Thursday, July 28, 2011

Nhật ký 2011 ( tuần XXVII --XXIX)

3-7

      ĐẾN VẼ MA CŨNG KHÔNG XONG!
      Nhiều người thường làm ra vẻ cao đạo bảo rằng vẽ người mới khó chứ vẽ ma thì dễ nhất còn gì!  Hóa ra vẽ ma cũng khó lắm. Bài báo Phim kinh dị Việt: chỉ luẩn quẩn với ma, cho biết trong các phim ma - kinh dị của điện ảnh Việt, ma nhất là nhân vật luôn miệng “ma ma”, nhưng chẳng làm khán giả sợ. Xem thấy buồn cười bởi máu me chả ra máu me, oan hồn chả ra oan hồn. Ma mà như... hề-- loại hề rẻ tiền!
   Phim Bóng ma học đường được giới thiệu là có con ma cổ trang, độc ác, nham hiểm để điều khiển nhóm ma teen. Nhưng diễn viên hóa trang với chiếc áo choàng đen đỏ làm khán giả không thấy gì đáng sợ mà lại thấy như một chú hề vào vai ác. Nhiều khán giả còn nhận xét gọi là phim kinh dị, ma quái mà quá bình thường bởi kỹ xảo video chỉ như của học sinh mới học được vài chiêu làm ra.


VÌ PHẨM GIÁ CON NGƯỜI
      Trên mạng Bee có bài của Lê Đỗ Huy lược thuật lại một vài lời bàn của các trí thức phương Tây về sự biến Trung Đông.“Cái gì đưa lại các cuộc cách mạng ?”, sau khi tự hỏi Friedman trả lời, đó không phải là do GDP lên hay xuống, mà là “cuộc tranh đấu giành phẩm giá”.
      Thường thì tầm quan trọng của GDP được nhấn mạnh, còn nhu cầu tìm lý tưởng của dân chúng thì bị hạ thấp. Ở đây, “Phẩm giá trước, bánh mì sau” là khẩu hiệu của cách mạng Tunisie.
      Liên hệ tới tình hình Trung Hoa, Friedman khẳng định, có thể tự hào về nỗ lực nâng cao đời sống, nhưng đó không phải là điều duy nhất trong đời sống người dân, và từng nơi, từng lúc, đó không hề là điều quan trọng nhất. “Tia lửa làm bùng liều thuốc súng là cuộc tranh đấu đòi phẩm giá”, tác giả kết luận.  ”.


4-7
TRỊ QUỐC CHI ĐẠO
      Một lần ở một hiệu sách ở ga Bắc kinh, tôi  thấy một cuốn sách dày cộp  mang tên như trên. Chợt nhận ra việc quản lý quốc gia ở nước Trung Hoa cổ được ghi chép rất đầy đủ và nâng lên tới trình độ một bộ phận quan trọng trong văn hóa. Nay đọc cuốn sách Sử Trung quốc Nguyễn Hiến Lê viết cuối đời, càng thấy rõ điều đó.
      -- Tần Thủy Hoàng độc tài chuyên chế. Ông giết trí thức. Nhưng đó không phải là cách cai trị lưu manh vô học. Đã tin dùng  trí thức nào ( thừa tướng Lý Tư) là dùng đến triệt để. Đốt sách, kể cả Tứ thư Ngũ Kinh nhưng là đốt những bộ tạp nham, trong khi vẫn tàng trữ một bộ trong triều đình ( tr103, bản Sử TQ của Nxb Tổng hợp TP HCM,2006). Với những điều luật bắt buộc thư đồng văn xa đồng quỹ, ông ta có công đưa mọi sinh hoạt của quốc gia vào nền nếp. Các trường học dưới thời ông dạy rất kỹ môn pháp luật quốc gia.
      -- Thời Tiên Tần, TQ đã có những nhân vật quản lý xã hội đầy tài năng và có tư duy hiện đại như Quản Trọng, Thương Ưởng. TQ cuối thế kỷ XX cũng đang lặp lại nhiều biện pháp của Thương Ưởng.       
       -- Triệu Khuông Dẫn vua nhà Tống được quân lính đặt lên ngai vàng nhưng  công việc đầu tiên khi lên ngôi là đặt văn quan trên võ quan và hạn chế quyền lực của các chỉ huy quân đội.
        ( Nói như sách Các nền văn minh thế giới—Lịch sử & văn hóa  thì ngay từ đời Đường, người Trung Hoa đã tin chắc rằng các chế độ quân sự không hợp với một quốc gia có chuẩn tắc và văn minh.)
        -- Trong các biện pháp cải cách của Vương An Thạch đời Tống cũng có nhiều việc rất hiện đại, chẳng hạn khi tuyển dụng quan lại chỉ huy các việc nông điền thủy lợi không dùng người văn hay chữ tốt vừa đỗ đạt mà thiên về dùng người có chuyên môn tức có kinh nghiệm.
      -- Sau các chiến thắng quân sự lẫy lừng, chế độ cai trị mà Hốt Tất Liệt áp đặt lên xã hội Trung Hoa hết sức tùy tiện “triều đình là một mớ hỗn độn vô tổ chức, hiệu lệnh ban ra địa phương không nghe; mỗi gia đình đại thần tự làm chính trị,  mỗi người tự coi là quốc gia “ ( tr396-397)
      -- Trong số lý do khiến  Mãn Thanh về sau thành công, có lý do này -- “ triều đình ít can thiệp vào đời sống của dân “ ( tr 481), “ đất đai mênh mông mà số quan lại rất ít” (tr482). Ở trang 497 còn ghi rõ hơn 450 triệu dân chỉ có 100.000 quan lại.




  QUAN LẠI XUẤT THÂN TỪ DÂN NGHÈO
 CÀNG DỄ THAM NHŨNG
    Trong việc làm bộ sử này, Nguyễn Hiến Lê dựa nhiều vào các nhà sử học phương Tây, nhưng  bao giờ cũng dẫn họ ra rất đầy đủ sau đó có ý kiến riêng của mình.
      Ví như quanh chuyện quan lại và tham nhũng ở Trung quốc. Lối tuyển người làm quan ở đây là qua khoa cử, nó có cái mạnh là tránh đi vào cha truyền con nối của quý tộc châu Âu, và đấy là điều khiến cho Voltaire cũng từng khâm phục. Nhưng một nhà nghiên cứu là  Eberhard lưu ý ta một điểm khác. Ông này khi nghiên cứu về các đời Đường Tống đã nói rằng nguồn gốc của tệ tham nhũng là do quan lại được trả lương quá thấp. Khi nghiên cứu sang thời Minh, Eberhard lại lưu ý càng  đám quan lại xuất thân từ các tầng lớp dân nghèo, do đỗ đạt mà thành quan càng dễ tham nhũng. Tại sao? Muốn đỗ thì phải hối lộ quan trường, đỗ rồi muốn được bổ dụng thì phải đút lót nhà quyền quý... Đến lúc ra làm quan thì phải tham nhũng để thu hồi vốn và trả nợ.
       Khi chép lại nhận xét này của Eberhard( t.r441)  Nguyễn Hiến Lê tỏ ý không tin. Nhưng tôi thì lại thấy rất  tin vì nó giúp tôi giải thích tình hình quan chức thời nay.  
  
7-7          
GHI VẶT
          - Phương Quỳnh bạn tôi bảo nghĩ thương cho bọn con cái vào đời bây giờ. Đi làm cho nhà nước thì gặp cánh thư lại già nua cũ kỹ, tuyển nhân viên trẻ vào coi như con cháu toàn sai vặt. Còn đi làm cho các công ty ma quỷ bên ngoài thì cũng chỉ loanh quanh xoay xở làm ăn theo lối chụp giật và lúc nào cũng sẵn sàng phá sản để theo đuổi những phi vụ mới.
           - Hình như một lối làm tin trên báo được ưa chuộng thời nay là đưa những chuyện xấu chuyện bê bối kỳ cục chuyện chém giết nhau loạn xị trên thế giới để dân mình yên lòng, ra có những nơi dân họ còn hỗn hào hư hỏng bằng mấy mình -- các nhà báo ngầm nhắn nhủ vậy.
          - Trên những con đường nhiều xe đạp của Hà Nội trước 1986, tôi nghĩ tới một điều thuộc về tính cách hay phản bội của con người hiện đại - hay phản bội như sự dễ dàng rẽ ngoặt của những chiếc xe đạp.
          Còn một trong những tác động của các loại xe máy thời nay là nó kích thích và thỏa mãn bản năng lồng lộn quậy phá khoe khoang trưng diện của lớp trẻ.
          - Chị Đ. có một người em không có gia đình nay bị tai biến và vào viện dưỡng lão. Chị kể đi thăm em về chợt nhận thấy mình như chai sạn ra, không còn cảm thấy xót thương con người như vốn có. Bởi, chao ôi, những người già khi sống tập trung lại làm nên một thế giới sao mà đáng sợ, nó làm cho mình ngán ngẩm hơn với kiếp nhân sinh. Với người khác thế nào không biết riêng với chị, giá chớm ốm mà vào đấy không biết chừng sẽ ốm nặng hơn.
-- Em trai tôi sống ở một thành phố bên Đông Đức cũ kể là mùa hè năm nay bên đó đầu mùa còn nắng; nay sang tháng bẩy, nhiệt độ bình thường, chỉ là 13-14 độ; lại thêm vài giọt mưa nhỏ, từ trong cửa hàng còm cõi nhìn ra đường vắng tanh chẳng có bóng người. 
Ở các nước châu Âu, trong khó khăn người ta co cụm lại, sống bình thản với cái thiếu thốn trong khuôn khổ nhà mình. Còn người Việt thì càng khó khăn càng đổ ra đường. Tại sao? Theo tôi, một phần là vì nhiều người chúng ta nhà có đâu ra nhà.
Hồi làm phóng viên tạp chí Văn Nghệ quân đội, tôi học được nhiều về cách sống cách làm việc ở nhà phê bình Nhị Ca. Gia đình ông trước 1945, chỉ thuộc loại gia đình trung lưu, vậy mà ông bảo thuở nhỏ, luôn luôn cảm thấy trong nhà mình có những xó xỉnh mà mình chưa biết hết. Cái nhà hồi ấy dù đơn sơ thế nào cũng ra cái nhà. Còn ngày nay, vẫn lời Nhị Ca, chúng ta chỉ có những cái chuồng.






hà văn Anh George Orwell (1903-1950) trong  tiểu luận Chế độ toàn trị và văn chương 1941 thì viết :

     Đặc trưng của nhà nước toàn trị là tuy nó kiểm soát tư tưởng, nhưng nó lại không xác định dứt khoát tư tưởng ấy là gì. Nó đưa ra một số tín điều không được tranh cãi, nhưng các tín điều ấy lại thay đổi hàng ngày. Chế độ cần tín điều vì cần các thần dân phục tùng một cách tuyệt đối, nhưng nó không thể không thay đổi theo các nhu cầu của tầng lớp nắm quyền. Khi tuyên bố là không bao giờ sai lầm, chế độ toàn trị đồng thời vất bỏ ngay chính khái niệm chân lí khách quan.

10-7
TỰ HUYỄN HOẶC MÌNH
         Mạng Tuần VN 9/07 có bài cho biết, theo số liệu của Tổng cục điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, có 18,9% dân số từ 25 tuổi trở lên có trình độ học vấn bậc trung, và chỉ có 5,4% dân số từ 25 tuổi trở lên có trình độ học vấn bậc cao. Tỷ lệ dân số có trình độ giáo dục bậc trung và bậc cao của Việt Nam đều thấp hơn so với các nước Đông Nam Á khác.
        Lại thêm một ví dụ cho cái điều tôi đã lưu ý lần trước, – nay là lúc tinh hoa không có đất sống, và cái nhân tố mà người ta thường coi là đầu tầu kéo xã hội đi tới, luôn luôn trong tình trạng hủi cùn hủi cụt đi về cả số lượng lẫn chất lượng.
       Chỗ đáng nói thêm là khi tìm nguyên nhân của tình trạng trên, bài báo chỉ nói đó là do chúng ta Ngủ quên trên những "huyền thoại". Tôi muốn cãi lại một chút. Cái huyền thoại ấy và những cái tương tự, chẳng hạn huyền thoại về người lao động ở ta tiếp thu nhanh, huyền thoại về dân mình cần cù chăm chỉ ham học-- có phải ai bỏ bùa mê thuốc lú cho đâu mà chẳng qua ta đã tự lừa mình mà dựng nó lên, nay muốn gỡ đi cũng khó.




Viên Linh in trên báo Khởi Hành số 48 ra ở Sài Gòn 1970 :
   -- Đàn bà bây giờ như những con búp bê mặc duýp ngắn, quần chẽn, đeo kính tròn vo, trông có cái ngộ nghĩnh của đồ chơi, lại biểu lộ cái giống một cách ngây thơ, khiêu khích. Thời trang phương Tây đã thành công khi muốn biến đàn bà con gái từ cái chỗ bình đẳng chán ngấy thành trò giải trí. Từ đầu đến chân, từ y phục tới đồ dùng bên mình, thảy đều là đồ vui mắt. Vật dụng không phải để dùng. Còn để nghịch. Cái xách tay cũng là đồ chơi. Đôi giầy có khác gì đồ chơi, cái khoá, cái khuy áo lại càng giống đồ chơi nữa. Nhìn xa, một bà trên 30 tuổi cũng chẳng khác mấy so với một thiếu nữ.
     Trong những ý Viên Linh nói ở đây, tôi thú hơn cả là cái nhận xét tổng quát  ông mang đặt tên cho cả đoạn:Thời trang thị tì. Không chỉ đàn bà mà cả đàn ông, không chỉ trong thời trang mà cả trên nhiều phương diện khác, cách tồn tại  của con người bây giờ có vẻ cùng gợi lên một cảm giác chung. Là thời đại cho họ quá nhiều. Là họ chưa xứng với thứ tiện nghi họ được hưởng. Nhìn vào họ cứ thấy có dấu ấn của những giá trị cao quý hôm qua mà họ đã đạp đổ, nhưng nay lại thèm muốn. Như thời xưa, nhìn vào các thị tì,  ta nhớ ra các công nương công chúa mà họ theo hầu.


22-7 

VŨ TRUNG TÙY BÚT BẢN DỊCH MỚI



   Khoảng năm Giáp Ngọ Ất Mùi trong nước vô sự, Thánh tổ Thịnh Vương để ý nhiều vào việc rong chơi du ngoạn. Các ly cung ở Tây Hồ Tứ Trầm đua nhau xây dựng. Các loại trân cầm, dị thú, cổ mộc quái thạch chậu hoa non bộ trong dân gian đều thu vét hết không bỏ sót. Trong phủ tùy chỗ mà điểm xuyết chẳng khác gì nơi bãi biển sườn non. … Bọn nội thần tiểu lại cậy thế dọa dẫm lừa người. Dò xem nhà người ta có hoa chim đẹp thì biên ngay hai chữ Phụng thù (  = vâng lệnh chúa mà lấy),  rồi ngầm sai tay sai đem xe đến lấy phăng đi, sau đó còn gán cho người ta tội giấu giếm vật cung phụng để hạch sách tiền của. Gặp hòn non bộ hay cái cây to quá, có khi phải phá nhà hủy tường để đưa ra. Những nhà giàu có khi phải bỏ hết của cải để kêu xin. Nhà ta ở phường Hà Khẩu huyện Thọ Xương trước nhà tiền đường trồng một cây lê cao vài chục thước, nở hoa trắng xóa thơm lừng, trước nhà trung đường cũng có hai cây lựu một trắng một đỏ, khi ra quả trông rất đẹp, mẹ ta đều sai chặt đi, cũng vì cớ ấy.



 Trên đây là một đoạn tôi chép từ Vũ trung tùy bút ( tùy bút viết trong mưa )của Phạm Đình Hổ. Nói là bản dịch mới vì trước đó Hà Nội đã có bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến xuất hiện đầu tiên trên Nam Phong, Sài Gòn trước 1975 cũng có một bản dịch khác chắc là của Phủ Quốc vụ khanh phụ trách văn hóa. Bản dịch lần này được sự bảo trợ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, người dịch đề là Trần Thị Kim Anh.



        Sở dĩ tôi thích Vũ trung tùy bút vì ở đó tác giả hiện ra như một người chép sử ghi lại nhiều phương diện của đời sống đương thời. Đây là xu hướng không được phổ biến trong văn xuôi cổ điển Việt Nam.


Hàng ngày đọc báo, và trong câu chuyện bên quán nước, thấy không hiếm những tin đại loại Pẻtrolimex báo rằng lỗ nhưng thực ra lãi to -- Một tờ trình về điều tra môi trường để làm thủy điện là đồ giả - Bác sĩ cho là bệnh nhân nói dối không cấp cứu để bệnh nhân chết oan-- Trong khi dân làm muối không biết bán muối cho ai thì các ngành công nghiệp vẫn phải lo nhập khẩu muối nếu muốn tồn tại-- Hai xã ở Vĩnh Long cho thuê ruộng để thương nhân TQ trồng khoai lang – Nhiều thương lái Việt đang buôn thịt lợn bán sang Trung Quốc và cách làm của dân mình phổ biến là có bao nhiêu thịt ngon lành mang xuất cả, sau đó nhập ngược lại các loại thịt kém hơn, về bán ở thị trường trong nước... So với các loại tin giật gân khác thì loại tin này thường chỉ chiêm một vị trí nhỏ nhoi, ít được đọc. Đến đám người đi bán báo rong cũng chẳng bao giờ buồn rao ầm ĩ trên đường. Nhưng tôi cho rằng nếu Phạm Đình Hổ sống trong thời nay, hẳn những tin tức loại này sẽ được ông ghi chép để làm tài liệu cho người nghiên cứu đời sau.



24-7

MỘT BÀI THƠ ĐƯỢC LÀM 60 NĂM TRƯỚC

Trong một số báo ra hồi kháng chiến chống Pháp, tôi ghi được bài thơ sau đây. Nhân vật được nói tới thì hẳn dân làm văn nghệ lớp cũ ai cũng biết. Nhưng cái chính làm tôi cứ tần ngần đọc đi đọc lại là cái cảm giác là lạ -- đủ gợi bâng khuâng nhớ tiếc đồng thời lại thoáng qua một chút như là bẽ bàng -- mà bài thơ để lại trong lòng. Tôi muốn bè bạn cùng đọc lại để thấy thời gian phôi pha và bao nhiêu thay đổi đã diễn ra trong tâm lý người làm văn nghệ khi quay cuồng giữa cơn cuồng phong vĩ đại hơn nửa thế kỷ qua.







Huy Phương
Gửi người bạn hôm qua


Đêm nay gió ngoài rừng heo hút

Chúng tôi sát lại gần nhau

Thì thầm chúng tôi hát

Bài hát năm xưa nào

Bài hát của anh:

Bài hát của anh còn đó

Như một dòng nước mắt long lanh



Chúng tôi biết bên kia có người anh thương

Có mái nhà anh bên đường phố nhỏ

Rủ cành hoa ti gơn

Nhưng nếu chỉ là có thế

Anh bỏ mà đi sao đành



Ở bên phía mình

Chia nhau miếng cơm độn bắp

Nhường nhau manh áo trời đông

Nhưng chúng ta giầu một niềm thương

Có bà mẹ hiền hiền

Có giọng hát trong lành em bé

Tình nhân dân bọc đùm như sóng bể

Dạt dào ấm một niềm tin



Anh bỏ mà đi sao đành

Chiều nào đây đoàn cán bộ áo mong manh

Dằng dặc Trường Sơn đường chiều mưa đổ

Kề vai nhau bên bếp lửa

Thì thầm bài hát cũ

Mỗi người một lượt nhắc tên anh

Nhớ những đêm vui

Trăng sáng mái đình

Ngày mai trên nội cỏ

Có chú chăn trâu nho nhỏ

Quên mưa trưa chiều gió

Huýt sáo mồm hát bài của anh



Anh bỏ mà đi sao đành!

Anh về chi bên nớ

Cốc rượu đầy vơi

Cung đàn năm cũ

Buổi truy hoan tiếng cười nghiêng ngả

Bọn lính lê dương với bầy gái chứa

Còn ai nghe tiếng hát của anh



Hà Nội những đêm dài

Sương trắng mông mênh

Ai biết những bàn chân âm thầm phố nhỏ

Lỡ bước sang sông

Đường về cách trở

Nhớ thương những tháng những ngày

“Xót xa sao như mất một bàn tay”



Đêm nay mưa ngoài trời

Tiếng hát lặng thầm, bếp nhỏ lều tranh

Nước mắt ngắn dài từng giọt long lanh

Bà mẹ già cầm tay tôi hỏi

- “Ai làm bài ni rứa các anh?”



Nói làm sao cho đành

Chúng tôi nhìn nhau, lời nghẹn

Thương anh thêm căm giận

Anh có biết không anh

Bên kia anh có biết không anh?





Wednesday, July 27, 2011

Năng lực tự kiềm chế

Các giá trị đạo đức trong sự phát triển kinh tế là tên bài viết của một nhà nghiên cứu nước ngoài - ông Harry D. Gideonse. Trong đó, ông đưa ra năm đức tính cần thiết cho một nước muốn đi vào công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Chú ý, đây không phải lời khuyên nhủ hay mách mối làm ăn, mà là nói chuyện đạo đức.

Đại khái, bài viết cũng gồm mấy điểm nhiều người đã biết, như phải quý trọng tài sản vật chất và tinh thần; phải có tính sáng tạo chủ động, đưa ra cái mới; phải có tinh thần trách nhiệm và tin tưởng vào tương lai.



Lạ nhất với tôi là cái điểm đầu tiên mà tác giả này nhấn mạnh : Cả xã hội cũng như mỗi cá nhân phải “biết kiềm chế sự ham muốn của mình, hay nói cách khác, phải có một ý chí mạnh mẽ để sản xuất nhiều hơn là tiêu thụ“ (Dẫn theo sách Tâm lý người Việt Nam nhìn từ nhiều góc độ in năm 2000, trang 79).



Những lời khuyên này là của chính những người đã giàu, nay rút kinh nghiệm về việc làm giàu của mình nên không thể xem thường.



Ở một nước như Trung Quốc, báo chí  phương Tây gần đây phát hiện, sở dĩ nền kinh tế phát triển như một kỳ tích, hệ thống ngân hàng không ngại tới chuyện đổ vỡ, một phần là vì tiết kiệm ở họ rất cao. Tính ra, có tới 40% thu nhập của các gia đình Trung Quốc được dành để chuyển vào ngân hàng, từ đó đầu tư vào việc làm ăn chung.



Quay về nhìn lại nước mình thì sao? Chắt bóp, kiềm chế, ăn tằn hà tiện, chín xu đổi lấy một hào vốn được coi là nền nếp đã có từ nhiều đời, không chỉ ở những người nghèo, mà cả những người có máu mặt. Trong một bài điều trần về Cải cách phong tục viết năm1871, Nguyễn Trường Tộ nhận xét : ”Nhiều quan viên ăn uống sơ sài không bằng nhà trung sản trong dân gian”. Ông kể, năm trước, tức là năm 1870, sứ bộ ta sang Tây, người Tây thấy sự ăn uống của sứ bộ quá đơn giản, họ bảo : “Ăn uống như thế mà có sức để bổ vào phần trí dũng, thật không sao hiểu được“. Hoặc về sự mặc, vẫn theo Nguyễn Trường Tộ, nhiều người thời ấy cố ý làm cho thô vụng xấu xa, và có tục ngăn cấm sự ham đồ tốt đẹp, từ quan đến dân đua nhau càng bớt chi tiêu càng tốt, làm cho những nghề tinh xảo ngày một tiêu mòn.



Trên đây là chuyện hơn một trăm năm trước. Đến thời tôi mới lớn lên, tức là năm chục năm trước đây, vẫn còn như vậy. Luôn luôn, tôi được nghe người trong gia đình kể là nhà nọ nhà kia hà tiện lắm, có tiền mà không chịu tiêu. Nhân vật Lão Hạc của Nam Cao chắc chắn không phải là trường hợp cá biệt : “Thà nhịn ăn nhịn tiêu, thậm chí thà chết chứ không ăn vào phần của người khác!“ - cái tâm lý ấy  khá phổ biến trong xã hội cũ.



Nay thì cách sống, cách tiêu pha của không ít người dân nhiều phần ngược lại. Làm bao nhiêu lo tiêu hết chứ không tiết kiệm làm gì, người ta hồn nhiên tự xác định như vậy. Thậm chí người ta đi vay để mua nhà, đi vay để sắm xe mới, đi vay để cho con đi học. Nhắm mắt mà vay, không cần biết sẽ trả ra sao cũng cứ vay.



Nhiều người sống gấp sống vội sống buông thả, hoặc như cách miêu tả của các cụ ngày xưa “Vén tay áo xô, đốt nhà táng giấy”. Họ cho rằng thời nay nói chuyện tiết kiệm cũng như chuyện chính chuyên, nghe đều cổ lỗ lắm rồi. Vậy thì mo-phú hết, tận hưởng cái đã. Triết lý sống này âm thầm chi phối khiến cho hàng ngũ những người trưng diện, khoác lác, khoe của một cách trắng trợn ngày một đông đảo.



Sự ham muốn không bị kiềm chế. Sự ham muốn đang được thả phanh để muốn đi tới đâu thì đi. Trong khi động cơ sống ở mỗi người được tăng cường thì cái phanh đã rỉ!

Kể ra điều này cũng có lý. Tinh thần hiện đại đã ảnh hưởng đến tâm lý số đông. Người ta có lý luận hẳn hoi : “Phải tiêu nhiều hơn làm rồi ra mới biết cách làm, chính vì cần tiêu mà làm”. “Chết có mang đi được đâu”. Người ta lấy ví dụ về sự ăn tiêu ngất trời ở bên Tây bên Tàu. Có biết đâu, chính những Việt kiều ở nước ngoài về cũng phải bảo là sự lãng phí ở trong nước tiến nhanh quá.



Thử đi tìm nguyên nhân dẫn tới cách sống buông thả của con người hiện thời : vì sau một thời gian quá khổ, nay mới được hưởng chút ít, người ta tranh thủ hưởng? Vì chưa có tiền bao giờ nên không biết tiêu tiền? Vì cảm thấy cuộc sống đầy những may rủi ngẫu nhiên, không biết tin điều gì? Vì bi quan về tương lai? Vì một triết lý hư vô đang ngự trị? Tất cả những lý do ấy hợp lại chi phối cách sống chúng ta.



Dư luận mới chỉ chú ý tới các tệ nạn xã hội. Những vụ đột nhập vũ trường, quán rượu cho thấy trình độ hưởng thụ ngày càng cao. Những vụ buôn lậu thuốc phiện và các chất ma túy có quy mô mỗi ngày một lớn hơn. Nhưng tôi cho rằng, cái triết lý hưởng thụ thấm sâu trong những người dân thường mới đáng ngại. Nó là một trong những yếu tố níu kéo chúng ta trên đường phát triển, mà lại chưa được chỉ mặt gọi tên một cách đúng mức.



trong Những chấn thương tâm lý hiện đại

Friday, July 22, 2011

Hiện đại nửa chừng

Làng nghề kêu cứu

Thoạt nghe chắc mọi người nghĩ tới một số làng nghề ở đồng bằng Bắc bộ làm ăn sa sút, mặt hàng thủ công không đủ sức cạnh tranh với các loại hàng làm bằng máy móc và nghề tổ bị xếp xó. Đó là một loại "làng nghề kêu cứu" lâu nay báo chí đã viết.



Nhưng những làng nghề tôi nói ở đây lại đang ăn nên làm ra. Chưa bao giờ hàng sản xuất được ưa chuộng như bây giờ, vừa làm rời tay đã có người đến nhận mang đi. Nhân lực thiếu, phải mướn thêm người các làng lân cận sang làm giúp những khâu lặt vặt. Nhà cửa mọc lên san sát. Các tiện nghi hiện đại được khuân về ùn ùn. Bữa cơm có giò, có chả chứ không phải xanh rờn những rau như ngày xưa. Nhưng tôi vẫn muốn bảo đó là những làng ở trong tình trạng kêu cứu, bởi lẽ:

Sự phát triển chỉ đến với từng nhà, chứ nhìn chung làng xóm không có gì thay đổi, cách ăn ở vẫn như từ hàng trăm năm nay các cụ để lại. Đất chật thêm, người đông thêm, hồ ao trong làng bị lấp tiệt lấy đất làm nhà, khiến cho cống rãnh không còn chỗ thoát.

Trước mắt chúng ta là một làng quê quá lứa, quá thì. Đáng lẽ nó phải chuyển thành một đô thị nhỏ. Phải có những ngôi nhà nhiều tầng, có đường sá rộng rãi, hệ thống thoát nước hợp lý, các công trình vệ sinh làm theo kiểu cách hiện đại. Nói chung phải có một môi trường mới, làm cho một cách sống mới. Nhưng đấy là chuyện xa vời, các làng nghề này không đủ sức vươn tới, mà xã hội cũng chưa tính chuyện gợi mở giúp.

Và thế là các cơ sở vật chất cũ kỹ được tân trang tí chút bề ngoài, cứ phải dằn lưng ra gánh vác những thay đổi nhộn nhịp xảy ra hàng ngày. Cả làng như con tàu mắc cạn, không sao cất mình lên được.

Một đặc điểm nữa, thường thấy ở các làng nghề làm ăn phát đạt: trẻ con đua nhau bỏ học, ở nhà làm nghề có ngay đồng ra đồng vào, lại chả hơn sách bút đến trường, mươi mười lăm năm tốn kém, mà liệu có nên cơm cháo gì?! Cha mẹ bọn trẻ nghĩ thế, và bản thân chúng cũng nghĩ thế.

Một cái làng nghề chỉ biết lao đầu kiếm ăn trước mắt, mà không tính toán gì đến tương lai, chẳng lẽ không phải đang trong tình trạng kêu cứu?



Thói quen tai hại

Về thăm Bát Tràng, cảm giác đọng lại trong tôi cũng như ở nhiều người khác, là một cái gì chua xót cho kiếp người. Ở đây chỗ nào cũng thấy khói than bụi bặm. Cả làng là một xưởng sản xuất lớn. Đồ gốm khắp nơi, thứ đang ở dạng sơ chế, thứ xếp trong lò, thứ nằm ngổn ngang chờ xuất đi bán lẻ, và có cả những thứ bóng lọng trong tủ kính. Hàng hóa nhiều quá, hàng hóa lấn át cả những sinh linh đã làm ra nó. Ngập lụt giữa hàng hóa do mình làm ra, con người dường như không còn đứng cao hơn sản phẩm, không còn là chủ nhân ông của mảnh đất này nữa. Mà con người chỉ còn là một chi tiết nhỏ nhoi trong cả guồng máy sản xuất to lớn.

Mới đây đọc báo Nông thôn ngày nay lại thấy nói tới một vùng sinh thái báo động: đó là chuyện ở Văn Thai, Cẩm Vân, Cẩm Giàng, Hải Dương. Dân nơi đây chỉ sống bằng nghề mổ thuê trâu bò. Góc sân bất cứ nhà nào cũng có thể biến thành lò sát sinh. Những thứ thải loại từ các cuộc mổ xẻ thủ công đó hàng ngày tự do tuôn ra đường sá, cống rãnh. Nhiều cái ao biến thành bể ngâm, xương vừa xẻ ra, vứt luôn xuống đấy chờ giòi bọ rỉa nốt những nhánh thịt dính bện mới vớt lên mang bán.

Giá kể ngày xưa, thì chuyện ở Bát Tràng, Văn Thai đã trở thành những ví dụ tốt, minh họa cho bài học về tình yêu lao động và tinh thần chịu đựng gian khổ của dân ta. Nhưng giờ đây người ta buộc phải nghĩ thêm: thói quen là một cái gì đáng sợ. Và khi một thói quen lại gắn bó với công cuộc kiếm sống vốn rất thiêng liêng, thì nó lại càng đáng sợ hơn! Dù biết rằng có hại cho cuộc sống, người ta cũng không dễ thay đổi. Ai mà biết được còn biết bao nhiêu nếp sống quen thuộc mà tai hại như vậy đang tồn đọng ở các làng quê?!

 


Tiếng loa rè

Quan họ với tôi là một món ăn tinh thần, có thể "ăn" mãi không chán. Tôi thường tự nhủ có họa là gỗ đá thì người ta mới không thích những bài dân ca, trong đó có quan họ.

Ấy thế mà một lần về Hội Lim, tôi đã phát sợ với những Người ơi người ở đừng về, Ngồi tựa mạn thuyền, Bèo dạt mây trôi...

Có gì đâu, hôm ấy, những giọng ca quan họ tuyệt vời được phát ra từ một cái loa rè.

Và một điều tai vạ nữa với những người hôm ấy về dự hội là cùng lúc trong không trung, các làn điệu tuôn ra hỗn độn, bài nọ lẫn với bài kia. Bởi ngoài mấy cái loa chung của ban tổ chức, còn rất nhiều loa lẻ khác. Của ông bán kem. Của bà hàng kẹo bột. Của cô hàng bún ốc... Người nào cũng một đài nhỏ, vặn hết cỡ. Cái thứ thức ăn tinh thần, mà lúc chín tới, vốn rất là ngon, giờ như một món cháo vữa, nuốt không nổi.

Vào những ngày xuân có bao nhiêu làng xã mở hội, thì bấy nhiêu nơi loa điện được mắc để gây thanh thế, và thu hút khách qua đường. Riêng cái chuyện chất lượng âm thanh các loa ra sao thì không bao giờ được để ý. Lại càng không ai để ý và tính chuyện quản lý những chiếc loa lẻ, lên tiếng ngay bên nồi canh riêu bốc khói, hoặc mẹt kẹo không ít ruồi bâu.

Cuối cùng, người đến dự hội chỉ còn có cách lắc đầu.

Nhưng tôi cũng biết chắc rằng, năm sau, giá có đi hội, thì vẫn được nghe những chiếc loa ấy. Chuyện này vốn ít được mọi người cho là đáng nói, mỗi khi bàn về lễ hội.

Chữ "chân quê" cũng có ba bảy đường

Xuân hè 1972, trong dịp tham dự chiến dịch Quảng Trị, tôi có dịp đi qua nhiều vùng nông thôn tỉnh này và sớm nảy ra một nhận xét nhỏ: sao mà dân ở đây mê đồ nhựa đến thế: rổ rá nhựa, đồ chơi trẻ con bằng nhựa, cho đến cành hoa mang bày trên bàn thờ tổ tiên cũng bằng nhựa tuốt. Với thói quen của một người lớn lên ở đồng bằng sông Hồng, tự cho mình là chân quê mộc mạc tuy không nói ra, nhưng tôi thầm nghĩ hình như cái vùng quê trong này mất gốc nhanh quá(!)

Nhắc lại chuyện này hôm nay, cũng là một dịp để cười với nhau cho vui. Vì cái lối sống mà tôi nghĩ là không được chân quê cho lắm ấy, bây giờ như vết dầu loang, đâu mà chả thấy. Những đồ vật làm bằng tre mây - niềm tự hào của nhiều vùng quê - nay không còn giữ địa vị độc tôn như xưa. Dùng được cái gì bằng nhựa là người ta dùng, nơi nghèo còn dè dặt, nơi giàu có một chút, đồ lề trong nhà cũng xanh xanh đỏ đỏ y như Quảng Trị mà tôi từng tới. Ngoài chợ, các bà có bán bánh trái, thì cũng từ tốn đặt nó vào trong cái túi nhựa mỏng dính, chứ không phải lúc nào cũng quấn sơ sài bằng mảnh lá chuối khô như xưa. Ngày tết, các cụ chống gậy đi hội, người nghèo đến mấy cũng kiếm được đôi dép lê; có lẩn mẩn hỏi rằng ở đây còn ai đi lại dép cổ ngày xưa (dép làm bằng mo cau và có sợi dây buộc vào cổ chân, phía trước chỉ cần xỏ một ngón chân là đủ), thì chỉ được đáp lại gọn lỏn:

- Gớm chết! Ai lại còn cổ lỗ đến thế!

Lại nhớ lại bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, với cái ý chủ đạo "van em em hãy giữ nguyên quê mùa" mà đi đâu cũng thấy có người nhắc. Thứ nhất giữ nguyên nếp sống xưa, bây giờ nhiều khi hóa bất tiện. Thứ hai, đôi khi lại là không kinh tế, nghĩa là tốn kém nữa. Yêu cầu của đồ dùng là phải rẻ mà lại bền, cái gì bền ắt rẻ. Rồi lại phải tiện dụng nữa, một vài cái rổ nhựa dễ được ưa chuộng hơn cái rổ tre, lý do là vì như thế, có phải vì dùng nó mà cuộc sống nông thôn thay đổi đi đâu?! Bài thơ của Nguyễn Bính rất hay, người ta sẽ còn đọc mãi, nó là lời cảnh tỉnh hữu ích cho những kẻ học đòi. Nhưng học đòi là một chuyện, mà làm cho cuộc sống ngày càng văn minh hiện đại là chuyện khác, không thể đánh lộn sòng mà nhập làm một.HỆN ĐẠI

Friday, July 15, 2011

Con người và tư tưởng thời bao cấp

NHÂN CUỘC TRƯNG BÀY VỀ

Cuộc sống Hà Nội 1975-86


         
 Một cách làm sử
       Mặt nghệt ra như mất sổ gạo. Một yêu anh có may ô -- Hai yêu anh có cá khô để dành -- Ba yêu rửa mặt bằng khăn--- Bốn yêu anh có cái quần đùi hoa. Những câu ca dao tục ngữ ấy được dịch hẳn ra tiếng Anh rồi được kẻ nắn nót cẩn thận trên những bức tường lớn, dưới đó là mấy gian trưng bày các hiện vật theo một cách thức mà trong điều kiện ở Hà Nội này phải gọi là “hoành tráng”.Đó là một căn hộ thu nhỏ với những vật dụng phổ biến một thời, kể cả cái hố xí được ngăn lại để nuôi lợn. Đó là một cửa hàng gạo có kèm theo thông báo tháng này bán gạo thế nào. Rồi một cửa hàng bách hóa với biển hiệu rỉ nát và những bao thuốc cũ mèm, tưởng như sắp mốc đến nơi.      
     Bộ sưu tập Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp đã trình diện như thế tại bảo tàng có uy tín số một hiện nay, Bảo tàng dân tộc học.
      Một định hướng lớn của bộ môn lịch sử - văn hóa thời hiện đại là đi vào những chuyện có vẻ không có gì đặc biệt, nói theo nhà nghiên cứu F. Braudel, “những cấu trúc của sinh hoạt đời thường”.
      Một lần tôi đọc tờ báo chuyên về điểm sách của Nga, được biết bên Moskva họ cho dịch cả những cuốn kể chuyện nước Đức thời Hitler, người dân thường đọc sách gì, xem phim gì, đi làm bằng phương tiện gì, học sinh học sử ở trường ra sao, mơ ước về tương lai ra sao. Còn bản thân người Nga cũng làm những cuốn tương tự, trình bày riêng về từng giai đoạn như các thập kỷ sáu mươi, bảy mươi thế kỷ XX.



Thêm chú thích
    Mà chẳng phải đến thế kỷ XX người ta mới làm vậy. Trung quốc, ngoài các bộ chính sử kinh điển, lại sớm có từ lịch sử ăn mày, lịch sử lưu manh, tới lịch sử trò chơi, lịch sử tuyển chọn người đẹp tiến cung (bản tiếng Việt mấy cuốn này đều đã in ra từ mấy năm trước).  
    Còn ở mình thì sao? Cách hiểu về sử quá cổ lỗ. Lịch sử thường chỉ dành riêng cho những chuyện quen gọi là thiêng liêng, và quá khứ thì cứ bị quấn vào hiện tại, để rồi người viết lúng túng như gà mắc tóc, làm khoa học cũng cũng vật vờ mà làm chính trị cũng nửa vời kiểu ăn theo, chẳng đâu vào đâu.
     Giở lại cuốn Từ điển tiếng Việt của Văn Tân do NXB Khoa học xã hội cho in năm 1977, thấy mặc dù đã nói tới hiện tượng móc ngoặc đến những người chuyên nghề phe phẩy, song hai chữ bao cấp vẫn chưa có mặt. Người ta cũng có thể quan sát thấy tình trạng tương tự ở các từ điển từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài (chẳng hạn từ điển Việt Hán) cùng xuất hiện trong thời gian trên. Mãi đến từ điển Hoàng Phê mới thấy bao cấp được định nghĩa đầy đủ.
      Từ nhiều năm nay trong xã hội đang tồn tại một tình trạng sinh hoạt tinh thần có thực -- những vấn đề có ý nghĩa nhận thức như “ta đang là gì”, “ở vào tình trạng như thế nào “ không được xã hội xem trọng ; mỗi khi cần thay đổi, chỉ thích bàn nên làm thế này thế nọ mà không chịu nghĩ lại xem bắt đầu từ đâu, dân mình đang có những chỗ hay chỗ dở ra sao. Nói chung nhiều lúc thích sống về phía trước hơn là quay lại chuyện cũ.Mà khi người ta không tự hiểu mình, không có sự đánh giá đúng đắn về quá khứ thì mọi hành động lao tới phía trước rất dễ sai lệch.
        Xét trên mặt bằng chung đó, phải nói phòng trưng bày Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp là một nỗ lực khai phá mở ra một hướng nhìn lại quá khứ rất có triển vọng. Nhờ sự gợi ý và giúp đỡ của một số tổ chức quốc tế (1), lần đầu tiên có một cách tổng kết lịch sử theo cung cách rất hiện đại. Nhân triển lãm người ta có thể nghĩ lại về cách sống một thời, từ đó liên hệ với sự phát triển của con người trong hoàn cảnh của nền kinh tế thị trường hôm nay.
    
Mọi chuyện có từ bao giờ hay là một ít sự kiện “đã thuộc về lịch sử”
        Sẽ là không thừa nếu “chính danh” một chút, tức tìm cách gọi đúng tên sự vật trước khi bàn về sự vật đó.
       Về mặt thời gian, lẽ ra, cuộc trưng bày trên Bảo tàng dân tộc học phải mang cái tên là Cuộc sống Hà Nội thời hậu chiến. Còn nếu muốn đi vào thực chất kiểu sống những năm ấy, thay cho bao cấp, người ta có thể dùng những chứ khác như thời trì trệ. Bề nào mà xét thì cũng phải có cái nhìn bao quát từ chiến tranh chống Mỹ, và lùi lại cả giai đoạn từ sau 1954 trở đi.Trong cái mạch chung đó, giai đoạn sau từ 1975 cho tới 1986 chỉ là một phân đoạn --- tuy là phân đoạn chín nhất, bộc lộ một cách đầy đủ nhất bản chất của một giai đoạn phát triển xã hội.
     Những ai từng đọc các bộ lịch sử Liên xô cũ hẳn nhớ, chủ nghĩa Cộng sản thời chiến từng được giải thích khá kỹ và tinh thần của nó còn chi phối tới khi nhà nước sụp đổ. Ở Trung quốc, những quan niệm cơ bản đã được thể nghiệm từ thời Diên An để sau 1949 triển khai ra toàn đại lục rộng lớn, kể cả Bắc Kinh Thượng Hải.
     Còn đối với nhiều người dân Hà Nội, thì đó là cả một câu chuyện khá dài.
     Trong hồi ký Cát bụi chân ai, Tô Hoài từng kể về không khí Thủ đô sau 1954:
       “Chín năm ở rừng, không có lương, quần áo phát theo mùa, xà phòng tắm và giặt cũng lấy ở kho từng miếng, cơ quan sắm dao kéo húi đầu cho nhau. Trở lại thành phố, khó đâu chưa biết, nhưng thức ăn hàng hóa ê hề. Chiều chiều, uống bia Đức chai lùn bên gốc liễu nhà Thủy tạ. Nhà hàng Phú Gia vang đỏ vang hồng vang trắng vỏ còn dính rơm như vừa lấy ở dưới hầm lên. Áo khoác da lông cừu Mông Cổ ấm rực, người ta mua về phá ra làm đệm ghế. Hàng Trung quốc thôi thì thượng vàng hạ cám. Kim sào, kim khâu, chỉ mầu, củ cải, ca la thầu sắng xấu mỳ chính xe đạp cái xe trâu cao ngồng. Ca xi-rô ngọt pha vào bia cho những người mới tập tọng uống bia. Bắt đầu được lĩnh lương tháng. Không nhớ bao nhiêu, nhưng tối nào cũng la cà hàng quán được. Có cảm tưởng cả loài người tiến bộ đổ của đến mừng Việt Nam Điện Biên Phủ”(2)        
       Nhưng cái giai đoạn thoải mái mà Tô Hoài tả đó chỉ ngắn ngủi chốc lát. Hàng hóa nhiều không phải vì làm ra mà vì mới tiếp quản thành phố sẵn của kho đem bán. Nguồn hàng không phải tự mình làm ra ấy cạn rất nhanh. Và cái câu mà một tờ báo lấy làm đầu để “màu thời gian xám ngắt” (Tiền phong chủ nhật 17-6-06) bắt đầu từ đây.(3)
       Trước tiên là sự thiếu thốn.
       Nhiều mặt hàng thiết yếu sản xuất ra không đủ, phải bán nhỏ giọt mà là nhỏ giọt theo kiểu người thời nay khó tưởng tượng được. Sách Kinh tế Việt nam 1945-2000 có chụp lại thông báo của Sở thương nghiệp Hà Nội 11-1956, trong đó nói rõ các đại lý diêm được “nâng mức bán lẻ từ một đến năm bao”, tức là mỗi người được mua năm bao sau một lần xếp hàng. Đây nữa, một ít con số mà tôi “làm cái sái nhì” lấy lại từ cuốn sách vừa dẫn. Trên công báo 1955, có ghi mỗi công nhân viên về nguyên tắc mỗi năm được cấp 5-7 mét vải. Đầu 1955, sinh đẻ được cấp 5 mét diềm bâu khổ 70mm, 30 kg gạo; văn phòng phí gồm 1,5 thếp giấy /tháng / người. Bình quân 10 người / tờ báo Nhân dân, một tờ Cứu quốc. Quạt điện cấp cho các vị từ cấp Thường vụ Ban thường trực Quốc Hội, Bộ Thứ trưởng, các chuyên gia nước ngoài, các đoàn ngoại giao. Cũng diện Bộ Thứ trưởng được dùng điện đèn, điện quạt tùy yêu cầu (tr. 665).
      Sự thiếu thốn này kéo theo cả một quy trình sống mà người ta phải thích ứng. Khoảng trước sau 1960, bắt đầu có chế độ sổ gạo áp dụng cho toàn dân. Rồi tiếp sau đó, dường như tất cả nhu yếu phẩm đều có phiếu, như phiếu mua pin cho máy thu thanh  – mà hồi đó người Hà Nội quen gọi là đài --, phiếu mua phụ tùng xe đạp. Có hai điều không cần phải nói ai cũng biết 1/  định lượng cung cấp cho đại bộ phận các thành viên xã hội ngày mỗi giảm 2/  chất lượng các nhu yếu phẩm ngày một kém. Điều này đã được một cán bộ thương nghiệp nhẩm thành bài vè Nhất gạo nhì rau – Tam dầu tứ muối – Thịt thì đuôi đuối  -- Cá biển mất mùa – Đậu phụ chua chua – Nước chấm nhạt thếch -- Mì chính có đếch – Vải sợi chưa về -- Săm lớp thiếu ghê – Cái gì cũng thiếu (tr 412). Tất cả cứ thế mà trượt dài cho đến giai đoạn hậu chiến.
    
Thích hợp nhưng để lại nhiều di lụy
    Thời bao cấp (75-86) luôn được biết đến như một thời gian khó với cơ chế quản lý kinh tế xã hội không thích hợp. Trong bản giới thiệu trước khi dẫn vào Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp có ghi như vậy.  Xét theo lẽ phải thông thường, có thể thấy điều đó là đúng. Làm sao mà quản lý xã hội kiểu đó là thích hợp được?
     Nhưng nên nhớ điểm xuất phát của chính sách này là hoàn cảnh “thời chiến”, một cuộc chiến tranh chúng ta luôn luôn ở thế yếu và phải có những nỗ lực vượt bậc. Tất cả cho tiền tuyến. Thóc không thiếu một cân – quân không thiếu một người. Những khẩu hiệu đó được hiểu chính xác đến từng chữ. Người ở hậu phương lúc này như sống theo ăn theo. Thế thì có thiếu cũng là bình thường!
    Vả chăng, để tiến hành chiến tranh, xã hội cần phải kết lại thành một khối rắn chắc, mà muốn thế, cần ghép mọi người vào tổ chức, nói theo một danh từ của lịch sử, là “ đoàn ngũ hóa “ họ. Việc phân phối theo kiểu bao cấp chỉ là kết quả của một quá trình lớn lao hơn: Tất cả những gì thuộc về con người phải được quản lý.
    Nếu nhìn nhận liền cả một quá trình như thế thì có thể thấy rằng không phải cái cơ chế quản lý kinh tế mà ta gọi là bao cấp ấy là không thích hợp, mà có thể nói nó là một cái gì hết sức thích hợp mới đúng. Tương tự như câu chuyện hợp tác hóa. Chắc chắn là không có hợp tác hóa không thể đánh Mỹ được.Tại sao vậy? Bởi có hợp tác hóa thì mới dễ dàng huy động được những sản phẩm mà nông dân sản xuất được để tiếp tế cho chiến trường. Có hợp tác hóa mới dễ đưa người đi bộ đội.
     Đó không phải là một kiểu quản lý khôn ngoan và có hiệu quả ư? Tất nhiên rồi. Nhưng không thể có cách nào khác.
     Ra đời trên cơ sở một cơ chế sản xuất bị kìm hãm, quy trình bao cấp sau đó quay trở lại củng cố sự kìm hãm đó, tức làm cho tình trạng trì trệ càng thêm trì trệ. Cái được rất nhiều, nhưng cái mất còn lớn hơn nữa. Và cái đáng sợ nhất là không ít người coi cách quản lý đó là duy nhất thích hợp nên không nghĩ đến chuyện làm khác đi, thậm chí hủy bỏ, khi hoàn cảnh đã thay đổi. Bởi nó tiếp tục duy trì có tới cả chục năm sau chiến tranh, nên cuộc trưng bày mới được khuôn vào quãng thời gian 75-86 nói trên. Lúc này cái chế độ bao cấp đã đạt đến mức “ cổ điển” của nó. Người ta sống trong đó như cá trong nước, nghĩa là tự nhiên thuần thục, và đành lòng chấp nhận tất cả. Chỉ lấy ví dụ về lương, đây là con số đưa ra trong cuốn sách Kinh tế Việt Nam1955-2000 cách tính toán mới phân tích mới (Trần Văn Thọ chủ biên, nhà xuất bản Thống kê 2000): so với năm 1978, thì mức lương năm1980 chỉ bằng 51,1%  và năm 1984 chỉ còn 32,7%. (4) Sự vô lý đã lên đến mức không cách gì bào chữa được nữa.
Những sự gậm nhấm thường trực
    Tiếu lâm Việt Nam nổi tiếng với các loại truyện có liên quan tới miếng ăn, từ thày đồ ăn vụng mật tới anh chàng sang nhà bố vợ, nhờ con gà vướng dây mà gắp lia lịa. Với rất nhiều truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, với Đói của Thạch Lam hoặc Một bữa no của Nam Cao … người ta đã thấy văn chương tiền chiến có nhiều tác phẩm cảm động đi vào miêu tả những liên hệ của con người với miếng ăn. Hồi ký Từ bến sông Thương của Anh Thơ kể hồi kháng chiến chống Pháp, có lần tác giả bắt gặp Xuân Diệu đang trên đường vào Khu Bốn.  Hỏi tại sao vào, mới biết ra ở Việt Bắc thiếu cái ăn quá, tác giả Thơ thơ “du” Thanh Nghệ để tìm cách cải thiện sức khỏe.
    Mối quan hệ giữa con người và miếng ăn vốn đặc trưng cho mỗi thời đại.
    Tháng mười 1954, khi Hà Nội mới giải phóng, tôi ở vào tuổi 12. Trong số những kỷ niệm liên quan tới sự kiện này, có việc một hôm chính quyền bán theo giá rẻ gần như cho không mỗi hộ một kg đường. Cả cái xóm nghèo Thụy Khuê chúng tôi háo hức chờ đợi. Và ở tuổi 12, tôi được theo người lớn đi xếp hàng từ bốn giờ sáng. Quý lắm, hể hả lắm, mỗi lần nói tới giải phóng Thủ đô lại nhớ cân đường mua rẻ.   
      Gần mười năm sau, mùa hè 1963, trong những ngày học Đại học sư phạm Vinh, một lần lớp Văn II B của tôi lên huyện miền núi Nghi Lộc giúp dân thu hoạch lúa. Để động viên, cấp trên phát chúng tôi mỗi người một lạng đường gói vào tờ giấy báo. Xin phép gạt nỗi xấu hổ ra một bên để thú thực là ngay trong buổi họp, nhiều sinh viên, trong đó có tôi, đã giở cái gói mỏng teo đó ra, liếm sạch, vừa liếm vừa nhìn nhau cười, vì không ai bảo ai mà ứng xử giống nhau thế!
      Đúng như một trong những câu ghi trên tường cuộc triển lãm này đã xác định, trong suốt cái thời gian khó đó, có những lúc cái sự ăn trở thành tất cả đối với con người. Từ sáng đến tối chỉ nghĩ chuyện ăn. Ăn là thiêng liêng. Ăn là dấu hiệu chứng tỏ mình đang được sống. Thay cho câu “ tôi tư duy vậy tôi tồn tại “, điều tâm niệm của con người lúc này là “tôi còn được ăn, vậy tôi tồn tại”.
       Ngoài sự ăn, trong may mặc, đi lại, và cả trong vui chơi giải trí nữa, con người  lúc ấy cũng ở vào tình trạng tương tự.  Những câu nhại Kiều Bắt ở trần phải ở trần ---  cho may ô mới được phần may ô” lan ra như cỏ dại, câu này chết đi, câu khác lại được truyền tụng.
     Nói rằng thiếu thốn còn quá đơn giản, phải nói sự thiếu thốn lúc ấy đã lên đến mức vượt ra ngoài sự tưởng tượng. Hơn nữa, sự thiếu thốn triền miên ấy đã in dấu vào tâm lý mọi người và trở nên một cách nghĩ thường trực, nhìn bên ngoài có chút gì kỳ quái, thế mới đáng sợ.
      Lại nhớ Ngô Tất Tố có bài tiểu phẩm kể Làm no hay là cái ăn trong những ngày nước ngập. Trong số những người phát biểu cảm tưởng sau khi xem trưng bày Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp, cũng có người có cái ý nghĩ tương tự như nhân vật Ngô Tất Tố, tức là nói đến khả năng vượt lên trên sự đói, với một chút tự hào. Tuy nhiên, nếu có muốn cười thì thật ra nhiều người chúng ta thường đã phải giấu đi những giọt nước mắt.  
      Vâng, làm sao khỏi ứa nước mắt, khi nghĩ tới những sáng kiến hồi đó. Nuôi lợn ngay trong các căn hộ 20 mét của các chung cư. Lộn cổ áo sơ mi và “ tích kê “ những chỗ ống quần dễ rách. Nhặt mảnh phim về kết thành làn. Thu góp từng cái ruột bút bi viết hết để mang về bơm lại. Lộn trái phong bì để sử dụng thêm lần nữa … Nhiều chuyện lắm và có những chuyện bây giờ phải diễn giải ngọn ngành mới hiểu nổi.
      Bảo rằng đó là tiềm năng sáng tạo được bộc lộ thì cũng đúng. Nhưng tôi cứ thấy tủi cho chữ sáng tạo thế nào. Sáng tạo liều, sáng tạo quẩn, sáng tạo lấy được …, chắc còn có thể mệnh danh cho sự sáng tạo ấy bằng nhiều chữ nghĩa xót xa khác.
Những thay đổi đã đến với con người   


        Nói như ngôn ngữ thời nay,cái giá để duy trì sự nhất trí và do đó sự ổn định như vậy “ không rẻ “.Về mặt sản xuất,đã thấy chế độ bao cấp mang lại nhiều tai hại. Nó tước đi của xã hội sự năng động và khả năng điều chỉnh tự nhiên. Nó kìm hãm sức làm việc khiến cho toàn bộ sản xuất ngưng trệ thậm chí thụt lùi. Nhưng không chỉ có thế. Tác động sâu xa mà nó để lại trong đời sống tâm lý và toàn bộ cách sống của con người cũng là điều đáng để day dứt.
     Tchekhov là một nhà văn Nga vốn rất nhạy cảm với chủ đề nỗi khổ làm hại tới phẩm chất con người. Qua miệng một nhân vật, ông từng khái quát “những kẻ đang chịu đau khổ thường ích kỷ, ác độc, thiếu tỉnh táo nghiệt ngã, và ít khả năng hiểu người khác hơn cả những người đần độn”.
      Ông từng dựng lại một nhân vật suốt đời lo kiếm sống và khi về già lấy việc được ngồi ngắm những trái cây thu hoạch trong vườn mình làm điều mãn nguyện (Quả phúc bồn tử). Bởi đã có lúc quá thiếu thốn, nên khi no đủ con người vẫn hiện ra bệ rạc đáng thương.
      Sự tha hóa con người ở mọi thời đại không ra ngoài hai hướng mà Tchekhov đã khái quát ở trên.
       Sau đây là một trường hợp gần với chúng ta hơn, một cách ứng xử bề ngoài có vẻ như không có gì quá đáng mà chỉ thoáng một chút kỳ dị, nhưng không vì thế mà bớt đi vẻ bi thảm. Trong Chơi vơi trời chiều (5), nhà văn Trung quốc Thiết Ngưng từng đưa ra một nhân vật rất lạ: do có thời gian bị đày xuống nông thôn và chịu cảnh rét buốt thấu xương, bà dạy mẫu giáo ở một huyện nọ nảy sinh một thói quen là lúc nào cũng lo rét sợ rét, và không đủ phương tiện chống rét ; thế là đi đâu, tới cửa hàng bách hóa nào, bà cũng lùng sục để mua chăn bông, rồi về “ xếp cao từ nền nhà lên tận trần”.
      Những ngày thiếu thốn cũng đã để lại trong tâm lý con người Việt Nam nhiều loại di lụy tương tự. Cái hèn mà ta vốn khinh ghét, cái hèn đó ngấm ngầm ăn vào máu ta. Hèn theo nhiều nghĩa. Lúc nào cũng lo lắng, sợ sệt. Và chỉ có những niềm vui tầm thường. Mua được cân gạo không bị mốc, vui. Cưới cho con trai cô vợ làm ở cửa hàng lương thực nên cả họ mua bán dễ dàng, quá vui. Đi bộ mấy cây để đến nghe nhờ đài ở một nhà bạn, cũng đã vui lắm. Vui đấy rồi thấy mình sự khốn khổ của mình ngay đấy, và ngày mai, lại vẫn tiếp tục cái tầm thường dễ thương đó.  
       Cũng theo những cách thức rất từ tốn, sự xót xa đã đến, mà chỉ những lúc thật tĩnh trí người ta mới nhận ra, nhưng nó cứ bám vào đầu óc ta mãi. Được giải thích kỹ lưỡng, ai cũng hiểu hy sinh là cần. Nhưng vì sự hy sinh này đã kéo quá dài nên người dân không khỏi sinh ra mệt mỏi. Nhiều sự uể oải diễn ra ngoài ý muốn. Và nguy hiểm nhất, sự ngại ngùng khi nhìn về phía trước. Con người cảm thấy không bao giờ mình có thể vươn tới những cái cao đẹp. Mình đã bị đánh mất. Nhắm mắt buông xuôi, tự cho phép làm bất cứ điều gì khi thấy cần, miễn là tồn tại. Lòng tự trọng kiểu nhân vật lão Hạc của Nam Cao không còn. Mà đến một chút phẫn uất của Chí Phèo cũng không còn nốt.
       Theo chỗ tôi biết, trong thời gian gọi là ngưỡng cửa của công cuộc đổi mới (khoảng 1985-86), nhà mác - xít Trường Chinh vốn người kiên định bỗng có một sự chuyển biến. Trước đây, ông nghĩ rằng sự chịu đựng của nhân dân là không giới hạn. Tới lúc này thì không phải thế nữa. Sự chịu đựng có thể xói mòn lương tâm và làm thoái hóa con người. Bởi hiểu thế, ông nghiêng hẳn về cải cách.
Những mối quan hệ bị biến dạng
        Đồng thời với việc tác động vào tâm tính con người, những ngày bao cấp cũng mang lại cho mối quan hệ giữa người với người những biến dạng. Sự biến dạng này mỗi ngày một ít, đến mức người trong cuộc khó nhận ra, nhưng rồi cuối cùng vẫn hằn lên thành những quy tắc rõ ràng, dù là quy tắc không ghi thành văn bản.
       Bảo rằng mục tiêu của cả một thế hệ Việt Nam trong đêm trước đổi mới là “ sống và sống đẹp “ như gần đây một vài tờ báo đã viết thì không ai cãi lại được. Riêng những năm đầu chiến tranh thì quả là một thời kỳ Nghiêu Thuấn. Ở Hà Nội, các nhà đi sơ tán chỉ khóa cửa bằng một cái khóa sơ sài. Ra đường, cánh bộ đội chúng tôi vẫy xe dễ dàng. Người nọ nghĩ về người kia với một niềm tin tự nhiên. Đẹp là đẹp theo nghĩa ấy!
       Song có một sự thực là đến đầu những năm bảy mươi, mọi chuyện đã khác và từ sau 1975 thì càng khác. Dễ thấy nhất là chuyện những chiếc xe đạp; ngoài khóa chính lại còn phải khóa thêm cái yên.Tô Hoài kể trong Cát bụi chân ai: Ở một cửa hàng ăn rất sang hồi ấy, những chiếc đĩa đựng bánh ngọt phải bắt vít xuống mặt bàn. Một sự thực nhiều người tuổi tôi còn nhớ: các quán mậu dịch giải khát (kể cả cà phê) loại tầm tầm cũng “thống nhất” đục một lỗ thủng các thìa nhôm để đánh dấu. Vì sao ư, đơn giản lắm, vì sợ ăn cắp.  Chính sách em học đã thông --  Chỉ vì túng thiếu xin ông ít nhiều: Quả thật, càng ngày nạn ăn cắp càng phổ biến, dù chỉ là ăn cắp vặt. Ăn cắp bởi không có cách nào khác để sống. Và bởi nhiều ăn cắp quá nên không bị coi là việc xấu nữa. 
      Tương tự như thế là sự dối trá. Hồi ấy báo chí ít lắm, mà từng tờ cũng it trang ít chữ, vậy mà có lần trên báo Nhân dân (tôi nhớ đâu như 1974) có cuộc thảo luận về làm ăn thật thà, điều đó chứng tỏ là lúc đó sự dối trá trong làm ăn đã lan ra rất rộng. Không thật thà trong việc làm ra của cải. Nhất là không thật thà trong chuyện phân phối.
       
       Nếu thời gian đầu, giữa người với người có sự chia ngọt sẻ bùi thì càng về sau (xin nhấn mạnh một lần nữa: đặc biệt nhất từ 1975 trở đi), một xu thế ngược lại ngày càng nổi lên và đóng vai trò chi phối: trong cảnh nghèo rỗi rãi, người ta rất hay soi mói để ý đồng nghiệp và hàng xóm. Nghi ngờ xen lẫn ghen tị. Nghi ngờ: “đói ăn vụng túng làm càn”, ai cũng một lần da đến ruột, ai cũng sẵn sàng làm bậy như mình thôi. Và ghen tỵ, ghen tị một cách tự nhiên, thậm chí không biết rằng đang làm một hành động độc ác. Cùng cảnh khổ với nhau, không lẽ gì có người hơn kẻ kém. Vậy không ai được phép hơn mình. Không cho ai ngóc đầu lên cả. Cách gì cũng có thể làm, miễn là kéo được nhau xuống.
       Trên nét lớn, nhiều người biện hộ: con người phải thay đổi như vậy để thích ứng với hoàn cảnh. Tôi thấy cũng có lý, chỉ nói thêm, quá trình thích ứng này không nên chỉ được xem như một cái gì đáng khen, đáng mừng mà thực ra là một quá trình kép, tích cực có mà tiêu cực cũng có, tiêu cực rất nhiều nữa.
     Trong một tài liệu mang tên Xã hội học cá nhân, nhà tâm lý học người Nga I.X.Kon từng nêu mấy nhận xét có tính chất lý luận. Kẻ lo thích nghi là kẻ trí tuệ kém phát triển hơn người độc lập. Họ ít khả năng làm chủ bản thân trong những điều kiện căng thẳng. Họ thường nghe ngóng dao động và rất dễ quay trở về với tình trạng vốn có, nói nôm na là họ rất bảo thủ. Bởi họ không đủ lòng tự tin. So với những nhân cách độc lập, và được phát triển trong điều kiện chính thường, thì quan niệm của họ về bản thân phiến diện hơn hời hợt hơn. Đứng trước thực tế khách quan, năng lực phán đoán của họ rất thấp. Với người chung quanh họ vừa thiếu tin tưởng vừa dễ bị lừa. Nói chung là họ rất thụ động, hay đạo đức hóa các mối quan hệ và sợ xa rời tiêu chuẩn.
      Không cần gò ép chút nào, cũng có thể thấy những đăc điểm đó của con người thích ứng cũng là đặc điểm của chính chúng ta thời bao cấp, với cách biểu hiện khi tinh tế hơn khi trắng trợn hơn, song loại nào cũng có.
Những quan niệm thô thiển về con người và những thang bậc chặt chẽ
       Từ những hoạt động lặp đi lặp lại, lẽ tự nhiên có sự hình thành những quan niệm.Trở lên, tôi đã nói những tác động của quá trình đoàn ngũ hóa, hợp tác hóa cũng như sự bao cấp nói chung tới quan niệm sống của mọi người dân thường, mọi công dân. Thế còn ảnh hưởng của nó tới ngay người quản lý xã hội? Đây là cả một câu hỏi lớn, dưới đây chúng tôi chỉ nói tới hai điểm nhỏ.
      Thử đọc một cái lệnh về quản lý lạc được ghi lại trong cuốn Kinh tế Việt Nam 1945-2000:
     Không có thị trường tự do về buôn bán cũng như về trao đổi các mặt hàng kể trên, cụ thể như lạc chỉ để lại vừa đủ làm giống cho vụ sau tính toán cho sát. Người sản xuất không tiêu dùng là tốt, người trồng lạc không ăn lạc không dùng lạc để làm kẹo hay luộc để bán … Đối với nông sản dùng để chế biến thực phẩm cho nhân dân thì nhà nước phải quản lý chặt chẽ trên thị trường, không để ai buôn bán kiếm lời.
       Đằng sau những lời lẽ cứng nhắc là một quan niệm khá thô thiển: người ta nghĩ rằng mỗi thành viên xã hội không là gì cả, mỗi công dân không thuộc về chính mình mà trước tiên là của cộng đồng. Cái gì cũng có thể và cần phải quản lý -- xã hội và con người chỉ còn là một thứ đất sét, muốn nhào nặn thế nào cũng được. Đây chính là cái tư tưởng làm nền cho sự quản lý.
      Để biện hộ cho mình, một thời gian dài, chúng ta khăng khăng cho rằng những biện pháp như trên là duy nhất đúng và giá kể tiếp tục như thế mãi mãi thì làm gì cũng được.  Đáng lẽ phải hiểu rằng lối quản lý đó gây ra rất nhiều tai hại trong nếp sống cũng như tư tưởng con người thì người ta lại lầm tưởng nó là cái mẫu lý tưởng nên theo, và sau này chỉ bần cùng bất đắc dĩ mới từ bỏ.
       Tư tưởng đó cố nhiên chỉ có thể nảy sinh ở những người ít kinh nghiệm nhưng lại quá tự tin không chịu rút kinh nghiệm. Không tính hết hậu quả các chính sách xã hội của mình. Dễ cứng nhắc, thô bạo.    
     Còn một vấn đề nhức nhối nữa thường ngự trị trong đầu óc mỗi người mỗi khi nhớ lại thời bao cấp (mà đến nay cũng chưa chấm dứt được là), đó là cảm tưởng về một xã hội có sự phân chia theo những thang bậc chặt chẽ.
       Mọi chuyện cũng bắt đầu từ kinh tế.  Sự cung cấp được chia ra theo ngạch bậc. Cán bộ cao ăn cung cấp – cán bộ thấp ăn chợ đen—Cán bộ quen ăn cổng hậu.  Phải nói ngay là cũng như toàn bộ chế độ bao cấp nói chung, việc phân chia theo ngạch bậc là hoàn toàn tự nhiên, không thể làm khác.
       Thế nhưng không phải vì thế mà làm thế nào cũng được!
     Đây là một số số liệu ghi trong cuốn sách Kinh tế Việt nam 1945-2000: Trong khi người dân thường mỗi tháng chỉ được 150 gram thịt, thì cán bộ cao cấp trên được 6kg, tức là bốn chục lần lớn hơn. Và tính ra chênh lệch là 100 đồng. Ngoài ra còn thuốc lá chè đường sữa len dạ, cũng tạo ra khoản chênh lệch khoảng 100 đồng nữa.  
      Theo cách nhìn hiện đại thì cái sự hơn kém giữa trên với dưới trên kia mô tả, kể cả những khoản giấu diếm – cũng chả là bao. Nhưng đặt trong mặt bằng chung của thời chiến, đó đã là một sự chênh lệch lớn. Bởi vậy những lời biện hộ cho rằng so với lương tối thiểu là 26 đồng thì lương bộ trưởng chỉ gấp tám lần (khoảng từ 200 đến 220 đồng) – lối biện hộ ấy không thuyết phục được ai.
      Vốn cũng từ dân nghèo mà ra, người quản lý biết ngay rằng mình hưởng có phần quá. Lại do chỗ muốn an lòng người dân, một khuynh hướng tìm cách che giấu hình thành. Ban đầu là tự nhiên. Về sau là cố ý.
     Từ đây nẩy sinh một ấn tượng, thường in đậm trong đầu óc mọi người mỗi khi nhớ tới cái khoảng thời gian gọi là thời bao cấp. Đó là hình ảnh một xã hội mang tính thang bậc chặt chẽ. Cái này thì người dân thường Hà Nội trước sau 1975 cảm thấy rất rõ. Bởi hồi ấy, xe ô-tô ở Hà Nội rất hiếm, nên chỉ cần nhìn một chiếc xe con đi qua, chúng tôi biết ngay là đã có một vị cỡ nào vi hành. Xe Pobeda và sau này là Vonga đen ư? Cố nhiên là bộ trưởng trở lên rồi. Các thứ trưởng và cấp tương đương đi những chiếc nhỏ hơn và ít oai vệ hơn, tức là loại Moskovits. Một nhà văn hay ghi những chuyện vặt là Tô Hoài còn kể ngay cách trang trí sau xe cũng có phân biệt. Như thế đấy, một nếp sống đặc sệt chất quan liêu nảy sinh ngay trong thời buổi khó khăn và con người tưởng là bình đẳng nhất.
Xưa nay nối tiếp
     Các nhà kinh tế gần đây hay nói tới cơ chế xin cho, nó là yếu tố cản trở tính năng động của xã hội.  Nhưng ngồi thử vân vi thì biết: Tác phong quan liêu cửa quyền. Thói quen luồn lách, chỉ chực phá luật kiếm lợi riêng.  Nhịp sống uể oải đến đâu hay đến đấy. Lối suy nghĩ rập khuôn. Những đam mê đen tối. Niềm khao khát thường xuyên muốn được tận hưởng những gì chỉ mới nghe mới thấy từ những xứ sở xa lạ …Bấy nhiêu thói xấu mà hôm nay chúng ta khó chịu (cũng như bao thói khác chưa kể ở đây), chẳng phải đều bắt nguồn từ cái quá khứ mà chúng ta muốn không bao giờ lặp lại đó?!
     Theo Từ điển Hoàng Phê, bao cấp là “cấp phát phân phối, trả công bằng hiện vật và tiền mà không tính toán hoặc không đòi hỏi hiệu quả kinh tế tương ứng”. Cuộc trưng bày Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp là một minh họa đích đáng cho cái định nghĩa phổ thông đó và mở ra cho chúng ta một dịp để nghĩ lại mọi chuyện. Với việc không dùng tiền tệ để thanh toán, và đẩy hoạt động sản xuất về tình trạng tự cấp tự túc, cách phân phối ấy là một bước lùi trong tư duy kinh tế. Còn nhìn rộng ra các mặt khác thì xã hội lúc ấy là xa lạ với khái niệm xã hội dân sự. Bởi về đại thể, đó là một xã hội không bình thường, nên những cố gắng bình thường hóa nó trở lại của chúng ta hai chục năm gần đây mới khó khăn đến thế !
-------
      (1) Cuộc trưng bày này nằm trong chương trình tổng kết 20 năm đổi mới do UNDP và các quỹ khác như quỹ Ford, quỹ Sida tài trợ. Mở cửa từ tháng sáu tới hết năm 2006.
     (2)  Điều thú vị là đoạn này của Tô Hoài lại được sử dụng như là tài liệu minh họa tốt trong một cuốn sách giáo khoa về kinh tế, cuốn Kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II 1955-1975 – Đặng Phong chủ biên Nhà xuất bản Khoa học xã hội –2005. Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị khoa học thực sự. Một số trích dẫn dưới đây có ghi chú số trang là lấy từ bản in này  
      (3) Nhại một câu thơ của Đoàn Phú Tứ Màu thời gian tím ngát, bài Hương thời gian
     (4)  Dẫn lại từ Phạm Thị Quý chủ biên, Giáo trình lịch sử kinh tế Việt nam, NXB Đại học kinh tế quốc dân,2006, tr 399.

     (5) Bản dịch đã in ở NXB Hội nhà văn 2006