Tuesday, June 29, 2010

Hy vọng đã thành thói quen



{Thực trạng khủng hoảng của nền giáo dục khiến các bậc cha mẹ phải xoay trở bằng nhiều kiểu cách.}


Xếp hàng đã được biết tới như một cách sống điển hình của người Hà Nội những năm chiến tranh. Bắt nguồn từ sự thiếu thốn thường trực, cuộc sống “xếp hàng cả ngày” rút cục tạo cho con người ta một cảm giác vô vọng, hành động kỳ cục không sao hiểu nổi.





Một người bạn tôi kể trong những năm ấy, nhiều lần cứ thấy có đám xếp hàng, dù đang đạp xe trên đường chị cũng lao vào chiếm chỗ giữa đám người ồn ào. Chỉ một, hai lần chị mua được thứ hàng ưng ý. Còn phần lớn là những cuộc xếp hàng vô ích. Nhưng bận sau thấy có đám đông người chị vẫn lăn xả vào.



Khủng hoảng giáo dục đến hồi kịch liệt



Đến lúc nào đó hình thành một thói quen, tôi thường nhớ tới nó khi theo dõi nhiều hoạt động xã hội hằng ngày, như các phong trào thi đua, các cuộc chạy theo mốt, các đám lễ hội, du lịch… và hôm nay là chuyện học sinh lao vào học hè.



Ở đây không khỏi có lỗi của những người biến giáo dục thành hoạt động kinh doanh, lợi dụng tâm lý quá lo lắng của cha mẹ với con cái để từ đó kiếm lời.



Nhưng để việc đó sang một bên, về phía chúng ta, tại sao chúng ta bảo nhau giơ đầu cho họ chém như vậy?



Tôi nghĩ đây chỉ là thêm một bằng chứng về sự khủng hoảng giáo dục đã đến hồi kịch liệt và hằn sâu vào lòng người, trở thành trạng thái tâm lý xã hội cố kết bền vững.



Nhiều người quanh tôi hôm nay hối thúc con cái ngày đêm đèn sách trong tâm lý tuyệt vọng. Trong thâm tâm thừa biết là sau khi nhận con cái ta vào học, nhà trường hiện nay chỉ cho ra những sản phẩm rất ít được việc cho xã hội. Thế nhưng làm sao bây giờ? Tìm đâu một chỗ học khác? Tiền đâu cho đi nước ngoài? Thôi thì chỉ đành thúc con cái học thêm, học nữa...



Cố gắng trong bế tắc



Theo tôi nhớ, khoảng cuối 2009 (?), một hãng tin nước ngoài từng có một cuộc phỏng vấn ở hàng loạt nước để xét xem người dân ở nước đó có bằng lòng với cuộc sống không. Và trái với dự đoán của họ, hóa ra ở ta dân tình nói chung vui vẻ, số người bằng lòng và tin tưởng ở cuộc sống lại cao hơn so với người dân nhiều nước khác.



Làm sao có thể sống không hy vọng được? Dường như đó là cái lý lẽ ngấm ngầm đứng đằng sau giải thích cho mọi nỗ lực.



Niềm hy vọng đã thành thói quen, hy vọng ở mọi việc hằng ngày và cả những lĩnh vực có quan hệ tới tương lai, như trong việc lo cho tương lai lớp trẻ, người ta càng không thể không hy vọng.



Nhà thơ Đức Bertold Brecht (1898-1956) có một bài thơ mang tên 1940, trong đó ông kể lại cuộc đối thoại giữa ông với người con trai. Con ông lần lượt hỏi có nên học toán không, nên học tiếng Pháp nữa không, cần học sử không. Trong bụng nhà thơ thừa hiểu học không là gì. Thế nhưng bản năng làm cha không cho phép ông nói hết sự vô nghĩa của đời sống với đứa con. Bất ngờ mà tự nhiên, cuối cùng bài thơ lại chốt bằng hai câu ngược hẳn với mạch đối thoại nói trên “Thế rồi tôi nói: Ừ con - Con học toán, học Pháp văn, học sử”.



Sau khi kêu lên rằng cách tổ chức dạy thêm, học thêm trong hè hiện nay có xu thế biến mùa hè thành cả một thảm họa với lớp trẻ, một số bậc phụ huynh đang muốn đi tìm những phương thức sinh hoạt hè mới để làm cho đời sống của cả chúng ta lẫn lớp trẻ có tính nhân văn hơn. Ghi nhận của tôi lúc này là cả hai đều có thật, cả sự tất yếu của thảm họa lẫn tính chân chính của cái nguyện vọng muốn thay đổi, muốn vượt lên trên thảm họa.



phapluattp29/6/10

Saturday, June 26, 2010

Ghi chép hàng ngày (4)

9-6

HIỆN TƯỢNG BÍ ẨN NHẤT

Một người nước ngoài kêu lên,ở những nước như Trung quốc, Việt Nam lớp trẻ, nhất là bộ phận tinh hoa, chỉ lo làm giầu, dễ chừng bảo họ làm gì họ cũng làm, miễn thỏa mãn nhu cầu của họ.



Tôi nhớ những năm chiến tranh, một người nước ngoài đã phát biểu cái cảm giác kỳ lạ đến với họ khi sang thăm xứ ta. Sự cuồng nhiệt muốn làm người VN—một người đã không kìm được mà kêu lên như vậy.

Cái đó vẫn còn đến hôm nay và làm nên sự năng động của đời sống chăng?

Cũng dựa vào cách nói có từ những năm chiến tranh, đã xuất hiện một câu tổng kết về xã hội hôm nay : “cả nước vào cầu toàn dân đánh quả “.

Có tin ở Củ Chi, một trại giống cá sấu, một đêm kẻ trộm vào bắt trộm ba trăm con, loại cá từ 0,6m đến 1m

Còn ở Hải phòng 500 trại viên của một trại cai nghiện trốn trại.

Con số thai nhi một năm bị hóa giải là 2 triệu, trong số đó phần lớn là của các bà mẹ vị thành niên. Không có thống kê chính thức, báo chí chỉ ước lượng vậy

Tổng kết Festival Huế, báo SGTT đưa ra con số, có 1000 con diều thì 500 con bị ăn cắp.

Trên một tờ báo mục kiến thức có đăng bài “những hiện tượng bí ẩn trong lịch sử” và kể nhiều chuyện thú vị. Tát nước theo mưa, tôi muốn nói đùa nếu coi hiện tại cũng là lịch sử thì cái bí ẩn nhât của hôm nay, mà các nhà lịch sử về sau sẽ còn vỡ đầu không lý giải nổi, đó là tại sao sau chiến tranh, con người VN – mà một bộ phận lớn ta hay gọi chung là nhân dân – lại hư hỏng nhanh đến vậy.



13-6

NHỮNG MẢNG TRẮNG CỦA LỊCH SỬ



Thấy cần đọc Lịch sử nhà Mạc của Đinh Khắc Thuần ( Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2001) vì hai lý do, một nó là luận văn tiến sĩ ở Pháp, chứ không phải được công nhận trong nước; và hai, nghe nói nó rất ca ngợi nhà Mạc chứ không phải lên án như phần lớn sách giáo khoa về lịch sử từ thời tôi học cấp II bốn chục năm trước cho tới hôm nay.

Lý do thôi thúc tôi là, ở ta, những ý nghĩ “ ngược chiều gió thổi” ngược với thói quen của đám đông, thường là rất khó xuất hiện. Nay ở sử học nó đã xuất hiện, đã được chính thống công nhận, ắt không phải chuyện vừa.

Đọc xong thì thấy cuốn sách đáng gọi là một công trình khoa học. Nó có luận điểm mới, cách khai thác tài liệu mới.

Cuốn sách cũng soi rọi cho tôi thấy thêm một khía cạnh tính cách Việt.

Đau khổ vì những tệ nạn xã hội mà con người gây ra cho nhau hôm nay, những người như tôi thường bi quan khi nghĩ về những nguyên nhân sâu xa đã khiến nó – cái tình trạng hỗn hào ly loạn trong lòng người-- cắm rễ sâu vào đời sống cộng đồng trong quá khứ.

Lâu nay chúng tôi chỉ được dạy là có nhiều trang quá khứ oai hùng.

Thế còn những thời mà trong đó con người sống tử tế, những thời đó có không và là những thời nào?

Đây là mấy dòng Đại Việt sử ký toàn thư miêu tả nhà Mạc mà cuốn Lịch sử triều Mạc trích lại “ “ trong nhiều năm đường xá không nhặt của rơi, cửa ngoài không đóng, thường được mùa to, trong nước tạm yên. ( Sách Lịch sử triều Mạc tr229).

Lẽ ra phải có nhiều người đi vào nghiên cứu một thời thanh bình như vậy.

Nhân đây nghĩ chung về cách làm sử của người mình hôm nay.

Chỉ nghiên cứu ông cha đánh giặc và khởi nghĩa chống phong kiến mà không nghiên cứu ông cha cày ruộng, khai phá đất đai, mở đường, xây dựng đô thị -- nói như ngày nay là làm kinh tế và ổn định xã hội.

Chỉ nghiên cứu những cuộc kháng chiến mà không nghiên cứu tình hình các xã hội hậu chiến.

Chỉ nghiên cứu phong trào chống ngoại xâm, mà không hề nghiên cứu dân ta, đồng thời với việc chống đối đến cùng đó, đã học hỏi những người từ xa đến để trưởng thành lên như thế nào.

Chỉ thích dạy trẻ về những thời đại hào hùng mà không dạy về những thời con người ta trở nên tử tế .



15-6

DƯ ÂM CHIẾN TRANH

Ở Hà Nội nhiều nơi có Phở Thìn. Đây chắc là hàng phở ngon nhất Hà Nội ? Ông Tô Hoài bảo tôi, không phải thế đâu, chẳng qua trong chiến tranh, nhiều hàng phở HN đi sơ tán về các tỉnh cả, riêng phở Thìn vẫn bám trụ như bộ đội; có khi sau báo động, thậm chí sau một trận bom Mỹ, đèn HN vừa sáng lại thì đã thấy phở Thìn đỏ lửa bán cho anh em dân phòng và khách qua đường.

Nghĩ về một vấn đề của đời sống: chúng ta sống trong một thời khốc liệt đến mức không cần biết chất lượng thế nào, cứ tồn tại được đã là một chiến công rồi. Một em nhỏ tám tuổi đã làm được một bài thơ ư? Thế là, bất kể hay dở thế nào, người ta xúm vào ca ngợi. Chả ai đặt vấn đề đó có thực là thơ không và thứ thơ đó sẽ có được ai nhớ!



19-6

BẮT ĐẦU LÀ TỪ TRÍ TUỆ

Nhân chuyện đường sắt cao tốc một bài viết trên SGTT cho thấy ra một điều: lâu nay mình có biết làm gì đâu, gọi là đi vay vốn ODA của Nhật, nhưng sự thực là chấp nhận cả gói những đề án mà các nhà thầu Nhật họ làm cho mình. Họ không thạo vè giao thông đường thủy ư? Thì mặc dầu là Nam Bộ mình rất cần, nhưng họ mặc kệ. Họ chỉ lo làm đường bộ với cầu đường bộ…

Lâu nay ngành giao thông của mình chỉ đi ký những kế kế hoạch mà họ áp đặt. Việc còn lại là chạy hậu cần, chạy thợ.

Một tư cách làm chủ để đi vay cũng không có nữa.

Bài viết chốt lại bằng cái ý, có trí tuệ thì mới có độc lập về kinh tế, có độc lập về kinh tế mới độc lập về chính trị.

Câu kết nhắc lại kinh Phật “Duy tuệ thị nghiệp” (Chỉ lấy trí tuệ làm “nghiệp” của mình). Cẩu thả ở những quyết định đè lên miếng cơm manh áo của dân tộc thì cái “nghiệp” phải trả không hề nhẹ.

… Tôi đọc bài viết, nhất là câu kết này thấy yên tâm hơn với cái xu thế đề cao trí tuệ mà mình vẫn theo đuổi.



20-6

BÙNG NỔ & KHỦNG HOẢNG

Đó là cách nói khái quát về tình hình làm phim truyền hình giải trí hiện nay. Phim bảo đảm lấp đây chương trình các đài truyền hình TW và địa phương. Chỉ quá kém, quá bôi bác. Và chỉ sợ không có ai xem.



Ngành nào bây giờ chả có tình hình đó. Như ngành giáo dục mấy năm nay có thêm mấy trăm trường đại học mới mở.

Hôm nọ báo NTNN đưa tin học sinh rất thích thi vào các trường kém này. Một người bạn ở ngoài sông kể với tôi, may quá, con ông 13 điểm ba môn cũng đỗ đại học.

Thì ra những gì kém chất lượng là cái duy nhất mà ta có thể sản xuất dư thừa. Và không có nạc thì vạc đến xương, cuối cùng thì xã hội cũng tiêu hóa hết.

Tuesday, June 22, 2010

Nơi gặp gỡ của báo chí và văn học

Sự phát triển của thể phóng sự trong văn học nửa đầu thế kỷ XX
Mặc dù trong nền văn xuôi cổ điển Việt Nam, từ lâu người ta đã biết tới những cuốn sách “ghi chép sự thực” nổi tiếng (chẳng hạn Vũ trung tuỳ bút, Tang thương ngẫu lục, Thượng kinh ký sự…) song trên nét lớn phải đến thế kỷ XX, trong nền văn học Việt Nam hiện đại, thì các thể văn thuộc loại ký như bút ký, phóng sự, tuỳ bút, du ký…  mới trở nên những thể tài độc lập và có sự phát triển liên tục.



Điều này liên quan trước tiên đến quá trình trưởng thành của một công cụ thông tin quan trọng là báo chí.

Theo những thống kê người Pháp đã làm nếu năm 1923, số báo chí viết bằng tiếng Việt và tiếng Pháp cả ở Bắc Trung Nam mới có 71 tờ, thì năm 1934 đã lên tới 227 tờ, và qua năm 1937 là 110 nhật báo, 159 tập kỷ yếu và tạp chí, tổng cộng lên tới 269 tờ.[1]

Còn ở bảng liệt kê những báo chí có liên quan đến văn học, nhóm Vũ Đức Phúc trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945 cũng đưa ra con số đến trên một trăm.

Tại sao lại nói báo chí ra nhiều thì bút ký phóng sự phát triển?

Để hiểu điều này, chúng ta hãy thử hình dung vào khoảng những năm hai mươi, ba mươi của thế kỷ.  Do sự hạn chế của phương tiện kỹ thuật, các nguồn tin trên thế giới và trong nước đưa về còn rất hạn hẹp.  Bài vở đăng báo giản đơn tuỳ tiện, cả ngành báo chí chưa được tổ chức lại thành một đội quân hùng hậu như hiện nay.  Nhiều khi một tờ báo chỉ tồn tại nhờ có dăm người viết chính.  Họ vừa đưa tin, viết bài bình luận, châm chọc và chê bai báo khác, vừa cùng lúc viết vài ba phơi-ơ-tông (feuilleton) đăng báo thường kỳ.  Về mặt nghề nghiệp mà xét bấy  giờ không có sự phân biệt quá rõ rệt giữa nhà văn và nhà báo.   Những Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Bằng, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính…  – những người mà hậu thế tưởng sinh ra để viết tuỳ bút tiểu thuyết, làm thơ thuần tuý – thật ra đều bắt đầu sự nghiệp bằng nghề ký giả.  Sự gần gụi giữa văn học và báo chí – đúng hơn là tình trạng văn báo bất phân lúc ấy – bên cạnh mặt hạn chế suy cho cùng lại là nhân tố làm cho báo chí trở nên sinh động và trong số các thể loại văn học, mấy thể văn rất gần với báo, tồn tại trước tiên trên mặt báo – như bút ký, du ký, phóng sự – lại tìm được điều kiện lý tưởng để nẩy nở.  Có thể ghi nhận những bước khởi đầu còn mò mẫm của thể ký theo nghĩa hiện đại qua sự xuất hiện của một số tác phẩm thường bị lãng quên như sau:

- 1876 Chuyến đi Bắc kỳ năm ất Hợi (Trương Vĩnh Ký)

- 1888 Như Tây nhật trình (Trương Minh Ký)

- 1914 Hương Sơn hành trình (Nguyễn Văn Vĩnh)

- 1918 Mười ngày ở Huế (Phạm Quỳnh)

- 1918-19  Một tháng ở Nam Kỳ (Phạm Quỳnh)

- 1921 Hạn mạn du ký (Nguyễn Bá Trác)

- 1922 Pháp du hành trình nhật ký (Phạm Quỳnh)

Tiếp sau sự khởi động này, từ sau những năm ba mươi, ký sự phóng sự ra đời ngày càng nhiều.  Một số lớn còn bị đóng đinh lại giữa các trang báo, chỉ một số nhỏ may mắn có được cuộc sống độc lập, tức trở thành những cuốn sách khi vài chục trang khi lên tới vài trăm trang.  Riêng về phóng sự mà xét, trong số các cuốn đã in thành sách ngoài một ít có may mắn được tái bản đây đó, như các phóng sự của Vũ Trọng Phụng và Ngô Tất Tố, một số khác chỉ được trích giới thiệu (như Tôi kéo xe của Tam Lang) một số gần như bị quên lãng hẳn: Trước vành móng ngựa của Hoàng Đạo, Hà Nội lầm than, Làm tiền, Làm dân…  của Trọng Lang, Tôi làm xiếc của Tạ Hữu Thiện, Phù dung và nhan sắc của Lãng tử, Hầu tháng của Lộng Chương v.v.).  Sự quên lãng này, ắt hẳn là không công bằng.  Song dẫu sao cũng đã xảy ra và kéo dài.  Có điều, chính vì thế, ngày nay đọc lại những cuốn xuất sắc nhất chúng ta vẫn giữ được cái bỡ ngỡ thú vị, không ngờ là những tác phẩm tưởng chỉ tồn tại nhất thời, lại có sức sống lâu bền đến thế!

Một quan niệm sáng tác mới

Mở đầu Tôi kéo xe, Tam Lang Vũ Đình Chí nhắc tới hoạt động của một số vua phóng sự nổi tiếng trên thế giới, để rồi, về phần mình, ông tự nhận chỉ dám làm công việc mô phỏng, một thứ “mèo nhỏ bắt chuột con”.

Cái xa chẳng làm được thì mình làm cái gần vậy.

Bắt chước Marise Choisy đổi lấy bộ áo con đòi vào ở nhà thổ, tôi cũng mượn bộ quần áo nâu của một bạn áo ngắn, khoác vào mình, rồi mạnh dạn đi làm xe.

Thế là ông Bùi Xuân Học bạn tôi một buổi trưa nắng gắt mùa hè đã đội lên đầu tôi chiếc nón lá phu xe kéo

Khi đọc đoạn văn này, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan có ý chê khéo.  Ông kể lại nỗi hoài nghi của một số đồng nghiệp “Người ta bảo Tôi kéo xe là sai, vì với cái thân thể của tác giả mà nhiều người biết, tác giả không thể nào cầm càng xe được” (Nhà văn hiện đại, đoạn viết về Tam Lang)

Tuy nhiên, cho dù việc làm trên của Tam Lang là mang tính cách trình diễn là giả tạo đi chăng nữa, thì nó cũng cho thấy một mong muốn, một quan niệm mới của các nhà văn nhà báo đương thời về cách làm việc họ phải noi theo và về cái họ phải viết.  Hơn thế nữa, từ đây có thể thấy một quan niệm mới về văn học đã thành hình.

Như người ta thường nói, từ đầu thế kỷ XX, văn hoá Việt Nam nói chung, văn học Việt Nam nói riêng như được nhào nặn lại.  Cùng với sự tiếp tục thông thường, đã diễn ra một sự rẽ ngoặt chưa hề có.  Xưa, các nhà nho cầm bút lên là mơ màng nhớ lại truyện xưa tích cũ.  Cổ nhân luôn luôn được đem ra làm mẫu.  Trong sáng tác, người ta không giấu diếm cái chủ ý là đi tới những lời khuyên răn: lẽ ra ta phải sống như thế này, như thế kia.  Thêm vào đấy nữa, phương tiện phổ biến văn học lúc ấy lại rất hạn hẹp, một cách phổ biến cũ kỹ lạc hậu (kỹ thuật in thô sơ báo chí và truyền thông nói chung gần như không có).  Nội dung và phương cách tồn tại văn học hoàn toàn tương hợp với nhau: cả hai đều là những dấu hiệu điển hình của văn học trung cổ.

Nay thì quan niệm sống của người ta đã khác, nên viết cũng phải khác.  Câu hỏi có tính chất ám ảnh bây giờ là: ta đang sống như thế nào? Chung quanh ta đang diễn ra những chuyện gì? Cách sống của cổ nhân cần được hiểu, cần được nghiên cứu nhưng không hẳn đã là mẫu mực để theo.  Con người phải dò tìm cái cách tồn tại cho bản thân.  Người ta không chỉ cần lời khuyên, người ta trước tiên muốn biết hình ảnh của chính mình.  Báo chí và các phương tiện truyền thông phải trở nên tấm gương để con người tự nhận thức.  Nếu các tin tức bài vở lặt vặt nhỏ lẻ, đã thoả mãn ham muốn tò mò, thì những ký sự phóng sự tương đối dài đưa ra những toàn cảnh rộng lớn, kèm theo sự phân tích tỉ mỉ, mới thật là cho người ta biết mình một cách đầy đủ.

Nói ký sự phóng sự có liên quan đến những lay động sâu xa diễn ra trong tâm lý con người hiện đại là với lý do đó.

Trên nguyên tắc, cả ký sự lẫn bút ký phóng sự, đều được xếp chung vào một thể loại văn học là thể ký, nhưng trong bài này, chúng tôi sẽ đặc biệt chú ý hơn đến phóng sự. Lý do: nếu ở ký sự, vai trò người viết có vẻ ít nhiều thụ động, thì ở phóng sự, người viết chủ động đặt ra mục đích để theo đuổi, tự vạch ra công việc phải làm và làm bằng được.  (Không phải ngẫu nhiên mà chỉ từ những năm ba mươi, phóng sự mới hình thành, trong khi ký sự đã có từ đầu thế kỷ, thậm chí là có từ văn học trung cổ.)

Xu thế dân chủ hoá

Khi một mảng sống được người ta để mắt tới, quan sát, ghi chép rồi trình bày ra với mọi người, tức ở đó phải có chuyện gì đó đáng nói.  Hoặc đó là những chuyện lạ chuyện kỳ cục oái oăm ít người biết tới.  Hoặc đó là những chuyện mà bên ngoài thế này, nhưng bề trong lại có thể thế khác.  Một ngòi bút phóng sự do đó không mấy khi là một người hiền lành hơn nữa lười biếng qua quýt hoặc nông nổi nhẹ dạ.  Ngược lại, người viết phóng sự phải có thói quen xông xáo, khả năng khơi gợi vấn đề thu hút được sự chú ý của dư luận.  Nói một cách khái quát các sáng tác thuộc thể ký nhất là phóng sự thường đi sát với các phương hướng sáng tác mà nhiều người quen gọi là khuynh hướng hiện thực, chủ nghĩa hiện thực trong văn học.

Từ đây, có thể nghĩ lại về một vài căn bệnh thường vẫn bị đổ riệt cho các nhà văn Tự Lực văn đoàn.

Bị ám ảnh bởi lối phân chia cứng nhắc, đối lập hiện thực với lãng mạn, lâu nay, mỗi khi nhắc tới các nhà văn viết cho Phong hoá, Ngày nay nhiều công trình văn học sử nói đi nói lại rằng họ là lãng mạn.  Mà đã lãng mạn, là xa rời đời sống là chỉ đi tìm niềm vui ở những cõi mộng xa xôi, trốn tránh thực tại, hãi sợ đấu tranh.

Song nhìn kỹ thì thấy chính ở Phong hoá gần như lần đầu tiên thực trạng nông thôn Việt Nam được đưa ra thành vấn đề.  Với báo Phong Hoá, các nhân vật Lý Toét, Xã Xệ được định hình như điển hình của những lạc hậu trì trệ bao trùm đời sống nông thôn.

So với lối bàn luận mang tính cách hàn lâm của các ngòi bút Nam Phong thì cách hướng về đời sống của các nhà văn trong nhóm Tự Lực – dù là còn lớt phớt, qua loa – cũng đã là một bước tiến vượt bậc và đó là một thắng lợi của xu thế dân chủ hoá trong văn học.

Kết luận này càng được khẳng định, nếu xem xét những thể loại văn học được sử dụng trên Phong hoá, Ngày nay: ở đây, phóng sự, ký sự luôn luôn được giành cho một vị trí riêng.  Trước khi viết tiểu thuyết Con đường sáng, Hoàng Đạo tạo ra uy tín riêng của mình trong Tự lực văn đoàn nhờ vào các bài bút chiến in trên Phong hoá và tập phóng sự Trước vành móng ngựa.  Kinh nghiệm làm báo Nhất Linh học được bên phương Tây không chỉ được ông đưa vào việc tổ chức mọi mặt hoạt động của các văn đoàn do ông chủ trì mà còn có tác dụng hướng dẫn ông trong thiên tiểu thuyết giàu chất ký sự mang tên Đi tây. Thạch Lam, ngòi bút tinh tế dường ấy, cũng từng là nhà báo, sam bán đủ nghề việc làm báo không chỉ đưa ông tới phóng sự Trong nhà thương (ký Việt Sinh) mà còn tới tập bút ký độc đáo: Hà Nội ba mươi sáu phố phường.  Đấy là mới kể sơ lược những ký sự, phóng sự in trên Phong hoá, Ngày nay do chính các cây bút chủ lực của Tự Lực đảm nhiệm.  Nếu kể cả những cây bút mà nhóm này sử dụng trong các trang báo, thì tình hình còn thú vị hơn nhiều.  Chúng ta biết Tự Lực có thói quen “khép chặt hàng ngũ” tức rất khó tính trong việc chọn người cộng tác.  Vậy mà họ đã phải đặc biệt trọng đãi Trọng Lang Trần Tấn Cửu: Báo của nhóm Tự Lực in bài của ông xong, lại đến lượt nhà xuất bản của nhóm in lại thành sách.  Đó là trường hợp xảy ra với Hà nội lầm than.  Làm sao giải thích được những việc này nếu như không mạnh dạn nói rằng, chính ở Tự Lực, một xu hướng dân chủ hoá văn học được bắt đầu và ngày càng nẩy nở.  Và về mặt phương pháp mà xét, đó là lối nghĩ lối viết đi sát với chủ nghĩa hiện thực.

Cố nhiên là có phần lùi về sau một chút, với các nhà văn quây quần chung quanh các nhà xuất bản Tân Dân, Cộng Lực Mai Lĩnh, Minh Phương…  những người viết cho Phổ thông bán nguyệt san, Hà Nội báo, Tương lai, Ích Hữu, Tiểu thuyết thứ bảy thì cái xu thế nói trên, mới thực sự trở nên rõ rệt.  Đám người cầm bút ở đây không bao giờ tỏ ra cao đạo mà rất thích đóng vai những kẻ thóc mách moi chuyện lộn xộn linh tinh hàng ngày, và sẵn sàng đưa mọi sự lỉnh kỉnh của cuộc đời lên kính ngắm.  Nếu đôi khi ở các phóng sự in ở nhà xuất bản Đời nay hiện thực đời sống còn được miêu tả theo lối từ ngoài nhìn vào, thì ở nhiều phóng sự và các tiểu thuyết phóng sự (thực chất là phóng sự được tiểu thuyết hoá ít nhiều) của Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Lạp…  người ta thấy cái hiện thực ấy đúng là được miêu tả từ trong nhìn ra.  Cả hai lối nhìn này bổ sung cho nhau.  Chẳng những chúng làm cho cuộc sống hiển hiện lên với tất cả dáng vẻ nó vốn có, mà còn làm cho bản thân thể phóng sự trở nên đa dạng.  Có khi nó là một tập ảnh, kết quả hoạt động của một thứ ống kính chụp nhanh.  Có khi nó là công trình điều tra nghiên cứu công phu kỹ lưỡng, nhằm chứng minh cho một điều gì đó đồng thời giải một nỗi hận, đáp ứng một lời thách đố ám ảnh bấy lâu.  Lại cũng có khi đơn giản hơn, nó là một thể nghiệm nho nhỏ một dịp người ta vui chân quan sát chung quanh để nhìn hiện thực muôn màu mà cũng để giễu sự đời nhân thể.  Trong cái trạng thái được nhìn rất gần, đời sống hiện lên qua các tác phẩm phóng sự không bao giờ nhàm chán, mà vẫn mỗi lần mỗi tự nhiên sinh động, lý do là vì như thế!

Phóng sự nhìn từ góc độ thể loại văn học

Nói tới thành tựu của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX ở khía cạnh phát triển thể loại, thường khi người ta lưu ý tới hai hiện tượng:

- một là sự ra đời của Thơ mới.  Vốn là một thể tài mang đậm dấu ấn tâm hồn dân tộc, trước nay, thơ ta đã có mấy thế kỷ để phát triển, và tưởng như hình thức của nó đã ổn định không bao giờ thay đổi nữa.  Nhưng chỉ trong vòng ba bốn năm, phong trào sáng tác thơ mới nổi lên như một ngày hội.  Bộ y phục hôm qua xếp lại; từ nay, thơ ta có một bộ y phục hoàn toàn mới.

- hai là sự ra đời của tiểu thuyết.  Nối tiếp truyền thống của những truyện kể dân gian và các loại truyện nôm khuyết danh, hữu danh trước đây, một thể văn mới được hình thành.  Sự phát triển bồng bột của thể tài này ở ta là một hiện tượng hợp quy luật bởi lẽ như một nhà nghiên cứu Liên Xô ( trước đây) đã viết về sự phát triển của tiểu thuyết ở các nước Trung Á:

“Ở các nền văn học trẻ, văn xuôi, đặc biệt tiểu thuyết đang là một ngành chủ đạo.  Tác phẩm thơ ca mất đi sự ôm trùm vốn có của nó.  Và đằng sau chữ tiểu thuyết, người ta, cả độc giả và nhà văn đều hiểu: đấy là một dấu hiệu của chất lượng”
Tóm lại, nhấn mạnh đến những đảo lộn lớn lao đã đến qua sự có mặt của tiểu thuyết và của thơ là đúng.

Song cũng không thể bỏ qua sự phát triển của ký sự, phóng sự du ký, cụ thể là vai trò khởi động của nó.  Hơn nữa, có một điều thú vị nên đặc biệt lưu ý: chính là nhờ có phóng sự ký sự, mà tiểu thuyết bớt đi tính cách vu vơ hão huyền.  Xuất hiện như một yếu tố bài bác tiểu thuyết, phủ nhận tiểu thuyết, rồi ra ký sự phóng sự sẽ là nhân tố thúc đẩy tiểu thuyết đổi khác và trở thành chính mình.

Mối quan hệ tế nhị này sẽ dễ dàng được lý giải nếu trở lại với thực trạng của sự phát triển các thể loại những năm đầu thế kỷ.

Theo như cách nói của nhà văn học sử Phạm Thế Ngũ, hai chữ tiểu thuyết du nhập vào xã hội Việt Nam theo công thức “cái tên thì lấy ở Trung quốc mà cái thực thì lấy ở phương Tây”.[2] Với cách nghĩ thông thường hẳn có người nói ngay: thực mới quan trọng, còn tên nào chẳng được.

Nhưng sự thực không phải vậy.

Không phải ngay từ đầu, những người cầm bút ở ta đã có ngay được cái văn hoá tiểu thuyết, mà người phương Tây vào thời điểm ấy đã có.  Ngược lại một thời gian dài, tiểu thuyết ở ta vẫn là một cái gì thuộc dạng lăng nhăng, bịa đặt, đọc giải trí, không ai tin vào sự đúng đắn của nó, người đàng hoàng không thể xem nó là một cái gì nghiêm chỉnh.

Trong Vỡ đê khi cần tả nhân vật Kim Dung làm một việc táo tợn là thả Phú khỏi nhà tù, nhà văn Vũ Trọng Phụng đã không ngần ngại gọi đó là những hành động mang cảm hứng tiểu thuyết.  Khi Dung chuẩn bị: “Lúc ấy, tâm hồn Dung say sưa trong cái thi vị của sự dự định, nó có vẻ tiểu thuyết lắm”, rồi khi Dung bắt tay hành động: “Một sức mạnh huyền bí của tiểu thuyết làm cho Dung bạo dạn rón rén đến gần cái ghế của người lính cơ”.  Tóm lại, tiểu thuyết nghĩa là những gì bất thường, bất định, là lông bông hão huyền.  Cùng lắm, thì nó nói được ít chuyện phù phiếm, nào là trai thanh gái lịch say đắm nhau, nào là yêu quái hiện hình người trêu ghẹo đám học trò bạc nhược.  Chả thế mà, vào thuở thể tài này còn đang phôi thai khi làm công việc cổ động cho nó Phạm Quỳnh đã sớm cảnh cáo rằng các nhà tiểu thuyết viết gì thì viết chớ nên viết chuyện ngôn tình.  Và thật đáng xấu hổ, nếu cứ quẩn quanh mãi với những chuyện đàn bà con gái.  Lời cảnh cáo của Phạm Quỳnh có làm cho người cầm bút đương thời tỉnh ra phần nào; một Hoàng Ngọc Phách chẳng hạn, viết Tố Tâm từ 1922, nhưng phải đến 1925 mới công bố.  Song suy cho cùng, thì nó làm sao mà ngăn cản được loại tiểu thuyết ngôn tình kia rộ lên một thời.

Nói đến tiểu thuyết từ 1935 về trước là người ta kể ra nào Hồn bướm mơ tiên nào Đời mưa gió, rồi Gánh hàng hoa, Trống mái…  Không phải đó là những cuốn sách hoàn toàn vô giá trị.  Không hẳn thế! Chỉ hiềm một nỗi, do chỗ phần lớn tiểu thuyết – nhất là những tiểu thuyết tương đối chắc tay – dồn cả vô một phía, đi theo một kiểu như thế nên văn chương trở thành khó coi, đối chiếu với đời sống bình thường lúc đó, càng thấy khó coi.  Để tạo ra sự cân bằng phải tìm tới một lối thoát khác “Người ta thấy cần phải viết thiết thực hơn và giản dị hơn, cần phải đi sát đời sống, nhất là đời sống của bình dân, quan sát tường tận và ghi lấy những điều tai nghe mắt thấy, chứ không phải ngồi ở nhà tưởng tượng rồi viết những câu văn rỗng tuếch” (Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, t. III, 1958).

Sát cánh với các nhà báo thực thụ, một số nhà văn xem việc viết phóng sự như một bước quá độ, để chuẩn bị cho một trình độ mới của tư duy tiểu thuyết.  Ngô Tất Tố làm song song cả đôi công việc, nhắc tới ông, người ta vừa phải kể tiểu thuyết Tắt đèn vừa không thể bỏ qua cả Tập án cái đình lẫn Việc làng, Dao câu thuyền tá.  Tuy Nguyên Hồng chưa viết phóng sự bao giờ, nhưng tác phẩm đầu tay của ông, cuốn Bỉ vỏ, ít nhiều cũng có hơi hướng một cuốn phóng sự.

Nhưng người có biệt tài hơn cả trong việc tận dụng cho hết sức công phá của phóng sự, để hiểu đời, phơi trần sự đời, đồng thời không dừng lại ở nó, mà biết tựa vào nó để vươn tới những tiểu thuyết mới về chất phải kể là Vũ Trọng Phụng.  Dù có không ít giai thoại ra đời chung quanh cách viết phóng sự của Vũ Trọng Phụng; cuốn này là do ông trực tiếp quan sát chứng kiến, cuốn kia, do đụng chạm tới cái khu vực xa lạ với ông, nên khó lòng nói là ông đã trải nghiệm mà thực ra là ông nghe người khác kể lại, có điều cách khai thác của ông khéo léo quá, môi giới của ông đích đáng quá, nên không ai dám nghi ngờ.  Kể ra, xét về mặt thể tài thuần tuý phóng sự của Vũ Trọng Phụng đã là một cái gì rất chín, rất thành thục không chê vào đâu được.  Tuy nhiên, theo chúng tôi, sở dĩ nói Vũ Trọng Phụng đi xa hơn cả, so với nhiều cây bút phóng sự khác là ở chỗ trong khi miêu tả những sự đời ấy, ông biết làm cho nó lung linh lên, thật đấy, mà huyền hoặc đấy, ma quái đấy, những sự thực được ông khai thác đôi khi tưởng như riêng lẻ, cá biệt, song lại nói được bản chất sự vật.  Trong Cơm thày cơm cô, ông từng viết một đoạn có tính chất tuyên ngôn gọi rõ tên các chất liệu mà ông tổng hợp được trong tác phẩm: Những câu chuyện như thế thật là lạ lùng, không ai dám tưởng là có được (…) Mà, đứng trước những sự thật không đáng viết lên mặt giấy, ta phải hãi hùng kinh ngạc về loài người.  Tiểu thuyết kể những điều mà loài người bảo là không có thật.  Sự đời trái lại có những điều mà tiểu thuyết không dám tin…

Mỗi khi phân tích các tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng như Vỡ đê, Giông tố, các nhà văn học sử đều có nhận xét giống nhau, các tiểu thuyết này chỉ là những thiên phóng sự được tiểu thuyết hoá.  Đọc một đoạn văn kiệt xuất và mang hết được cái chất Vũ Trọng Phụng như đoạn văn ông tả cảnh Nghị Hách phát chẩn, người ta sung sướng nhận ra ngòi bút phóng sự quen thuộc của ông được phen tung hoành thoả chí.  Trong Vỡ đê cũng có một số đoạn như vậy.  Thế còn Số đỏ thì sao? Theo chúng tôi, kiệt tác này cũng đã bộc lộ một mối quan hệ ràng rịt với thể phóng sự: trước mắt chúng ta hầu như toàn bộ phần da thịt tức phần chi tiết của tác phẩm là do tác giả ghi chép được qua tiếp xúc với thực tế: từ các địa điểm xảy ra câu chuyện cho đến cảnh một đám tang, một trận thi đấu thể thao cũng là có thực.  Giá có quen biết riêng với tác giả, không chừng người ta còn có thể lần ra những nguyên mẫu của các nhân vật.

Tóm lại cái tài của Vũ Trọng Phụng là xây dựng sự thăng hoa tạo ra không khí có thoáng một chút ma quái bằng ngay những vật liệu thông thường khiến nhiều lúc người ta vẫn có cảm tưởng là mình được tiếp xúc với những trang phóng sự.  Điều này không làm hại tới chất tiểu thuyết, mà chỉ làm tăng thêm sức hấp dẫn của Số đỏ.  Từ trường hợp Số đỏ mà suy, càng thấy rõ ràng thể phóng sự đã là nhân tố đẩy tới sự phát triển chung của văn xuôi.  Có điều, sử dụng nó ra sao, thì mỗi nhà văn có một cách riêng.

Trong Nhà văn hiện đại quyển ba và quyển tư (dành để nói về những ngòi bút bấy giờ đang sáng tác), Vũ Ngọc Phan có sự phân công rành mạch: Quyển ba có 6 chương thì ông giành hẳn một chương cho các nhà viết phóng sự.  Nghĩa là ông cho thể tài này cũng cần có một vị trí ngang bằng với bút ký, ký sự lịch sử, biên khảo, kịch v.v…  Đi xa hơn một bước nữa, ông bảo: “Những nhà viết báo nổi danh nhất hoàn cầu đều là những nhà viết báo đã nổi danh về phóng sự; nhưng họ cũng lại là những văn sĩ có tiếng, những văn sĩ ưa sống một cách bồng bột và gần gũi với những cuộc sống luôn luôn thay đổi, nên họ mới đi vào con đường phóng sự”.

Khi bàn về ảnh hưởng của phóng sự đối với xã hội, Vũ Ngọc Phan cũng dành cho thể tài này một triển vọng to lớn: “Ở các nước người ta thường căn cứ vào những thiên phóng sự có giá trị để định lại pháp luật, sửa đổi hình phạt, cải tạo xã hội.  Những thiên phóng sự xứng với cái tên của nó đều có cái chức vụ giúp cho người đời trong sự đào thải và cải cách.  Người viết phóng sự chân chính bao giờ cũng là người bênh vực lẽ phải, bênh vực sự công bình”. Đọc lại những dòng này, người ta có thể dự đoán với độc giả đương thời, phóng sự có một uy thế khá lớn.  Mang nặng lối nghĩ lối sống của phương Tây, xã hội lúc bấy giờ lúc nào cũng có ý thức tự suy đoán, muốn soát xét lại chính mình, sẵn sàng phơi bày những thói tật vốn có để bảo nhau cải cách thay đổi.  Mà nền văn học đương thời đã đủ trưởng thành để gánh vác công việc xã hội trông đợi.  Bởi vậy, mặc dù là một thể sinh sau đẻ muộn – mãi tới những năm ba mươi, mới thực sự ra đời – song thể phóng sự đã có những tác phẩm ngày nay đọc lại người ta vẫn có thể say mê.  Đó là những Cơm thày cơm cô, Lục xì, Kỹ nghệ lấy Tây, Việc làng, Trước vành móng ngựa, Hà Nội lầm than, Tôi kéo xe,…  .  Đây không chỉ là những bằng chứng để người ta tin rằng khi có điều kiện, phóng sự lại sẽ nảy nở.  Đây phần nào đó còn là những mẫu mực, các cây bút phóng sự tương lai trông vào mà tìm cách phấn đấu để có được những phóng sự ngày một đậm đà sắc sảo hơn, nói chung là ngày một hay hơn nữa.                                                                                                     1993

Đã in Tạp chí Văn học, 1995, số 1


[1] Theo Lược truyện các tác gia Việt Nam t. II, 1972 và Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, t. V, 1978 [2] Việt nam văn học sử giản ước tân biên, Quốc học tùng thư, S. 1965, tIII, tr 318

Monday, June 21, 2010

Báo chí -- nơi lưu giữ những thể nghiệm của văn học

Từ  những đoạn văn bị bỏ  quên của Xuân Diệu... 

Là một hồn thơ tinh tế, biết ghi lại từng chút phân vân thấp thoáng trong lòng người, song Xuân Diệu cũng là một người lao động miệt mài, cả đời lo "mài sắt nên kim". Có một nguyên tắc chi phối cách sống làm việc của Xuân Diệu, nhiều người quen ông đã được chứng kiến - ấy là: đã viết ra cái gì, ông đều mong thu góp nó lại để từ những bài báo nhỏ gom thành sách.

Cũng bởi vậy, nên bản thân tôi không khỏi cảm thấy thú vị, khi thỉnh thoảng bắt gặp ở tác giả Thơ thơ cái hành động ngược chiều . Là tự tước bỏ những gì đã viết, tóm lại là một sự cố ý tự bỏ quên, có vẻ "không Xuân Diệu" chút nào hết. Sau đây là hai ví dụ: 

Sau Đại hội thành lập Hội văn nghệ Việt Nam (7-1948), Xuân Diệu có viết một bài tường thuật rất hóm, điểm mặt đủ loại anh tài có mặt ở Việt Bắc lúc ấy: "ngành nhạc có Nguyễn Xuân Khoát (Con voi hay Thằng Bờm?)... "Đỗ Nhuận như bẻ cong được những song sắt". "Bạn Nguyễn Tuân cái đầu to tát". "Văn Cao vóc người không cao"… 

Bài báo tuy ngắn song sinh động tới mức gần ba chục năm sau, năm 1977, Xuân Diệu còn lấy ra in lại vào tập Mài sắt nên kim. Và sau khi Xuân Diệu qua đời, bài viết lại được chọn in vào Tuyển tập Xuân Diệu, tập II. Có điều nếu so sánh bài in báo 1948 với bài lấy vào sách hồi sau, thì thấy chút sai khác nho nhỏ: Trong bản gốc, đến phần các đại biểu thảo luận về tính dân tộc trong văn học, sau mấy câu "anh em đều đồng ý: nghệ thuật phải dân tộc hoá, nhưng đều nhận rằng: tính cách dân tộc không phải là cái khung chết, mà luôn luôn tiến hoá thay đổi", còn có một đoạn sau này Xuân Diệu bỏ đi.  

Đoạn ấy có liên quan đến Phan Khôi: 

Nhân vấn đề dân tộc, cụ Phan Khôi lấy ca dao, dẫn chứng cho hai dân tộc tính Việt Nam: phản kháng và trào phúng. Giọng Quảng Nam rắn rỏi của cụ thêm ý vị cho những câu hát bình dân kỳ thú. Có mấy câu này, ít ai được nghe (có lẽ là tính đến thời điểm 1948 - V.T.N, chú), và tỏ tính cách hay sinh sự của vua quan:

Ngồi buồn  đốt một đống rơm

Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào

Khói lên  đến tận Thiên tào

Ngọc Hoàng phán hỏi: Đứa nào đốt rơm?” 

Cũng trên Văn nghệ, trong mục Tiếng thơ đăng ở số Văn nghệ bộ đội (ra các tháng 4-5/1949), Xuân Diệu điểm qua những bài thơ hay viết về bộ đội cho đến lúc ấy: Bức tranh sinh hoạt (Minh Tiệp), Đội biệt động (Hồng Chương) Viếng bạn (Hoàng Lộc). Và đây là đoạn viết về Nhớ Tây tiến của Quang Dũng mà khi in vào tập Tiếng thơ (1951), Xuân Diệu tước đi, nên sau này ít người biết: 

"Đến đây, tôi nói tới bài Nhớ Tây tiến của Quang Dũng. Bài thơ hơi buồn, có đoạn buồn lắm; tứ thơ không mới, có những câu văn hoa. Nhưng toàn bài rung rung như những giây đồng. Đọc lên trong miệng còn ngân âm nhạc. Cái cảnh miền Tây gian nan đặc biệt: bộ đội Tây tiến là một trong những bộ đội nhiều hy sinh. Đánh giặc đã đành, mà người với rừng núi còn tranh nhau ai thua ai được. Một bạn tôi lên thăm bộ đội qua thượng du Thanh Hoá, trên biên giới Lào Việt, kể rằng: "Núi giăng màn trùng điệp; một anh đội viên chỉ quãng chập chùng trước mặt, nói: - Một mình tôi phụ trách năm cây số núi”. Lên đến nguồn sông Mã, còn đâu là gần đồng bằng. Lúc mới đầu chưa quen thổ ngơi, nhiều chiến sĩ chết. Có lẽ cái rùng rợn buổi đầu ấp sâu vào tâm hồn tác giả. Những chiến sĩ lưa thưa giữa nghìn trùng rừng núi chắc cảm thấy mình "cheo leo chòi biên cương" cảm thấy mình lạc đời. Những anh con trai Hà Nội lên đến đây cạo trọc đầu, hay là sốt rụng cả tóc, người mặc áo chàm hay là mặt lây sắc lá, hay là ốm tái màu da; giặc sợ các anh như sợ hùm; nhưng các anh dù thế nào cũng nhớ Hà Nội cho được: 

Tây tiến  đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh mầu lá  dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. 

Bài thơ chỗ thì đẹp, chỗ thì ghê, man rợ rồi lại êm ái: đoạn sau cùng đầy những tiếng từ ly.(*) Những tên đất Sài Khao, Mường Lai, Pha Lương... ngân động. Đến cái tên Sầm Nưa thì câu thơ buồn mà hay quá: hồn đây là tâm hồn người sống nghĩ chuyện bên Lào: 

Tây tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây tiến mùa xuân  ấy

Hồn về  Sầm Nưa chẳng về xuôi. " 

... tới vai trò  "vào sổ" của báo chí 

Nói cho đúng ra, những đoạn Xuân Diệu bỏ quên như trên là có cân nhắc. Khi ông làm sách, đời sống văn nghệ đang có những điểm gọi là “nhạy cảm”, đưa các đoạn ấy là "không có lợi". Phải rứt ruột mà bỏ đi những đoạn đã viết, ông có tiếc. Nhưng nhu cầu an toàn lại là cần hơn. Và Xuân Diệu vẫn là Xuân Diệu, như chúng ta biết. 

Nhưng như thế không có  nghĩa là Xuân Diệu chưa bao giờ viết ra  hai đoạn văn trên. Ngược lại, tôi cho rằng trong những toàn tập tuyển tập Xuân Diệu làm hôm nay,  hai đoạn văn trên lẽ ra phải được lấy lại đầy đủ, hoặc ít nhất cũng phải ghi vào phụ lục. Chẳng những mang những ý tưởng từng thực sự là của Xuân Diệu, chúng còn cho thấy sự vận động  sự thích nghi của tác giả với hoàn cảnh.  

Chính nhìn vào những đứa con  đã bị  từ bỏ , người ta càng hiểu thêm  cái ông bố đã sinh ra chúng.   

Mọi cái nhất thời đều có khả năng gia nhập vào cái vĩnh viễn.

Chẳng những thế, có thể xem đây chính là những ví dụ cho thấy một vai trò của báo chí mà người ta hay quên: vai trò lưu trữ. 

Khi cầm trên tay tờ báo, nhiều người thường chỉ nghĩ thứ hàng tươi sống này sẽ nhanh chóng "bị vượt qua". Hôm nay tôi cầm số báo này, thì mai tôi cầm số khác. Và khi các số báo sau xuất hiện, nó sẽ làm cho số báo tôi đang cầm trên tay  chả còn ý nghĩa gì nữa. Báo chí, ấy là một cái gì phù du, sớm nở tối tàn. 

Cảm giác đó là đúng, có điều, không phải là phương diện duy nhất của báo chí. Trong khi phần chủ yếu trong số lượng in một tờ báo được mang bán lẻ - và sau khi đọc xong, người ta dùng làm giấy gói hoặc mang bán cân - thì một số nhỏ được dồn lại mang đóng thành những bộ sưu tập. Và từ nay, báo mới thật sống cái kiếp kỳ lạ của nó - những chứng nhân vĩnh cửu của lịch sử. Đó  là một cách để đời sống vào sổ những việc mình đã làm. Một ý tưởng cũng như một sự việc đã một lần được ghi trong một cột báo nào đó, tức là đã tồn tại vĩnh viễn. Có thể bị vùi trong quên lãng, nhưng không bao giờ nó chịu mất hẳn. 

Một  “trường” thể nghiệm             

Hoặc dưới hình thức sách in, hoặc dưới hình thức sách trên mạng, thời gian gần  đây các nhà nghiên cứu trong ngoài nước đã công bố  các bộ sưu tập lớn, từ Tao đàn, Thanh Nghị, Tri Tân tới tạp chí Tiên Phong, tạp chí Văn Nghệ ra trong kháng chiến chống Pháp.  

Nếu chịu khó phiêu lưu trong thế giới của các bộ sưu tập báo chí đó, người ta sẽ có thể làm được cái công việc rất khó khăn, là dựng lại bộ mặt lịch sử - lịch sử từng vấn đề cụ  thể cũng như lịch sử nói chung.

Riêng đối với các sáng tác văn học, việc nghiên cứu các dạng tồn tại lần đầu  của nó trên mặt báo rồi đối chiếu với bản cuối cùng, lại càng hứa hẹn nhiều thú vị.  Nhiều khi ở đây có sự sai lệch, và tạo nên những dị bản mà sự so sánh chúng với nhau có thể khiến ta biết thêm nhiều điều thuộc về sự thay đổi của bản thân tác giả cũng như mối quan hệ giữa tác giả và hoàn cảnh.  

Trước khi in sách các nhà  văn các thời trước thường cho tác phẩm của mình xuất hiện trên một tờ báo, để giúp cho tác giả lắng nghe dư luận và có quãng lùi để khách quan đánh giá lại “ đứa con tinh thần “ của mình. Lúc này báo chí không chỉ có vai trò một thứ bà đỡ với văn học mà còn đóng vai một trường thể nghiệm( chữ “trường” ở đây không phải nhà trường, mà ý nói một không gian được mở ra để dành cho một công việc mới mẻ nào đó).  Đó là một thứ phong tục tốt mà ngày nay có nhiều phần bị xao lãng.

(*) Cách nói “bài thơ viết về chiến tranh có một vẻ đẹp làm người ta ghê ghê , đẹp một cách man rợ…” là cách nói chỉ thịnh hành trước 1950, về sau không được phép dùng nữa. Từ ly là gì, chúng tôi sơ bộ tra một số từ điển cũ chưa thấy. Tạm đoán là từ giã và ly biệt, nhưng cũng thấy chưa thật ổn. 

Bài đã đăng báo  Văn nghệ 19-6-10, riêng chú thích (*)

chỉ mới đưa vào blog.  

Wednesday, June 16, 2010

Những tù nhân của lợi ích trước mắt

Triều Nguyễn nổi tiếng với việc cấm đạo. Người ta cắt nghĩa đó là tại Nho học đã thấm quá sâu, khiến vua chúa sinh ra bảo thủ. Nhưng một người tôi quen bảo có gì đâu, tại các bà phi tần cả. Vua mà đi lễ nhà thờ thì phải theo chế độ một vợ một chồng, và tam cung lục viện không biết chừng giải tán hết(?!). Nên các bà vừa nghe phong phanh đã không thích đạo và bảo nhau nằn nì xin vua cấm đạo bằng được.







Suốt thời trung đại Việt Nam không chế được ra thứ văn tự riêng của mình, trong giấy tờ hành chính trong trước tác và nói chung trong tư duy phải dùng chữ Hán. Chữ nôm sớm được nghĩ ra, nhưng ác một nỗi là phải giỏi Hán thì người ta mới giỏi nôm được. Tại sao có tình trạng đó? Cũng như trường hợp trên, ở đây có một cách giải thích mà tôi chưa chứng minh được, nhưng cảm thấy có lý: Chính các nhà nho xưa muốn thế. Nếu có một công cụ mới quá thuận tiện, ai cũng học được, thì còn đâu là đặc quyền của lớp người có học trong xã hội. Tìm ra thứ chữ dễ học? Trao cần câu cơm cho người khác à? Có đâu dễ thế!



Cài gì là động cơ thúc đẩy con người trong lịch sử? Chúng ta hay giải thích bằng những cái lý lớn: vì họ hiểu ra thế này, vì họ nhận thức được điều kia. Nhưng trong thực tế, nhiều khi lại chỉ thấy có những nguyên cớ rất thiết thực. Với phần lớn người đời, phải nói chúng ta thường xuyên là tù nhân của những lợi ích trước mắt.



Hai mẩu chuyện trên đây là bằng chứng cho thứ lý thuyết mà tôi vừa nêu. Nó có vẻ chỉ thấy con người ở góc độ chật hẹp. Nhưng sao tôi thấy nó đúng với nghĩa giúp tôi giải thích nhiều sự việc kỳ cục. Cả với nhiều chuyện hôm nay cũng đúng.



Như chung quanh câu chuyện gần đây thiên hạ hay bàn là vấn đề cải cách giáo dục.



Ai cũng thấy là giáo dục quá ư xập xệ. Không ngại mang tiếng ác khẩu, có người còn bảo là suy đồi là vô phương cứu chữa. Điều có thể nói chắc là, nói theo ngôn ngữ hàng hóa, thì một tỷ lệ lớn sản phẩm -- tức những thanh niên mà hàng năm chúng ta cho ra lò -- so với tiêu chuẩn hiện đại, chỉ là loại thứ phẩm, không đào tạo lại không dùng được.



Trừ người đã mất hết lý trí, tôi tin ai cũng thấy là cần phải thay đổi.



Nhưng thay đối thế nào bây giờ ? Liệu sau những năm chiến tranh, ai là người hiểu biết về giáo dục hiện đại để đề ra một đề án thích hợp? Rồi ngay cả khi có phương án đúng, thì lấy đâu ra tiền của để thực hiện ? Tiếp tục xếp sang một bên câu chuyện tiền của đi nữa. Ta sẽ có trường sở đàng hoàng. Ta sẽ có chương trình đi sát yêu cầu kiến thiết đất nước. Vâng, không thiếu gì cả. Thì tới câu hỏi cuối cùng, lấy đâu ra thầy và trò để lấp đầy cái nhà trường đó?



Và trước tiên, điều vướng mắc nhât, đó là những người bấy lâu trong nghề giáo dục -- các thầy các cô hiện nay -- sẽ đi đâu làm gì?



Đào tạo lại ư? Lâu nay họ đã là máy cái rồi, có thứ máy cái nào khác đào tạo họ được?



Đặt địa vị mình cũng là một người đang làm trong nghề, không muốn dối lòng, hẳn tôi phải nói rằng chính tôi ngại lắm! Chẳng phải chỉ các quan chức trong ngành muốn duy trì hiện trạng, mà ở chỗ thâm sâu trong lòng mỗi người, chúng tôi đều lờ mờ e ngại rằng trong mọi sự thay đổi, đâu có dễ tìm ra chỗ của mình.



Vậy thì kêu lên cho phải phép thôi, chứ bàn chuyện thay đổi đến cùng sao được!



Không ai tự nguyện chặt chân mình. Đời sống đã quá phiền toái rồi, không ai muốn tự làm phiền thêm nữa.



Ở đâu tôi cũng quan sát thấy sự có mặt của cái chân lý chết tiệt đó!



Như mấy ngày đầu tháng sáu này, kỳ thi tốt nghiệp phổ thông vừa được tiến hành trên phạm vi cả nước, báo chí phải có bài đánh giá. Trên tờ báo nọ, người ta thấy một bài phỏng vấn, một phóng viên hỏi có phải năm nay Bộ chủ trương tháo khoán không mà nghe thấy tình hình xuôn xẻ thế, rồi một quan chức của Bộ thì trả lời rằng đâu có, mọi chuyện được tiến hành nghiêm túc lắm, không có chuyện Bộ để cho địa phương làm đẹp kết quả.



Hẳn nhiều bạn đọc chỉ thoáng nghe qua là đoán được tình hình thực hư thế nào rồi. Nhưng tôi cho là phải thông cảm với vị quan chức kia mới được. Ai ở địa vị một quan chức đương quyền cũng phải nói kiểu ấy. Chứ “lạy ông tôi ở bụi này” để làm gì? Để chứng tỏ rằng cái Bộ của mình có tổ chức mấy kỳ thi cũng không nên thân à? Đốt đuốc giữa ban ngày cũng không tìm ra ai khờ khạo thế.



Người ta sẽ chẳng nói gì mới nếu bảo rằng trong khi ở ta, ai bây giờ cũng khôn ngoan cũng giỏi tính toán cho mình, thì trên con đường đi vào tương lai, cả xã hội lại đang bước những bước thật là dại dột. Ta đang cho thuê đất thuê rừng lấy vài đồng rẻ mạt. Ta đang khai thác bừa bãi khoáng sản để lấy tiếng là có xuất khẩu và có vốn liếng làm những cuộc hội hè tốn kém. Ta để cho bao nhiêu học sinh giỏi giang ra nước ngoài học bảo nhau không thể quay về vì quay về không có chỗ để làm việc… Như thế là tự mình đào móng ngôi nhà đang ở, mình chặt chân mình, chứ có gì khác. Cứ mỗi trường hợp có sự mâu thuẫn xung đột giữa hiện tại với tương lai thì chúng ta đều lấy tương lai hy sinh cho hiện tại.

  thesaigontimes Thứ Năm,  17/6/2010

Friday, June 11, 2010

Năm ngày trên đất Đài Loan



(Nhật ký du lịch)

22-5

Chỉ có mười người, lại toàn người già, năm mươi, sáu mươi, người già nhất đã tám mươi ba - đó là tình trạng của đoàn đi Đài Loan chúng tôi lần này. Du lịch Đài Loan quá mới mẻ và chưa hấp dẫn? Có thể thế lắm.

Sau này hỏi thêm, tôi được biết trừ vợ chồng tôi, các thành viên trong đoàn đều đã đặt chân trên rất nhiều xứ sở, có người đã đi tới 20 nước.



Lần này họ đi Đài Loan chẳng qua là để hoàn chỉnh thêm bộ sưu tập du lịch của họ.

Riêng chủ tâm của tôi lần này đi là muốn tìm hiểu thêm nền văn hoá Trung Hoa ngoài lục địa. Tôi đã làm điều này một phần trong những chuyến đi Singapore, Malaysia. Lần này, đối tượng khảo sát sẽ điển hình hơn( xin phép dùng chữ “khảo sát” cho oai. Đi nhặt nhạnh thêm ít tư liệu, thế thôi!)

+

Năm giờ chiều, giờ Đài Loan, chúng tôi xuống sân bay Đào Viên và ra cửa. Ngồi trên ô tô, nhìn ra chung quanh, ấn tượng lớn nhất là hình như chả có gì đập mạnh vào trí não của mình cả.

Sau khi đã đi qua Bắc Kinh, Thượng Hải, cảm giác của tôi, khi đi trên đất Đài Bắc, cũng tương tự như cảm giác sang Praha sau khi qua Moskva.

Từ cái khổng lồ đồ sộ, sang cái đời thường, cỡ quen với tầm mắt cách nghĩ của mình. Từ cái ham hố để khẳng định, thậm chí như là khoe mẽ, sang cái thanh thản, vừa phải. Nhà Đài Bắc 15-20 tầng là cao nhất, nhiều khi chỉ độ 10 tầng. Tỏa ra sau những đại lộ là những dãy phố nhỏ. Không có những vỉa hè thênh thang. Không có những hàng cây thật đều thật đẹp. Không thấy nhiều biển quảng cáo. Không thấy những ngôi nhà mới xây, pa-nô khai trương còn dăng đỏ chói.

… Nhưng chính vì thế, tôi cảm thấy dễ gần. Một dự cảm mách bảo tôi rằng không chừng đây sẽ là thành phố thân thiện.

+

Nhớ lăng Tôn Trung Sơn ở Nam Kinh. Tuyệt vời theo nghĩa vừa độc đáo, vừa hoàn toàn có thể hiểu được, và thật tương xứng với cảnh quan núi non chung quanh, đúng là khu lăng mộ mang tầm vóc quốc gia.

Khu kỷ niệm Tưởng Giới Thạch ở Đài Bắc không đẹp bằng. Nó gợi cảm giác có một cái xác quá to so với sức thu hút toát ra ngay từ lần gặp đầu tiên. Gian thờ chỉ gồm bức tượng, trông như những ngôi chùa từ thời Đường Tống mà năm ngoái tôi thấy ở núi Nga Mi.Toà nhà chính trông lại phảng phất phong vị Mãn Châu. Cũng mảng ngói màu xanh, tường trắng. Không có cái vẻ thâm u. Không gợi sự thiêng liêng xa vời. Nhưng chính vì thế lại mang lại cho người tới thăm -- dù chỉ lai vãng vài chục phút – một cảm giác gần gũi. Từ khu tưởng niệm ra phố, không cảm thấy hụt hẫng. Nói cách khác, cả khu tưởng niệm đã là một phần của đời sống người dân Đài Bắc.

23-5

Tự nhủ du khách sẽ hiểu về người Đài Loan, nếu hiểu thêm lịch sử của họ. Mảnh đất bị Nhật đô hộ năm chục năm trở thành nơi nương náu của một đoàn quân thất bại. Sự tự trọng đã làm cho họ trở nên đứng vững trong thế giới này.

Khi ra đảo, cái xã hội Dân quốc bị thu nhỏ lại. Không còn đất đai không còn thành quách di sản. Nhưng còn con người, trước tiên là những gì trong đầu óc con người và hiện ra ở sách vở , ở những hiện vật trong Viện bảo tàng Cố cung. Tức còn văn hóa, thứ văn hoá Trung Hoa cổ điển đã đồng hóa được những ảnh hưởng phương Tây từ đầu thế kỷ XX. Thứ văn hóa này, có thể nói , có trong dòng máu mỗi người. Trong thói quen sinh hoạt. Trong khao khát có mặt trên thế giới.

Trong bước đường cùng, thế là người ta vẫn có một cõi riêng để tiếp tục làm người. Đài Loan vì thế có lẽ là ví dụ nổi bật về sự có mặt và sức mạnh của văn hoá.

+

Đang từ một nơi phố xá chen chúc những xe, đến Đài Bắc sao thấy như là văng vắng. Dân số 23 triệu, mà xe ở Đài Loan đến hơn 4 triệu gì đó. Năm người một xe. Xét tỷ lệ thì hình như đã quá nhiều. Nhưng sự dư thừa đó không gây khó chịu vì người ta vẫn làm chủ được nó, không đẩy giao thông lên thành hỗn loạn. Nhất là là không gây cảm giác xe che lấp người, xe trở thành người, hỗn hào lộn xộn mà lại hung hãn cuồng bạo, như ở Hà Nội.

Xe trên đường không thấy có các loại hàng hiệu bóng lộn như vừa chở thẳng từ máy bay tới. Hướng dẫn viên cho chúng tôi biết: Do Đài Loan là một trong những cơ sở lắp ráp của Toyota và Nissan, nên xe chạy ngoài đường chủ yếu chỉ có hai loại này, rặt một màu trắng hơi ngà ngà, cốt được việc hơn là khoe của.

Họ bảo quản xe thế nào? Buổi sáng trong lúc chờ xe, tôi bắt gặp một phụ nữ để cái Vespa lên vỉa hè khoá lại, rồi bình thản rẽ vào nơi làm việc là một khách sạn ở một ngõ nhỏ gần đấy.

Người hướng dẫn nói với chúng tôi cứ để thế cả đêm cũng chẳng sao. ở đây không có chuyện hở ra một phút là mất cắp.

Tại sao như vậy? Tôi cho rằng, điều này không chỉ chứng tỏ dân Đài Bắc giàu, mà còn là dấu hiệu cho thấy đây là một đô thị có bề dày lịch sử.

Còn Hà Nội của chúng tôi, Hà Nội luôn luôn ở trong cái thế chưa hình thành. Lúc nào cũng dang dở nhốn nháo tạm bợ, thì làm sao có thể nẩy nở nên một cuộc sống an lành.

Trước mắt tôi là hai công chức trẻ đi làm. Họ ăn mặc giống nhau. Kiểu đồng phục công sở. Sự bình thản của thành phố cũng là sự bình thản trên nét mặt họ.

Nhìn họ thấy trở lại một cảm giác chung: Đài Bắc thì giống như Sài Gòn, còn Đài Trung thì giống như Quy Nhơn, Đà Nẵng trước 1975, cố nhiên có được nâng lên một chút. Cũng những vùng đất không có quá khứ, và con người nghiêm cẩn và khắc khổ sống để bắt kịp xã hội hiện đại.

Người ta buổi sáng yên tâm đi làm vì đồng lương đủ nuôi sống gia đình, vợ ở nhà cơm nước, con cái đi học, mọi nhu cầu đều thoả mãn ở mức tàm tạm.

Còn chúng ta hôm nay? Đi làm “bằng một tai”, còn tai kia phải nghe ngóng, xem có chỗ nào buôn bán thêm được, chỗ nào cần gõ cửa để chạy dự án, để xin học cho con... Mọi chuyện cứ rối tung cả lên vì con người luôn luôn không yên tâm. Luôn luôn có những con đường có thể giàu nhanh hơn, sang nhanh hơn, dù đó là con đường bất chính, song bây giờ với chúng ta chính tà có đâu phân biệt nữa, nếu ta không biết lo cho mình, thì chỉ có thiệt.

+

Một trong những đặc sản của Đài Loan là tắm nước khoáng. Những dãy nhà tắm mộc mạc. Các phòng chờ ken gỗ đơn sơ. Thành bể chỉ trát xi măng chứ không phải các loại đá hoa trơn bóng. Hình như loại nhà nghỉ này đã có từ lâu đời, và dùng cho mọi người, chứ không phải mới nhập khẩu từ nước ngoài để trang trí cho cuộc sống đám dân nhà giàu như ở một số vùng bên ta.

Mấy người cùng đi với tôi, nhân việc nhà tắm quy định phải bỏ hết trang phục, mới kể là Hàn Quốc cũng có chuyện ấy. Nhiều người Việt Nam đến đó không chịu, lấy cớ không hiểu ngôn ngữ cứ mặc quần lội bừa xuống nước. Rút cục cái sự bừa đi ấy cũng xong. Hai kết luận trái ngược:

- Dân mình tài lắm! Sáng tạo lắm!

- Tài gì, sáng tạo gì? Chỉ giỏi ngông ngạo, cứ người ta làm một đằng thì mình làm một nẻo, rồi lại bảo Việt Nam chúng tôi quen thế rồi. Khôn ranh đến độ nhưng cứ làm bộ thật thà, có ông lại e thẹn nữa, mới dễ lừa người ta chứ!

+

Chiều cả xe ghé vào một cửa hàng ăn. Thứ bẩy mà cửa hàng vẫn vắng chỉ có một hai bàn hoạt động, đâu như là các gia đình đến ăn thường xuyên, chủ khách đã quen nhau.

Hỏi ra mới biết, ngay ở các quán thuộc loại bình dân, người ta ăn uống vẫn khá lặng lẽ (ít ra là so với dân đại lục mà tôi biết). Nhưng đúng là dân Tầu, họ đều ăn rất khoẻ. Ở những quán tự chọn, họ lấy về những bát thịt to tướng quẳng vào nồi lẩu, rồi loáng một cái là hết.

+

Làm sao khác được, tôi cứ phải luôn luôn nhớ tới VN để so sánh!

Gia đình có dặn bọn tôi đi Đài Loan thì tìm mua cho một loại thuốc. Về sau nhờ người hướng dẫn du lịch xem đơn mới biết loại thuốc đại lục này, Đài Bắc không có bán. Nhưng trước đó bọn tôi ngồi trên xe đi ngang dọc thành phố và lúc ra phố chơi mới nhận ra đường phố Đài Bắc chỉ nhiều cửa hàng tạp hoá, hàng ăn, còn hiệu thuốc rất ít.

Lại nhớ ở các đô thị Việt Nam bây giờ mua thuốc khá dễ, phố nào cũng có một hai cửa thuốc chất đầy tủ.

Quảng cáo trên T.V. của mình hàng ngày thì đến gần nửa (có người nói hơn nữa) là quảng cáo về thuốc.

Nghĩa là người mình đang ốm đang bệnh nhiều. Ra khỏi chiến tranh đã bệnh tật đầy mình, lại cách làm ăn tổ chức ra một đời sống ô nhiễm như hôm nay, hỏi sao không bệnh?

24-5

Nghe hướng dẫn viên kể, Đài Loan sớm có đường sắt xuyên Đài, rất hoàn hảo trong đó có cả đường cao tốc 300km/h. Đường bộ cũng như mạch máu ôm trùm cả đảo. Đến đại lục bọn tôi đã ngạc nhiên vì mạng lưới giao thông quá tuyệt vời. Nay Đài Loan cũng vậy. Hoá ra, truyền thống làm đường là của người Trung Hoa nói chung (Trong khi đó, một người bạn từng đi du lịch Ấn Độ nói rằng bên Ấn đường xá rất kém, ra khỏi New Delhi, chỉ có những con đường nhỏ đủ cho hai xe xuôi ngược tránh nhau như của Việt Nam. Chưa kể là có khi vài chú bò bĩnh ra cả trên đại lộ.)

Trên đường đến Đài Trung nghe kể dân đây có một phong tục lạ - người già Đài Loan gốc đến 90 % ăn trầu (con số có chính xác?). Các cửa hàng bán trầu nằm dọc các con đường nhánh, ở các thị trấn. Các cô bán hàng đều trẻ, ăn mặc đến mức tối thiểu, chỉ gồm có hai mảnh che thân.

Một kiểu đua đòi theo kiểu Tây phương chăng? Không phải!

Người hướng dẫn để thoả mãn sự tò mò của chúng tôi, đã cho xe đi chậm lại, gọi mua hàng để cô bán hàng xuất hiện và một vài người hiếu kỳ trên xe lén chụp ảnh về khoe với ở nhà .

Nhìn gần hơn thấy ăn mặc cởi mở vậy, nhưng các cô không son phấn gì hết, nét mặt lại hơi buồn buồn .

Từ 1998, lần đầu qua đại lục Trung quốc, tôi đã nhận ra điều này. Là so với Hà Nội, thì ở Quảng Châu, Thượng Hải… tỷ lệ phụ nữ tô vẽ mắt xanh môi đỏ ít hơn hẳn.

Đến Đài Loan, lối sống này càng đậm nét. Vào các trung tâm thương mại lớn bọn tôi gặp rất nhiều thanh niên mà giờ đây hay gọi là tuổi teen, nhưng không người nào có lối trang phục thách thức bất cần như bên mình. Cũng không thấy có những thanh niên cắm những cái loa nhỏ vào tai, chân rậm rịch vừa đi vừa nghe nhạc.

Không thấy những gian hàng bán các đồ hàng hiệu. Ngay một trong mấy trung tâm lớn ở châu Á, trung tâm thương mại “Mộng thời đại” ở Cao Hùng cũng chỉ bán đồ do Đài Loan sản xuất – người hướng dẫn nhấn mạnh. (Chợt nhớ chợ đêm ở Hà Nội, chỉ hàng Tầu là nhiều. Ta với họ đúng là như thế giới đảo ngược của nhau).

+

Một điều thú vị với người Việt khi đi du lịch nhiều nước châu Á là được mặc cả. Không chỉ có cái máy tính nhỏ làm công cụ mà tòan bộ nét mặt cử chỉ hành động của nhiều người cùng đi với tôi ở mọi tua tôi đã tham gia đều toát lên một niềm tự hào. Chúng ta đều là những kẻ lõi đời… Mua bán ở đâu chẳng là chuyện rền rứ lừa lọc… Ta sẽ làm cho dân những xứ giàu hơn ta biết rằng người Việt kiên trì như thế nào sành sỏi như thế nào và quan niệm của người Việt về hệ thống giá trị là linh hoạt đến như thế nào.

Nhưng đến Đài Loan thì cái ngón nghề đó không tìm được đất dụng võ . Ở chợ đêm Phùng Giáp Đài Trung, hoặc Lục Hợp Cao Hùng, có việc giảm giá, nhưng mặc cả đã đã rất khó khăn. Đến khi ra phố mua ở các tiệm tạp hóa nhỏ bình thường thì chỉ có chuyện bán đúng giá. “Giảm giá cho dân du lịch một chút!” “ Cửa hàng nào cũng vậy, chúng tôi không được phép làm khác.”

+

Đền Văn Vũ ở Đài Trung có một cách kết cấu rất lạ, mà tôi chưa gặp ở Trung quốc bao giờ: đem Khổng Tử và Quan Công đặt chung trong một ngôi đền.

Ngoài cửa, hai bên tả hữu, có ghi rõ, một bên là Trọng Võ, một bên là Sùng Văn. Tinh thần này được thể hiện trong kết cấu ngôi đền. Phần thờ Khổng Tử được đặt cao hơn, với bức hoành phi Vạn thế sự biểu, giống như ở Văn Miếu Hà Nội.

Nhưng phần thờ Quan Vân Trường mới thật hoành tráng và hấp dẫn.

Đến chùa Phật Quang Sơn. Bức tượng lớn 40 mét bằng vàng không quan trọng bằng toàn cảnh ngôi chùa. Tôi gặp ở đây không khí một thắng cảnh văn hoá Trung Hoa. Thật vậy, mặc dù thiếu vẻ cổ kính, chùa Phật Quang làm tôi nhớ tới, chẳng hạn, Linh Ẩn Tự ở Hàng Châu. Một tinh thần nghiêm trang của đạo Phật đang ngự trị. Trong lúc lo chụp ảnh, một người cùng đi trong đoàn đã từng qua cả Ấn Độ nhận xét:

- Anh xem, trên các phù điêu tượng Phật này, mặt người nào cũng quá đẹp, cũng thuần hậu mà thánh thiện .

Còn tôi, thì tôi yêu ngôi chùa này, ở hai khía cạnh khác.

Một là những hàng chữ đẹp, đẹp một cách sâu đằm mà phóng túng, tương tự như thứ văn hóa thư pháp có mặt ở Cố Cung, Di Hoà Viên, ở các danh thắng Hàng Châu, Tô Châu, đất Giang Nam hoa lệ .

Hai là cảnh những người đang học ở học viện Phật giáo này đi lại trong khuôn viên ngôi chùa. Họ như đang sống trong một thế giới khác. Cả những người ngồi làm “công việc hành chính” ở các bàn thờ nữa. Thường họ nói khẽ đủ cho người nghe. Thành kính thiêng liêng toát lên từ nét mặt cử chỉ của họ.

Thoáng có ý nghĩ, đây có lẽ là cả một quan niệm về tu hành. Còn ở Việt Nam hôm nay, hình như trong nhiều trường hợp, đi tu chỉ là nhận lấy vai trò môi giới chúng nhân với thần thánh. Tu hành giống như một công việc mà không phải là niềm tin, là lẽ sống. Có đúng thế không hay do sự quan sát và tiếp xúc còn hạn chế của bản thân, mà tôi có ấn tượng như vậy? Cuộc sống phàm tục xô đẩy khiến con người trở nên vô duyên với những gì cao khiết chân chính.



25-5

Trước khi đi, tôi đã lên mạng, đọc sơ qua các tài liệu trên đó viết về Đài Loan. Cả những ghi chép cá nhân của một số bạn trẻ. Và bây giờ mang ra hỏi người hướng dẫn. Hoá ra sai nhiều quá, nghe tôi nói mấy người ngớ ra rồi cười .

Có bạn trẻ viết là Đài Bắc có một cửa hàng bán sách mở của 24/24.

Có bạn lại chụp cái ảnh Cố Cung, khiến tôi tưởng ở Thành phố Cảng này có một Cố Cung làm phỏng theo nguyên bản ở Bắc Kinh.

Toàn chuyện giời ơi đất hỡi!

Theo chương trình hôm nay chúng tôi thăm “Dòng sông tình ái”, nhưng trong không khí oi ả của chiều hè, đoạn sông đào này chả có gì là mơ mộng.

May quá, người hướng dẫn cho chúng tôi đã tìm ra một địa điểm thay thế là ngôi nhà lãnh sự quán Anh lập từ thời nhà Thanh cuối thế kỷ XVIII.

Nhớ lần qua Malacca, chỗ Malaysia giáp sang Singapore, cũng có một khu vực người ta xác định là dấu vết đầu tiên của người châu Âu trên mảnh đất xa xôi này.

Họ coi sự tiếp nhận với phương Tây đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử xã hội của họ.

Còn ở ta, ở Việt Nam, những chỗ ấy thường bị bỏ qua, thành hoang phế, hoặc để cho cái mới chồng lên cái cũ một cách bừa bãi.

+

Cũng như ở VN, bên ngoài các khu du lịch đại lục là hàng dãy các hàng bán đồ lưu niệm. Cả khu vực Phật Quang Sơn tôi không gặp. Khu vực Hồ Sen chỉ có một bà già ngồi lặng lẽ. Người ta trong lúc chờ đợi xúm quanh một ông già thổi kèn đồng. Trong tiếng kèn nghiệp dư, chất nhạc Đặng Lệ Quân vẫn toát lên gần gũi , đúng là cái vẻ trữ tình riêng thấy ở những bài ca thầm thì mà chúng tôi thường nghe trong đêm khuya.

Các đền miếu nơi đây chả đâu có hòm công đức. Hoặc là nếu bề ngoài hình như có thì nội dung khác hẳn. Trên đường vào đền Xuân Thu ở Cao Hùng, ở một quãng ngoặt cũng có đặt một cái hòm và có cả một bà già ngồi cạnh. Bà vui vẻ mời mọi người đặt vào vài đồng xu tiết kiệm nếu có, và để bù lại, bà đưa chúng tôi mấy tờ bưu ảnh. Còn ở một khu miếu gần đấy, anh bạn cùng đoàn ghé qua, thì sau khi đặt một khoản nho nhỏ tiền “công đức” như ta gọi, anh được nhận một cái vòng tràng hạt đeo tay, chắc là mua ngoài cũng khá đắt.

Tôi buộc phải dừng lại ở cái chi tiết này lặt vặt này vìkhông quên được cảm giác bên nhà. Vào nhiều đền chùa Việt Nam, những hòm công đức đặt trước chúng tôi như thầm vang lên những lời đe nạt:

- Có muốn yên lành tử tế, có muốn được trời phật phù hộ không? Liệu mà đóng góp vào đây đi!

Đằng này là một tinh thần hoàn toàn khác.

Đôi khi tôi muốn nói rằng trong nhiều trường hợp ở Hà Nội và các vùng chung quanh, nhiều người đã làm những công việc tôn giáo bằng một tinh thần phàm tục, bao gồm cả hợm hĩnh. Và tình thế xảy ra giống như một sự áp chế nhau. Tôi không tin đó là tinh thần hướng thượng chân chính.

26-5

Có một chi tiết tí nữa quên:

Hai bên đường cao tốc từ Đài Bắc qua Đài Trung tới Cao Hùng thỉnh thoảng chúng tôi cũng bắt gặp những nghĩa trang. Lạ một điều là mộ ở Đài Loan thường chỉ xây rất thấp, hàng gạch viền quanh mộ độ 20cm, bia đặt đầu mộ chỉ nhỉnh cao hơn một chút độ 30-40cm gì đấy, dù là trên đó, vẫn đọc được những dòng chữ Hán viết theo lối cổ.

Cũng lạ không kém là vào một cửa hàng kim cương, loại mặt hàng dành cho những người giàu. Các cô nhân viên bán hàng mặc thuần một mầu đen, loại vải thô xoàng xĩnh. Phải nhận là ở chỗ này, phụ nữ Đài Loan thua xa những người cùng giới bán hàng ở các cửa hàng trên Tô Châu, Hàng Châu. Hình như ở nhiều nơi khác - kể cả Hà Nội - chúng ta đã chuyển qua một xã hội tiêu thụ, mà ở Đài Loan thì vẫn chưa, hoặc chẳng bao giờ đi theo hướng đó. Nhũn nhặn, chắc chắn, người dân nơi đây vẫn chỉ có lấy công việc làm vui, họ bằng lòng với cái nhịp sống mà người ngoài như chúng tôi coi là khắc khổ.

Một người trong tua du lịch xướng lên:

-- Cốt sao cho dân được sướng.

Tôi muốn cãi lại:

_- Côt sao cho dân làm việc thì lẽ tự nhiên là có tất cả kể cả sự sung sướng

Cảm tưởng về một sự thiết thực cần mẫn khắc khổ cũng trở lại với tôi khi ra sân bay Cao Hùng để trở về Hà Nội. Đọc các tài liệu hướng dẫn, đã thấy nói Đài Loan là điểm dừng thuận lợi của các chuyến bay từ Âu Mỹ sang châu Á, song các sân bay ở đây chỉ gợi cảm giác là tiện dụng, không có những khoảng không to lớn choáng ngợp, không có những mảng trang trí với đường nét độc đáo…mà tôi thấy, chẳng hạn ở Phố Đông Thượng Hải.

Nên nói thêm là trên đường tới các điểm tham quan trong mấy ngày vừa qua, chúng tôi ít gặp khách du lịch Âu Mỹ. Không có những đám Tây ba lô lợi dụng giá cả rẻ và một sinh hoạt buông thả đến tìm nơi hành lạc, Đài Loan hôm nay chủ yếu chỉ có khách từ đại lục ra. Hình như họ đến để hiểu rằng có một Trung Hoa khác họ, mà vẫn làm cho thế giới vì nể. Có thể nhận biết đám khách ở đại lục ra qua cái nhìn tò mò và một chút gì hơi thô trong cách nói năng đi lại của họ. Người ta bảo đông nhất là khách từ Quảng Đông, Phúc Kiến. Trông họ lập tức tôi liên tưởng tới các thím khách mà tôi thấy ở phố Hàng Buồm hồi trước 1954.

+

Tôi đã nói rằng đến Đài Loan để tìm hiểu thêm về văn hoá Trung Hoa ở một điểm mà nó như bị dồn ép, bị bứng từ nơi này qua nơi khác, như người ta bứng một bồn hoa, một chậu cảnh.

Khía cạnh bảo thủ rõ nhất thấy ở nơi đây, là vào các hiệu sách, thấy sách in ra chủ yếu vẫn theo lối in dọc từng cột chữ không phải theo lối in ngang đã phổ biến khắp nơi.

Đọc thư mục một cuốn sách, đáng lẽ ghi là in năm 1984, thì người ta lại đề là năm Dân quốc 73.

Đi sâu vào cách nói cách trình bày của sách vở, thấy vẫn nhiều từ ngữ, nhiều câu cú rộng ra là nhiều phương thức biểu hiện người ta thấy ở nước Trung Hoa thời Lỗ Tấn, chứ không phải Trung Hoa đại lục hôm nay.

Có một nhận xét bất chợt đến trong đầu tôi, Đài Loan giống như một phòng thí nghiệm ở đó có sự kết hợp giữa văn hoá Trung Hoa và văn hoá phương Tây, một sự kết hợp nhuần nhị, chắc chắn, bền vững… Nhưng thôi vấn đề lớn quá, tôi xin tạm dừng lại chờ khi khác nghĩ tiếp.

Thursday, June 10, 2010

Cùng tìm hiểu lại tiếng Việt

Làm cha làm mẹ thời nay hẳn ai cũng ngại ngùng khi con cái nhờ giảng cho một đôi điều thắc mắc từ sách tiếng Việt mà chúng đang học . Trong nhiều trường hợp chúng ta chỉ có cách quát bọn trẻ “ thì nó là thế chứ còn là gì nữa mà phải hỏi lắm hỏi nhiều “

. Sở dĩ như vậy một phần là vì chính chúng ta cũng dùng tiếng Việt một cách cảm tính ,trong giao tiếp ta bằng lòng dừng lại ở cái yêu cầu tối thiểu cốt mình nói có người hiểu kể cả hiểu ngầm với nhau cũng được , mà chịu không sao cắt nghĩa nổi tại sao mình nói như đang nói hàng ngày . Nhưng ở nước nào cũng có môn học chuyên lo dạy tiếng mẹ đẻ cho các học sinh nghĩa là cố gắng mô tả thứ ngôn ngữ mà ai cũng biết dùng kia theo những quy luật mà một số nhà nghiên cứu thử tìm cách rút đúc và khái quát . Có thể là những quy luật ta giảng hôm nay chưa hoàn toàn chính xác nhưng trên đường tìm tới chân lý cuối cùng người ta chấp nhận những giả thiết để làm việc . Tình trạng nghiên cứu tiếng Việt ở ta là như vậy , và điều đáng mừng là vào những ngày này , không khó khăn lắm người ta có thể tìm được đủ loại sách viết về ngôn ngữ . Có cuốn bao quát cả chủ đề lớn Ngôn ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội hoặc Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt . Có cuốn bàn về những ngành hẹp trong ngôn ngữ như Phong cách học tiếng Việt hoặc chỉ đi vào một khu vực riêng như Ngôn từ và nhóm xã hội ,Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống , Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt hiện đại ,Sử dụng từ ngữ trong tiếng Việt ( thú chơi chữ ) , Chuẩn mực hoá và công thức hoá cấu trúc câu văn v...v..Liệu những kiến thức này đã phản ánh đúng quy luật của tiếng Việt ? Liệu chúng có thể giúp các bậc cha mẹ giúp đỡ con cái trong việc học hành ? Chưa chắc .Trước một thực thể phức tạp và đang bị dùng bừa viết ẩu như hiện nay thì cáí việc gọi là lập lại kỷ cương có lẽ là còn cần đến hàng núi sách . Tuy nhiên ,có thể nói xã hội đang bắt tay vào làm những việc cần làm và mỗi người chúng ta bên cạnh các loại báo thể thao , các loại tiểu thuyết dịch ... , nên tính đến việc thử đọc thêm những cuốn sách này . Không ai có thể lảng tránh một phương tiện giao tiếp thiết cốt như ngôn ngữ . Càng để nó trở nên rối rắm thì chúng ta càng khổ vì nó.

Monday, June 7, 2010

Ghi chép hàng ngày(3 )

20-5

      Tự nhiên nhớ  một chi tiết trong Số Đỏ. Cô Tuyết thiếu nữ tân thời  muốn từ chối một đám nhà quê mà mình không thích, cô chỉ mong được liệt vào hạng hư hỏng để tự do hành động.



      Nghe mà thấy thương. Tuyết thật thà quá!  Nhiều người chúng ta hôm nay ở một trình độ hơn hẳn. Vừa thích tiếng vừa thích miếng. Cứ sưng sưng làm chuyện bậy song lại đòi giữ bằng được cái danh hão là sự đứng đắn của mình. Cho mỗi chúng ta khỏi nỗi lo của các nhân vật thời Vũ Trọng Phụng, đó chẳng phải là tinh thần giải phóng mà thời đại mang lại ?

27-5

     Giới thiệu triển lãm Expo Thượng Hải, một mạng nước ngoài nói rằng gian hàng của Việt Nam bày biện rất  đơn sơ và một số khách Trung Quốc nói họ  vào gian này vì không phải xếp hàng. Nhưng xem xong, họ thú nhận là không hiểu Việt Nam muốn đưa ra thông điệp gì qua triển lãm.

      Sao mà họ bắt vở mình tinh thế ! Quả  thật là  nhiều  người ở ta hôm nay không biết mình là gì và mình muốn gì nữa,  ngoài sự khẳng định mình vẫn tồn tại và mình không kém mọi người .

1-6

     Thói quen một người làm báo khiến tôi không thể bỏ  qua mà không suy nghĩ về cái ngày được gọi là ngày thiếu nhi quốc tế này. Tôi muốn nghĩ về trẻ và mối quan hệ người lớn và trẻ thời nay .

     Nhiều bạn bè và người trong họ đi làm ăn ở nước ngoài về thường chung một nhận xét là trẻ ở VN hôm nay hư quá và người lớn thì không biết dạy trẻ.

      Tôi nhớ là thuở nhỏ ở trong gia đình, bọn trẻ chúng tôi nhìn người lớn với một sự  kính trọng sâu sắc. Thường cả ngày bố tôi mới nói với tôi vài lời, nhưng chính vì vậy những gì ông già dặn dò làm tôi không thể quên. Chỉ thỉnh thoảng ông mới tỏ ý thân tình tỏ ý săn sóc tôi và những lần ấy tôi xem như một đặc ân.

     Còn người lớn chúng tôi bây giờ suốt ngày để  ý đến trẻ đến mức làm chúng mệt nhoài.  Khá phổ biến là tình trạng đang nghe bố mẹ răn dạy thì chúng bỏ đi. Khi cần xin xỏ cái gì đấy chúng mới “ chiếu cố “ đứng nghe bố mẹ nói.

    Một người tôi quen đã ngoài bẩy mươi khái quát: Lúc nhỏ tức là dưới mười tám bọn trẻ bây giờ nó như bố mẹ mình. Đến lúc trên dưới ba mươi ra đời làm ăn  nó như  là bạn mình.

    Về già tức là trên dưới năm mươi nó  mới biết thương bố mẹ và lúc ấy mới thật là con mình.

     Xin hẹn một dịp khác sẽ cắt nghĩa tại sao mối quan hệ người lớn trẻ con hôm nay lại biến tướng kỳ lạ như vậy. 

5-6

     Trên VNN hôm nay có một bài nói rằng ở TP HCM hiện nay có một số sinh viên thường lên chùa để tìm thấy nơi yên tĩnh về tâm hồn. Họ nói rằng tới đó để giải thoát cho mình khỏi những khó chịu bực bội hàng ngày. Sau khi ngày đêm sống trong cảnh  thiền thanh vắng và trò chuyện với các nhà sư có hiểu biết, trở về với đời sống bình thường, họ yêu  thương mọi người hơn và ham sống hơn.

      Đọc thấy thú quá. Lâu nay tôi vẫn nghĩ  trước khi “ bước những bước đầu trong cảnh trần gian “’— thơ của Thế Lữ hồi Thơ  mới-- các bạn trẻ cần có thời gian lùi lại tự mình đối diện với mình suy nghĩ chiêm nghiệm về cuộc đời nói chung. Nghe nói ở bên Lào bên Thái Lan có phong tục thanh niên trước khi bước vào đời buộc phải lên chùa sống vài năm. Không biết bây giờ còn phong tục đó không?

     Cứ ngỡ ở VN bây giờ chả ai tính tới chuyện đó. Hóa ra tự nó đời sống đã tìm được những thể nghiệm cần thiết.

-- Xã  hội trước kia trì trệ chậm chạp thì người ta mới có thời gian bình tâm đứng tách ra mà  nghĩ về đời như vậy . Chứ thời  đại tên lửa hiện nay bắt chúng tôi hy sinh vài năm  để chết chúng tôi à? --- Chắc hẳn sẽ có  người phản đối .

   Trong phạm vi những chuyện bàn phiếm với nhau,  tôi tạm có một ý để cãi lại:

-   Chính vì cuộc sống lôi ta đi nhanh quá mà ta lại càng cần có thời gian tách ra để nghĩ về nó. Mọi dự tính vượt lên trên sự thông thường phải đến với người ta từ trẻ. Còn như lúc nào trở lại với đám đông chả kịp.

Wednesday, June 2, 2010

Ghi chép hàng ngày (2)

16-5
  Mua Nietzsche và triết học. Nguyễn Thị Từ Huy dịch, Bùi Văn Nam Sơn là người hiệu đính và viết giới thiệu.
   Đây là  một câu của Levi- Strauss, BVNS dẫn ra từ một cuộc phỏng vấn( tr. XI)
   “Tôi tin rằng tất cả mọi bi kịch mà chúng ta đã nếm trải từ chủ nghĩa thực dân đến chủ nghĩa phát xít với các trại tập trung hủy diệt con người, không hề đối lập hay mâu thuẫn với (cái) chủ nghĩa tự gọi là nhân bản trong hình thức mà ta thực hiện nó mấy thế kỷ vừa qua, trái lại, tôi muốn nói rằng chúng hầu như là những hệ quả tự nhiên mà thôi. “.
     Thông thường người ta nói những chủ nghĩa thực dân chủ nghĩa phát xít là đi ngược lại chủ nghĩa nhân bản chứ gì? Nhưng, ở cái dạng hôm nay, nghĩ kỹ chúng thuộc về một hệ thống. Nói chúng là “hệ quả tự nhiên” của nhau tức nói chúng đẻ ra nhau? Tôi hiểu ý Levi- Strauss muốn nói tới một nghịch lý như thế. Ông dường như muốn gợi ý về một thứ chủ nghĩa nhân bản với nội dung khác đi, không như chúng ta quen nghĩ và chúng ta phải cùng đi tìm.
    Tôi cũng thấy tình trạng đó có ở VN. Nhân dân, dân chủ, tự do, nhân bản…Phải chăng các khái niệm ấy đang được ta tiếp nhận một đằng trong khi thực chất chúng đang đi theo một nẻo khác kia. Cách hiểu của chúng ta là cách cũ. Cần phải thay đổi. Nhưng ai khởi xướng và liệu có ai ủng hộ?
     
     Chỉ cần đọc mục lục đã muốn đọc cuốn Nietzsche và triết học này rồi. Đây là cái mục lục đó.  Chương I:Bi kịch; ch. III Phê phán, ch. IV Từ phẫn hận đến mặc cảm tội lỗi, và ch.V Siêu nhân: chống biện chứng pháp.
18-5
   Thiên là trời địa là đất – đó là mấy câu mở đầu cungTam tự kinh. Lối nói vần vè mang trong mình nó cả một thông báo về cách học chữ Hán của người Việt. Ta mải học âm hơn là học chữ. Không biết rằng chữ Hán có rất nhiều từ đồng âm. Cũng không biết rằng một từ có nhiều nghĩa. Chẳng hạn bên cạnh chữ thiên là trời lại còn chữ thiên là thay đổi (trong biến thiên, thiên  di); trong trường hợp thiên là trời, bên cạnh nghĩa ấy, nó còn được dùng với nghĩa là ngày (minh thiên là ngày mai, kim thiên là hôm nay).
    Sự thiếu hiểu biết này dẫn tới những chuyện hy hữu, đại khái một tiến sĩ ngữ văn học ở Pháp về nhất định cãi tự sự là chỉ kể chuyện mình. Vì bà chỉ biết tự là riêng mình. Nhưng chữ Hán có mấy  chữ tự nữa,  tự là chữ, tự là chùa, tự là riêng mình, tự lại là kể ( mỗi chữ tự ấy viết một kiểu riêng)…
     Các nước khác người ta đều tư duy trên dạng chữ  viết ra.
     Hồi đầu thế kỷ XX, khi mới dùng chữ  quốc ngữ rộng rãi, để phiên âm một số  khái niệm mượn từ chữ Hán, người viết báo luôn luôn phải ghi mặt chữ Hán bên cạnh để cho người đọc khỏi nhầm.
     Lối tư duy thuần túy trên âm chỉ có ở ta từ khoảng những năm sau 1930 trở đi, và ngày càng phát triển vô tội vạ. Chưa hiểu hết nghĩa của từ người ta đã dùng, kệ cho sự giao tiếp rơi vào  tình trạng hỗn loạn.
      Hôm nay tôi kể chuyện này vì, nhân đăng ký  đi du lịch  Đài Loan, lấy về mấy tờ giới thiệu nội dung chuyến đi của các công ti lớn, thì thấy chỗ nào đáng phải viết tham quan thì người ta đều viết thăm quan.
      Đã có lần tôi nói với một nhân viên Saigontourist là viết thế sai đấy, phải nói như ngày xưa mới đúng. Nhưng chả ai buồn nghe.
       Tìm hiểu thêm thì được biết cả những người có vai vế trong xã hội  – chẳng hạn trong phạm vi tôi quen, một nhà văn trẻ nổi tiếng, đã được mời đi Mỹ -- cũng ủng hộ lối viết thăm quan này.
       Thăm mới có nghĩa chứ sao lại là tham? Thế  anh không biết rằng tham trong tiếng Việt là tham lam càm quắp, và hiện nay hai chữ  tham quan đã  được dùng riêng để chỉ các công chức ăn hối lộ à. 
       Tôi có tra lại một số từ điển và thấy rằng chữ tham quan với nghĩa quan lại tham nhũng thường thấy ghi ở các từ điển cũ ở miền nam trước đây, như từ điển Đào Văn Tập, từ điển Thanh Nghị. Còn Từ điển Văn Tân in ở miền Bắc trước 1975 đã cắt nghĩa tham quan là “ xem xét một nơi nào “.
   Từ  điển Hoàng Phê mới nhất ghi cả hai nghĩa, kèm theo hai chữ tham và hai chữ quan viết khác nhau trong chữ Hán.
  Một chữ  tham là dự phần và một chữ tham là  ham muốn quá đáng
  Một chữ  quan là xem xét và một chữ quan là viên chức.
Cả bốn chữ  đều gốc Hán.
  Theo chỗ tôi tra được hiện nay thì không có từ điển tiếng Việt nào có mục từ thăm quan cả.
    Các từ điển Việt Anh, Việt Pháp, Việt Hán…  cũng vậy.   
    Điều  đáng nói là khi giảng cho tôi như trên, những người chủ trương thăm quan tỏ ý rất tự hào là họ đã trở về với tiếng nói dân gian, bảo vệ yếu tố thuần Việt trong ngôn ngữ ( thăm nom và quan sát , hay bao nhiêu).
   Và  đọc trong ý nghĩ thầm kín của những người ấy, tôi thấy còn có cả niềm tự tin ghê gớm. Tin rằng tất cả các từ Hán Việt vốn có nghĩa gốc ra sao, tại sao ta lại nói như thế --- không cần biết. Cứ dùng đại đi, nó là của mình rồi! Thậm chí không việc gì phải nói theo người xưa cả, cứ theo cách hiểu của mình hôm nay mà đặt ra chữ nghĩa mới. Một sự sáng tạo đã diễn ra chăng? Trong bao nhiêu việc khác đã thấy có kiểu sáng tạo này rồi, giờ nó vào trong ngôn ngữ có gì là lạ!