Tuesday, May 31, 2011

Nhật ký 2011 ( tuần XX --XXI)

16-5

GIÓ HOANG CỎ DẠI
Vừa có một cuộc hội thảo về thơ Đồng Đức Bốn. Câu hỏi đặt ra với tôi -- đâu là cốt cách chủ yếu của thơ Bốn? Tôi đã thử trả lời cho mình qua bài viết mang tên Nhà thơ của gió hoang cỏ dại.
Tính chất hoang dã, theo tôi hiểu là thói quen dựa vào bản năng chứ không phải trí tuệ, trong sáng tạo nó có thể mang lại rất nhiều cái hay cái lạ, nhưng vẫn dừng lại ở tình trạng thô sơ, và không bao giờ hoàn chỉnh. Một đặc điểm của các giống hoang là có khi mùa này được mà mùa sau hỏng, không có tính cách ổn định, không được kế thừa. Từ trường hợp Bốn, lúc nào đó, tôi muốn đi sâu thêm, khái quát lên thành một đặc điểm của thơ ta hôm nay. Nó có nhiều biểu hiện khác nhau. Và nó xâm nhập vào cả những giọng thơ đã được thuần hóa.



17-5
NÊN HIỂU THẾ NÀO VỀ VĂN HÓA ?
Có vẻ như chúng ta đã quá bằng lòng với quan niệm văn hóa của mình, vấn đề bây giờ chỉ còn là có tiền của để ”đẩy mạnh các hoạt động văn hóa đó cho có thêm nhiều thành tích”.
Nhưng trong mắt các nhà quan sát quốc tế không phải vậy.
Tháng tư 2011 vừa một cuộc hội thảo mang tên “Xây dựng chính sách cấp bách trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình”. Trong hội thảo bà Katherine Muller - trưởng đại diện UNESCO tại VN –cho rằng, ở VN hiện nay, văn hóa chỉ được nhìn nhận chủ yếu ở góc độ âm nhạc, biểu diễn nghệ thuật, bảo tồn di sản và chỉ có tác dụng làm đẹp thêm cho đời sống tinh thần của nhân dân.
Trong khi đó, theo bà, văn hóa còn phải được coi như động lực phát triển kinh tế và là yếu tố quan trọng trong phát triển bền vững của cộng đồng và quốc gia.
Rút cục sự khủng hoảng hiện nay về văn hóa là sự khủng hoảng về quan niệm cũng như phương hướng.
Chừng nào việc xây dựng và ban hành một chính sách tổng thể về văn hóa và phát triển – một chính sách đúng đắn, phù hợp với quan niệm của cộng đồng các dân tộc khác trên thế giới , cố nhiên - được hoàn thành, từ đó chúng ta mới có cơ may làm những việc có ý nghĩa thực sự.
Khốn nỗi bảo rằng ta không biết làm kinh tế thì người ta chịu, chứ bảo rằng ta không biết gì về văn hóa thậm chí còn làm nhiều việc vô văn hóa hủy hoại văn hóa thì từ quan chức đến người dân thường, phần lớn có ai lại chịu?!
Mỹ từ ”nét đẹp văn hóa” đang được người ta dùng để tô son vẽ phấn cho nhiều việc làm hủ lậu, hư hỏng.


21-5
CUỘC SỐNG Ở TRONG NGÔN NGỮ
Trên một khu đất hoang, tôi đọc được một biển đề Cấm đổ rác ở đây. Xin cảm ơn.
Cái đáng chú ý của hàng chữ này là ở chỗ tâm thế lạ lùng của người viết ra nó, khi hướng về người qua đường.
Nửa đầu là kiểu ra lệnh, chữ to nghiêm chỉnh, cạnh đó còn đoạn gạch chéo, như muốn răn đe dọa nạt.
Nửa cuối là sự vớt vát, muốn đi tới cách giao tiếp đặc trưng một xã hội văn minh, đằng sau đó là sự biết điều, là kêu gọi thông cảm.
Nhưng dòng chữ Xin cảm ơn lại được viết rất cẩu thả, như sau khi viết xong nửa trên, mới nhớ ra phải viết thêm. Cho thức thời. Cho phải đạo.
Hình như mọi mối quan hệ công dân ở ta bây giờ là vậy, ỡm ờ, nửa nạc nửa mỡ.
Hồi còn nhiều lễ hội đầu năm, tôi còn đọc được trên một bảng thông tin ở một phố cổ: Thông báo mời.
Chắc cũng có thể dùng những lời bình luận tương tự.


23-5
NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA
MỘT XÃ HỘI HẬU CHIẾN
Có lần tôi đã dẫn ra câu chuyện nhà Trần sau chiến thắng quân Nguyên tăng thuế ra sao. Hôm nay đọc sang thời Lê sơ sau chiến thắng giặc Minh.
Theo tài liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Kế ( trong bài mở đầu cho sách Quốc triều hình luật—Lịch sử hình thành nội dung và giá trị NXB Khoa học xã hội 2004 ), thì vấn đề chính của sự phát triển xã hội hậu chiến là bộ máy quan lại.
Tài năng, đạo đức, chất lượng làm việc của đám người quản lý đất nước này rất tệ hại. Lê Thái Tổ từng khái quát là nhiều công thần chung quanh ông ” không có ai chịu hết lòng với nước, chỉ ham nghĩ phú quý mà thôi”.
Lê Thái Tổ làm vua từ 1423 đến 1433. Tiếp đó là Lê Thái Tông 1433-1442, rồi Lê Nhân Tông 1442 -1459. Cả hai vị nối tiếp Lê Lợi đều lên ngôi lúc còn trẻ, người mới 11 tuổi, người mới 2 tuổi, nên quyền hành đều ở trong tay các quan. Chính Lê Thánh Tông, người làm vua từ 1460, đã nhận xét trong khoảng thời gian hai vua nói trên trị vì, ” trên thì tể tướng dưới thì trăm quan bừa bãi hối lộ ( Sách QTHL, tr.14)
Tiếng là các quan đầu triều nhưng các loại đại thần thời đó may lắm chỉ thạo việc binh đao, còn quản lý đất nước thì không rành việc. Yếu kém sinh ra hư đốn. Nguyễn Hải Kế có dẫn lại từ bài Trung Hưng ký:
” Tể thần Lê Khuyến, Lê Sát thì dốt đặc. Chưởng binh như Lê Duyên Lê Luyện thì mù tịt”
” Phường dốt đặc như ong nổi dậy, kẻ xiểm nịnh được nghe theo”
Nói thêm về Lê Sát. Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim ghi ông từng theo vua lập được công to, làm quan đến Đại tư đồ. Nhưng ” Lê Sát là người ít học... lúc làm Phụ chính thường hay cậy quyền trái phép, làm nhiều điều kiêu hãnh, hễ triều thần ai là người không tòng phục thì tìm cách làm hại ” ( VNSL bản Tân Việt 1951, tr 238)


24-5
MỘT MẨU TIN VỀ MÔI TRƯỜNG
Chỉ 30% những phản hồi bức xúc của người dân với cơ quan quản lý về vấn đề suy thoái sông ngòi được phản hồi, trên 30% cộng đồng dân cư không biết làm gì để bảo vệ sông ngòi… Với những số liệu được trung tâm Con người và thiên nhiên (PanNature) công bố ngày 24.5 tại Hà Nội, dường như những vấn đề ô nhiễm sông, chất lượng nước hay suy giảm về nguồn lợi thuỷ sản không đáng báo động bằng vấn đề nhận thức trách nhiệm.
“Việt Nam có 2.360 sông và 26 phân lưu, hơn 7.000km đê sông và đê biển. Rất nhiều các sông đều có đập dâng, hồ chứa thuỷ lợi, thuỷ điện… Nhưng bây giờ nếu hỏi sắt đâu, vàng đâu, thì phải hỏi thổ phỉ!” Các thác đẹp đều bị ngập chìm dưới các hồ chứa! GS.TS Ngô Đình Tuấn, chủ tịch hội đồng khoa học viện Tài nguyên nước và môi trường Đông Nam Á đã bắt đầu tại buổi hội thảo “Sông ngòi Việt Nam dưới góc nhìn của báo chí và cộng đồng” ngày 24.5 như vậy.


25-5
NGƯỜI VIỆT QUA QUẢNG CÁO TRÊN TV
Năm ngoái năm kia, tôi nhớ có một quảng cáo như sau. Mấy đứa trẻ đi học về. Chúng chạy sầm sầm vào nhà mở tủ lạnh lục ra mấy vỉ sữa, vừa ăn vừa thè lưỡi ra ngay trước ống kính truyền hình. Tôi nói với người trong gia đình, giá con cháu nhà mình mà hiện ra trước mặt mọi người như thế thì không dám vác mặt đi đâu nữa.
Năm nay lại cảnh mấy cô gái mặt bừng lên khi được nhận những món quà biếu, hoặc ông trí thức kéo cả nhà cổ động cho một kiểu ti-vi đời mới.
Chẳng phải chúng ta đang hồn nhiên tự bộc lộ đó sao? Tất cả vui sướng làm người của ta rút lại là ở những sự hưởng thụ ngang tầm thế giới như thế này chăng ?
Tôi thầm cảm ơn cả người tổ chức quảng cáo lẫn người tham gia quảng cáo vì giúp tôi thêm bằng chứng để khái quát về con người đương thời, mặc dù không khỏi ái ngại cho bao nhiêu bạn trẻ, các bạn suốt ngày sống trong những quảng cáo thế này thì còn chí khí đâu để học hành cùng là tu thân cho nên người nữa.


Nhớ tới Hà Nội trước sau 1954, tôi nhớ trên trên xe điện lúc ấy có một loại trẻ bán kem và mấy người lớn hơn bán các loại hàng lặt vặt, họ thường rao rất vần vèo ” kim băng khâu một đồng một tá – đá lửa hào ba viên”. Chúng tôi thường gọi chung giọng họ là giọng ” lơ tẩy hồng”.
Liên hệ tới quảng cáo ngày nay trên TV. Để chuyện hình ảnh sang một bên, chỉ xét về cách nói -- bao gồm cách lên giọng xuống giọng để gây chú ý, cái vui sướng đằng sau những lời ngon ngọt mang tính cách dụ dỗ mọi người – sao tôi thấy dù đã cách xa đến gần sáu chục năm mà cũ mới xưa nay giống nhau đến vậy.


28--5
NỖI LO THẤT NGHIỆP
Tuy không có những bai điều tra cặn kẽ, nhưng từ nhiều tin khác nhau, đã có thể suy ra làn sóng thất nghiệp đang ngấp nghé. Đại loại như Ô tô Việt Nam – từ lắp ráp sang buôn xe hoặc thu nhập thấp, điều kiện lao động khó khăn... đã khiến gần 1.000 CNLĐ ngành đường sắt đơn phương xin chấm dứt hợp đồng làm việc. Tôi nghĩ tới những người thất nghiệp. Người mình hôm nay làm gì cũng nghiệp dư, nay chút nghiệp dư ấy cũng biến mất. Thay vào đó, là cuộc vật lộn tay bo. Là sự cuồng nhiệt của những kẻ dám làm mọi việc để kiếm sống.
” Sau cái thời của không biết đến hy vọng sẽ đến cái thời không biết sợ hãi” .Cách khái quát này chắc không chỉ đúng với bên Tây bên Tầu mà cũng đúng với VN nữa.


HỘI NHẬP NGÀY NAY
Chuyện buôn ngà voi ở châu Phi, chuyện trồng cần sa ở Anh, chuyện mò san hô ở Úc... Qua cả báo chí lẫn những lời đồn đại ngoài đường, thấy nhiều tin về người Việt ở nước ngoài tham gia vào những hoạt động bất hợp pháp. Tháng nay lại thấy rõ hơn, chẳng hạn qua chuyện có nghi vấn là các nhân viên ngoại giao VN ở Ấn Độ tham gia vào buôn lậu ô tô. Báo chí đã phải lên tiếng.
Về cái khoản này, chắc khả năng xuất khẩu của mình hùng hậu lắm!


29-5
NHƯ VĂN TIỀN CHIẾN
Sen mau tàn!
Sen có cành nhỏ, thân xốp, bông lại lớn. Với thân xốp khỏe hút nước, hầu hết hoa sen chỉ để cắm lọ . Chúng tôi ít dùng sen để cắm lẵng, vì khi cắm như thế, hoa sen nhanh “đi” lắm.
Nhìn chung, hoa sen mau tàn. Đã vậy, mùa sen lại ngắn. Nhu cầu mua hoa sen trang trí và làm quà tặng không nhiều. Rất ít khách hàng đặt hoa yêu cầu phải có hoa sen. Nếu có, thường rơi vào khách nước ngoài. Họ muốn có chút gì Việt Nam nên đặt hoa mang ra sân bay tặng khách. Hoa sen đi máy lạnh, nhưng cũng chỉ đến sân bay, rồi về khách sạn là oặt ra. Cũng có thể do họ không phải người cắm và bán hàng hoa nên không biết cách giữ gìn. Song lý do quan trọng nhất là do hoa thiếu nước.
Giờ đang mùa sen, người bán hoa sen đi lại nhiều. Nhưng ai thì cũng phải cắm hoa sen vào xô ngập nước. Háo nước như thế nên rất ít khi hoa sen được cắm bàn tiệc. Nếu có, cũng chỉ cắm xen, để những loài hoa khác “đỡ” cho. Sen hồng yếu hơn, nên phải “gia cố” nhiều hơn sen trắng. Nhìn chung, cắm hoa sen kiểu gì, ở đâu cũng phải chăm sóc liên tục. Tôi có nghe loáng thoáng về giống hoa sen Thái Lan trồng ở Việt Nam ra hoa to, bền nhưng mới chỉ có ở TP.HCM, còn chưa ra đến ngoài Bắc.
Đấy là chưa kể phân biệt đâu là sen, đâu là quỳ rất khó. Sen nở hồng. Quỳ cánh thâm dần, không nở mà lụi, thâm quắt đi. Có cửa hàng hoa lâu năm cũng không thể “ú tim” mà mua sen được. Nếu muốn đích thực sen, phải mua ở đầm, hồ trực tiếp.
Trên đây là một bài viết ngắn trên TT&VH cuối tuần. Nhân có việc bình chọn quốc hoa, báo phải có bài bàn về hoa sen và một phóng viên đã ghi lại mấy ý của bà Nguyễn Thị Hải, chủ cửa hàng hoa và bánh Jammy 37 Hàng Lược (Hà Nội).
Tôi đọc và cảm thấy lâu lắm mới được nghe tiếng nói của một người yêu hoa và thực là hiểu biết cặn kẽ về hoa, lại biết cách chia sẻ để mọi người cũng yêu hoa như mình. Y như một nhân vật của Thạch Lam, của Nguyễn Huy Tưởng còn đang sống. Ở đây không chỉ cách cảm cách nghĩ mà cả cách nói của con người thời tiền chiến .
Nhất là khi đối chiếu với thú vui người Hà Nội hôm nay mà chúng ta thấy và báo chí vẫn mô tả -- chẳng hạn qua mẩu tin sau:
Hà Nội ngày càng đông đúc với nhịp sống hối hả hơn. Thế nhưng, ẩn đằng sau sự tất bật ấy, người Hà Nội trẻ lại có những thú vui đằm hơn, ẩn hơn. Uống cafe ngắm thằn lằn châu Mỹ, kỳ đà bông... đang thưởng thức lũ sâu, giun, dế bò lổm ngổm trong bát ăn hay ôm ấp chú mèo lông trắng như tuyết đang là cách xả "xì trét" mà họ chọn.

Friday, May 27, 2011

Xã hội Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII

 Ghi chép từ cuốn                
Lịch sử tự nhiên dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài
                                      Jerome  Richard  -- Paris 1778


Lời dẫn
    Trong cuốn Tư liệu văn hiến Thăng Long Hà Nội – Tuyển tập tư liệu phương Tây  NXB Hà Nội 2010, nhà sử học Nguyễn Thừa Hỷ cho biết trong việc cung cấp cho người đọc hiện đại những nét phác họa về Thăng Long Kẻ Chợ thời Nam Băc phân tranh, thì  Lịch sử tự nhiên dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài của giáo sĩ Jerome Richard thuộc loại tài liệu đáng chú ý nhất.

       Theo sự chỉ dẫn đó, chúng tôi tìm đọc bản dịch trong tập tư liệu trên và  thấy rõ cách đây hơn hai thế kỷ, cuốn sách đã được biên soạn theo hướng viết lịch sử xã hội là một việc mà ở ta chưa ai làm  nên càng cần thiết phải đọc.
       Dưới đây là một số ý tưởng, một số nhận xét của tác giả mà khi đọc sách tôi đã ghi chép lại và đôi khi thử diễn giải lại theo cách hiểu của mình. Sự chọn lọc còn tùy tiện và bị chi phối bởi nhu cầu riêng. Giới thiệu chúng ở đây, chúng tôi chỉ muốn chia sẻ một hướng suy nghĩ trong khi làm việc, đó là muốn lý giải hiện tại phải trở lại với lịch sử. Và với cả cộng đồng, những nhận xét từ bên ngoài nhiều khi đau xót, nhưng là cần thiết trên con đường tự nhận thức .


  Phần đầu của cuốn sách dành để  miêu tả chung về  nhiệt độ, khí hậu ,cư dân… của Đàng Ngoài, trong đó đoạn nói về Vịnh Đàng Ngoài kể là có một hòn đảo, được người Hà  Lan đặt là Đảo cướp . Chủ đảo là một võ tướng lo thu thuế.
Các "đô thị" - chỉ là để tập trung dân, mật độ ngang thành phố châu Âu. Các đô thị này chẳng có gì khác nhau. Chỉ có Kẻ Chợ đáng gọi đô thị. Thành phố trật tự, nhưng có trò bắn tên có mồi lửa trong đêm vào các nhà rơm rạ gây ra đám cháy.
Người Trung hoa ở đô thị Kẻ chợ - đông, mạnh; họ cũng có mặt ở khắp nơi trong cả vùng đồng bằng.
Các loại phương tiện giao thông
-         Ngựa: quan;
-         chân trần: dân;
-         cáng: nhà giàu, người có địa vị
Từng có cầu đá do người Trung Hoa xây rồi vì chinh chiến, bị phá.
Vùng núi sống trong dốt nát và dã man. So sánh: lúc này ở Trung Hoa đã có lúa vụ 3. Nhưng ở Đàng Ngoài thì chưa. Do thiên nhiên chiều đãi, con người nơi đây tế nhị, khéo léo nhưng yếu ớt và ít dũng cảm.


  Cách cư trú, phong tục
Có khoảng 9.000 thôn xóm và 3.000 đơn vị phụ gọi là trại.
Dân miền núi bị coi là man di, nhưng theo các nhà truyền giáo, trong các dân cư ở đây, người H'mông - nhiều nhân tính nhất. Họ ghê sợ với tục lệ dân miền xuôi. Xứ miền núi này cung cấp những chiến binh dũng cảm khi cần. Có người Tartar. Sống du cư, giỏi chữ Hán, giỏi buôn bán. (Có lẽ là H'mông - VTNh)


Tính cách con người
Người dân đồng bằng bị các nhà truyền giáo coi là thô lậu, cả tin, mê tín. Như một bọn du đãng, sông trên thuyền, trên sông. Thật ra không phải vậy. Ở đây, dịu dàng và yêu thích bình yên là tính cách ngự trị. Cạnh đó lại hiếu động hay bị chia rẽ - thường xuyên nổi dậy và mưu phản.
Dân chúng bị lối cuốn vào các cuộc nổi dậy đó như một trò chơi, hơn là  bởi tham vọng hay tư tưởng về một cuộc sống hạnh phúc hơn. Những vị quan đầu triều ( = những người ưu tú nhất) không bao giờ tham gia các cuộc nổi dậy này.
Đặc tính người bên lương (thờ Phật )
- luôn luôn không hài lòng với hiện trạng
- ham tài sản, độc ác, phản trắc
- coi cuộc đời như một cực hình
- sẵn sàng phụ bạc vì món lợi nhỏ.
Nhà nước cấm đạo. Chính ra dân cư các làng xóm lại hay đi tố giác để kiếm lợi. Sự mê tín + tâm lý vụ lợi  = cuồng tín.


Giao thiệp với người châu Âu.  
Triều đình biết quá ít về những lợi ích của mình  nên không buôn bán với người nước ngoài.
Một số trao đổi lặt vặt chỉ nhằm thỏa mãn những ao ước rất tầm thường: vài cái váy dạ, ít đồ gỗ. Vì người dân  không đi đâu nên những cái vớ vẩn đó cũng thành hương xa hoa lạ. Xem chuyện nơi xa là hoang đường.


Ăn mặc: không tất, không giày, không quần lót.
 Giày dép là để phân biệt ngôi thứ:
- dân thường bị cấm.
- chỉ hạng tiến sĩ mới được dùng dép
- chỉ người hoàng tộc mới được đi giày . 


Đời sống tinh  thần. Bộ máy quản lý
Nhìn chung dân có tinh thần sáng suốt, minh mẫn. Sẵn một bản năng khéo léo, chỉ thíêu khoa học – sinh ra tính ỳ.
 Nhưng nghèo khổ quá khiến người ta chỉ nghĩ đến sinh tồn tức là phó mặc mình cho sự biếng nhác bẩm sinh.Bộ máy hành chính sẵn sàng “vét cạn” các mầm mống tài năng. Bộ máy này ngu dốt và kiêu căng, nhưng có quyền lực. Họ đối xử với những người khéo tay hơn họ và giàu hơn như nô lệ.
Quan lại đóng vai cái gì cũng biết hết. Thật ra họ không biết, họ dốt song làm bộ làm tịch coi người khác như công cụ. Thuế rất nặng. Dân ở các vùng cằn cỗi không nộp thuế bằng thóc gạo thì phải nộp bằng cỏ.
Việc quan: sáu tháng trong một năm. Hoặc việc công, hoặc đi phục dịch các đức ông.
Sở dĩ chính sách khắc nghiệt  vì người ta cho là phải làm thế mới trị được một đám dân hiếu động và dễ phản loạn.
Các ông chủ chỉ yên tâm nghỉ ngơi khi mọi người lao động làm việc liên tục và chỉ có một đời sống tầm thường. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ một số người thử vận may trong buôn bán.


Trung Hoa là một tấm gương.
Những người Trung Hoa đã có một thời gian dài là chủ nhân xứ Đàng Ngoài. Họ đã đưa vào đây luật lệ, ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo...Phong tục Đàng Ngoài cũng có nhiều mối liên hệ với phong tục Trung Quốc.
Ngôn ngữ Trung Hoa là ngôn ngữ bác học. Nho sinh Việt Nam gần giống Nho sinh Trung Quốc.
Vẫn có một thứ biệt ngữ. Một ngôn ngữ và một chữ viết riêng xuất phát từ Trung Hoa.


Luật pháp 
Có luật, chẳng hạn luật cấm rượu nhưng ít được tuân thủ. Luật chỉ có tác dụng với kẻ non gan. Ngoài ra, nói chung, không tuân thủ không sao.
Sự phóng đãng được dung thứ, tức gần như được phép.
(VTNh:  Luật chỉ  có tính chất nửa vời)
- ít đi học vì nghèo
- Có hiện tượng bán con vì nghèo
- Nhận làm con nuôi quan chức để xin được bảo kê
Nạn vay nặng lãi phổ biến.
Người đi vay dễ vỡ nợ. Luật pháp đứng về phía chủ nợ.




Văn hoá giao tiếp Đàng Ngoài bắt nguồn một phần lớn từ những tục lệ của nước Trung Hoa, có phân biệt
- dân gian: buông thả
- quý tộc: quản lý chặt hơn (như ở Trung Quốc)
Nhiều phụ nữ được coi là vô cùng dễ dãi. Họ buông thả mình cho những người ngoại quốc với cái giá rất xoàng...
Quan to đi chơi bằng ngựa. To nhỏ dựa vào số người đi hầu kèm theo hộ vệ.
Con người Đàng Ngoài không có xu hướng khám phá, không có tính thần học hỏi, kể cả trên phương diện nghệ thuật. Nhưng lại thích -- với những gì sử dụng hàng ngày và những cái đã biết -- chứng tỏ là mình xa hoa sang trọng. Họ rất ham thích khoái lạc. Lý do: khí hậu nóng bức, đất đai màu mỡ, dễ sống.


Người  ta quen với chế độ chuyên chế; chịu đựng mà không thấy khổ. Biết nhà nước tự do là hay hơn. Nhưng không đủ sức đấu tranh.
Một số dũng cảm khởi nghĩa, dân chúng có theo và người ta hứa với họ đủ điều. Nhưng kết thúc bằng tái lập chế độ độc đoán.
Sau biến động, con người tự nhủ quá hạnh phúc khi có thể trở về bình yên dưới cái ách vốn có từ trước.
Trong giao thiệp thăm viếng con người, tránh nói chuyện buồn rầu. Không có đồng hồ. Tất cả sống bằng ước tính.


Lễ hội - phóng túng quá đáng, người nghèo cũng bất cần đời. Sợ ra ngoài mùng một tết - sợ điều xấu. Bọn trộm rình rập khắp nơi, ám hại người trên đường.
Các làng quê có nhà hát trò, chèo tuồng. Các loại quần áo rất kỳ cục,  vay mượn từ Trung Quốc. Nội dung tích trò là ca ngợi vua chúa và người có công với nước, xen vào chuyện tình yêu và chuyện phiêu lưu.
Trò chơi - chọi gà, câu cá.
Nhìn chung, khi không bắt buộc phải làm việc, những người dân sống ở Đàng Ngoài yếu đuối và biếng nhác. Hạnh phúc lớn nhất của họ chỉ là thoả mãn thói phàm ăn. Chỉ có những niềm say mê hầu như luôn có hại cho xã hội (VTNh: những niềm say mê bệnh hoạn) mới kéo người ta ra khỏi tình trạng uể oải.


 Tôn giáo
Với quần chúng vô học, tôn giáo ở đây là thực hành mê tín. Chẳng có gì là không có thể thành vật thờ cúng. Nhưng đối tượng của mê tín lại luôn luôn thay đổi. Hôm nay được tôn sùng mai bị lãng quên, thậm chí bị phỉ báng.
Không có gì lâu bền. Nên có thể nói chẳng có tôn giáo gì cả. Chùa có ở mọi trấn, xã, song đều xây dựng cẩu thả, và trông thì xấu xí.
Rất nhiều thuật sĩ bịp bợm. Quyền lực của họ vươn từ những người dân dưới đáy tới vua chúa.


Về Khổng Tử và Nho giáo
Các giáo điều chính:
- lưu ý sức mạnh trí tuệ. Đặt vấn đề có được hiểu biết bên trong về sự vật
- nhấn mạnh chữ tâm
- đề cao lòng thành.


 Khoa học, kỹ thuật.
Khoa học - lo nghiên cứu bình chú Khổng Tử. Địa lý thiên văn cổ lỗ. Lịch sử chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia.
- Không hiểu gì về thế giới.
- Giải thích về khí hậu rất nực cười.
Dân tộc này chỉ quen nhận thức những vật thể có hình hài và cảm giác. Mọi biện luận siêu hình bị coi là vô bổ.
Dửng dưng với việc đi tìm chân lý, họ chỉ quan tâm tới những quan nịêm mang tính đạo đức.


Thi cử
Tham nhũng, thiên vị, thiên kiến là tình trạng chung của vương quốc.
Do đó các cuộc thi tiến sĩ cố tỏ ra nghiêm khắc. Nhưng  học hành chẳng theo chương trình nào. Khả năng đỗ phụ thuộc trí nhớ  ( chứ không phải hiểu biết). Người thi đỗ được miễn mọi khoản thuế. Địa vị quý tộc không được truyền lại cho con cháu. Mà mỗi cá nhân, đến lượt mình, tự xác định cho mình.
Học người xưa không hề có phê phán. Không học ngoại ngữ. Vua có thông ngôn - tiếng Hoa, tiếng vài nước láng giềng, tiếng Bồ Đào Nha.
Người làm mỹ thuật tay nghề đơn sơ, ít khao khát hoàn thiện; bó chặt trong quy phạm lâu đời. Khuôn mặt trên các tác phẩm điêu khắc trông khủng khiếp và kỳ quái.
Mọi nghề nghiệp đều chỉ tiến hành với những dụng cụ đơn giản như làm việc không cần thước.


Nội ngoại thương . Quan hệ với người Hoa
Nhiều tiềm năng. Nhưng chính quyền không muốn dân giàu sợ thần dân một khi tích tụ tài sản, sẽ sinh tham vọng, kiêu căng không còn thói quen phụ thuộc tuyện đối, như là cái đảm bảo cho sự cai quản của nhà vua. Cũng có những người giàu lên nhưng phải cống nộp quan trên khá nhiều.
Ngay người Hoa cũng phải hối lộ quân vương. Thương nhân bản xứ bị xem là đáng sợ nếu quan hệ với người ngoại quốc.
Các ngành thương nghiệp và thủ công nghiệp của người Hoa tối cần đối  với sự sống còn của vương quốc. (Người Hà Lan từng làm một con đê ở đây).
 Trong thương mại của người Hoa có một ngành khá nổi bật: thuốc bắc. Ngoài ra, họ còn buôn bán chè, đồ sứ, tơ lụa, vải, dùng bột mì, nồi niêu, đồ sắt.
Người Hoa không truyền nghề cho cư dân bản địa để giữ bí mật. Từ đó, người Việt có niềm tin mình không thể làm gì bằng người Hoa.
Nghề người Hoa làm:
- khai thác hầm mỏ
- đúc vàng bạc
- khắc ván in, làm ra những cuốn sách.
Dùng sức mạnh tài trí, khiến người ta cần đến họ. Rất nhiều mánh khoé. Sống ở Đàng Ngoài, người Hoa bảo tồn trang phục. Họ là người cung cấp hàng  cao cấp cho chính quyền và đây là việc họ không thích nhưng buộc phải làm thì mới có quyền tha hồ bán các loại hàng khác cho dân thường.
Người Anh cũng mang đến các mặt hàng như người Hoa. Ví dụ các loại đá quý, ngọc trai, nhưng đáng chú ý: đá giả mới bán chạy.
Dân nghèo quá , nhiều khi lại mua chịu và hay quỵt. Khi tàu buôn đến, có lính đến khám. Tàu buôn phải giấu ngay các mặt hàng quý. Bộ máy hành chính từ vua xuống tự cho mình quyền tha hồ quấy đảo đám lái buôn này.
Kỹ thuật đúc tiền kém cỏi. Tiền rất dễ thành vô giá trị. Rồi tiền từ Trung Hoa tới -- "hiếm có quốc gia nào trên thế giới có quá nhiều kẻ đúc tiền giả như vậy"
Mỏ vàng bạc chỉ người Hoa biết khai thác, và nộp cho chính quyền bao nhiêu, là do họ tính.
Dân Đàng Ngoài hiếm khi sử dụng tới phép đo lường trong buôn bán. Dùng tay để đo vải. Gạo đỗ, đong bằng khối hoặc ước lượng. Buôn thóc gạo bị cấm, nhưng vẫn diễn ra khá sầm uất.
Mức lãi của người buôn lên tới 1/3, mặc dù vậy, người Đàng Ngoài chỉ là "những tay buôn vô cùng kém cỏi".Buôn vải, tơ. Buôn quế - vua độc quyền khiến  dân miền núi thành kẻ buôn lậu. Đường cũng mua của người Hoa. Khai thác rừng tre - tuỳ tiện. Ai muốn, chỉ cần nộp ít tiền cho người quản lý hành chính là chặt thoả thích, hoặc đốt, phá nhiều tre đưa trở về qua đường sông.
Đàng Ngoài có thể là điểm trung chuyển lý tưởng cho thương mại Âu Á. Nhưng chính quyền sợ người nước ngoài nhân cớ đó để xâm lược. Đáng lẽ phải ngờ người Hoa vì họ đã từng nắm giữ chủ quyền ở đây. Song vì lý do cùng chung phong tục, tín ngưỡng… người Hoa không bị ngờ như người  châu Âu.


Quyền lực
Đàng Ngoài từng là một bộ phận của Trung Hoa. Nhưng vẫn là một dân tộc hoàn toàn khác biệt. Trung Quốc gọi họ là man di.
Thời đó người ở đây chưa có chữ. Dùng chữ Hán. Các thủ lĩnh bản địa, tuyên bố mình là chủ nhân của mảnh đất này. Dân theo sự dắt dẫn của họ, các thủ lĩnh thường có sự giúp đỡ của bọn du đãng. Nội chiến (12 sứ quân). Lê Đại Hành xưng vương…
Nhà Minh sang, sau Lý Trần, thi hành luật lệ, phong tục, cách làm ăn kiểu Trung Quốc “bắt dân chúng phải tuân theo một lối sống giống nhau”. Nhờ vậy, một trật tự vững chắc được thiết lập và bảo lưu đến tận cuối thế kỷ XVIII.
Dân chúng Đàng Ngoài lấy làm tự hào tuân thủ các phong tục và luật lệ của Trung Quốc nhưng nó không làm cho họ quên đi ký ức về sự tự do xa xưa và mong ước trở lại.
Quan hệ Trung Quốc: có triều cống, nhận ấn phong vương “coi như một dấu hiệu độc lập và một sự xác nhận với việc lên ngôi”; nhưng không vì triều cống mà những vị vua này hoàn toàn không phải là những chủ nhân ở đất nước họ.
Nhà Lê suy yếu.  Mạc Đăng Dung (một “kẻ phiêu lưu”) cướp ngôi. Nguyễn Kim giúp khôi phục mang theo sự hình thành thể chế nhà chúa. Trịnh Kiểm- người có tài năng và phẩm chất dị thường, từng là thủ lĩnh bọn cướp.
Hình thành Đàng Trong. Nguyễn Hoàng vẫn thần phục nhà Lê nhưng tự tuyên bố độc lập. Đàng Trong ngày một rộng lớn nhiều chúa tể nhỏ hơn, trở thành thuộc quốc của vị tướng này .
Ở phương Đông được làm vua thua làm giặc. Còn ai cũng gian ác. Vua là một danh nghĩa, giống như một đồ trang sức.
Vua chỉ có quyền hão (Chúa quản lý hết và có quyền thế tập). Vua ngủ say trong niềm vui thú và bạc nhược. Làm quen với sự thụ động và nhàn rỗi. Dòng chúa tự sàng lọc, chỉ có người con kế vị có quyền, ngoài ra đa số bị đẩy vào cảnh nghèo đói. Một số bị điên.
Cả nước bị tàn phá bởi cuộc chiến, đất đai bỏ hoang, nạn đói khủng khiếp. Trong khoảng 8 năm trời, 1/3 dân chúng của vương quốc đã chết.


Lực lượng quân đội
Do hoạn quan chỉ huy (chức vụ có được là do mua). Nghề binh ở đây cha truyền con nối


Luật pháp.
Luật Đàng Ngoài vốn được rút ra từ luật của Trung Hoa. Luật cổ luôn quan tâm tới lợi ích của dân chúng. Người nghèo cũng được bảo vệ.
Nhà vua được xem là người duy nhất quan tâm đến lợi ích chung. Còn tất cả những người khác chỉ hoàn toàn chăm chú đến lợi ích của riêng họ. Nhưng ở  thời này, vua bị loại ra rìa, bị vô hiệu hóa, cộng đồng này chỉ còn quỷ, mà chúa là tên quỷ lớn nhất .
Thói quen ăn hối lộ vững chắc trong quan chức. Có thể đạt với bất kỳ điều gì bằng sức mạnh của đồng tiền. Người ta phải xuất vốn 20-30 ê-quy cho một chức vụ.
Người hiểu biết phải kinh ngạc vì bọn quan lại bạo ngược. Nhưng vua không biết gì hết.
  Nhìn đại lược về hạnh kiểm của dân chúng thì sẽ thấy rất nhiều điều đáng phàn nàn, và ngay cả ở những điều quan trọng nhất. Không có một dân tộc nào trên trái đất này -- nấp sau vẻ ngoài trầm tĩnh và đức độ như người Trung Hoa -- lại gian xảo hơn, vụ lợi hơn, phó mặc mình cho những niềm đam mê hơn và  hăng hái hơn trong việc thoả mãn bản thân.
 Họ luôn tìm cách lừa dối nhau. Đối với người nước ngoài lại càng không có sự an toàn nào, nghĩa là luôn luôn trong trạng thái ngờ vực.
Rất nhiều luật lệ, có những điều luật thể hiện công lý nhân văn và từ thiện hơn luật pháp Trung Hoa.
Nhưng không phải chúng được thực hiện. Các thẩm phán luôn luôn đứng về phía người có của. Tất cả đều có thể mua bán một cách tuỳ tiện.
Có thời khoảng thế kỷ XVI (?) đất nước thịnh trị, luật lệ nghiêm khắc. Nhưng một vị chúa đầu thế kỷ XVIII  (70-80 năm trước khi xuất bản sách này) đã thay đổi tất cả. Tăng thuế. Ngông cuồng hưởng lạc. Tăng cường quyền lực cho đám hoạn quan đến mức vô bờ bến. Và tăng cả số lượng, tới mức chúng làm cho đất nước trở nên nghèo đói.
Vết nhơ về sự chuyên quyền ghi sâu trong đời sống toàn bộ dân chúng vì chẳng có cách gì để chống lại sự hám tiền, hám quyền của bọn quan lại.


Ngoài ra những lo lắng, sự ngờ vực, sự thiếu cạnh tranh đã bóp nghẹt mọi tài năng, căng thẳng tinh thần, làm xẹp đi mọi tham vọng chính đáng. Người dân không còn nhìn đâu xa hơn cuộc sống tầm thường quanh mình.


Nhà tù
Đó thực sự là một nơi khổ hình bất tận. Giường của tù nhân chính là nền đất ẩm ướt. Đàn ông và đàn bà ở lẫn lộn và ngủ trong bóng tối, bùn, và rác. Thường xuyên là người sống với những xác chết bị thối một nửa. Cai ngục là bọn đáng ghê tởm.
 Nhưng đó là một nghề được ưa chuộng. Người ta phải nhờ cậy chạy chọt mới có được chân cai ngục và họ sẽ giàu lên bằng sự tàn bạo.


 Đoạn kết: Khả năng tự hoàn thiện
Chế độ chuyên chế tuyệt đối đã đối kháng với sự phồn vinh của quốc gia. Nó làm cho trình độ sống của cộng đồng - chẳng hạn hoạt động kinh doanh-- không bao giờ được nâng lên.
Ở đây, mọi sự vượt trội và một khao khát  mưu cầu danh tiếng đều dễ bị coi là một thứ tội phạm. Đốn mạt nhất là những hoạn quan khóac đầy mình những chức tước. Chúng tàn bạo và cho phép mình tha hồ cướp bóc. Vì rằng mọi tài sản đều là tạm bợ  và những vinh hiển cũng chỉ có lúc, con người sinh ra hư vô, họ cảm thấy  trước xu thế nghèo khó chung, rồi chẳng có gì cứu được họ. Tuy nhiên nếu được cai trị tốt hơn thì dân chúng vẫn có thể tự hoàn thiện và sẽ chẳng khó khăn gì trong việc yêu cầu họ thực hiện những đức hạnh phổ quát hữu ích cho xã hội.








Tuesday, May 17, 2011

Nhật ký 2011 ( tuần XVIII --XIX)




V-T-N và Đỗ Chu,1967
3-5
  NHỚ LẠI CHUYỆN CŨ

      Ngày này 36 năm về trước, tôi theo chuyến bay đầu tiên bay từ Hà Nội đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Mấy ngày tiếp đó, bọn tôi thường đi dự các buổi gặp mặt của sinh viên, sau đó lang thang ra đường.

       Còn nhớ có lần, sau mấy câu trò chuyện bâng quơ, một anh bạn trẻ sẵn Honda hỏi tôi muốn đi đâu sẽ chở đi. Ở SG tôi không có người thân, không có nhu cầu tìm ai, đành bảo anh dẫn đến Nhà sách Khai trí. Trên đường đi bạn trẻ ấy chia sẻ vài suy nghĩ thời sự và nêu câu hỏi :

-- Biết rằng cuộc sống sắp tới sẽ gian khổ, tôi chỉ muốn hỏi những hy sinh của chúng tôi liệu có đáng không.
   Tôi không biết trả lời sao chỉ nói một cách chung chung:
-- Chỉ biết là Mỹ đi rồi, còn tình hình ra sao là do người Việt ta giải quyết với nhau.
     Mấy hôm sau, nói lại với Nguyễn Khải, bị ông mắng cho một trận, sao lại nói thế, sao không bảo là cứ tin tưởng đi, chúng tôi vào đây được thì làm gì không được. Tôi đâm cụt hứng, từ đó đi đâu không dám nho nhe gì nữa.
***
     Như tôi đã viết đây đó, trước 1975, ở Thư viện quân đội, tôi đã được đọc một ít sách báo miền Nam, thường xuyên nhất là các tạp chí Bách Khoa, Văn, Khởi Hành, Thời Tập, Vấn đề… Trong số những ý tưởng mà tôi đọc được trong các tờ tạp chí đó, có cái câu sau đây của anh Cao Huy Khanh mà tôi cứ nhớ mãi. Nhân có một cuộc trao đổi gì đó với anh em Hà Nội, CHK viết trên Khởi hành, đại ý bảo các anh đừng tưởng chỉ các anh mới là Việt Nam, chúng tôi cũng là Việt Nam. Và trong những năm qua, con người trên mảnh đất này vẫn có điều  tự hào là chúng tôi biết học. 
            Tôi không nhớ nguyên văn nhưng tinh thần cam đoan là thế.


6-5
       TẠI SAO HỌC SINH KHÔNG THI
        VÀO CÁC NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI ?
    Nhiều báo đưa tin loại này. Như tin có trường cấp ba, cả khối 12 không có học sinh thi vào khối C. Trả lời câu hỏi của Đài phát thanh, tôi nói cái lý do thấy rõ nhất là ở phổ thông, các khoa học xã hội được học giống như một môn chính trị thực dụng và những bài bản của những năm chống Mỹ giờ đây vẫn được sử dụng y như cũ nên khó thuyết phục.
     Nhìn chung, ở ta, KHXH chưa thành khoa học, không gây nổi sự ham muốn chân chính ở các em.
     Một điều chú ý là nên gắn việc chọn nghề với việc tiến thân lâu dài của một con người.
   Theo dõi tình hình chính trị  thế giới, ví dụ vụ Ai Cập,  Libya, hoặc sự thay đổi về kinh tế, văn hóa… người ta thường thấy ở nhiều nước – từ Mỹ Anh, đến Nga, Trung quốc, có hai loại người đứng ra phát biểu, một là các đại diện nhà nước, hai là các nhà khoa học xã hội. Các vị trí thức này thường làm bước thăm dò. Ở ta thì không, loại nhân vật xã hội đó chưa xuất hiện và xem ra chưa biết bao giờ mới xuất hiện.
      Làm khoa học xã hội không có chỗ tiến thân, vậy thì vào đó làm gì – tôi đoán là nhiều thanh niên ưu tú đang nghĩ thế.
     Lại còn chuyện ở đây dễ đánh mất mình lắm. Hãy xem nhiều công trình khoa học xã hội đã công bố, chủ biên toàn người có chức có quyền. Trong giới ai cũng biết ông ta chẳng hiểu gì chuyên môn cả. Nhưng phải công kênh ông ta lên thế thì mới xin được kinh phí. Khi góp mặt nghiên cứu theo kiểu ấy, hỏi còn ai làm việc hết mình? Cả làng cả nước chẳng những cứ giẫm chân tại chỗ mà đương nhiên là còn hủi cùn hủi cụt đi nữa.


Ở VN, nếu có chỉ tiêu nào đó không đạt được, không ai làm sao cả. Hơn nữa, VN có quá nhiều hội thảo, kiến nghị -- không có trọng lượng mấy tới hành động. Các bạn nên giảm họp hành và tạo ra các ủy ban hoạch định chính sách, đảm bảo các chính sách, gợi ý được thực hiện.”


CHUYỆN KHÔNG CỦA RIÊNG AI
     Đó là chuyện làm ăn kiếm sống.  Chủ một “siêu thị “ nhỏ xíu cạnh nhà tôi bật mí cho biết bán một tháng sống cả năm. Thả nào mà bây giờ nghề buôn phát triển.
     Tôi nghĩ lẽ ra trong trường hợp này,  xã hội phải có khả năng giám sát và đạt được quy định cho giá cả mọi thứ hàng hóa. Với từng loại hàng chi phí cho sản xuất bao nhiêu, chi phí cho lưu thông bao nhiêu, vậy cuối cùng  bán bao nhiêu thì đủ để mọi người chịu được và yên tâm với công việc của mình. Đó chính là sự công bằng. Còn cứ thả lỏng như hiện nay—ai giỏi lừa thì sống—thì liệu mấy ai còn đủ sức làm ăn đứng đắn?


 
8-5
Một đoạn ghi được trong sử
   TRIỀU VUA CUỐI CÙNG CỦA NHÀ NGUYỄN
   QUAN NIỆM VỀ SỰ KẾ VỊ NHƯ THẾ NÀO     
     Trong Đồng khánh Khải Định chính yếu  của quốc sử quán triều Nguyễn, bản dịch tiếng Việt, tr 269, thấy có ghi: Năm Khải Định thứ bẩy(1922), mùa hạ tháng tư, Mệnh cho Hoàng Thái tử sang Tây du học. Dụ rằng
Sở dĩ cha mệnh cho con đi du học chính là muốn con mở rộng kiến thức, tăng cường trí tuệ, đồng thời có được hiểu biết về công việc giao thiệp, để sau khi thành tài có được một tư chất hoàn hảo.
     Vả lại làm  địa vị một người  đứng trên những người khác thì trách nhiệm không phải dễ dàng.
      Với trách nhiệm nặng nề to lớn thì phải có tư chất hơn người mới có thể đảm đương được.
       Nếu may mà con đi du học thành tài trở về  đến khi cha già trăm tuổi qua đời sồi, triều đình lập con nên kế ngôi thì tư chất của con đã đủ để gánh vác trách nhiệm ấy.
       Còn nếu vạn nhất chẳng may vì duyên cớ ngoài ý muốn mà con không học được thành tài khi đó triều đình có đón con về lập lên ngôi thì con phải từ chối nhất thiết không được nhận.
       Nhận ngôi để rồi không đảm đương được trách nhiệm thì  không chỉ hại đến bản thân mà thôi đâu. Cái hại đối với bản thân mình còn là nhỏ, để hại cho tôn miếu xã tắc thì cái hại ấy mới thật là lớn. Con hãy nghe theo lời của cha. "        


9-5
     Tháng năm dương lịch rồi mà Bắc bộ còn lạnh vì gió mùa đông bắc! Đến khí hậu cũng do mưa gió băng tuyết từ tận đẩu tận đâu quyết định, hỏi làm sao kinh tế chính trị xứ mình không bị biến chuyển từ các xứ sở khác ảnh hưởng tới ?




  GỌI RA BỆNH  THÌ ĐÃ QUÁ MUỘN  


   Tin trên VNN
      Khán giả "phát điên" vì phim Việt
    Tức giận, bức xúc, xấu hổ, bực mình, thất vọng, ngượng... là những trạng thái cảm xúc khác nhau của hàng trăm độc giả khi phản hồi về phim truyền hình Việt hiện nay.
 Cạnh đó là danh sách các bài liên quan


  
1




  15-5
     CÓ ĐẤT NÀO NHƯ ĐẤY ẤY KHÔNG ? 
       Có đất nào như đất ấy không
        Phố phường tiếp giáp với bờ sông
       Nhà kia lỗi phép con khinh bố
       Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.
 .....
    Đó là mấy  câu thơ  của Tú Xương khái quát cái buối giao thời hỗn hào ở VN đầu thế kỷ XX. Nay thì tôi cũng muốn mượn nó ra để nói về tình hình của chúng ta.
      Tạm khoanh vùng vào một chuyện, là không khí nhà trường, nơi con em chúng ta lui tới hàng ngày.
       Trong một lá thư gửi từ nước ngoài, ca sĩ Khánh Ly nêu một khái quát đại ý học sinh người Việt ở hải ngoại hết giờ học thì lên thư viện, học sinh trong nước ở trường về thì ra quán chơi game.
       Giữa bao nhiêu khía cạnh khác mà mọi bậc phụ huynh hàng ngày đón con trở về phải đau lòng, có chuyện bạo lực học đường.  Đây là một mẩu  tin  tôi cắt ra dán lại:
      Theo số liệu được đưa ra tại "Hội thảo giải pháp phòng ngừa từ xa và ngăn chặn tình trạng học sinh đánh nhau" do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức ngày 28/07/2010 thì trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến ngày diễn ra hội thảo, các trường trên toàn quốc đã xử lý kỷ luật, khiển trách gần 900 học sinh, buộc thôi học hơn 730 học sinh và cảnh cáo gần 1.600 học sinh do tham gia vào các vụ đánh nhau trong và ngoài nhà trường. Riêng năm học 2009-2010 xảy ra 7 vụ việc học sinh đánh nhau dẫn đến chết người.
   Từ đó đến nay, con số trên tăng trên tăng là bao – không biết có thể tìm  báo cáo ở đâu?
    
 Với tư cách một người đã học qua các trường từ trường thời Pháp tạm chiếm qua các trường ở Hà Nội sau 1954 và sau này có theo dõi con em ở các nhà trường  từ bắc đến nam, tôi phải nói là chưa bao giờ chứng kiến tình hình tương tự.  
    Cái đáng lo là không những nhà trường mà phải nói toàn xã hội cũng chưa tìm ra phương thuốc chữa chạy hiệu nghiệm cho căn bệnh trên.    
     Nhà văn Nguyên Ngọc và nhà kinh tế Vũ Thành Tự Anh từng có một cuộc đối thoại về vấn đề này. Các ý kiến được ghi lại thành bài viết mang tên Vóc dáng tự do,tinh thần độc lập vốn  in trên tạp chí Tinh hoa và in lại trên Chung ta.com .  
      Giáo dục phải đào tạo ra những con người tự do, tự mình đi tìm chân lý, sự thật. Nói theo một cách nào đó, sống tức là lựa chọn. Con người tự do là con người có ý chí và có khả năng tự mình lựa chọn, chứ không phải chịu sự áp đặt của người khác, dù là ai, trong lựa chọn. Và khi đã lựa chọn, thì tự mình chịu trách nhiệm về sự lựa chọn đó…
          Thấy hay quá đúng quá.
        Nhưng chợt nhớ đến các tin tức trên báo.
        Nếu đối chiếu với tình hình học trò hiện nay thì người ta sẽ phải nhận là các ý kiến đề xuất nói trên là quá cao vời, quá sang trọng; cái mà chúng ta cần ngay bây giờ là một cái gì khác rất nhiều.
       Thậm chí  có người còn nói với tôi chúng ta có một lớp trẻ đã quá tầm thường hư hỏng, giờ đây không thuốc chữa được nữa.
       Trước mắt, cần thảo luận và cần thêm cả những người gọi bệnh chi tiết chăng?
  Có đất nào như đất ấy không ?  Giờ đây câu hỏi  ấy của Tú Xương  phải ”dịch” ra thành hàng loạt câu khác. Ít nhất là phải một lần chuyển từ không gian sang thời gian để có cái  biến thể (variant ) sau:
-- Có thời buổi nào như thời buổi hiện nay không?




   














Monday, May 9, 2011

Tiếng Việt rồi sẽ ra sao?

Bài I

Cách gọi tên các tháng trong tiếng Việt cổ nói chung bình thường, nếu không kể tới mấy trường hợp đặc biệt: tháng mười một gọi là tháng một, tháng mười hai gọi là tháng chạp, và tháng đầu năm gọi là tháng giêng.

Đối với tháng mười một, cách gọi này hơi bất tiện, nên nó đã tự động bị loại bỏ: riêng cách gọi tháng chạp, tháng giêng thì không vướng cái nhược điểm ấy.

Có lẽ bởi vậy, nên nhiều cuốn từ điển loại như Việt- Hán, Việt- Nga, Việt- Anh vẫn ghi các từ này, để người ngoại quốc được biết. Cũng như một số nhà dịch thuật vẫn dùng các từ này để dịch xuôi.

Như cách hôm nay chúng ta hay nói, đúng là nếu được dùng, nó có làm tăng thêm bản sắc Việt của văn bản.

Song trên các phương tiện thông tin đại chúng của ta một hai chục năm gần đây, hầu như cả hai từ ấy lại có ít cơ may được sử dụng. Vào những ngày đầu năm, nếu xem các chương trình ti-vi, luôn luôn người ta được nghe nói ngày bốn tháng một (4-1), ngày năm tháng một (5-1) v.v...

Và nếu đó trở thành xu thế chủ đạo thì tức là những từ vốn sống dai dẳng, từ mấy trăm năm qua -- bằng chứng là chúng, cả tháng giêngtháng chạp đã được ghi trong Từ điển Việt-Bồ-La của A. de Rhodes (1651) -- đến nay có nguy cơ trở thành tiếng Việt chết, một thứ tử ngữ.

*

Lý do người ta có thể nêu ra khi nói tháng một mà không nói tháng giêng.

- Sợ có bạn đọc, bạn xem truyền hình không hiểu.

- Muốn cho mọi chuyện trở nên đơn giản “đã có từ tháng một rồi, thì việc gì còn phải dùng tháng giêng nữa, cho rách việc”.

Nhưng liệu có thể nhân danh sự đơn giản (và cả sự trong sáng nữa!) để khai tử những từ đã có sức sống lâu bền?

Tôi ngờ ở đây, mọi chuyện được làm theo một thói quen tự phát, hơn là có suy nghĩ cẩn trọng, và đó là điều nên được tính lại.

*

Bên cạnh những từ, những cách nói mất đi (hoặc có khả năng mất đi) lại có những từ mới, những cách nói mới ngày một sinh sôi nảy nở. Một cháu nhỏ bốn tuổi khoe với tôi món đồ chơi mới được mẹ mua:

- Cái ô tô này hơi bị đẹp đấy bác ạ.

Rồi sợ tôi hiểu lầm, cháu giảng giải thêm:

- Hơi bị đẹp là đẹp, chứ không phải là xấu đâu!

Cháu nhỏ quả có sự nhạy cảm cần thiết. Trong tiếng ta, từ bị thường đi kèm với ý kém, dở, đáng bỏ đi (“bức tường đã bị ngả màu”, “bộ cánh đã bị loại sớm”...), nhưng ở đây, nó lại được dùng để lưu ý tới một trạng thái tốt, có chất lượng. Thì đúng là một cách nói lạ rồi còn gì! Có điều, tuy chỉ mới gia nhập vào kho tàng tiếng Việt độ mươi năm nay song nó, cũng như một vài cách nói khác (rách việc, ti tỉ lần..) đang trở nên phổ biến, và từ chỗ chỉ dùng để đùa bỡn, đi dần sang các lĩnh vực nghiêm chỉnh.

Sau chuyến thăm Mỹ cuối 1995, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến kể với tôi là khi nói chuyện với Việt kiều, ông đã lưu ý tới những hiện tượng mới trong tiếng Việt như hơi bị đẹp, và người nghe tỏ ra khá hào hứng.

Liệu những cách nói này có quyền tồn tại lâu dài?

Tôi đoán ở đây không mấy ai biểu quyết phản đối.

*

Do việc tiếp xúc với các thứ tiếng nước ngoài được mở rộng, nên nhìn chung, không chỉ vốn từ mà cả kiểu câu của ta cũng đang trở nên phong phú hơn. Chẳng hạn, đây là một kiểu câu mới.

- Tại cuộc họp, đã thảo luận các dự án xây dựng một khu chế xuất.

Loại câu này ban đầu được sử dụng để dịch các câu vô nhân xưng trong tiếng nước ngoài. Sở dĩ nó được chấp nhận, bởi nó gợi lại một cách đặt câu vốn có:

- Trong thôn, đang lan truyền một bệnh dịch.

- Trên đỉnh đồi, hiện ra một lùm cây.

- Sau lưng theo một vài thằng con con

(Truyện Kiều)

Thế nhưng việc gì cũng phải có giới hạn của nó. Từ kiểu câu nói trên, người ta đang đi đến chỗ dùng giới từ ở đầu câu một cách quá ư hào phóng đến mức... làm câu không còn ra câu nữa. Ví dụ:

- Với sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô đã làm cho các em ngày một tiến bộ.

Tôi cho rằng đây là cách nói sai, chứ chẳng phải sáng tạo gì cả. Nó không làm giàu thêm, mà chỉ làm tiếng Việt thêm tạp nhạp, luộm thuộm.

Chữa như thế nào? Ta hãy bỏ bớt một hai chữ thừa để có một trong hai câu sau:

1/ Sự giúp đỡ tận tình của các thày các cô đã làm cho các em ngày một tiến bộ.

2/ Với sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các em ngày một tiến bộ.

*

Vai trò sàng lọc và cố định ngôn ngữ dân tộc trước tiên thuộc về các nhà văn, nhà giáo. (Lâu lắm không nghe thấy có nhà văn nào mới xuất hiện, mà được người trong giới khen là có văn, văn hay, văn đẹp!).

Song trong thời buổi bùng nổ của các phương tiện thông tin đại chúng như hiện nay, thì cái sự làm giàu, làm sạch tiếng Việt còn phải trông chờ ở các nhà báo (cả báo viết lẫn báo nói) và nói chung bất cứ ai có sử dụng đến chữ nghĩa để phát ngôn trong xã hội.



BỔ SUNG 5-2011

1-- Không chỉ chữ tháng giêng mất đi mà nhiều chữ khác cũng đang mất trong đó có chữ chết. Nếu xem TV hàng ngày, sau một tai nạn giao thông, bao giờ cũng chỉ thấy nói số người tử vong chứ không thấy nói chết bao giờ.
Mở rộng ra mà xét, tôi có cảm tưởng so với thời tiếng Việt chín đẹp nhất là thời tiền chiến ( 1930—1945 ) thì tiếng Việt từ sau 1945 đang có sự phát triển tự phát. Có mặt giàu lên nhưng nhiều mặt khác nghèo đi, khô cứng hơn.
Chiến tranh ở nước nào cũng vậy làm cho ngôn ngữ mang màu sắc quân sự hóa.
Công cuộc phát triển và quá trình hội nhập làm cho ngôn ngữ bề bộn, pha tạp mà vẫn không đủ khả năng chuyển giao cho con người các vấn đề của xã hội hiện đại.
2-- Ở các nước, người ta có làm một loại từ điển, đếm xem tần số xuất hiện của từng từ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đó là thống kê giúp cho xã hội quản lý vốn từ của mình. Ở ta chưa biết bao giờ mới có loại từ điển này.
-- Năm 2002, Viện ngôn ngữ học đã cho in một cuốn Từ điển từ mới tiếng Việt. Chữ mới ở đây là tính theo mốc thời gian từ 1985 tới 2000.
Đáng lẽ còn phải làm thêm những từ điển khác
Từ điển những từ cũ có nghĩa mới
Từ điển những kiểu câu mới cách nói mới trong tiếng Việt
Và nhất là cần Từ điển những từ Việt gốc nước ngoài
Đây chỉ mới nói về những việc cần làm. Chứ xem cách làm các loại từ điển hiện nay, thì có học theo thiên hạ làm gì đi nữa, rồi ta cũng chỉ bắt chước được phần bề ngoài mà không sao biến nó thành việc nghiêm túc đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội.


Bài II

Cửa hàng sách ấy là chỗ tôi thường lui tới. Người bán hàng đã quen giọng tôi từ lâu. Tôi nhớ là lúc đó, tôi cũng không có việc gì vội, nên nói khá từ tốn. Ấy vậy mà người bán hàng cứ ngớ ra không hiểu mấy tiếng tôi vừa nói và mãi đến lúc tôi lục ra cuốn sách, anh ta mới mỉm cười, ngỏ ý xin lỗi.

Quyển sách gì mà có cái tên khó nghe, khó nhớ đến thế?

Xin thưa, đó là cuốn Tuỳ tưởng lục của nhà văn Ba Kim, do Trương Chính và Ông Văn Tùng dịch, NXB Văn hoá Thông tin, 1998.

Ở trang 3, sau cái tên Tuỳ tưởng lục, cũng không có chua thêm mấy chữ này nên hiểu là gì. Tôi đành vận dụng hiểu biết của mình để cắt nghĩa. Tuỳ đây hẳn là tuỳ ý, tuỳ tiện. Tưởng đại khái là nghĩ ngợi. Còn lục, chắc không phải là sáu mà là ký lục, biên chép. (Truyện Kiều: Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh).

May quá, lúc giở đến trang 8, ta cũng thấy những người dịch nói tạt ngang, đại ý bảo rằng mỗi bài (trong tập) đều có tên riêng, nghĩ đến chuyện gì, viết chuyện đó đúng như cái tên chung “tuỳ tưởng”.

Một thứ nhớ gì ghi nấy, nghĩ gì ghi nấy” - tôi luôn tiện trình bày quá trình “giải mã” của mình với người bán sách, để giá có ai hỏi, anh ta còn bật mí cho họ hiểu một cách sơ lược. Cắt nghĩa xong, thấy hú vía, giá quyển sách nào tên tuổi cũng phải mò mẫm mãi mới đoán ra nổi thế này, thì cũng sợ luôn, không dám đến với các quầy sách nữa. Hoặc có đến thì phải mang theo từ điển.

*

Đông Chu liệt quốcThuỷ hử, Hồng lâu mộng Tây du, Vũ trung tuỳ bút Truyền kỳ mạn lục, rồi Ngọc lê hồn, Tuyết hồng lệ sử, rồi Lôi Vũ, Nhật xuất, A. Q chính truyện... Kể ra, từ xưa tới nay đã bao nhiêu tác phẩm, hoặc của người Trung Quốc, hoặc của tổ tiên ta, viết bằng chữ Hán khi dịch ra tiếng Việt, cứ để nguyên cái đầu đề sẵn có, và người đọc mặc nhiên hiểu. Vậy Tuỳ tưởng lục nói ở đây cũng là chuyện thường tình, có việc gì mà phải ồn lên?

Trước một lời phản bác như thế, xin phép được trả lời vắn tắt:

- Một là cái gì người trước đã làm, hay thì ta nên theo, dở thì ta nên tránh, chứ sao lại nhắm mắt làm theo để đánh đố bạn đọc?

- Hai là trong thực tiễn dịch thuật từ Hán sang Việt, cũng đã có nhiều kỳ công sáng tạo. Trong phạm vi các đầu đề thôi, cũng đã có thể tạm kể, như lấy Chuyện làng nho để dịch Nho lâm ngoại sử, lấy Rừng thẳm tuyết dày để dịch Lâm hải tuyết nguyên, lấy Chuyện cũ viết lại để dịch Cố sự tân biên. Thế thì một bản dịch của năm 1998, có nên bệ nguyên xi cách đọc theo âm Hán-Việt ra ngoài bìa sách, như Tuỳ tưởng lục?

Lại như e rằng dịch ra không diễn đạt được hết ngụ ý tác giả? Thì sao không dùng cái cách một số người khôn ngoan đã dùng, là sau nghĩ gì ghi nấy, chua thêm ba chữ Tuỳ tưởng lục, để cả người thạo chữ Hán lẫn người “chữ nhất bẻ làm đôi không biết”, đều được thoả mãn?

*

Cái sự ép buộc, bắt bạn đọc phải ăn tươi nuốt sống những từ Hán-Việt mà họ chỉ hiểu lờ mờ, không chỉ thấy trong việc xử lý đầu đề, mà ngay trên văn bản tác phẩm.

Đại khái, nếu tra từ điển, tôi cũng biết tản nghĩa là thong thả, không kiềm thúc, còn đạm nghĩa là nhạt. Song quả thật là tôi hoang mang không hiểu hai chữ ấy, khi ghép lại nghĩa là gì. Không may cho tôi là nó lại vừa xuất hiện trên một tạp chí chuyên ngành văn chương, tờ Văn học nước ngoài. Trên số 5 của năm 1997, tờ tạp chí này có in một loạt tản văn của Giả Bình Ao với lời giới thiệu trang trọng. Khi cắt nghĩa những đặc trưng của tản văn và nêu mấy yêu cầu đặt ra với nhà văn sử dụng thể tài này, người giới thiệu đâu tới vài ba lần dùng chữ tản đạm. Theo chỗ tôi tra cứu, chẳng những các từ điển tiếng Việt chưa ghi nhận từ này bao giờ, mà trong các văn bản thông thường hoặc truyện ngắn, tiểu thuyết đã in, nó cũng chưa hề một lần xuất hiện.

Khi nghe tôi than vãn về một vài từ thuần Hán khác như tiễn thủ, dã sinh, hân thưởng... cùng với tản đạm, được sử dụng có phần tuỳ tiện, có người tỏ ý bênh: làm thế để giúp cho tiếng Việt ngày thêm phong phú.

Tiếng nước nào cũng có chuyện bổ sung thêm từ mới. Song theo tôi nghĩ, đó là một việc cần được làm có tính toán, cân nhắc, lại có sự chuẩn bị chu đáo, giúp cho bạn đọc tiếp nhận được chính xác nghĩa của từ mới. Chắc chắn, đó không thể là một việc làm bột phát, chẳng hạn trong lúc mải dịch, không tìm thấy từ tương đương, thì cứ theo âm Hán Việt mà chép, rồi ai muốn hiểu thế nào thì hiểu.

*

Xung quanh câu chuyện “nhập lậu” cách dùng từ đặt câu của tiếng Hán vào tiếng Việt, còn một hiện tượng nghiêm trọng hơn và cũng đang có cơ phổ biến!

Một trong những nguyên tắc chủ đạo của ngữ pháp tiếng Việt là từ được cọi là quan trọng để trước, từ phụ thuộc để sau, ví dụ ở ta ai cũng nói cái đồng hồ của tôi, người tình cũ, làng Hồ Khẩu, trong khi ở tiếng Hán người ta nói ngược lại: ngã đích thủ biểu, cựu tình nhân, Hồ Khẩu thôn.

Thế thì giải thích và xử lý ra sao những cụm từ Hán Việt sử dụng cú pháp tiếng Hán, ví dụ câu lạc bộ, giáo khoa thư, hàng không mẫu hạm?

Như các nhà ngôn ngữ học đã xác định, đó là những hiện tượng tồn tại trong lịch sử, nên coi chúng là những ngoại lệ, tức những hiện tượng không bình thường và bất đắc dĩ mới dể cho các cụm từ tương tự xuất hiện. Vả chăng, khi cực chẳng đã phải làm công việc lắp ghép từ mới, thì có một nguyên tắc cần tôn trọng: chỉ sử dụng cú pháp Hán để ghép các từ cùng có gốc Hán, còn với các từ thuần nôm, thì hoàn toàn nghiêm cấm.

Tiếc thay, nhìn vào sách báo hiện nay, ngươi ta thấy nhan nhản những lối lắp ghép bừa bãi. Nào là cố nhà văn, cựu nhà viết kịch, nào là đệ nhất nhà hàng, Thanh Tú quán, cựu ngôi sao bóng rổ và cả thơ tuyển (với nghĩa tập hợp nhiều bài thơ được chọn).

Thử phân tích một trường hợp cụ thể: để chỉ một cây bút viết văn đã qua đời, có thể dùng cố tác gia hoặc nhà văn quá cố. Dùng cố tác gia thì sang trọng, nhưng cái chữ tác gia (với nghĩa người viết văn) không ai biết. Dùng nhà văn quá cố thì hơi dài. Để vừa sang trọng, vừa ngắn gọn, người ta liền sáng chế ra chữ cố nhà văn. Có biết đâu như thế là làm hỏng tiếng Việt!

*

Thằng con nhỏ của tôi mới đến tuổi đi học, rất thích thú với cái cặp đề rõ Bao Thanh Thiên bằng chữ Hán hẳn hoi. Học theo chúng bạn, nó hát:

Trên trời cao chim hót

Triển Chiêu đi với người yêu

Bao Đại Nhân không thích

Triển Chiêu đi ra công đường

Tôi giật mình chợt nghĩ: Khi cần hình dung lại mấy bộ phim còn in hằn lên trong đời sống tinh thần mình và bạn bè mấy năm nay, loanh quanh chỉ thấy toàn những Tây du với Khát vọng, Hồng lâu mộng với Tình Châu Giang, Tể tướng Lưu gù với Người Bắc Kinh ở Nữu ước.

Câu chuyện Tuỳ tưởng lục với lại cố nhà văn vừa nói ở trên hình như cũng nằm trong cái mạch ấy chăng? Trước khi tìm ra đối sách phải cùng nhau ghi nhận xem có phải đang có một điều gì đó cần được tính kỹ để giải quyết. Tức là trước khi bốc thuốc, hãy trả lời cho câu hỏi: có phải đang có một căn bệnh?

Cả hai bài I & II đã in trong Buồn vui đời viết, 1999



BỔ SUNG 5-2011

Ngày 26-4 -11 tôi được tham dự một cuộc trao đổi với chủ đề có nên đưa ngôn ngữ chat vào từ điển. Tôi đã nêu ý kiến của mình, vấn đề ngôn ngữ chat giống như một thứ tiếng lóng, không có khả năng phát triển
Đáng nghiên cứu ngay là những hiện tượng bao quát hơn. Ví dụ các nhà nghiên cứu phải sớm trả lời cho câu hỏi trong quá trình hội nhập, tiếng Việt đã có những biến đổi rõ rệt và theo hướng bị làm hỏng trên nhiều phương diện như thế nào.
Bài trên đây được viết từ 1998, nên chưa thể đặt ra hết tầm vóc của tai họa đang đe dọa tiếng Việt.
Gần đây, nhiều người đã nói tới việc đưa tiếng Anh vào cả văn viết lẫn văn nói, nhất là ở lớp trẻ. Loại bài này cần phải viết nhiều nữa.
Về phần mình, tôi thấy điều đáng ngại không kém là sự xâm nhập  không được kiểm soát của tiếng Hán và cách nói của người Trung Hoa -- cả thời cổ lẫn thời hiện đại-- nó cũng đang làm hỏng tiếng ta một cách âm thầm đáng sợ.
Do chỗ tiếng Hán được đọc theo âm Việt nên ta có cảm tưởng đó là tiếng Việt và ai cũng biêt nghĩa của nó rồi. Đó là chiêu tự đánh lừa, nó thường xảy ra với người cẩu thả, thích trộ đời ( = nhiều ”tham vọng” ), ưa của lạ .
Nên biết rằng tiếng Hán lâu nay không được nghiên cứu, sự có mặt của nó trong quá trình lịch sử VN lại bị phớt lờ.
Tức chúng ta – cả xã hội -- đang sử dụng tràn lan một công cụ giao tiếp không được dạy và học nghiêm túc.
Hậu quả dẫn đến đã rõ. Một mặt chúng ta làm hỏng tiếng Việt của ông cha. Mặt khác, không những ngôn ngữ không có khả năng phục vụ cho sự nghiệp phát triển mà còn làm chậm nó, cản trở nó.

Thursday, May 5, 2011

Nhật ký 2011 ( tuần XV—XVII )

MÉO MÓ CÓ HƠN KHÔNG
Về lễ hội hoa anh đào mà người ta nói vượt sóng thần và động đất đến HN, bài Giả hơn thật vui là đủ trên SGTT có đoạn viết  “ Sự có mặt của hàng nghìn du khách tham dự lễ hội Genki Nhật Bản chiều 16/4 khiến khuôn viên Trung tâm Triển lãm Giảng Võ (Hà Nội) trở nên chật chội, quá tải. Rác xả bừa bãi, hoa thì đã héo và rụng ngay ngày đầu tiên.”

     Mới đầu tôi tưởng hoa héo là tại hoàn cảnh thời tiết VN “có sức tàn phá hơn sóng thần, động đất”; sau mới biết hoa thật mang sang rất yếu, hoa giả khỏe hơn và người ta có thể bám vào chụp ảnh rung cây cẩn thận—nên được thích hơn.

       Ai nghĩ ra cái trò này mà tài thế, hiểu dân mình thế!

      Nay là lúc người Việt Hà Nội, trong hoàn cảnh xô bồ hỗn loạn, không còn dám có đòi hỏi về một cái gì trọn vẹn, cái gì thật hạt. Chỉ cần một ít của giả là đủ. Và đã vui là phải lộn xộn phá phách!


Một  mạng nước ngoài có bài viết báo động rằng Phát triển du lịch có nguy cơ phá hỏng đền Angkor.  
     Tới cuộc hội thảo ở Đền Hùng ở ta năm nay, bên cạnh những lời sáo rỗng giống như các năm trước, người ta cũng bắt đầu nêu ý kiến là các di tích không phải làm ra để cho từng ấy xe đến quần thảo,  từng này người nườm nượp kéo về, ăn uống, hưởng thụ và xả rác.
    Tức là bắt đầu nhìn ra mặt trái của những hoạt động mà  lâu nay chỉ nói bằng một giọng tự hào.
     Tôi thậm chí có lúc nẩy ra ý nghĩ cái lỗi lớn nhất của chúng ta là sau chiến tranh chuyển lên xã hội hiện đại quá sớm. Ta không đủ trình độ để mà sử dụng các phương tiện tối tân như thế này, ở trong những ngôi nhà xa hoa như thế kia. Nên đã xảy ra bao nhiêu bi kịch ngoài ý muốn,  mà chỉ vì quá ham hố nên ta lao đầu vào như thiêu thân, rồi khi phát hiện ra sự bất cập thì dùng đủ mọi lý lẽ để tự biện hộ.  


      Một tin ngắn về điện ảnh cho biết Cảnh nóng  tình dục là vũ khí hạng nặng của điện ảnh VN hôm nay      

18-4 

CHUYỆN CỦA RỦA  CHUYỆN CỦA NGƯỜI

     Không biết nên hiểu cái chuyện cả xã hội bàn tán rồi loay hoay săn sóc cụ rùa ở Hồ Gươm vừa rồi như thế nào? Di tích gọi là được quản lý đấy, nhưng có ai hiểu biết thực trạng nó ra sao, những nguy cơ nào đang rình rập, đâu là khả năng duy trì cuộc sống của nó lâu dài.

      Đến lúc có chuyện nguy ngập, bấy giờ cả xã hội mới chợt giật mình. Và không biết cách giải quyết.

      Mấy hôm sau, lại có tin Rùa đã khỏi bệnh, nhưng phải chờ làm sạch Hồ Gươm mới được đưa trở lại – báo chí viết vậy. Nói rõ hơn: “ Sức khỏe Rùa tiến triển tốt và có thể trở về môi trường tự nhiên, nhưng nước Hồ Gươm còn ô nhiễm. Mặt khác nếu nuôi nhốt cụ lâu trong bể để chờ cải tạo hồ xong, cụ sẽ mất kỹ năng sinh tồn của loài hoang dã.”

       Phải chăng tình thế của rùa cũng là tình thế của người, của rất nhiều người ? 



HOANG DẠI NƠI NƠI
         Một tin cũ -- Ngày 25.3.11, tại buổi tiếp Đại sứ Australia tại Việt Nam, ông Trần Văn Minh, Chủ tịch UBND TP.Đà Nẵng đã đề nghị phía Australia quan tâm tác động Đại học Queensland sớm xúc tiến việc hỗ trợ Đà Nẵng đưa ra giải pháp nhằm xử lý tình trạng dây leo bìm bìm.
        Loại dây leo này hiện đang mọc tràn lan trên khắp bán đảo Sơn Trà, lấn át và che phủ các loại cây khác, làm thay đổi hệ sinh thái, thậm chí gây chết rừng trên diện rộng.




KHÔNG ĐÙA LÀM SAO SỐNG NỔI?
      Bàn nhau về quốc hoa, quốc phục…một hồi, giờ có người quay ra đề nghị bàn chọn quốc nhục.
        Theo cái mạch suy nghĩ lâu nay, tôi cứ đinh ninh ở đây ý nói là ta nên lo đi tìm những nỗi nhục trong lịch sử Việt.
        Đang lúc chưa ai hiểu đầu đuôi thế nào, một người đăng đàn phát biểu, cho rằng nên hiểu chữ nhục ở đây là thịt và đề xuất ngay món thịt cầy.
        Sự thực ở đâu, tôi nhầm hay sao? Không biết hỏi ai, đành tự mình “ làm công tác tư tưởng “ cho mình vậy.
       Để chuyện cái gì cũng mang ra đùa sang một bên, lại thấy không chừng người lái sang chuyện nhục là thịt có lý.
        Lâu nay bao nhiêu trang sử buồn bã cay đắng của dân tộc coi như bị xếp xó không cho ai được biết, những thế hệ trẻ có muốn biết cũng không tìm đâu tài liệu để đọc.
       Khi đã quen nghĩ về quá khứ theo một cách hời hợt, giả dối, người ta sẽ cho rằng những người đi tìm sự thật là có ác ý. Cuộc sống dông dài chơi bời hưởng thụ nhờ đó càng thêm có cái lý riêng của nó, và càng có sức cuốn hút.


20-4
        Một đoạn trong bài  viết Vừa khóc vừa cười Nguyễn Mạnh Tường in trong  Giai phẩm mùa thu, tập III 1956, đăng lại trên VH Nghệ An 4-2011:
       Tôi sợ người trí thức im lặng. Tôi nghi ngờ người trí thức cười. Tôi thương người trí thức khóc. Tôi yêu người trí thức vừa khóc, vừa cười, khóc hôm nay để cười ngày mai, “khóc lên tiếng cười”.

       Hơn nửa thế kỷ đã qua, ngày nay loại trí thức mà NMT nói ở đây không chừng đã tuyệt chủng.



 
      Có lần sang Đài Loan tìm mãi không ra hiệu thuốc tôi mới nhận ra là ở HN mình sao hiệu thuốc nhiều thế.Có cảm tưởng một tình trạng bệnh tật quá mức đang chi phối xã hội.
      Từ những căn bệnh của cơ thể, bao giờ người ta cũng có thể quay sang nói về những căn bệnh tinh thần.
       Nhớ có lần đã đọc ở đâu đó cho biết đến khoảng một phần năm người TQ hiện nay mắc căn bệnh này. Ở ta, lại thêm di lụy chiến tranh, làm sao tỷ lệ số người này ít hơn được?!




         Trong một lần ngồi giúp tôi phân tích một vài vấn đề thời sự, nhà văn Nguyễn Khải buột miệng : Nhiều khi lịch sử lại lên tiếng qua những thằng điên.
       Tôi cũng không kịp hỏi cái nghịch lý ấy do Nguyễn Khải vay mượn của người khác nói lại hay tự ông nghĩ ra.

22-4  

“Mối quan hệ với phương Tây là phần chủ yếu trong lịch sử các nước ngoài phương Tây”--  Ở một cuốn sử Nhật Bản, tôi đọc được cái ý đó.

        Vận dụng vào hoàn cảnh VN, tôi ngờ rằng lúc nào đó phải có những người viết riêng những chuyên luận về lịch sử quan hệ VN với nước ngoài.
         Cuốn sử chuyên đề đó sẽ có hai bộ phận, thứ nhất là quan hệ VN -- Trung Hoa, thứ hai là quan hệ Việt Nam—phương Tây.
         Nhưng vừa nghĩ đã thấy ngại.
         Đến cả cái mối thứ nhất còn chưa ai định lần lại, hỏi bao giờ cái mối thứ hai mới được đặt ra với đúng tầm vóc của nó.
           Tuy nhiên với những ai muốn quan tâm tới lịch sử nước mình, nhất là sử cận hiện đại, các nguồn tài liệu phương Tây vẫn đang mời gọi và hứa hẹn nhiều bất ngờ.
       Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan trong bài Bối cảnh lịch sử VN giai đoạn 1558 đến 1802-- Phân tranh và thống nhất  (in trên Nghiên cứu Huế tập bảy, trang 97 ), có ghi lại một đoạn trong lá thư của chúa Trịnh gửi Công ty Đông Ấn  Hà Lan  tại Batavia vào năm 1637:
     “ Một số thú vật mang hình người [chỉ họ Nguyễn] đã thiết lập một nước ly khai ở biên giới phía nam của chúng tôi và đang dựa vào vị trí phòng thủ vững chắc để chng lại triều đình của nhà Lê ở Thăng Long.
       Chúng tôi chưa làm gì với họ vì chúng tôi ngại điều bất ngờ có thể xảy ra ở phía biển.
        Vì các ông có ý định thân thiện với chúng tôi, các ông có thể cho chúng tôi  2 hoặc 3 chiếc tàu, hoặc 200 lính thiện xạ, xem như chứng cứ cho thiện ý của các ông.
        Những người lính này có thể giúp chúng tôi sử dụng các khẩu đại bác. Thêm vào đó xin vui lòng gửi cho chúng tôi 50 chiến thuyền cùng với số lính tuyển chọn, và những khẩu súng mạnh, và chúng tôi sẽ cử một số lính tin cậy của chúng tôi  tới hướng dẫn các chiến thuyền của các ông tới Quảng Nam, xem đó như là sự hỗ trợ từ phía chúng tôi.
       Đồng thời đạo quân của chúng tôi sẽ tấn công Thuận Hóa.
       (… ) Sau khi chiến thắng, chúng tôi sẽ ban tặng cho binh lính của các ông 20.000  tới 30.000 lạng bạc.
       Còn về phần mà các ông được hưởng—chúng tôi sẽ trao xứ Quảng Nam cho các ông cai trị.
       Các ông có thể chọn một số lính để xây dựng và canh gác thành và chúng tôi sẽ truyền lệnh để người dân ở đó làm lao dịch cho các ông. Các ông có thể thu hoạch các sản phẩm trong vùng và gửi một phần cho triều đình chúng tôi, như thế cả hai bên đều được hưởng lợi.
       Trời sẽ phạt chúng tôi nếu những kiến nghị trên đây có gì gian dối.”
       Đoạn thư vừa trích, hé ra cho chúng ta thấy một phương diện khác của các chúa Trịnh – cũng là của giai cấp thống trị ở VN trước đây -- mà tới nay không một sách nào nói tới.


23-4
     Đi đến hội sách và thấy rõ hơn một điều mà mọi khi đã thấy lờ mờ: Khái niệm sách của thời ta có nhiều chỗ khác so với khái niệm sách của các thời trước … Từ đó, câu chuyện người Việt hôm nay đọc sách phải nhìn theo những góc độ mới.


   2/Cái khó nhất là dự đóan tình hình sẽ đi đến đâu. Nay là lúc người ta luôn phải nhìn mọi hiện tượng bằng con mắt dè dặt.

       André Glucksmann trong bài Cách mạng không có nghĩa là dân chủ trên Liberation có đoạn viết

       “ Cách mạng làm cho tất cả mọi người đều bị bất ngờ. Bên trên hoảng loạn, còn bên dưới thì đấu tranh với nỗi sợ hãi của mình từng giây từng phút một, trong khi đó những người quan sát bên ngoài – các chuyên gia, các chính phủ, khán giả truyền hình và chính tôi - thì cảm thấy có  lỗi vì không  thể tiên đoán được những điều không thể tiên đóan.


      Tự do là hiện tượng đầy mâu thuẫn, trong đó có “vực sâu thăm thẳm và bầu trời cao lồng lộng”.  Hãy để cho châu Âu nói với chúng ta rằng cách mạng có thể dẫn đến bất kì cái gì, có thể dẫn đến nền cộng hòa và hạnh phúc cho tất cả mọi người, mà cũng có thể dẫn đến khủng bố, chiến tranh và xâm lược. “


        “Về nguyên tắc, chúng ta biết rằng cần phải đặt nền móng cho một nền dân chủ có chiều sâu – một nền dân chủ lâu dài và không dễ bị phá hoại. Chúng ta cần chế độ pháp quyền, với lực lượng cảnh sát trung thực và các quan tòa độc lập. Chúng ta cần chính quyền trung ương và chính quyền địa phương hiệu quả và minh bạch. Chúng ta cần quyền sở hữu có hiệu lực, quyền tự do ngôn luận và tự do thành lập các công đoàn. Nhưng trên hết, chúng ta phải làm cho sự thịnh vượng lan truyền với tốc độ cao và xa để cho toàn thể người dân đều cảm thấy có phần trong cuộc cải cách dân chủ.”




          Carl Robinson một phóng viên kỳ cựu của hãng thông tấn Hoa Kỳ Associate Press, người đưa tin từ Việt Nam trong thời gian chiến tranh, nay sống ở Australia. Trong bài "Why Vietnam Won't Fall", đăng trên trang World Policy Blog, cựu phóng viên chiến tranh Việt Nam viết:
 “Xã hội Việt Nam ngày nay cực kỳ cá nhân chủ nghĩa".
"Thay vì có sự đoàn kết và một mục tiêu chung, mỗi người đều vì chính bản thân, đều có tâm lý mạnh ai người ấy lo.”
"Ví dụ so sánh tốt nhất là [ VN giống như  -- VTNh  thêm ] một trường đạo nội trú mà trong đó quy định đặt ra để người ta vi phạm hay là để cho người khác tuân theo mà không phải mình.”
"Ai cũng bị coi như trẻ con và thường xuyên được dạy giáo lý qua các khẩu hiệu, các nghi lễ và các giấc mộng cao xa."
"... và con cái họ chỉ biết hưởng thụ vật chất và chơi bời.”
"...Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người đều đồng lõa [với tham nhũng]. Ai cũng gian giảo theo một cách nào đấy."


28-4
KHÔNG PHẢI CÓ CỦA LÀ ĐÃ BIẾT LÀM CHỦ
     Một tin trên báo khái quát càng xử lý những vụ nhà máy xí nghiệp xả chất ô nhiễm tàn phá môi trường thì càng phát hiện ra là quá nhiều nơi đã vi phạm.
     Ngoài ra gần đây có chuyện các tỉnh cho khai thác khoáng sản bừa bãi.      Làm ăn theo lối thủ công, năng suất thấp, nhiều phen sập hầm lò, có người chết, bấy giờ mới ngã ngửa người.
     Nhìn các bức ảnh thấy trong lúc con người ở các đô thị lớn say sưa chơi bời hưởng thụ thì ở nhiều địa phương, tình cảnh dân đen thật chẳng khác trong thời trung cổ.
      Khái quát lên,cần đặt ra một vấn đề: chúng ta có đủ sức làm chủ tài nguyên đất đai có trong tay? Chúng ta có đủ khả năng làm chủ vận mệnh của mình?


VẬN MAY CÓ TỚI CŨNG CHẮC ĐÂU ĐÃ BIẾT TẬN DỤNG     
      Sau đây là một truyện cười tạm đặt tên là Ba điều ước –  tôi đọc được ở đâu đó không nhớ, song mỗi lần ôn lại trong đầu, cứ thấy nó vận vào tình cảnh những người như mình:
       Hai vợ chồng nhà nọ nghèo quá, bảo nhau giá kể bây giờ Bụt hiện ra cho mình mấy điều ước thì tuyệt biết mấy.
       Lần ấy Bụt hiện ra thật. Bụt bảo cho các con ba điều ước.
      Đang đói, anh chồng buột miệng:
     -- Ước gì có khúc dồi chó.
      Vừa nói xong thì một khúc dồi chó vừa nướng ngon lành hiện ra trên một chiếc đĩa.
      Chị vợ tức lộn ruột. Thằng cha này ngu quá. Trong cơn bực bội, thị liền  ra đòn trả thù chồng :
      --- Xin Bụt cho khúc dồi đeo ngay bên môi mà không ăn được, cho lão thèm đến lúc chết.
       Bụt  cho thực hiện ngay điều ước của người vợ.
       Trong lúc người chồng bực bội thì thị cười như nắc nẻ. Nhưng lập tức thị sầm ngay mặt lại. Sẽ cả đời sống với cái lão chồng thế này sao tiện. Biết rằng trong ba điều ước có thể có đã mất tong đi hai, nhưng cuối cùng thị cũng phải ước xin cho miếng dồi chó biến khỏi mặt chồng, để rồi cả hai ngơ ngác như vừa sống qua một giấc mơ.
       Tay trắng lại hoàn tay trắng. Kể cả khi đã có Bụt cho ba điều ước.