Friday, September 28, 2012

Bẻ queo những chuẩn mực đạo lý nhân bản




Trích từ chuyên mục


 Người
xưa cảnh tỉnh


đã in trên Thể
thao và văn hóa
2005-2007


Các đầu đề nhỏ và chú thích là của người biên soạn












Lêu lổng qua ngày, mất hết tự trọng    


  
Dân nghèo ra thân đi làm tá điền, nói tiếng làm ruộng, chớ kỳ trung đi
kiếm ăn cho qua ngày tháng. Một năm mười hai tháng, làm ruộng thiệt sự có bốn
năm tháng, dư linh (1) làm  gì ? Vì không
có nghề trong tay, nên toàn rủ nhau đánh cờ chó hoặc đi coi đánh  bạc, chà lết mòn quần rách áo. Dốt đặc hơn cả
cá tôm, vụng về hơn trùn dế. Dân nước khác tiếc tới giờ tới phút như tiếc bạc,
dân nước mình phí ngày tháng như nước trôi.


    Uổng thay! từ già đến trẻ từ nam đến nữ đều
luống những đêm ngày. Nghe ai cho vay thì mừng hớn hở, hỏi rồi nào lo trông trả?
Vì vô nghề nghiệp nên mới sinh tệ trong xứ như thế. Làm người phải biết thương
cái thể diện của mình !





(1) ngoài ra


Trần Chánh Chiếu


 Lục tỉnh tân văn 1908


Trông đợi quá nhiều ở sự may rủi


    Phương ngôn có câu rằng “may hơn khôn”,
chẳng qua là nhân một việc gặp may thì hơn thật; có phải là sự gì cũng kiêu
hãnh mà được đâu.


    Dân
nước ta nhân truyền tập (1) câu ấy làm đầu lưỡi, mà không biết lẽ phải trái ra
thế nào.


    Học tài thi phận, người học trò đỗ tại
duyên trời;


    trông quả trồng cây, người làm ruộng chỉ
nhờ hòn đất;


    người đi 
buôn gặp phiên chợ đắt thì may rằng ra ngõ gặp trai;


    người làm thợ gặp buổi công cao thì may
rằng áo vá gặp hội;


    cho đến làm việc gì tiện lợi thì mừng rằng
buồn ngủ gặp chiếu manh;


   làm
việc gì gian truân  thì than rằng chết
đuối vớ phải cọc.


   Ai cũng lấy sự may làm chắc  mà không biết rộng trí khôn ra, một câu nói
làm lầm cho người ta lắm.





(1) trao gửi
cho nhau, tiếp nối đời này sang đời khác


                                                                                                
Đặng Vũ Kính 


                                                                                                 
              
Đông
dương tạp chí,
1916


Thiếu tận tâm, tránh khó tìm dễ   


  
Hễ mỗi khi người khách (1) ở nội xứ mình mà họ lập điều chi, thứ nhất là
xài tiền nhiều, thứ hai là kiệt lực tận tâm. Xem ra thì nước mình không sức mà
làm đặng, dầu có sức về việc tiền bạc (2) thì thiếu tay làm, bởi vậy làm không
đặng. 


    Sao mà người ta làm điều chi đặng hết, còn
người mình mỗi điều nào đều là khó hết? Ví như hiểu là tại mình không tận tâm,
tránh khó mà tìm dễ, thì xin một điều hãy trách và hờn lấy mình, sao mà đãi đoạ
(3) lắm vậy?


     Theo ý mọn của tôi, hễ thấy người dị quốc
(4) làm điều chi phải và giỏi thì muốn ráng sức, bắt chước mà làm theo cho hơn,
nếu không hơn thì cho bằng; chớ để mà trầm trồ khen ngợi việc người còn mình bỏ
luôn bỏ hoang đi, thậm hổ (5) lắm.





(1) chỉ các Hoa kiều


(2) có đủ vốn


(3) biếng nhác


(4) nước khác


(5)  cũng như xấu hổ


Lương Dũ Thúc


  Nông cổ mín đàm 1901.








Xấu làm tốt dốt làm
thông



     Chúng ta thừa thụ cái cơ nghiệp của tiền
nhân, sinh nở phồn thực ở đất nước này đã mấy nghìn năm đến nay lại gặp lúc
ngọn triều tiến hoá tràn khắp mọi nơi, thế mà không làm sao bước tới theo
người.


      Mà chỉ mê mẩn tối tăm, ngu hèn dốt nát
đói nghèo khốn khổ, không dám ló đầu ra với mọi người.


     Nhất ghét là xấu làm tốt dốt làm thông,
mượn cái văn minh của người mà trang sức bề ngoài, kỳ thực trăm việc chẳng ra
gì, nhân cách một ngày một hư, phong tục một ngày một nát;


    ngọc vàng bề mặt, thối nát bề trong;


  
 văn minh chẳng thấy đâu mà càng
ngày càng thêm man rợ.


     Nghĩ
thấy Tổ quốc mình như thế thôi thì không có việc mà bàn không có chuyện mà chép
mà cũng không bàn làm gì không chép làm gì.


 Ngô Đức Kế


  Hữu thanh, 1923





Không 
biết tôn trọng cả lợi ích


 công cộng lẫn lợi ích cá nhân


    Sản nghiệp tài vật chung gọi là lợi ích
công cộng. Có những kẻ chiếm đường quan, phá hoại cầu cống, phá trường học,
công sở, đồ đạc trong thư viện, đèn điện trên hè phố, bẻ hoa ở công viên và vi
phạm quy ước chung. Nơi du hí hội trường nhà hát họ cũng tranh giành nhau làm
ồn ào náo động.


      Phàm những kẻ mưu tiện lợi cho mình mà bất
tiện cho số đông đều không thể tha thứ được.                                                            


     Những người tìm ra được một phương pháp
làm ăn truyền lại được một kỹ thuật khéo léo cũng phải lao tâm khổ tứ. Nếu
không có pháp luật bảo vệ quyền lợi khác biệt ấy, những người có tài sẽ sinh ra
chán nản  lười biếng và sẽ chẳng có sáng
tạo mới nữa.


     Ở các nước, những sáng chế mới mẫu mã kiểu
dạng mà sắc nhãn hiệu hàng hoá đều đăng ký ở các cơ quan hữu trách cho chuyên
dùng.


    Người nước ta giỏi việc giả mạo, in ấn mô
phỏng, luật pháp trong nước không định, các quan địa phương cũng cho là không
cấp thiết, như thế mà mong xã hội tiến bộ được chăng?





Quốc dân độc bản, 1907                                                                                                                                                                     





Những
ham muốn tầm thường


      Đau
đớn thay cho những người nước ta, trước mắt không bao giờ thấy lợi chung, trong
óc không bao giờ có tư tưởng cao thượng, túi những chất đầy tham mà tham không
mực, chẳng qua là nghiện hơi đồng (1); hố vẫn lấp đầy dục (2) mà dục kỳ cùng,
chẳng qua là hầu xác thịt; kết quả đến nỗi hy sinh hết lương tâm thiện lý, mà
làm nô lệ cho những món tư tình (...) Vợ vì sẵn của mà hoá vợ hèn, con vì sẵn
của mà hoá nên con dại, tiền bạc hoá ra của phá nhà, ruộng vườn hoá ra mồ chôn
sống...





(1)   lấy
ý từ câu Kiều: “máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê “


(2)   lòng
ham
muốn


Phan Bội Châu


 Cao đẳng quốc dân, 1928


Giả dối thịnh hành,


không biết nhìn ra sự thật


      Một khối tình
như tình cha con, mẹ con không lẽ lại có một giống người nào không có. Văn
chương ta không nói đến cùng vì các nhà văn từ xưa đến nay chỉ chạy theo những
điều giả dối, những điều bịa đặt, không chịu nhìn sự thật.


    
Cái thói giả dối ấy thịnh hành đến nỗi ngày nay ở các trường, các bạn học
sinh ta mỗi lần phải làm luận (1), như phải nhắc lại một điều ký ức hồi nhỏ chẳng
hạn, thì ai nấy đều vội bịa ra một câu chuyện tưởng tượng. Người ta không nghĩ
rằng cái rực rỡ, cái dồi dào của tưởng tượng, tài tình đến bậc nào mặc dầu, vẫn
không sánh được với cái rực rỡ, cái dồi dào của sự thật, nếu ta biết nhìn sự thật.





(1) Nay gọi là môn tập làm văn


 Hoài Thanh


 Về văn học, xứ ta cũng còn là một đất
hoang Sông Hương 1936


Giải thich sai các giá trị


     Danh dự là có tài có đức có công nghiệp (1) có
khí tiết thật, còn kẻ chạy theo hư vinh chỉ lo đâm đầu đâm đuôi chạy xuôi chạy
ngược để cầu cạnh chen chúc, làm sao cho có được cái mã ngoài ấy thì tất là lộn
sòng với cái chân giá trị.


     Nào
trong xã hội mấy ai là người biết cân nhắc so sánh cái chân giá trị của người
ta, mà vẫn thường lầm cái hư vinh là cái danh dự thực!


     
Hỏi trọng gì, ắt là võng lọng cân đai;


     hỏi
quý ai, tất là ông cả bà lớn;


     hỏi
cái gì là sang, tất là xe ngựa lâu đài ngọc ngà gấm vóc;


    hỏi
cái gì là sướng, tất là ăn trên ngồi trốc, nhận lễ thu tiền.


     Rồi
xu phụ khéo luồn lọt bợm để cầu vinh, ấy là người giỏi;


    
giết người tợn tâng công khoẻ để cầu vinh, ấy là người tài;


     lắm
quan thày tốt, thần thế lo gì cũng xong xin gì cũng được, ấy là anh hùng;


     nạt
con em ức hiếp hàng xóm, anh làm ông nọ, em làm ông kia, ấy là nhà có phúc;
khao phẩm hàm, vọng ngôi thứ (2), ấy là vẻ vang;


     cổ
kim khánh, ngực mề đay ấy là danh giá.


     Một
người như thế, trăm người đều như thế, đời trước như thế mà đời sau cũng như
thế nốt!





 (1) cũng
tức là sự nghiệp


 (2) nộp tiền hay lễ vật cho làng để có ngôi
thứ





 Dương Bá
Trạc


 Tiếng gọi đàn, 1925


Đạo lý ngược đời   


        Nước ta, đạo Khổng Mạnh dĩ đức báo oán là chữ nhân;


        dĩ tiểu sự đại là chữ trí;


        ai chết mặc ai không học chữ kiêm ái;


        dở khôn dở dại cứ giữ đạo trung dung
(1);


         trải mấy ngàn năm vua tôi cha con quan
dân thày trò từ trên chí dưới cứ ở trong phạm vi cái đạo đức ấy đã gây nên một
nền văn hoá rất có đặc sắc cho đến ngày nay.


      Này anh thử xem,


       cúi đầu tận ngực phú quý không hay kiêu,
đánh bạc phá nhà tiền tài không biết lận (2);


      thờ kẻ trên có lễ phép thì mồng năm ngày
tết đưa miếng tới quan;


       đãi kẻ dưới có lòng thành thì chú bếp
cậu bồi ngồi xe chung cùng vợ;


      cha mẹ nói ngang quan sang nói trái  con dân cũng cứ phụng tùng (3);


       ăn giỗ đi trước lội nước đi sau xã hội
chỉ theo trật tự .


       Anh thử thắp đuốc văn minh mà soi khắp
thế giới coi thử có nước nào như nước Việt Nam ta không ?


 (1) đoạn
này có ý mỉa mai, cho rằng  người mình thường
hiểu sai đạo lý Không Mạnh. Những chữ
nhân chữ trí cũng như chữ kiêm ái chữ trung dung thật ra có
nghĩa của nó trong tác phẩm kinh điển, đến ta lại bị hiểu sai lệch và lắm khi
đảo ngược.


(2) ăn gian   


 (3) phụng ở đây có nghĩa là tin theo, tùng cũng là theo.


          


Võ Liêm Sơn 


                                                    
                                      Văn
minh  nước Việt Nam
, 1929





Trung dung theo nghĩa nửa vời,


trung dung cốt để ngu dân


     Trung dung thật là một cái thuyết lôi
thôi, mà xã hội ta chịu lấy cái ảnh hưởng trung dung ấy mà hóa ra một cái xã
hội ương ương dở dở, trắng không ra trắng đen không ra đen.


      Ở đời thì quý cái cách không khôn không
dại; xử sự thì chuộng cái lối không mềm không cứng. Mua bán cũng trung dung,
hát giá (1) một quan, mặc cả năm tiền, dứt giá bảy tiền rưỡi, gọi là “bỏ hom
tranh” (2).


     Làm ăn cũng trung dung: vốn một ngàn, có
thể làm ra ba ngàn, mới được hai ngàn cầm chừng không làm nữa,  gọi là “giữ tay thước “ (3).


      Vì giữ lẽ trung dung mà việc gì cũng
không dám làm thẳng tay: vua Tự Đức đã hòa với Pháp rồi, thì cứ ciệc hòa đi,
lại còn sai sứ đi cầu cứu bên Tàu.


      Mai Xuân Thưởng khởi nghĩa thì cứ việc
khởi nghĩa đi, nghe Trần Bá Lộc bắt mẹ lại đem thân về chịu chết.


        Té ra trung dung chẳng phải là cái gì
cả, chỉ là cái thai đẻ ra khiếp nhược, và là cái ổ chứa gian tà mà thôi.


     Hiện nay ở nước Nam ta có nhiều cách làm cho dân
ngu đi, song duy trì hay là xướng minh cái thuyết trung dung ra là cách diệu
hơn thứ nhất.


      Vì theo như cái thuyết trung dung ở trên
ba mươi sáu tầng trời của ông cháu thày trò họ Khổng thì chẳng ai theo được,
rốt cuộc lại  rồi cũng chỉ “bẻ hom tranh,
giữ tay thước “ mà thôi.


      Cái trung dung ấy, nói cho tận mặt nó,
tức là cầm chừng, tức là ở cửa giữa, tức là thậm thà thậm thụt, tức là thủ cựu.
Cho nên hễ ai đem cái thuyết trung dung ra mà nói thì tôi cho là người ấy có ý
làm ngu dân.





(1) tức là ra giá, nêu giá


(2) cộng lại chia đôi


(3) ăn non 


                                                                                                          
Phan
Khôi


                                               
  Cái ảnh  hưởng của Khổng giáo ở nước ta, Thần Chung, 1929





An nhần lẫn với đê
hèn nhục nhã


     Tinh thần thượng võ tuyệt nhiên không thấy
trong lịch sử ta. Cái ước muốn cao nhất của người mình là sống một cuộc đời an
nhàn, bình tĩnh, hưởng thú vị gió mát trăng thanh, cho dầu một đôi khi các thú
vị đó không khỏi lẫn đê hèn, nhục nhã …


    Các
văn sĩ ta xưa nay ngâm vịnh gì cũng ít khi ra khỏi những cảm giác những tình ý
nhẹ nhàng, yếu đuối. Văn chương ta có thể nói là một thứ văn chương đàn bà.


    Các nhân vật trong tiểu thuyết trong thi ca
ngày nay phần nhiều đều có vẻ ngây ngô. Những cử chỉ những ái tình của họ cũng
có vẻ ngây ngô.


    Cái ưa thích này đã tỏ ra rằng dân tộc ta
là một dân tộc già.





Hoài
Thanh


Cần phải có một
thứ văn chương mạnh mẽ hơn, Tiểu thuyết
thứ bảy
, 1935








Lười biếng và hay nói hão


    Tật đầu sổ là tật lười, tật làm biếng. Lười
suy nghĩ thích nhàn nhã, thích ngồi không. Nếu máu chúng ta chạy mạnh thì tất
chúng ta phải xung xăng làm cái nọ cái kia chớ vô vi thì chịu sao nổi. Vậy thì
trong văn học thôi ta đừng dùng cái khẩu
khí hát cô đầu
nữa; mà phải thế này: cúc cung tận tuỵ.


    Thứ hai là tật “một tấc đến giời “. Ngồi mà
thanh tịnh vô vi thì dễ hiểu vũ trụ lắm. Ta cho vũ trụ là thế nào thì vũ trụ sẽ
thế ấy chớ chi. Nhưng sự thật là ta phải đi nghiên cứu tìm tòi mới hiểu vũ trụ
được.


    Một tật nữa là não huyền hoặc(1), não
chuộng thần quyền. Gần đây trong thơ văn có cái mốt nói chuyện Liêu Trai.
Có những thi sĩ nhất định lấy hồ ly làm vợ và nếu buông cụ Bồ Tùng Linh ra thì
họ không biết nói gì.





(1)não ở đây là một lối suy
nghĩ; nay hay thay bằng “óc “





 Xuân Diệu


 Sinh viên với quốc văn,
1945




Saturday, September 22, 2012

Giả dối, lừa lọc, kiêu ngạo, hiếu danh




Trích từ chuyên mục


 Người
xưa cảnh tỉnh


đã in trên Thể
thao và văn hóa
2005-2007


Các đầu đề nhỏ và chú thích là của người biên soạn








Không biết giữ chữ tín


     Không giữ chữ tín thì anh lừa tôi, tôi lừa
anh, trăm chuyện sẽ nát, tinh thần xã hội tan rã (...).


     Bất tín lớn nhất: một là dối trá. Nhiều người nước ta vụng trong đường mưu sinh (1)
nhưng lại giỏi dối trá giả mạo.








    Hai
bội ước các quy chế, chương trình, mà lại làm ra vẻ tuân hành. Nói mười
không giữ được hai ba. Ngay khi ký quy ước đã không có ý thực hiện, cứ ký bừa,
bất kể sau này ra sao. Cho nên quy ước chưa ráo mực mà như đã bỏ đi.


     Còn như ước miệng (1) thì chỉ là “nói láo
mà chơi nghe láo chơi “(3) Những thói xấu ấy đầy rẫy mà cứ điềm nhiên không cho
là quái gở.





(1)    kiếm
sống


(2)    thoả
thuận miệng


(3)    câu
thơ cổ Trung Hoa, được dẫn trong lời mở đầu truyện
Liêu trai


 Trần Chánh
Chiếu


 Lục tỉnh tân văn, 1908








Hiếu danh
đến mất tự trọng


    Dân ta là một dân rất hiếu danh, mà hiếu hư danh, tật đó dẫu người nông nổi xét
xã hội mình cũng đủ biết.


    Từ trên xuống dưới, từ thấp chí cao -- từ
anh khố rách trong làng cố cầu cạnh cho được chức trương tuần phó lý để được
người ta khỏi gọi là bố đĩ bố cu; cho đến bậc phú thương nơi thành thị thi nhau
mà mua lấy tiếng ông bá ông hàn để ra mặt thượng lưu trong xã hội, cậu cả cậu
hai luồn lót hàng chục hàng trăm để được gọi là thầy thông thầy phán, -- hết
thảy đều như có cái ma lực nó run rủi, phải cố chuốc lấy chút danh tiếng hão
mới mãn nguyện.


   Không có lòng danh dự mà có tính hiếu danh,
thời dễ táng thất(1) lương tâm. Quỵ luỵ khúm núm trước mặt người trên; châu
tuần (2) nơi quyền quý để cầu sự nọ, khấn việc kia, ví phải đập đầu xuống đất
mà lạy cũng cam tâm Xét
cái danh dự phổ thông trong xã hội, cái danh dự hàng ngày hiển hiện ra trong
cuộc giao tế, thời phải chịu rằng người mình ít có thật(3).





(1)   đánh
mất


(2)   loanh
quanh chầu chực


(3)  
nghĩa, trên thế giới này, không có dân nước nào lại có cách quan hệ với nhau
như vậy.


 Phạm Quỳnh


 Danh dự luận, Nam phong, 1919


Bệnh giả dối quá nặng


  
Tục ngữ có câu nói rằng “Trăm voi không được một bát sáo “; lại có câu
rằng “mười thóc không được một gạo”.


    Xem đó mới biết tính chất người nước ta
chứng bệnh giả dối là một chứng rất nặng.


     (1) hay giả dối thì tìm tòi đạo
lý không cậy óc mà cậy tai (2);


     nông hay giả dối thì cày cấy ruộng
trưa (3), không cậy người mà cậy đất (4);


 
   công hay giả dối thì
phấn sức lừa đời mà không cầu thực dụng;


      thương hay giả dối thì đua nhau bòn vặt mà
mất cả lợi to, thậm chí mướn đạo đức làm lối cầu danh mà trát vàng ở ngoài mặt,
mướn nhân nghĩa làm mồi cầu lợi mà xức mật ở đầu môi.


    Chẳng những ngoài đối với xã hội trên đối
với quốc gia, gốc cây trăm năm đủ bị con mọt giả dối kia đục đổ, bức thành muôn
dặm đã bị con mối giả dối kia xoi (5) tan;


      mà lại trong đối với một nhà, dưới đối
với một mình cũng mắc con ma bệnh giả dối đo đục thấu cao hoang (6), khoét vào
cốt tuỷ;


      tay
dối lòng, miệng dối dạ;


      ăn bánh vẽ mà toan đầy bụng, mặc áo giấy
mà đi với ma, kết quả không việc gì là việc thật...





(1)      từ đây trở xuống,điểm qua  sĩ nông công thương là bốn loại người trong
xã hội


(2)     ý
nói chỉ nghe hóng mà không chịu suy nghĩ


(3)      mãi trưa mới ra ruộng


(4)     dựa
vào đất đai màu mỡ chứ không dựa vào lao động chăm chỉ


(5)     làm
cho thủng


(6)     chỗ
trọng yếu trong con người





 Phan Bội Châu


 Cao đẳng quốc dân, 1928


Sợ mang tiếng


chứ không phải sợ cái xấu


  Tống
nho dạy người ta phải thúc nhân quả quá
nghĩa là phải  bó mình cho ít lỗi, chừng
nào hay chừng nấy.


   
Hạng quân tử ở nước ta mà tôi thấy, hầu hết ở trong cái phạm
vi của Tống nho. Giữ mình đừng đánh bạc, đừng uống rượu, đừng mang tiếng xấu,
ấy là họ kể chắc mình làm quân tử rồi.


  
Thế nhưng có phải họ giữ mình thật được như vậy đâu. Trong đám họ có
nhiều người giả hình làm bộ đạo mạo.


     Sở dĩ giữ mình là chỉ sợ mang tiếng; nếu
khi thấy không ai biết việc mình làm, chắc khỏi mang tiếng thì việc bậy gì
chẳng làm. Ấy là hạng quân tử giả dối, tiểu nhân đặc(1).





(1)cũng như nói điếc đặc là điếc thực sự điếc không còn chữa được nữa, tiểu
nhân đặc tức là tiểu nhân chính hiệu.





Phan Khôi


Hạng quân tử giả dối, Phổ 
thông,
1930 








Chỉ giỏi
diễn trò trước mặt mọi người


      Bọn thượng lưu trung lưu phần nhiều mượn
những lốt lễ nghĩa rất kỳ khôi của bọn tà nho để che miệng thế gian chớ không
có gì hiếu thuận cả. Khi tang ma, nào là nằm đường, nào là chống gậy, nào là
khóc mả, nào là ở dơ (1), nhưng kỳ trung có thương xót, có yêu dấu gì đâu, chỉ
đem một trò giả dối diễn ra trước mặt mọi người mà thôi.





(1)
Những việc người xưa cho là khi cha mẹ
chết, con cái cần làm để tỏ ra là người có hiếu





 Phan Châu Trinh


 Đạo đức và
luân lý Đông Tây
, 1925





Kiêu ngạo,
hợm hĩnh,


theo đuổi
những cái hão huyền


    Kiêu ngạo lộ ra ngoài mặt là những kẻ làm bộ
làm tịch, ta đây kẻ giờ (1), khinh người bằng nửa con mắt. Lại có thứ kiêu ngạo
kín ở trong bụng, nghe điều trái tai không cãi, thấy điều chướng mắt không chê,
chỉ nói mát một câu hay cười nhạt một tiếng.


   Có kẻ bụng dạ nhỏ nhen thì sinh
ra kiêu ngạo, hơi một tí đã có tính hợm. Vậy nên đấng nghiêng trời lệch đất
không kiêu ngạo bằng những kẻ đội lốt sư tử, tiền rừng bạc bể không kiêu ngạo bằng
những kẻ mầu mỡ riêu cua.


    Có kẻ tư tưởng sai lầm thì sinh ra kiêu
ngạo. Ăn tàn phá hại lại tự cho là sang
trọng vào nhòng
, lừa dưới dối trên lại tự cho là khôn ngoan chẻ vỏ (2).


    Kiêu ngạo lại thường là một người ngu, ếch ngồi
đáy giếng coi trời bằng vung, vịt lội dưới ao chê sấm là nhỏ.


    Kiêu ngạo không chỉ là cái cớ riêng của đám
người không có giáo dục mà còn tại tập tục và trình độ cả đám đông xã hội.


     Còn người thì thào những canh thua canh
được thì con bạc mới sĩ diện đổ hào;
còn người bình phẩm những cỗ to cỗ nhỏ thì nhà đám mới lên câu thịnh soạn; còn người ước ao những tầm
long tróc hổ(3) thì thầy địa lý mới lên mặt chỉnh
tôn
; còn người  mê mẩn những tính quỷ
hồn ma thì phù thủy mới rung đùi đắc pháp
(4).





(1)   
 một thứ “ anh hùng thời đại “


(2)    Vào
nhòng chẻ vỏ là gì, chúng tôi chưa tra
cứu được


(3)    Tìm rồng bắt hổ


(4)    những
chữ in nghiêng: một số tiếng lóng, chỉ sự
hoàn hảo cao độ mà đám bịp bợm trong các nghề thường mang ra khoe  





Nguyễn Đỗ Mục


Gõ đầu trẻ  Đông dương tạp chí 1914                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                              





Khiêm nhường giả, kiêu căng thật


     Có sao nói vậy mới là ngay thật. Vẫn biết
tự khiêm là một nết tốt, song làm người có sự tự tin thì mới ra người. Cái chỗ
mình đã tự tin rồi mà nói ra không dám tỏ ý quả quyết, thì lại thành ra giả
dối, mất sự ngay thật đi.


       Người nước mình đã giả dối có tiếng, mà
trong đám học thức, cũng lại giả dối quá người thường.


      Thật bụng thì kiêu căng tự phụ, coi người
ta nửa con mắt, mà nói làm ra bộ khiêm nhường, theo lời tục nói, ở nhà như con
tép.


      Cái sự tự khiêm giả dối ấy mỗi ngày một
thêm lêm, làm cho sự tự tin mất đi; dần dần chẳng có ai dám chịu trách nhiệm
trong việc gì hết, mà ai ai cũng thành ra hiền nhân quân tử hết, vì chỗ tự
khiêm đó.


      Đó là cái bệnh di truyền mà Tống nho đã
để lại.


 Phan Khôi


Sự ngay thật của
học giả, Phổ thông, 1930








Hay
tự ái và thích chơi trội


      Người Việt rất hay tự ái. Không
mấy khi họ thú thât nỗi cực nhọc từng phải chịu.


       Nhưng tính tự ái thường đi đôi với tính
khoe khoang. Họ dễ kiêu căng.


      Ở
nông thôn vấn đề thể diện có một tầm quan trọng xã hội hàng đầu. Người nông dân
rất thích nổi bật trước mắt kẻ khác, và thích nên danh nên giá.


     Để chiếm được một vị trí tốt giữa những
người trong cùng cộng đồng, nói chung là để thoả mãn tính hiếu danh, họ chẳng
lùi bước trước một điều gì.


      Họ sẵn sàng nhịn hẳn thịt cá và các món
ăn ngon lành trong cả năm, hay mặc những bộ quần áo vá chằng vá đụp, chỉ cốt để
có tiền tổ chức những bữa khao vọng linh đình nhân được thụ phong một loại bằng
sắc nào đó.


 Nguyễn Văn Huyên


 Văn minh Việt Nam, 1944





Tinh thần voi nan


          Còn
những tật xấu riêng của người Việt ta là gì? Chỉ cần kể ra đây một cái tật đại
biểu, cái tật to lớn nhất, rõ rệt nhất, có hại nhất là cái tinh thần mà tôi gọi
là: tinh thần voi nan. Phải, những con voi to lớn lắm, có đủ chân đủ vòi, nhưng
nó ở trong bằng nan ở ngoài bằng giấy.


          Trong kinh tế những cái imprimerie
hay boulangerie univérselle (1) chẳng hạn là những cái nhà có dăm
mươi thợ làm; những đại thương cục (2)
là những hiệu bán một ít khăn quàng bít tất; thì trong văn chương nhiều quyển
sách là những sự bôi phết qua loa chẳng đủ tài liệu mà cũng chẳng nói ra được
điều gì mới lạ.


           Mấy năm nay, các bạn chắc cũng bị bị
cái mã khảo cứu nó đánh lừa; mua quyển sách về được cái bìa là có ý nghĩa.


    Một bản dịch Ly tao mà đem điệu Sở từ dịch qua loa ra lục bát là voi
nan. Một tập sách nói nhảm dông dài mà gọi là tiểu thuyết; một quyển sách gọi
Hát dặm Nghệ Tĩnh mà chỉ góp nhặt những bài hát dặm vài huyện Nghi
Xuân Can Lộc tại Hà Tĩnh, chứ chẳng thấy tỉnh Nghệ An ở đâu: đều là voi nan cả.Voi
nan để lừa độc giả, voi nan để làm tiền; kể làm sao xiết voi nan!





(1)  
Tiếng Pháp chỉ các nhà in các cửa hàng bánh mì
lớn.


 (2) giống như các trung tâm nọ trung tâm kia
thời nay





 Xuân Diệu


 Sinh viên với quốc văn,
1945





Học đòi, làm dáng


      Cái hiếu thượng (1) của số đông người
mình đã lộ rõ ở từ ngôn ngữ đến cử chỉ, từ hành vi trong gia đình đến động tác
ngoài xã hội.


    Người ta chơi câu đối?  Phần đông không phải vì thích chữ tốt yêu văn
hay, nhưng vì muốn sĩ diện ở mấy cái lạc khoản (2) có chức tước.


  
Người ta in danh thiếp ? Không phải vì cốt thông tính danh, tỏ địa chỉ,
song hình như chỉ cốt trưng những chức sắc, tước trật, và phẩm hàm. 


  
Người ta đăng cáo phó ? Có lẽ ít vì cốt để báo tang, nhưng phần nhiều
cốt để lợi dụng cái chết của ông bà cha mẹ mà quảng cáo cái danh phận của con
cháu.


 
Cái bệnh hiếu thượng ấy truyền nhiễm đến cả nữ giới làm cho lắm người
cũng mắc lây. Một dạo ở xã hội ta nổi lên cái phong trào phi cao đẳng bất
thành phu
phụ. Vì thế trong cuộc hôn nhân đã xảy ra lắm chuyện buồn
cười. Hoặc mượn văn bằng của người khác để đưa nhà gái sát hạch lúc cầu hôn;
hoặc giả làm nhà tòng sự suốt mấy tháng để nhà gái nếu có dò la vẫn thấy sớm
vác ô đi tối vác về
.





(1)  
thích hướng
lên trên, tức hiếu danh, hiếu đại


(2)  
tự đề tên họ
chức tước ở một góc câu đối 


                                                                                          
                                   
Hoa Bằng


                                                                                                                  
Hiếu thượng, Tri tân,1943










Monday, September 17, 2012

Quan hệ giữa người với người: Tham lam ích kỷ cạnh tranh nhỏ nhặt






Trích từ chuyên mục


 Người
xưa cảnh tỉnh


đã in trên Thể
thao và văn hóa
2005-2007


Các đầu đề nhỏ và chú thích là của người biên soạn








Không ai hết
lòng với ai


   Tôi xem trong xứ ta tính người
đổi nhiều lắm, tục tốt ít ưa, tục quấy hay thích. Tục tốt là thương yêu nhau,
thấy ai mạnh thì vui, thấy ai khổ thì thương. Còn quấy là ganh hiền ghét nhỏ,
dèm phải đua quấy (1), thấy ai giỏi hơn, giàu hơn sang hơn thì không ưa, thấy
ai dở hơn, nghèo hơn, hèn hơn mình thì khinh bạc chê bai; những điều quấy như
vậy xem ra tiệm (2) đủ gần hết.










    Coi ra cho kỹ thì ai lo phận
nấy, ai chẳng cần ai, sang với nghèo đãi nhau không hậu tình.


    Tệ nạn mỗi ngày mỗi thêm, làm
sao cho khỏi bị người các nước khác khinh khi. Cũng bởi vì mình ở với nhau còn
không phải không tốt thay, hà huống gì với nước khác, bảo người vì mình sao
đặng?





(1) đua quấy là hùa
theo điều xấu


(2) tạm


 Lương Dũ Thúc


 Nông
cổ mín đàm
1901





Tham lợi dẫn đến vô cảm


      Chứng
bệnh [tham lam]ấy, người các nước tuy có ít nhiều, nhưng người nước ta 25 triệu
ai nấy cũng có.


      Tục ngữ có câu: “Cơm ai đầy nồi nấy”, lại
có câu “thử thân bất độ, độ hà thân” (1), lại có câu rằng “Con vua vua dấu con
chấu chấu yêu”.


     Đọc
bấy nhiêu lời thì biết rằng trong ruột người nước ta viết dọc viết ngang, vach
xuôi vạch ngược chỉ có một chữ tham; mà ở trong chữ tham chỉ có vài nét lợi
riêng là vừa hết bút mực.





(1) thân
này không cứu vớt thì cứu vớt thân nào
?





Phan
Bội Châu
  


 Việt Nam quốc sử khảo,
1908





Không biết hợp quần


     Người ngoại quốc coi thường dân ta, họ nói
rằng “không có nổi một đoàn một nhóm nào từ ba người trở lên “; câu nói đó
thoạt mới nghe tưởng là quá đáng, nhưng xét cho đến tình hình xã hội tinh thần
dân chúng thì thấy tan tan tác tác, rạc rạc rời rời, ghét nhau, ngờ nhau, ai lo
thân nấy, bảo rằng không có nổi một đoàn một nhóm ba người thật bụng với nhau,
thật cũng chẳng oan.





 Phan
Bội Châu


 Cao đẳng quốc dân, 1928


Ích kỷ và khôn vặt


    Cái tật ích kỷ vốn là một thứ hay lây.
Trông thấy những v­ườn hoa cây cảnh ở sân nhà trư­ờng hay ở nơi đền chùa, hoặc
cạnh đư­ờng đi lối lại, đã không biết giữ gìn để làm một cái cảnh vư­ờn chung
thì chớ, nhiều ng­ười lại còn đang tay bẻ tàn bẻ hại, để đem về nhà mà chơi
thích chí lấy một mình.


    Cái chứng ích kỷ đã mọc ra, đến lúc lớn lên
thành ra một ngư­ời đi đến đâu phá huỷ đến đấy.


     Cũng vì lẽ đó mà dân An Nam không mấy khi
có được cảnh vui chung (1), ai có muốn chơi cảnh thì lại phải xây một vài cái
bể cạn hay là bầy mư­ơi lăm cái chậu con để làm một khu vui riêng mà không
chung chạ với ai cả.


    Dần dần nảy ra một cái tư­ tư­ởng đáng cư­ời,
đáng khinh, đáng ghét, đáng sợ là hai chữ ích kỷ, mà một câu “ăn cỗ đi trư­ớc
lội n­ước đi sau
“đủ vẽ hết đ­ược ruột gan.





(1)     tức
là không có các loại công viên hoặc khu giải trí công cộng





 Nguyễn Đỗ Mục


 Đông dư­ơng
tạp chí
, 1914








Chỉ biết
cạnh tranh


trong những việc tầm thường, lặt vặt


    Cạnh
tranh là một cái tính phổ thông của nhân loại, những bậc danh nhân kiệt sĩ đua
tài chọi sức, chẳng là vì cái danh thực mà cạnh tranh đấy ư? Những bậc phú hào
bên các nước Âu Mỹ làm nên cho dân được thịnh nước được giàu, chẳng là vì một
cái lợi to mà cạnh tranh đấy ư?


    Nay
hỏi đến cách cạnh tranh của người mình thế nào?


      Đi học thì cạnh tranh nhau nhau cầu được học
bổng nhiều, mà trí thức rộng hẹp phẩm hạnh thấp cao lại không hề cạnh tranh
đến.


     Làm
quan thì cạnh tranh nhau cầu cho được tiền nhiều chức lớn, mà đạo đức tốt xấu,
chính tích (1) hay hèn lại không hề cạnh tranh đến.


      Ở trong
làng thì cạnh tranh nhau chỗ ăn chỗ ngồi, ngôi trên ngôi dưới, ngoài cái đó
không hề so sánh hơn thua, ai thiện ai ác, ai hiền ai ngu (2).


      Ra
ngoài đường thì cạnh tranh nhau kẻ khó người giàu, manh quần tấm áo, ngoài cái
đó không hề phân biệt ông hay là thằng, bà hay là con nữa.


       Làm ruộng thì cạnh tranh nhau tấc ruộng thước
vườn, mẩu bờ tí nước, mà đến những đồng bãi mênh mông, kể hàng ngàn hàng muôn
mẫu thì có ai nhìn.


      Buôn
bán thì cạnh tranh nhau luồn lỏi mua cho được, mánh khóe bán cho trôi, mà đến
những đại tôn giao dịch (3) kể trăm thứ ngàn thứ hàng thì có ai biết.


      Làm thợ thì cạnh tranh nhau bán rẻ phá giá làm
điêu (4), đỡ công mà chưa từng có được một cái đoàn thể đồng nghiệp cho hẳn
hoi, để khoáng trương (5) lợi ích.


       Ấy
sự cạnh tranh của người mình toàn có một cái mục đích nhỏ nhen hèn hạ như thế
cả. Thế mà cạnh tranh hăng hái dữ tợn cũng chẳng khác gì người các nước họ cạnh
tranh vì cái danh thực, cái lợi to.





(1)  
việc làm của các quan chức trong khi thi hành
công vụ, kẻ hay người dở.


(2)  
hiền ở đây có nghĩa người khôn ngoan có đức hạnh
chứ không phải là hiền lành, dễ dãi; và ngu có nghĩa ngược lại


(3)  
nguyên nghĩa đại tôn là dòng họ lớn, đây chỉ
những người có vai vế và nổi tiếng trong nghề.


(4)  
gian dối, man trá.


(5)  
tương tự như khuếch trương.


 Dương Bá Trạc


 Tiếng
gọi đàn
, 1925











Vừa không thiết chuyện gì, vừa xét nét
nhỏ nhặt


     Người nước ta, đối đãi với nhau một cách
nghiêm khắc, trách bị nhau những chuyện nhỏ nhặt. Ngoài sự hư danh, mối tiểu
lợi, nhất thiết hoài nghi cả, không thiết chuyện gì; phàm những sự nghiệp lớn
lao, những chủ nghĩa cao thượng cho là viển vông, không biết đem lòng ham
chuộng, không biết giốc chí theo đuổi.


 
Tật thứ nhất của dân mình là hay xét nét. Bới lông tìm vết, người nọ
dùng trí khôn để dò xét người kia. Xã hội như cái sa - lông, đông khách ngồi,
nhưng cứ rụt rè mà nhìn nhau, ngoài những lời thăm hỏi vẩn vơ những câu hàn
huyên vô vị, không gây nên được câu chuyện đượm đà hứng thú.


 Phạm Quỳnh


 Hoàn
cảnh, Nam phong, 1924








Lợi dụng đạo nghĩa kiếm lợi  


   Theo tâm lý người mình thì ai ai cũng hiểu
rằng lợi là đáng khinh mà nghĩa là đáng trọng. Nhưng xem chừng như ít người đem
cái luật ấy ghép vào cho mình, mà lại đem ghép cho người khác ở chung quanh
mình.


     Suy cái bụng họ ra, ý chừng họ muốn ai ai
cũng “uống nước trong làm việc” thì
họ mới ưng; ai ai cũng “ăn cơm nhà mà đi đánh giặc” thì họ mới cho là quân tử.


    Các ông nhà buôn tinh ranh cũng chực lợi
dụng cái đạo lý ấy (tâm lý “trọng nghĩa khinh tài” --- VTN chú) để lấy lợi.


    Các ông ấy đưa ra những hàng xấu ra mà hô
lên rằng: “Của nội hóa đây. Các ngài phải có nghĩa vụ mua hàng nội hóa hầu để
khuyến khích công nghệ nước nhà “.


    Rồi
họ thừa dịp đó bán mắc muốn gấp hai hàng ngoại hóa.





 Phan Khôi


Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở
nước ta, Thần chung, 1929





Danh
dự bị hiểu sai lạc và mang ra mua bán


     Xã hội ta xưa nay coi mọi người ai cũng
như ai, bé thuộc quyền bố mẹ, lớn thuộc quyền vua quan; từ thuở nhỏ đến tuổi
già, xã hội đã chỉ sẵn cái đường lối nhất định cho mà theo, theo được đúng thời
xã hội đãi cho phẩm vị cho lợi quyền, và coi đó là danh dự. Thuận theo xã hội
ắt sẽ có danh giá. Được xã hội khen thời lương tâm có chê cũng vẫn là có danh
dự. Nhưng mà những cái ấy người ta có thể mua được cả. Danh dự đã là một thứ có
thể bán buôn thời giá trị không đáng bao nhiêu nữa.





 Phạm Quỳnh


 Danh dự luận, Nam phong, 1919





Trông nhau
để …yên tâm trục  lợi


    Xứ ta lâu nay việc giáo dục rất bơ thờ (1).
Những trường học dạy cho biết ba cái chữ 
không đủ gọi là giáo dục được. Vì cái cớ không có giáo dục đứng đắn đó
mà người ta không biết trọng danh dự, không biết chuộng khí tiết, không biết
giữ nhân cách mình cho cao; đã vậy thì cái lòng ham danh lợi nổi lên mà cai trị
cả con người chúng ta, tùy nó xui giục đi đâu mình đi đó, ấy là sự mà chúng ta
không thể chối được. Coi kia rất đỗi người (2) học thức lão thành (3) mà còn
không khỏi bị nhử cái mối tài lợi, phương chi là kẻ khác !


   Trong xã hội hay có thói ngó mặt nhau. Một
người làm việc xấu, nhiều người khác 
thấy mà phân bì: sức như ông ấy đó mà còn làm bậy, huống chi mình – rồi
thì tập nhau mà làm quen chẳng ai lấy làm chướng tai gai mắt hết.


    Nghe những người đứng lên  nói vầy nói khác chế báng một ông nào đó, ta
tự hỏi nếu đem thay người nói vào cái địa vị ông ấy thì sao? Không dám vội tin
rằng người thế cho ông ấy sẽ hơn được, vì người ấy vẫn thở chung một cái không
khí với đám quần chúng này.


    Chúng ta trách  một người vì mấy
trăm đồng bạc mà bán mình, song có ai chắc đến lượt mình không bán. Sự dễ thấy
nhất là trong quần chúng An Nam luôn luôn có kẻ bán cái ý kiến của mình, bán
cái quyền lợi của mình .





(1)  thiếu khí sắc thiếu sức sống


(2)   lắm người


(3)   đã tới trình độ thành thục


Phan Khôi


Trung lập,  Sài Gòn, 1930


Cách sống
của kẻ cùng đường


   Xã hội Việt Nam ngày nay đứng
giữa những tấn kịch, tâm lý phần đông chừng đã mất hẳn thú sinh nhân (1), trong
óc lại nẩy ra cái quái tượng, nhường bước cho ma dẫn lối quỷ đưa đường, mà
chính mình không rõ là người gì, sẽ làm việc gì, nay không biết mai.


    Trừ những người có học thức, thì hạng tuổi
trẻ thất học, cùng bọn đã nghèo lại dốt không đường tự cứu và tự ủy (2), thói
thời không chừa sự bi thảm xấu xa gì mà không dám làm, nào cha con chú bác giết
nhau, nào vợ chồng thù ghét nhau. Mà nguy hiểm nhất là những đám lừa đảo trộm
cướp dùng thứ thủ đoạn mới, làm cho dân lương thiện không có chút tự vệ.





(1)  
niềm vui sống


(2)    tự lo
liệu








Huỳnh Thúc Kháng


                                       
              Cái hiểm tượng loạn
óc, Tiếng dân 1939





 Mưu danh bằng cách


 hạ nhục kẻ 
khác
                                                                                                                      


       Lắm kẻ, chỉ vì hám cái phù danh, đang
tâm lê gót giày lên trên tình bạn hữu, hạ chân lý xuống tận bùn đen. Tưởng mình
như thánh như thần, ngoài ra, nhất là những địch thủ, toàn là đàn chim chưa vỡ
bọng cả.


    Chưa đọc hết, có khi không thèm xem qua bài
văn của người khác, họ đã dài mồm chê bai.


    Chưa mở lấy một trang sách, chưa rờ đến
một  tờ báo của bạn đồng nghiệp, họ đã
yên trí là viết không thành câu, hạ ngay những lời mạt sát thậm tệ.


    Trong khi 
trò chuyện, chỉ hết sức khoe khoang về mình ; còn những  người khác 
dù đã lập được biết bao chiến công trên trận bút trường văn, cũng
chỉ  đáng một con số không, theo ý
họ. 


                                                                                                       Hoa Bằng


                                                       Vài cái liệt điểm của một số nhà văn ta,
Tri tân, 1942











Chỉ biết
lo  thân
 


     Công
tâm (1) là một thứ khó tìm thấy ở mọi người. Nghĩ cho cùng  không nên trách dân quê là thiếu công tâm, vì
họ phải sống  trong một đời thiếu yên ổn
về mọi phương diện  bắt buộc họ phải nghĩ
đến mình trước đã. Vả chăng trước mắt họ nào có ai treo một tấm gương  sáng về việc nghĩ đến cái chung ?!





(1)   ngày nay có nghĩa ngay thẳng không thiên vị,
nhưng trước đây  hiểu là  sự lo lắng cho công việc chung


Vũ Văn Hiền


Mấy nhận
xét nhỏ về dân quê Bắc kỳ, Thanh
Nghị,
1944