Monday, October 31, 2011

Con người suy thoái ?

Trời sinh vua để làm vua

Và thi sĩ để làm thơ ru đời

Một ông vua trái luật trời

Việc vua thì nhác, lại đòi… làm thơ.





        Trên đây là đoạn mở đầu của bài thơ Nhà vua và nhà thơ của Tú Mỡ, in trên báo Ngày nay ở Hà Nội năm 1939. Câu chuyện tiếp tục như sau: làm thơ xong, vua lại thích đưa cho các cận thần đọc để kiếm lời khen. Một vị quan kiêm thi sĩ  -- quan ngày xưa người nào cũng làm thơ và thạo thơ --  mới nói toẹt ra rằng thứ thơ đó chả ra gì.

       Thế là vua cho ông ta vào nhà pha ( tiếng ngày xưa chỉ nhà tù ).
        Sau vua có ý hối, cho người đến nói với nhà thi sĩ chân chính nọ là sẽ thả ông ta ra, miễn ông ta nói rằng thơ vua hay. Tức là tiếp tục buộc ông ta nói dối. Trong cảnh tù đày, ông này phải nghĩ  một lúc. Tú Mỡ viết tiếp
       Phân vân bên tội bên tình
        Nhà thơ tỏ vẻ  bực mình băn khoăn
        Cắn môi mắt nhíu mày nhăn
      Trong đầu như nổi mấy lần phong ba
        Ngập ngừng lời chẳng nói ra
      Nói hư ? nói thực ? biết là làm sao?
        Bài thơ kết lại bằng hai câu bất ngờ:
        Khổ tâm thi sĩ cúi chào
       Muôn tâu thần lại trở vào nhà pha 




     Tôi thường nhớ tới bài thơ này của Tú Mỡ ( đúng hơn là một thứ vè vui vui ) để nhắc mình một sự thực: là con người ngày xưa tốt quá.
      Tôi tin không phải ở đây Tú Mỡ muốn nêu một tấm gương cốt dạy dỗ thiên hạ ( kiểu các đồng nghiệp của tôi thời nay).
       Mà ông chỉ miêu tả một sự việc có thực, hơn nữa một sự việc điển hình.      Tức là người xưa phần lớn cư xử như viên quan kiêm nhà sư ở đây đã làm.
    Thế thì sao lại bảo bài thơ có cái kết bất ngờ?
      Đó là đặt vào tâm lý của người hôm nay.
      Vào những trường hợp tương tự, tôi ngờ phần lớn con người hôm nay sẽ cư xử kiểu khác. Để khỏi vào nhà pha thì bảo làm gì cũng làm. Mà chẳng đợi đến cuộc mặc cả cuối cùng; trước đó, bởi thừa biết rằng nếu khen vung cả lên sẽ thủ lợi, người ta tranh nhau khen từ đầu cả rồi.
    Nói tốt quá còn chung chung. Cái chính là người xưa, hơn bù kém, tốt hơn so với con người hôm nay.
     Vả chăng nhìn rộng ra thì thấy con người hồi ấy, cả giàu lẫn nghèo, cả ông to lẫn ông nhỏ, chẳng những không nói dối nịnh bợ mà còn giữ được nhiều phẩm chất cao đẹp.
     Tôi nhớ tới nhiều trường hợp khác. Các nhân vật của Thạch Lam như mẹ Lê nghèo khổ, như cô hàng xén đảm đang  đều đồng thời là người tự trọng và cứng cỏi. Lão Hạc của Nam Cao  thì “trên cả tuyệt vời“, thà chết chứ không ăn vào vốn của con cái. 
      Cũng liên quan đến Nam Cao là trường hợp của Chí Phèo. Trong một cuộc hội thảo, một nhà nghiên cứu đã nhận định “ Chí Phèo tỉnh, Chí Phèo không say “. Bởi chỉ một người sáng suốt trong giây phút hệ trọng của đời mình mới biết hỏi “ nhưng ai cho tao lương thiện ?”
    Xuân tóc đỏ thường được xếp vào loại nhân vật loại xấu xa bậc nhất trong văn học tiền chiến. Nhưng đọc kỹ thì thấy chính ra Xuân khá thông minh, lại chịu học hỏi để thích ứng với thời đại. Và biết điều. Và tự trọng nữa: Lúc được Văn Minh hứa gả cô Tuyết, Xuân nói thẳng cái nguồn gốc xuất thân hèn hạ của mình. Ở chỗ này Xuân tỏ ra sòng phẳng, biết mình biết người!
     Trở lên chỉ là một vài phẩm chất mà con người ngày nay đánh mất. 
      Không khó khăn gì lắm để tìm ra lý do khiến chúng ta có nhiều thói xấu như vậy.
       Trước hết là cuộc chiến tranh kéo quá dài. Trong Câu chuyện triết học, phần viết về H.Spencer, W. Durant cho rằng “xã hội chiến tranh thường ca ngợi một vài đức tính ( nguyên tắc ứng xử  VTN )  và dung túng những việc mà các dân tộc khác xem là có tội”.
      Nếu nơi không chiến tranh, con người quảng đại và nhân đạo, thì nơi chiến tranh kéo dài, người ta quen với cướp bóc, bạo lực, dối trá, vô cảm.
      Đây là luật phổ biến song người Việt mình thường quên và tự cho mình cũng như cuộc chiến tranh ở mình, là một ngoại lệ.
       Con người hôm nay lao vào cuộc làm ăn kinh tế, mà thói quen sống kiểu chiến tranh còn nguyên vẹn. Kinh tế thị trường rút lại được hiểu là thói cạnh tranh không lành mạnh, nói nôm na là chúa đã chết, ai muốn làm gì thì làm.
       Thành thử có xảy ra lộn xộn hỗn hào thì cũng là điều dễ hiểu.
       Từ chỗ chăm chăm chửi bới kẻ giàu cho rằng kẻ giàu là xấu, nay người ta lao vào làm giàu để rồi lãnh đủ những xấu xa bỉ ổi đó, và đưa cái ác lên một trình độ hiện đại đáng sợ. Bảo suy thoái là vì thế.    
       Trong một cuốn sách mang tên Miền đất huyền ảo, có phụ đề Các dân tộc miền núi  nam Đông Dương ( tác giả Jacques Dournes, Nguyên Ngọc dịch, NXB Hội nhà văn in năm 2003 ), ở trang 13, tôi đọc  được một lời cảnh cáo:
     Định mệnh của con người là vươn tới tiến bộ; nhưng mọi sự tìm tòi sẽ là vô nghĩa và kết quả sẽ là tai họa nếu vận động đó lại dẫn đến sự suy thoái về nhân cách. Có nghĩa gì một sự tiến bộ kỹ thuật nếu nó giết chết tinh thần ? 


Đã in TBKTSG 6-2008
 In lại trong Những chấn thương tâm lý hiện đại,2009

Monday, October 24, 2011

Nhật ký 2011 ( tuần XXXVIII -- XLI)




Bộ đội Đồn Ea H’leo tuần tra bảo vệ biên giới
18-9

VIỆC GIỮ GÌN BIÊN GIỚI THỜI LÊ THÁNH TÔNG

Sau khi đánh đuổi được người Minh, việc bang giao với Trung quốc có một nội dung là bảo vệ lãnh thổ quốc gia. Việc này kéo dài suốt từ khi Lê Lợi lên ngôi 1428 trải qua các đời Nhân Tông Thái Tông cho đến khi bắt đầu triều Lê Thánh Tông 1460 - 1497.



Có một cuốn sách mới của luật sư Lê Đức Tiết in ở NXB Tư pháp. Sách có cái tên quá ư hiện đại, tôi chẳng thấy thú vị chút nào, mà buộc phải chép lại ở đây. Đó là cuốn Lê Thánh Tông vị vua anh minh nhà cách tân hiện đại.

Theo sự chỉ dẫn của tác giả, tôi tìm thấy các công việc có liên quan đến đất đai biên cương được viết trong Đại Việt sử ký toàn thư.

Ngay trong năm đầu cầm quyền của mình (1460) Thánh Tông đã ra sắc chỉ cho các quan phủ trấn châu huyện rằng “ Ai ở cõi biên giới thì phải giữ quan ải cẩn thận, không được thông đồng với người nước ngoài “ (Toàn thư, bản in năm 1983, hai tập t, II, tr. 395)

Không có lửa sao có khói. Chắc là đời trước đã có người làm, nên Thánh Tông mới phải răn đe vậy.

Tới năm 1473, vua dụ một quan chức cao cấp là Thái bảo Lê Cảnh Huy rằng :” Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang sứ phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải chu di” ( sđd, tr. 463)

Cũng theo tác giả Lê Đức Tiết, trong Bộ luật Hồng Đức có những điều khỏan liên quan đến vấn đề quan lại bán đất đai cho ngoại quốc.



19-9

GỌI SỰ VẬT BẰNG TÊN CỦA NÓ

Từ mấy tháng trước, VTV 1 đưa tin: ở Thái Nguyên dân làm chè nhận được đơn đặt hàng của thương lái TQ là trộn cả tạp chất như cám bổi tro rác vào chè bán cho họ, với giá rất cao. Mua về làm gì? Họ sẽ bố trí một nơi sản xuất lấy chè Việt làm nguyên liệu, rồi đưa nhân viên nhà nước đến kiểm tra, lấy cớ đó rêu rao rằng chè này không ra gì, từ đó hạ uy thế của hàng VN nói chung.

Với nhiều mặt hàng khác cũng vậy. Có lần họ đã đặt mua rễ quế , giá cao tới mức dân mình cứ đào cho chết cây lấy rễ mà bán.

Trong cuộc thương chiến, các thương lái người Tầu xưa nay từng dùng đến những đòn đánh bỉ ổi nhất, đó là chuyện thường thấy.

Nên bình luận sao về cái lối tính tóan thiển cận của người mình?

Có một quy định không ghi thành văn bản, nhưng trong giao thiệp hiện ai cũng biết: tuyệt không gọi người khác là ngu. Với từng cá nhân, hiện không ai dám gọi thế, nữa là với cả đám đông, dân cư một vùng một khóm nào đó. Ai không biết húy, nói ra sẽ lập tức bị buộc tội là khinh rẻ dân chúng.

Trên báo chí thời nay, trước loại việc bán chè trộn tạp chất hoặc bán rễ quế nói trên, người đưa tin chỉ dám bảo đó là” do dân chưa được giáo dục”, hoặc “ trình độ dân trí có hạn “.

Nhưng đấy là chuyện thời nay. Người xưa không thế.

Trong cuốn Việt Nam quốc sử khảo, khi nhắc lại trình độ của dân mình khi có các hành động tương tự, Phan Bội Châu dùng đến những chữ rất nặng, chẳng hạn như ngu, ngu muội ( riêng trong chương đầu sách này lắp lại tới 7 lần ).

Trong nhiều đoạn kể thói xấu người dân, tác giả thường kết bằng một câu hỏi “ Sao mà ngu thế ?” “ thật là ngu quá không thể hiểu được”, “ quái gở thay“ hoặc “đạo làm người có nên như thế không ? “.



21-9

THỜI NÀO CON NGƯỜI KHỔ HƠN

Khoảng chục năm trước tôi đã được xem phim Sống của đạo diễn Trung quốc Trương Nghệ Mưu, nay mới được xem tiểu thuyết mà Trương dựa vào đó để chuyển thể. Cuốn Sống này của Dư Hoa khá mỏng chưa đày 200 trang khổ nhỏ. Đọc vào chỉ thấy người TQ bình thường khổ quá. Còn nhớ đoạn đứa con trai tên Hữu Khánh của nhân vật đi học. Cậu ta được bố sắm cho đôi giày. Lệnh của ông bố là chỉ được đi ít thôi, đường đến trường hơn chục cây cuốc bộ là chính, đến trường hãy xỏ chân vào giày. Ban đầu Hữu Khánh không nhớ. Ông bố mới đánh cho một trận, đau đến mức đến lớp bị phạt, vì cứ nhấp nhổm không sao đặt được mông xuống ghế. Nhưng Hữu Khánh vẫn nhận lỗi và hứa từ nay chỉ chạy bộ, miễn sao bố cho đi học. Cậu thuộc loại học giỏi.

Rồi đoạn sau, Hữu Khánh bị chết vì tiếp máu cho người khác.

Tôi hiểu tác giả muốn nói xã hội hồi trước làm khổ con người nhiều quá.

Ngồi ngẫm nghĩ thấy dẫu sao con người lúc ấy có nỗi sướng riêng. Như đối với con cái. Làm gì chúng tôi bây giờ có được con cái ngoan ngoãn và hiếu học như thế. Ở phương diện con cái thì không có thế hệ người xưa nào khổ như các thế hệ ngày nay.



28-9

DẤU HIÊU HOANG DÃ

Tin trên Lao động: Công viên Tuổi trẻ thủ đô sau hơn 10 năm vẫn“hoang dã”

Cái hoang dã ấy đối với tôi, không lạ; tôi thường bắt gặp nó ngay ở những mặt người trên đường. Nay là lúc nhiều người quanh ta trông mặt chịu không đóan ra là làm nghề nghiệp gì. Mặc dù ăn mặc hiện đại, nhưng lại có cái linh động hung hãn chứ không thuần hậu từ tốn, như các lớp người cũ.

Một liên tưởng. Nếu nhìn vào thảm thực vật một số địa phương, người ta nhận ra một hiện tượng của sự làm ăn “phú quý giật lùi”. Các giống cây được thuần hóa hỏng rất nhanh. Yếu tố hoang dại trong cây phát triển mạnh.

Hình như ở người cũng vậy.



Trên SGTT một số tháng 8-2011 Ea Sola Thủy trả lời SGTT về công việc một đạo diễn múa, nhân thể nói về con người hiện nay: Lạ một điều, thời bao cấp, đi đến đâu cũng gặp rất nhiều người tốt, lúc nào cũng vui vì gặp nhiều người tốt lắm. Còn bây giờ, gặp người tốt mà không biết có tốt thật hay không! Bây giờ con người không còn cần con người lắm. Bây giờ đi đâu cũng được hết, nhưng không thấy ai. Đông người lắm nhưng không biết ai tốt, ai không tốt... Vắng người lắm.



CÁI ĐẸP – HIỆN TƯỢNG THỜI ĐẠI

Đọc tiểu thuyết Trường hận ca của nhà văn Trung quốc Vương An Ức dịch ra tiếng Việt, tôi hiểu ra rằng không chỉ các loại tài năng mà những người đẹp cũng là những sản phẩm đặc trưng của một thời đại. Muốn nghĩ về thời nào, ta hãy nhìn vào những người được thời ấy coi là đẹp, và sự tồn tại của cái đẹp trong thời ấy nói chung.

Hôm nọ vừa đọc một tin trên mạng Thanh niên 23-9 Cạn kiệt người đẹp. Nội dung chính: Quá nhiều cuộc thi nhan sắc thế giới trong năm 2011 khiến Việt Nam “vét sạch” từ người đẹp đến cả… chưa đẹp.

Hôm nay báo lại nói tới một khía cạnh khác liên quan đến đám người đẹp ấy, mỹ nhân Việt thích 'đẹp giả tạo hơn xấu tự nhiên'

Ra thế, họ cũng là ta, các mỹ nhân cũng như các bậc trí giả, cả các quan chức nữa, mang thói xấu của người Việt nói chung.



--Không có gì có thể nói chắc về cuộc sống này, đó là là lý do làm cho người ta càng thêm hăng hái đuổi bắt nó.

-- Phải chăng tất cả đều đang đi đến ngày tận thế, nên tất cả mới đẹp đến vậy?

Hai câu danh ngôn trên có khía cạnh giống nhau, nhưng tôi vẫn muốn chép lại ở đây, vì nó nói tới hai đặc tính có liên quan tới vẻ đẹp của cuộc sống, một là vẻ sương khói mong manh của nó , và một là định mệnh của nó, sự tàn phai, cái chết.



30-9

NHỚ CHUYỆN THỜI CHIẾN HÔM QUA

Tài liệu tham khảo đặc biệt số ra 30-9 có dịch một bài về Bắc Triều tiên của tạp chí Nhà kinh tế Anh. Bài báo nói về các dạng tồn tại và kiếm sống của con người trong chế độ mà họ muốn từ chối, trong đó có đoạn kể :

Một số trẻ em sống hoang dã, chúng được gọi là Kotjebi hay “chim nhạn” và đi theo từng đàn. Nếu không ăn cắp được thứ gì ở chợ, chúng ăn thịt chó chết hoặc thức ăn đã phân hủy. Chúng ăn kem đánh răng vì tin rằng thứ này giúp chúng tránh ngộ độc”

Trong đầu tôi tự nhiên hiện lại câu chuyện mà nhà văn Triệu Bôn kể sau mấy năm đi B. Chiến trường B1 hồi ấy có nhiều người lính ở vào cái thế lưỡng nan. Không muốn đánh nhau. Không thể hàng địch. Nhưng trở về bắc ư? Sống sao nổi trong vai những kẻ đào ngũ! Thế là họ tập hợp nhau lại thành từng đám giữa Đồng Tháp Mười mênh mông, sống qua ngày. Họ được gọi là đám bù chao.



1-10

GHI VẶT

PLTP 21-9 90% xe mang biển “hộ đê” giả!

NV 27-9 - Cà phê Sài Gòn có thể không phải cà phê – “Những quán cóc ở vỉa hè, ở hẻm lao động giá uống một ly cà phê đá khoảng 6,000-7,000 đồng/ly, để pha chế, người bán lấy mối cà phê mỗi ký khoảng từ 60,000 đến 70,000 đồng. Với giá đó thì cái gọi là cà phê thật ra chỉ có đậu nành rang và tẩm hóa chất hương liệu. Nếu cơ sở sản xuất nào có lương tâm thì pha cho chút vỏ xác hột cà phê cho có vị tượng trưng”.

Rớt giá thê thảm, 50kg chanh được… 1kg gạo



Đầu đề một số bài báo khác:

6 loại trái cây làm nở ngực
Lạ đời tuyển sinh đại học dễ hơn “thi” vào… mẫu giáo
TQ tỉnh Thiểm Tây --Hình ảnh học trò nghèo dùng quan tài làm ghế rúng động cộng đồng






NÓI LẠI VỀ CHUYỆN TRỘM CHÓ

Trộm chó lộng hành Nạn trộm, cướp chó ngày càng dữ dội khiến những ngôi làng không còn bình yên nữa. Đến BBC cũng phải có bài của một phóng viên nước ngoài kể về chuyện này.

Hôm nọ tôi đã dẫn ra cái tin người trộm chó ở Yên Thành Nghệ An là một thầy giáo.

Nay trên mạng có người xác minh lại không phải, ông thầy ở đây chỉ bị hiểu lầm thôi.

Ý nghĩ trong đầu tôi tự nhiên đi theo một hướng khác. Xưa kia bảo thầy giáo đi trộm chó thì không ai tin. Nay nghe vậy người ta tin ngay. Mọi việc xẩy ra với giới lưu manh thế nào thì cũng có thể xẩy ra với những người gọi là trí thức.



2-10

CA DAO MỚI

"Giá ơi thương lấy lương cùng/ tuy rằng khác loại nhưng chung là tiền...” “Gió đưa cái giá lên trời, cho lương ở lại chịu đời đắng cay..."

Trước 1975, đã có nhiều ca dao loại này. Ông Vũ Đức Phúc ở Viện Văn học bảo đó là yếu tố phản động trong văn hóa dân gian, và tìm cách ngăn cản. Nay thì người ta đưa chúng vào thành nhạc hiệu trong điện thoại di động và những người như ông Phúc chắc cũng chán không muốn lên tiếng nữa.



3-10

TRÔNG NGƯỜI LẠI NGHĨ ĐẾN TA

Giải Hòa bình cho… vũ lực , bài trên TT&VH 1-10

Thị trưởng Thủ đô Vilnius của Lithuania, ông Arturas Zuokas, đã giành giải Ig Nobel Hoà bình vì chính sách mạnh tay chống những kẻ xem thường quy định đậu xe của thành phố. Ông đã lái một chiếc xe bọc thép và nghiền nát xe của kẻ vi phạm. "Tôi quyết định rằng đã tới lúc để dạy cho những kẻ côn đồ, vốn không tôn trọng quyền của những người khác, một bài học nhớ đời" - ông nói trong một bức thư điện tử.

Zuokas trở nên nổi tiếng khi một đoạn video xuất hiện trên mạng YouTube cho thấy ông cưỡi xe bọc thép nghiền nát một chiếc Mercedes-Benz đỗ sai tại khu Phố cổ ở Vilnius. Khi được hỏi đây có phải là một chiêu gây sốc để "dằn mặt" những kẻ vi phạm hay không, Zuokas không trả lời, nhưng cho biết nỗ lực của ông đã có tác dụng. Thành phố hiện đã trở lại các phương pháp thông thường để xử lý việc đỗ xe sai, nhưng Zuokas cảnh báo rằng ông vẫn đang giám sát những kẻ vi phạm và có thể dùng tới xe bọc thép vào bất kỳ lúc nào.



Người cưỡi xe bọc thép nghiền nát ô tô đỗ sai đường đã giành giải IgNobel Hòa bình

. Nó cho ta thấy hình ảnh loại quan chức mà chính xã hội VN đang cần. Họ dám đối mặt với thực tế. Họ chú ý cả những chuyện tưởng như nhỏ nhặt. Khi làm việc gì, họ muốn theo đuổi đến cùng.

Nhân vật thị trưởng này biết lái xe bọc thép và chắc còn máu me lắm khi ngồi vào xe bọc thép. Chuyện này thì nằm mơ cũng không thấy ở giới quan chức khệnh khạng xứ ta.



4-10

TRỞ VỀ CÁI CHỐN CÓ TÊN LÀ NGHỆ THUẬT

Vài trang ghi chép cũ

Về tranh chân dung của Picasso

Các chân dung mà Picasso vẽ không bao giờ là hình ảnh giống hệt của đối tượng mà là sự lồng ghép một cách

kỳ dị những ý, tình, chân thành của ông với người mẫu.

Dục vọng, tình yêu, sự trìu mến, quý trọng, nỗi lo âu, sự giận dữ, kỷ niệm cá nhân, các tin tức thời sự… những yếu tố đó can dự và xuyên suốt các tác phẩm, và in dấu cuộc đời riêng cực kỳ phức tạp của tác giả.

Trong khi đó Henry Matisse sống gần như đồng thời với Picasso, thuộc loại họa sĩ mà người ta nói rằng đã vẽ nên những bức tranh theo cách thượng đế đã tạo ra những bông hoa.

Với ông chúng ta trở lại với một cảm xúc hay bị mất: niềm vui



Ngày nay, một bức tranh được coi là đẹp thường gắn với một sự suy đồi về phong cách, hoặc tồi tệ hơn, một sự bức xúc về chính trị. ( ý nói không còn cái đẹp thuần khiết)



Richter (Nga- Liên xô) cũ kể về những lần đi biểu diễn: Có những nghệ sĩ lại chơi rất hay với những chiếc đàn tồi.

Ông bảo lúc đó tôi chờ đợi gì ở chiếc đàn piano ngoài chính bản thân mình?



Nghệ thuật da đen vô cùng khéo léo trong việc khách thể hoá các chủ thể.

Xem xét một con người không phải sự vĩ đại nói chung mà là ảnh hưởng của người đó đến hình ảnh những người chung quanh.



S.Dali là kẻ suốt đời bị nỗi sợ hãi cuộc đời ám ảnh. Dali sẽ gây mất lòng người khác. Vẻ ngoài ấy (lập dị) che giấu một sự nhút nhát.

F. Fellini: Người thực hiện một tác phẩm điện ảnh phải là người có trong mình một chút gì đó của nhà ảo thuật, một chút của kẻ mơ mộng, một chút của nhà tiên tri, một chút của tay hề, một chút của kể buôn cravat, và cả một chút của nhà truyền giáo.

Thế kỷ XX biến đổi một phần là nhờ sự tương tác mới giữa nghệ thuật và kỹ thuật

Phim hoạt hình: một thứ điện ảnh thuần tuý trong đó kỹ thuật cho phép tạo ra một thế giới khác hẳn không bị chi phối bởi những đòi hỏi nặng nhọc của thế giới thực.

Radio: Còn hơn cả phim ảnh, radio mang lại cho thính giả một cảm giác cộng đồng mãnh liệt, cái ý thức rằng mình là phần tử của một quốc gia cũng như sự gần gũi đặc biệt với những ngôi sao của nó.



5-10

HOÀI THANH VÀ VĂN HÓA THƠ CỦA NHÀ PHÊ BÌNH

Tin trên mạng Dân trí Kinh hoàng phát hiện thi thể cả một gia đình trên sông. Qua khám nghiệm, cơ quan chức năng xác định, 3 nạn nhân là một gia đình gồm 2 vợ chồng và con gái mới 5 tuổi.

Có lẽ là do một thứ méo mó nghề nghiệp, đọc tin này tôi lại nghĩ ngay tới Hoài Thanh.

Hồi kháng chiến chống Pháp trong bài viết Quyền sống của con người trong Truyện Kiều, chỉ nhân câu “ Sẵn thây vô chủ bên sông” tác giả Thi nhân Việt Nam liền chộp ngay lấy coi nó là dẫn chứng đích đáng cho thấy một xã hội ly loạn.

Không hiểu nếu ông còn sống đọc tin này, ông sẽ nghĩ sao.

Nhưng hôm nay tôi muốn nhớ Hoài Thanh ở một khía cạnh khác.

Mạng phongdiep vừa có bài Thi nhân Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa. Lý lẽ trong bài với tôi không mấy thuyết phục. Nhưng cách đặt vấn đề thì được. Để chứng minh chất văn hóa của ngòi bút phê bình bậc thầy này trong TNVN, khi nào có dịp viết, tôi muốn dừng lại ở ba điểm:

1/Bài mở đầu

2/Lối làm lịch sử vấn đề

3/ Lối chia thơ đương thời thành các dòng





NHỮNG SỰ LẦM LẪN KHÔNG CHẾT AI

Trong nguyên bản của nó, tác phẩm trên của Hoài Thanh mang tên đầy đủ là Thi nhân Việt Nam 1932-1941. Nhưng hầu như tất cả tài liệu nghiên cứu đều lờ đi cái năm tháng ghi ở đằng sau, chỉ lấy bốn chữ đầu.

Bản thân tôi có lần đã kêu lên báo động. Nhưng chẳng ai thèm để ý, thiên hạ nói tới Hoài Thanh vẫn chỉ bốn tiếng Thi nhân Việt Nam mà kêu.

Lâu dần rồi tôi cũng bắt chước mọi người, tự nhủ sức đâu mà đi dọn vườn mãi.



Một việc khác đánh dấu sự lầm lẫn của đám đông chúng ta có liên quan tới tác giả tác phẩm mà ta quá chừng yêu mến..

“Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nô nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.


Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng
…Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này, tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tôi tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi có sự thay đổi lớn : hôm nay tôi đi học...”
Cũng như mọi người tôi yêu đoạn văn đó và gần như đã thuộc. Nó là đoạn văn mở đầu thiên truyện Tôi đi học của Thanh Tịnh. Chỉ lưu ý là ở VN ngày khai trường bao giờ cũng là đầu thu, học sinh nghỉ hè xong là tựu trường, làm sao cái ban mai đến trường ấy lại đầy sương thu và đầy giá lạnh như Thanh Tịnh đã viết.



11-10

CÂU CHUYỆN TÁI CƠ CẤU

Đọc một bài trên TTCT 9-10 Hy lạp nợ nần và tham nhũng . Bài viết dẫn lại lời của một giáo sư kinh tế cắt nghĩa tình hình: “Ở Hi Lạp, tuân theo luật pháp lại là hèn, thiên hạ gọi những ai chấp hành luật pháp là “đồ ngu”. Và ông chỉ rõ hướng thoát: “Trước khi có thể thay đổi bất cứ gì, phải thay đổi xã hội và “đầu óc” Hi Lạp trước đã”. Song lại chỉ ra ngay sự bất lực: Song đó lại là huyền thoại đội đá vá trời của Sisyphe.

Ở ta các nhà kinh tế cũng đang nói nhiều cơ cấu lại nền kinh tế. Học theo ông giáo sư Hy Lạp, tôi nghĩ bụng còn phải cơ cấu lại cả xã hội lẫn con người. Chứ còn vẫn cứ người này với xã hội này thì có tài thánh cũng không cơ cấu lại nổi bất cứ cái gì, từ kinh tế đến giáo dục.

Hồi trước 1954 ở Hà Nội, gia đình tôi sống trong một căn nhà nát. Ai ở địa vị bọn tôi cũng nghĩ phá ra làm lại. Nhưng tiền đâu để mua nguyên vật liệu mới?

Nhiều lần kêu một hồi, chỉ cần nghe bố mẹ bảo phá ra rồi có muốn làm lại như trước khi phá cũng không được, thế là mọi người trong nhà im re, không dám ho he gì nữa.

Chuyện gia đình cũng vậy mà quốc gia cũng vậy.

Tuy nhiên nói đi còn phải nói lại. Dẫu sao có nền kinh tế được cơ cấu lại vẫn cứ là hơn chứ. Không hy vọng thì sống sao nổi?



12-10

NHÌN SANG NƯỚC NGA SAU 1991

Đây là bài của Ju. Afanasiev Nước Nga đã đến hồi cáo chung. Được viết từ mấy năm trước, nay nhân kỷ niệm 20 năm Liên xô sụp đổ đọc lại thấy hay quá nên tôi chép lại vào đây.

Mở đầu là câu hỏi Chúng ta không phải là nô lệ sao? Tác giả cho biết nay là lúc những người cầm quyền chỉ coi Nhà nước Nga là phương tiện để trộm cắp. Những người cầm quyền ấy giống như những kẻ chiếm đóng, một lũ mọi rợ. Hư vô về luật pháp. Vô luân. Nomenkluctura --bộ máy quan liêu --thao túng tất cả.

Nhìn đất nước thấy trống rỗng. Hướng về chính phủ thấy trống rỗng. Hướng về nhân dân trống rỗng hơn. Cảm tưởng mình như kẻ mất trí.

Người ta vẫn nói Nhà nước và nhân dân là một. Nhưng dưới góc nhìn duy lý, nay nhà nước không phải nhà nước, nhân dân không phải nhân dân.

Nhân dân đang khổ đau, một thứ nỗi khổ mà nói như N.M.Karamzin “chỉ những kẻ đê mạt mới chịu đựng nổi”. Họ hiện nguyên hình là một đám đông vô ý thức, sẵn sàng bạo loạn. Một thứ điên rồ đáng sợ, đáng buồn, đáng tởm nữa. Thỉnh thoảng vùng lên rồi họ lại nhanh chóng trở về cuộc sống tối tăm.

Sức lực quần chúng bị bóp nặn bằng bạo lực. Vấn đề ngột ngạt với tất cả. Sự trì trệ là đặc thù tính cách Nga.

Nước Nga từ xưa vốn thay đổi như theo đường vòng. Xây dựng chủ nghĩa xã hội = xoá bỏ nhân tố con người. Nay vẫn tiếp tục làm biến dạng con người.

Trước thế kỷ XX, nhân dân có tự tổ chức thành một cộng đồng. Từ cách mạng, phá bỏ. Quá trình tự tổ chức xã hội chỉ còn là quá trình phớt lờ cấm đoán, tội phạm, tham nhũng.

Cách mạng 1917 làm sống dậy những điều tồi tệ nhất: bản năng thú vật, tính ích kỷ. Sau 10-91 chẳng có điều gì xảy ra. Chính quyền toà án giáo dục … tất cả vẫn như cũ. Mọi thành viên trong xã hội chỉ bị chi phối bởi quyền lợi vật chất và cố gắng tồn tại.

Sau 1991 người ta đi bầu cho Yeltsin. Họ không thể có những hành động có ý thức của những con người được tổ chức về mặt xã hội.

Họ vẫn là những đám đông nhu cầu như nhau, suy nghĩ giống nhau, gào lên những điều giống nhau tạo nên những tấm phông mà nhảy múa trên sân khấu là những con chuột của lịch sử.

Sự khốn nạn đang đi từ cực kỳ tệ hại sang tệ hại hơn.

Yeltsin – Putin không làm gì để thay đổi cải tạo “truyền thống”. Người ta buộc phải dùng đến cái từ hoang dã nếu muốn miêu tả sự quay trở lại của một quá khứ chuyên chế lạc hậu. Lịch sử nhiều thế kỷ của Nga, lịch sử thời xô viết cùng lúc hiện diện.

Nhà nước phường hội, nhà nước thân hữu hôm nay chẳng qua là một thứ quái thai hậu xô viết. Nó đang quay về quá khứ tức trở về nơi mà mọi thứ đều bị nhà nước đè bẹp, không có chỗ cho xã hội công dân, không có chỗ cho luật pháp.

Sự chấp nhận các định chế kinh tế thị trường một cách hời hợt có tạo ra vẻ ngoài hiện đại trùm lên bộ máy quản lý chính trị. Sau đó tất cả lại tự phát. Đây là xã hội lý tưởng của bọn mediocre ( bọn tầm thường ).

Trí thức vốn có nghĩa tổng số những nhân vật có sự tìm tòi mở đường trong lĩnh vực của mình. Sự tìm tòi đó thành mẫu cho kẻ khác noi theo mà sống.

Khái niệm giới elite – tức giới tinh hoa-- liên quan đến khái niệm hiện đại hoá phát triển. Ở nước Nga hiện nay trí thức chân chính thực sự đứng bên lề vì đất nước từ trên xuống không có cái nhu cầu hiện đại hoá đó. Tri thức (thực thụ) ngày nay sống khép kín.

Nga luôn luôn hướng về quá khứ. Nước Nga không có chỗ cho người thích sống tích cực và độc lập. Sự tự khám phá bản thân -- sự tự nhận thức -- là bất khả thi. Chế độ quyền uy thao túng tất cả. Đàn áp đã làm tê liệt mọi ý tưởng đổi mới.

Trong lịch sử những người có học ở Nga --kể cả người tự do -- nếu muốn tồn tại, cũng chỉ có việc là góp phần củng cố quyền lực nhà nước. Chính quyền họ tôn phò đó là chính quyền chuyên chế. Từ thế kỷ XV, nước Nga đã chỉ lo mở rộng đế chế hơn là tự do cho xã hội.

Thời xô viết tiếp tục mà nay cũng vậy. Thậm chí có nhiều khía cạnh nay còn tệ hại hơn các thế kỷ trước.



14-10

GIỐNG VẬT CŨNG KHỔ

Ở Tây Bắc Trung Quốc có nhiều nông trại nuôi gấu. Bị nhốt trong các lồng sắt chật hẹp, lũ gấu tội nghiệp không có chỗ để đi lại. Trên bụng mỗi con gấu đều bị chọc thủng một lỗ vĩnh viễn để lấy mật hằng ngày. Vì vết thương mãi mãi không khép miệng này, chúng có thể nhiễm nhiều thứ bệnh, kể cả u ác tính, ung thư và viêm màng bụng. Quá đau đớn, gấu thường tìm cách đập bụng mình xuống sàn gạch mong tự tử. Để ngăn chặn điều này, chúng bị đeo khung sắt vào cơ thể.
Tình cờ một người được chứng kiến cảnh sau đây.
Một con gấu mẹ đã lồng lên, phá sập cái lồng đang nhốt nó khi nghe thấy tiếng gấu con rít lên lo sợ trước lúc bị một công nhân chích thủng bụng để lấy mật. Gấu mẹ lao thẳng đến chuồng gấu con trong khi công nhân bỏ chạy tán loạn.
Gấu mẹ giật lắc cái chuồng điên cuồng hòng cứu con ra. Không thể phá sập chuồng, gấu mẹ bất ngờ ôm lấy con rồi cuối cùng siết chặt nó đến chết. Bỏ gấu con xuống, gấu mẹ lao đầu vào bức tường gần đó tự sát.


Từ 14/08 tôi đã đọc từ mạng NLĐO tin này. Chờ mãi không thấy ai đưa lại.

Dạo này tin trên mạng tạp nham bề bộn quá, nhiều khi đọc mà không tin.

Trong trường hợp này liệu câu chuyện trên có thực hay ai bịa ra?

Dù là không đúng về mặt chi tiết thì nó đúng về căn bản: nay là lúc mà sống với con người đến cả cây cỏ muông thú cũng khổ. Tức chúng cũng cảm thấy sống trong tai họa và chỉ có cách chết mới thóat thân.





GHI VẶT

Rác cũng đã trở thành đối tượng của ngành sử. Đọc mục lục tờ báo Nga chuyên đưa tin sách, thấy bên ấy họ mới cho dịch một cuốn mang tên Lịch sử rác của Catherrine de Silguy. Tác giả là một nhà nghiên cứu môi trường người Pháp.

Định mách ai đó dịch và xuất bản, không biết chừng có sách bán chạy. Nhưng nghĩ lại lúc này ai đọc, lại thôi.

Được biết trong việc liên kết với nước ngoài, người Trung quốc khai tác công nghệ chế tạo máy của Đức, còn với Pháp , họ hợp tác nhiều trên hai mặt hàng, một là sản xuất hàng xa xỉ và hai là công nghệ xử lý nước thải.

Thursday, October 20, 2011

Cần một thứ sử học khác

(TBKTSG) - Từ đầu thế kỷ 20, một trí thức nổi tiếng là Hoàng Cao Khải trong cuốn Việt sử yếu (viết năm 1914) đã nhận xét rằng bao đời nay, người Việt mình thường tỏ ra thạo sử Trung Quốc hơn sử Việt. Từ các sĩ phu và quan lại, tình hình này lan ra đến đông đảo dân chúng.


Có thể giải thích hiện tượng này bằng chế độ thi cử ngày xưa. Người ta chỉ cho thi Bắc sử. Và các trường học - dù là chốn Quốc tử giám của triều đình hay lớp học tự phát của một ông đồ nghèo ở một làng quê hoang vắng - đâu đâu người Việt cũng hình dung cuộc đời này qua các trang sử từ đời Trụ Kiệt đến đời Đường Tống...

Trong khi đó thì bên phần Nam sử, một vài bộ như Toàn thư, Cương mục, Việt sử tiêu án, Lịch triều tạp kỷ... mà ngày nay ta tự hào, thật ra là quá ít ỏi và chưa bao giờ được mang lưu hành rộng rãi và đưa ra giảng dạy.

Đến thời chúng ta, tình hình lại đi theo một hướng khác, nhưng kết cục vẫn như xưa.

Những bộ sử thời nay do Nhà nước chỉ đạo biên soạn. Sự định hướng về dân tộc tỏ ra quá mạnh, thậm chí tôi còn muốn nói thẳng là lâu nay chúng ta chẳng chú ý gì đến lịch sử các dân tộc khác, và đó là một nhược điểm, nó hạn chế ngay sự hiểu biết của chúng ta khi muốn quay về nhận diện chính mình.

Thế nhưng tại sao thanh thiếu niên cũng như nhiều người lớn tuổi vẫn thuộc, và qua phim ảnh, thấy thích sử Tàu hơn sử ta?

Nhiều người cho rằng sở dĩ như vậy là vì người Trung Quốc có nhiều tiền hơn, làm ra những thước phim mùi mẫn hơn.

Không, không phải vậy, hoặc lý do chủ yếu không phải vậy.

Cái lỗi trước hết là ở chính những cuốn sử đã viết, trong đó hạt nhân là khái niệm sử mà chúng ta đang sử dụng.

Ở những trang sử Trung Quốc, không chỉ có những ông vua, khi là minh quân khi là bạo chúa chuyên chế, như Càn Long, như Tần Thủy Hoàng, mà còn có Tào Tháo gian hùng, Bao Công hiểu rõ tình đời đen trắng, Kỷ Hiểu Lam chăm chỉ học hành, Bạch Cư Dị sau khi đổi việc quan được dân chúng lưu luyến đưa tiễn... Đủ loại sắc thái nhân văn khác nhau nối tiếp hiện ra trong bộ mặt con người Trung Hoa, được vẽ trong những trang sử ấy. Và đằng sau đó là hình ảnh của cả xã hội trong suốt chiều dài thời gian mà mặc dù chúng ta khi thì căm ghét, khi thì ghê rợn, song bao giờ cũng thấy hấp dẫn, đã biết rồi còn muốn biết nữa.

Quay trở lại với những gì được viết trong các bộ sử Việt Nam, mà khuôn mặt tiêu biểu thì thấy rõ nhất trong các sách lịch sử đang dùng ở các trường phổ thông và đại học. Đây tôi không nói về những gì đã xảy ra trong đời sống lịch sử ngàn năm của dân tộc, tôi chỉ muốn nói cái nó còn được ghi trong sách vở và truyền tụng giữa các đời.

Ở những trang sử ta viết cho ta, trên cái nền là một ít sự kiện nghèo nàn, không có những con người mà chỉ có những hình nhân với một vài lời lẽ, hành động đôi khi cũng ấn tượng, nhưng quá nghèo nàn, đơn sơ. Đọc những trang viết khô khan cằn cỗi đó, thật không hình dung ra trong hàng chục thế kỷ qua, cộng đồng chúng ta đã ăn ở, sinh hoạt ra sao, quan hệ với nhau thế nào. Lại càng không thể từ đó rút ra những gợi ý về kiếp làm người của mình hôm nay. Bởi những bài học mà người viết sử gửi kèm chỉ là những kiến thức chính trị nông cạn, hời hợt, đến với người ta theo lối áp đặt gượng gạo.

Sức phản cảm mà nó gây ra trong lớp trẻ thật ra là điều nhiều người đã thấy từ lâu rồi, chẳng qua tất cả cố tình làm ngơ vì biết rằng vô phương cứu vãn.

Cái lỗi không phải chỉ là do mấy người soạn sách giáo khoa. Cái lỗi ở đây là của những người làm sử. Và suy đến cùng là sự hạn chế, nếu không muốn nói là nghèo nàn, kém cỏi trong ý thức lịch sử của cả xã hội.

Vấn đề là ở tư duy lịch sử của người Việt.

Chúng ta là một cộng đồng mải chinh chiến hơn là xây dựng. Trong quá khứ, chúng ta dành quá ít thời gian và tâm trí để suy nghĩ về chính mình, tìm sự thật về chính mình... Đó không chỉ là tình hình có thật trong cuộc sống của người Việt từ lúc khởi nguyên và kéo dài suốt vài trăm năm gần đây, mà cũng là của thời đương đại.

Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng của chiến tranh và cách mạng, nền sử học vốn rất còi cọc yếu đuối hôm nay chỉ dồn sức vào làm cho được nhiệm vụ trước mắt là giáo dục mọi người sẵn sàng ra trận, chứ sức đâu mà đáp ứng nổi cái nhu cầu tự nhận thức, cũng tức là nhu cầu soi lại quá khứ để xác định tương lai.

Ngay trong cái phần tốt đẹp nhất của nó, nền sử học mà chúng ta có cho đến hôm nay là một thứ sử học của tồn tại mà không phải là một thứ sử học dành cho một cộng đồng muốn phát triển. Tóm lại là vậy.

Cái việc lớp trẻ hiện nay từ chối sử học thật ra có một tác dụng tích cực. Đã đến lúc chúng ta phải nghĩ tới một thứ sử khác, sinh động hơn, có hình ảnh con người nhiều hơn. Nghịch lý cuối cùng chỉ là trong khi những đòi hỏi đã cấp bách lắm rồi, thì những điều kiện cần thiết không biết bao giờ mới hội tụ đủ.

Monday, October 17, 2011

Một cách nhà văn nghĩ & làm

Chuyến vào Sài Gòn cuối tháng 9 này, gặp bạn bè trong đây nhiều người hỏi, lâu nay Vương Trí Nhàn "lỉnh" đi đâu vì chẳng thấy lão này gặp ai.



Nhận xét của các bạn đúng thế. Ông bạn văn nhân chỉ chuyên nghề lý luận phê bình văn học này có một tâm thế riêng về chơi bời bạn bè, và với những nguyên tắc tự tuân một cách bất di dịch.

Nói cho đủ là hồi trẻ Vương Trí Nhàn cũng là người chịu chuyện, lu bu bạn bè. Còn nhớ hồi trước 1975, anh em chúng tôi chẳng mấy ngày không gặp nhau. Thường là tụ tập ở 330 Khâm Thiên, nhà Thúy-Văn (Nghiêm Đa Văn), chẳng phải vì sự kiện sự cò gì, chỉ là cái thú nghiện gặp nhau, rồi bàn tán đủ thứ chuyện. Thiếu ai là đôn đáo kiếm tìm, vất vả lắm (lấy đâu ra các phương tiện truyền tin như bây giờ?).  

 

Thời ấy anh bạn Nhàn của chúng tôi góp mặt rất đều. Nghĩa là chính Vương Trí Nhàn từng nhiều phen bỏ thì giờ cho những giao du, nâng lên đặt xuống và tranh luận như thế. Nhưng tôi để ý, khoảng qua đận tri thiên mệnh, ngoài 50 tuổi trở đi thì ông Nhàn này bỗng nhiên tự thu mình lại. Có chủ ý hẳn hoi. Là có ý dành hết thì giờ cho những ngẫm nghĩ suy tư. Và lão ta trút lên mặt giấy, giờ là bàn phím màn hình. Dĩ nhiên lão ta cũng bỏ ra khá nhiều thời gian cho rèn luyện sức khỏe và cái tổ ấm gia đình nho nhỏ của mình. Lão từng khoe với tôi là rất thích bơi ra bãi giữa sông Hồng. Ở đó có bãi cát tắm nắng, và vui chuyện với các ông già cùng chí hướng muốn gia cố sức khỏe tuổi già.

 

Vương Trí Nhàn luôn bảo rằng bạn hữu thì rất quý. Đánh bạn, giao đãi với nhau cần lắm. Cho hiểu biết, kiến thức. Nhận biết thêm tầng nấc cung bậc tình cảm bạn hữu. Và điều này rất cần cho văn chương nghệ thuật chứ không bao giờ vô bổ cả. Nhưng theo ông bạn Nhàn này, mọi cái phải có li-mít. Tức phải biết tiết chế khi giao hảo với nhau… Chứ cứ gặp gỡ quá nhiều, chuyện tầm phào (là chính), rồi tức tiết nhau lại đá xéo một đôi câu để một bên điên lên vặc lại, phỏng cần gì ích gì. Còn gây thù chuốc oán cho nhau, khổ vào thân thì tội gì chuốc lấy!

Thì giờ của con người hữu hạn lắm, Vương Trí Nhàn luôn than vãn với bạn tâm giao vậy. Nên phải giành giật lấy nó mà làm việc, nhất là khi đã lâm vào đoạn tuổi già của đời người.

Lặng lẽ trong nhiều năm qua, con tằm thì nhả tơ, Vương Trí Nhàn cứ đều đặn năm, vài năm là một cuốn sách. Thưa hơn thì ba bốn năm một lần tập hợp các bài viết (thường đã công bố trên báo chí), in một tập tiểu luận tản văn “chơi” với đời. Sách Vương Trí Nhàn có độc giả riêng của nó nên mấy nhà xuất bản tiếng tăm vẫn “săn” lão ta chứ tác giả này không phải cầu cạnh gì.

Mấy năm nay Vương Trí Nhàn có cái blog, bài vở tư liệu nhiều, rất đáng đọc nhưng công chúng mạng không đông đảo như mấy trang mạng văn chương nổi tiếng lhác. Có thể là nội dung của lão gia này chọn kỹ bạn đọc? Chả sao, Vương Trí Nhàn là tạng người không ưa ồn ào, không thích lxuất hiện ở đám đông. Đây là típ người chỉ muốn được lặng lẽ cặm cụi với công việc, suy tư và viết lách. Như thứ “trả nợ đời” thôi chứ chẳng kiếm tìm thêm một sự nổi danh nào nữa.

Người đời bảo tri chỉ là cái đức cần nhất phải ngộ ra với người cao tuổi. Đừng ham hố, đừng xông tới chèn ép ai, cứ sống với nghề mình thích như ông Vương Trí Nhàn lại hóa hay.     

Viết ít dòng về một người bạn giao du với nhau có thâm niên này như một kỷ niệm cần ghi lại. Không thể không post tiếp vào đây mấy trang trên blog của lão ta. Đây là một cách ghi chép “vặt” mà lão Nhàn đặt tên là NHẬT KÝ (đúng quá với đặc trưng của blog). Tôi dám đoan chắc rằng cái thể loại tưởng như Vương Trí Nhàn viết chơi này nó sẽ có ích nhiều cho hậu thế đấy. Vì người đời sau nhờ vậy sẽ hiểu rõ hơn về một khía cạnh tâm thế qua lăng kính chủ quan của một nhà văn cái thời chúng ta đang sống nó ra làm sao, cái gì đáng trọng giữ gìn, cái gì tầm thường đáng khinh bỏ đi... Mà xem ra cái bỏ đi là nhiều hơn. 


  ( V.T.Đăng sưu tầm )


"Cốm Vòng bẩn? Tôi không bất ngờ"




Những hình ảnh tuyệt đẹp sẽ chỉ còn lại trong ký ức?
 GDVN) - “Tôi không thấy làm bất ngờ và tiếc nuối điều gì trước thông tin món cốm làng Vòng có nhuộm phẩm vì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra...".
Hiện đại hóa, cốm bẩn là hiển nhiên






.
Trong tâm thức của người dân thủ đô, cốm là thức quà riêng biệt. Thức quà ấy mang hương vị của tất cả sự đảm đang, cần cù và sáng tạo của người dân làm nông nghiệp. Món ăn ấy thanh khiết, mang trong nó sứ mạng như linh hồn của văn hóa ẩm thực Hà thành.

Song dễ thấy, ngày nay người dân làng Vòng chẳng còn mặn mà với nghề làm cốm. Nhìn vào mặt bằng đô thị, làng Vòng đã được đô thị hóa, sầm uất hơn, náo nhiệt hơn và những cánh đồng lúa xanh bát ngát được thay thế bằng những ngôi nhà cao tầng. Nhiều người cao niên ở làng Vòng không khỏi tiếc nuối nghề truyền thống, họ càng đau xót hơn khi mỗi ngày chứng kiến một món nghề xa xưa đang bị công nghiệp hóa đến mức thô bạo, nhẫn tâm với việc nhuộm phẩm màu.
Song, điều bất ngờ là với nhà nghiên cứu văn hóa, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, ông lại thấy việc cốm làng Vòng bị "vấy bẩn" không có gì lạ. Có lẽ hơn ai hết, ông hiểu được những giá trị truyền thống đang mất đi để thay thế cho nhu cầu kiếm tiền, thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống hiện đại.



“Tôi không thấy làm bất ngờ và tiếc nuối điều gì trước thông tin món cốm làng Vòng có nhuộm phẩm vì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra. Tôi tiên lượng được điều đó bởi tôi thấy cuộc sống bây giờ không thể như ngày xưa được nữa. Những người làm cốm Vòng bây giờ đâu có được sống trong cái không gian Hà Nội những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Khi đó Hà Nội đẹp, thơ mộng, cốm làng Vòng thơm ngon. Bây giờ đường phố Hà Nội bụi bẩn, người dân ra đường bon chen đường đi lối lại vì thế cốm “bẩn” cũng không lạ lắm”, ông giải thích một cách rất dễ hiểu.
“Ngày trước người ta đi bộ với gánh hàng rong, còn bây giờ người ta bán cốm rong bằng xe đạp, xe máy thậm chí có cả ô tô”, ông nói.


Không những thế, để bắt nhịp với cuộc sống, ngày nay người làng Vòng dùng những dụng cụ hiện đại để thực hiện những công việc truyền thống. Ví như ngày xưa các cụ sử dụng tất cả các vật phẩm dây buộc bằng những sợi lạt tre, còn bây giờ người ta đã thay thế dây lạt, dây đay, bằng những dây hóa học đó là xu hướng chung. Nhưng những cách làm đó là cách làm bừa bãi, liều lĩnh, vô nguyên tắc, cứ cái gì làm được thì làm.


Sẽ không phải chỉ có cốm “bẩn”
Theo nhà nghiên cứu, phê bình Vương Trí Nhàn, điều hiển nhiên nhất hàng ngày chính là câu chuyện túi nilon. Mỗi ngày, một gia đình có thể vứt ra đường vài chục cái túi nilon mà không biết rằng đang làm hại tương lai của đất nước, của cả cộng đồng. 100 năm sau thế hệ con cháu chung ta sẽ phải chịu hậu quả.




Năm ngoái, bản thân ông sang Trung Quốc, người dân ở đây muốn xin túi nilon phải đưa thêm tiền với ý thức đừng vứt bừa bãi, họ sẽ biết được giá trị của túi nilon. Túi nilon ở đó rất đắt và họ dùng loại túi nilon hủy hoại nhanh chóng.
Còn ở nước ta lại ngược lại, túi nilon rất rẻ vì khó tiêu hủy. Người bán hàng rất chiều khách, một quyển sách, một tờ báo cũng gói túi nilon. Những việc làm này không khác gì việc cốm làng Vòng tẩm hóa chất.
"Dùng những phương tiện hiện đại phục vụ mục đích cổ truyền là điều bình thường, chỉ tiếc con người chúng ta lại làm việc vô nguyên tắc, bản tính phá hoại môi trường, phá hoại suy nghĩ của con người. Lẽ ra phải nghĩ đến tương lai, đến dân tộc của mình nhưng họ lại đi ngược lại.
Nhiều vùng đất không thể canh tác vì rác bẩn. Việc truyền lại đất đai cho con cháu, thế hệ sau không còn. Ví như việc đi lễ, đi bái cầu tài nhưng chẳng mấy ai coi thần thánh thực sự là một điều thiêng liêng. Họ cúng bái xong lại mang ra sông ra hồ vứt rác. Muốn cha mẹ nơi chín suối được mát mẻ nên mang cả bán thờ, bát hương ra sông bỏ. Nhân danh hiếu thảo, làm việc dã man.
Quan niệm kiếm tiền của người Việt Nam không phải làm ra giá trị nhà nước mà họ sẵn sàng bỏ ra tất cả để kiếm tiền. Với ông Nhàn, đâu chỉ có buồn chuyện cốm bị “bẩn” mà cuộc sống ngày nay còn rất nhiều điều khiến ông trăn trở.

Saturday, October 8, 2011

Một hồ sơ nhỏ về Đốt(*)

Đối với thế hệ những người cầm bút sinh ra khoảng những năm 40-50, một trong những nỗi đau đến sớm và còn kéo dài rất lâu, là phần lớn chúng tôi… không biết một ngoại ngữ nào cho rành rẽ. Khoảng những năm 60 cho đến trước 75 ở Hà Nội tiếng Anh ít người biết, tiếng Pháp bị coi như là lỗi thời, và giá biết cũng không có sách để đọc; tiếng Nga còn rất lõm bõm; riêng tiếng Trung Quốc có được dạy nhiều ở các trường phổ thông, song tới 1966 tự nhiên bị xếp xó, vì nguồn sách báo cạn hẳn.

Cũng bởi vì thế, mà khi cần nói chuyện các tác giả văn học nước ngoài, chúng tôi chỉ có cách căn cứ vào các bản dịch, cùng là một ít tài liệu nghiên cứu đây đó, ngẫu nhiên được đọc. Điều ấy đã đúng với nhiều người, lại càng đúng với trường hợp Dostoievski (mà từ đây trở xuống xin gọi là cụ Đốt, cho thân thuộc).

So với nhiều tác giả nước ngoài khác, khi tìm cách bám rễ vào đời sống tinh thần nơi đây, Đốt thật không gặp may, chẳng hạn như so với L.Tolstoi. Dẫu sao thì con đường để Tolstoi đến với bạn đọc Việt Nam cũng sớm được mở ra rộng rãi. Không kể Anna Karénina được Vũ Ngọc Phan dịch từ trước Cách mạng, ngay từ 1961, tập 1 (trong một bộ 4 tập) Chiến tranh và hoà bình đã bày bán rộng rãi. Tiếp đó đến Anna Karénina bản dịch lại, đến Phc sinh, đến truyện vừa Sévastopol… Tài liệu nghiên cứu giới thiệu về Tolstoi cũng sớm được phổ biến một cách khá hào phóng và toàn là những lời lẽ tốt đẹp.



Riêng với Đốt thì ngược lại.

Năm 1956, nhân 75 năm ngày mất của Đốt, Hội đồng hoà bình thế giới đưa ông vào danh sách các nhà văn được kỉ niệm (cùng với H.Heine và Kalidasa). Và ngày 21/12, nhà văn Nguyễn Tuân có nói chuyện ở Câu lạc bộ Đoàn Kết về Đốt. Song hồi ấy bọn tôi còn đang đeo khăn đỏ cắp sách đi học cấp I, cấp II, đâu đã nghe thủng mọi chuyện!



Bẵng đi một thời gian dài không thấy ai nhắc đến ông Đốt ấy nữa. Ti ác và trng pht, nghe nói bản dịch đã có từ lâu ở Nhà xuất bản Văn học, không được in ra. Các sách giáo khoa loại như Lch s Văn hc Nga, viết về Đốt một cách rất sơ sài và nặng về phê phán. Cũng nên nói thêm là khoảng đầu những năm 70, người biết tiếng Nga và dùng tiếng Nga chưa nhiều như mấy năm từ 1979-80 trở đi, song đã ngày một đông đảo. Nhưng sự tiếp nhận văn hoá, văn học Nga – Xô Viết ngay từ đầu đã được đặt trong tình thế phải cảnh giác, phải thận trọng. Aitmatov, Baklanov không được phổ biến, các phim Bài ca người lính, Người th 41 được coi như là có chuyện, không được xem, không được bàn. Thành thử cụ Đốt cũng bị vạ lây! Câu chuyện sau đây ở tạp chí Tác phm mi của Hội Nhà văn năm 1971 là một ví dụ. Nguyên năm đó, ở Liên Xô, giới văn học triển khai hai ngày kỉ niệm lớn, là 150 năm ngày sinh của Nikolai Nekrasov, và 150 năm ngày sinh của Đốt. Ở nhiều nước, hai sự kiện này cùng lúc cũng được kỉ niệm chu đáo. Ở ta thì sao? Một người quen của tôi, năm đó làm ở tạp chí Tác phm mi kể với tôi : Các nhà văn phụ trách tạp chí (người trực tiếp làm lúc ấy là nhà thơ Hoàng Trung Thông) cũng biết ông Đốt là to lắm, phải làm một cái gì đấy. Và không ai khác, anh bạn tôi quen kia, do đi học Liên Xô về, được phân công viết một bài về Đốt. Bởi cũng nghe thoáng đã biết mọi chuyện, anh cố viết về Đốt một cách chung chung, không tô đậm cái chất riêng, cái sức hấp dẫn ma quái của Đốt với con người hiện đại. Ấy vậy mà đến phút cuối cùng, bài viết cũng bị xếp xó. Trong số tạp chí cuối năm 1971 chỉ còn mẩu bài ngắn và một đoạn trích dịch thơ của N.Nekrasov (lấy ra từ bản trường ca Ai được sng sung sướng nước Nga) đâu như đều do Hoàng Trung Thông tự tay lo liệu.

Thế là đứt hẳn!



Không kể các bản dịch Đốt được thực hiện ở Sài Gòn trước 1975, và một số có mang ra Hà Nội sau 1975 , thì chính thức là đến 1983 , Đốt mới đến với đông đảo người đọc, qua Ti ác và trng pht (Phạm Vĩnh Cư giới thiệu, Cao Xuân Hạo dịch). Tiếp đó, đến 1988 (  còn hơn chục năm nữa là hết thế kỷ XX ,cũng có nghĩa là trên một trăm năm sau khi Đốt qua đời ), có bản dịch Anh em Karamazov của Phạm Mạnh Hùng. Nhưng chuyện trớ trêu vẫn chưa dứt: Ti ác và trng pht in ra với số lượng 20.200. Anh em Karamazov tập I, đề in số lượng 10.000 cuốn, tập II còn có 3.000 cuốn, và tập III là 1.000. Khốn khổ cho Đốt (hay cho chúng tôi), là khi ông bắt đầu tới Hà Nội thì thị trường sách nơi đây đã đầy những best-seller của Mỹ, sách trinh thám của Anh, Pháp, không mấy ai còn bụng dạ nghiền ngẫm ông cho kĩ lưỡng.



đến ni ám nh

Song cái lạ của cuộc đời là thế, tôi cam đoan rằng mặc dù không được đọc Đốt, nhiều người trong giới cầm bút trẻ ở Hà Nội trước 1975 vẫn rất hay nhắc đến Đốt, và một cái gì không có thực mà chỉ có trong tưởng tượng, cái đó vẫn hiện hữu chung quanh chúng tôi. Trong những câu chuyện hàng ngày, những cuộc luận bàn về văn chương của một số anh chị em cùng lứa với tôi  hồi ấy như Lưu Quang Vũ, Đỗ Chu, Nguyễn Khắc Phục, Bùi Bình Thi, … cái tên Đốt vẫn đi về, và một cách hiểu về Đốt cũng định hình. Có thể là nhiều khi bọn tôi nói liều nói lĩnh, nói những điều chỉ nghe thoáng được đây đó, nhưng không sao, không ai bảo ai, mọi người đều có cái lí khá giống nhau, đại khái, cứ ông Lép (Tolstoi) mà như thế này, thì ông Đốt chắc phải ngược lại, phải là một cách nhìn nhận, cách xem xét, một luồng ánh sáng khác hẳn. Mà ông Lép thế nào, mọi người có biết ít chút. Đấy, Đốt của chúng tôi ban đầu mang một màu sắc huyền thoại như thế đấy!

Riêng trường hợp của tôi thì có thêm một tác động nhỏ như sau :



Ở tạp chí Văn ngh Quân đội (cơ quan  tôi từng công tác) năm ấy, sau những cuộc đấu hót ồn ào trong cái phòng nhỏ lát đá hoa (nguyên là toa – lét, nhưng lâu ngày không dùng, nay được lau thật sạch, dùng làm phòng làm việc), thỉnh thoảng nhà văn Nguyễn Khải còn nán lại, nói với tôi ít chuyện riêng. Khi ngồi giữa đám đông, Nguyễn Khải có thói quen tô đậm cái chất phàm tục trong con người và nghề nghiệp của mình lên, nào chỉ lo viết nuôi con, nào sự đời thế nào thì cứ viết thế, chứ có gì phải tìm tòi cho rắc rối! Nhưng lúc nói chuyện tay đôi, thì anh trở nên nghiêm chỉnh hẳn. Anh nói những điều tâm huyết anh muốn đặt vào mỗi cuốn sách. Anh kể những điều anh mới học được và tìm cách vận vào trang viết của mình. Anh dẫn ra những ý tưởng anh mới đọc từ Carnet của Camus, từ J.Corteau, từ S.Zweig (tất cả đều qua các văn bản tiếng Pháp). Và tất nhiên là anh càng hay nói đến Đốt. Anh em Karamazov, như lời thú nhận của Nguyễn Khải hồi ấy, là khó quá, cao quá, anh không hiểu được, nhưng Ti ác và trng pht thì hay lắm, viết dễ hiểu và sâu sắc lắm, bất cứ người viết văn nào cũng phải đọc mới phải. Tôi thì không nói làm gì, vì tiếng Pháp tôi không biết mà tiếng Nga cũng mới tập tọng, nhưng Nguyễn Minh Châu trước đã học tiếng Pháp được kha khá, bởi vậy sau tất cả mọi điều, Nguyễn Khải không quên căn dặn:

- Phải bảo Nguyễn Minh Châu cố mà đọc Ti ác và trng pht mới được. Đọc rồi, mới nghĩ thêm được một ít về cái nghề thiêng liêng mà mình theo đuổi.



Có lẽ đấy là những mầm mống đầu tiên kích thích một người tự học như tôi tiếp tục tìm đến Đốt. Từ lúc nào không biết, nhà văn này trở thành một ám ảnh, tôi không thể từ bỏ nổi. Không đến thẳng được với ông, thì tôi tìm cách quanh co vòng vèo. Nói nôm na là không đọc được nguyên bản tác phẩm của Đốt thì tôi nghe mọi người bàn về Đốt vậy. Trong việc này, một ít tiếng Nga mới học có giúp tôi ít nhiều cũng như những tài liệu linh tinh tôi nhặt nhạnh được đây đó, có bồi đắp thêm cho tưởng tượng một ít da thịt và một hồ sơ nhỏ của tôi về Đốt được gom góp trong từng ấy năm, đã hình thành.

Hai mẩu chuyện nhỏ có liên quan đến Nguyễn Tuân, giúp tôi thêm yên tâm trong cách làm của mình.

Mt là, năm đó, 1971, khi kỉ niệm 150 năm sinh của Đốt, Hội Nhà văn Liên Xô có mời một hai nhà văn của mình sang dự. Thói thường ai cũng vậy, đi thì cũng phải chuẩn bị đọc qua một vài tài liệu có liên quan đến buổi lễ mà mình có mặt, bởi vậy, nhà văn nọ, được cử đi, mới nảy ra ý định: chi bằng đi hỏi ông Tuân, ông này đã có tiếng là thích Đốt, chắc có thể giảng giải cho mình ít nhiều. Theo lời kể của Nguyễn Khải – anh cũng nghe được đâu đó – thì Nguyễn Tuân, bằng cách nói rất phũ của mình, đã trả lời nhà văn kia như thế này:

- Thôi ông ạ, sách báo người ta viết về Đốt chất hàng núi, ông có nghe tôi bây giờ cũng như chim chích lạc rừng, vậy nên ông cứ sang đấy mà nghe rồi đừng nói gì là được rồi.

Hai là năm 1982, khi đưa bài nói chuyện về Đốt cho Tuyn tp, T.II, Nguyễn Tuân có viết thêm: “Sách đã viết về Đốt Xtôi (cách viết của Nguyễn Tuân trong nguyên văn – V.T.N) rất nhiều, tôi cũng chỉ biết được một số nào thôi (…) Tôi ngờ rằng một số từ, một số ảnh, cùng là hình tượng nào đó đã nhập vào trong bài viết tôi đọc ở buổi kỉ niệm gần ba chục năm nay. Lấy và mượn của ai, ở đâu, ở cuốn nào thì cứ dẫn ra thôi, chứ có gì và có sao đâu. Tội một nỗi là chỉ mang máng ngờ ngợ, chứ thật ra cũng không nhớ được ở đâu và là của ai nữa.

Vậy mong bạn đọc lượng tình cho”.

Đến Nguyễn Tuân còn viết như thế nữa là, bản thân tôi nghĩ rằng tôi cũng có quyền bắt tay vào công việc khiêm tốn là lọc ra từ ý kiến của mọi người những gì mình cảm thấy tâm đắc nhất; nếu như sức đọc của mình có hạn thì mai đây, sẽ có những người cung cấp những tài liệu hay hơn, giá trị hơn; gộp cả lại, những ý kiến này sẽ gợi mở những suy nghĩ độc lập của mỗi chúng ta về nhà văn ta muốn tìm hiểu.

II. Đốt là nhà văn như thế nào,

hay là mt s nhn xét quan trng ca các tác gi

nước ngoài v con người và tác phm ca Đốt

Điều quan trọng nhất người ta muốn tìm ở một nhà văn, mà cũng là chỗ bắt đầu mọi tác động của một ngòi bút đến bạn đọc, đó là quan niệm về con người: đọc anh, người ta hiểu thêm về con người ra sao?

Về điểm này, Đốt có một ý thức khá rạch ròi. Ông viết như một tuyên ngôn: “Con người là một bí mật. Cần phải tìm cách đoán nhận nó, và nếu có mất suốt đời để đoán nhận nó thì cũng đừng nên nói là mất thời giờ. Tôi muốn biết cái bí mật đó, vì tôi muốn là người”.

Khi nói về Đốt, các nhà văn thường cũng bảo “Ông đã biết tìm ra con người trong con người”. “Ông kích thích chúng ta đi tới những hiểu biết sâu sắc hơn về đồng loại”. Theo nhà bác học Einstein, cái đích mà Đốt đặt ra ở nhiều tác phẩm là “hướng mọi sự chú ý của chúng ta vào những câu đố của đời sống tinh thần”. Mà còn gì tiêu biểu cho con người hơn đời sống tinh thần ở họ?

Đốt đặt vấn đề trong con người tiềm tàng những lực lượng to lớn như thế nào.

Nhân vật Mitia trong Anh em Karamazov: “Con người rộng, quá rộng. Tôi sẽ thu hẹp nó bớt lại”.

Đây có lẽ là điểm xuất phát khiến cho hiện thực được ông miêu tả thường khi vượt qua cái khuôn khổ thông thường, mà trở nên kì dị, ma quái, chỉ trong tưởng tượng mới có.

Một nhà văn phương Tây thú nhận: “Đối với tôi, Đốt là một đỉnh núi phủ đầy tuyết và dẫn lên trời. Tôi sợ hãi nhìn ngọn núi đó từ xa, nhưng không bao giờ có ý nghĩa dám lại gần”.

Khía cạnh thấy rõ nhất của con người được miêu tả trong Đốt: Con người ở đây tranh cãi xung đột với nhau không phải vì những chuyện lặt vặt, rời rẽ, mà vì những vấn đề cơ bản của đời sống. Nhà văn nói về loại nhân vật chủ yếu của mình: “Đó là con người của tư tưởng. Tư tưởng ôm trùm hắn, thống trị hắn và có một đặc điểm là nó không chỉ ở trong đầu óc hắn, mà ăn vào trong tâm tính, thái độ, cử chỉ, nó khiến cho con người lúc nào cũng đau khổ và dằn vặt, và chỉ mong muốn được biến tư tưởng có trong mình thành ra hành động”.

Nói như H.Troya, cái quyền lực lạ lùng của tư tưởng trên thể chất, sự vượt qua thể chất bằng tư tưởng, những điều ấy đã ám ảnh Đốt.

Tuy nhiên, ở đây, có sự phân biệt một bên là tư tưởng, khi nó tồn tại dưới dạng những nguyên lí khúc chiết rành mạch; và bên kia là tư tưởng, đã đi vào con người, nó trở nên rối rắm, hỗn loạn, không rõ ràng và thường khi mang sắc thái chủ quan, nhưng lại cụ thể sinh động, hôi hổi sức sống. Tư tưởng mà Đốt nói tới trong tác phẩm của mình là cái thứ hai chứ không phải cái thứ nhất.

“Nhân vật của Đốt hiện ra không phải như một hiện tượng thực tế có những dấu hiệu xã hội điển hình hoặc một cá thể có cá tính vững chắc, cũng không phải như một khuôn mặt nhất định phối hợp những nét có ý nghĩa phổ biến và khách quan để rồi tổng hợp lại, sẽ trả lời cho câu hỏi: Anh là ai?

Không, nhân vật của Đốt là một góc độ nhìn đặc biệt vào thế giới và vào chính mình” (M.Bakhtin).

Khi đã sống hết mình với một tư tưởng, các nhân vật của Đốt luôn phải suy nghĩ để tìm cách xây dựng lại cái bên trong của chính mình.

Đốt miêu tả một cách hết sức tường tận bộ máy hoạt động tinh thần của các cá nhân đó trong những bước ngoặt. Ông nói rõ: sự cải tạo hoàn cảnh đòi hỏi phải tự gạn lọc, nói chung cá nhân phải biết nói sự thật về chính mình, biết cả quyết nhìn mình một cách tỉnh táo.

Tư tưởng của Raskolnikov là kinh khủng song có thể thấy nhân vật ấy rất tận tuỵ với tư tưởng đã hình thành trong đầu.

Còn ở Ivan Karamazov, người ta nhận ra sự không phù hợp đáng sợ giữa cái quy mô thế giới, mà tư tưởng Ivan muốn bao quát, với cái khuôn khổ chật hẹp của mục đích cá nhân mà tư tưởng đó bị lôi cuốn và lợi dụng (Dneprov).

Một trong những ý tưởng độc đáo táo bạo song lại là tín điều sâu sắc nhất ở Đốt và có lẽ chỉ Đốt mới dám nghĩ tới, mới dám phát biểu: “Có một thứ quyền năng có thể ngang hàng và đôi khi vượt quá quyền lực về tư tưởng – đó là quyền lực của cái đẹp”.

Chính ở chỗ này, Đốt hiện ra khác hẳn, thậm chí đối lập với nhiều nhà văn đương thời, trong đó có Lev Tolstoi:

Cái gốc trong lập trường xem xét đời sống của Tolstoi là đạo đức. Ông không thể chịu được khi thấy người ta bảo cơ sở của nghệ thuật là cái đẹp.

Còn tư tưởng chủ đạo của Đốt lại là cái đẹp cứu vãn thế giới.

Một bên là một nền đạo đức có sắc thái thẩm mĩ.

Một bên là một nền thẩm mĩ có sắc thái đạo đức.

Thành phần giống nhau nhưng thực chất khác nhau – thú vị là ở chỗ đó. (Seleznev).

“Đối tượng tìm tòi của Đốt: Mối quan hệ con người và thực tế, con người và thế giới, hay con người và Chúa.

Nhân vật của Đốt đối diện với toàn thế giới, hành động của nó làm xao động cả thế giới. Luôn luôn nó muốn để lại trong thế giới một dấu vết gì đó. Và trước tiên, nó muốn thử xem thế giới là gì, cái thế giới ấy có sẵn sàng thay đổi không và sẽ thay đổi như thế nào” (Kirpotin).

Theo Đốt: Chiến tranh và hoà bình của Tolstoi là bức tranh lịch sử của một cái gì đã qua. Về phần mình Đốt muốn không ngừng thấm sâu vào cuộc sống hiện thời, ở dạng chưa thành của nó. Ông không quan tâm tới cái cuộc sống đã ổn định. Ông muốn biểu hiện một cuộc sống không ai đoán được. Ông chỉ lo tìm câu trả lời cho những câu hỏi đang hành hạ mình, và luôn luôn bị dày vò bởi sự đợi chờ ánh sáng sẽ tới.

Theo Đốt, chủ nghĩa hiện thực mà không biết nắm vững, biểu hiện và giải nghĩa một phần cái mới, thì đó là chủ nghĩa hiện thực đáng nghi ngờ.

Ngược lại, khi thế giới đang bao trùm trong khủng hoảng, khi trong đó, đóng vai trò thống trị là sự hỗn loạn vô trật tự, sự dối trá và phi nghĩa, khi bóng tối chưa bị đẩy lùi… nhà văn hiện thực có nhiệm vụ thức tỉnh, tức giúp cho người ta thấy những điều chưa tốt, và làm cho người ta không thể sống yên ổn.

Chủ nghĩa hiện thực của Đốt không an ủi, không vỗ về một cách cải lương bởi ông không làm cho người ta tin vào bề mặt giả dối của cuộc sống hàng ngày, những tín điều khô cứng, những mẫu mực quan liêu và trì trệ của nó. Quá lớp vỏ hình như bình thường và tầm thường cần lật ra những bùng nổ đang được chuẩn bị mà không ai biết, những đổi thay không nhìn thấy trong đời sống chung và ở từng cá nhân (Kirpotin).

Theo Dneprov, Đốt luôn luôn nói đi nói lại rằng, bản tính con người không thay đổi. Nhưng ông biết mang lại cho cái bản chất tự nhiên này một định hướng lớn lao. Ở các nhân vật của ông thường thấy nổi lên cái yêu cầu bức bách là muốn giải quyết các mâu thuẫn; một khả năng vận động; và một tiềm năng thay đổi, tiềm năng xác lập sự thống trị cái tôi lý tưởng trên cái tôi thực tế. Thành thử với nhiều người, ông lại hiện ra như một kẻ tích cực tuyên truyền cho quan niệm rằng con người phải hành động, phải tự vượt lên, và phẩm chất này làm cho con người không còn là vật ngăn cản cho bản thân họ nữa.

Tương tự như vậy, một mặt Đốt có thiên hướng săn tìm và kích thích ở con người nhu cầu tự do, ý tưởng đi đến tận cùng của mọi ranh giới mà cuối cùng là ý tưởng nổi loạn, mặt khác, ông lại đề cao tinh thần khoan dung, chấp nhận. ở ông, đôi khi con người thích sự nghỉ ngơi, thích được chết nữa, hơn là thích được tự do phân biệt điều thiện và điều ác.

Ngược với quan điểm cho rằng con người hoặc dữ, hoặc hiền, Đốt chỉ rõ con người về bản chất vừa dữ vừa hiền, kẻ thù gần nhất của nó là chính nó (Dneprov).

Theo Đốt, tâm lí cá nhân là cuộc đấu tranh giữa Chúa trời và ác quỷ.

Trong thái độ với thế giới, con người ở Đốt là sự phối hợp giữa phục tùng và chống đối, giàu thiện cảm và lạnh lùng khắc nghiệt, tin cậy và không tin đến cùng. Đốt chỉ rõ sự phân đôi của cái thế giới dường như thống nhất, là thế giới của các cá nhân (B.Meilakh)

Nghệ thuật của Đốt cuối cùng tìm cách tác động tới con người thông qua việc đánh thức nhu cầu tự nhận thức ở họ. Theo Kariakin, sự tự nhận thức ấy là đồng nghĩa với sự chiến thắng mọi thói quen tự lừa dối, đồng thời đồng nghĩa với sự thích ứng đến mức cao nhất. “Sống trong bất cứ điều kiện nào, đó là truyền thống của họ Karamazov nhà ta”. Sau tất cả những vật vã tìm tòi, những truy đuổi cuồng loạn, có kèm theo cả máu và nước mắt, câu nói đó của một nhân vật trong Anh em Karamazov vang lên như một tiếng nói cuối cùng, và còn để lại dư âm mãi trong lòng những ai muốn chống lại mà vẫn phải thường xuyên đầu hàng cuộc sống.

Tính kịch độc đáo trong các nhân vật của Đốt là ở chỗ bên trong mình con người va chạm với những ngăn trở rất bi thảm. Bạn đọc tiếp xúc với tác phẩm của Đốt, do đó, có thể có khả năng tránh được những ngây thơ trong thái độ đối với chính bản thân họ. Mỗi người phải biết đào xới vào mình không phải một cách tuỳ tiện gặp đâu hay đấy, mà là rọi sâu kĩ lưỡng vào mọi góc tâm tư, xem đó như một khâu trong sự hình thành cá nhân mà thiếu đi sẽ gây ra những tai hoạ xã hội rất lớn.

Đào xới đến tận cùng, dĩ nhiên là tới khu vực của vô thức, tiềm thức. Ở Raskolnikov, cái ý thức của anh ta là lạnh lùng, nhưng trong tiềm thức lại thấy có sự hoà hợp với cái tốt. Trên phương diện này mà xét, cái vô thức của Đốt rất hiện đại. Nó không phải là một thứ bản năng phi cá tính mà ngược lại, nó cũng được cá tính hoá. (Dneprov).

Đốt nói về nghề văn và về sứ mệnh nghệ thuật:

- Tôi là một nhà hiện thực theo ý nghĩa cao nhất của từ này, tức là tôi miêu tả tất cả những gì sâu thẳm của tâm hồn con người.

- Tôi hãnh diện vì lần đầu tiên đưa ra con người chân chính, lần đầu tiên lột trần mặt kì dị và bi thảm của nó, cái bi thảm nằm ngay trong sự nhận thức của cái kì dị.

Một dịp khác, ông giảng giải kĩ lưỡng hơn:

- … Chỉ có tôi lật ra sự bi thảm bí mật của con người ở trong sự đau khổ, tự hành hạ; ở trong ý thức về cái đẹp và nỗi bất lực, không thể đạt tới nó; ở ý thức một cách rõ rệt về những điều bất hạnh này, và tất cả đều vậy, và tình thế bi đát đến nỗi không thể sửa chữa gì cả. Cái gì có thể thúc đẩy sự sửa chữa bây giờ? Phần thưởng? Lòng tin? Nhưng biết nhận phần thưởng của ai? biết tin vào ai? Người ta chỉ bước một bước khỏi tình thế hiện thời thôi là sẽ tạo ra một bước ngoặt ghê gớm, sẽ dẫn đến tội ác. Thật là bí mật.

Đốt hiểu rất rõ đâu là những đóng góp của mình cho đời sống tinh thần con người đương thời và cả cho hậu thế:

–Bí mật và nhà văn của những điều bí mật – các nhà bình luận văn học trên các báo thường thích lặp đi lặp lại như vậy mỗi khi cần nói về tôi, và họ cho đấy là một sự hạ thấp đối với tôi. Khốn khổ! Họ đâu có ngờ, cái đó lại làm nên vinh quang của tôi, vì cái đó là sự thật. Nguyên nhân nảy sinh tâm lí muốn vạch trần ra mọi bí mật này: ở tôi đã chết lòng tin vào những nguyên tắc chung. Với tôi, giờ đây không gì còn thiêng liêng nữa .

Có lẽ chính căn cứ vào điểm này mà A.Camus đã nói về tính chất hiện đại của Đốt, cũng là sự gần gũi giữa con người được miêu tả trong Đốt với người đương thời: “Bây giờ chúng ta biết rằng nhân vật của Đốt không phải là những người kì lạ và phi lí. Cũng giống như chúng ta, họ có một trái tim và nếu bảo Lũ người qu ám là một cuốn sách tiên tri, thì đó, không phải vì nó mang lại cho ta chủ nghĩa hư vô, mà là vì nó trình bày những tâm hồn tan vỡ, không có khả năng yêu, và đau khổ vì không có khả năng yêu, khao khát lòng tin và không sao tin nổi. Giờ đây chính loại nhân vật này đang lấp đầy xã hội, lấp đầy thế giới tinh thần của chúng ta”.

Về cách tân nghệ thuật, mà cũng là về cách nhìn thế giới của Đốt:

–Trong tiểu thuyết của Stendhal hay Tolstoi, người ta thấy một thứ ánh sáng đều đều tản mạn, bao giờ cũng vậy, tất cả các sự vật được soi rọi giống nhau, và các khía cạnh của chúng nổi lên đều đặn. Nhân vật dường như không có bóng. Còn trong tác phẩm của Đốt cũng như trong tranh của Rembrant, cái quan trọng nhất chính là cái bóng.

Đây là nhận xét của A.Gide về “kĩ thuật” nhìn con người ở Đốt. Theo Gide, tác phẩm của Đốt là sự bác bỏ thẳng thừng công thức nổi tiếng của Stendhal “tiểu thuyết là một tấm gương di chuyển trên đường”. Với Đốt, cuộc đời là đầy bóng tối, và viết nghĩa là sự đột nhập vào thế giới của những bí ẩn đó. Cũng bởi vậy, mà theo Gide, tác phẩm của Đốt mới có một sự hấp dẫn đặc biệt. ở chỗ này Gide cũng đối lập Tolstoi với Đốt. Có lần Gide đã nói với Roger Martin du Gard: “Điều mà anh nên tự trách mình, cũng là điều mà tôi hay trách Tolstoi: các nhân vật của ông không mang lại chút bí mật nào hết”. Vượt lên sự gây hấp dẫn thông thường, Gide nói về một quan niệm về con người bao trùm trong Đốt: “Trong  ông (chỉ Đốt) luôn luôn có cái gì đó để nói, một cái gì đó mới mẻ quan trọng. Theo tôi hiểu, điều có ý nghĩa chủ yếu không phải tự thân bức tranh cũng như hành động bên ngoài của nhân vật, mà là một nỗi lo âu bí mật nào đó, ông chia sẻ trong mỗi nhân vật và cũng là điều ông muốn lây truyền nơi độc giả”.

Faulkner cũng bảo rằng, ông yêu nhà văn này ở “cái sức mạnh ghê gớm, thấm sâu vào con người và có khả năng cùng đau khổ với con người”.

Trở lại với một câu chuyện đây đó đã có đả động qua ở các phần trên: mối quan hệ giữa Đốt và Tolstoi.

Như là một sự bố trí công phu của tạo hoá, hai nhà văn ấy là hai số phận khác hẳn nhau. Tolstoi sớm nổi tiếng như một Nga hoàng trong đời sống tinh thần của nước Nga lúc ấy, bản thân ông lại giàu có, sang trọng, tha hồ sống theo ý muốn. Còn Đốt lúc nào cũng bị ám ảnh bởi việc kiếm tiền. Các nhà xuất bản trả cho tác phẩm của Đốt 250 rúp một trang tác giả mà còn kì kèo, bớt lên bớt xuống, trong khi đó sẵn sàng trả cho Anna Karénina 500 rúp một trang. Hai người, do đó, càng không bao giờ muốn nhìn mặt nhau.

Mặc dù vậy cả hai ông lại luôn luôn phải nghĩ về nhau. Tolstoi nói với người quen: “Nếu gặp Đốt, hãy nói hộ là tôi yêu ông ta. Gogol, Đốt, và kì lạ bao nhiêu, Puskin, đó là những nhà văn tôi đặc biệt yêu mến. Riêng Đốt, ông rất gần gũi với tôi về mặt con người và có lẽ ông là nhân vật duy nhất mà tôi có thể hỏi rất nhiều và chắc là có thể trả lời tôi rất nhiều”.

Khi Tolstoi đào tẩu khỏi gia đình ở Yasnaja Poliana, ông chỉ mang theo có bộ Anh em Karamazov. Tolstoi thường bảo ở tác phẩm của Đốt, từng chỗ thì rất hay, nhưng toàn bộ thì khủng khiếp quá.

Về phần mình, Đốt cũng rất thích Anna Karénina của Tolstoi. Nói chung, Đốt coi thế giới trong Tolstoi, cũng như trong Homére, là thế giới của sự hoà hợp và đã được miêu tả rất thiên tài, chỉ có điều nó không phải là cái thế giới chúng ta đang sống.

Thái độ của họ với những vấn đề quan trọng của đời sống hết sức khác nhau. Kirpotin so sánh hai tác phẩm được viết gần như đồng thời để thấy giữa chúng là một vực thẳm:

“Trong Chiến tranh và hoà bình (được viết từ 1863, in ra khoảng 1867-1869) thế giới hiện ra đầy trí tuệ, thế giới ấy đi tới mục đích đã định trước. Trong quá trình phát triển của lịch sử, mọi cảnh tượng phá hoại được khôi phục, mọi điều ác bị đẩy lùi, mỗi con người nhận được đúng những gì mà chính họ đã gieo trồng.

Còn trong Ti ác và trng pht (in 1866), thế giới sục sôi cao độ, sự phi nghĩa và giả dối của nó trở nên không thể chịu nổi. Và Raskolnikov cự tuyệt nó với tất cả những ảo tưởng giáo điều và những huyền thoại đẹp đẽ được nghĩ ra để tô điểm cho nó.

Trước kia, thế giới dành cho mình quyền lên án các cá nhân có ý định phê phán những giá trị thủ cựu. Giờ đây, Raskolnikov tố cáo thế giới đang tan rã, đang tự huỷ diệt, và nổi loạn chống lại nó”.

Một nhà nghiên cứu phương Tây là Georges Steiner còn nêu ra một sự đối lập đầy đặn hơn, cụ thể hơn:

“Tolstoi là kẻ kế thừa vĩ đại nhất truyền thống của anh hùng ca, còn Đốt là một trong những thiên tài bi kịch vĩ đại nhất sau Shakespeare. Tolstoi: tinh thần bị ám ảnh bởi lí trí và sự kiện. Đốt – kẻ miệt thị chủ nghĩa duy lí và chỉ tha thiết săn đuổi nghịch lí. Tolstoi là thi sĩ của đồng ruộng, của đời sống thôn quê dân dã. Còn Đốt là típ người thành thị, con đẻ của văn minh đô thị với tất cả những tự do và đau khổ mà thứ văn minh này mang lại cho con người. Với khát vọng to lớn, Tolstoi sẵn sàng tự huỷ và phá huỷ những gì bao quanh trong cơn điên cuồng cốt đạt tới chân lí. Đốt đặt vấn đề một cách khác: “Thà chống lại chân lí còn hơn chống lại Chúa. Đáng coi thường là những gì dễ hiểu. Phải chủ trương huyền bí”. Tolstoi luôn luôn đi theo đại lộ của đời thường. Đốt thì dấn mình vào mê lộ của cái khác thường, trong những hầm hố và đầm lầy của tâm hồn. Tolstoi, ấy là một con người khổng lồ, bước dài trên mặt đất vững chãi, đi tìm cái thực, cái chân xác bằng toàn thể kinh nghiệm và cảm giác. Đốt thì luôn luôn ở bên bờ ảo giác ma quái, luôn luôn mở lòng ra đón nhận sự xâm nhập của cái siêu nhiên. Tolstoi là sự nhập thế của sức khoẻ và nói chung của một sinh lực thần thánh. Còn Đốt, Đốt là tổng số năng lực con người run rẩy dưới sức nặng của bệnh tật và ám ảnh, Tolstoi nhìn định mệnh con người với con mắt sử gia, trong sự trôi chảy của thời gian. Đốt chỉ muốn nhìn con người trong hiện tại, và trong sự im lìm mà lại phập phồng hào hển của những khoảnh khắc bi tráng”.

Thêm một hai nhận xét nhỏ có liên quan đến đóng góp của tác giả Ti ác và trng pht trên phương diện hình thức thể loại:

- Tiểu thuyết của Đốt, đó là tiểu thuyết tự thú, đồng thời là tiểu thuyết bi kịch; tiểu thuyết độc thoại, tiểu thuyết triết lí – chính luận. Đó cũng là một dạng đặc biệt của tiểu thuyết phiêu lưu và thường khi có những hơi hướng xa gần của tiểu thuyết trinh thám.

Một số khuynh hướng chung của nghệ thuật hiện đại, không gì khác, là sự tiếp tục mặt này hay mặt kia trong kinh nghiệm nghệ thuật của Đốt (Dneprov).

- Đốt xa lạ với loại nhà văn cái gì cũng biết. Trong khi kể chuyện, ông luôn luôn chỉ ra những yếu tố có thể gây khúc xạ cho suy nghĩ của người kể chuyện. Ông không quên chỉ ra những mâu thuẫn nảy sinh do có sự khác nhau trong nguồn tài liệu cung cấp, trong bằng chứng, lại không quên đưa thêm cả vào tiếng đồn mà ông thừa biết chúng là nhiễu sự thực. Sau khi nói rõ rằng trong một số việc, chính người kể chuyện cũng chưa biết đầu đuôi ra sao, ông sẵn sàng công khai cả quá trình thu thập tin tức. Với Đốt, điểm nhìn càng khác nhau, người ta càng đi gần hơn tới thực tế (Likhachev).

Trong tiểu thuyết Nhng min trái chín Evtuchenko nửa đùa nửa thật bảo rằng có thể chia nhân loại làm hai nửa, một bên là những ai có đọc Anh em Karamazov, và một bên là những ai không đọc.

Suy rộng ra, cũng có thể bảo nhân loại gồm hai nửa, những người thích Đốt và những người không thể đọc nổi, không chịu nổi, và còn căm ghét Đốt nữa.

1996