Wednesday, November 28, 2012

Một ít tư liệu về Dương Nghiễm Mậu ghi từ báo chí Sài gòn trước 1975




Về bản thân và về nghề văn





DNM trả lời phỏng vấn Thời
tập
1974


--Khung cảnh tôi đang sống là
một thành phố nháo nhác, trong đất nước có chiến tranh và một thế giới náo
loạn, mà tôi bắt buộc phải biết đến.




--Thiên nhiên đóng vai trò thế
nào với anh?


-- Làm sao để người ta sống
trong một gian phòng chỉ có những bức tường. Một cỗ áo quan chỉ dành cho người
chết.


-- Không lẽ người ta chỉ say sưa có chừng đó? Rượu, thiên nhiên, người
yêu


 -- Còn có những thứ say sưa khác nữa chứ, ví
dụ như làm loạn chẳng hạn...


---Thành công và thất bại?


Tôi thấy tôi chưa bao giờ đạt
tới cả hai. Tôi không có nghề, tôi chỉ có nghiệp, đã là nghiệp thì làm sao tính
sổ. Điều tôi thường nghĩ là tiếp tục.


-- Có tin kiếp trước và kiếp
sau
?


            -- Tôi tin có và kiếp sau tôi vẫn
muốn làm nguời





Có một thời còn đầy hy vọng


  Tác giả trả lời phỏng vấn của Khởi hành  1969 về  tuổi 20   


[kể chuyện một đứa em 20 tuổi biết hết mọi chuyện, nhìn ai cũng thấy xấu]


Nghĩa là nó không còn coi cái
gì ra cái gì cả. Xấu tốt thực giả ngang nghĩa với nhau. Nhưng rồi có lúc nó lộ
ra rằng nó không muốn như thế, nó cũng muốn có một cuộc sống khác.


[Ghi lại tâm sự thanh niên]  Chúng tôi không thấy những thần tượng. Chỉ đầu hôm sớm
mai con người sự việc trước mắt đã đổi khác khiến chúng tôi nghi ngờ, mất tin
tưởng.


 Có hư không ? Có. Tại hoàn cảnh





Với lương tri người trẻ tuổi nào cũng mong
tìm thấy cho mình và cho mọi người một đời sống đáng sống. Bộ mặt thực của thế
hệ 20 ở Việt Nam năm 1969 không phải do cái bề mặt giả hình của nó, mà nhiều
người trẻ tuổi khoác lên mình hay người ngoài nhìn vào thấy. Có thể nói bộ mặt
đó bi quan nhưng rất tin tưởng.





Nhận xét của các đồng nghiệp


 Du Tử Lê : Dương
Nghiễm Mậu, trước sau chói gắt ý thức chọn lựa tự do, nhân bản


Nguyễn Đình Toàn:[Trong truyện DNM] người ta
sống và bị bao vây bởi dĩ vãng, -- một thứ dĩ vãng chồng chất và không kiểm tra
được.


Không kiểm tra được nhưng nó vẫn có đấy và đẩy biên
giới là hiện tại tới một tương lai không hề biết trước





Mai Thảo ( Văn số 3-6-1974)


 Chúng ta đọc và yêu Duyên Anh.  Vì lối viết thao túng quẫy động. Vì năm tháng
trong tiểu thuyết Duyên Anh là những năm tháng đẹp nhất của cả đời người.

trò chơi sảng khoái của chữ nghĩa vẫn là trò chơi của trí nhớ. Mặt này Duyên
Anh vô địch.


Chúng ta đọc, yêu Dương Nghiễm Mậu. Vì phong cách
nghiêm túc. Văn học ta nhiều bất trắc thiết yếu phải có những nhà văn chủ lực vững
vàng trong ý thức độc lập từ tâm hồn. Như Dương Nghiễm Mậu.





Viên Linh về DNM trong Khởi hành





Biến động, ở đó phải có DNM.


Vỡ vụn, đó là nhan sắc của Mậu.


Gào thét, phấn đấu…. DNM hiện diện tràn dầy trong một
người không ngừng thao thức, hy vọng, những hy vọng huỷ hoại và tái tạo.


Trong một đoạn văn DNM viết “chúng ta  ti tiện nhỏ mọn, thù hằn, phân tán, vị lợi,
chia rẽ.”





Viên
Linh đọc Đêm tóc rối , bài in trên Nghệ
thuật


Nhân vật của DNM là những
người trẻ tuổi bị đè nặng bởi quá khứ về mặt tinh thần, và bởi tương lai về mặt
trách nhiệm.


… Nhân vật DNM là người tù
giam lỏng.


Trong lúc bước đi, anh nghĩ
chắc chắn rằng ở đầu đằng kia có một bức tường, phía sau anh nhất định không
thể quay trở lại và hai bên tả hữu anh là hai cánh che, anh là con ngựa đi một
đường thẳng
.


Tôi lạnh lưng trước gương
mặt lố lăng của một thời đại mà chừng như mọi người đều biết rằng mình đều lố
bịch đều làm hề, và nó khởi từ một vô vọng án ngữ phía đi tới của mọi người.


-- Anh có thích đi tới một
nơi thật xa không?


--Thích chứ, nhưng người ta mấy
ai có quyền làm được theo ý thích.


Anh sinh ra trong phá hoại,
anh trưởng thành trong đổ nát, và anh phải sống, phải suy tưởng, phải xây dựng.


Khi đọc DNM cũng như đọc
thơ văn của bạn bè, tôi nhận ra chúng tôi không có một thời thơ ấu. Không có
những yêu thương.








Nguyễn  Nhật Duật đọc Quê người , bài trên Khởi
hành
1971


Nhân vật của DNM toàn khổ
hạnh lầm lũi, câm nín, với kiếp sống lam lũ, với cảnh đời thất tán, với mảnh
đời buồn tủi và tang thương trước mắt


Không khí oi bức, u uất,
ngọn điện vàng yếu có những xác chết nhớp nhoá. Nhân vật không có tên, tất cả
là nặc danh, người đàn ông thì gọi theo chức phận ông anh ấy. NgVB. Nguyễn Thị
S. Một thế giới gồm những đơn tử đồng loạt, một đám đông nặc danh đúng nghĩa.


Văn tác giả khác văn phóng
sự.


Trong sự lặng nghe kinh
nghiệm và cảm thụ đời sống, tác giả Quê người bị chi phối bởi những giác
ngộ tê tái với nỗi tang thương của kiếp người trong thời thế này.


Sự diễn tả của DNM luôn
luôn sáng sủa, đơn giản, khô khan và giữa những câu văn, thường lộ rõ sự trống
trải, lạnh lẽo, sự chặt đứt, tách rời.


Văn DNM không phải thứ văn
xuôi có chất thơ.


Nhưng giá trị bút pháp này
là ở nhịp văn uyển chuyển, nhẹ nhàng, và phong phú, những nhịp biến hoá
này hấp dẫn người đọc một cách vô thức
.





Một câu trong Truy tìm kẻ mất tích


Tấm màn kéo lên cùng với
tiếng reo hò của vạn vật. Tôi nhìn xuống thấy đủ loài muông thú. Những con rắn,
con hổ, con chim cú… Tôi nói cám ơn quý vị, thật đau buồn rằng chiến tranh đã
kéo dài quá lâu và tôi lại là kẻ sống sót. Tôi không muốn vậy.


           


              Không có một quê hương yêu dấu, các nhân vật của Quê
người
cũng đồng thời không có bản ngã. Mỗi kẻ lặng lờ, khép kín như một đơn
tử chết. Sống trong một câm nín. Những câu đối đáp mang vẻ dở dang hay lẩn
tránh nhau, rách rẽ nhau, những lời lẽ đứt đoạn, rời rã giữa cha con, vợ chồng,
thân thuộc, thảy đều không biểu lộ nổi một ứng chịu, một thoả tính nào hết. Mỗi
người sống với niềm bí mật của mình, niềm bí mật không thể nào giải toả được.
Và mỗi người đều mất hút trong dòng đời biến chuyển, trong cuộc sống chung nhàm
chán và trống rỗng. Người sống lặng lẽ và cái chết cũng thầm lặng.








Độc
giả Khởi hành viết về DNM


*Nhân vật của Bếp lửa [ của Thanh Tâm Tuyền ] soi sáng
cho người đọc cái tâm thức mờ mịt trong đời sống tối tăm này.


Về
DNM, ta bắt gặp hình ảnh của những kẻ sĩ bó tay trong một xã hội băng rã.  Phong thái 
nhân vật của ông nửa anh hùng, nửa ăn cướp.


DNM
hiểu được phần nào tâm trạng của những người trẻ tuổi ưa suy nghĩ, thích hành
động nhưng sớm chán nản trước thời cuộc.





*DNM nói về những trường đã
lớn lên trong cuộc chiến tranh khốn khổ và nhọc nhằn này. Nhân vật của ông sẽ
ngơ ngác nếu như hắn sung sướng.


Con
đường nhân vật chính xoay sở là con đường cho một hạnh phúc tầm thường nhưng
khó khăn, miễn là ta can đảm nhận chịu.


Ý
niệm cơ bản ở anh: lấy phó mặc làm tiên thiên.





*Một bạn đọc (KH 13-4-72)


Thế
Uyên  diễn tả được trọn vẹn cái bất đắc
dĩ của người lính trí thức, cái dằn vặt của những sinh hoạt thường nhật.


 Còn ông(DNM), tôi thích ông vì ông thực tế,
thực tế trong ý thức và thực tế cả trong cuộc đời. Bút pháp diễn đạt ngay tình không
vị nể, gò bó trong khuôn khổ.


Tôi
đọc ông trong Vấn đề, trong Văn, những tác phẩm đó là nỗi khốn cùng,
nỗi tình cờ và bất ngờ nhất.








Phê bình Cũng
đành


Vị trí con người dưới mắt Dương Nghiễm Mậu


Đặng Tiến Bách khoa số 154





1.
Con người từ chối hiện tại trong Niềm đau nhức của khoảng trống


Hạnh
có một cái bướu. Người yêu không chịu được. Nhưng Hạnh cắt bướu đi. Bị ung thư.


Theo
ĐT: Cái bướu của Hạnh làm bằng một dĩ vãng mồ côi, một hiện tại goá bụa. Muốn
cắt bỏ cái hiện tại tàn nhẫn đang đeo đẳng vào số phận, Hạnh đã chết.


2.
Con người từ chối dĩ vãng trong Người ngồi đội mũ


Một
lão Jean Pháp kiều 72 tuổi sống bằng đồng tiền của đứa con gái hờ làm đĩ lão
luôn luôn đội mũ, cái mũ oai hùng của thời rượu ngon gái đẹp.


Thằng
thanh niên - có lẽ tác giả - nhìn  vào dĩ
vãng, không phải chụp mũ mà cởi mũ. Chàng muốn giết lão Jean.


ĐT:
Thật ra trên đầu mỗi chúng ta đều có cái mũ mốc thếch của dĩ vãng chụp kín trên
hiện tại,  cái mũ của ảo tưởng chụp trên
thực tế.


3.
Con người từ chối tương lai: Cũng đành


Kha,
thanh niên sốt rét, bỏ kháng chiến về Hà Nội sống cuộc đời vạ vật, bị bọn lính
đánh. Kha nhớ, một câu hỏi và tự hỏi: "Cha mẹ mày tên gì?" Kha không
tự tử, vì tự tử là một quyết định. Kha không có dự tính gì vì chàng khẳng khái
chối bỏ ngày mai.


Một
nhà văn Tây phương: Lý do để sống cũng là lý do để chết.


4.
Tìm về dĩ vãng: Bồn cát tuổi thơ.


Tuổi
thanh niên nghèo, thanh niên gặp một em bé làm nhà trên cát: "Tôi nhớ tới
một đứa em ở trại tế bần, lãnh em về.”


5.
Con người dừng chân trong hiện tại: Tiếng động trên da thú.


Hai đứa con trai con gái khốn khổ yêu nhau.


ĐT: Cái ám ảnh của DNM là mang số kiếp người không
tên, y hệt như súc vật… Con người chỉ có danh tính khi có liên hệ xã hội. Con
người dưới mắt DNM không có liên hệ. Phải đợi khi soi mình vào một thân phận
đau thương hơn, con người mới tìm được chỗ đứng.


Cuối truyện, người con gái chết.


ĐT: Tôi mường tượng người con trai lại thất thểu ra đi.


6. Con người lần về phía trước: Làm thân con gái


Nhung, một người con gái bỏ nhà theo trai, một chàng
trai vừa xấu xí, vừa ngu dốt.


Thái độ Nhung: Dấn thân.


Nhung từ chối gia đình thì phải chấp nhận theo trai,
mỗi từ chối để là một chọn lựa, mỗi chọn lựa là một chấp nhận. Đi tới dù phải
nhắm mắt cắn răng, phải chăng là một thái độ của DNM? Một kết luận bi thiết
nhưng kiêu hãnh. Con người dấn thân về phía trước phải chăng có mang theo hình
ảnh  một nhân loại sẽ hồi sinh bên kia
bờ tuyệt vọng
(chữ của Sartre)


Dù vũ trụ có đè bẹp con người, con người vẫn lớn hơn
những gì đã huỷ diệt nó.
Người ta nhớ lại câu nói đó của
Pascal khi đọc DNM.





Các nhân vật DNM đều mồ côi. Chúng ta bắt gặp một thời
đại mồ côi. Các nhân vật đều nghèo túng… Những truyện của DNM không phải là
chuyện xã hội. Xã hội còn nhiều cái ghê tởm hơn. DNM đưa ra, mở nắp những câu
hỏi.


Vấn đề đặt ra: thân phận con người.


 Buộc ta phải
suy ngẫm về đời sống chung của một dân tộc nạn nhân


Vấn đề rút ra: tạo ra trong mỗi người đang đói rách
một ý thức về những giá trị siêu việt trầm tích trong tâm hồn họ.


Cũng đành ghi nhận sự hiện diện của
người thanh niên trong ý thức xã hội hôm nay, một xã hội đang đợi chờ may mắn
hồi sinh bên kia bờ tuyệt vọng.





---------------------------------------------------------------------------------------------








                              KỸ THUẬT VĂN XUÔI DƯƠNG NGHIỄM MẬU





Với tôi việc theo đuổi đề tài DNM ngay từ những
năm trước 1975, thực ra còn để thỏa mãn
một nhu cầu khác. Đó là tìm hiểu các vấn đề kỹ thuật văn xuôi theo hướng hiện
đại mà đọc phê bình văn học phương Tây, tôi thấy người ta thay nhau  đào bới khơi gợi.


Hồi đó, ngoại trừ một vài người đặc biệt như Nguyễn
Thành Long ..., các tác giả văn xuôi ở Hà Nội rất ít khi  bàn với nhau về cách viết, về giọng điệu văn
xuôi hoặc cụ thể hơn như độc thoại nội tâm như dòng ý thức. Không biết thì lấy
gì để bàn. Vả chăng hồi ấy lo lắng băn khoăn về hình thức là sa vào nghệ thuật
vị nghệ thuật là muốn học đòi phương Tây nhảm nhí.


Trong khi đó, thì ở Sài Gòn tôi thấy các cây bút văn
xuôi thể nghiệm rất nhiều. Có người còn bàn, nhiều người chỉ lẳng lặng viết và
DNM là một ví dụ.


 Những trang
viết  của ông đủ sức gợi ra niềm tin và
chỉ ra sự cần thiết  của việc đổi mới đó.


Tôi đã chép và đọc lại nhiều lần để tìm ra cái bí
mật tại sao nhà văn này có thể viết những đoạn như đoạn sau:


Kim đã lấy
chồng, đã sung sướng ra sao. Tôi lặng lẽ nhớ về những gì đã có. Trong những
người đến với em, anh là người yêu em hơn hết. Em ngoại tình trong tư tưởng
phải không anh. Tôi mỉm cười. Có điều anh ngu phải không. Kim lặng im. Có lẽ
anh không yêu em như em tưởng. Tôi nói tuỳ em nghĩ. Thời gian đã trôi, đã trôi,
mới đầu tôi tưởng tôi không yêu nhưng cho đến nay tôi rõ tôi yêu Kim.





  Trong khi  không còn đủ sức để tiếp tục tìm hiểu kỹ thuật
văn xuôi nữa, tôi chép lại ở đây môt số nhận xét  của báo chí Sài Gòn trước 1975 về phương diện
này của ngòi bút DNM. Xuất sứ ở đâu thì tôi đã cẩu thả không ghi đầy đủ, song
chẳng lẽ chỉ vì vậy mà không giới thiệu với bạn đọc?





Nhân đọc Sáng mùa xuân : Trong văn DNM (và có
lẽ trong văn tiểu thuyết mới, dòng ý thức nói chung) lời nói của nhân
vật cũng là sự việc, cũng là một cái gì tiếp nối trong dòng sự việc đang triền
miên.


Nhưng điều này, -- 
ngược trở lại, -- mới quan trọng. Là các sự việc trong đó cũng tiếp nối,
cũng là một thứ cầu nối, nó liền lặn trong mạch văn thành một thứ mạch nói của
tác giả suốt từ đầu đến cuối


Mời ông vào, tôi quay lại, một nguời tớ gái đang
mời chúng tôi, bà cụ cười, chúng tôi cùng bước vào trong vườn.





Trong văn DNM, có lúc thấy lời nói liên tiếp tuôn
chảy, lời nói đơn điệu, và tác giả làm nổi khá rõ cái đơn điệu ấy, bằng cách tô
đậm cho cái đơn điệu ấy.


Đấy, hàng ngày chúng ta ăn nói với nhau mới vớ vẩn làm
sao, nhạt nhẽo làm sao - dường như tác giả nói vậy. Cũng như ông, văn ở bên
ngoài dọng điệu, và  bên ngoài thơ, như
một tiếng nói trong đời sống vậy. Cuối cùng, tác giả mới dành cho mình một điều
kiện để nói lại. Cuối  cùng tác giả mới
chứng tỏ không, nói thế thôi, nhưng cuộc đời nó còn những phía ở sau, mà mỗi
người không làm sao biết được.





Có lúc, DNM không gọi tên nhân vật, DNM cho không gian
thời gian mất đi cái cụ thể, và những con người vừa bơ vơ, vừa phải quan hệ với
nhau.


Chúng ta nhớ, bắt đầu là một DNM tượng trưng (tập Cũng
đành
). Một lúc nào đó, DNM lại đi vào những chuyện rất cụ thể (ký sự). Và
bây giờ DNM lại tượng trưng trở lại.


Cái diều hâu trong đời, trong tác phẩm, sau những lúc
phát biểu, lại trở thành một cái gì rất xa lạ. DNM thường không ngồi chung.


Đọc DNM bao giờ cũng thấy một tiếng nói, tiếng nói của
tác giả một mạch văn mang văn tác giả. Mọi chuyện vào đây đều chịu sự chi phối
của phong cách ấy.

Wednesday, November 21, 2012

Xã hội và chiến tranh ở miền Nam trước 1975 qua các ký sự của Dương Nghiễm Mậu




      Dương
Nghiễm Mậu (sinh 1936) thường chỉ được biết tới qua các tiểu thuyết và tập
truyện ngắn như Cũng đành, Nhan sắc, Gia
tài người mẹ, Đêm tóc rối
...


    Nhưng tác giả này còn một số tác phẩm từng
in rải rác trên bán nguyệt san Văn các tờ báo như Khởi hành, Thời tập,  và chưa
in thành sách.


    Trong một lần gặp ông ở Sài Gòn tháng 9-2012,
tôi được ông cho biết thêm như sau.




     Tuy trong quân ngũ chỉ mang cái lon binh
nhì, nhưng ông là một phóng viên luôn theo các phương tiện (kể cả  trực thăng) đi nhiều tiền đồn, từ Tây Nguyên
tới Trị Thiên…


     Chỉ
huy các tiền đồn đó là lớp sĩ quan trẻ, phần lớn học qua tú tài. Một số mang
trong mình chất trí thức. Họ đọc và hiểu nhiều. Họ chia sẻ với nhà văn kiêm nhà
báo Dương Nghiễm Mậu những suy nghĩ về thời cuộc và thân phận con người.


    Khi gọi là ký sự khi gọi là truyện ngắn, nhiều
bài ông viết sau các chuyến đi đó thống nhất trong một giọng điệu một phong
cách và trước tiên một ý muốn của tác giả. Là hãy cố gắng ghi lại sự thực –
sự thực về con người và hoàn cảnh. Văn phẩm của ông có những chi tiết mà những
ai chỉ quanh quẩn ở Sài Gòn hồi ấy không thể biết.


    May mắn cho tôi là trước 1975, có được đọc
một số tác phẩm này, và đã chép  vào sổ
tay một số đoạn trích mà tôi cho là quan trọng, và sẽ giới thiệu dưới đây.


      Thiếu sót của tôi là không ghi được đầy
đủ xuất xứ tác phẩm, cũng như với các nhận xét suy nghĩ của nhân vật, không làm
rõ được cái văn mạch từ đó chúng xuất hiện.


    Tôi cũng hiểu so với chủ đề xã hội và con
người miền nam trong chiến tranh qua tác phẩm Dương Nghiễm Mậu
thì đây mới
là phần bề nổi ít ỏi.


   Nhưng vẫn muốn trình ra trước dư luận, để
được đồng tình ít nhất là một điều:


    Suốt thời gian 1954-75, miền nam
từng sản sinh được một nền văn chương ghi nhận theo cái cách riêng của mình
về xã hội và con người Việt Nam
thời ấy. Mà tác phẩm của Dương Nghiễm Mâu là một mảng có những nét sâu sắc.


    Lâu nay với mảng văn học này, các nhà nghiên cứu thường chỉ đi vào vạch vòi làm rõ cái phần suy đồi
trụy lạc hư vô bất lực… mà ít chú ý cái phần ta quen gọi là phản ánh hiện thực
của nền văn học đó. Trong khi, nếu theo hướng này để quan sát và tìm hiểu,
chúng ta sẽ tìm thấy những bằng chứng nặng đồng cân — đó là những bằng chứng có
giá trị lịch sử, chúng không thể thiếu mỗi khi chúng  ta muốn tìm hiểu quá khứ cũng như cắt nghĩa
hiện tại.













Quà
tặng cho thành phố
(Khởi hành 1969)





[Cuộc trò chuyện giữa các nhân vật  - 
những lính đào ngũ
]


--
Tôi nghĩ mình sinh ra để chẳng làm gì hết. Giết người, chắc chẳng phải ai cũng
muốn làm vậy, nhưng hoàn cảnh khiến tôi phải làm, trong sự ân hận.


Những
câu chuyện thương tâm quá nhiều đến độ nghe mãi thấy nhạt nhẽo, không còn xúc
động nữa, tới lúc người ta vô tri, hết xúc động.


Lần đầu tiên đi hành quân trong một vùng xôi
đậu,
tôi ngạc nhiên nhìn những đứa trẻ bảy tám tuổi ngồi ngoài cánh đồng
với ngọn cờ vàng mới cắm trên một cái cột cao cắm giữa ruộng. Ngọn cờ như một
dấu hiệu cần thiết, bởi vì nếu không làm vậy, rất có thể máy bay sẽ bắn xuống,
đó là những vùng oanh kích tự do.


[nghĩ về QGP] Kể bọn chúng cũng kinh thật, thật
tôi không thể hiểu được, sao chúng có thể làm vậy.





 [Một nhân vật khác tâm sự]


 Thật
đi máy bay bây giờ không khác gì đi xe đò, còn tệ hơn nữa anh ơi, bây giờ cái
gì cũng thay đổi hết. Ở Sài Gòn không còn quán ăn cho mình ngồi không còn gì
hết, mọi điều thay đổi hết rồi anh ơi, bọn bạn tôi lo cưới vợ bởi vì sợ rồi về
sau chỉ còn vợ thừa thôi, cái đồng tiền bây giờ nó kinh lắm, không thể tưởng
tượng được.




Hãy ngậm một trái lựu đạn trong miệng mà trở
về, tao cũng muốn về, về liệng ít trái cho chết cha bớt chúng nó đi, cái bọn
lộn xộn, bọn ăn cắp ăn trộm, cướp ngày, cái bọn tham nhũng, hối lộ, ma cô, đĩ
điếm, bọn nằm vùng làm tay sai cho giặc, bọn trốn lính, bọn con buôn, bọn chó
má thú vật đó.


Bất công, mày phải làm cho hết bất công đi,
rồi chết cũng được.




[Trực nhớ]


Tiếng
khóc và những giọt nước mắt mặn chát, tôi thấu hiểu những bất hạnh chờ đợi tôi
trong suốt cuộc đời, khởi đi từ đó, nhưng tôi cũng hiểu ngay từ đó rằng dù thế
nào tôi cũng không thoát được một định mệnh đen tối chờ chực mình. Thôi tàn đời
con.


--
Một chai nữa nhỏ, hai chai nữa nhỏ.



lúc tôi nhìn thấy những người khác như những con cua, những con thằn lằn, những
con kỳ nhông bọn chúng lúc nhúc quanh quẩn, bọn chúng như ở một thế giới âm ty
nào.






thời tây theo tây, thời Bảo Đại theo Bảo Đại, thời Diệm đi với Diệm và bây giờ,
bây giờ đó, bọn mày không nhìn thấy sao, bọn tự nhận chính khách như lươn, như
rắn, như chuột, như sâu bọ, chúng nó luồn lọt, chúng nó khom lưng, chúng nó dơ
bẩn cùng mình, mày phải hiểu bọn tao ở đây đánh giặc nhưng chẳng bao giờ bọn
tao đánh giặc mà nghĩ đến Sài Gòn, nghĩ đến Sài Gòn cái bọn dơ dáy bẩn thỉu
sống ở đó với những mưu toan thì bọn tao bỏ súng, mày hiểu chưa?





--Anh
nghĩ bao giờ có hoà bình? Trực cười vang động. Hoà bình. dân chủ, tự do và vô số những tiếng gì đó. Những tiếng nói
của bọn bày đặt.


Tôi
không muốn biết hết bất cứ một tiếng gì được dùng cho những điều mà người ta
gọi là lý tưởng. Phải, tôi chỉ có những tiếng chửi, sự thô tục, tàn bạo, những
tiếng người ta muốn tránh, những tiếng bọn nó nghĩ đầy trong đầu mà không bao
giờ dám nói ra thành tiếng, bọn nó sợ, nó sợ cả những thứ mà chính ra cả đời
bọn nó sống cho cái ấy.


Đây
là lần đầu tiên tôi tới Cà Mau. Lúc trước khi tới, tôi cũng như anh vậy. Nhưng
ngay từ đó, tôi hiểu rằng tôi phải sống khốn nạn hơn mọi người.





Anh
hãy uống đi, có lẽ nói trong cơn say là một điều hay, cả đời sống trong cơn say
là càng tuyệt điệu nữa, cả đời sống mình nào có một điều gì mà không nên say mà
không nên bậy bạ phải thế không?





--Có
nên tin lý số?


--Có
số bọc hồng điều, có số ăn mày, có số làm quan, có số mất mộ Tôi không tin! Chẳng nhẽ tôi lại có một số
riêng cho tôi thế này sao? Chẳng lẽ cả một thế hệ như tôi đều có số phải đi
lính?





[Một nhân vật tìm lãng quên trong rượu]


Hãy
uống đi con. Nó vẫn thường nâng ly lên trước mắt chúng tôi và nói câu nói rất
khôi hài đó. Uống đi và đừng nhớ gì hết. Nhưng sau đó, khi tỉnh dậy ngó nhau,
chúng tôi lặng lẽ buồn phiền lấy một mình.


Đốt.. bắn… hắn nói với một vẻ ngọt ngào dễ
nghe hơn ai hết.


Tôi
nhớ tới những ngày tháng cũ. Tôi nhớ tới những mộng tưởng không cùng của tuổi
trẻ ngắn hạn. Phải, chúng tôi bị đốt ngắn mọi mộng tưởng, chúng tôi bị lột
truồng ra trong cuộc sống chẳng còn gì nữa, cùng những thần tượng, cùng kinh
điển được sơn son thiếp vàng một thời đã xa. Tôi và những người cùng lứa chỉ
còn lại chính mình với những điều không hoàn tất được.





(Nhưng)
nào phải một mình tôi những quẩn quanh, nào phải một mình tôi những lửa đỏ cháy
lòng với hung hãn và tàn nhẫn. Không, sự thực không, tất cả đó những bất ưng,
và chính từ đó một lý tưởng vẫn không buông trôi theo với dòng nước đục những
nhơ bẩn ngập trong cuộc sống.


Tôi
muốn la lên, không phải chỉ bằng tiếng la của vô vàn những trái tim và khối óc
khác.


Tất
cả mọi điều đều trở thành kỳ cục hết rồi, như sao mình không thể chết, đó mới
là điều lạ, phải vậy không? Tiếng súng lớn bỗng nhiều hơn và tiếng nổ cũng gần
hơn. Phải rồi, đó cuộc chiến không nguôi trong đời mày.





Tạp
bút mùa xuân
 (Khởi hành 1969)


[Một nhân vật ngồi tự vấn]


 Còn
mày? Tôi uống cạn ly rượu còn trên mặt bàn, không gì khổ bằng tới lúc mình biết
có những gì là ảo tưởng. Thế mày đang làm gì đó? Làm gì đâu?


Làm
gì đâu? Tôi thấy rõ thế. Có gì kinh hoàng bằng khi mỗi lúc chúng ta một buồn
nản hơn, buông trôi hơn và nhận thấy những gì mình làm vô ích trong vô vọng.





[Một nhân vật tiểu thuyết]  Chọn
làm nhà văn khi còn trẻ là chọn làm một người thất bại. Tôi không muốn là một
nhà văn với bất cứ nghĩa nào. Tôi muốn là người bình thường.





[Một
nhân vật trong Đêm tóc rối
]


Chiến tranh 20 năm, tôi nhìn rõ những khác
biệt giữa chúng tôi và các cậu.  Chúng
tôi còn có tình người trong sáng do nếp sống tập quán luân lý trật tự bảo vệ
liêm sỉ lương tâm, các cậu phá cả, các cậu bất nhân tàn bạo từ trong tâm hồn. Sao
bây giờ tôi thấy các cậu khổ quá và làm cho mình khổ thêm.





Trái
nổ trong miệng
 (Khởi
hành
1971)


Trong
xã hội của mình, ai chết cứ chết. Ai sung sướng cứ sung sướng. Ai tham nhũng cứ
tham nhũng.


[
Đáp lời Trực
hỏi
.]


Thắng
bảo : Cậu đừng hỏi, mình không trả lời được đâu, kỳ lắm.


Để
đánh giá một người một thiên hạ nhìn quần áo nó mặc, xe nó đi, nhà nó ở. Những
gia đình trong thành phố trưng bày chạn bát, tủ lạnh hình cởi truồng ra phòng
khách…


-
Cậu cũng chấp nhận thế sao?


--Vậy
cậu bảo mình làm sao?!


Chúa
ở khắp nơi và cũng trở thành món hàng.





[Kể chuyện đường Tự do xong, bảo] Đó là hậu
phương của các cậu, đó là điều mà cậu đang bảo vệ, cậu nhớ lấy, hậu phương có
những gái điếm hát ông ổng mỗi ngày Nhớ
người chiến binh  Thương người tiền tuyến





[Một người bác của Trực nói:]


Chúng
ta chết vì lãnh đạo. Trong một nước chậm tiến chỉ có thể trông vào lãnh đạo,
lãnh đạo hỏng thì dưới hỏng không cứu được và như thế đám đông sẽ phải trải qua
một bài học bằng đau khổ.


Phải
đốt đi hai thế hệ nữa. Dân mình không chấp nhận. Không muốn sống trong chế độ
cộng sản, nhưng cũng không muốn sống trong chế độ xấu xa này.


Nhưng
khốn nỗi nguời dân không còn quyền để lựa chọn một cái nào khác nữa ngoài  hai con đường đó.


Chỉ
còn là những màu sắc khác nhau giữa đau khổ. Cả trong hai khuôn mẫu đều phi
nhân bản, đều ám sát phẩm cách.


Còn
cuộc chiến này, nó bất tận vì nó không còn thuộc về chúng ta, chúng ta chỉ còn
được sử dụng.





--Ở
trong thành phố này, chừng như kẻ nào cũng ngoại tình cả


--Cậu
là một thằng hỏng


--Chúng
ta đều hỏng rồi…


--Không,
cậu không phải là tất cả.





[Thắng, một người thành phố nói với người lính]


Tôi
không hiểu những thực tế nào đã đến trong đời sống cậu, tôi nghĩ chắc chắn đó
là một thực tế khốc liệt.


Cậu
khắt khe với tôi quá, tôi nghĩ cậu đã quá độ trong một thực tế nào đó. Chúng ta
đều ở trong một cái túi.


Trong
xã hội chúng ta ngày nay chỉ toàn những người rao giảng, nhiều khi họ cũng
không biết họ rao giảng để làm gì, và ngay điều họ rao giảng nữa họ cũng không
biết. Tôi sinh ra để sống chứ không phải để rao giảng hay để nghe rao giảng.





Trực:
 Có phải tôi là người bị dồn tới một chân
tường? Hay tôi là một con thú bị nhốt lại cho trở thành biến tính đi.





Làm sao để một người còn lương tâm, còn
những tin tưởng nào đó không nổ ra với thực tại, không phải là nổ ra với sự phá
đám, vô chính phủ, nhưng mà là một nổ ra cho đổi thay trong mong ước





Thắng
[ nói sẽ xuất ngoại]


--
Nhiều khi tôi sống mấy ngày không về nhà. Gia đình bây giờ chừng như đã đổi
khác, bọn mình quen sống ngoài đường. Kể ra không ở trong cuộc chiến tôi cũng
có những thiệt thòi, tôi chẳng biết gì cả. Dù phải trả một giá nào đó nhưng cậu
vẫn có một niềm kiêu hãnh


Trực:


--Không,
cậu đừng mong có một điều như thế. Cậu
hãy coi sự thiệt thòi của cậu như một may mắn.






trong các đô thị ngày nay không còn gì cho người ta giải trí nữa, trẻ con được
dẫn tới những rạp chiếu bóng, được đẩy ra ngoài ngõ xóm, ở những nơi đó chúng
biết những gì là thù hận, bắn giết, máu, nước mắt.


Những
người lớn cho bọn con nít tham dự vào chính những gì họ sống, với con mắt tò
mò, bắt chước.





[Trực &Cẩn nói chuyện]


Thắng:
Các ông  nói toàn những điều tuyệt diệu.


Cẩn:
Đời mà, bao nhiêu là tang thương.





Trực:


--Có
phải mình đang sống trong ảo tưởng ?


--Còn
bất công bẩn thỉu thì trận giặc này còn là muôn ngàn năm.


--
Không còn cách mạng, không còn chiến khu nữa, bấy giờ mình trở thành quân tốt
đen trên bàn cờ tướng. Bây giờ là kỹ thuật vận động quần chúng và kết hợp trong
thế quốc tế


Tôi
trông đợi một đổi thay. Sống làm một người đường hoàng, tôi chỉ mong thế.





 [Thắng sắp đi
xa Thắng luôn khuyên Trực nên quên mọi chuyện đi. Trực vẫn không muốn bỏ tiền
đồn]
Thắng tưởng mình như sắp bị
cắt đứt ra khỏi một định mệnh.











Cho
là người đã điên hỡi kể nổi loạn trong thành phố
   Khởi hành  1971


Hắn
chỉ là một kẻ điên trong xã hội chúng ta hay là hắn ở trong một xã hội điên
?Tôi vẫn cho rằng không phải tại xã hội hoàn toàn. Tại chúng ta, tại mỗi cá
nhân chúng ta. Chúng ta không minh bạch trắng đen.


Chính
là chúng ta đang sống trong một sự phá sản cùng cực, sự phá sản phẩm cách nơi mỗi cá nhân. Muốn tìm kiếm một đời sống
mới, một xã hội mới phải khôi phục lại cá nhân.


Hắn
đã chết trong một xã hội mà kẻ phản bội nói trung thành, kẻ dơ bẩn nói  trong sạch, kẻ vô hạnh nói phẩm giá. Cuộc nổi
loạn nói lên một tiếng nói sự khát khao, sự kêu đòi một lý tưởng.


Chúng
tôi muốn được sống xứng đáng. Chúng tôi muốn được sống trong sạch. Tôi đã đi
thực nhiều nơi, gặp thật nhiều người, nơi nào, chỗ nào, người nào cũng nói với
tôi, lên án một cách khắc nghiệt những tệ trạng trong xã hội, nghe xong tôi
nhìn quanh nhìn quất: ai cũng lên án, ai cũng chống lại điều đó, mà sao những
tệ trạng vẫn nguyên.





Phía sau mặt trận  (Văn
 số 182 15-7-71 )


[Câu chuyện về  những kẻ phế binh trong quân đội Sài Gòn. Nhân
vật  Lương
]


đoạn 1


- Ngay từ đầu, tôi đã
thấy rằng những người lớp mình không có quyền có mặt nữa trong một xã hội mới.
Và những người Cộng sản cũng vậy, cả hai đều đã đứng ở hai phía cực đoan.


Tôi
ở quân đội, ai cũng biết không phải là một hai năm, cả mười năm nay, tôi đã
chiến đấu, nhưng tôi không mong muốn chiến tranh này, mình phải chấp nhận vì
không muốn sống như một kẻ chui nhủi giữa đống rác và không muốn bị kêu tên ra
giữa đồng vắng mà nhận cái chết. Trong tình thế khe khắt, anh phải lựa chọn
trong sự không toàn vẹn… Diều hâu, những kẻ nói mình như vậy, mà không biết xấu
hổ. Thế họ là cái gì, họ là bồ câu chắc, không đâu, họ là một thứ dòi bọ gì thì
đúng hơn.


đoạn 2. [Nhân vật tôi ]: Ba năm trời rồi, có hôm nhìn
lại, tôi rùng mình, đã ba năm tôi không biết tới cái giường của riêng mình. Với
đời sống quân ngũ, cắm trại, ứng chiến, rồi những chuyến đi không ngừng tách
tôi ra khỏi một đời sống cố định


      [Tôi đi ra một mặt trận ở Nam Lào (Sêpôn); những mẩu
chuyện chán đời rút chạy.]


đoạn 3. Tôi
nhớ lại một lá thư, một đứa con ở Bắc, gửi cho người bố đi Nam: đứa bé kể bao nhiêu lá thư đi,
không có thư về; cái đồng hồ Jaz không ai chữa.


Nhớ lại một lá thư “gủi cho cụ HCM" đọc ở đâu đó. Nhất
tướng công thành vạn cốt khô.


đoạn 4. [Về Sài Gòn: Những người bạn văn nghệ, một người đọc
câu thơ: “Chết như bọn ta hồn thành cọp"
]


Như kẻ bị lưu đày, tôi hiểu ra những cay đắng trong đời
mình. Tôi cũng không còn gì nữa để mất, như là tôi đã mất hết.


- Trong những khu rừng xơ xác, người lính có thể bỗng nhiên
tìm thấy giữa những bụi lá những trái cà phê đỏ tươi như giọt máu, hay nơi
những thân cây một bụi lan rừng trổ bông kỳ lạ… Một người bạn nói: Sau này khi
yên mình sẽ lên đây khẩn hoang. Chúng tôi cùng phá lên cười. Bao giờ cho mộng
của anh là sự thật.?








 Trong
hồi tưởng lạnh
 (Văn  số196 )


[Một đám sĩ quan được gửi
đến một tiền đồn tăng cường
]


Trực nghĩ:


--Thời loạn, những đòi hỏi và thực tế con người. Mình cũng
đã chọn một đời sống đã chết. Sao mình không làm khác? Làm gì? Trực nhớ tới
người con của ông chú, thi xong tú tài nó học cầm chừng và chơi bời, la nó, nó
nói nhẹ nhàng, đằng nào rồi cũng vào lính, chỉ có chờ, chỉ có trước hay sau…
Trực nghĩ tới vô số người khác cùng lứa tuổi với mình, chỉ có một nơi chờ họ
tới, trại lính… Tương lai sáng lên những u tối [ VTN gạch dưới] của một thời đại liên tiếp những biến đổi, liên
tiếp kéo tới những số kiếp đồng dạng bi thảm nhoa nhuếch những máu và nước mắt.


… Thực nhiều khi tôi không còn muốn viết gì nữa, mỗi điều ở
ngoài nơi đây tôi không cần biết tới.


… Trong những thứ buộc phải lựa chọn thì mình lựa chọn cái
nào khá hơn.


Tôi chỉ có những nàng tiên trong ổ đĩ, chỉ có những thoáng
nhìn tội nghiệp, chỉ có một đời sống mồ côi và thực tế cơm áo. Tôi không có gì
khác ngoài một thực tế tầm thường.


Trực tự hỏi: tại sao không có một lịch sử nào cho mình, tại
sao mình lại thấy phải bước vào con đường này: Một mơ ước phiêu lưu? Một lựa
chọn vô lý? Một thực tế cùng quẫn? Một hy vọng lười biếng? Một chuyện tình cho
mình có thể bỏ đi như một hành lý cần thiết là một hạnh phúc mà mình cũng không
có.





… Không  khí những
người chung quanh mang đến cho Trực một niềm vui, ở đâu cũng thế. Trong những
năm trôi nổi, chàng chỉ thấy có tình bạn. Những người không quen biết ở nơi này
nơi khác bỗng tới đứng bên nhau, đi bên nhau, chiến đấu bên nhau thân thiết như
chân tay.

Friday, November 16, 2012

Cái hay cái tốt mong manh, cái dở cái xấu bền chặt




Trích từ chuyên mục


 Người
xưa cảnh tỉnh


đã in trên Thể
thao và văn hóa
2005-2007


Các đầu đề nhỏ và chú thích là của người biên soạn








Trong sự dằng xé của những mâu thuẫn


    Về đàng trí tuệ và tính tình  người Việt Nam có cả các tính tốt và các tính
xấu. Đại khái  trí tuệ minh mẫn, học
chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu lại có tính hiếu học,
trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức.




     Tuy vậy vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có
khi quỷ quyệt, và hay bài bác nhạo chế. Thường thì nhút nhát hay khiếp sợ và muốn
sự hoà bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.


     Tâm địa nông nổi, hay làm liều, không kiên
nhẫn, hay khoe khoang và ưa trang hoàng bề ngoài, hiếu (1) danh vọng, thích
chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma tin quỷ, sùng (2) sự lễ bái nhưng mà vẫn không
nhiệt tín (3) tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác nhưng có lòng nhân,
biết thương người và hay nhớ ơn. 





(1) ham thích


(2) chuộng, hâm mộ  


(3) tin một cách
mãnh liệt





Trần Trọng Kim


 Việt nam sử lược,
1925








Cái hay lẫn với cái dở


      Về tính chất
tinh thần, thì ngư­ời Việt Nam
đại khái thông minh, như­ng xư­a nay thấy ít ng­ười có trí tuệ lỗi lạc phi thư­ờng.


    Sức ký ức thì phát đạt lắm, mà giàu trí nghệ
thuật hơn trí khoa học, giàu trực giác hơn luận lý (1).


      Phần nhiều ngư­ời có tính ham học, song
thích văn chư­ơng phù hoa hơn là thực học, thích thành sáo (2) và hình thức hơn
là tư­ tư­ởng hoạt động.


     Não t­ưởng tư­ợng th­ường bị não thực tiễn
hoà hoãn bớt, cho nên dân tộc Việt Nam ít ngư­ời mộng t­ưởng, mà phán
đoán th­ường có vẻ thiết thực.


     Tính khí cũng hơi nông nổi, không bền
chí, hay thất vọng, hay khoe khoang 
trang hoàng bề ngoài, ­ưa h­ư danh và thích chơi cờ bạc.


     Não sáng tác (3) thì ít, như­ng mà bắt chư­ớc,
thích ứng, dung hoà thì rất tài.


     Người Việt Nam lại rất trọng lễ giáo, song
cũng có não tinh vặt, hay bài bác chế nhạo.





(1) tự nhiên
cảm thấy hơn là do suy luận mà biết


(2) những gì đã trở thành lối mòn


(3) nói theo cách nói hiện thời,
tức “sức sáng tạo “nói chung


 Đào Duy Anh


 Việt
nam văn hóa sử cương
, 1938





Nhiều thói xấu
vặt tạo nên nỗi bất hạnh lớn


    Tính thiếu lo xa;


     sự đam mê vô độ cờ bạc và lòng tin ngây
thơ vào sự cứu giúp của may rủi và cúng lễ;


      những sự kình địch giai cấp nẩy sinh từ
những phân biệt giả tạo;


    đầu óc thích kiện cáo làm cho hai kẻ láng
giềng chống lại nhau vì một mảnh đất cỏn con 
hoặc vì một phần đồ cúng chia không đều;


      các
vụ tranh chấp liên miên vì đất công; 


      sự thụ động trước những yêu sách quá đáng
của bọn cho vay...


       -- đó là những nhân tố làm  trầm trọng thêm tình trạng khốn khổ của những
gia đình làm ruộng.


    Những hậu quả này – nẩy sinh từ truyền thống
-- ngày xưa còn chịu đựng được nhờ mật độ người ổn định, nay trở thành một gánh
nặng cứ mỗi năm một nặng thêm,  do dân số
tăng lên nhanh chóng.


Nguyễn Văn Huyên


Vấn đề nông dân Việt Nam ở Bắc Kỳ, 1939





Không theo cái gì tới cùng


    Tôi tin rằng đất Đại Cồ Việt ta là cái đất
cằn cỗi, những lý thuyết và tư tưởng đâu đâu, tốt đẹp thế nào mặc lòng cũng cứ
đến đây là thành thối nát. Tôi không tin dân An Nam ta lại có nổi một điều tín
ngưỡng nào, một quan điểm chắc chắn gì. Bởi thế con người Âu hoá cực đoan ấy chỉ
Âu hoá được ở cái lỗ mồm mà thôi. Và than ôi! suy một người ra ngàn người, suy
một sự ra vạn sự.











 Vũ Trọng Phụng


 Từ
lý thuyết tới thực hành (1), Tao
đàn
1939


(1) Đây là tên một
truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng, trong đó kể về một nhân vật nói một đằng làm một
nẻo, tuyên truyền cho một quan niệm mới nhưng sống thì hoàn toàn ngược lại.





Cái gì cũng giả, trừ bọn ăn cướp


      Đọc
báo hàng ngày, thỉnh thoảng lại thấy xã hội Việt Nam sản ra những bọn người giả. Giả
mật thám, giả lính đoan, giả làm người của sở nọ sở kia. Hạng người nào cũng có
kẻ giả, trừ ra một bọn ăn cướp.


      
Có lẽ trong các thực đơn của thế giới, không đâu có nhiều món giả bằng
nước An Nam. Cũng thì một miếng thịt, người ta bầy ra đủ trò: nấu với tiết gọi
là giả trâu, nấu với giềng mẻ gọi là giả cầy, nấu với hành răm gọi là giả chim,
nấu với đậu nghệ gọi là giả ba ba, đốt đi rồi bóp với thính đỗ tương thì lại bảo
là giả dê.


      Đồ
ăn là thứ sẽ ăn vào miệng, hễ qua hàm răng thì nó là lợn hay trâu, hay gì gì nữa,
cái lưỡi sẽ biết tức thì, thế mà chúng ta cứ làm giả, thì có khác chi xúi giục
nhau rằng: trên đời không có cái gì mà không giả được? Cái nạn nhiều hạng người
giả từ đấy mà ra


 Ngô Tất Tố


 Thờì vụ, 1938


Trì trệ bế tắc 





     Luôn luôn bị áp bức về kinh tế và chính trị,
cuộc sinh hoạt tinh thần của người Việt thường lẩn cả vào trong tâm tưởng nên cảm
giác có vẻ chậm chạp và sức phản ứng của 
tình cảm và tư tưởng không mau lẹ.


    Tính ưa hư danh – phản ứng của xã hội đẳng
cấp -- là một tật phổ thông của người Việt Nam hằng cố gắng tìm vượt lên
trên  địa vị hiện tại của mình.


    Tật cờ bạc -- kết quả của óc tư hữu tài sản
bị nghẹn lối  --  do cuộc sống 
chật hẹp gây nên cũng là một tật phổ thông. Cờ bạc vẫn gieo những ảo tưởng
giàu sang vào đám dân chúng rời rạc không còn đủ tin vào sức cố gắng hay tinh
thần  chiến đấu của mình  mà chống nạn nghèo đói nữa.


Lương Đức
Thiệp


Xã hội Việt Nam, 1944






    (… ) Phong trào ở nước ta, bất cứ phong
trào gì, đều có một tính chung là nông nổi, chỉ hời hợt bề ngoài. Cái mà chúng
ta thiếu nhất là sự sâu sắc. Bởi ta không chịu phân tích và suy xét kỹ nên bất
cứ vấn đề gì chúng ta cũng không biết được rõ ràng và chu đáo, biết một cách thấu
suốt.


      Chúng ta có cái đời sống bên trong rất nghèo
nàn và rất bạc nhược. Những tính tình phong phú, dồi dào hay mãnh liệt chúng ta
ít có. Chẳng dám yêu cái gì tha thiết và cũng chẳng dám ghét tha thiết, lòng
yêu ghét của chúng ta nhạt nhẽo lắm. Chúng ta đổi lòng tín ngưỡng sâu xa ra một
tín ngưỡng thiển cận và nông nổi, giữ cái vươn cao về đạo giáo của tâm hồn xuống
mực thước sự săn sóc nhỏ bé về ấm no.





 Thạch Lam


 Theo
dòng
, 1941





Qúa thiết thực hóa tầm thường  


     Người
Việt không quan niệm cái gì thái quá.


   Từ
cung điện lăng tẩm của vua chúa đến  đền
đài miếu mạo của dân gian, mọi thứ đều khuôn theo sở năng kinh tế và xã hội.


   
Khuôn khổ chùa Đế Thiên Đế Thích và thành Đồ Bàn đều ra ngoài trí tưởng
tượng.


    Về học
thuật cùng tư tưởng không có chủ nghĩa siêu hình nào.


   Vật
lộn với cuộc sống quá eo hẹp hàng ngày nơi đồng ruộng hoặc miệt mài vào sách
thánh kinh hiền, người ta  ít rảnh thời
giờ theo cuộc suy tưởng triền miên. Cũng vì thiết thực mà người Việt tín ngưỡng
để rút phần lợi ích thiển cận của tôn giáo tại ngay kiếp này nhiều hơn là mong
linh hồn được giải thoát mãi tận kiếp sau.                                                                                            


                                                                                                               





                                                                                                              Lương
Đức Thiệp


                                                                                     
Việt Nam tiến hoá sử, 1944





Thụ động, bất lực, buông xuôi


    Họ cày ruộng, chân lội trong bùn, có
khi phải ngâm mình trong nư­ớc. Có những ngư­ời đi cả ngày đư­ờng chỉ cốt kiếm
một gánh củi khô. Như­ng tình trạng nhân công d­ư dật thư­ờng khiến con ng­ười
lư­ời nhác. Họ trở nên vô tâm và hay cãi cọ. Rất nhiều chứng tật khác nhau, những
vụ rắc rối về hành chính, những vụ xung đột vô cớ, đ­ược dịp nảy sinh và kết quả
là bất công lại chồng chất thêm.


     … Môi
trường làm sa sút sức khoẻ và tác động chẳng kém tới tính chất người Việt. Sức
nóng thường xuyên làm cho thần kinh uể oải và con người dễ buồn ngủ. Không phải
là hoàn toàn vô lý khi bảo rằng nhược điểm lớn nhất của con người nơi đây là lười
biếng, hoặc ít nhất là cái khuynh hướng buông trôi, thây kệ mọi việc.





 Nguyễn Văn
Huyên


 Vấn đề nông dân Việt
Nam ở Bắc Kỳ,
1939





Cảm tính nặng
hơn lý tính


     Nói chung người Việt có chất nghệ sĩ nhiều
hơn chất khoa học. Nhạy cảm hơn là có lý tính. Yêu thích văn học và trang trí.
Đa số chỉ mơ ước nghề làm quan là con đường đã vạch sẵn, không đòi hỏi nhiều cố
gắng độc đáo, mà lại đem đến nhiều vinh hiển


    Chẳng có mặt nào của tính cách người Việt lại
không có mặt bù lại, và không gợi ra ngay tức khắc một bằng chứng ngược lại.
Chúng ta đã nói về tính biếng nhác và sự uể oải của người Việt, nhưng người ta
chẳng thấy nơi nào trên thế giới một dân tộc cần cù như vậy, và những người lao
động sẵn sàng làm những công việc nặng nhọc trong khi chỉ nhận được số tiền
công rẻ mạt đến như vậy.


   Chúng ta cũng đã nói về tính phóng túng bông
lông và mơ mộng của người Việt. Thế mà chúng ta lại cũng dễ dàng khám phá ở người
dân nơi đây một đầu óc thực tế lạ lùng, nó quyết định chiều hướng tâm hồn người
nông dân và trở nên một vũ khí lợi hại trong tay những người thợ mỹ nghệ.


   Nếu tính hay thay đổi là đặc tính của người
Việt thì ta cũng phải ngạc nhiên mà nhận xét rằng trong bọn họ có một số kẻ là
những tay dai dẳng và bám riết người ta khi xin xỏ; là những kẻ sính kiện tụng
không ai địch nổi; là những học sinh sinh viên quyết chí săn đuổi bằng được bằng
cấp.





 Nguyễn Văn
Huyên


 Văn
minh Việt Nam
,1944











Biếng nhác, vô cảm, lẩn tránh


  
Hiện tượng quá đông dân và thường xuyên thiếu việc làm khiến cho nhiều
người có tâm lý sống ngày nào biết ngày ấy. Ở thôn quê, những kẻ có chút tiền bạc
hoặc có đủ ruộng chỉ còn thích ăn không ngồi rồi.


  
Xét về phương diện tinh thần, xu hướng biếng nhác này càng trầm trọng
thêm bởi một nền giáo dục cổ lỗ và chưa bao giờ có phương pháp. Thành ra có sự
lười biếng về trí óc, có xu hướng dễ dàng chấp nhận hết thảy và bắt chước hết
thảy.


    Sau khi chất đầy trí nhớ các loại kinh
sách, nhà nho xưa kia chẳng còn nghĩ đến chuyện trau dồi trí tuệ nữa. Họ thường
già trước tuổi. Hoặc là họ nhẫn nhục chịu đựng cốt không để ai đó do ganh ghét
mà kiếm chuyện lôi thôi. Hoặc là họ sa vào thói chơi ngông đôi khi cũng tinh tế
đấy, nhưng dễ làm cạn kiệt cái năng lực phát minh cũng như năng lực lập luận
khoa học.


     
Có những nhà quan sát nước ngoài nhận xét người Việt hay trộm cắp và dối trá.
Trong một thời gian dài, người dân nước này chỉ được nhận một nền cai trị kém cỏi,
trong đó thấm sâu chính sách ngu dân. Cá nhân con người luôn luôn bị săn đuổi,
họ buộc phải bao quanh mình một tấm màn bí mật. Làng xã cũng vậy, trong quan hệ
với chính quyền trung ương, họ cố giữ lấy một thái độ nếu không độc lập thì
cũng ương bướng bất phục.


 Nguyễn Văn Huyên


 Văn minh Việt Nam,
1944


Nền văn hoá của kẻ yếu


     Hình như sống dưới cái bóng của cái khối
văn hoá Trung quốc, sừng sững ở bên mình như cả núi Thái Sơn, văn hoá chúng ta
chỉ cố sức để man diên (1) ở trên mặt đất chứ không có cái khuynh hướng trổ vọt
lên trời.


    Để sống còn, chúng ta chỉ cốt bám chặt lấy
đất như bám lấy cái nguồn sinh khí. Cho nên chúng ta không có cái vinh dự là có
những tổ tiên chọc trời khuấy nước, làm chấn động thế giới bằng những tư tưởng
hay hành động của mình, nhưng chúng ta lại đã may mắn có được những tổ tiên cần
cù, kiên nhẫn biết sống thiết thực và biết tổ chức cuộc sống một cách thích
đáng để đối phó với vận mệnh khắc nghiệt của mình.


   Cái giá trị tranh đấu chúng ta nhận thấy
trong cái tính chất thiết thực ấy lại tuồng như chỉ là tiêu cực.


    Ngay trong văn hoá bình dân, cái văn hoá
phát triển ở ngoài phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của Hán hoá, tuy có lộ rõ cái
tinh thần chống đối luân lý lễ giáo của nhà nho, thế mà cũng chỉ là sự chống đối
của kẻ yếu.


       Có những người sau khi làm tròn phận sự
một người quân tử ở đời thì rũ sạch nợ trần đi tìm nhàn hạ ở nơi thôn dã, hay
có người bất bình với thời thế khiến mình không thể làm tròn phận sự được mà đi
tìm an ủi ở sơn lâm, nhưng thảy đều là những người chỉ cầu tự nhiên cấp cho những
thú thanh cao để di dưỡng tính tình mệt mỏi, chứ không ai dám đem tâm trí mà
tìm tòi mà tra hỏi tự nhiên.





 (1)  bò
lan như cây cỏ





 Đào Duy Anh


 Việt
Nam văn hoá sử đại cương,
1950