Saturday, June 9, 2012

Cái đứng đằng sau pháp luật



… Ở cái chỗ luật pháp dừng lại, người ta vẫn luôn luôn có thể suy nghĩ dưới góc độ đạo đức hoặc văn hóa để trước tiên là hiểu hiện tượng, sau nữa là tìm cách khắc phục nó…





Luật pháp thường được định nghĩa trong các từ điển như là những quy định mọi người nhất thiết phải tôn trọng trong khi đạo lý suy cho cùng chỉ có nghĩa là những ước lệ hợp với lương tâm cho con người lại được xã hội thừa nhận và khuyến khích nên theo, ai theo được có nghĩa đấy là người tốt.



Một hành động bị coi là phạm pháp, khi nó xâm phạm đến quyền lợi hoặc của cả cộng đồng hoặc của các thành viên trong cộng đồng, do đó, phải bị trừng phạt. Còn một hành vi bị coi là thiếu đạo đức tức là đã bị cộng đồng lên án. Có thể bảo sự lên án này chỉ dừng lại ở phạm vi một dư luận, song đối với người có lương tâm trong sáng, đã là một cái gì rất nặng nề. Lẽ tự nhiên là trong việc phân biệt một hành vi đạo đức và một hành vi phi đạo đức, một cộng đồng đã tự nói về mình rất nhiều. Sau hết, cũng nên ghi nhận rằng mặc dù những tiêu chuẩn đạo đức thường có tính nhân bản, nghĩa là chung cho mọi dân tộc, nhưng đi vào cụ thể ở mỗi dân tộc nó lại mang những sắc thái riêng. Đến đây, bắt đầu thấy xuất hiện vai trò của văn hóa, nó là lối sống, lối nghĩ, các quan hệ giữa con người với thiên nhiên và con người với con người, tất cả đã trở thành nền nếp ở từng dân tộc và làm nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác.





… Thỉnh thoảng, tôi cứ phải giở sách ra để ôn lại những ý tưởng trên, nhất là gần đây, đọc báo chí, nghe đài, được biết thêm nhiều hành động mà chúng ta quen gọi là hiện tượng tiêu cực. Nhiều người nông dân hám lợi, mang bán thứ rau quả phun thuốc trừ sâu, săn vào gây ra độc hại. Các lò mổ bò mổ lợn thường là kém cỏi về mặt vệ sinh nghĩa là ủ sẵn bệnh tật hại người. Nhà máy, bệnh viện hàng ngày tống ra đủ thứ chất thải làm ô nhiễm môi trường. Rồi hàng hóa thì làm ẩu, cốt bán rẻ để cạnh tranh giá kể người mua mang về có không dùng được, thì cũng không quản ngại. Cho đến gần đây lại xảy ra những vụ tham nhũng ghê gớm, tham nhũng đến mức người ta tin rằng các đương sự phải mất hết lương tâm thì mới bảo nhau vét sạch tiền của nhà nước đến như vậy! Có biết bao hành động ngang tai trái mắt đang xảy ra chung quanh, và có cơ ngày một phát triển. Mà lấy luật pháp để trị nhau thì không phải dễ. Tội lỗi ở đây như cái cây, gieo mầm hôm nay, hôm sau mới “kết quả”, lúc bấy giờ người có lỗi đã cao chạy xa bay, ai làm gì nổi! Vả chăng, trong tình trạng xã hội hỗn hào, mọi người chen chúc nhau để sống, muốn lần ra đầu mới của cái ác sẽ gặp muôn vàn rắc rối, dễ gì bắt tận tay day tận trán để luận tội? Nhưng ở cái chỗ luật pháp dừng lại, người ta vẫn luôn luôn có thể suy nghĩ dưới góc độ đạo đức hoặc văn hóa để trước tiên là hiểu hiện tượng, sau nữa là tìm cách khắc phục nó.





Chắc chắn là không có gì khiên cưỡng khi gắn một số hiện tượng tiêu cực nói trên và các hành động tương tự với lối làm ăn (kèm theo là lối sống nếp nghĩ) có tự ngày xưa, khi người ta sống theo kiểu khôn vặt (ăn cỗ đi trước lội nước đi sau) và vô trách nhiệm (sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi) chỉ biết đến quyền lợi của gia đình mình (đèn nhà ai nhà nấy rạng), chỉ biết đến cái làng của mình là cùng (trống làng nào thì làng ấy đánh, thánh làng nào thì làng ấy thờ), ngoài ra, bỏ qua mọi chuyện, bởi “có chết thì cả làng cùng chết”. Tóm lại, đồng thời với việc truy cứu về mặt pháp luật, cần xem xét ngay cội rễ của các hiện tượng nói trên về mặt đạo đức – văn hóa, để bắt mạch cho trúng. Đến lượt nó, mỗi tội lỗi, và phản ứng trước tội lỗi – kể cả những tội lỗi nhỏ, hoặc quá tinh tế, pháp luật không kết luận nổi – lại cũng nói lên một điều gì đó về tình trạng tâm lý xã hội nói chung. Nếu như ở đây có sự dửng dưng, tức thờ ơ, mặc kệ kẻ có tội và không sao hình thành nổi dư luận cũng như không cắt nghĩa được nguyên nhân sâu xa dẫn đến tội lỗi, thì đó chính là một bằng chứng cho thấy sức khỏa tinh thần nói chung của xã hội đang có vấn đề, và sự chữa chạy cho mỗi cá nhân không thể kết quả, nếu không có sự chữa chạy cho cả cộng đồng nói chung.





Đang nghĩ vân vi như vậy thì gần đây, qua báo Nông thôn ngày nay, số ra 12.6.99, tôi lại được biết thêm về một hiện tượng phải nói là kỳ cục giữa công ty X và công ty Y có sự tranh chấp. Để trả thù, bên Y liên tiếp gửi tới bên X những chiếc quan tài và các vòng hoa tang, trong đó đề rõ tên tuổi kẻ thù của mình. Như một phóng viên Nông thôn ngày nay nhận xét, đây quả là kiểu khủng bố chưa từng có ở Việt Nam. Sự việc “độc đáo” đến mức các nhà chức trách đang phải theo dõi để tìm cách luận tội cho chính xác. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ, nhiều bạn dọc của chúng ta, khi nghe chuyện, hẳn không khỏi nhớ tới những cách trả thù vốn có từ xưa, và còn lưu truyền lại qua lời đồn đại của dân gian; căm giận ai thì đi dò hỏi mồ mả ông cha người ta rồi đào lên để hạ nhục. Hoặc làm hình nhân thế mạng, viết tên kẻ thù của mình lên đóm rồi lấy kim châm vào chỗ hiểm và thuê thầy địa lý về yểm vào đất độc. Hoặc như trong truyện Tấm Cám, cái đầu của Cám sau khi chết được Tấm mang ra làm mắm để gửi về cho người mà Tấm vẫn gọi là mẹ ghẻ (cũng tức là mẹ đẻ của Cám). Thì ra, cái hành động kia không hẳn đã đơn độc như chúng ta tưởng tượng. Trong khi lên án nó và đồng tình với mọi sự trừng trị đích đáng, đồng thời phải thấy nó thuộc về một cái gì di truyền trong tâm lý xã hội, do đó, có khi hoạt động ngoài ý muốn từng con người cụ thể. Nói cách khác, trong cái hành động kỳ cục kia thấy có cả những căn nguyên văn hóa sâu xa (văn hóa ở đây không chỉ bao gồm tinh hoa mà như các nhà nghiên cứu khoa học xác định, còn bao gồm cả những cặn bã cần vứt bỏ). Và như vậy là trên đường suy nghĩ về hiện tượng tiêu cực, chúng ta có thể phần nào yên tâm vì đã lần đến đầu mối cuốic ùng, còn như việc lo chữa chạy thì sao, đấy lại là chuyện khác.





Chắc chắn, mỗi khi đứng trước một hiện tượng tiêu cực, lại còn lo lần ra căn nguyên đạo lý văn hóa của nó, công việc phải làm sẽ trở nên vô cùng bề bộn. Chẳng phải là lâu nay nhiều người chúng ta có thói quen suy nghĩ một cách đơn giản “truyền thống căn bản là tốt”, “đạo lý nhìn chung là lành mạnh”, để xuê xoa mọi chuyện. Nhưng chính bởi thế, nay lại chính là lúc xã hội phải lo nhận thức cho thấu đáo hơn. Bề bộn mấy thì bề bộn, để giải quyết đến cùng mọi chuyện tiêu cực, không thể có cách nào khác. Bởi các vấn đề đạo lý văn hóa không chỉ liên quan đến pháp luật mà còn liên quan đến mọi mắt xích khác trong guồn máy xã hội. Nói như một viện sĩ người Nga, ông D. Likhachev: Không có văn hóa, xã hội không thể trở thành xã hội có đạo lý.





Và nếu không có cả văn hóa lẫn đạo lý, thì mọi cải cách trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học đều trở nên vô nghĩa, tức không thể thực hiện.







Đã in trong Nhân nào quả ấy 2003.

Tuesday, June 5, 2012

Thái độ trơ tráo, lời lẽ ráo hoảnh




       Thuở chưa có cân bàn, các chợ ở xứ ta chỉ dùng một loại cân thô sơ, gồm một cái cần có khắc hoa thị và có một cái đĩa nhỏ.


      Tôi nhớ một câu đố vui Có cây mà chả có cành – Từ gốc đến ngọn rành rành những hoa – Người bán thì bảo rằng già — Người mua thì bảo thực thà còn non.   

     Câu giải đúng là cái cân.




     Những ngày này, thỉnh thoảng tôi lại nhớ đến câu đố cổ đó. Không phải để tìm hiểu về tư duy kinh tế của người mình. Mà cốt ghi nhận một xu hướng  trong giao tiếp.


    Là hình như nay là lúc trong nhiều chuyện chẳng có đúng sai nữa. Tranh cãi nối tiếp tranh cãi. Ai cũng sẵn sàng bẻ queo sự thực, cốt sao bản thân có lợi.


     Có những việc “ bánh đúc bày sàng”,  giữa thanh thiên bạch nhật rành rành ra thế, mà cứ mỗi bên nói một khác, và người nào cũng chỉ biết có lý lẽ của mình. Người mắc tội bị bắt quả tang, vẫn cứ tìm cách chống chế, luồn lách, cãi chày cãi cối, làm như mình không có liên quan gì đến thứ tội lỗi đó, phủi tay nhẹ nhàng như phủi bụi.

       Trong dân gian người ta gọi đó là lối nói ráo hoảnh.


        Chẳng hạn chỉ có thể gọi là ráo hoảnh là cái sự việc năm trước, Bưu điện một số tỉnh móc ngoặc với gian thương mua thiết bị như mua mớ rau mớ cá, khai tăng giá hàng mua vào để chia nhau, đến lúc bị phát hiện thì mấy ông ký giấy mua chỉ nhận: “Chúng tôi hơi không được cẩn thận“ “Chúng tôi chưa có kinh nghiệm“.


     Nghe kể là ở một tỉnh nọ, khi một đại biểu hội đồng nhân dân chất vấn “Sao tham nhũng ghê thế ?“, thì một quan chức đầu tỉnh, với cái giọng thản nhiên, cho một câu xanh rờn: “Làm gì mà nhiều ? Có thấm thía gì đâu so với thành tích mà chúng ta đạt được “…


      Sau cái trơ tráo trong thái độ, vẻ ráo hoảnh trong lời nói bộc lộ như vậy cho thấy người ta không coi dư luận là cái gì hết. Rồi mọi việc sẽ cứ theo nếp cũ mà làm. Tức những mưu toan, những áp đặt, những dối lừa… lại tiếp tục trong bóng tối.

     Trong giới cầm bút của tôi có trường hợp nhà thơ kiêm nhà viết kịch T.Đ. Từ thời tiền chiến, ông không chỉ nổi tiếng về những trò chơi động trời, mà còn vì lì lợm trong việc chối tội và giỏi đánh tháo.


      Nghe kể rằng có lần ông vào nhà bạn, ăn nằm với vợ người ta và…bị bắt quả tang. Giá kể người khác thì mặt sẽ dại đi, cả người chết điếng, van lạy xin tha. Song ông vẫn không có gì hoảng hốt. Bảo đợi tôi mặc quần áo đã. Và mặc xong thì thản nhiên nói rằng tôi vào chơi, nói chuyện đỡ buồn, có gì mà phải ký vào biên bản.


     Thế thôi, rồi lững thững ra về.


      Chẳng ai làm gì được ông cả!


      Nói thật, theo dõi nhiều vụ tham nhũng và cứu tham nhũng thời nay, tôi ngờ hoá ra kinh nghiệm của T.Đ trong cái chuyện kín đáo kia, được nhiều người áp dụng khá thuần thục.


       Trong Cổ học tinh hoa có một mẩu chuyện về sự hàm hồ trong ăn nói và ứng xử của con người.


       Một người lục tủ, thấy mất cái áo thâm, liền ra đường tìm. Thấy một người đàn bà mặc áo thâm anh ta níu lại đòi.


      Chị ta  cãi: “Áo tôi mặc  đây là áo của tôi chính tay tôi may ra “.


      Anh kia  đáp lại: “Cái  áo thâm của tôi mất  thì dầy, áo chị thì mỏng. Lấy cái mỏng đền cho cái dầy là hợp quá, còn phải nói lôi thôi gì nữa “.


    Theo các tác giả Cổ học tinh hoa mất áo trong nhà lại ra đường tìm là một việc buồn cười;

    mất áo đàn ông mà đòi áo đàn bà là chuyện buồn cười thứ hai;

    mất áo dầy mà đòi áo mỏng là chuyện buồn cười thứ ba.

     Tóm lại, sự vụ lợi làm cho người ta mờ cả mắt quên cả phải trái, cái gì cũng dám làm cái gì cũng dám nói.

     Tôi muốn bổ sung thêm, đây cũng là một ví dụ kinh điển để hiểu về sự trơ tráo và lời lẽ ráo hoảnh của con người phương Đông. Trong những trường hợp như thế này, nó thật đã vượt lên trên hết mọi cách xử thế thông thường.

       Bạn có biết những lúc ráo hoảnh như thế người  ta trở nên thế nào không?

       Tôi thường mang tiếng là ác khẩu, chỉ thạo moi móc cái xấu của mọi người.


        Để chứng tỏ là mình đã tu tỉnh lại, trong trường hợp đang nói, tôi cố vắt óc để tìm ra một liên tưởng tạm gọi là đèm đẹp một tí.


        Và tôi nhớ đến những đứa trẻ.


      Nói một cách văn hoa và mỹ miều như các nhà thơ, thì khi trơ tráo và ráo hoảnh trong các vụ làm ăn, nhiều người chúng ta đang trở về giống như tuổi ấu thơ của ta vậy.


      Người lớn nào chẳng nhiều lúc bực vì có nhiều chuyện dạy mỏi mồm mà trẻ không nghe, ngược lại có những chuyện chẳng cần bảo, nó đã bắt chước mình thành thạo.


       Ví như trong việc nói dối, thôi thì chúng học nhanh lắm.


        Đôi lúc trong cơn liều lĩnh, chúng không ngại mở tủ hoặc lục áo, thó của bố mẹ vài đồng tiêu vặt. Bị bắt quả tang,  chúng trưng ra bộ mặt hồn nhiên

      -- Ơ ! Con cứ tưởng … 

      -- …

      --Thế à, thế mà con không biết.

       Giờ đây khi bị tố là tham nhũng, nhiều người lớn cũng giả bộ ngây thơ rất giỏi 

     --Ơ ! Tôi cứ tưởng…

      -Tôi đâu có biết .


       Nghĩa là họ đang trẻ con trở lại. Chỉ có chỗ khác là trẻ con xưa  thường chỉ “con không biết “ trước một vài đồng lẻ, còn người lớn bây giờ thì “ tôi đâu có biết “ khi bỏ túi cả ngàn tỉ.


       Tới đây chắc có bạn cũng như tôi, nhớ lại lời than vãn thiên tài của Tản Đà “Dân hăm nhăm triệu ai người lớn – Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con “.


        Thật đã rõ, bọn người ráo hoảnh hôm nay, cũng là một lũ trẻ mất nết, mãi không chịu lớn, và càng càn rỡ hư hỏng, càng còi cọc không bao giờ lớn nổi.


        Lũ trẻ ấy, sau cái vỏ bề ngoài non bẽo đã già cỗi tự lúc nào không biết, song lại chuyên phô cái vẻ trẻ con ngây ngô ra để chối tội.


       Tối tăm mày mặt trước những món lợi lớn,  cái gọi là lũ trẻ ấy sẵn sàng trở nên độc ác như những bạo chúa.

Dựa trên bản  in trong  Những chấn thương tâm lý hiện đại, 2009,

có sữa chữa đoạn cuối, 6-2012

Sunday, June 3, 2012

Nói nhiều, như một căn bệnh…

  Hay là bây giờ mình lên tiếng xin tăng giá các loại cước điện thoại cố định cũng như di động…


      Thú thật là chỉ mới nghĩ thế thôi chứ chưa dám mở miệng, tôi đã tự ách lại ngay được. Thậm chí đắn đo mãi mới dám viết rằng mình từng nghĩ vậy trên mặt giấy. Bởi không cần nhạy cảm lắm, cũng thừa biết là trong con mắt mọi người, riêng việc cái thằng tôi có ý nghĩ như thế đã là một dấu hiệu điên rồ, nếu không nói là một trọng tội. Chắc rằng sẽ có ai đó sẵn sàng mách hộ nên đi khám tâm thần ở chỗ này chỗ nọ.




      Mặc dầu vậy, tôi vẫn cứ viết ra đây với tất cả sự tỉnh táo của một người đang kiểm soát được ý nghĩ của mình. Lý do là như thế này: Thời buổi bây giờ chỉ có đồng tiền chế ngự được con người. Ví phỏng, trong muôn một, cái đề nghị điên rồ trên đây được chấp nhận, túi tiền những người đồng bệnh với tôi có bị vẹt đi thật – thì bù lại dần dần cũng có một cái lợi là đỡ đi cái tật nói nhiều đang trở thành một cách ứng xử phổ biến, và nên nói ngay là đã đến mức nặng nề, hoặc như thiên hạ thích nói, một căn bệnh trầm kha, đang hạ thấp cuộc sống chúng ta mà ta không biết.


     Còn nhớ hồi chiến tranh, Hà Nội cái gì cũng thiếu, chẳng hạn hồi đó, ruột bút chì bi dùng xong, phải giữ để mang bơm lại, hoặc mang đến nộp cơ quan, để đổi cái mới.


      Vậy mà ngay từ những năm ấy, đã nghe nói rằng ở một số nước trên thế giới xuất hiện tình trạng khủng hoảng thừa, và nói chung một trong những tai vạ chủ yếu của con người hiện đại là họ có quá nhiều thứ để mà lựa chọn.


     Chỉ mươi năm nay, cái cảm giác ngột ngạt của sự dư thừa kiểu đó,  nước mình mới thật lĩnh đủ.


    Ra đường nghĩa là len trong rừng xe.


    Đến các cơ quan hành chính, lúc nào cũng thấy đã có người xếp hàng.


     Vào cửa hàng ăn, bàn nào cũng ê hề những thức ăn gọi ra không dùng.


      Về nhà mở TV ra, hết chương trình đố vui mọi người đua nhau cười hô hố lại đến các loại phim hàng chợ của Tàu… Người sẵn… Của thừa… Và sự nói nhiều là nằm trong cái mạch tự nhiên ấy.


      Nhân vật chính trong thiên truyện Tỏa nhị kiều của Xuân Diệu là hai cô gái “lặng lẽ và ngơ ngác; ấy là hai hột cơm”, còn mấy người đàn ông khác cũng đều là những người “biết chung sống với sự buồn tẻ”. Không chỉ riêng Tỏa nhị kiều, mà như mọi người  đọc vào sẽ thấy, trong nhiều thiên truyện của Thạch Lam cũng như của Nam Cao hồi tiền chiến, con người ta nói ít lắm, chắc chắn là ít hơn thời bây giờ.


       Khi hình dung lại những năm còn nhỏ, tôi nhớ trong các gia đình mọi người thường lặng lẽ, ông bố chìm đắm trong lo toan về cuộc mưu sinh, bà mẹ thương chồng thương con cắn răng lam làm và trẻ con chỉ nghĩ đến việc nói chuyện với người lớn đã sung sướng. Chẳng phải gia đình tôi độc đáo khác đời, mà ở nhiều gia đình khác cũng vậy.


       Còn ngày nay bạn thử nghĩ lại xem, có phải khó khăn lắm chúng ta mới tìm thấy một người ít nói. Không những thanh niên huyên thiên bốc phét, trẻ con khóc rất dai, mà những người già cũng nói như cái cách duy nhất để tự khẳng định rằng họ còn sống. Người ta nói nhiều ở đủ các nơi: Trong các buổi họp. Trong các đám cãi nhau. Trong những dịp vui. Lại cả trong những dịp buồn (ví như các điếu văn hoặc các bài phát biểu khi có ai đó chết chẳng hạn).


     Đôi lúc thử tách ra nhìn lại mình: tôi cũng đã nhập vào đội quân đa ngôn đa quá từ lúc nào không biết. Có việc phải nói với ai điều gì chưa nghĩ cho chín đã xổ ra ào ào. Cùng một ý, đáng nói một câu thì nói đến hai ba câu. Toàn những sự lắm ngoài ý muốn, nên mới bảo là bệnh.


      Đã bao giờ bạn đang làm việc thì bị một người cùng phòng với mình làm khổ bằng cách tán róc với ai đó trên điện thoại chưa? Tôi, tôi cũng thường xuyên có cái khó chịu ấy. Cho đến một lần tôi chợt nảy ra ý nghĩ tự kiểm tra xem mình nói như thế nào. Chao ôi, tôi cũng nói dài không kém một ai. Tôi cũng thường có những chuyến buôn dưa lê vô tội vạ! Chắc chắn nhiều lần tôi đã làm phiền những người chung quanh mà không hay biết.


   Cái bệnh nói dai nói dài nói dại đã ngấm vào mỗi người bình thường ở xã hội mình  và chắc chắn cuộc chạy chữa này phải là việc chung của cộng đồng. Chứ mọi nỗ lực cá nhân nhằm tìm cách chữa riêng cho mình và người thân của mình chỉ đạt hiệu quả tương đối  nếu không nói là không bao giờ làm nổi .


 Đã in trong Nhân nào quả ấy 2003.


   Viết thêm 3-6- 2012     


  -- Khi ta chê một người nói dài tức là chê người đó nói không có nội dung, nói không chịu nghĩ, vừa nói vừa nghĩ, lặp đi lặp lại, đáng nói dăm ba câu thì nói thành hàng loạt câu liên hồi kỳ trận.


     Suy cho cùng đó là một người thiếu tôn trọng đối tượng đang đối thoại và luôn thể cũng là thiếu tự trọng.


      Tình trạng nói dài đã dẫn tới sự hạn chế và lãng phí trong giao tiếp. Nhiều lần nghe một người nói mãi tôi không hiểu. Phải cố lắng nghe một lúc rồi tóm tắt lại cho gọn và trình bày lại cho đối tượng vừa giảng giải cho mình nghe rằng họ vừa nói gì, có phải như thế này không -- người kia mới gật đầu. Cả hai mất thêm bao nhiêu thời giờ.   


   


    -- Sự nói nhiều càng biểu lộ rõ khi con người hiện đại tập hợp thành những đám đông, không chỉ ở loại đám đông tự phát như các bữa nhậu các chốn ăn chơi mà cả đám đông được tổ chức hẳn hoi như phần lớn các cuộc họp. Ở đó hoặc chúng ta quan sát thấy sự thống nhất giả tạo và giáo điều, hoặc một sự đua đả hỗn loạn, kết quả của tình trạng “ con gà tức nhau tiếng gáy” -- muốn thách thức nhau, hơn là có nhu cầu giao tiếp chân thành và cùng truy tìm chân lý .


 


   -- Thử giải thích tại sao chỉ  con người hiện nay mới nói nhiều như vậy? Chiến tranh. Cách mạng.Thời hiện đại đồng nghĩa với việc nông thôn và đô thị, cá nhân và gia đình cùng bị xới lên nháo nhào. Vị thế con người thay đổi, mỗi người vừa chống chọi để thích ứng, vừa như thêm có dịp khẳng định mình. Nhưng năng lực của họ nói chung, năng lực tự biểu hiện nói riêng không theo kịp,-- họ thường xuyên ở trong tình trạng như là chạy gằn, như là kiẽng chân lên mà sống.







   -- Nói cách khác, chỉ trong xã hội hiện đại,
tiềm năng nói nhiều nói vô tội vạ … của con người mới được giải phóng triệt để.


      Loại người tiến thân bằng ba tấc lưỡi chưa bao
giờ đông đảo như lúc này.


    


  -- Thoạt đầu người ta chỉ trở thành người nói
dai nói dài nói dại  trong các hoạt động
xã hội. Sau đó căn bệnh này lan vào các lĩnh vực quan hệ cá nhân. Con người
chính trị bị phát triển theo hướng lệch lạc âm thầm làm hại con người nhân bản. Ở đâu nó cũng đều chứng tỏ là con người hiện
thời không theo kịp sự phát triển mà hoàn cảnh mở ra cho họ. 





--
Nghĩ ra chuyện gọi là tăng cước điện thoại, ấy là lúc tôi có ảo tưởng rằng
không chừng có thể dùng một số cái gọi là “biện pháp hành chính“ để người mình
khỏi bệnh ( các bạn khác sẽ có những cách khác, tôi chỉ nói cho vui, nói làm ví
dụ.)

     Nhưng rồi nghĩ lại, thấy chẳng đáng tin,
cũng như trước các tệ nạn xã hội hiên nay --vi phạm luật giao thông, hút thuốc
lá nơi công cộng, hát nhép, ăn mặc hở hang… -- mọi đề nghi tăng mức án xử phạt
tôi đều không tin là có thể giải quyết triệt để.


      Vì theo
thiển nghĩ,  chúng -- các căn bệnh tưởng
là “nhẹ nhàng” ấy -- thực ra chỉ là những biểu hiện của một đời sống tinh thần
nông nổi, dông dài, trống rỗng; sống thiếu chiều sâu thiếu ý tưởng; một cuộc
sống trì trệ bế tắc… nhưng lại hiện ra bên ngoài với cái vẻ sặc sỡ và năng động
-- toàn những bệnh có giời chữa!






 --   Khi trong xã hội còn có quá nhiều người thành
đạt bằng con đường nói dai nói nói dại … thì mọi người khác, nhất là lớp trẻ,  sẽ
không bao giờ hướng cố gắng lập nghiệp vào việc tìm ra con người chân chính,
tiếng nói chân chính của mình. Mà sẽ tiến thân bằng mọi thủ đoạn khác, kể cả
thủ đoạn gian dối, buôn nước bọt, leo trèo bằng đầu lưỡi.


  


 -- Người nói nhiều mà không tự bộc lộ bản thân,
không tác động tới chung quanh bằng tiếng nói riêng tức chưa tìm thấy mình: sự
có mặt của người đó trên thế gian này vẫn là vật vờ thấp thoáng.  


     Những gì đúng cho một cá nhân thì cũng
đúng cho cả xã hội.


     Một xã hội ồn ào vì những kẻ nói nhiều nói
nhảm thực chất vẫn là một xã hội nằm trong sự phong bế của bóng tối và im lặng.