An đến
trường dọn dẹp, trở về, các em lại chui vào cái bể nước giữa vườn hoa ( nay là
vườn hoa Tây Hồ ) rửa ráy.


     Những em bé đi đường bây giờ, sao không thấy
vẻ thư thái, như lũ chúng tôi hồi nhỏ. Các em băm bổ vội vã. Mấy em con trai ra
đường, gạ chúng tôi đèo xe hộ. Cách sống của ngày hôm qua, thời đi sơ tán.


      Thư, em tôi, kể trường nó chỉ lớp 10 là
được ưu tiên bàn ghế. Lớp 9, lớp 8 thiếu. Một số lớp học sinh lại phải lấy loại
bàn ghế nhỏ  chỉ thấy ở các vùng quê.





     Buổi tối, lâu lắm mới mò đi xem nhờ Vô tuyến
truyền hình. Một chương trình ca ngợi đất nước. Và một người con gái, mà bây giờ
mọi người đều nghĩ là tiêu biểu cho Hà Nội. Cô hát bài Đường chúng ta đi.


     Bài này, có lúc, do một chị diễn viên cũ
hát. Chị là một người không đẹp, nhưng tiếng lại đẹp. Chị hát nhiều trên đài.
Trong tiếng hát của chị, ra một người từng trải. Và một đất nước từng trải.


     Đằng
này, người diễn viên non dại và qua giọng cô, người ta lại nghĩ về một đất nước
trẻ trung.


    Đất nước là tất cả những cái đó, là cả những
người mẹ lẫn những em bé, cả tiếng phát thanh trên đài, tiếng xe bò kẽo kẹt triền
miên, đất nước là mặt đường lép nhép, và có lúc bụi mù, là sắc vàng hoa cúc, là
màu cờ đỏ trên những đống gạch đổ, là những cành xoan đầu xuân chỉ còn những
cành, nhưng đã chớm những chồi non -- đất nước là có cả lụi tàn và hy vọng!


     Chỉ nghe đài phát thanh cũng đủ hình dung
những đổi mới đến với Hà Nội. Nhiều bài hát cũ được hát lại. Những người lớn tuổi
nhớ đến hoà bình lần trước cuối 1968. Lần trước, ai cũng nghĩ chiến tranh hết hẳn,
thì chiến tranh quay lại . Lần này, mọi người cứ nơm nớp -- biết đâu hoà bình lại
bền lâu!





     Dạo này, tôi và bạn bè của tôi thường hay
nói đến tính cách người Việt Nam. Có một cái gì ở trong đó, mà chúng tôi cảm thấy
cần nhìn thẳng vào, cần giải thích.


      Người
Việt Nam là hời hợt hay sâu sắc? Người Việt Nam dũng cảm, nhưng dũng cảm như thế
nào? Người Việt Nam nhẫn nhục. Người Việt Nam cần cù v.v.... Có một cái gì gọi
là ý chí?


       Người nước ngoài ca ngợi Việt Nam nhiều
quá. Đất nước thật sự vinh quang. Hình như đối với một số ai đó, vinh quang chỉ
là những hư danh. Mỗi người đang sống hết sức nhọc nhằn, có thể nói là thân tàn
ma dại nữa.


     Nhưng tận trong mỗi người, còn đầy hy vọng.


     Khi
tôi nói trông mong ở tương lai, một người như Nguyễn Minh Châu sẽ bảo: “Tất cả  mọi người, đều là những người của ngày hôm
qua, hy vọng sao được.” Nhưng khi tôi cũng chán ngán, thì chính nhà văn ấy lại
bảo: “Không, cũng không biết đâu mà ngờ.”


     Một trong những sức mạnh của ngôn từ là nó
thay đổi khá tương ứng theo thái độ của người ta. Nó thông tin khá chính xác.
Ví như hôm trước, người ta gọi là giặc lái, hôm sau, người ta gọi là nhân viên
quân sự. Người ta thân thiện với kẻ mà hôm qua được mệnh danh là kẻ thù. Và tất
cả đều có lý của nó! Và điều duy nhất có thể rút ra là mỗi kiếp người quá ư bé
nhỏ, hiện thực thì lớn lao, quá ư lớn lao. Đôi lúc, tôi oán trách, sao tôi lại ở
vào cái ngành có khả năng quan hệ rộng như văn chương, để lúc nào tôi cũng bị
ám ảnh bởi cái ao ước này-- ao ước nắm bắt tất cả.


    Chiến tranh có cái gì đó, đồng nhất với socialism. Sự san bằng tất cả. Nhưng mặt
đất thì không còn bằng bặn. Và bây giờ hoà bình thì từ đấy, người ta lại phải
xây dựng lên một cái gì khác. San mặt bằng rồi mới có thể làm mọi việc khác.
Chính với việc san bằng, chúng ta nhận ra thêm nhiều tội ác kẻ thù. Với việc
san bằng, lại thấy thêm những di luỵ thời chiến.


    Granitxy
voiny
? Ranh giới của chiến tranh: có cái đó không? Chẳng lẽ lại không có!
Chắc chắn chiến tranh không động vào được một thứ, đó là sự sinh sôi. Chiến
tranh như những chiếc ô tô vận tải. Đi trên đường phố, tôi sợ hãi vì lúc nào
cũng thấy những chiếc ô tô, ô tô sau lưng, ô tô trước mặt, ô tô hung dữ lao
trên đường, ô tô bất cần công việc, chỉ trừ việc của nó. Tôi nhớ tới những đoàn
xe hoả hiền hoà và đầy năng lực của thời bình. Tôi yêu những nền nếp. Tôi cũng
yêu những tập thể. Những chiếc ô tô, nó chính là những con người trong chiến
tranh, những con người của một đám đông hung dữ, mải miết vì những mục đích xa.
Thật là kỳ lạ, đất nước như một con người rút ruột ra, làm việc gì đó, một con
người mà da thịt xanh xao nhưng bộ ruột thật vĩ đại. Nhớ Vinh, thành phố đổ
nát, đường phố bụi bậm, bẩn thỉu, những con người lầm lụi đi trong mưa gió.
Nhưng những đoàn xe cứ lao đi mải miết, trên xe là bao nhiêu giá trị, bao nhiêu
là của cải.





      Ở đường Phan Đình Phùng, các gia đình ra
nậy hố cá nhân lên, không biết để làm gì. Tôi chợt nhận ra các hố thường nêm rất
chặt bằng những gạch củ đậu.


     Có lẽ một chủ đề mà văn học đáng nhẽ có thể
làm được là: chiến tranh đến với tất cả các gia đình, chiến tranh đến với tất cả
các phần việc.


12/2


        Ngày khai trường. Những cố gắng lấy lại
nền nếp. Học sinh đeo khăn mang cờ, đứng xếp hàng.


       Học sinh đi diễu chung quanh phố. Đón học
sinh lớp 1, học sinh lớp 4 cầm cờ ra đứng hai bên đường từ cổng trường vào.
Bánh pháo đốt, lại tắc, lại đốt. Những cô giáo đứng vón vào nhau. Học sinh nghịch,
lại chơi cảnh lấy chổi phi lên trời, giả làm máy bay.


      Sân trường cũ trong thời gian chiến tranh
biến thành nơi để gạo. Trấu rắc khắp nơi.Trước ngày khai giảng, nhà trường mới
kiên quyết đuổi kho gạo đi, người ta phải dỡ tạm mọi thứ ra sân. Buổi sáng, xe
bò vào chở các thứ. Có tiếng ai kỳ kèo: Bò nó ỉa... Ông lái xe bò cãi, người
cũng phải ỉa, nữa là bò. Xe cứ đi nghênh ngang vào trường. Xe đi đến đâu, trẻ
xô theo đến đấy. Nhiều đứa trẻ còn nhảy lên xe nghịch. Để chờ đến khi bò có
quay lại, chúng nó lại rạt ra.


    Lại còn ô tô, giữa lúc học sinh lớp 1 đi
vào giữa những cờ sao rủ bóng của học sinh lớp 4, thì ô tô vào. Ô tô phải đợi đấy
cái đã.


     Không biết bao giờ những đứa trẻ này lại
có thể nói: Ngày khai trường của năm lớp 1 của tôi là ngày còn đang dọn dẹp những
dấu vết chiến tranh. Trường dột. Cầu thang hỏng. Nền sàn đầy trấu. Các cô giáo
chúng tôi gày guộc, vẫn cố  ăn mặc một
cách mô đéc. Nhưng chúng tôi đã có hoà bình. Ngày hôm nay là ngày tên tù binh Mỹ
đầu tiên về nước. Tiến sĩ H. Kissinger đang ở Hà Nội. Trong các thông cáo, văn
kiện, mối quan hệ Việt Mỹ được dùng kèm theo những chữ: thẳng thắn, thân thiện.


     Hà Nội, thành phố của trẻ con, thành phố của
bụi. Thành phố của xe đạp. Thành phố của tiếng ồn.


      Tôi cảm thấy phải có cách nào đó, để nói
về Hà Nội. Những quy luật nào của cuộc sống thấy rõ nhất ở Hà Nội - Quy luật về
tài năng? Quy luật về sự chọn lọc? Quy luật về sự đa đạng?


      Tại sao người ta viết quá ít về Hà Nội?
Phải chăng điều đó chỉ chứng tỏ tính chất tỉnh lẻ của nền văn học này.


15/2


      Ng
Khải: Thật làm nhà văn có lúc rớt nước mắt. Hôm nọ, vào trong Cục, vừa thấy tay
Bồng, lão vỗ vai mình, thế nào, nghe nói cậu sắp đi đấy phải không? Ý lão nhắc
chuyện đi chiến trường. Cái vỗ tay thật nhẹ mà mình cứ thấy sụn cả lưng. Một giọt
nước mắt cứ định vỡ ra. Thấy như là thuở bé bị bêu nhục. Mình là cái thân phận
gì, lão ta là cái gì, nghĩ cứ thấy nao nao cả lòng.


18/2


     Một dịp khác , vẫn tôi và ông Khải:


- Hôm nọ, Bằng Việt nó nói
với tôi, sao mày cứ buồn thế. Trông ông Khải kia, ông ấy cứ nhơn nhơn thế.


- Đúng, bên Hội nhà văn,
các ông cũng lạ cho tôi, lúc nào cũng nhơn nhơn ra. Nhưng mà thế thôi, chứ lúc
này ai mà chẳng buồn. Buồn hết. Lúng ta lúng túng thế này, ai biết làm gì được.
Văn chương là phong cốt của cả một dân tộc. Lúc này mà văn chương không thấy hé
răng cái gì, thì tức là có chuyện rồi. Không trước thì sau, có chuyện thôi.


     Nhưng tôi khuyên ông, lúc này nên ít đi
chơi thôi. Cái lúc nhốn nháo này, ông xem, dễ vạ mồm lắm. 

Wednesday, February 20, 2013

Nhân mùa lễ hội




Nhân mùa lễ hội ,


 mời bạn đọc tìm lại một số bài Vương Trí Nhàn
đã viết về lễ hội


Xin trân trọng cảm ơn.






http://vuongtrinhan.blogspot.com/2010/03/tu-hieu-minh-hon-qua-le-hoi.html





SỰ LÊN NGÔI CỦA THÓI VỤ LỢI



  http://thuykue.blogspot.com/2008/09/s-ln-ngi-ca-thi-v-li.html






Lễ hội mô
hình thu nhỏ của đời sống






Sự hỗn độn
kéo dài






 Tình trạng mất thiêng


 http://tuoitre.vn/Ban-doc/253467/Mat-thieng.html





Nhạt hội
bởi chưng … hội nhạt


http://thvl.vn/?p=65179

Friday, February 15, 2013

Nguyễn Tuân & sự độc đáo trong văn chương




Bước đầu: từ bỏ


Lúc
mới viết, Nguyễn Tuân cho “trình làng” một thứ văn chương nhang nhác như “xã
hội ba đào ký” của Nguyễn Công Hoan, tức là đi vào khắc hoạ những nét kỳ cục
buồn cười của chung quanh.


 Nhưng rồi đặt vào hoàn cảnh thị trường văn chương
đang hình thành, ông cảm thấy không ổn.




 Phải tìm ra được “mặt hàng riêng” của
mình. 


Có vẻ như ở đây người ta phải dám chơi một tiếng bạc “được ăn cả ngã về
không”. Và Nguyễn Tuân đã chấp nhận. Cái cách viết mới le lói hình thành qua
vài bài in trên Đông Dương tạp chí của Nguyễn Giang bị ông từ bỏ. Một
cuộc phiêu lưu bắt đầu, Nguyễn Tuân “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” đi
vào con đường độc đạo chưa ai đặt chân.


Lấy bản thân làm tài liệu


Mọi
người dễ nhận ra khi đọc Nguyễn Tuân là ông chỉ viết về chính những gì ông đã
sống. Trong khi ở một số người cầm bút đương thời có hiện tượng “sống một đằng
viết một nẻo” thì ông mang chuỗi ngày quý báu của mình đang thể nghiệm vào luôn
các trang viết.


Đọc
những bài trong Tuỳ bút I, Tuỳ bút II, Nguyễn... người ta không những
biết ông gia cảnh thế này, dòng dõi thế kia, mà còn được biết thói quen hút
thuốc và đọc sách của ông, ý thích lang thang trên các đường phố Hà Nội của
ông, thậm chí còn được biết ông làm thêm một cái nhà, hoặc đi dự một đám cưới
ra sao.


Phải
nói đây là cả một hướng đi bạo.


 Ngay ở phương Tây, từ thế kỷ XIX về trước, lối
viết đi vào xây dựng hình ảnh bản thân đã bị lên án. Pascal từng bảo: “Cái tôi
thật đáng ghét”.


Đối
chiếu với thói quen giao tiếp của người phương Đông thì cái cách nói về bản
thân không biết mệt ấy lại càng khó coi.


 Chúng tôi ngờ rằng ông Nguyễn tình nguyện đi vào vùng cấm ấy vì những ý nghĩ thường trực sau:


-
Trong tất cả sự độc đáo trên đời, chỉ có sự độc đáo của mỗi cá nhân là bền vững
nhất, chắc chắn nhất.


- Chỗ
giống nhau của tất cả chúng ta là chẳng ai giống ai hết.


- Vậy
cách tốt nhất trong giao tiếp là cứ hiện đúng như mình vốn có, biết đâu nhờ đó
lại tạo nên sự đồng cảm.


Montaigne
chắc không thể ngờ là cái câu ông viết trong Tiểu luận “Tôi chính là
chất liệu cho sách của tôi” lại được một nhà văn nước Việt thực hiện một cách
trọn vẹn.


Một chút quá đáng


Trên
cái hướng lớn là khai thác bản thân, một động tác nữa được thực hiện để tạo nên
vẻ độc đáo của văn chương Nguyễn Tuân, đó là ông luôn tìm cách tô đậm những gì
khác người nơi mình.


Trên
các trang viết, con người tác giả thường hiện ra đầy thách thức.


Ai
kia quen sống theo khuôn khổ, hẳn không thể thích cách sống ngang tàng không
chịu ràng buộc của ông.


Trong
sự chung sống, nếu như người đời thường trọng sự khoan hoà nhân ái, thì ông sẵn
sàng “lượm những hòn đá thực to ném lung tung, bất kể là trúng đích hay trật
sang bên cạnh” (Đôi tri kỷ gượng).


 Cho đến lời lẽ hàng ngày của Nguyễn, theo
chính ông miêu tả, thường cũng “lủng ca lủng củng dấm dẳng cứ như đâm vào
họng”.


 Những người có quen biết ông Nguyễn đều biết
rằng, thực ra, ở đây tác giả có phần thậm xưng. Đọc kỹ văn của Nguyễn Tuân,
người ta nhận ra ông không chỉ ích kỷ, mà còn biết lo cho mọi người; có lúc rất
khinh bạc, nhưng có lúc lại đôn hậu biết điều. Nói chung, phải nhận đó là một
con người khả ái, bởi ý thức phục thiện và những tinh tế trong đối xử.


Nhưng
Nguyễn Tuân lại cứ thuận miệng mà tố mình lên như vậy là vì ông muốn tạo ra cho
trang viết một hiệu quả nghệ thuật cần thiết. Và sự hấp dẫn của văn ông là sự
hấp dẫn của kẻ làm xiếc, kẻ đi trên bờ vực. Theo dõi lời lẽ, cử chỉ của kẻ
thường tỏ ra khác đời ấy, người bình thường không khỏi nhiều phen kinh sợ,
nhưng rồi ra, lại được thở phào nhẹ nhõm. Và lúc tới được với con người đích
thực nơi ông, cũng là lúc người ta hết lời cảm phục.


Độc đáo để thành thực


“Lúc
mới giao thiệp loàng xoàng với chung quanh, người ta đã không chịu được chàng
rồi. Bây giờ Nguyễn lại làm sách để ghi lại những cái lố bịch mà sự chung đụng
mỗi ngày càng vạch rõ thêm, người ta lại càng không thể tha thứ cho chàng được
nữa” (Đôi tri kỷ gượng).


Trong
lời tự nhận xét trên, Nguyễn Tuân đã nhìn thấy một sự thực: ở xứ sở này, sự độc
đáo trong văn chương dường như là chuyện hai lần vô lễ, chung quanh không bao
giờ chấp nhận. Câu hỏi đặt ra: tại sao ông Nguyễn vẫn xé rào mà đi và cuối cùng
lại được kính trọng?



đây, câu trả lời có liên quan đến một vấn đề cơ bản của nghệ thuật.


Mỗi
khi có dịp tiếp xúc với bạn đọc, một số cây bút hạng nhì hay tỏ ý phân trần:
trong tác phẩm tôi viết, tôi không thêm thắt bịa đặt gì cả. Tôi chỉ ghi chép sự
thực như nó vốn có. Ít ra, tôi đã biết điều, tôi đã khiêm tốn!


Khốn
khổ, nếu như sự thật trong nghệ thuật là cái chuyện bất cứ người trần mắt thịt
nào cũng nhìn thấy, thì các tài năng làm gì còn có lý do mà tồn tại?!


Không,
cái gọi là sự thực khách quan ấy thường nhàm chán, vô bổ. Ngược lại, cái sự
thực mà người ta mong tìm thấy ở tác phẩm văn chương  bao giờ cũng mang màu sắc chủ quan của các
nhà văn chân chính, nghĩa là chỉ nhà văn đó mới nhìn ra, mà những người khác
không thể thấy. Nói gọn lại tức là: trong văn chương, người ta không độc đáo
thì cũng không thể thành thực.


Không dễ bắt chước


Thấy
Nguyễn Tuân “chơi lối độc tấu” được nhiều người mến mộ, không ít cây bút vỡ ra
bài học về sự độc đáo và cũng có ý học theo, mà trước tiên là tô đậm cho cuộc
sống và văn chương mình những vẻ khác đời.



điều phần lớn những cây bút học đòi này thất bại: sự độc đáo trong văn chương ở
họ, rút lại là một cái gì dang dở bất thành, cá tính hiện ra thành cá tật, đôi
khi đọc chướng anh ách và đọc một lần là người ta sợ, không dám đọc tiếp.


Thành
thử câu chuyện về sự độc đáo của ông Nguyễn không phải là sự khéo léo. Sự độc đáo
ấy dựa hẳn trên một căn bản văn hoá vững chắc.


 Muốn học cách khai thác bản thân như Nguyễn
Tuân, trước tiên phải có vốn liếng từng trải thâm hậu và bản năng làm người
nhạy bén như ông Nguyễn - bằng không, tẩu hoả nhập ma là chuyện khó lòng
tránh khỏi.

Wednesday, February 13, 2013

Nguyễn Tuân & những vẻ đẹp đỏng đảnh, già dặn, quái gở




Nguyễn Tuân là người
làm gì cũng có một sự dụng công và chăm chú khác thường. Mỗi khi cần nói về cái
đẹp, ông lại càng tỏ ra trịnh trọng, như đang phải làm một công việc thiêng
liêng.


 Ông đã bàn tới cái đẹp trong mọi hoàn cảnh có thể. Khi phác hoạ một bức
tranh thiên nhiên; khi bàn về nghệ thuật; khi bắt gặp một kiểu nhân vật, một
con người, một hình dáng, một cách cư xử.




Hồi viết Vang bóng một thời,
ngay trong những đoạn miêu tả một vài hành động thông thường như việc người này
uống trà, người kia làm một cái đèn cho con chơi, thậm chí tả một đám cướp dở,
ôn lại ít ngón nghề trước khi vào việc, ông cũng mỹ lệ hoá hành động của chúng,
làm cho những hành động ấy hiện ra hấp dẫn kỳ lạ, như là do các nghệ sĩ thực
hiện. 


Có vẻ như nếu trên đời này, có một ngôi đền dành để phụng thờ cái đẹp,
thì Nguyễn Tuân chính là viên tư tế chuyên lo công việc đèn nhang cho người đến
lễ.


 Rung cảm trước cái đẹp là dấu hiệu phải có ở một con người lịch lãm thạo
đời.


 Hiểu biết về cái đẹp là niềm kiêu hãnh duy nhất mà người tài tử thèm muốn.


 Và mỗi giây phút bắt gặp cái đẹp là một đặc ân, một phút xuất thần của con
người. Nhiều trang sách của Nguyễn Tuân trước 1945 được viết để nói với bạn đọc
cái điều tâm huyết ấy. 


Từ sau 1945, trong hoàn cảnh đầy biến động của hai cuộc
kháng chiến nối tiếp, nhà văn này vẫn tìm đủ mọi cách để nhắc tới vẻ đẹp. Hoặc
ông tố cáo tội ác của những kẻ huỷ hoại thẩm mỹ, huỷ hoại nghệ thuật (như ở bài
Xoè in trong Sông Đà). Hoặc ông lưu ý rằng chúng ta phải tạm thời
hy sinh cái niềm vui hưởng thụ ấy đi để làm những việc cần kíp (“ Trời hãy đừng đẹp
nữa
” - một câu trong bài Giữa hai xuân). Và về sau thì ông lại để
công săn tìm những vẻ đẹp mới mà trong thực tế hôm nay mới xuất hiện.


Những vẻ đẹp chỉ đến Nguyễn Tuân mới thấy


Cái đẹp vốn đa dạng
như cuộc sống. Tuy nhiên, người đời vẫn gặp nhau ở một cách hiểu chung về nó,
đại khái, trong cái vẻ đẹp phải có những nét hài hoà, mới và trẻ thì dễ đẹp; và
theo truyền thống phương Đông, cái đẹp phải đi đôi với cái thiện. 


Nhưng đó là
cách hiểu thông thường! 


Một người đến với văn chương độc đáo như Nguyễn Tuân
không thể bằng lòng với cách hiểu đó mà phải đưa ra bằng được những quan niệm
riêng.


 Ngay từ 1944, nhà phê bình tờ Tri Tân là Kiều Thanh Quế đã nhận
xét: “Văn Nguyễn Tuân khi dí dỏm như cô gái làm nũng, khi lại đỏng đảnh như
người đàn bà khó chiều
”. Cái sự đỏng đảnh tai ngược mà Kiều Thanh Quế nói ở
đây, cũng có thể dùng để nói về quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Tuân. 


Ông hay nói
tới những vẻ đẹp già dặn


Trong văn của ông, người đàn bà đẹp thường là những
người đứng tuổi, thạo đời, giỏi ngón ăn chơi, song lại có học, nhiều khi chơi
chua và hay nói phũ, để rồi biết dừng lại đúng lúc, và tạo nên sự quyến rũ của
riêng mình. 


Rộng ra mà nói, cái đẹp của Nguyễn Tuân thường có khuôn mặt của cái
lạ, cái khác thường, nói chung đó là những cái đậm, gắt mà người đời cho là ra
ngoài khuôn khổ. Sự đa dạng của vẻ đẹp mà ông đưa ra có thể thấy ngay ở những
từ xác định mức độ, sắc thái của cái đẹp được miêu tả.


 Ngược với cái đẹp hiền
hậu kiểu Thuý Vân (mà tác giả gọi là một vẻ đẹp “vững chãi và ngu dại”,
ông thích cái đẹp sắc sảo của Thuý Kiều (Một lần đi thăm nhau). 


Đi xa hơn, ông nói tới cả cái đẹp tả tơi, cái đẹp hỗn độn (Chuyến xe tình),
cái đẹp đột ngột (Đôi tri kỷ gượng). 


Trong những thiên truyện được gọi
chung là yêu ngôn, Nguyễn Tuân lại hay tả lại sự ám ảnh của những vẻ đẹp oan
nghiệt,
cái đẹp rờn rợn, khiến cho người ta vừa thích vừa sợ (như vẻ đẹp của
nhân vật cô gái bán giấy bút trong truyện Khoa thi cuối cùng). 


Cái đẹp
qua cách miêu tả của ngòi bút Nguyễn Tuân như vậy trở nên thoắt ẩn, thoắt hiện,
biên giới của nó như mở rộng hơn, và hồn cốt của nó sẵn sàng nhập vào cả những
sự vật mà trước kia người ta ít ngờ tới.


 Từ những mảnh vỡ khác nhau


Cùng với Thạch Lam,
Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn tiền chiến tự đặt cho mình là phát hiện
bằng được cái đẹp vốn tản mát trong đời sống. Thế nhưng sau chỗ xuất phát chung
ấy thì hai người lại đi theo hai con đường hoàn toàn khác nhau.


Nếu cái đẹp ở Thạch
Lam mang sắc thái thuần hậu, thì đến Nguyễn Tuân nó đi gần tới sự bất cần đời,
ngạo nghễ, phá cách
(“ Một thằng ăn
cắp đã trở nên đẹp đẽ vô cùng khi hắn cắt túi người ta rất gọn rất nhanh

- Chuyến xe tình). 


Sự xuất hiện một quan niệm cực đoan như thế trước
tiên do sự phát triển nội tại của văn học. 


Từ những năm 30, đời sống tinh thần
ở xứ sở có sự biến chuyển nhanh chóng, từ “xanh” đến “chín”, từ đơn sơ học lỏm
đến lúc có tất cả cái rắc rối phức tạp mà một nền văn hoá làm theo mẫu hình
phương Tây thường có. 


Thêm vào đấy phải tính tới môi trường lớn mà văn hoá Việt
Nam
lúc đó phụ thuộc.


 Nhìn lại văn chương những năm trước sau 1940, người ta không
khỏi nhận ra những mảnh vỡ trong mỹ học của các trường phái suy đồi, siêu thực
(nói chung là có màu sắc duy mỹ) - những trường phái này phát triển ở Pháp từ
đầu thế kỷ XX, và theo sách báo in ra đều đều mà thấm dần vào xã hội Việt Nam. 


Trên cơ sở một quan niệm hiện đại về quyền tự do của con người, nếu Nguyễn Tuân
cùng với một số văn nghệ sĩ khác có tiếp nhận chúng một cách dễ dàng thì cũng
không phải là một điều khó hiểu! 


Cố nhiên, trong hoàn cảnh riêng của xã hội
Việt Nam
lúc ấy, những quan niệm hiện đại kia không được nhập cảng một cách trọn vẹn.
Các nhà văn nhà thơ vốn có một nền học vấn vững chãi như Nguyễn Tuân, Vũ Hoàng
Chương, hoặc bên hội hoạ như Nguyễn Đỗ Cung v.v... thường không quên đưa vào
đây những yếu tố duy mỹ trong nghệ thuật phương Đông (Lão Tử, Trang Tử hoặc
chất huyền hoặc trong Liêu Trai), mặt khác, tiếp nhận tinh thần phá cách trong
văn hoá dân gian Việt Nam để làm nên những cốt cách riêng. Ở phương diện này, Nguyễn
Tuân trong thời tiền chiến là một trong những người đi xa nhất.


Theo sự quy định của thời đại


Từ sau 1945 tuy vẫn để
tâm săn tìm cái đẹp, song ngòi bút của Nguyễn Tuân lại được hướng dẫn bởi một
mỹ cảm khác hẳn.


 Nếu hôm qua, ông hướng về cái đẹp theo cái cách lạnh lùng
khinh bạc và nghiêng về phân tích nội tâm thì hôm nay, ông ngả sang bao quát
ngoại giới. Có dịp đi nhiều biết rộng, ông thích thú khi nói tới cái đẹp bao la
lộng lẫy (và đôi khi hung dữ nữa) của rừng và biển.


  Nếu hôm qua, ông cảm nhận một
cách sâu sắc sự oái oăm “cái gì đẹp quá thì chóng tàn”, “cái gì đẹp
quá thì ít khi được là thực
”, thì ngày nay, cái đẹp ấy không yểu mệnh nữa
mà trở nên chắc thiệt, lành mạnh.


 Để xác định vẻ đẹp tiêu biểu cho ngày hôm
nay, có lần Nguyễn Tuân đã đặt hẳn bên cạnh nó mấy chữ mà có lẽ trước kia ông
không ngờ tới: đẹp, bây giờ phải đồng thời lành, tốt, bổ (bài Cửa
Tùng
). 


Tại sao lại có sự chuyển biến kỳ lạ như vậy?


 Người ta chỉ có thể
hiểu được điều đó khi đặt hai giai đoạn phát triển trong mỹ cảm của Nguyễn Tuân
vào hai giai đoạn lịch sử mà ông đã sống. 


Thời đại cũ yêu cầu độc đáo thì ông
độc đáo đến ngoa ngoắt, thời đại nay yêu cầu sự có ích, thì ông thông thoáng
hơn bao giờ hết.


 Và nếu trước kia, ông viết chỉ để dành cho một thiểu số bạn
đọc gần gũi với ông, thậm chí người nghe thì thích song không hẳn đồng tình với
ông thì ngày nay ông thuộc về một lớp độc giả đông đảo hơn hẳn. Mỗi thời ông
lại phát biểu tư tưởng thời đại theo một cách riêng, và đó là điều tạo nên cho
văn chương ông sự hấp dẫn.







Viết
nhân dịp 90 năm sinh Nguyễn Tuân, tháng 7-2000


Đã
in trong Chuyện cũ văn chương 2001