Tuesday, August 31, 2010

Giới thiệu tạp chí NGHIÊN CỨU HUẾ

Nhân tập mới nhất,tập7, phát hành 7/2010

 NGHIÊN CỨU HUẾ, món quà tặng bất ngờ
Bài viết năm 2002 trên TT& VH



Thành phố của sông Hương núi ngự trên đường tự tìm lại chính mình qua các công trình nghiên cứu đáng gọi là có chất lượng khoa học

Nghiên cứu tìm hiểu quê hương đang là công việc được khởi động một cách hào hứng ở nhiều địa phương. Tuy nhiên cũng phải nói ngay là các bài báo và cuốn sách loại này thường có phần xốp nhẹ. Chúng được biên soạn một cách vội vã và theo một cách thức đơn giản.

 Tình yêu — ở đây là tình yêu của các soạn giả đối với mảnh đất mình đang sống — nồng nhiệt song nông nổi.

     Cách hiểu về một vùng văn hoá thì khá chật hẹp.

     Truyền thống lịch sử hay được nói tới nhưng không được quan niệm một cách cụ thể. Bóng dáng của ngày hôm nay che lấp tất cả quá khứ. Tưởng rằng lớn lên trên mảnh đất quê hương thì sẽ hiểu nó hơn ai hết, người ta không giấu giếm nổi cái ý muốn áp đặt những kiến thức thô lậu cho người đọc.Việc sử dụng quá nhiều những lời lẽ hoa mỹ khiến cho các bài viết và các tập sách mang nặng tính cách khoe khoang mà thiếu sức thuyết phục.

     Đặt trong cái nền chung ấy, bộ sách Nghiên cứu Huế ( đã ra đến tập thứ ba ) muốn trình ra một phương hướng nghiên cứu có nhiều phần khác.

     Công trình ra đời dưới hình thức sách, song lại na ná như một tạp chí bởi sẽ liên tục có nhiều số, mỗi số có nhiều loại bài khác nhau. Đối tượng được mang ra xem xét một cách thận trọng. Lịch sử được đối thoại chứ không phải được gán cho những ý nghĩa có sẵn. Dường như các soạn giả muốn nói chính các ông cũng đang mày mò tìm kiếm cũng đang muốn bằng mọi cách, hiểu thêm về Huế của mình.

     Chung quanh ý niệm “thế nào là một vùng đất văn hoá ?”, tuy không định nghĩa rõ, song nội dung các bài nghiên cứu cũng như các tư liệu được công bố cho thấy những người chủ trì tập sách có một quan niệm rộng rãi mà lại chắc chắn.

       Có bài nói về nhà Huế chợ Huế bên cạnh đó là bài về cầu Huế,chùa Huế, rừng du ngoạn ở Huế …Có bài nói tới cây Baobap ( một loại cây thuộc họ gạo nhưng hoa trắng nở vào mùa hè ) duy nhất trong thành phố. Có bài mang một cái tên đơn giản Sông Hương có cái tên ấy tự bao giờ ? Khá nhiều bài nói về cách sống của người Huế trong đó có những bài nói về từng con người cụ thể, kể cả những nhân vật có tên trong lịch sử như Trần Quý Cáp Nguyễn Văn Tường Đặng Văn Ngữ … lẫn những nhân vật được truyền tụng trong dân gian như Cậu cả Hót.

      Những ai từng đọc Quê mẹ của Thanh Tịnh hẳn còn nhớ thiên truyện Con ông Hoàng trong đó khắc hoạ loại nhân vật quý tộc thất thế mà không bao giờ từ bỏ nổi cái chất đài các của mình ( Thơ Nguyễn Bính : Loanh quanh xóm vắng đường gần — ấy ai làm dáng phi tần với ai ).

      Cậu cả Hót là một nhân vật có cái chất riêng đó của Huế. Có thể nói đây là cả một tính cách mà người thuộc Huế hiểu Huế thường truyền tụng và nay rất cần được ghi chép. Một khi loại ghi chép này được tiếp tục, Nghiên cứu Huế sẽ hứa hẹn nhiều trang sách thú vị.

     Nếu như nét đặc sắc của văn hoá Huế là ở tính chất cung đình, cái vẻ quý tộc hầu như ẻo lả yếu ớt song lại hiếm hoi của nó thì lịch sử hình thành của Huế lại đi liền với lịch sử triều Nguyễn, một trong những giai đoạn phát triển rực rỡ nhất mà cũng bi thảm nhất của xã hội nước ta trước khi bước vào lịch sử hiện đại.

     Nhưng lâu nay văn hoá Việt nam thường được đồng nhất với văn hoá bình dân, cái chất quý tộc kia bị lảng tránh coi như không có, còn lịch sử thế kỷ XIX thì bị thành kiến nặng nề và do đó làm nghèo đi rất nhiều.

    May thay ở cái chỗ mà một số nhà viết sử thuộc biên chế nhà nước hôm nay thấy ngán,  thì các tác giả Nghiên cứu Huế không ngán. Ngay từ tên gọi một số bài viết đã nói rõ cái phần nội dung được nghiên cứu nghiêm túc trong đó : Danh và hiệu của các vua nhà Nguyễn, Quốc sử quán triều Nguyễn,Vấn đề tài sản trong luật pháp hôn nhân và gia đình dưới triều Nguyễn

      Có thể nói đây là một phương hướng khai thác đúng đắn nó mở ra cho việc nghiên cứu Huế một trường hoạt động rộng rãi.

       Vua quan nhà Nguyễn cũng là người Việt, lịch sử nhà Nguyễn cũng là một phần lịch sử Việt Nam, làm sao mà đánh bài lờ mãi được ?

       Ở trên chúng tôi đã nói qua về các tập sách nghiên cứu về từng vùng đất đang được biên soạn.

        Một trong những khía cạnh non kém không thể khắc phục của một số bài viết trong loại sách đó là ở chỗ tác giả của chúng vô tình hay hữu ý tách rời địa phương được nghiên cứu khỏi cái mạch chung của văn hoá cả nước, và lầm tưởng rằng làm thế là đề cao được văn hoá của địa phương mình, có biết đâu lại khiến cho các bài viết ấy có tính chất tỉnh lẻ rõ rệt.

        Nghiên cứu Huế chọn cách làm khác. Khái niệm về nghệ thuật trị quốc ở Việt Nam, Xứ đàng trong vào thế kỷ XVII và XVIII : một mô hình khác của Việt Nam, Bối cảnh lịch sử Việt nam khi người Pháp đến, Về một nguyên nhân làm suy thoái đất nước vào giữa thế kỷ XI X.., đấy là tên gọi một loạt bài nghiên cứu khá công phu được in chúng đã nói rõ quan niệm của những người làm sách : Đặt Huế trong cái mạch chung của cả nước. Một cơ sở phương pháp luận hợp lý đã mang lại cho Nghiên cứu Huế một lượng bạn đọc tối đa mà nó có thể có.

     Với tinh thần khoa học nghiêm túc, nhóm biên soạn đã để công sưu tầm được những tài liệu phải nói là qúy hiếm. Đáng nói ngay ở đây là hai loại :

    Đầu tiên là những tài liệu người xưa viết bằng chữ Hán. Lâu nay tôi cứ nghĩ các cụ xưa ít chịu viết hồi ký, nay với Nghiên cứu Huế ba tạp đầu, tôi đã có trong tay Lý lịch sự vụ lẫn Khúc tiêu đồng. Cuốn trước là của một quận công thời đầu thế kỷ XIX, công lao đóng góp từng được ghi trong Đại Nam chính biên liệt truyện. Cuốn sau là một thứ nhớ gì ghi nấy của một viên quan nhỏ sống đến những năm sáu mươi gần đây, nhiều tài liệu ghi được mang ý nghĩa xã hội học đáng quý.

     Thứ nữa là các tài liệu của người nước ngoài bao gồm từ Nhật ký gặp vua xứ đàng trong của một nhà buôn Anh thế kỷ XVIII, hồi ký của một trung uý hải quân Hoa kỳ đến Việt nam đầu thế kỷ XIX … cho tới các công trình nghiên cứ về Việt Nam của J. Che sneux, D. Marr … hoặc của một giáo sư người Việt từng dạy ở Đại học Paris là Nguyễn Thế Anh.

      Cũng theo cái mạch này, cuối các tập  đã in còn có in thêm Thư tịch chú giải lịch sử VN qua các tạp chí của trường Viễn Đông Bác cổ ( giai đoạn 1901-1970 ) của Hội nghiên cứu Đông Dương ( giai đoạn 1865-1970 ) và qua các tạp chí France Asie ( giai đoạn 1946-1970 ).

      Hôm nay Nghiên cứu Huế mới được in ra, song hình như nó đã được chuẩn bị một cách công phu từ nhiều năm trước,  và xem qua cách biên soạn thì công việc còn được triển khai lâu dài. Chẳng những trong từng bài vở cụ thể mà cả trong quan niệm chung toát ra qua các bài vở ấy, bộ sách như muốn đạt tới vẻ đẹp cổ điển, nó là cả một sự thách thức đối với tình hình nghiên cứu vốn khá luộm thuộm hiện nay. Bởi sự thách thức đó đến từ một nơi lâu nay ít ai nghĩ là có thế mạnh về khoa học nên có thể nói đấy lại là một bất ngờ đầy thú vị mà Huế và người đất Huế dành cho chúng ta.

Nghiên cứu Huế ấn phẩm của Trung tâm nghiên cứu Huế, Nguyễn Hữu Châu Phan chịu trách nhiệm xuất bản đồng thời là người đứng đầu Hội đồng biên tập. Mỗi số từ 330 đến 380 trang khổ lớn. Tập một đã in tháng 6—1999 ; tập hai, tháng 2-2001 ; tập ba tháng 12 – 2001.

 



GHI CHÚ 30-8-2010
Tôi viết bài trên vào năm 2002, khi Huế mới ra tập 3. Tới nay, NCH đã ra đến tập 7. Tập này, tôi có may mắn được nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan gửi tặng kèm theo tập 6 tôi còn thiếu , nên xin có mấy giòng viết thêm.
Về nội dung bao quát, hai tập mới ( đều trên 400 trang khổ to ) vẫn giữ được cái mạch chung mà NCH chủ trương từ đầu.
Các bài Làng xã đối diện chính phủ: diễn tiến của quan hệ trung ương -- địa phương tại VN cho đến năm 1945 của Nguyễn Thế Anh, Mối quan hệ làng nước ở VN vào thế kỷ 19: về trường hợp làng Tơ, một ngôi làng nhỏ ở châu thổ sông Hồng của John Kleinen sẽ góp phần vào việc tìm hiểu làng xã, một chủ đề mà giới sử học VN âm thầm theo đuổi.
Từ tập 2, NHCP đã có bài Bối cảnh lịch sử VN khi người Pháp đến. Đến số 4&5, ông có Thiết lập cơ cấu cai trị đầu tiên của Pháp tại VN: giai đoạn súy phủ 1861--1879. Nay ông cho in Bối cảnh lịch sử VN giai đoạn 1558 đến 1802. Phân tranh và thống nhất một chuyên luận khá dày dặn ( tính khổ giấy 19.26,5 đã hơn 100 trang thì khổ 13.19 phải gần gấp đôi?).
Tôi có cảm tưởng là mình được làm quen với một cách làm sử khác nhiều so với cách làm của các sử gia trước nay tôi vẫn được đọc. Cảm tưởng đó nẩy sinh một phần có lẽ là vì khi viết các công trình này, NHCP dựa vào nhiều nguồn tài liệu mà đọc các sách sử khác người ta không bao giờ thấy. Có lẽ đây là những sưu tập riêng trong gia đình NHCP, như ông đã tiết lộ một phần với báo chí chăng?
Với các bạn có nhu cầu tìm mua NGHIÊN CỨU HUẾ , Xin liên lạc TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU HUẾ Địa chỉ 18 Nguyễn Huệ -- Huế Điện thoại 054.3 825.277 -- 0986 78 99 73 Email: chauphan_2007@yahoo.com.vn chau.phan@dng.vnn.vn ( ghi theo tr. 2 NCH tập 7 )


Ở phần Ký và hồi ký, từ tập V, NCH cho in Huế những năm 1876-1877—Nhật ký hành trình của J.L.Dutruil De Rhins, đến tập 6 và 7 tiếp tục. Tác giả cuốn sách này là một thuyền trưởng tiểu pháo hạm mà Pháp “tặng” cho VN theo hiệp ước 1874. Cứ như các phần tôi đọc được thì cuốn sách in ra ở Paris từ 1879 này vượt hơn hẳn so với nhiều cuốn sách khác cùng thể tài, cả về khối lượng chữ nghĩa viết ra, lẫn độ tinh tế và chất khái quát trong các nhận xét cụ thể. Nó có ích không chỉ với người nghiên cứu Huế mà còn cả với những ai muốn tìm hiểu con người và xã hội VN cuối thế kỷ XIX .

Friday, August 27, 2010

Chiều nịnh nhau và chiều nịnh chính mình




(minh họa: Khều)

(TBKTSG)





- Trẻ đang học tiểu học thôi cũng đã giỏi bắt bài nhau lắm rồi. Một lần tôi nghe hai anh em nhà nọ cùng khoe với mẹ rằng học bạ của mình toàn điểm tốt. Nhưng thằng anh nói ngay về thằng em: - Điểm của cô nó quá rẻ, không tin được đâu, mẹ ạ.


Đến trẻ còn biết nhìn nhận cái gọi là thực chất của chúng đến đâu. Ấy vậy mà người đời thường làm ngược lại. Chiều nịnh nhau, khen nhau vô tội vạ đã trở thành một cách sống không chỉ lan tràn trong nhà trường mà còn phổ biến trong toàn xã hội.
Những khu phố nhếch nhác bẩn thỉu, dân chạy ra đường cãi nhau chửi nhau loạn xị, song vẫn cho chăng ngang đường cái biển to đùng “Khu phố văn hóa”.
Những cơ quan xí nghiệp nhà nước làm ăn bê bết song từ trên xuống dưới người nào cũng được khen thưởng.
Giám đốc ký bằng khen thưởng thật nhiều để chứng tỏ dưới sự lãnh đạo của mình, đơn vị đã ăn nên làm ra.
Sự chiều nịnh xuất hiện ở bất cứ chỗ nào người ta khinh rẻ con người, dùng lối xoa đầu trẻ con để đối xử, kích thích vào tâm lý nông nổi của người đời và tạo nên một sự phồn vinh giả tạo.
Đâu chục năm trước, tự nhiên Bộ Giáo dục nước mình có quyết định những ai lâu nay vẫn kêu phó tiến sĩ nay là tiến sĩ, còn các tiến sĩ cũ kêu bằng tiến sĩ khoa học. Thoạt đầu mọi người bảo nhau thôi cũng là một cách động viên nhau làm thế mạnh khi đối ngoại, tức để chứng tỏ trong chiến tranh nền giáo dục nước mình vẫn phát triển và về mặt con người, ta thừa khả năng nói chuyện ngang hàng với thế giới. Ít lâu sau mới nhận ra các ông ấy làm thế để tự mình công kênh mình lên, báo cáo là có thành tích, đồng thời che giấu sự bất tài bất lực trong việc tổ chức cho được một nền giáo dục hiện đại.
Nhìn vào báo chí, người ta thấy ngay những tin tức xuôi chiều nghe đến đâu mát lòng mát ruột đến đấy. Những câu chuyện thô tục khơi mào cho những tiếng cười rẻ tiền. Những cuộc đố vui đánh vào tâm lý ăn may của công chúng. Tỷ lệ những trang báo loại này quá lớn, tất cả cốt làm xì hơi bớt nỗi bức xúc dồn tụ trong lòng người, mà cũng để dân làm báo khỏi cất công vất vả lặn lội đi viết về những vấn đề nhức nhối của đời sống, nhọc nhằn mà lại nguy hiểm.
Trong một chuyện tiếu lâm Nga đầu thế kỷ trước, tôi đọc được đoạn đối thoại giữa hai ông cháu nhà nọ.
- Cháu ạ, có mấy anh ở sở đo đạc mới về đo lại con đường từ làng mình lên huyện. Họ mang lại một món quà quý hóa quá!
- Sao thế ông?
- Hồi trước đường lên huyện vẫn bảo là những 7 dặm. Nay các anh ấy đo lại hóa ra chỉ có 5 dặm. Thế chẳng phải nhờ các anh mà đường lên huyện đỡ được 2 dặm là gì!
Một trong những ý nghĩa của mẩu chuyện nhỏ này là, không cần biết thực hư ra sao, ở những xứ sở lạc hậu, con người chỉ cần những cái danh hão đã đủ vui lắm rồi. Có lẽ đấy là lý do sâu xa khiến cho ở những nơi ấy, ngón võ chiều nịnh vẫn được áp dụng rộng rãi.
Riêng ở xứ ta thì có cảm tưởng nó đã ngấm vào cách sống cách nghĩ của mỗi người bình thường, trở thành một phong cách thời đại.
Trong nhà đóng cửa bảo nhau hơn kém cũng xong, nhưng đứng khách quan mà nhìn, hình ảnh chúng ta như thế nào? Cũng có những người, qua tiếp xúc với thiên hạ, được thực tế mở mắt, cắn răng học hỏi để thực sự bằng người. Nhưng khá nhiều người không học hỏi được, tức không hội nhập được, xoay ra tự cho phép làm đủ thứ bậy bạ. Từ chỗ tự cao tự đại, người ta đi đến chỗ đánh mất hết lòng tự trọng, buông thả mình cho ma quỷ chi phối. Từ thái cực nọ sang thái cực kia, song trước sau vẫn con người ấy, sản phẩm ấy của thời đại.
Tôi đã rất đắn đo khi phải viết ra điều sau đây, nhưng nhiều tài liệu đọc được khiến tôi không thể nghĩ khác. Đó là sự mất uy tín của người mình trước bè bạn và các đối tác chung sống. Giao thiệp với một thế giới khôn ngoan tỉnh táo, nhiều khi chúng ta còn đắm chìm trong quá khứ và tự trình diện như một cộng đồng chẳng hiểu gì mình, chẳng hiểu gì về người, hết khoe mẽ lại xin xỏ và thường rất dễ bị ăn quả lừa. Trong khi tự mình làm không đủ nuôi mình, vẫn đắm mình trong cái ảo tưởng là mình ghê gớm lắm, cứ ngồi yên không cần làm, rồi mai đây cái gì cũng có, ta đâu có thua kém thế giới.
Bệnh tự chiều nịnh còn có một tác hại khác là làm cho con người hôm nay trở nên kiêu ngạo kỳ lạ so với ông cha. Khi ngoái lại các thời đại cũ, nhiều người không sao hiểu nổi mọi nỗ lực làm người của các thế hệ đi trước, mà chỉ chăm chăm với ý nghĩ xưa không bằng nay, miệng nói biết ơn nhưng trong bụng vênh váo tự phụ, thương hại người xưa.
 thesaigontimes

Thứ Năm,  26/8/2010

Wednesday, August 25, 2010

Những mảng trắng của lịch sử

Thấy cần đọc Lịch sử triều Mạc của Đinh Khắc Thuần (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2001) vì hai lý do:

Một, nó là luận văn tiến sĩ ở Pháp, chứ không phải được công nhận trong nước; và hai, nghe nói nó rất ca ngợi nhà Mạc chứ không phải lên án như phần lớn sách giáo khoa về lịch sử từ thời tôi học cấp hai 40 năm trước cho tới hôm nay.



Lý do thôi thúc tôi là ở ta những ý nghĩ “ngược chiều gió thổi”, ngược với thói quen của đám đông thường rất khó xuất hiện. Nay ở sử học nó đã xuất hiện, đã được chính thống công nhận, ắt không phải chuyện vừa.
Đọc xong thì thấy cuốn sách đáng gọi là một công trình khoa học. Nó có luận điểm mới, cách khai thác tài liệu mới. Cuốn sách cũng soi rọi cho tôi thấy thêm một khía cạnh tính cách Việt. 
Đau khổ vì những tệ nạn xã hội mà con người gây ra cho nhau hôm nay, những người như tôi thường bi quan khi nghĩ về những nguyên nhân sâu xa đã khiến nó - cái tình trạng hỗn hào ly loạn trong lòng người - cắm rễ sâu vào đời sống cộng đồng trong quá khứ. 
Lâu nay chúng tôi chỉ được dạy là có nhiều trang quá khứ oai hùng. Thế còn những thời mà trong đó con người sống tử tế, những thời đó có không và là những thời nào?
Đây là mấy dòng Đại Việt sử ký toàn thư miêu tả nhà Mạc mà cuốn Lịch sử triều Mạc trích lại: “trong nhiều năm đường sá không nhặt của rơi, cửa ngoài không đóng, thường được mùa to, trong nước tạm yên”. (Sách Lịch sử triều Mạc, trang 229)
Lẽ ra phải có nhiều người đi vào nghiên cứu một thời thanh bình như vậy. Nhân đây nghĩ chung về cách làm sử của người mình hôm nay.
Chỉ nghiên cứu ông cha đánh giặc và khởi nghĩa chống phong kiến mà không nghiên cứu ông cha cày ruộng, khai phá đất đai, mở đường, xây dựng đô thị - nói như ngày nay là làm kinh tế và ổn định xã hội.
Chỉ nghiên cứu những cuộc kháng chiến mà không nghiên cứu tình hình các xã hội hậu chiến.
Chỉ nghiên cứu phong trào chống ngoại xâm mà không hề nghiên cứu dân ta, đồng thời với việc chống đối đến cùng đó, đã học hỏi những người từ xa đến để trưởng thành lên như thế nào. 
Chỉ thích dạy trẻ về những thời đại hào hùng mà không dạy về những thời con người ta trở nên tử tế. 
Theo Pháp luật TPHCM - 25/07/2010

Monday, August 23, 2010

'Cảm ơn Pháp về Ngô Bảo Châu'



Ngô Bảo Châu được tặng giải Fields, một thứ giải Nobel trong toán học khiến cả xã hội hào hứng ca ngợi trí tuệ Việt nam, thiên tài Việt Nam.



Nhưng tôi tưởng lúc này chúng ta nên có lời cảm ơn nước Pháp, nền văn hóa Pháp, nền khoa học Pháp.



Những bước đi ban đầu là cực kỳ quan trọng và việc Ngô Bảo Châu lớn lên ở Hà Nội cũng nói lên một cái gì đó trong tiềm năng toán học của người Việt.

Nhưng nếu không có việc sang Pháp làm việc và học hỏi thêm thì mọi chuyện với Ngô Bảo Châu sẽ ra sao?

Tạm ví thô thiển như sau:

Đến được trình độ khoa học như Ngô Bảo Châu cần qua mười bậc và ở quê hương, nhà tóan học đã bước được đến bước thứ bẩy thứ tám gì đó(?). Nhưng theo tôi hiểu, hai bước sau cùng mới là quan trọng, vì không có nó thì tám bước đầu tiên cũng là vô nghĩa.

Tôi biết rằng ở thế hệ tôi cũng như các thế hệ trước, cũng đã có những người có được tám bước đầu tiên, nhưng vì không có điều kiện học hỏi và làm việc trong những nền khoa học hàng đầu - tức là sống trong môi trường văn hóa hoàn chỉnh hơn, có một trình độ phát triển cao hơn-- nên không có được hai bước tiếp.

Viết về một cuộc đấu tranh, Chế Lan Viên từng có hai câu thơ nói tới cái tình trạng nghịch lý :

Vinh quanh nhất là những người chiến thắng

Vinh quang hơn là những kẻ đi đầu

Sau khi tự hào về chính mình, nếu muốn công bằng, phải ghi nhận ngay những tác động thêm vào từ bên ngoài.

Vương Trí Nhàn
Tôi có cảm tưởng ở đây, trong việc xác lập những nhân tố có ảnh hưởng quyết định tới một sự việc như thành tựu của Ngô Bảo Châu, cũng có tình trạng tương tự.

Vinh quang trước tiên đất nước đã đẻ ra Ngô Bảo Châu. Nhưng cũng phải giành phần vinh quang cho đất nước đã đóng vai trò bệ phóng, giúp ông hoàn thiện, giúp ông trở thành Ngô Bảo Châu hôm nay.

Chính Bấm Ngô Bảo Châu trong blog của mình cũng đã nhắc qua tới cái ý này.

Nhìn lại lịch sử thì thấy các nền văn hóa lớn như văn hóa Trung Hoa lẫn văn hóa Pháp tác động tới ta không chỉ trên bình diện tổng quát - là thúc đẩy sự hình thành và làm thay đổi diện mạo của văn hóa Việt Nam - mà trong nhiều trường hợp còn trực tiếp góp phần làm nên nhân cách những con người cụ thể là các nhà văn hóa gốc Việt.

Phạm Xuân Ẩn mấy năm trước đã nói trong ông không chỉ có văn hóa Việt Nam mà còn có văn hóa Mỹ.

Trong Đặng Thái Sơn có sự đóng góp của văn hóa Nga.

Một trong những nhà nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu khoa học xã hội thứ thiệt ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế là Nguyễn Văn Huyên - không chỉ là hiện tượng văn hóa Việt Nam mà còn là hiện tượng văn hóa Pháp.

Bao nhiêu nhà nho trí thức ở ta thành đạt, có thể phò vua giúp nước, kể cả giúp kế sách cho công cuộc chống ngoại xâm, một phần là nhờ thấm nhuần văn hóa Trung Hoa.

Sau khi tự hào về chính mình, nếu muốn công bằng, phải ghi nhận ngay những tác động thêm vào từ bên ngoài. Môi trường giúp cho sự hoàn thiện là cái thường thiếu ở VN. Ta không thể hoàn chỉnh nếu không có người.

Một cách nghĩ như thế nếu với cả cộng đồng là khôn ngoan và hiểu biết thì với mỗi người tôi tin nó cũng giúp ta tìm ra cảm giác thanh thản và bền bỉ hơn để tiếp tục những nỗ lực nho nhỏ trong cuộc sống.

Mà đây cũng là một nội dung cần nói với lớp trẻ, chuẩn bị cho lớp trẻ biết hướng ra thế giới học hỏi thế giới. Tức là ngay từ bây giờ phải nghĩ lúc nào đó dân tộc này sẽ có thêm những Ngô Bảo Châu mới.

Không chỉ dừng lại ở cảm giác tự hào về những thành tựu của dân tộc mình mà còn biết rõ các cộng đồng khác các dân tộc khác đã giúp đỡ đã cộng tác với mình thế nào …đó là biết sống, mà đó cũng là yêu nước.

Friday, August 20, 2010

Nước tôi dân tôi (cuối 2009 đầu 2010)

2-10

TT&VH có bài nói rằng người Việt ít tính sáng tạo. Rồi thả nào cũng có người cãi lại đây. Cãi rằng không sáng tạo sao có đất nước này.

Tôi nghĩ phải hiểu thế nào là sáng tạo cho đúng, cái chính là người mình cũng hay sáng tạo lắm chỉ có điều là những sáng tạo vặt, chứ ta lại theo lối mòn trên cái lớn.



Càng sáng tạo vặt, người ta càng rơi vào trì trệ. Ta cảm thấy kém người. Ta phải gồng mình lên cãi lại. Và sáng tạo vặt trở thành cái lý để người ta bảo mình không kém người khác.



8-10

Trong dự thảo luật sửa đổi bổ sung một số điều luật của Luật giáo dục được Bộ GD&DT công bố có điều nói rằng cần huy động sự tham gia góp ý kiến của học sinh về chính sách giáo khoa của mình.

Khi đăng tin này, báo NTNN nói rõ nhiều giáo sư cho là “ chưa thực tế, không hiệu quả”

Tôi thì tôi thấy ghê sợ về cái lối mị dân quá đáng này. Làm sao mà học sinh có thể bảo giáo viên là dạy mình cái gì? Có khác gì đặt cái cày trước con trâu?

Nghe nói “lý luận”này là của một người Mỹ, nhưng tôi vẫn không tin là cách giải thích của chuyên gia VN đúng ý tác giả.



11-10

Mấy năm trước, đọc Jalinek, Naipaul đã thấy những nhà văn của thời nghịch lý.

Năm nay Hertha Muleer ( Nobel văn học 2009) cũng vậy, tôi ghi được mấy câu chắc ở VN nhiều người không thích nghe

Quê hương là thứ người ta không chịu đựng nổi mà cũng không dứt bỏ nổi.”

“Tôi nghi ngại ngôn từ vì tôi thường không rõ phải nói như thế nào những gì tôi thấy. Ngay cả trong cuộc sống thường nhật, ngôn ngữ cũng phải là một thứ mà con người phải thường xuyên sáng tạo lại từ những cái đã có”

Hertha Muleer năm nay cũng lại là người của một quê hương không thuần nhất, đẻ một nơi, thành danh một nơi khác.



14-10

Trên VTV1 đưa tin ở TP HCM, xe bus không mấy ai buồn sử dụng, TP mỗi năm bù lỗ 600 tỉ (?).

Tôi nghĩ đây là một thứ tự người dân họ tái cấu trúc đời sống của họ. Họ phải tìm cách thích nghi với sức ì và sự bất lực thay đổi từ hoàn cảnh.

( Nhưng mà không phải ai cũng thích nghi được. Nghe anh Thành bạn tôi vào SG về kể một số bà con vẫn chỉ có cách bám xe bus mà sống. Và xe vẫn đông nghịt.)

Cũng Thành kể anh em làm báo trong ấy không có lối đàn đúm như ngoài này. Mà rất dứt khoát trong công việc. Người ta trở lại với nhiều giá trị phương Tây chân chính mà người ta tiếp nhận được từ trước 1975.



15-10

Ông Hanh ngoài sông Hồng về quê ở Túy Lai Thạch Thất ra tâm sự có hai điều làm ông bực mình, một là đám ma bây giờ toàn hoa giả và hai là có một thằng cháu đi bộ đội về đám ma mẹ nó, vung tiền như rác, tống cả đống tiền năm chục một trăm xuống quan tài.



30-10

Có một vấn đề mà xã hội VN ít nghĩ – v/đ quản lý của các địa phương.

Có tin hiện nay khoáng sản khắp nơi bị khai thác cẩu thả, các địa phương cấp đến 4.000 giấy phép trong khi số giấy phép của Bộ tài nguyên và môi trường chỉ là 100.

Tòa án tỉnh cũng có quyền tước thẻ hành nghề của nhà báo. Mà tòa án thì nằm trong biên chế của tỉnh, chỉ chịu sự chi phối của tỉnh. Nhà báo còn biết làm ăn sao?

Chợt nghĩ một đầu đề phiếm luận: Đất nước đang bị băm nhỏ.



1-11

Định viết một phiếm luận mang tên ÂM THANH VÀ CUỒNG NỘ.

Để giúp hậu thế tìm ra một nơi ồn ào lộn xộn giữa cái im ắng trì trệ của nông thôn VN trung đại, các nhà văn tiền chiến thường chỉ ra chốn đình trung, ở đó có những cuộc cãi vã dai dai dẳng.

Nhưng đó không chỉ là không khí của từng làng xã cụ thể …

Theo như cách nói của giáo sư sử học Hà Văn Tấn thì xã hội xưa nhiều khi hiện ra như một siêu làng, hoặc là một phức thể liên làng.

Ta vẫn đang sống trong một cái làng khổng lồ. Mặc những biến thiên, nhiều mô hình xưa tồn tại dai dẳng trong đó có cái mô hình của những cuộc cãi vã.



Tôi vừa viết bài nói rằng người Việt hiểu sai nghĩa thầy trò. Nhưng cả chữ trung chữ hiếu cũng sai. Các bản dịch sai ( tuy có bản hay hơn—Thép đã tôi) .Ông Nordeman bảo đạo nho chỉ dùng để trị nhau.

Đạo Phật vào VN—cho người ta chút an tâm.

Đi đạo kiếm gạo mà ăn— người ta đến với đạo Thiên chúa chỉ vì đói,đi đạ là một cách kiếm cơm.



5-11

Cháu Đức ở Magdburg về. Đăng kể, nó tiêu tiền rất chuẩn. Tôi thì yêu nhất ở thằng bé là chịu khó việc gì cũng nhận làm. Chính trẻ con VN lại lười. Con trai tôi chẳng hạn chẳng bao giờ chịu đi làm những việc lam lũ như lái xe hoặc bốc vác thuê, như các cháu lớn lên ở xứ người.

Một so sánh khác. Ở SG, thanh niên có gì không biết thì đi học, rất nhiều lớp học được mở. Ở HN, thanh niên không biết thì bó tay. Có muốn học cũng không có chỗ.



6-11

Ở SG làm một cái cầu vượt, tốn hàng trăm tỷ. Nhưng bây giờ khổ sở vì chuyện xe cẩu không đi qua được. Hàng trăm tỷ nữa được dự trù để khắc phục.

Cũng ở SG đường chật quá đi lại không được; chiều, hết giờ làm sở, nhiều người không dám về nhà, đợi bảy tám giờ mới về. Lại rủ nhau ra quán, tiêu phí một vái trăm cho bia bọt.

Còn nhà nước tính ra một năm mất khoảng 1.400 tỉ!



8-11

Nói về người Việt dùng hàng Việt, trên báo thấy ngay bài về ô mai Hà Nội. Trong khi ô mai ngoại nhập quả to nhiều cùi, thì ô mai HN đủ vị chua ngọt mặn…Toàn giọng Hà Nội băm sáu phố phường. Chẳng nhẽ chỉ có cái đó là đáng tự hào thôi ư? Và không làm sao thoát khỏi cái bóng Thạch Lam ư?



12-11

Hiện nay TQ đã có nhiều tuyến đường sắt với tốc độ cao. Người Bắc Kinh ngại đi xe bus vào trung tâm mua sắm liền đi xe siêu tốc lên Thiên Tân, đường dài 120km, đi mất 30 phút ( trong khi đi xe bus mất một tiếng rưỡi).

Nay lại có tin Trung quốc sẽ bỏ 300tỷ USD làm 13.000km đường sắt với tốc độ 350km/h. Mấy năm nữa mạng đường này sẽ hình thành.

Nghĩ về nước mình. Tốc độ xe cơ giới trong thành phố như Hà Nội là 12km/h. Tôi cảm thấy thành phố không còn của mình nữa, khi nó không có chỗ cho người đi bộ. Một thành phố bị đánh mất.



14-11

Một motiv cổ điển : con người làm ra một sản phẩm một cơ chế nào đó, rồi đến lúc ngược lại, cơ chế đó sản phẩm đó quay lại khống chế họ.

Tưởng là xa lạ ai ngờ motiv cũng đang quay lại

Bàn về vai trò của DNNN, Bộ trưởng Tài chính kiêm đại biểu QH Vũ Văn Ninh giãi bày với QH rất nhiều cái khó đối với các tập đoàn, tổng công ty vốn Nhà nước: không tách bạch được hoạt động kinh doanh với nhiệm vụ chính trị và trách nhiệm xã hội; cơ chế cổ phần hóa còn bất cập; việc bán vốn của Nhà nước cũng khó khăn do không ai mua, mà bán dưới giá trị thì không dám.

Theo ông Ninh : "Cơ chế vướng lắm, rất khó, muốn bán nhanh cũng không bán được. Tôi nói điều này để đại biểu chia sẻ, bày mưu tính kế để chúng ta hoàn thiện cơ chế". (Tiền Phong, 10/11)



Tin trên báo

: Khi tất cả CBCNV của Trung tâm Viễn thông huyện Châu Đức (Bà Rịa - Vũng Tàu) đi khám sức khỏe định kỳ tại TP Vũng Tàu thì ở nhà, Trưởng trạm Viễn thông Ngãi Giao đã chỉ đạo một số người cắt trộm dây cáp viễn thông đem bán, thu được chừng 30 triệu đồng.



Từ lâu tôi đã thú vị với câu tục ngữ Cầm khóan bẻ măng. Nay chộp thêm được một ví dụ



20-11

Có hai chuyện đang rộ lên

Một là về nhà Lý. Poliakov ( Nga) nói rằng thời ấy chưa thể có Văn Miếu được

( Thật ta thì đằng sau đó là câu chuyện nhà Lý phát triển đến đâu, một quốc gia tập quyền hay là một nhóm nổi lên giữa rất nhiều nhóm nhỏ )



Hai là chuyện thời Hùng Vương dân ta ăn mặc ra sao?

Khởi đầu là một bài chê trách mấy cuốn tranh truyện thời Hùng Vương, sao lại vẽ dân VN đóng khố như vậy trong khi người Tàu thì quần áo đầy đủ.

Người ta lấy lý do đã có tài liệu nói hồi ấy dân mình dệt được vải rồi.

Nhưng nhiều người khác bảo nhỡ đúng là hồi ấy không có quần áo thì sao?

Nên vẽ ra sao?



Người tranh luận hăng hái toàn là dân nghiệp dư, các bạn đọc nhiệt tình. Còn không thấy nhà khoa học nào lên tiếng cả.



21-11

Một bài trong đợt kỷ niệm bức tường Berlin:

Ba Lan, Hungary, Litva xây dựng lại đất nước của họ từ bên trong, tạo lập một tầng lớp tinh hoa mới, tự trả giá cho các sai lầm của mình để đạt được thành công.

Chỉ một câu thôi mà cho tôi thấy cả một phương hướng chuyển đổi của các nươc Đông Âu. Ta chưa biết làm kiểu đó.



24-11

“Tại dải gaza có cả một thế hệ trẻ em lớn lên mà lối thoát duy nhất là shahid (Tử vì đạo)…” Báo TT&VH có bài của Trần Quang Vinh viết vậy.

Tâm trạng bất ổn, tuyệt vọng hết sức phổ biến. Một bác sĩ cho rằng “ đây là hoàn cảnh bình thường trong hoàn cảnh không bình thường”. Tôi đã phải lấy vào phần chiến tranh.



8-12

Kiểm toán nhà nước Việt Nam vừa phát hiện lương tháng của lãnh đạo Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) lên tới trên 78 triệu đồng (4.500 đôla Mỹ).Ông Lê Đăng Doanh nói trên BBC, về việc nhận lương này, nhân thể đưa ra một khái quát. Trong điều khiển học có một định luật là “Trong một hệ thống đóng kín, entropie - thước đo cho sự hỗn loạn - sẽ liên tục tăng lên.”



10-12

Nghe nói là ở một hội diễn thời trang, một cô gái VN mặc áo Tàu. Báo chí mang ra phê phán. Có người thắc mắc, thế xây cả khu Mỹ Đình chả khác gì Hàn quốc thì có đáng phê phán không?

Nghe chuyện nhập siêu – toàn nhập các thứ hàng không cần.Tôi có cảm tưởng nhiều người VN nay đang trở thành người nước ngoài ngay trên Tổ quốc mình.

Bây giờ mới thấy nói là nên hạn chế xây các cao ốc trong nội thành Hà Nội cũ. Có cả đề nghị của Thường trực Chính phủ cho đề tài này. Nhưng có phải là quá muộn?



11-12

Nhân chuyện lương ở SCIC, người ta đồn ầm lên chuyện lương ở nơi khác. Một cô phóng viên ở báo tỉnh Q.N., lương độ ba bốn triệu, quay sang làm thư ký cho một Tập đoàn công nghiệp, lương tăng lên thành 15 triệu.

Ồ cái này thì tôi biết rồi cứ càng những nghề ít phổ biến, những nghề mới lập ra do đó không ai biết làm thì lương càng cao.

Một điều chắc chắn hơn, lương của những ngành thuế, ngân hàng—ai kiểm soát được đâu.

Một cảm tưởng chung, người từ nghèo ra, lúc có tiền càng hoang phí. Một hệ thống lương cứng nhăc, nói chung lương quá rẻ, đến lúc cơi nới ra lại quá rộng rãi. Khái quát hơn, xã hội không có một mặt bằng giá trị thống nhất. Hôm qua thắt chặt, hôm nay nứt tung ra.



16-12

Để chuẩn bị cho kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, các phường được tăng cường tiền chi cho tuyên truyền. Ngày nào cũng thấy đọc tài liệu dân phải tham gia giao thông thế này đi lại thế kia. Tôi có cảm tưởng như là một thứ ấu học giáo khoa thư.



19-12

Bà Hằng từ Canada về gợi lại cho tôi thấy nếp sống người Hà Nội đầu thế kỷ XX. Lo kiếm tiền, học để kiếm tiền. Dầu khổ cũng vẫn cảm thấy có gì đó may mắn. Bà thường bảo nhờ di tản mà con cái được học đại học bên Mỹ. Trước ở SG đâu dám mơ.

Tuy coi đồng tiền quan trọng nhưng lại xa lạ với cái ý tưởng: làm bất cứ điều gì thấy cần để có tiền.

Sống tiết kiệm lắm, ăn uống còn thừa cái gì đều vét sạch và mang nấu cháo.

Tôi đã thấy từ lâu rằng sở dĩ người miền nam không bị chiến tranh làm hỏng vì còn ý thức tôn giáo. Người bắc không còn niềm tin đó nữa.



20-12

Báo chí kể người Việt sang Lào xem Seagames bộc lộ một cách sống rất thiếu văn hóa. Đến khách sạn thì tranh nhau chìa khóa. Hút thuốc vô tội vạ, mang cả thuốc lào vào phòng dù đã được nhắc nhở là cấm các loại này. Hay làm những trò kỳ quái ngoài phòng của mình, trong khuôn viên của khách sạn, như mặc đồ lót đi lại lung tung. Ra đường bất chấp luật lệ giao thông bấm còi inh ỏi. Nói chung để lại ấn tượng rất xấu.

Tôi trước kia chỉ tưởng bên Nhật bên Thái người ta sống trật tự, ra bên Lào cũng vậy, sinh hoạt nơi công cộng rất nghiêm chỉnh, chỉ trừ VN.

Đặc biệt, người mình mất đi cảm giác về sự thiêng liêng. Chùa bên Lào rất trang nghiêm con người vào đó thành kính. Người mình vào đó ăn mặc hở hang, lại nói to, cười đùa trêu chọc nhau, và mặc dù đã có lệnh cấm chụp ảnh vẫn cứ chụp ào ào.

Tôi nhớ trong cuốn sách của Lê Thanh có kể là người mình qua Lào đào cả gạch ở chùa mang bán. Bị một người Pháp khi kể lại chuyện này coi là cặn bã của nhân loại.



25-12

28-12

Trên trang X –Caphe, tôi đọc được một đoạn ghi khá thú vị

NHẬN XÉT CỦA MỘT NGƯỜI ĐỨC VỀ CÁCH NGHĨ CỦA DÂN VIỆT



Tương lai mọi cái sẽ tốt lên

Ngày 09 tháng 9 nam 2009

Một trong những đức tính tôi luôn có dịp nhận thấy ở người Việt Nam, đó là họ có một niềm tin đặc biệt tích cực vào tương lai. "Mười năm nữa, mọi thứ sẽ tốt hơn", bạn có thể nghe ví dụ như vậy. Hoặc thỉnh thoảng: "Năm năm nữa mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn" hay "Hai mươi năm nữa mọi thứ sẽ tốt hơn lên."


Những câu nói như vậy thường nổi lên, ví dụ như, khi người ta bàn luận về tình trạng giao thông. Hoặc về sự ô nhiễm môi trường. Hoặc về đói nghèo. "Hai mươi năm nữa, chúng tôi sẽ có một hệ thống giao thông cực tốt và có trật tự như ở châu Âu!", người tiếp chuyện với bạn sẽ nói như vậy chẳng hạn, và sau đó gương mặt anh ta ngời sáng lạc quan. Khi mà ngay trước đó, anh ta vẫn đang buồn rầu bực bội, cho rằng giao thông ở Hà Nội hỗn loạn và luôn luôn tắc đường. Nhưng chậm nhất là hai mươi năm, khi có đủ tiền, và kinh tế phát triển, tất cả đường phổ rộng rãi hơn, Hà Nội có tàu điện ngầm mới toanh và hiện đại, ai cũng đi xe ô tô, khi đó tất cả mọi thứ sẽ tốt hơn.


Điều này, một mặt, đó là một đức tính rất đáng ngưỡng mộ. Đặc biệt khi một so sánh với người Đức, là những người lúc nào cũng luôn tin rằng năm tới tất cả mọi thứ sẽ tồi tệ hơn. Cũng giống như, quả đúng là tất cả mọi thứ năm này đều tồi tệ hơn nhiều so với năm trước.


Tuy nhiên, đấy cũng là một đức tính có chút gì đó đáng lo ngại, bởi vì nó dẫn tới một tác động ngược, nghĩa là sẽ chẳng có ai cảm thấy phải cố gắng để làm cho quả thực mọi cái sẽ tốt hơn. Tôn trọng luật giao thông? Hạn chế xài túi nilon? Hạn chế việc xả rác? Để làm gì, khi mà hai mươi năm nữa đằng nào mọi thứ cũng đều tốt hơn. Khi mà tất cả chúng ta đều giàu có. Dĩ nhiên sẽ nảy sinh ra câu hỏi, ở đâu trong vòng hai mươi năm nữa bất chợt nảy sinh ra một thế hệ những con người có đạo đức và đi xe trên đường phố theo đúng luật quy định, nếu như NGAY TỪ BÂY GIỜ khi họ đang còn là trẻ nhỏ đã học được những điều ngược lại: Chỉ những ai vị phạm càng nhiều luật lệ họ mới có thể đến được nơi mình muốn đến.


Về mặt này những người Đức kỹ tính dĩ nhiên đã đi trước một bước: không có niềm tin sâu sắc, rằng việc vượt đèn đỏ là điều báo hiệu sự sụp đổ của phương Tây, và ngay ngày mai tất cả các thành phố có thể sẽ phải chết một cách đau khổ trước mối hiểm nguy từ những hạt bụi siêu nhỏ, tất nhiên sẽ không dễ dàng gì trong việc làm theo những quy tắc nghiêm ngặt tương ứng. Điểm nhấn mạnh ở đây đó là việc hiện thực hóa, bởi vì ở Việt nam thực ra đâu có thiếu các quy định và luật lệ. Chính thức mà nói, tất cả mọi thứ xảy ra trên đường phố ở đây gần như đều bị cấm, và theo như hiểu biết của tôi, luật môi trường của Việt Nam thuộc vào loại nghiêm khắc trên thế giới. Chỉ có điều chẳng hề có ai quan tâm đến.


Đồng thời sự lạc quan về tương lai của nhiều người Việt Nam cũng có thể giải thích được, nếu người ta nhớ rằng suốt trong 30 năm qua, trên thực tế, mỗi ngày mỗi một thịnh vượng hơn, và nhiều vấn đề tự nó đã biến mất. Các bước nhảy vọt mà đất nước này đã làm được kể từ cuối thập niên 80 đến nay, đối với người châu Âu có lẽ họ sẽ không tưởng tượng nổi.


Mặc dù vậy, tôi vẫn nghi ngờ không biết liệu Hà Nội trong vòng 20 năm nữa có thực sự trở thành một dạng Singapore của người Việt. Với những con đường, mà người ta có thể ăn uống bên cạnh đó, những con đường trên đó các phương tiện giao thông nhẹ nhàng và thông suốt lướt đi, và nơi mà cứ cách 50 mét lại có một trạm xe buýt tại đấy khách đi xe có thể trả tiền bằng thẻ chip. Mặt khác, bản thân người dân ở Singapore cũng đã nói, rằng trước kia tất cả mọi thứ cũng rất hỗn loạn, và giờ đây họ không thể biết chính xác liệu con gà có trước hay quả trứng có trước: Trước tiên là có sự giàu có, và chỉ sau đó mới là tử tế và kỷ luật? Hoặc sự giàu có có được là do trước đó đã có ít nhiều tử tế và kỷ luật?
Số đông người Việt Nam rõ ràng đã tin vào cái đầu tiên, còn người Đức có lẽ sẽ ủng hộ nhiệt liệt cái thứ hai.
Hai mươi năm sau tôi sẽ quay lại đây lần nữa, và sẵn sàng đánh cược về thời gian này.


Đọc những đoạn phân tích trên, có cảm tưởng người Việt nguy quá. Cái cách mà ta đến với thế giới có khi lại chỉ đi vào ngõ cụt. Vì ta hiểu sai thế giới này. Và ta hiểu sai về mình.



29-12

TT&VH có bài nói về một rừng biển cấm ở Hồ Gươm—62 biển. Trong số này, biển nhỏ cỡ 30.25cm 46 chiếc. Lại có bẩy bảng cỡ 1.1,5m, với nội dung như sau.



NỘI QUY

Khu vực Hồ Hoàn Kiếm



1. Không cởi trần, mặc quần áo lót tập thể dục trong thời gian từ 7h00 đến 21h00.

2. Không dẫm lên thảm cỏ, không ngắt hoa, bẻ cành, hái quả,không leo trèo,vẽ khắc lên tượng đài và các công trình kiến trúc.

3. Không cãi chửi, đánh nhau, say rượu bia... có những hành vi thiếu văn hóa, gây mất trật tự công cộng.

4. Không nằm nghỉ trên ghế đá vườn hoa.

5. Không viết, dán, treo nội dung quảng cáo, rao vặt trên cây, ghế đá, trên tường, trạm điện thọai công cộng...(nếu không được phép của cơ quan có thẩm quyền).

6. Cấm đi, để xe đạp, xe máy, vứt rác, phế thải, phóng uế đại tiểu tiện, đá bóng, đánh cầu lông, thả diều, chơi cờ tướng.

7. Cấm tắm giặt, rửa ở các đài phun nước, không phơi quần áo, chăn màn lên cây, ghế đá, để các vật dụng làm mất mĩ quan ở khu vực Hồ Hoàn Kiếm.

8. Cấm câu cá, chăn thả gia súc, vật nuôi và săn bắt chim thú.

9. Cấm bán hàng rong, kinh doanh dịch vụ, đeo bám khách du lịch để ép mua, ép bán, xin ăn, xin tiền




Tôi nghĩ linh tinh:

-- các biển cấm thật chẳng khác gì loa phường, nó lải nhải thế vì nó vẫn cần.

-- hóa ra người mình luôn biết thế nào là phải, nhưng cái phải đó nó lại không đủ sức chi phối người ta. Người ta cứ làm bậy thoải mái





Một câu của Phan Bội Châu:

Hương nguyện là giặc của đạo đức. Kẻ giả đạo đức bề ngoài cung kính cẩn nghiêm mà kỳ thực sẵn lòng hòa đồng với lưu tục a dua với kẻ hương nhân bỉ tiện.

Là thầy đồ quê biển hiệp học đạo thánh hiền chỉ làm cho hẹp đạo, uốn nghĩa lý của thánh hiền cho vừa cái tầm nhân cách nhỏ nhen của mình.



2010



2-1

2009 có vụ dân bẻ hoa anh đào, sau đó làm lại, quanh cành anh đào người bảo vệ ken đầy đến nỗi không ai muốn xem nữa.

Đêm 31-12-09 chờ đón 1-1-10 có vụ Hội hoa chen chúc. Một số người có vé không vào được. Phải hoãn cho dân vào hôm khai mạc. Nhưng đến ngày chấm dứt Hội thì lại xảy ra cảnh cướp hoa đến nỗi người nước ngoài phải kêu lên “ điên khùng “( crazy)

Đọc tin trên có lúc tôi thấy nhớ những những đám đông Hà Nội hồi trước sau 1960. Lúc ấy, người ta lòng đầy thành kính. Ngày nay, những đám đông đó không còn nữa.



8-1

Nguyễn Quang Thân đặt v/đ từ nay đừng tổ chức những Hội hoa làm gì, tết nhất quay về cho dân đi lòng vòng quanh Bờ Hồ như ngày xưa cho xong.

Hóa ra lại cái tâm lý hoài cổ.

Nhảm nhất là một bài trên TT&VH, ký Đông Kinh, nói rằng nên thông cảm với những người cướp hoa. Vì họ yêu hoa quá. Yêu là một cảm giác lành mạnh. Nên cướp cũng chẳng sao. Cũng giống như ở quê hương tác giả (ĐK), các cụ già đi ăn cỗ thường chỉ ăn một chút rồi lấy phần về cho cháu. Một cảm giác nhân bản ẩn kín đằng sau cái vẻ ngoài nhếch nhác. Tóm lại là cướp hoa nên được tha thứ!

Chợt nhớ câu chuyện về Mạc Đĩnh Chi sang Tàu thấy bức tranh treo có con chim sẻ đậu trên cành trúc, vẽ giống quá tưởng thật, chạy ra vồ con chim sẻ đó. Chữa thẹn, vò xé bức tranh và giải thích: Cây trúc tượng trưng cho người quân tử, chim sẻ tượng trưng cho kẻ tiểu nhân. Không thể để chim sẻ đậu trên cành trúc, nên tôi xé đi.



9-1

Trả lời phỏng vấn về v/đ bôi bẩn trên tường, chợt nghĩ, toàn bộ xã hội VN là đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nông thôn lên đô thị. Việc gì dựa vào đây cũng giải thích được hết. Ví dụ chuyện loa phường. Thì cũng là do trước kia ở nông thôn có được cái loa đã thấy văn minh lắm. Nay không thích hợp.

Sở dĩ có chuyện bôi bẩn quảng cáo trên tường vì người ta không có chỗ để thông tin. Đời sống dân sự cần những thiết chế thông tin mà một ít tối thiểu ở ta cũng không có.



10-1

VNN đưa tin về các làng nghề : “80% cơ sở dùng công nghệ những năm 80. Trong 2.000 làng nghề có tới 1.400 làng ô nhiễm. 20 năm tăng trưởng kinh tế liên tục, cứ tăng 1% GDP mà không có chiến lược thì sẽ mất đi 3%", Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên từng nói trước Quốc hội.

Có mấy bài viết về tăng trưởng kinh tế nêu rõ, kiểu tăng trưởng của ta là càng tăng trưởng càng lạm phát ( vì muốn tăng nhanh thì phải nhập kỹ thuật mới. Mà đây chỉ là một lý do, chứ trong thực tế còn nhiều lý do khác)



Nhưng người ta vẫn chỉ duy nhất nhớ tới tăng trưởng thôi, tăng trưởng với bất cứ giá nào. Lại nhớ chuyện hồi chiến tranh. Người ta đưa ra hình ảnh, thế ra các anh vì muốn giải phóng con chim mà sẵn sàng đốt cả cái lồng ư?

Còn ngày nay, tôi dự đoán hẳn có những cuộc đối thoại

” Đồ dân ngu! Ta sẽ làm cho các người giàu có. Không sướng à.”

”Ư ư … Thưa ông, chúng tôi không thành người nữa”

“ Vớ vẩn ! Vì sự giàu có của các anh, tôi có quyền buộc các anh khổ sở, cay đắng.”



2-2-10

Xưa dân mình ở ngay trong làng chứ có ai thích ở ven đê. Đoạn đê ven sông Hồng gần nhà tôi cũng bị xem thường vậy, trước kia nhà cửa lưa thưa lắm. Hồi chiến tranh có thêm một ít túp lều ở tạm của những công nhân bến phà. Một thứ phố không ra phố ngõ không ra ngõ. Thế nhưng bây giờ nó lại trở thành một thứ mặt tiền trông ngay lên đê. Và người ta cứ đi tạm bằng một thứ đường xá gập ghềnh khúc khủyu. Từ cuối tháng chạp 2009 thì có kế hoạch làm lại. Một đoạn đường độ hai cây số mà làm cả tháng chưa xong. Đường cứ ngổn ngang như đường xá thời chiến.



Xe đạp tôi có cái chân chống, chân chống cần một cái lò so. Thời buổi này xe cải tiến nhiều riêng cái lò so chân chống vẫn cũ, nên không làm được cái việc được giao, không giữ nổi chân chống. Phải thay. Nhưng đi hỏi thì người chữa xe bảo tôi có thay cũng vẫn thế thôi, tòan lò xo thép non chóng ải.



2-2-2010

Bài của Lê Đăng Doanh trên SGTT số Tết Canh Dần

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (2006), 76% tổng tài sản quốc gia của nước ta là tài nguyên (đất, rừng, gỗ...), 20% là tài sản vật chất đã xây dựng được (cầu đường, bến cảng...) chỉ có gần 7% tài sản là tri thức, con người được đào tạo, thể chế... trong khi ở các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD có thu nhập trên 10.000 đôla Mỹ/ người, tỷ lệ tài nguyên chỉ là 2%, tài sản 17% và tri thức là 80%. Riêng ở Nhật Bản, tài nguyên chiếm chỉ hơn 0% một chút mà thôi.

Từ năm 2006 đến nay, Việt Nam đã tụt 11 bậc trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu.



5-2-10

Tết này một tờ báo nhờ tôi viết về chuyện tiền bạc.

Vợ tôi bảo, cả kiếm tiền lẫn tiêu tiền anh đều không biết , viết sao được

Tôi nghĩ mình biết một cái khác : trước kia thì xã hội là tập hợp của người lính – lính với nghĩa làm theo lệnh trên. Còn ngày nay thì cả xã hội là tập hợp của ngững người đi kiếm tiền—chả ai có nghề gì cả. Nhưng tất cả đều lao lên phía trước.



10-2

Tết này, nhiều gia đình có người ở nước ngoài về. Người nào cũng nói làm ăn khó khăn. Thư em tôi kể là cửa hàng của Thư có khi cả buổi chiều không có ai vào. Chả là lâu nay bọn Thư cũng chỉ có thứ hàng tầm tầm bán cho đám dân Đức nghèo, cho người già. Nay thành phố của Thư dân bỏ đi nhiều.

Chú Cường em vợ tôi thì kể người ta khinh người Việt lắm, đến nỗi không dám để vợ con ở đấy sợ họ trông nhếch nhác, họ không vào mua nữa.



13-2

Thấy xuất hiện nhiều ý kiến về Cải cách cơ cấu kinh tế. Nhưng cải cách là gì. Đây là câu trả lời của Vũ Minh Khương trên TVN 13-2

Cải cách cơ cấu là nỗ lực tổng hợp của toàn xã hội, trong đó chính phủ đóng vai trò trung tâm, nhằm nâng cao mạnh mẽ năng suất lao động (NSLĐ) và hiệu quả sử dụng nguồn lực, tăng thêm việc làm, kiến tạo nền tảng lâu dài và thuận lợi hơn cho công cuộc phát triển.

Tâm điểm của cải cách cơ cấu là tăng năng suất, được đo bằng giá trị gia tăng tạo ra trên mỗi đơn vị nguồn lực (bao gồm lao động, vốn, và đất đai) ở mọi ngành nghề và cấp độ, từ cá nhân đến doanh nghiệp, từ địa phương đến toàn bộ nền kinh tế.

Tôi không thể hiểu sao cải cách lại là nỗ lực tổng hợp nhằm nâng cao năng suất lao động , hoặc tâm điểm là tăng năng suất. Tôi tưởng tâm điểm của cải cách phải là tháo cơ cấu cũ ra lắp nó vào theo cách khác chứ. Còn năng suất là chuyện hiệu quả của cải cách, tức một viẹc khác



15-2

Có hai tin ngồ ngộ trong ngày Tết.

Một là ở Nha Trang, dân vượt cả cổng chính mang xe máy vào quần nát nghĩa trang, trong không khí người chen chúc đi viếng mộ.

Hai là Văn Miếu ngày mồng hai thành nơi du xuân. Người ta không đến các công viên để vui chơi nữa. Người ta chỉ đi cầu may. Theo ghi nhận của phóng viên VnExpress.net, trong số những chữ được ông đồ cất bút viết, chữ Đỗ Đạt được giới trẻ đến xin dịp này nhiều nhất. Tất cả đều hy vọng sờ được đầu rùa, xin được chữ đầu năm và thành kính trước trước danh sư Chu Văn An sẽ gặp được nhiều điều "hên".



Nên nhớ là trong lúc này, đám trí thức cỡ bự như ông Hoàng Ngọc Hiến đua nhau bàn về minh triết. Ông Chu Hảo thì gợi ý phải có những bước nhảy vọt, những đột biến.

Tôi nhớ không khác gì không khí bói tóan hồi 1974, vụ ông Chưởng Cần.

Thỉnh thoảng giữa những bài cầu may cũng có những ý tưởng lạ. Như trong một bài huyên thiên về triết lý cổ, tôi thấy người ta trưng lên một nhận xét

Không có THỰC mà muốn THÀNH bằng mọi giá thì họa khôn lường

Còn đây câu của Balzac thường được HNH trích dẫn coi như minh triết sáng láng

"Người mà không có gì là kẻ không ra gì".



Tôi thiên về những phát biểu duy lý kiểu như

Ngô Bảo Châu:“Toán học là ngôn ngữ cho phép ta mô tả thiên nhiên. Người ta nhiều khi lầm tưởng mà than thở rằng mắt mình không tinh, tai mình không thính mà quên cái mấu chốt là ngôn ngữ của mình què quặt”.



22-2

Một ý nghĩ đã manh nha từ nhiều năm đến nay thấy rõ hơn: với người Việt Tết là dịp để buông thả. Lúc nào chúng ta cũng mệt mỏi cũng muốn làm bậy, muốn phá phách.

VN Express Đánh nhau ở chợ Chuộng Đông Hoàng Đông Sơn Thanh Hóa Hầu hết người dân ở đây cho biết, từ xưa, tham gia phiên chợ thanh niên đã đánh nhau rồi, không đánh nhau thì không có may. Nếu đám đánh nhau chạy vào làng nào thì năm đó làng ấy sẽ làm ăn phát đạt. Càng đánh nhau to thì may mắn càng lớn.



24-2

Từ nước ngoài, Khánh Ly nói về với bè bạn, trong đó có cái ý: trẻ ở hải ngoại ở trường thì vào thư viện, còn ở trong nước thì ra tiệm karaoke.



12-3

Trong hai tháng đầu năm số diện tích rừng bị cháy bằng cả năm 2009.

Bài trên TT 11-3 có tên: Lo tăng giá buồn lễ hội

Riêng đoạn tả lễ hội kể mọi người đua nhau đi lễ bái, vào trong đền chùa rồi thì hôi hả tranh cướp những thứ được coi là thiêng liêng. Phải có tuyến riêng ưu tiên cho quan chức. Mà rồi chỉ riêng quan chức cũng đông quá và cũng tranh nhau. Các nhà xã hội học hoặc sử học (đây là các ông Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Quang Ngọc ) bảo rằng dân trí đang ảnh hưởng quan trí. Còn các nhà dân tộc học nói rằng tôn giáo ở ta mất đi sự thiêng liêng và biến thành tà thuật, đồng thời thành hàng hóa



14-3

Sau Tết lại chuyện trẻ em bỏ học. Một tờ báo nói rõ bọn trẻ bảo đi học chả được cái gì. Thà đi mót củi đẩy hàng thuê còn nghĩ có lúc có cái điện thoại di động, cái xe máy.

(đọc thêm : Cho con bỏ học vì thấy học không để làm gì !)



15-3

Một đám cháy bùng lên ở một chung cư. Tôi nghĩ nó là nằm trong cái sự hỗn loạn lung tung của nước mình. Tất cả rối tung cả lên. Vì đây là lỗi hệ thống.

Bắt đầu soát xét lại. Hóa ra trên thế giới này, nhà cao tầng thì ống rác phải làm bằng chất chống cháy. Ở VN thì người ta tha cho nhau từ lâu rồi



17-3

Bài về bạo lực trong xã hội Việt của tôi lẽ ra phải thêm các chi tiết: truyện Chém treo ngành của Nguyễn Tuân và các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.



23-3

Cầu Thăng Long chữa xong, phát hiện ra nhiều vết nứt có chỗ thọc được cả tay vào. Hoặc ở Nam Bộ có nơi làm những giếng ngầm chi phí hàng tỉ, nay mới phát hiện ra là ở dưới không có mạch và từ khi khành thành đến giờ-- đã mấy năm nay, chưa bao giờ có nước.

Tôi hay nói con người suy thóai ở khía cạnh họ hư hỏng dối trá càn rỡ. Tôi muốn nói thêm họ mất đi cái phần rất cơ bản: họ không chịu làm việc. Không có những người kỹ càng trong công việc và thiết tha với một việc nào đó, coi đấy là lẽ sống của mình. Người nào cũng nhấp nhổm ngóng xem có ai được cái gì hơn mình không, chỉ sợ không hư hỏng thì thiệt



Báo Tuổi trẻ cười đọc hộ rằng người ta viết ở đâu đó, có tới 30% cán bộ nhà nước toàn ngồi chơi xơi nước, không có việc làm cụ thể

Còn một quan chức của Viện nghiên cứu kinh tế thì bảo rằng nước ta có tới 63 nền kinh tế khác nhau, trong đó nền kinh tế nào cũng tự cho mình là nhất

Một tin trên Nông thôn ngày nay: hơn một tỉ USD đã được người Việt gần đây chi để mua Iphone.



10-4

Trả lời phỏng vấn SGTT thứ sáu 9-4 trên TVThủy có một câu được báo trích ra in đậm: “Đất nước ta có không biết cơ man những người có tấm lòng ái quốc, hãy vì hậu thế mà đối xử tử tế với họ, cho dù họ ái quốc theo cái cách của họ “ Tôi thấy ông T. hiểu đời sống hơi trừu tượng, sự thực là:



1/ Lòng yêu nước mỗi thời mỗi khác. Đất nước đã chuyển giai đoạn và mỗi giai đoạn có chuẩn riêng. Có những người hôm qua là người yêu nước. Tổ quốc nhân dân phải biết ơn họ. Song để họ tiếp tục hành động theo cái logich của chiến tranh thì không đươc. Nhân danh mình đã là người yêu nước hôm qua rồi muốn làm gì thì làm, làm bừa làm bãi có hại cho đất nước thì tức là có tội .



2/ Vì vậy không nên kêu goi “ đối xử tử tế với họ ” một cách chung chung. Nếu muốn đền đáp công ơn của họ, xã hội nên để cho họ nghỉ ngơi đứng riêng ra chỉ ngồi đó mà chữa bệnh và “ trở lại làm người bình thường” thôi.

Nhưng xã hội lấy sức đâu để làm thế bây giờ?



Phan Châu Trinh : “Không nên trông người ngoài, trông người ngoài là ngu. Không nên bạo động, bạo động thì chết. Tôi chỉ có một lời để nói với đồng bào, không gì bằng học.” (bài diễn thuyết ‘Hiện trạng vấn đề’ tại trường Đông Kinh Nghĩa thục 1907).



16-4

Cuộc đời có cái vẻ gì đó như là đồ giả. Cái giả lại đang hiện ra y như thật. Từ trên mạng tôi đọc được một thông tin như thế này :

Tại sao phố cổ Hà Nội bị từ chối công nhận là di sản văn hóa thế giới ? 

15h Paris tức khoảng 22h Hà Nội ngày 12-4-2010,
tại Paris, Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc (Unesco) đã chính thức từ chối công nhận Phố cổ Hà Nội là di sản văn hóa thế giới. Trong thông cáo chính thức, Tổng Giám đốc UNESCO, bà Irina Bokova cho biết: "Unesco đã có những điều tra độc lập và không tìm thấy bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ Hà Nội có những di sản như hồ sơ mà họ đã đệ trình". Quyết định của Unesco đã giáng mạnh vào tham vọng của Hà Nội khi thành phố này chuẩn bị mừng đại lễ 1000 năm tuổi với sự tham gia của chính Unesco. : Chỉ riêng trong năm 2009, Unesco đã công nhận không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh và Ca trù là di sản văn hóa phi vật thể. Unesco cũng đã đồng ý tham gia đại lễ hội nhân sự kiện 1000 năm Thăng Long, tuy nhiên, những cuộc điều tra và khảo sát và độc lập của Unesco cho thấy riêng đối với Khu phố cổ Hà Nội, không có bất cứ bằng chứng gì chứng tỏ khu phố này đã từng tồn tại hàng trăm năm nay. Bà Bokova trả lời phỏng vấn PV TTXVH tại Paris.
PV: Nhưng thưa bà, những khu phố cổ của Hà Nội hiện vẫn đang tồn tại?!
Bà Bokova: Với tư cách đứng đầu cơ quan Unesco, chính tôi đã trực tiếp tới Hà Nội. Hà Nội chỉ còn lại những nhà vệ sinh thật cổ, và cũng "thật khổ". Kiến trúc những ngôi nhà tại các tuyến phố Hàng Than, Hàng Lược, Hàng Giấy, Hàng Đậu...có vẻ là kiến trúc hộp diêm, nhưng thực chất nó đã được làm mới. Không có một công trình cổ nào lại có màu hồng hoặc màu xanh.


PV: Thưa bà, nhân dịp đại lễ 1000 năm, Hà Nội đang tu bổ lại các di tích cổ để chúng sạch sẽ và đẹp hơn mà thôi
Bà Bokova: Tôi hiểu những điều các bạn đang làm, nhưng điều đó thực chất lại đang giết chết yếu tố thời gian của di tích. Trên thế giới hiện có 2 cách bảo tồn: Thứ nhất, người ta giữ nguyên trạng di tích, cố gắng tạo cho chúng một môi trường tốt nhất chứ không động chạm tới di tích. Thứ hai, là cách mà các bạn đang làm, tu bổ, thay thế gần như là một sự làm mới. Thật khó có thể chấp nhận một ngôi chùa với toàn gạch men được giới thiệu đã 400-500 năm tuổi, một ngôi nhà trăm tuổi có màu vàng nhạt và mới kính coong; Hoặc một tháp nước có màu xanh da trời.
PV: Nhưng không trùng tu thì di tích sẽ biến thành phế tích, không sơn sửa lại thì di tích trông sẽ rất bẩn thỉu.
Bà Bokova: Nhưng nếu các bạn, gọi theo cách của người Việt là "vôi ve" khu phố cổ, thì sẽ phải đóng hộp quần tây-cà vạt cho vua Lý Thái Tổ?
PV: Thế còn Tháp rùa, thưa bà, nom nó vẫn cổ kính đấy chứ?
Bà Bokova: Vâng. Đã có nhiều ý kiến nói Tháp rùa thực chất chỉ là một ngôi mộ. Unesco coi trọng tất cả các di tích cổ, chứ không phân biệt tính chất của di tích. Ngay tại quê hương Bulgari của tôi 2 di tích được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới đều là các công trình lăng mộ. Quần thể các công trình tôn giáo được đục trong đá tại làng Ivanovo và Mộ người Thrace ở Kazanlak. Riêng đối với Mộ người Thrace, tôi có thể tự hào nói rằng trong đó vẫn còn giữ được những bức tranh cổ được coi là những tuyệt tác nghệ thuật của Bulgari từ thời Hy Lạp cổ và được bảo quản tốt đến ngày nay. Chúng tôi hoàn toàn không hề vôi ve hay trùng tu kiểu làm mới như các bạn mà vẫn có thể giữ gìn được. Xin lưu ý đây là ngôi mộ được xây từ thế kỷ thứ 4 trước công nguyên. Còn Tháp rùa của các bạn đã được "vôi ve" từ cách đây 20 năm, cùng đợt với một ngôi chùa khác là Trấn Quốc.
PV: Xin nhắc lại câu hỏi, thưa bà, Tháp rùa vẫn giữ được vẻ cổ kính đấy thôi?
Bà Bokova: Tôi đã đến chiêm ngưỡng Tháp rùa và trực tiếp sờ tay vào những bức tường. Tôi xin nói thật, có vẻ nó đã được sơn bằng loại sơn không đạt chất lượng nên chỉ 20 năm nó đã có vẻ... cổ kính. Nhiều người trong Ủy ban điều tra độc lập cho rằng Tháp rùa chỉ có tuổi thọ là 20 và vẻ cổ kính là ngẫu nhiên khi chất lượng vôi ve thấp và được làm cẩu thả một cách tình cờ. Khi đến Hà Nội, tôi được Ủy ban Unesco Việt Nam giới thiệu những tấm ảnh Tháp rùa được các viên chức người Pháp chụp hồi đầu thế kỷ nhưng chúng tôi không tìm thấy sự liên quan giữa ngôi tháp trong ảnh và ngôi tháp mới hiện đang tồn tại. Hơn nữa, về mặt giá trị kiến trúc, trong sách Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội, từ năm 1971, tác giả Hoàng Đạo Thúy cũng đã đánh giá: "Bang Kim biếu Tây cái tháp Rùa. Cái tháp này nhìn mãi cũng quen mắt, nhưng dưới thì cửa lối gô-tích, trên thì nóc vụn vặt, kiến trúc không ra lối gì". Còn chùa Trấn Quốc. Nói thật tôi thấy cách thức trùng tu kiểu xây mới và việc bố trí những bộ bàn ghế gỗ trong hiên nom ngôi chùa này giống với một quán cà phê hơn.
PV: Thưa bà, không lẽ phố cổ không còn chút ấn tượng nào đối với bà? Không lẽ hơn 50 tỷ đồng bỏ ra để làm mới di tích cho du khách lại khiến những người nước ngoài không thích?
Bà Bokova: Câu trả lời thứ hai có thể nói được ngay: Không ai thích ở những ngôi nhà mới sáng choang và toàn mùi sơn nhưng lại rúm ró chật hẹp như thế cả. Người ta sẽ chỉ ấn tượng khi chiêm ngưỡng và hít thở sự cổ kính của di tích. Còn ấn tượng của tôi thì lại nằm ở sự ngạc nhiên với cách sống, thích nghi và đầy sáng tạo của cư dân phố cổ. Thật thích thú khi đi trên phố Hàng Bạc chúng tôi bất ngờ bắt gặp một nhà vệ sinh trên ban công tầng hai. Nếu các bạn gìn giữ được những di tích này, hy vọng trong tương lai, Unesco sẽ xem xét lại việc công nhận cho Hà Nội.


Đọc mà cứ như bắt được của. Có thế chứ, tình hình VN thế nào hóa ra Tây họ biết cả.

Đến mấy hôm sau mới ngã ngửa người ra, ai đó đã bịa ra tài liệu này, chứ HN có làm đơn đề nghị công nhận là thành phố cổ đâu… Chỉ có điều người bịa giỏi quá thạo tình hình quá , bịa mà như thật.



20-4

Báo SG tiếp thị mấy lần đưa tin có dính tới chữ ảo . Xuất khẩu ảo. Ta có xuất gì mấy đâu, chỉ toàn gia công cho nước ngoài. Thất nghiệp ảo, nhiều người thợ bỏ việc vì lương thấp quá. Trong khi đó, các xí nghiệp lại luôn có nhu cầu kén thợ.

Lại còn có tin người chửa giả nữa cơ mà.

Từ chỗ chỉ có khoảng 100 trường đại học nay có tin có tới 300- 400 trường gì đó. Mà chất lượng thì thấp đến mức với nhiều trường, người ta đang đặt v/đ giải tán.

Tôi nghĩ đến câu chuyện trong Trạng Quỳnh: Thi với sứ Tầu. Cần đánh một tiếng trống vẽ ngay ra một con vật ư? Trạng chấm đầu ngón tay vẽ được cả chục con một lúc.



24-4

Một chủ đề chung: sự phát triển chỉ còn hiện ra ở số lượng. Có phải là giống như ung thư chăng? Chủ đề này thấy ở mọi khu vực .

Một cách nói chung về văn hóa VN : Kiến trúc VN chỉ là phiên bản nhợt nhạt của kiến trúc thế giới

Trên TT&VH có bài ghi lại những hình ảnh quảng cáo mà giới quảng cáo VN chép của nước ngoài. Phim truyền hình thì có loại Việt hóa chuyện Tây thành chuyện ta.

Một chủ đề nhất định phải viết: lúc muốn hội nhập thì ta đã không thể hội nhập



25-4

Ở một làng Hải Dương dân đi rước nước. Vì nước đục quá không ăn được và không biết làm sao có nước trong. Các cụ già ăn mặc xanh xanh đỏ đỏ như trong đám hội ngày xưa. Đám rước vẫn có đủ nghi thức của một cuộc diễu hành hiện đại, nhưng con người thì yếu đuối quá cổ lỗ quá.

Bên cạnh nhu cầu dông dài hưởng thụ thì trong sự quay cuồng vì lễ hội hiện nay, cộng đồng đang trình ra bộ mặt lúng túng của mình. Không ai biết chúng ta sẽ đi đến đâu và ai sẽ giải cứu cho chúng ta hết. Còn tự tin ư, đang là một của hiếm, cái sự tự tin trí tuệ. Chỉ còn sự tự tin càn rỡ là thừa thãi.



29-4

Một lời tâm sự của Ch.Fourniau, do Cao Việt Dũng trích trong blog Nhị Linh

"Trong suốt 10 năm cuối của những ngày tôi lưu lại Việt Nam đã có lúc tôi lo lắng về sự thành công của cái man rợ đối với nền văn minh của đất nước này khi chứng kiến những cái mà thị trường đã du nhập vào đây, thế nhưng, tại sao dân tộc Việt Nam đã thành công trong việc giữ gìn bản sắc của mình trải qua gần như cả một thế kỷ thuộc địa, chẳng lẽ lại có thể bất lực trong việc làm chủ những mối quan hệ với bên ngoài mà chính nó mong muốn?"

Trong clip một giờ sử ở phổ thông. Cô giáo lên bổng xuống trầm thánh thót. Còn học sinh thì cười ồ cả lên. Tôi dự đoán : trong tiềm thức các em-- một cách nhanh nhạy kỳ lạ-- thấy xảy ra một quá trình đối chiếu giữa điều cô giáo nói và quá trình xẩy ra hàng ngày. Và tiếng cười cất lên tự nhiên như một sự từ chối.

Tôi không muốn chép lại đây những câu văn buồn cười của các em. Liệu tôi có rơi vào ngụy biện không nhưng có vẻ như Freud đã chi phối tôi khi cảm thấy vẫn có sự giống nhau giữa những điều trẻ viết trong các bài sử để nộp thầy cô giáo ấy và những điều chúng ta vẫn nói trên đài trên báo, cả hai đều không chắc đã là sự thật như nó vốn vậy. Cái nọ đẻ ra cái kia.



1-5

Dẫn từ Đất Việt 30-4

Mặc những lời mời gọi tha thiết đến thăm Hà Nội - thành phố nghìn năm tuổi, lượng khách du lịch đến thành phố này trong quý 1 vừa qua vẫn giảm 7,2% trong khi cả nước tăng 30,6%.

Sunday, August 15, 2010

Cạn nghĩ,ngắn hơi,dễ thỏa mãn

Không chỉ tinh tế khi tả thức ăn mà trong Hà Nội băm sáu phố phường (in trên Ngày nay từ 1940 ), Thạch Lam còn khéo ghi nhận cái thói quen dễ dãi cẩu thả của người mình trong cách làm thức ăn. Như trong câu chuyện về mấy bát mằn thắn.

Trong khi bát mì của mấy chú khách (tức đám Hoa kiều ) đầy đặn thì người mình chỉ giỏi giả lễ bà chúa mường. Bát mằn thắn của các ông chủ người Việt có đủ cả rau thơm, xá xíu, đôi khi mấy miếng dồi và một phần chia tám quả trứng vịt, song mằn thắn bột thì thô, nhân là một tí thịt bạc nhạc, nước rất nhiều nhưng nhạt.

Cho đến những năm cuối thế kỷ XX đầu XXI này nhiều người đi nước ngoài còn chứng kiến kiểu làm ăn tương tự. Như ở Paris , một nhà báo kể với tôi là chả có cửa hàng ăn nào của người Việt đậu được lâu. Lúc mới khai trương cũng rôm rả. Nhưng chỉ một hai năm là chất lượng kém hẳn đi và người ăn bỏ hết sang các hiệu khác.

Người ta bắt gặp ở đây một quan niệm sống tầm thường dễ dãi, không bao giờ duy trì được sự liên tục có trước có sau tức không đạt tới một trình độ chuyên nghiệp ổn định.

Một thói xấu khác của các nhà hàng buôn bán người mình được Thạch Lam ghi nhận là thói dễ thỏa mãn. Ông lấy ví dụ như mấy hiệu kẹo lạc kẹo vừng Cự Hương, Ngọc Anh. Lúc đầu còn chịu khó làm thật ngon để chiều khách, sau ngủ yên trên danh vọng. Hình như dân mình động giàu là ra mặt vênh váo và bắt đầu làm ăn chểnh mảng - tác giả Gió đầu mùa khái quát. Và ông hồn nhiên tự hỏi “Ồ, sao sự cố gắng ở nước này không được lâu bền nhỉ ! “.

Người xưa có câu “Nhân bần trí đoản”, với nghĩa người nghèo hèn,kẻ hiểu biết nông cạn thì không còn đáng để ai đếm xỉa tới nữa.

Không đâu thấy rõ sự ngắn hơi và dễ thỏa mãn như trong hoạt động của người làm nghệ thuật ở Việt Nam. Làng tranh Đông Hồ quê gốc tôi có nhiều nghệ nhân có tác phẩm để đời. Nhưng tên tuổi tác giả những bức tranh đó thì không ai biết. Đại khái đó là những ông thợ tài hoa nhưng cẩu thả, lúc vợ ốm con đau hoặc thua bạc cần tiền thì vẽ vội mấy bức mang bán cho các nhà giàu trong làng, và không có ý niệm gì về bản quyền trên tranh. Cũng giống như các cửa hàng kẹo bánh của Thach Lam “không biết rằng hàng của mình ngon hơn hàng khác “, các nghệ nhân đó cũng không thể nghĩ rằng lẽ ra tên tuổi mình có thể còn mãi với lịch sử mỹ thuật. Chính họ tước đi khả năng đó ở họ.

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa thời cổ văn xuôi Trung quốc chỉ có biền văn, chưa có tự sự. Tự sự Trung quốc là học được từ Ấn Độ qua du nhập sách Phật. Nhưng khi đã nắm được rồi thì người Trung Hoa đưa nghệ thuật này lên đến đỉnh điểm. Những bộ tiểu thuyết như Hồng lâu mộng, Kim bình mai có độ dài và trình độ kết cấu không thua kém gì những thiên tự sự đồ sộ nhất của phương Tây.

Trong khi đó các tác phẩm tự sự của người Việt chỉ theo dõi con người trong những khoảng thời gian ngắn. Không tìm đâu ra loại tác phẩm có khả năng bao quát cuộc sống nhân vật trong thời gian dài,dựng lại lịch sử cả mấy thế hệ như truyện Tàu. Các cuốn tiểu thuyết hiện đại thường kém về kết cấu toàn cục. Cố lắm chỉ được vài chương đầu. Càng về cuối càng hỏng.

Manh mún nhỏ lẻ không chỉ là cách làm ruộng đi buôn mà cũng là cách người Việt làm nghệ thuật. Chúng ta chỉ có những tác phẩm nhỏ nhỏ xinh xinh, chùa Một Cột chẳng hạn chỉ tồn tại như một ý niệm hơn là một công trình thực tế.

Nhà phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng có lần bảo với tôi : Tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay của chùa Bút Tháp đẹp thật, nhưng lưng tượng thì chỉ được làm dối dá cốt cho xong chuyện.

Trong truyện ngắn Đất xóm chùa( in trên Văn Nghệ số 42 năm 1993), nhà văn Đoàn Lê để cho một nhân vật phát biểu tạt ngang : “Khốn nạn, cái vạt đất tí hin bị bỏ quên sau mấy lũy tre, mơ ước hào hoa nhất chỉ là nồi cơm Thạch Sanh cả làng ăn không hết, chuyện tinh tướng bốc giời nhất cũng chỉ chuyện củ khoai to bằng cái đình …..Cứ ra cái điều !”

TT&VH 10-7-07

Wednesday, August 11, 2010

Ghi chép hàng ngày (9)

28-7
BỆNH VÔ CẢM NHƯ MỘT SẢN PHẨM CỦA CHIẾN TRANH
 Trong khi vây thành Đông Quan, theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Lê Lợi không quên đặt pháp luật để trị quân dân.
Mười điều kỷ luật được đặt ra để răn dạy cho tướng sĩ. Ngoài những điều như phải tiến thoái theo hiệu lệnh, giữ vững hàng ngũ, có thêm ba điều cấm sau đây.


Điều 2; ( CẤM) Không có việc gì mà đặt chuyện ra để làm cho mọi người sợ hãi
Điều 8 ( CẤM) Tha binh đinh ( trai tráng bị động viên đi lính – VTN ) về để lấy tiền ; sổ sách mập mờ.
Điều 9 ( CẤM) Theo bụng yêu ghét của mình mà làm lòa mất công quả của người khác
( sđd, bản của nhà Tân Việt, 1951, tr 218)
Tình hình thực tế phải thế nào thì mới có lệnh cấm đó chứ ?!
Điều thú vị là có những căn bệnh của người xưa lại có sắc thái khá hiện đại .
Cũng trang sách trên có ghi:
Vương đặt ra ba điều để răn các quan:
1/Không được vô tình
2/không được khi mạn
3/không được gian dâm
Chỗ đáng chú ý ở đây là thói vô tình ( cũng tức là vô cảm , thờ ơ… ) được đặt lên hàng đầu. Hóa ra chiến tranh thời nào cũng vậy.


2-8
NIỀM TIN ĐỐI VỚI CHỮ NGHĨA
Trên trang Web của mình , Nguyễn Mộng Giác viết về Nguyến Hiến Lê:
“ Mỗi lẫn gặp ông, tôi đều nhớ lại hai câu thơ cổ:
Khẳng khái cần vương dị
Thung dung tựu nghĩa nan. (*)
(*) Xin tạm hiểu là Hết lòng phò vua là chuyện dễ, thung dung hy sinh vì nghĩa lớn mới khó VTN


Vâng, ông là người không ồn ào, không phô trương hào nhoáng, không cố làm cho người đời thấy mình rực rỡ lóng lánh mà chỉ lặng lẽ làm việc, thung dung đạt được điều nghĩa.
Niềm tin tưởng ở công việc mình làm nơi ông lớn lao quá, đến độ cuộc sống và thời cuộc không ảnh hưởng nhiều đến ông. Giữa một xã hội chữ nghĩa mất giá, ông vẫn giữ trọn niềm trân trọng đối với chữ nghĩa.”


9-8
MỘT MINH HỌA CHO THUYẾT ĐÁM ĐÔNG CỦA G.LE BON
Đó là cảm tưởng của tôi khi đọc các tường thuật về Đại hội nhà văn lần thứ 8, nơi đó, --theo con số của báo TT&VH 8-8-2010 -- 90% diễn giả, bất chấp hay dở đúng sai ra sao, bị cử tọa ngồi dưới vỗ tay mời xuống, ngay sau khi nói vài phút.
Nhiều nhà tường thuật đã nói tỉ mỉ, không phải tất cả hội trường vỗ tay. Khi ngán cả người phát biểu, lẫn sự phản ứng vô lối của người ngồi cạnh mình, nhiều nhà văn đã chọn con đường bỏ ra khỏi Hội trường.
Nhưng theo tôi hình dung, những người không vỗ tay chỉ im lặng ngồi đấy vẫn nhiều hơn. Hào hứng theo dõi không khí chung. Giữa một cuộc sống đầy những bức xúc chán chường, thấy như nó có đáp ứng một nhu cầu nào đó của mình. Ờ mọi chuyện cũng vui đáo để đấy chứ !
Tình thế bi hài của người tử tế bao giờ chẳng mang lại chút niềm an ủi cho tất cả những kẻ bất tài – đó là một quy luật tâm lý từng được nhiều nhà thông thái chia sẻ.
Có thể dự đoán là một diễn biến như thế đã đến với tâm lý nhiều người. Tôi lấy kinh nghiệm bản thân mà suy. Tức xin tự nhận là ở tôi cũng đã có những giây phút như thế và bây giờ không dám chắc là đã gột bỏ hết.
Giá có mặt ở Đại hội VIII, biết đâu tôi chả ngồi vỗ tay theo và hể hả vì thấy tất cả chỉ còn là trò hề.
( Chính vì thế mà tôi thấy cần truy kích những tiềm năng hư hỏng này tới cùng để …bận sau đừng thế nữa!)
Trở lại với tâm trạng người ngồi hội trường. Chủ quan từng người thế nào không biết song khách quan mà xét, tự khoác cho mình cái vai trò chứng kiến chỉ là một cách chạy tội.
Thực ra với những kẻ khởi xướng vỗ tay vô tội vạ, chúng ta đã là những kẻ đồng lõa.
Và nhìn toàn cục, tôi tưởng vẫn có thể nói rằng chúng ta có một hội trường giống như một đám đông pha trộn đủ thứ bệnh tật hư hỏng. Bắt nguồn từ sự mỏi mệt, người ta đã trở nên hung hãn dữ rằn từ lúc nào mà cũng không hay biết. Đã xuất hiện một tâm thế hư vô không coi cái gì là quan trọng. Đánh đồng tất cả, từ chối tất cả. Muốn phá phách, muốn lung tung cả lên để trả thù đời.
Lý thuyết của Le Bon– mà tôi nương theo để phát triển suy nghĩ của mình ở đây -- là tôi đọc được từ cuốn Tâm lý học đám đông ( đã có hai bản dịch một ở miền Nam trước 1975 và một, gần đây ở Nxb Tri thức). Theo Gustave le Bon, khi nhập vào đám đông hỗn độn, con người như đánh mất bản thân. Đám đông rất dễ bi những bản năng thấp chi phối, mất hết sáng suốt, dễ bị kích động, dễ nhắm mắt làm theo cái sai trái, kể cả chống lại chính mình.
Do đó đám đông rất dễ điều khiển.


10-8
MADE IN VIETNAM
Cuộc vận động dùng hàng Việt đang có một cái tên cụ thể hơn: cuộc đấu tranh giữa hàng Việt và hàng Tầu. Và hàng Tầu đang lấn tới bằng cách giả làm hàng Việt.
Trung quốc có cả một cuốn sách mang tên Thương chiến binh pháp, cuốn sách từng đã được dịch ở Hà Nội ( nxb Thanh niên, 1996, 539 tr.)
Chiểu theo quan niệm ấy, – quan niệm buôn bán cũng là chiến tranh — thì gần đây có hiện tượng phía họ đang trà trộn vào hàng ngũ ta , giả làm chúng ta, nói theo cách nói hồi chiến tranh, “túm lấy thắt lưng ta mà đánh”.
Giá có thời giờ đọc lại Đông Chu liệt quốc, chắc người ta hiểu ra ngay lối tác chiến kiểu này, khá phổ biến ở nước Tầu cổ.
Điều đáng nói hơn, là lúc này, trong trận chiến này, phía ta lại mời họ đến, cho họ mượn danh nghĩa, giúp cho cái việc hoán cốt đoạt thai kia trở thành hợp pháp.
Nhiều báo trong đó có SGTT đưa tin một số cơ sở sản xuất chỉ làm cầm chừng, phần chính đi đặt hàng bên “nước lạ” làm. Hàng vẫn mang nhãn mác do mình đặt, lại rẻ hơn và chất lượng tốt hơn, bán ra ăn khách hơn.
Chương trình VTV1 tối 9-8 đưa tin, ở phố hàng Bồ Hà Nội người ta nếu cần mua được rất dễ dàng những con tem made in Vietnam để dán vào thứ hàng mới nhập từ biên giới về .
Một người bán hàng chợ Đồng Xuân nói thêm với tôi:
-- Các tem này cũng do họ in sẵn, nên mới đẹp như thế.


Tự nhiên nổi hứng muốn … làm thơ con cóc. Có bản phỏng dịch một bài thơ không đề của B. Brecht ( tôi ghi theo trí nhớ)


***
Đả đảo chiến tranh
Người viết dòng khẩu hiệu ấy
Đã ngã dưới chân thành


Có thể nhại Brecht thành mấy vần lủng củng như sau:


***
Made in Vietnam
Nơi sản xuất những con tem ấy
Là bên Trung Hoa
Tem để dán trên hàng Trung Hoa
Chỉ có người bán và người mua
Là người Việt
Mua bán với nhau trên đất Việt

Thursday, August 5, 2010

Một cách tồn tại ngược chiều gió thổi

LTS: Vương Trí Nhàn là một cây bút phê bình gây nhiều tranh luận. Trong văn giới, hình như nhiều người không có tình cảm với ông. Và, ở tuổi 68, ông cũng yên tâm với cuộc sống đơn độc, chúi vào góc riêng của mình, làm nốt những việc vốn làm dở dang. Ông không dùng điện thoại di động vì, "tự cảm thấy đã ở vào tình trạng không việc gì gấp gáp đến mức phải có mặt năm phút ngay sau một cuộc gọi". Gặp gỡ & Đối thoại thứ Năm tuần này, Tuần Việt Nam xin giới thiệu cuộc trò chuyện giữa ông và DNSGCT.




Ông không theo dõi sự kiện quan trọng này và không có ý kiến gì về công việc chung?

Vương Trí Nhàn là một cây bút phê bình gây nhiều tranh luận. Trong văn giới, hình như nhiều người không có tình cảm với ông. Và, ở tuổi 68, ông cũng yên tâm với cuộc sống đơn độc, chúi vào góc riêng của mình, làm nốt những việc vốn làm dở dang. Tranh: Hoàng Tường.

Càng gần đến ngày khai mạc Đại hội Nhà văn, thông tin về sự kiện này xuất hiện càng nhiều. Góp ý, kiến nghị, tranh cãi, giải thích kể lể chuyện cũ chuyện mới... Không đăng được đầy đủ trên mặt báo thì đưa lên mạng. Vương Trí Nhàn cũng có blog (nhật ký điện tử), do một người em làm giúp. Blog là nơi ông bày những tác phẩm của mình, có cũ, có mới. Nhưng với Đại hội Nhà văn thì trên blog của ông chưa thấy có một dòng nào


Ông Vương Trí Nhàn: Có chứ. Hơn tuần nay, ngày nào tôi cũng để hàng tiếng đồng hồ theo dõi sự bàn luận của các nhà văn về đại hội. Chỉ có điều là các phản ứng của tôi ban đầu thường cảm tính. Nên phải chờ cho lắng xuống đã. Lúc này đây tôi chưa cảm thấy có gì để nói, nên không viết ra thôi

Phải nói đây là tâm thế chi phối tôi mấy năm nay. Tôi thấy cách tốt nhất để tham gia vào đời sống văn học là những trang viết. Ngoài ra với cái tạng của mình, tôi không nên có mặt trong các hoạt động khác, kể cả đi họp.



Là một người hay tìm hiểu con người hơn là tác phẩm lẽ nào ông lại bỏ qua một trong những chủ đề được quan tâm nhiều nhất là câu chuyện nhân sự.



Đúng thế, tôi thích tìm hiểu và tự tìm cách giải thích về con người. Thí dụ về vấn đề nhân sự cho hội, tôi cho rằng viết hay là một chuyện còn quản lý hội là một việc khác hẳn. Người phụ trách hội phải có khả năng tổ chức công việc. Nhưng trong cả rừng ý kiến, thấy mọi người chẳng ai nghĩ như tôi. Không chỉ cấp trên không để ý mà anh em đồng nghiệp cũng chẳng ai để ý - trong bụng không biết mọi người bảo thế nào chứ bề ngoài là vậy. Thế thì việc gì phải vội nói lấy được?



Giao tiếp xã hội ở nước mình hiện nay khó khăn lắm. Người ta không lắng nghe nhau. Không có tiếng nói chung giữa người với người. Mọi người tưởng rằng hiểu nhau nhưng thực ra là không hiểu.



Không hiểu hay không muốn hiểu?



Không hiểu. Mấy chục năm hậu chiến đã làm con người ta thay đổi.



Ông có thể nói rõ hơn.



Nhiều người vẫn không hiểu về chiến tranh, không nhận thức được chiến tranh và vẫn không ý thức rằng mình làm cái gì sau khi cuộc chiến khép lại. Bảo hồn vía cả xã hội chưa thoát khỏi chiến tranh cũng không phải là quá. Ở Mỹ, những người lính sau khi trở về từ chiến trường, cảm thấy thế hệ mình vứt đi, không hòa nhập được vào xã hội lớn.



Ở Nga có bộ phim kể về những anh lính, may mắn trở về nguyên vẹn nhưng đã thành một con người khác, ngày nào cũng soạn balô rồi ném balô vào một góc nhà và ngủ ngay cạnh, chứ gần như quên hết cuộc sống bình thường. Trước năm 1975, trong Nam có nhiều nhà văn đã đi đến tận cùng sự khốc liệt của chiến tranh. Ngoài Bắc có nhà văn Nguyễn Minh Châu. Khoảng thời gian năm 1973-1974, nhà văn này đã viết một số truyện ngắn về sự trở về cuộc sống bình thường không thành của những người lính.



Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa (thơ Nguyễn Đình Thi) là chuyện thời xưa. Thời nay khác hẳn. Đất nước im tiếng súng, người lính tràn ngập các cơ quan, công sở, từ thành thị đến nông thôn, từ miền ngược đến miền xuôi... Tôi nhớ có lần ngồi uống trà với ông Nguyễn Khải và ông Nguyễn Minh Châu.



Ông Khải nói: "Chiến tranh giống như ấm trà này, bao nhiêu tinh hoa rót ra hết...". Rất nhiều người tài trí và dũng cảm đã nằm xuống. Nhiều người trong số những người thừa hưởng tranh thủ kiếm chác, giành giựt, đòi trả công cho những năm tháng ở chiến trường. Nghĩa là họ vẫn chưa thoát khỏi ám ảnh cũ.



Nhiều người vẫn là tù nhân của chiến tranh. Họ vẫn sống, vẫn làm việc, vẫn suy nghĩ như thời chiến. Ấy là không kể nếp sống tiểu nông trì trệ và bành trướng. Người ta làm nhà bê tông bằng tư duy người làm nhà tranh tre nứa lá và đi ôtô, đi xe máy theo kiểu đi xe đạp, tức là cũng luồn lách, đánh võng, tạt ngang tạt dọc... Gần như cả xã hội vẫn vận hành bằng tư duy cũ, cái mới chỉ là lớp sơn bề ngoài. Cái cũ còn đang ngự trị nặng nề lắm.



Đấy có phải là lý do khiến trong tập Cây bút đời người, ông chỉ bày ra chân dung một số nhà văn thuộc loại cây đa cây đề mà không có các gương mặt trẻ?



Tôi chỉ viết về những gì tôi thuộc. Vả chăng theo nhận xét của tôi, con người trong các thế hệ trước tồn tại với những đường viền rõ rệt hơn lớp trẻ hiện nay.



Sau hết người viết giỏi là người viết về các lớp người đi trước mà giải thích được khuôn mặt các lớp người đi sau. Tôi không dám nói rằng tôi làm được như thế, nhưng phê bình văn học chân chính phải như thế.



Theo ông, bản lĩnh của người làm phê bình văn học nên được hiểu như thế nào?



Tôi nghĩ nếu tất cả những gì mình viết ra lập tức được hoan nghênh thì là thất bại. Cái mới đến với người ta bao giờ cũng khó khăn. Bản lĩnh của người phê bình là biết mình đang làm một cái gì đó và bạn đọc phải cố một chút thì mới chấp nhận được. Tôi không muốn vỗ tay giống như mọi người. Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận vai trò của "vỗ tay". Công việc này rất cần, nhưng có người khác làm rồi. Tôi muốn làm một cái khác, muốn đi ngược chiều gió thổi, mặc dù tôi có thể thất bại.



Ông Nguyễn Tuân bảo: "Này, chỉ có sư tử mới đi ăn lẻ, còn lại là đi ăn đàn. Liệu mà sống!". Có dám đi ăn lẻ hay không tùy thuộc vào phần "sư tử" mà mỗi người tự đánh giá trong con người mình.



"Sư tử" trong ông no hay đói?



Đến giờ, nghĩ lại bước đường đã qua, tôi lờ mờ cảm thấy có vẻ như tôi đúng. Có những điều tôi viết ra lúc đầu bị chê ít lâu về sau lại được chấp nhận khá rộng rãi. Mới nhất là những ghi chép về ông Tô Hoài. Tôi ghi từ lâu, nhưng khi tính chuyện công bố, một thứ bản năng của người hơn bốn chục năm làm nghề thì thào vào tai tôi: "Nói gì thì nói ở Việt Nam, nhà văn vẫn được xếp hạng trên nhà phê bình".



Tức những điều tôi viết mà ông Tô Hoài không chấp nhận thì cũng xem như vứt đi. Nên trước khi công bố, tôi đưa cho ông đọc. Phải một năm sau khi nhận bản thảo, ông mới gọi tôi đến và bảo: "Cái này đăng được. Chỉ cần bỏ một, hai chi tiết riêng tư. Còn tôi không phản đối, đăng được".



Quen biết Tô Hoài hơn hai chục năm nay, tôi nhớ nhất lời ông khen tôi là "cậu này cũng loại biết thân biết phận". Tôi hiểu tính ông. Tôi hiểu cách nghĩ của ông về đời sống cũng như về văn học. Tôi biết ông có thể chấp nhận. Với ông, biên giới giữa đúng và sai là một thứ rất vớ vẩn. Chỉ có điều vui là khi công bố, tôi không nói là ông Tô Hoài đã đọc trước. Rìu búa đổ vào đầu tôi ầm ầm, cho đến khi Tô Hoài lên tiếng. Nếu tôi không lầm thì bản lĩnh của tôi trong trường hợp này là hiểu đúng nhà văn, cũng như hiểu đúng dư luận với nghĩa có những cái mới đầu người ta từ chối sau người ta lại chấp nhận.



Cái này ngoài Tô Hoài, tôi còn học được ở nhà văn Nguyễn Khải. Ông luôn biết tung ra những cái mới vào thời điểm thích hợp lại biết gồng mình chịu đòn để cuối cùng tìm được sự chia sẻ rộng rãi. Tôi không dám nói học hết được võ công của Tô Hoài, Nguyễn Khải, nhưng học được một vài miếng, thành thử từ một người vốn nhút nhát tôi đã dạn dĩ hơn.



Vì sao ông lại chọn nghề viết phê bình?



Tôi thấy xã hội ta mắc cái thói là lý tưởng hóa người viết văn. Chứ thật ra giới cầm bút cũng đủ hạng người, có người cả đời hặm hụi mà không mấy ai biết, có người gặp may, có người "lạc đường" rồi thành nhà văn. Tôi không chắc rằng những tên tuổi bây giờ vài chục năm nữa vẫn được gọi là nhà văn. Và tôi tự nhủ là phải trông vào kinh nghiệm của lớp người đi trước chứ đừng vào hùa với chung quanh mà thành lố bịch. Sau tháng 4/1975, tôi vào Sài Gòn, thấy bác sĩ, kỹ sư người ta còn nể, chứ nhà văn thì không được xem trọng. Tôi học cái đó để nhìn lại đồng nghiệp.



Mục đích của tôi khi viết phê bình không phải là chê hay khen cá nhân, mà mô tả tình trạng của nhà văn, một kiểu sống trong hoàn cảnh đương thời. Đối với tôi, mỗi người viết văn là một kiểu làm người trong văn học. Và cái đó in dấu thời đại. Trong mỗi nhà văn đều có một khía cạnh con người Việt Nam. Tôi có lúc nói vui hình như mình là đại diện của người đời, đời gửi tôi vào sống giữa giới nhà văn để bóc mẽ cho thiên hạ biết. Hiểu người viết văn cũng là một cách để tôi hiểu người Việt Nam. Gần đây, tôi chuyển sang nghiên cứu về thói hư tật xấu người Việt và rộng ra là viết về con người Việt Nam như ta vốn có. Tôi xuất phát chậm, nhưng nhờ kinh nghiệm có trong văn học nên cũng thấy nhập cuộc được dễ dàng



Đằng sau sự nhốn nháo bề ngoài, thực ra chất lượng nhà văn đang xuống đến đâu?



Tôi không biết phải gọi là sâu đến đâu, nhưng đại khái tạm khái quát mấy nét như sau.



Thứ nhất là lý tưởng nghề nghiệp. Thực ra xưa nay nhà văn là người rất quan trọng trong xã hội. Bây giờ người ta quên, hoặc đôi khi chỉ nói toáng lên để tự lừa mình chứ thật ra còn lâu mới xứng đáng với sự trông đợi của xã hội. Họ không thấy đau xót trước việc tác phẩm của mình bị người đọc lảng tránh. Họ tự huyễn hoặc mình bằng cách đổ cho người đọc dốt, kém, lười đọc... Nghề văn đòi hỏi sự công phu. Quách Tấn ví làm thơ giống như vẽ tranh, chứ không phải như uống rượu. Bây giờ nhiều bạn trẻ xem làm thơ như uống rượu.



Thứ hai là trình độ nghề nghiệp. Nghề viết văn giống như một nghề thủ công. Tất cả lớp học viết văn đều được đào tạo sơ sài, chủ yếu mang tính chất truyền nghề. Nền văn học của cha ông, chúng ta chỉ biết lõm bõm. Nhắc đến Nguyễn Du người ta hay nói đến Truyện Kiều. Nhưng tôi cho rằng thơ chữ Hán, nhất là những bài thơ khi ông đi sứ, là một mảng rất sâu sắc. Từ nước ngoài nhìn về nước mình, ông mới hiểu thêm về Việt Nam.



Với văn học nước ngoài giới cầm bút cũng chỉ biết lơ mơ hoặc biết khá nhiều những chi tiết lặt vặt, còn cái thần của người ta thì không biết. Đó một phần vì khá đông nhà văn hiện nay không biết ngoại ngữ, tiếp xúc với văn học nước ngoài thông qua các bản dịch. Như vậy là không đủ để hiểu về nền văn học của người ta. Chúng ta không có những chuyên gia biết kỹ về một nền văn học nào khác ngoài mình. Mà lại toàn so mình với các đại gia, văn học Trung Hoa, văn học Pháp, văn hóa Mỹ... Có ai biết gì về văn học Indonesia, Thái Lan, Miến Điện đâu...



Tôi không tin chúng ta có một nền văn học tiên tiến hơn các nước trong khu vực Đông Nam Á. Nên nhớ là hiểu người cũng là cách để soi lại mình. Tôi rất thích và đã nhiều lần nhắc lại câu thơ của Aragon, rằng Tất cả gì về anh nhờ em anh mới biết. Nó đúng trong tình yêu và cả trong văn chương.



Thời này không có những đóng góp mới trong khám phá văn hóa của ông cha, không có những tên tuổi tầm cỡ như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Huyên...



Ông viết rất nhiều chân dung nhà văn. Có khi nào những tác phẩm của mình làm ông mất bạn?



Theo kinh nghiệm riêng tôi thấy ở mình người ta làm bạn với nhau phần nhiều vì "cánh hẩu", theo kiểu "bánh ít đi, bánh quy lại", chứ không xuất phát từ sự chia sẻ về quan niệm. Nhà văn Việt Nam cũng không thoát ra tình trạng đó. Tôi có những người bạn có lúc khá thân nhưng rồi sau này không thân nữa, phần lớn cũng là do khác nhau trong quan niệm sống và viết. Một họa sĩ từng nói rằng mỗi lần ông ấy vẽ chân dung một người bạn, ông ấy đều mất bạn. Nhưng tôi không buồn. Cái gì đến thì cứ để cho nó đến. "Người có văn hóa phải có ít bạn nhưng có nhiều sách" - Trong sổ tay tôi có ghi được một câu không rõ của ai nhưng càng già càng thấy đúng như thế.



Thói thường thì ai cũng thích được khen hơn là bị chê?



Đó chính là sự chưa trưởng thành về mặt văn hóa. Thành thử xã hội không ai phê bình được ai, mà trong làng văn người ta thường xem phê bình văn học nếu không phải một thứ son phấn thì cũng là một cục bướu thừa trên gương mặt văn học. Nguyễn Quang Sáng bảo "viết không viết được, vẽ không vẽ được, còn mỗi việc khen mà không biết làm thì còn biết làm gì".



Nguyễn Minh Châu, một người bạn và một người thầy của tôi, thì ví phê bình như con cáo đứng rình con gà là các nhà văn. Cáo bảo là gà ơi, gà ơi, gáy hay lắm. Gà sướng, gà gáy say sưa, nhưng chỉ chờ thế là cáo chồm lên xơi tái. Anh Châu nói thế vì có một thời gian dài, phê bình chuyên đóng vai chê trách quy kết dọa nạt người ta một cách lố bịch, trước khi đi vào con đường chiều nịnh nhà văn như hôm nay. Còn với tôi, phê bình là một cách phát biểu về văn học, về đời sống. Chỉ vì tôi thường đặt ra yêu cầu cao, nên mang tiếng là người hay chê và mất bạn như vừa nói ở trên.



Người xưa bảo "giàu vì bạn, sang vì vợ". Có thể hiểu là Vương Trí Nhàn nghèo?



Tôi thấy rằng câu này chỉ là một thứ khái quát non, đúng trong trường hợp này mà không đúng trong trường hợp khác, và đúng sai là tùy theo cách hiểu của người ta về giàu nghèo sang hèn. Nếu hiểu bạn theo nghĩa chia sẻ quan niệm thì tôi cũng giàu chứ, bạn của tôi là tất cả những người đã và đang đọc tôi. Còn sang thì không. Tôi chẳng có danh vị gì. Có chăng là sự thanh thản. Có một chuyện, tôi nghĩ, bây giờ cũng có thể nói ra được. Hồi còn làm việc ở nhà xuất bản, có lần tôi được thăm dò để đề bạt làm phó giám đốc nhưng tôi từ chối. Có ba lý do. Thứ nhất, lúc ấy tôi đã 50 tuổi. Nếu trẻ hơn 10 tuổi, có thể tôi sẽ nhận.



Thứ hai, làm lãnh đạo là tôi sẽ sa thải gần hết nhân viên vì thấy không ai biết làm việc. Thứ ba là khả năng tôi trở thành kẻ cắp. Làm nhiều việc cho cơ quan nhưng lương không tương xứng, làm sao tránh khỏi ăn cắp được. May mắn là vợ tôi chia sẻ với tôi quyết định này. Trong gia đình, vợ tôi là người lo về tài chính. Nhờ vậy, tôi không phải viết để sống. Tôi không bị chi phối bởi những cuộc rượu chè, vui vầy quần tam tụ ngũ...



Một câu hỏi cuối. Ông đã có lần kể là đọc kha khá tác phẩm và từng tìm hiểu về hoạt động văn học của một số nhà văn ở miền Nam trước năm 1975. Ông đánh giá thế nào về lực lượng này?



Nói tới văn học Việt Nam thế kỷ XX, tôi cho rằng không thể bỏ được văn học Sài Gòn trước năm 1975. Tại sao? Tôi tự giải thích cho tôi thế này. Sau 100 năm, muốn hiểu người Việt ở thế kỷ XX, nếu chỉ đọc miền Bắc thì không đủ. Theo tôi cần nghiên cứu thêm cho thấu đáo cả văn học miền Nam, đọc lại Nguyễn Thị Hoàng, Thụy Vũ, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Phan Nhật Nam...



Nhớ tới thế kỷ XX không phải chỉ thấy chiến công, mà còn để thấy những đau đớn của con người, lầm lạc của con người, vất vả làm người của con người, đọc để hiểu con người Việt Nam thế kỷ XX vui buồn sướng khổ như thế nào.



Văn học miền Nam trước 1975 còn mãi và có giá trị của nó. Ấy là không kể, bạn có biết không, nhìn vào văn học cả nước hôm nay, thấy có nhiều vấn đề ta đang rất bí mà văn học miền Nam trước 1975 đã đặt ra, như vấn đề văn hóa đại chúng, vấn đề ca ngợi một cách vô lối bạo lực và tính dục...



Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện.



Tác giả: Thượng Tùng (DNSGCT)

* Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần