Tuesday, April 30, 2013

Đùa nhại là chuyện nghiêm chỉnh (nhân một bài thơ mới của Bùi Chí Vinh)

Lướt
qua  các trang mạng hôm nay tôi thấy phải
cắt dán lại bài thơ sau đây




SINH NGHI HÀNH  Bùi Chí Vinh


Sinh nghi ta viết một bài hành

Vợ nghi chồng, em út nghi anh

Cha nghi con cái, bè nghi bạn

Thủ trưởng thì nghi hết ban ngành

Láng giềng dòm ngó nghi hàng xóm

Ngoài đường nghi phố chứa lưu manh

Ngay ta khi viết bài in báo

Cũng nghi mình kiếm chác công danh

Trời ơi, mọi chuyện sinh nghi thiệt

Chén kiểu thường nghi kị chén sành






Thời buổi công hầu như chén cứt

Thiếu chó, mèo ăn cũng rất nhanh

Mèo ăn cho chó leo bàn độc

Vừa sủa vừa nhai riết cũng rành

Trẻ con khát sữa ai cho bú

Vú mẹ gầy, sâu rúc nồi canh

Quang Trung bỏ núi Tây Sơn xuống

Hoảng hốt vì gương vỡ chẳng lành

Nguyễn Du chỉ một đêm dạo phố

Đoạn Trường ngồi viết lại Tân Thanh

Thúy Kiều phát triển nhiều như thế

Thảo nào đất nước hóa lầu xanh

Nhà tù phát triển nhiều như thế

Sĩ tử làm sao dám học hành





Ta làm thơ mà lòng đứt ruột

Suốt đời bao tử chạy loanh quanh

Lãnh tụ nói: đói quên nghi kị

Ơn ấy ngàn năm sáng sử xanh!


29/04/2013






Tôi
thấy gần gũi với bài thơ ở mấy điểm


1/
ở mạch chính,  nó gợi lại một cảm giác
đang lan tràn trong xã hội những ngày này là quan hệ giữa người với người hết
sưc khó khăn và mỗi chúng ta thường nhìn chung quanh với cặp mắt  đầy nghi ngại, chẳng biết tin gì chẳng biết
tin ai.


2/
ở phần thứ hai, nó -- bài thơ -- đi vào tả thực, nói rõ sự bi đát bao trùm. Mọi giá trị tốt xấu đảo lộn. Bất công lan tràn.  Xã hội gợi ra cảm tưởng về  một ổ điếm ( lầu xanh). Mà đó cũng chính  là  tình
cảnh mà người Việt đã từng trải qua trong quá khứ. Hoàn toàn có thể mượn quá khứ để nói về hiện tại.


  Chúng ta thường có ảo tưởng về
cái vẻ hiện đại của cuộc đời đang sống . Lầm hết! Chúng ta vẫn đang ở trong quá
trình bế tắc như ông cha.


3/
nó có nhiều câu gượng gạo. Ngay cả đoạn cuối, bài thơ cũng rơi vào cái tình trạng của
nhiều công việc chúng ta đang làm  hôm
nay. Nghĩa là sau khi mở đầu khá hào hứng,  chẳng biết kết thúc ra sao. Suy rộng ra, với
toàn bộ đời sống,  chúng ta thường bị chi
phối bởi cảm giác  chẳng biết tìm nguyên
nhân sự hư hỏng ở đâu, chẳng biết cắt nghĩa thế nào cho phải, chẳng biết hy vọng
vào cái gì và không dự đoán nổi cái gì sẽ tới.


 Xin nhắc lai vẻ gượng gạo của đoạn kết lại làm
cho tôi thấy gần gũi hơn với tác giả.   Lúc
nhận ra sự gượng gạo ấy  là lúc tôi  muốn ghi nhận  dẫu sao đây cũng là sự kiện đáng nhớ. Nó
buộc chúng ta  phải suy nghĩ tiếp.


  Trong cái vẻ đùa nhại tưng tửng, bài hành trên đây lại có một nội dung nghiêm chỉnh, trong khi có thể nói chắc rằng  nếu đối chiếu với sự vận động của đời sống, phần lớn thơ ca hiện nay lại tồn tại như một cái gì rất, rất  tầm phào, đối với những người quan tâm tới thế sự thì chẳng đọc cũng được..


Ghi chú- Theo các sách nghiên cứu văn học Trung quốc thì hành: là do một thể thơ nhạc phủ trong cổ phong biến đổi mà thành.  Các tác giả lớn đời Đường đều có sử dụng hành. Được nhắc nhiều phải kể là Cổ bách hành của Đỗ Phủ,  Trường Can hành của Lý Bạch, Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị . Thời Thơ mới ,  những bài  thơ bẩy chữ mà chỉ sử dụng một vần như  Xóm Ngự viên , Trời mưa ở Huế của Nguyễn Bính  rất giàu chất hành. Thâm Tâm thì có Tống biệt hành, Can trường hành, Vọng nhân hành. 



Dưới
đây một bài nói về thơ tình Bùi Chí Vinh mà tôi đã viết từ  hơn hai chục năm trước . Cả về tư tưởng lẫn
nghệ thuật  bài Sinh nghi hành trên đây chỉ là nối tiếp cái mạch sẵn có của  tác giả. Bởi thế tôi muốn giới thiệu bài báo cũ  để bạn
đọc nào cũng nhìn nhận Bùi Chí Vinh như tôi có thể tham khảo.












                   
        Xanh vỏ đỏ lòng





Bây
giờ thì Bùi Chí Vinh còn viết tiểu thuyết, viết kịch bản phim. Có điều, với
nhiều tầng lớp độc giả, trước tiên anh vẫn là một nhà thơ, một nhà thơ độc đáo
khiến người này yêu mến hết lòng, người khác thẳng tay cự tuyệt...


Mặc
dù trong đời sống hàng ngày, không thiếu gì những chàng trai nhờ dẻo mồm tán,
khéo nói đùa mà lắm người mê và... lấy được vợ, song, theo "những quy định
không được ghi vào văn bản" thì thơ tình ở ta vẫn là khu vực xa lạ với mọi
thứ đùa cợt.



đây người ta có thể mơ màng, tha thiết, có thể đắng cay bồn chồn, rồi hờn dỗi
đớn đau, rên xiết chán chường đủ thứ, song bao giờ cũng phải nghiêm chỉnh, ít
ra là... giả vờ nghiêm chỉnh.


Mọi
sự bông lơn bị kiêng dè, nếu không nói là bị… sờ gáy.


   Số phận  tập Thơ
tình Bùi Chí Vinh
(1989) gần đây là một ví dụ: trong vòng ba năm sau khi
được in, nó đã lãnh đủ những sự "săn sóc" cần thiết.


Song,
nếu có dịp đọc lại, người ta có thể có ý nghĩ khác: trong một cố gắng liên tục,
hình như người viết những bài thơ này đã có công làm cho một thứ thơ vốn đạo
mạo trở nên xô bồ, tự nhiên, mà cũng là mềm mại, dễ gần hơn. dạng tự phát, qua những thể nghiệm nhiều
khi ngất ngư, ngang trái, hoặc lỗ đỗ, lểnh loảng, cuối cùng tác giả cũng đã
hình thành nên một giọng thơ lấy đùa cợt làm ngón nghề, coi bông lơn là luật
lệ. Cái hướng được mở ra, quả thật đầy vẻ thách thức!


Tôi đùa cợt, vậy
tôi tồn tại


Tự
thân nó, sự nghiêm chỉnh không có lỗi. Sở dĩ giờ đây nó gây khó chịu, vì đã bị
lạm dụng quá đáng, và chỉ trở đi trở lại với một bộ mặt nhàm chán.


Mượn
cách nói của nghề y, có thể bảo đang có tình trạng nhờn thuốc - ở đây là nhờn
thơ - của bạn đọc.


Cầm
bài thơ lên, đọc qua đầu đề, hoặc vài ba câu đầu, người ta dễ dàng đoán ra điều
sẽ viết ở các câu sau. Sự vận hành của ý thơ, rút cuộc, đã có thể quy lại thành
chương trình, tức nằm gọn trong những sơ đồ có sẵn, mà cái trục là một lối tiếp
cận "chân thành" "nghiêm chỉnh" "rưng rưng cảm
động" "không lời nào nói hết" của người làm thơ.


Một
thứ ước lệ.


Một
thứ sáo mới, không gì khác!


Không
phải là Bùi Chí Vinh không có khả năng viết những câu thơ cảm động kiểu ấy. Để
diễn tả cái trống trải và sự "bất tương thông" trong tình yêu, bài Ngã
tư thị trấn
có những câu khá hàm súc "Chỉ riêng ta đứng đó - Thay
một nhánh cây gầy - Cái bóng cây vừa đổ - Xuống em mà chưa hay".


Đây
là hai câu khác, khá tiêu tao, trong Hoa muội: "Khi em bước vào mùa thu
thiếu phụ - Là lá vàng đã rơi ngập vườn tôi".


 Gì thì gì, chứ thứ hàng tầm tầm, làm
theo quy phạm cũ, chắc là làm được!


Song,
ở chỗ người khác dừng lại, nhà thơ này muốn đi xa hơn một chút.


Với
một tư duy thoải mái - đúng hơn là một tâm thế "tự bộc lộ" thoải mái
- cộng với sự hỗ trợ của hoàn cảnh xã hội và những truyền thống của một xứ sở
dễ dàng, cởi mở... anh không chỉ muốn làm ra những bài thơ không giống ai, mà
còn muốn như là tạo ra một sắc thái thẩm mỹ độc đáo không bị ràng buộc trong
các nền nếp cũ.


"Trên
đường đi tìm thơ hay, trước tiên là thơ phải khác" - có thể là khi bắt đầu
cầm bút, Bùi Chí Vinh không có bài bản gì đàng hoàng; song biết đâu, trong cõi
tiềm thức, người làm thơ này chả ủ sẵn một lời nguyền như cái công thức mà tôi
vừa  phác họa?!


Những
chuyện bỡn cợt hàng ngày mà một chàng trai như anh vẫn nói cùng các cô gái,
được đưa vào thơ, chỉ qua vài nét sửa sang đạm bạc.


 Các lớp từ thông tục xâm nhập vào cái thế giới
vốn chỉ diễn tả bằng ngôn ngữ trữ tình, tạo nên một sự trớ trêu ngộ nghĩnh.



bài thơ này, anh bảo một cô gái đưa ngón tay út anh coi và âu yếm dặn "đừng
đưa lộn ngón nghe em - Lỡ ai đeo nhẫn, anh tìm sao ra"?



bài thơ kia, anh kể với một cô gái đang vào cuộc yêu với anh rằng không ai
khác, chính ông già của cô mới là kẻ đáng sợ hơn cả.


Rồi
thơ tán về chiếc ghế mây cô gái vừa ngồi; thơ khoe một lần chở người yêu bằng
xe đạp; thơ làm nũng với một cô đào vì cô đã tặng anh đôi dép quốc doanh đi
phồng cả ngón chân...


Bài
thơ nào cũng được viết bằng cái giọng tưng tửng đùa cợt, như giọng các đôi trai
gái vẫn dấm dẳn trêu chọc nhau, lời lẽ nhiều khi vòng vo luẩn quẩn mà người
nghe đủ mát lòng mát dạ.


Bất
cứ ai đã từng yêu, bằng những tình yêu hồn nhiên, hẳn dễ nhận ra tấm tình
"xanh vỏ đỏ lòng" của Bùi Chí Vinh.


Song
đến khi đứng ở phương diện của sự sáng tạo mà xem xét thơ, thì nhiều đồng
nghiệp lại bắt đầu nhăn mũi, xua tay, chê thơ anh là thô tục, là nhảm nhí.
Những người này thường bắt bẻ tác giả theo cái nghĩa sờ sờ thấy trên mặt giấy
của từng câu thơ, mà quên rằng, trong thi pháp đùa cợt, quy ước đầu tiên ai
cũng biết là tất cả như được làm méo. Như được cấu tạo lại theo những tỷ lệ
riêng. Hoặc như được đặt vào một gam màu duy nhất, chứ không còn là thứ ánh
sáng thông thường mà mọi người quen thấy.


Bảo
những câu thơ đùa bỡn về Gái Huế, Gái Nam, Gái Bắc của Bùi Chí Vinh là
bậy, là hỏng, thì có khác chi người thấy hai em bé cách nhau 3-4 tuổi chơi trò
mẹ con với nhau, liền lắc đầu chê là chúng phá bỏ hết tôn ti trật tự!


Rộng
hơn mà xét - trong những trường hợp các bài như Cao và thấp, Đọc truyện Liêu
Trai nửa đêm, Em là ai và em ở đâu v.v... -
hành động thi ca của Bùi Chí
Vinh phải được xem như một trò chơi với cái nghĩa mà các nhà tâm lý học vẫn nói
"chơi là tuyệt đối vô thưởng vô phạt. Nó là một ốc đảo hạnh phúc trong
cái sa mạc cuộc sống, gọi là nghiêm túc", "Chơi là cách tốt nhất,
giúp ta xem xét lại những quan niệm và ý kiến đã thành nếp
".





Quý trọng nhau
bằng cách... nhại nhau


Bản
chất của con người hiện đại là xu thế dấn thân. Ai đó đã từng bảo "Mỗi
người, dọc theo đời mình, chỉ vật vã và khốn khổ với chuyện đưa mình vào thế
giới".



vẻ như Bùi Chí Vinh cũng không ra khỏi thông lệ đó!


 Trước khi tính chuyện qua mặt các vị tiền bối,
thật ra người làm thơ này đã hết lòng bái phục họ, vùng vẫy thoải mái trong cái
thế giới mà họ tạo ra


 "Xuống phi trường Paris - Mua
giùm anh chiếc nón - Để ngày đưa tháng đón
- Chia nhau đội trên đầu -
Ta đội tình vùng dại...


“Để
bài thơ yêu em - Trú mưa mà không dột - Để lúc ghé Paris
- Mắt em chưa
hề ướt"
.  


  Mấy câu thơ trong bài Em và Paris ấy đầy
chất ngẫu hứng. Ý tưởng, khi gọi nhau, khi dồn dập đuổi bắt nhau .  Song không hiểu sao, tôi lại thường nhớ tới
nó  mỗi khi muốn  hình dung về  sự thanh thoát lui tới của Bùi Chí Vinh trong
mạch thơ hiện đại.


Đã
đành nay là lúc học đòi và mô phỏng đều không đủ nữa, cách tốt nhất để tỏ lòng
kính trọng các bậc tiền bối là làm nốt những việc họ chưa kịp làm, và nói chung
là làm hơn họ.



điều trong khi nhà thơ trẻ phiêu lưu trên con đường riêng, những mảnh vụn văn
hóa từng găm vào da thịt anh vẫn luôn luôn có mặt.


 Chúng cũng quyết liệt đòi được xuất hiện, như
ao ước đổi khác mà anh nung nấu.


Được
nhắc nhở nhiều nhất trong thơ tình Bùi Chí Vinh phải kể là Kinh Thánh. Tiếp đó, không gian văn hóa của anh mở rộng, để ôm trùm
cho hết.  Từ nàng Mona Lisa đến điệu
Lambada hiện đại. Từ Đơn Hùng Tín, Trình Giảo Kim đến Hoa muội cùng không khí Mùa
thu lá bay
của Quỳnh Dao.Từ ca dao, Cung oán ngâm, thơ Vũ Hoàng
Chương, thơ Nguyễn Bính đến nhạc Trịnh Công Sơn, thơ Nguyên Sa và Cung Trầm
Tưởng.


Sở
dĩ chúng, các dữ kiện văn hóa đó, có mặt, vì chúng đã trở thành dữ kiện của đời
sống. Trung thành với khuynh hướng kế thừa và tổng hợp lại trong văn học, nhà
thơ thường xuyên nhắc tới chúng, nhưng nhắc theo cách riêng của mình.



trong một số trường hợp là nhại theo chúng, dù nhại hết sức thân ái.


Từ
một tâm thế mà ai người quen lễ nghĩa - cung kính, dễ bảo là láo lếu, phạm
thượng, -- song thực tế là thấm nhuần tinh thần dân chủ, ngẩng cao đầu đối thoại
với các đỉnh cao trong nghề --  Bùi Chí Vinh đã cấu tứ nên hàng loạt bài thơ độc
đáo.


Nhắc
đến con đường, là nhớ Lỗ Tấn.


 Kể chuyện giang hồ, không thể bỏ qua thần
tượng lang thang du đãng A. Rimbaud.


 Chạm vào một cái gì êm đềm như Đà Lạt, lập tức
cảm thấy "tội nghiệp cho chàng Hàn Mặc Tử" và bên tai nghe vẳng lên
câu thơ bâng quơ mà không hiểu sao, nhớ mãi: Lá trúc che ngang mặt chữ điền.


Đây
nữa, không có phấn thông vàng, để gửi hương cho gió, làm sao lại không
nhắc đến hoàng tử Xuân Diệu, nhại Xuân Diệu chơi khi vẩn vơ đứng ngó trời?!


Cũng
như chỉ cần nhắc đến tiếng ru thôi là phải liên tưởng đến Nắng chia nửa
bãi...
của Huy Cận (Nào ai biết trăm con chim mộng - Vây kín đầu
giường anh hát rong).


Đến
như sự nhại Thâm Tâm mới thật sảng khoái...



lẽ vì quá yêu mến nhà thơ này, nên Bùi Chí Vinh đã nhại ông một cách thật chu
đáo, từ nhại tên bài (Phản Tống biệt hành) đến nhại câu (Ừ thôi về
biển, ta về biển)
rồi nhại cả đoạn (Đưa người ta cứ đưa sang sông -
không sợ tiếng sóng ở trong lòng - Thâm Tâm lên núi mà tống biệt - ta về biển
mặn hóa dòng sông).


 Đọc Bùi Chí Vinh trong những trường hợp
này, dễ nhớ đến loại nhân vật hề nhại trong xiếc: thấy người này leo dây, anh
ta cũng leo, thấy người kia nhào lộn, anh cũng nhào lộn; mọi việc được anh làm
một cách vụng về, khờ khạo, khiến người xem nhiều phen như thót cả tim.


Song
rút cục, mọi chuyện cũng trót lọt.



sau khi thở phào nhẹ nhõm, ta mới chợt nghĩ: hình như lý do tồn tại của anh ta
là thế! Chắc chẳng ai nỡ bảo rằng việc trình diễn theo kiểu nhại, với các tiết
mục tưởng như vụng dại này, là dễ dàng cả.


Theo
dõi sự phát triển của các nền văn học, người ta thấy rằng trong nhiều trường
hợp, cùng với sự phát triển của các thể nhại, đời sống sáng tác bắt đầu bước
sang những giai đoạn mới.





Tiếng gọi đàn
tha thiết


Nguyễn
Du từng bảo: Nghề chơi cũng lắm công phu. Dịch ra ngôn ngữ hiện đại, thì
câu Kiều đó có nghĩa mọi việc trên đời đều cần được làm một cách kỹ lưỡng,
thuần thục, với tất cả kiến thức và kinh nghiệm mà mỗi cá nhân có thể huy động.


Trong
sự nghiêm túc của nó, rồi ra đùa cợt cũng phải được nâng lên thành một thứ văn
hóa tạm gọi là văn hóa đùa, như văn hóa ăn, văn hóa viết, văn hóa
tranh luận
mà người ta vẫn nói.



bởi lẽ sự đùa ấy trong thơ đang mới mẻ, nên lại khó hơn mọi việc khác. Chắc
chẳng phải là quá, khi người ta vẫn bảo rằng đôi khi phải dùng đến công phu dời
non lấp biển thì mới đủ sức biến mấy câu pha trò tầm thường thành một tác phẩm
thơ ca thực thụ.



vẻ như đến mức ấy, thì Bùi Chí Vinh chưa kịp nghĩ tới hoặc chưa muốn nghĩ tới.
Anh còn đang bị quyến theo cái say sưa của một người được đi vào khu vực thênh
thang, và quá lạ lẫm nữa - mà chưa có dịp lắng lại với công việc. Nhiều bài thơ
in trong Thơ tình và rải rác đăng ở các bài báo một hai năm gần đây, có
được cái tứ khá hay, song còn ở dạng nửa thành phẩm; thừa ngẫu hứng tự nhiên,
song lại vẫn thiếu một cái gì như là sự dụng công, sự điên cuồng tìm tòi, hoặc
niềm khao khát hoàn thiện.


Không
nên và không thể đòi hỏi thơ Bùi Chí Vinh phải giống mọi người. Nhưng sẽ là có
lý, khi muốn tác giả vượt lên chính mình. Làm thế nào bây giờ? Hình như trong
việc này, nhà thơ đơn độc đang cần đến sự hỗ trợ của các đồng nghiệp. Nhạc Trần
Tiến, tranh Nguyễn Quân, thơ Nguyễn Duy… những tìm tòi đây đó  của nhiều người khác, khi được khi mất, đều đã
là những đồng minh tự nhiên, nhưng chưa đủ.


Nếu
như từ những thể nghiệm mà Bùi Chí Vinh gợi ra, có thêm nhiều nhà thơ khác cùng
vào cuộc phiêu lưu, tận dụng một số kinh nghiệm thành bại của anh, rượt đuổi
anh, thách thức anh... thì một ngòi bút vốn năng động như Bùi Chí Vinh sẽ có
thêm sức để vượt lên chăng? Dù vẫn do một hai người khởi xướng, song cuối cùng
thế nào cũng cần có những đợt sóng, tức có sự tham gia của nhiều người, thì rồi
các nỗ lực văn hóa mới có cơ trở nên những thành tựu chắc chắn.





In
lần đầu trên TT&VH 1992,


In
lại trong Cánh bướm và đóa hướng dương
1999

Saturday, April 27, 2013

Chuyện vặt hàng ngày


 Trốn đâu cho thoát







































































Monday, April 22, 2013

Một thứ tự do hoang dại

Lần đầu lên Đà Lạt, tôi được nghe kể là người Pháp trước kia đề ra những quy chế rất gắt gao cho việc xây dựng các biệt thự ở đây. Ví dụ, phải có diện tích đất bao nhiêu mới được làm nhà; còn về kiểu cách, trong khi bắt buộc mỗi nhà phải khác các nhà chung quanh (để tạo cảm giác độc đáo), thì anh lại vẫn phải kết hợp với cảnh quan sẵn có một cách nhịp nhàng.


     Nhìn Đà Lạt hồi trước, ai cũng thấy là không chỉ có nhiều nhà đẹp mà thú vị hơn là cả một thành phố đẹp.



Còn như các khu phố mới được xây dựng ở Hà nội những năm bung ra hoàn toán ngược lại

  Được biết là trong xây dựng đã có rất nhiều quy định chung chung, nhưng những quy định quan trọng nhất liên quan đến việc đóng góp của ngôi nhà vào vẻ đẹp của thành phố lại không có, bởi không ai có ý niệm gì về vấn đề này.


      Không thiếu nhà đẹp, từng cái rất đẹp, nhưng toàn bộ lại xấu.



    Ở Hà Nội hiện nay có những căn nhà chiều ngang mỏng dính, rồi những căn nhà học đòi kiểu cách nước ngoài trông thật kỳ cục, đến mức một nhà báo đã phải trương lên cái tiêu đề cho một bài báo: Eo ôi Hà Nội phố! (nhại tên bài hát Em ơi Hà Nội phố! của Phú Quang).

    Hỏi các chủ nhà thì cái câu trả lời thường nhận được là: “Nhưng mà tôi thích vậy”. Quá lên một chút nữa, người ta lại giở giọng “Tùy tôi muốn sống thế nào thì sống, không ai được dí mũi vào việc riêng của tôi cả”.

    Vừa phóng xe vừa hút thuốc. Vào rạp chiếu phim vẫn nói điện thoại di động oang oang. Phô bày những cái xấu xa ngay giữa nơi công cộng. Xả rác ngay dưới chân cái bàn ngồi ăn. Đánh vợ chửi con ầm ĩ hàng xóm láng giềng. Ấy là chưa kể làm hàng giả làm hàng kém phẩm chất, quảng cáo bịp bợm, ăn cắp ăn cướp ăn xin ...Ấy là chưa kể -- với những người có quyền lực -- việc cho ra những quyết định trái luật pháp rành rành vẫn diễn ra hàng ngày. Khi làm những việc đó trong thâm tâm con người thường âm thầm tự hào vì một thứ tự do hoang dại thấm đẫm trong mạch máu mình. Nói cách khác, những viêc đó đều xuất phát từ quan niệm về một thứ tự do hoang dại  mà chúng ta thừa hưởng từ lịch sử và chưa bao giờ đặt vấn đề về nó một cách nghiêm túc.






       Cái khác của người thời nay so với thời xưa là làm những trò ngang ngược  một cách cố ý. Chẳng hạn, người ta viện dẫn cái gì chưa có luật cấm thì cứ làm. Đến lúc có luật cấm - như chuyện hút thuốc thời nay - thì lại bảo quen nết rồi bỏ sao nổi.

       


       Nay cũng là thời trong đầu óc những người  tôn sùng tự do hoang dại  luôn có sẵn một mớ lý sự để sẵn sàng bảo vệ cho cách sống của mình.

    Họ  sục vào một hai cuốn  triết học xã hội học nửa mùa nào đó, nhặt ra vài câu có lợi cho cách hiểu về cái gọi là tự do của mình  để biện hộ.

    Nghe vừa thấy có lý, vừa như một sự ngụy biện thế nào đó!


   Để cãi lại, tôi cũng đành trở lại với sách vở . 





    Sơ bộ tôi thấy ngay ở  những cuốn phổ thông nhất, người ta cũng đã ghi cái ý tự do là không bị ràng buộc gì hết, tự do là để con người làm theo ý muốn.


     Chỉ có điều nếu đọc kỹ hơn thì thấy khi bàn về tự do, các nhà xã hội học đã lưu ý ngay là không được đẩy nó lên cực đoan.

    Thứ nhất, do con người sống trong xã hội nên cái đi kèm với tự do là sự kiểm soát xã hội. Tự do của người này không thể cản trở tự do của người khác. Nói “điều kiện đầu tiên để có tự do là tự do phải bị hạn chế” là với nghĩa đó.

      Thứ hai, tự do ở đây phải có tính nhân văn, với nghĩa con người chỉ có quyền tự do để sống cận nhân tình hơn, tốt đẹp hơn chứ không phải để hư hỏng, xấu xa đi.

    


   Theo một nhà triết học Trung Quốc cận đại là Lương Khải Siêu ( 1873-1929) , thứ tự do bừa bãi kia nên gọi là tự do hoang dại, và đó là dấu hiệu của một xã hội phát triển thấp.


       Thời Trung Hoa còn thuộc nhà Thanh ông và các đồng sự như Nghiêm Phục đã băn khoăn mãi khi tìm một chữ gì trong tiếng Hán để tương ứng với chữ liberty trong tiếng Anh.


      Tính toán hồi lâu các ông đành dùng chữ tự do.


     Theo nghĩa đen, tự do nghĩa là từ mình mà ra đồng thời là trở về với mình.


      Nhưng mà con người ta phải là cái gì trí tuệ, hiểu biết, tự làm chủ được mình, thì mới có quyền trở về mình chứ? Để cho thứ tự do hoang dại kia lôi cuốn là làm rối loạn xã hội! Chính vì hiểu thế, Lương thấy cần  tiếp tục cái ý tưởng mà các nhà tư tưởng hàng đầu của Nho giáo đã khởi xướng , theo đó các nhà quản lý xã hội không chỉ thân dân, gần gũi dân mà còn phải tân dân, làm cho dân ngày một tốt hơn. Chính là sách Đại học -- một trong những cuốn sách cái của đạo Nho -- đã mở đầu bằng câu "Đại học chi đạo tại minh minh đức tại tân dân".

    


       Xem vậy đủ thấy  không những là câu đầu miệng của người bình thường, tự do còn thu hút không biết bao nhiêu giấy mực của các nhà triết học.

     Như tên gọi của nó đã chỉ rõ, Bàn về tự do của John Stuard Mill in năm 1859 là cuốn sách kinh điển viết về khái niệm này, ở đó tác giả bàn kỹ về ý nghĩa xã hội của tự do như tự do tư tưởng, tự do về đời sống tinh thần. Những ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề phải có quyền tồn tại ngang nhau, không ai được lấy cớ gì để ngăn cấm.

      Những khía cạnh mà ông học giả người Anh bàn từ thế kỷ trước cũng đang thành chuyện thời sự ở ta.


      Cái khó là ở chỗ trong khi thứ tự do theo nghĩa thiêng liêng đang là chuyện mỗi người hiểu một cách và phải gỡ dần dần, thì ý niệm tự do theo nghĩa phàm tục lại chiếm lĩnh tâm trí nhiều người.



      Tầm thường dung tục trong quan niệm và học đòi những cái nhố nhăng trong hành động --những hành xử kiểu đó kéo người ta thấp xuống. Nó chỉ làm cho một xã hội trở nên nhộn nhạo và hàm chứa đầy tai vạ, chứ không thể góp phần  thiết lập trật tự là điều kiện chủ yếu để một cộng đồng tiến bộ. 


         Tự do hoang dại  không thể được coi  là dấu hiệu của một nhân tính tốt đẹp nào hết.


        Nó đóng vai trò một thứ van xì hơi, giúp người ta xả bớt những bức xúc trong lòng nhưng lại làm lãng quên cái quyền tự do cơ bản là tự do nâng cao chất nhân văn trong mỗi con người để mở đường đi tới xã hội văn minh.





 In lần đầu trên TBKTSG  30/9/2010.


 Bản trên mạng này có kèm theo một số sửa chữa và bổ sung.






 Viết thêm 19-4-2013


1/  Lòng khao khát tự do hoang dại của người Việt ngày trước biểu hiện thấp thoáng trong những "tuyên bố" bất cần đời, chẳng coi việc đời là gì: Thứ nhất quận công thứ nhì ỉa đồng. 


     Còn ngày nay đại khái ở mấy việc kiểu như đòi hỏi hãy cho nhập ô-tô xe máy thật thoải mái bất chấp việc tỉ lệ đường xá trên một đầu người thuộc loại thấp nhất thế giới. Hoặc những lời la hét, nhân danh tự do cư trú, đòi  không được hạn chế người  nông thôn lên nhập cư ở đô thị.






2/ Trong cuốn hồi ký của mình, Nguyễn Hiến Lê sớm ghi lại cái tình trạng sau  4-1975, dân chúng  quanh khu ông ở bắt đầu ra chiếm vỉa hè buôn bán  loạn xị và vứt cả rác ra đường. 


Trước đó, tôi cũng thường được nghe Tô Hoài nói tương tự.


 Nhiều lần đi trên các đường phố Hà Nội cống rãnh bẩn thỉu ngập ngụa trước nhà,  ông bảo với tôi rằng  ngày xưa mà để thế này thì đội sếp Tây nó phạt chết. 


Nghĩa là chính ở xã hội ta hôm nay, thứ tự do này mới có dịp nẩy nở...hết cỡ.






3/ Đây cũng là tình trạng người ta thấy ở nước Nga sau 1917.    


      Bác sĩ Zhivago trong cuốn tiểu thuyết cùng tên của Boris Pasternak (1890-1960 )có lần nói với bạn gái :  




Cô thử nghĩ xem, cái thời đại chúng ta thật là lạ lùng. Và cô với tôi đang phải sống trong đó. Thật ngàn năm một thuở mới lại xẩy ra những chuyện điên rồ như thế này. Cô có thấy cả nước Nga như mất nóc: Tôi và cô, tất cả những người như chúng ta đang sống ngoài trời. Không còn ai kiểm soát chúng ta. Tự do! Đúng là tự do thực chứ không phải những lời rỗng tuếch, nhưng đó là một thứ tự do ngoài mọi sự chờ đợi của chúng ta, tự do vì tình cờ, vì ngộ nhận”.


   Tôi ngờ rằng nếu nhìn  mãi về thời sau nữa, ở đây tác giả sẽ viết thêm " … tự do vô chính phủ, tự do làm khổ nhau, hành hạ nhau".  


    Hóa ra ở đâu cũng thế!


    Từ đây lại mang máng cảm thấy rằng không chừng càng những nước không có thứ tự do cao cả tự do có ý nghĩa nhân văn, thì tự do hoang dại càng phát triển.

     Chuyên chế thường tự che đậy bằng mị dân.

     Mà cách mị dân ít tốn kém nhất là  thả cho dân dông dài, hoặc nói như một thuật ngữ kinh tế hay dùng gần đây, là kích hoạt vào thói tự do hoang dại của người dân. Người dân càng hư hỏng thì người ta càng tìm thêm một chút có lý cần thiết cho mọi hành động chuyên chế của mình. Rồi cái đích cuối cùng là làm thịt dân cũng  vì thế mà trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. 






    4/Từ những biến thiên kiểu ấy, nay nước Nga rơi vào tình cảnh thế nào?


 Có hai chi tiết đáng nhớ nhất từ các bài báo mà rải rác tôi đã đọc.


 Một là về các vùng quê, thấy rất nhiều người đàn ông say rượu, có khi tất cả đàn ông trong làng say rượu. Còn đàn bà thì dạy nhau để làm sao bán được thân mình  với giá cao cho những người giầu có.    


thứ hai, nếu ngày xưa, các phương tiện truyền thông chuyên môn đóng vai giảng đạo thì nay ngược lại. Xem ti-vi, dân không phải nghe đậy bảo là hãy sống như thế này thế nọ nữa. Trong khi tha hồ lê lết trong cực khổ, giờ đây, họ toàn được nghe những điều họ muốn nghe, những lời nịnh nọt rằng nước Nga thuộc loại cường quốc dắt dẫn thế giới, người dân Nga đang sống cực kỳ hạnh phúc.

Monday, April 15, 2013

Tính cách người cai trị trong lịch sử Việt Nam : trường hợp bạo chúa Lê Long Đĩnh



Một gợi ý


Người Trung Hoa rất thông thạo về các danh nhân của họ. Sự ham mê viết về danh nhân kéo dài từ thời Tư Mã Thiên đến ngày nay.

Sách 100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung quốc (bản dịch ra tiếng Việt của Nguyễn Văn Dương 2002) phân loại nhân vật lịch sử như sau.









Chương I, dành cho các nhân vật ngoại hạng, như Khổng Tử, Lão Tử, Tần Thủy Hoàng, Mao Trạch Đông.

Đặc biệt cũng được coi là ngoại hạng, có Từ Quang Khải, chỉ làm quan tới Thượng thư bộ Lễ, song lại chuyên về nghiên cứu khoa học. Ở một nước có tinh thần dân tộc rất cao, đóng góp chính của ông lại là hấp thu nền văn hóa phương Tây.

Chương II, các vị đế vương các lãnh tụ vĩ đại, trong đó xếp cả Lưu Bang, Hán Cao Tổ, Võ Tắc Thiên, sau đó là Tôn Trung Sơn, Tưởng Giới Thạch.

Chương III, các nhà tư tưởng v.v…

Chương IV , các nhà văn nhà thơ.



So với các sách khác, sách này có thêm có phần phụ lục về 10 đại hôn quân bạo chúa và bề tôi gian nịnh, bao gồm vua Trụ, Tùy Dạng Đế, Từ Hy thái hậu, Tần Cối, Đổng Trác và Viên Thế Khải…

Cùng cách làm vậy, trong ngăn lịch sử đương đại ở các hiệu sách Trung quốc, người ta đã bầy những cuốn viết về mấy người tạm gọi là bạo chúa đương đại  như Khang Sinh truyện, Giang Thanh truyện…

Tôi thấy có lẽ phải đi sâu thế mới gọi là làm sử.

Bởi viết lịch sử không chỉ có nghĩa là tìm ra những tấm gương để người đời noi theo. Lịch sử còn hấp dẫn và cần thiết cho người ta qua việc miêu tả những nhân vật đã có ảnh hưởng tới sự vận động của xã hội dân tộc thời đại cả theo chiều thuận lẫn theo chiều nghịch.

Tôi ước ao có người nào đó khi viết sử sẽ đi vào cuộc đời cả những bạo chúa và bề tôi gian nịnh trong lịch sử VN. Chắc chắn các nhân vật này ở VN khác nhiều so với những người cùng loại bên Trung quốc.

Lần này tôi thử tìm hiểu một người là Lê Long Đĩnh.



Một tính cách bệnh hoạn

Sách Đại Việt Sử ký toàn thư ghi tóm tắt

NGỌA TRIỀU HOÀNG ĐẾ Tên húy là Long Đĩnh, lại có tên là Chí Trung, con thứ năm của Đại Hành ở ngôi 4 năm, thọ 24 tuổi (986-1009) băng ở tẩm điện. Vua làm việc càn dỡ giết vua cướp ngôi, thích dâm đãng tàn bạo, muốn không mất nước sao được?

Hồi  học tiểu học, đọc Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, bọn tôi đã ghi sâu vào đầu óc chi tiết ông vua này sở dĩ gọi là ngọa triều hoàng đế vì hoang dâm vô độ, phải nằm thiết triều. Lại thấy nói là ông ta tàn ác, khi ăn mía thường đặt tấm mía lên đầu nhà sư mà róc vỏ, rồi thỉnh thoảng giả vờ nhỡ tay để dao chạm vào đầu nhà sư, thấy máu chảy lênh láng thì cười vui sướng.

Đại Việt sử ký toàn thư kể chi tiết hơn:

Mậu Thân, 1008 ,Vua thân đi đánh hai châu Đô Lương , Vị Long, bắt được người Man và vài trăm con người, sai lấy gậy đánh, người Man đau qúa kêu gào, nhiều lần phạm tên húy của Đại Hành, vua thích lắm. Lại tự làm tướng đi đánh Hoan Châu và châu Thiên Liễu, bắt được người thì làm chuồng nhốt vào rồi đốt.



Một đoạn khác

Vua tính hiếu sát, phàm người bị hành hình, hoặc sai lấy cỏ gianh quấn vào người mà đốt, để cho lửa cháy gần chết, hoặc sai kép hát người Tống là Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn dao cùn xẻo từng mảnh, để cho không được chết chóng. Người ấy đau đớn kêu gào thì Thủ Tâm nói đùa rằng: "Nó không quen chịu chết". Vua cả cười.

Và đoạn sau:

Đi đánh dẹp bắt được tù thì giải đến bờ sông, khi nước triều rút, sai người làm lao dưới nước, dồn cả vào trong ấy, đến khi nước triều lên, ngập nước mà chết; hoặc bắt trèo lên ngọn cây cao rồi chặt gốc cho cây đổ, người rơi xuống chết. Vua thân đến xem lấy làm vui.

Có lần vua đi đến sông Ninh , sông ấy nhiều rắn, vua sai trói người vào mạn thuyền , đi lại giữa dòng muốn cho rắn cắn chết. Phàm bò lợn muốn làm thịt thì tự tay vua cầm dao chọc tiết trước, rồi mới đưa vào nhà bếp sau.

Hoặc nhân yến tiệc, giết mèo cho các vương ăn, ăn xong lấy đầu mèo giơ lên cho xem, các vương đều sợ, vua lấy làm thích.



Nói ông vua này có tính cách một người tàn ác còn là đơn giản.

Sự tàn ác ở đây kèm theo tất cả đặc điểm của một kẻ bệnh hoạn về tâm lý. Cố ý tổ chức ra sự đau khổ ( buộc người cho rắn cắn). Thích quan sát ngắm nghía sự đau khổ đó như thưởng thức một cảnh đẹp.

Niềm vui thú bệnh hoạn này chắc chắn có ở nhiều kẻ thống trị khác, nhưng sách sử ở ta ít chép, tôi tạm lấy ra một đoạn sử Tầu.

Trong cuốn 100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung quốc nói trên,  đoạn nhắc tới Trụ Vương  kể ông ta có một hình phạt gọi là pháo lạc.

Sai đặt một trụ đồng trên lửa đỏ.

Lại sai bôi mỡ trên đó rồi cho tội nhân đi trên, người nào người nấy trước sau đều ngã xuống bể than đỏ rực, giãy giụa kêu khóc cho đến chết cháy.

Trụ Vương làm vậy vì ái phi của ông là Đát Kỷ rất thích được ngắm khung cảnh đó.

Trong tâm lý học hiện đại, có người bảo đây là một niềm vui liên quan tới chứng sadism (ác dâm, bạo dâm).



Về phần Lê Long Đĩnh, không phải là vua không hiểu hành động của mình là phản tự nhiên ( “nó không quen chịu chết”), nhưng có vẻ như ông ta xem đó là cách tự khẳng định con người của kẻ có quyền.

Quái lạ nhất và phản tự nhiên nhất là việc Long Đĩnh thích người ta chửi thẳng vào tên người đã đẻ ra mình.

Tại sao ở ông ta lại hình thành thói quen đó, hiện tôi chưa giải thích được. Chỉ tạm thời hãy ghi nhận là chắc nó có chút liên hệ với loại tính cách lưu manh trong các làng quê VN cũ, mà Nam Cao từng nhắc tới trong Chí Phèo :

Ngay ở đoạn mở đầu của truyện ngắn, tác giả đã viết về một cơn say đồng thời là một cơn chửi của anh Chí. Đối tượng của cái mạch chửi ấy được kê ra lần lượt như sau:

1/chửi trời

2/ chửi đời

3/ chửi cả làng Vũ Đại.

Sau cùng , tới điểm dừng lại

4/ chửi đứa chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn.



Nghiên cứu về bộ máy thống trị và tầng lớp thống trị phải là một bộ phận của lịch sử

Trong bài báo Thứ bậc Việt Nam trên bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu: Báo động đỏ in trên Tia sáng 27/07/2012 , tôi thấy người ta đưa ra một nguyên tắc: trí tuệ của một cộng đồng trước tiên là ở cách tổ chức nhà nước và xã hội của cộng đồng đó .

Chứ không phải trí tuệ một dân tộc chỉ hàm ý trong tập hợp đó có nhiều người làm toán giỏi hoặc lý luận giỏi như nhiều người ở ta vẫn hiểu.

Các sách nghiên cứu về văn hóa Trung quốc mà tôi đọc được đều có phần mở đầu nói về văn hóa quyền lực của nước này.

Các bộ lịch sử cổ ở ta cũng chép khá kỹ về việc triều chính tức là việc quản lý xã hội mà nói theo thuật ngữ xưa nay vẫn dùng tức là việc cai trị .

Chỉ đến các bộ lịch sử sau 1945 điều này mới được chép một cách sơ sài nếu không nói là lảng tránh. Có vẻ như để nhấn mạnh rằng cái chuyện cai trị là cũ rồi, thời nay  không ai cai trị ai cả.

Sử viết trong 30 năm đất nước mải làm chiến tranh thì viết như thế là có lý. Để làm cho mọi người có ảo tưởng rằng mình là chủ của xã hội này rồi hết lòng mà chiến đấu.

Nhưng nay đã sang thời lo làm ăn kinh tế, và rộng hơn là tổ chức lại xã hội, lẽ nào lại không quay về nghiên cứu quy trình cai trị của các thời trước, từ đó rút ra quy luật soi sáng việc tìm hiểu thời nay.

Trong tình hình phát triển của khoa học xã hội hiện đại, nhân học đang đóng vai trò trung tâm.

Theo tinh thần ấy, chắc chắn các công trình nghiên cứu lịch sử cai trị xã hội ở VN, ít ra phải gồm hai bộ phận:

-- cách tổ chức bộ máy và nguyên lý vận hành của bộ máy.

-- con người hoạt động trong các bộ máy đó.

Trong bài tiếp theo đây, tôi sẽ nói có chút kỹ hơn về việc làm vua của Lê Long Đĩnh.

Lần này hãy tạm dừng lại ở phần tạm gọi là tính cách cá nhân của nhân vật này.

Trở lại chuyện nêu lên lúc đầu. Lâu nay, chẳng những không nghiên cứu về các loại hôn quân bạo chúa mà các nhà làm sử VN cũng không hề tính chuyện nghiên cứu về cá nhân con người thuộc về tầng lớp cầm quyền này nói chung.

Tại sao, lý do một phần là vì người ta cho rằng nhân dân thì bao giờ cũng tốt đẹp, còn giai cấp thống trị -- mà bao giờ cũng bị gán cho nhãn hiệu tàn bạo xấu xa -- thì không phải là người VN, họ không tiêu biểu cho cộng đồng người Việt nói chung.

Có biết đâu, trong xã hội học thời nay, bên cạnh tầng lớp trí thức, lớp người quản lý nắm giữ quyền lực điều hành xã hội luôn luôn được coi là bộ phận đặc tuyển, có tính chất tinh hoa. Cần nghiên cứu để qua họ thấy chân dung của cả cộng đồng nói chung.

Sẽ có người hỏi ừ thì nghiên cứu về việc cầm quyền là cần chứ moi móc vào những thói xấu trong tâm lý và đi vào sinh hoạt hàng ngày của người ta làm gì?

Để trả lời, xin chép lại một chi tiết nữa trong đoạn nói về Lê Long Đĩnh ở các sách sử.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi Mỗi khi ra chầu, [vua] tất sai bọn khôi hài chầu hai bên, vua có nói câu gì thì người nọ người kia nhao nhao pha trò cười, để cho loạn lời tâu việc của quan chấp chính.

Tức là nhà vua coi việc triều chính chỉ là một thứ trò đùa, quan lại dưới quyền chỉ là một lũ tay sai mạt hạng.

Cách chủ trì việc nước như thế chắc chắn chỉ có ở một kẻ hỗn loạn nhân cách như đã dẫn ở trên.

Saturday, April 13, 2013

Tương lai mọi cái sẽ tốt lên

Lời cáo lỗi

Sau đây là một bài báo của một tác giả nước ngoài mà tôi đã copy lại và đưa vào kho tài liệu lưu trữ cá nhân từ mấy năm trước.

Đến chính tác giả là ai và bản tiếng Việt in ở nguồn náo ai dịch tôi cũng quên không ghi.

Trong lúc tôi đi vắng, em tôi Vương Trí Đăng-- một cộng tác viên của tôi -- không biết, nên đã đưa bài này lên mạng, không kèm theo ghi chú, khiến cho bạn đọc hiểu lầm.

Tôi xin có lời thành thật cáo lỗi.

Lẽ ra tôi phải lập tức dỡ bỏ bài báo, nhưng vì đọc lại thấy nó hay, và gần với những suy nghĩ của mình nên xin phép cứ để lại đây để bạn đọc tham khảo

15-4-2013

   

  Một trong những đức tính tôi luôn có dịp nhận thấy ở người Việt Nam, đó là họ có một niềm tin đặc biệt tích cực vào tương lai. "Mười năm nữa, mọi thứ sẽ tốt hơn", bạn có thể nghe ví dụ như vậy. Hoặc thỉnh thoảng: "Năm năm nữa mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn" hay "Hai mươi năm nữa mọi thứ sẽ tốt hơn lên."





Những câu nói như vậy thường nổi lên, ví dụ như, khi người ta bàn luận về tình trạng giao thông. Hoặc về sự ô nhiễm môi trường. Hoặc về đói nghèo. "Hai mươi năm nữa, chúng tôi sẽ có một hệ thống giao thông cực tốt và có trật tự như ở châu Âu!", người tiếp chuyện với bạn sẽ nói như vậy chẳng hạn, và sau đó gương mặt anh ta ngời sáng lạc quan. Khi mà ngay trước đó, anh ta vẫn đang buồn rầu bực bội, cho rằng giao thông ở Hà Nội hỗn loạn và luôn luôn tắc đường. Nhưng chậm nhất là hai mươi năm, khi có đủ tiền, và kinh tế phát triển, tất cả đường phổ rộng rãi hơn, Hà Nội có tàu điện ngầm mới toanh và hiện đại, ai cũng đi xe ô tô, khi đó tất cả mọi thứ sẽ tốt hơn.



Điều này, một mặt, đó là một đức tính rất đáng ngưỡng mộ. Đặc biệt khi một so sánh với người Đức, là những người lúc nào cũng luôn tin rằng năm tới tất cả mọi thứ sẽ tồi tệ hơn. Cũng giống như, quả đúng là tất cả mọi thứ năm này đều tồi tệ hơn nhiều so với năm trước.




Tuy nhiên, đấy cũng là một đức tính có chút gì đó đáng lo ngại, bởi vì nó dẫn tới một tác động ngược, nghĩa là sẽ chẳng có ai cảm thấy phải cố gắng để làm cho quả thực mọi cái sẽ tốt hơn. Tôn trọng luật giao thông? Hạn chế xài túi nilon? Hạn chế việc xả rác? Để làm gì, khi mà hai mươi năm nữa đằng nào mọi thứ cũng đều tốt hơn. Khi mà tất cả chúng ta đều giàu có. Dĩ nhiên sẽ nảy sinh ra câu hỏi, ở đâu trong vòng hai mươi năm nữa bất chợt nảy sinh ra một thế hệ những con người có đạo đức và đi xe trên đường phố theo đúng luật quy định, nếu như NGAY TỪ BÂY GIỜ khi họ đang còn là trẻ nhỏ đã học được những điều ngược lại: Chỉ những ai vị phạm càng nhiều luật lệ họ mới có thể đến được nơi mình muốn đến.




Về mặt này những người Đức kỹ tính dĩ nhiên đã đi trước một bước: không có niềm tin sâu sắc, rằng việc vượt đèn đỏ là điều báo hiệu sự sụp đổ của phương Tây, và ngay ngày mai tất cả các thành phố có thể sẽ phải chết một cách đau khổ trước mối hiểm nguy từ những hạt bụi siêu nhỏ, tất nhiên sẽ không dễ dàng gì trong việc làm theo những quy tắc nghiêm ngặt tương ứng. Điểm nhấn mạnh ở đây đó là việc hiện thực hóa, bởi vì ở Việt nam thực ra đâu có thiếu các quy định và luật lệ. Chính thức mà nói, tất cả mọi thứ xảy ra trên đường phố ở đây gần như đều bị cấm, và theo như hiểu biết của tôi, luật môi trường của Việt Nam thuộc vào loại nghiêm khắc trên thế giới. Chỉ có điều chẳng hề có ai quan tâm đến.




Đồng thời sự lạc quan về tương lai của nhiều người Việt Nam cũng có thể giải thích được, nếu người ta nhớ rằng suốt trong 30 năm qua, trên thực tế, mỗi ngày mỗi một thịnh vượng hơn, và nhiều vấn đề tự nó đã biến mất. Các bước nhảy vọt mà đất nước này đã làm được kể từ cuối thập niên 80 đến nay, đối với người châu Âu có lẽ họ sẽ không tưởng tượng nổi.




Mặc dù vậy, tôi vẫn nghi ngờ không biết liệu Hà Nội trong vòng 20 năm nữa có thực sự trở thành một dạng Singapore của người Việt. Với những con đường, mà người ta có thể ăn uống bên cạnh đó, những con đường trên đó các phương tiện giao thông nhẹ nhàng và thông suốt lướt đi, và nơi mà cứ cách 50 mét lại có một trạm xe buýt tại đấy khách đi xe có thể trả tiền bằng thẻ chip. Mặt khác, bản thân người dân ở Singapore cũng đã nói, rằng trước kia tất cả mọi thứ cũng rất hỗn loạn, và giờ đây họ không thể biết chính xác liệu con gà có trước hay quả trứng có trước: Trước tiên là có sự giàu có, và chỉ sau đó mới là tử tế và kỷ luật? Hoặc sự giàu có có được là do trước đó đã có ít nhiều tử tế và kỷ luật?


Số đông người Việt Nam rõ ràng đã tin vào cái đầu tiên, còn người Đức có lẽ sẽ ủng hộ nhiệt liệt cái thứ hai.

Hai mươi năm sau tôi sẽ quay lại đây lần nữa, và sẵn sàng đánh cược về thời gian này.

Thursday, April 11, 2013

Hà Nội tháng ba 1973 (2)




16/3


        Đặc tính thấy rõ nhất của những ngày đầu
hoà bình này là gì? Là mất phương hướng. Ít ra với tôi là vậy. Có lúc nghe nói
có hoà bình thật. Ta có lực lượng mạnh mẽ để gìn giữ hoà bình. Có lúc lại nghe
phổ biến khác. Chính thức mà cũng mập mờ, không biết là chiến tranh hay hoà
bình. Hoặc hoà bình chỉ chắc ở miền Bắc. Còn ở miền Nam, vẫn là có thể thế nọ,
có thể thế kia.




     Ngày càng có tin bên kia “phá hoại hiệp
định”. Có nhận định vừa rồi mình hữu khuynh, để mất nhiều. Bây giờ có
thể là đánh, đánh rồi tuyên truyền cẩn thận.


     Lại có tiếng xì xào nó nện mình một, mình
nện nó mười, chứ mình có vừa đâu?!


     Rồi
thì thủ đô miền Nam ở đâu? Có tin ở Đông Hà. Nhưng lại có tin ở tận xa hơn,
trong B2. Cái thị trấn nghe nói nhiều nhất là Lộc Ninh. Chợ Lộc Ninh lèo tèo
vài ba người.


      Việc trao trả  tù binh Mỹ lúc nghe nói gián đoạn, lúc
thì  lại làm bình thường, chả có ai giải
thích rõ ràng.


     Có cả tin cán bộ trong kia của mình bị
đánh. Ở Huế dân đánh cán bộ thực sự? Chả là trong
ngày lễ cầu siêu, cầu siêu cho những người bị chết đầu năm 1968. Lúc ấy chỉ cần ai lỡ mồm nói ngược, với lại
xúi bẩy một chút thôi, là chết với người ta ngay.


      


       (Nhân đây nói một chuyện cũ của HUế. Nhiều người nghe được  từ phía bên kia, đều bảo rằng năm 1968 là năm ta tàn sát dân khá nặng. Một chỉ huy là ông Thân Trọng Một đã có lần thú nhận...


        Và phải chăng, đó là một sự thất bại, một sự vỡ
mộng, một bi kịch? Những người lính chờ mãi. Lúc vào, không thấy dân giống như
sách vở từng nói. Gặp vài phản ứng trái chiều. Thế là bắn hết, giết hết. Sản phẩm
của một quan niệm nông dân. Phía bên kia, không ai biết cho điều ấy.)





       Tiếp tục câu chuyện cho mỗi người vay
500 đồng. Dân thích nhưng sợ (lãi nhiều quá!). Còn trên lại sợ rằng làm như thế
thì có vẻ thay đổi quá.


     


       Chữ nghĩa dùng trên báo cũng bị dày vò.


       Ng
Khải nghe đâu về kể bữa nọ, trên phê bình rồi đấy. Ai cho các anh dùng chữ giai
đoạn mới
. Nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc vẫn thế. Nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam
vẫn thế. Chưa có nghị quyết trung ương, chưa có đại hội đảng. Ai cho các anh tự
tiện dùng chữ giai đoạn mới?


     Nhưng rồi lại nghe nói, các cụ bảo thôi
cũng được, nói giai đoạn mới, tức là nói hoà bình, cho anh em phấn khởi.


     


     Lần đầu tiên, sĩ quan mình vào Sài Gòn,
và sĩ quan bên kia ra Hà Nội. 
Bên kia rất trẻ. Ở Sài Gòn ta cho đi toàn những ông già. Lắm lúc cứ thấy sợ.


      Nhưng có phải khôn hết đâu. Ngay cả những
người thông minh nhất của báo chí, cũng có những chỗ hớ. Ví như ông Thành Tín.
Ông này có lần lẫn Nguyễn Văn Thiệu với Ngô Đình Diệm.


       Phương Tây đưa tin: Trung tá Bùi Tín bắt
tay một lính nguỵ. Nó không bắt. Ông này tương một câu, thế anh không hoà hợp
dân tộc à?


    


     Những buổi “tiễn” Mỹ về nước, là một dịp để
cho các nhà báo của ta có dịp được gặp rất rộng rãi cả người của phía bên kia. Khốn nạn, lâu nay không ai
dám hé răng hỏi và trả lời họ câu gì. Bây giờ thở ra toàn những câu ngớ ngẩn.


     - Ra đây, thấy B52 nó đánh Hà Nội anh có
đau xót không?


    - Vâng, chúng tôi cũng đau xót, như đau
xót khi thấy các ông pháo kích vào Huế. Còn như B52, chúng tôi đã gặp nhiều cán
binh Bắc Việt hồi chánh, và họ đều bảo họ rất sợ B52.


    


    Sĩ quan Sài Gòn người gốc Hà Nội ra miền
Bắc được đi thăm thành phố cũ. Ra cái vẻ để cho họ tự do mà. Đi đâu, có một cô
gái  đi cùng.


     - Ở Hà Nội có nhiều vô tuyến truyền hình
không?


     - Có


    - Sao không thấy ăng ten?


    - Vô tuyến truyền hình không cần ăng ten.


    - Có nhiều làn sóng không?


    - Nhiều lắm.


   Tay sĩ quan kia, mang câu chuyện này về,
đăng công khai trên báo Sài Gòn.


      Dạo
quanh Hà Nội, đám sĩ quan kia chẳng về nhà, toàn đi chụp ảnh. Ra công viên họ
chụp một dãy ghế đá vắng người. “Đây Hà Nội chủ nhật” Và chụp một bức tường mà
rất nhiều người Hà Nội đều biết, với dòng chú thích: “Bức tường này, gần 20 năm
trước, chúng ta rời Hà Nội ra đi, giờ vẫn như vậy”.


     


       Những ai cứ nghĩ những ngày hoà bình đầu
tiên, sẽ là những ngày có những thay đổi lớn, thì nhầm hết.


       Trong Sài Gòn, nó cho công nhân thêm
lương. Còn như ở ngoài này, cũng có nhiều
người viết thư đến báo Nhân Dân đề
nghị tăng lương, đề nghị khao dân, theo như tục lệ ở các nước thắng trận. Nhưng
lấy tiền đâu?





       Tôi cảm thấy mọi người dân Hà Nội hôm
qua chiến tranh thông minh nhanh nhảu, hôm nay như chết khiếp đi, khi quay về  làm ăn bình thường.


      Phương Thảo cho biết: Giá thịt lợn tăng,
thịt ngon giá ngoài đến hơn 1 đồng 1 lạng. Cá đắt...Nhưng kinh nhất là nhiều
người dân sinh ra lễ bái. Đến các nhà máy, thấy công nhân đánh bạc nhiều. Không
có việc làm. Ngoài phố, nhiều đám trẻ tụ tập ăn cướp, trêu gái. Xã hội ly loạn.
Còn như đi đâu, cũng nghe những chuyện bắt người. Mấy ông cốp khác quan điểm lần
lượt bị tóm. Liệu nó sẽ báo hiệu chuyện gì?





22/3


      Ông
Mạn: Trẻ con, phá cửa cơ quan vào xem truyền hình ghê quá.


      Khải: Bây giờ cơ quan nào chẳng bị người
ta phá cổng? Cơ quan nào chẳng như nhà hoang! Ai muốn làm gì thì làm.








     Ông Chu Văn kể chuyện các tỉnh uỷ bây giờ
nó nói dối cứ xoen xoét. Hôm nọ Nam Hà vừa điện lên,Trung ương lấy thịt đi,
không có Nam Hà thừa thịt không biết làm gì cả. Trong khi ấy, thì cỡ như Chu
Văn từ tết đến giờ chỉ ăn lạc thối.


        -Thế Nam Định bây giờ kiến thiết thế nào?


       - Nam Định kiến thiết đến nỗi ngày hè,
tôi đi ra đường, phải đi ủng.


      


      Theo Ng Khải những lão như Thợ Rèn ở báo Nhân Dân nói xấu chế độ mới ghê. Nói một
câu bằng mình nói cả năm.


     - Này ông Khải, giải thưởng văn học thế
nào?


     - Chả có gì.


     - Bây giờ chỉ có hành động. Hôm nọ một vị ở
trên đến báo Nhân Dân. Vị cũng to, cổ
cồn, bụng phệ, khuyên nhủ vài điều, pha trò nhạt. Đang nói, thì trời mưa, cứ thế
là các phóng viên, biên tập viên chạy vù vù cả. Thì ra cánh đàn ông chạy đi cất
xe đạp, các bà  thì chạy đi cất mì phơi trên
gác. Nhà chật quá, phải mang mì đến cơ quan, mỗi người đèo một bì đến, rồi lại
còn ăn cắp ăn nẩy của nhau, cãi nhau loạn xị.


      Khải nói tiếp:


    -- Ông Thi giải thích thế này thì đúng này.
Ông ấy bảo sức hấp dẫn của trong ấy, là sức hấp dẫn của chủ nghĩa tư bản. Còn của
mình ngoài này, cái nào ra chủ nghĩa xã hội không kể, còn ngoài ra thì đặc
phong kiến, người ta không thích được là phải.


...


     Mới hai tháng sau hoà bình mà đời sống đã
khác đi nhiều lắm. Có một sự gì đó mà cả những người dân thường cũng có thể cảm
thấy thành ra không thể bỏ qua được.


      Một
tù binh nói một cách thận trọng, dường như đã suy nghĩ kỹ lắm:


   -- Chúng tôi hiểu miền Bắc là một xã hội
hình thức nặng nề. Quyền lực chỉ tập hợp vào TW. Mọi sinh hoạt dân chủ không có.


      Rõ ràng, lần này, mình phải đối phó với kẻ
thù khác hẳn. Nó chuẩn bị còn kỹ hơn cả mình nữa. Thế cho nên rồi không hiểu
tình hình xoay chuyển đến tận đâu.


      Còn như ở dưới, những cuộc đời thường đã
hoá nhênh nhang nhoè nhoẹt như cháo vữa. Người ta tự nguỵ tạo trong bao nhiêu
thứ áo giáp, bao nhiêu thứ định kiến. Tất cả là để đối phó với chung quanh.


      --Chính là các anh cần phải được giải
phóng, chứ không thể giải phóng ai hết ( lời Phan Nhật Nam)





Một bài báo mọi người truyền
tay


in trong Tài liệu tham khảo





Từ
chủ nghĩa anh hùng tới chủ nghĩa quan liêu





     Một người ngoại quốc đi trên đất này, như
bước trên sa mạc. Không có mối liên quan nào giữa anh ta và những người chung
quanh. Việc giữ bí mật ở BV đã tạo ra một thói quen kỳ lạ. Không ai hiểu việc của
ai, đến một người trong cơ quan cũng không sao hiểu nổi công việc cơ quan anh
ta của nhà nước mà anh ta phục vụ.


     Người Bắc Việt đã tập vui buồn theo chỉ thị
cấp trên. Hầu hết người dân thủ đô là công nhân, là cán bộ. Tất cả tạo thành một
bộ máy quan liêu kén đặc lại, trong đó, mỗi người chỉ một nhiệm vụ là tự bảo vệ.


     Hai tháng đã qua kể từ ngày hoà bình lập lại.
Bao nhiêu vấn đề đang đặt ra với đất nước nơi đây nhưng tôi chắc không có ai có
thể trả lời được cả.


      Một người lãnh đạo mà tôi không tiện nói
tên, đã nói với tôi một cách thoả mãn đến làm tôi khó chịu.


     ... Trong bài báo của ông Lê Duẩn, có rất
nhiều điểm tiến bộ. Nhưng công thức kết hợp cũ -- mới chứng tỏ họ vẫn không
nhích lên đến nửa bước.


     ... Lại nói về nếp làm việc ở đây. Người
ta làm việc một cách tuỳ tiện. Ví như đối với người nước ngoài, mất bao nhiêu
thời gian trong cái việc đi chơi bời, du lịch, thực tế là để chờ CA điều tra và
xin chỉ thị cấp trên. Có lần, tôi đã phải 
dự một buổi biểu diễn văn công bắt buộc như thế này: Trước khi tan buổi
chiêu đãi 5 phút người ta bảo là có văn công. Và thế là tôi được đưa đi, lẫn
vào giữa dòng người, phải ngồi xem, hỏng hết cả kế hoạch công việc của tôi.


     - Tôi rời đất nước này, với ý nghĩ rằng mặc
dù những hy sinh lớn của dân tộc Việt Nam, đất nước này sẽ rơi vào tình trạng
buồn tẻ, nhạt nhẽo mà không ai chú ý tới, nó cũng không xứng với vị trí đáng lẽ
miền Bắc Việt Nam được hưởng. Trong những năm qua, những người lãnh đạo ở miền
Bắc cũng tích luỹ được một ít vốn liếng: sự ủng hộ của nhân dân thế giới. Nhưng
họ đang tiêu phá những cái đó một cách bừa bãi, và chẳng bao lâu lại trở nên
tay trắng.


  Jean
-
Claude Pomonti





   Một bài khác , có mấy ý


        Nhớ một câu danh ngôn,  những ngày 
hoà bình đầu tiên, những ngày sau chiến tranh, bao giờ người ta cũng cần
sự báo thù. Cần một người có tính đàn bà, để làm những chuyện dơ dáy nhất.


       Ngày đưa tin Mỹ bị bắt cuối cùng về nước,
nét mặt người ở lại không thấy một thoáng căm thù. Thế là thế nào? Có phải đúng
như lâu nay chính quyền Bắc Việt vẫn nói, căm thù là tình cảm mãnh liệt nhất của
con người nơi đây? Hay người dân ở đây đã bắt đầu hiểu rằng tai vạ không phải
do những người Hoa kỳ kia gây ra.





Một bài thơ E. Evtouchenko
( chỉ truyền tay chứ không đăng báo)





Ở đây, tất cả phân phối
theo phiếu, trừ sự hài hước.


Ở đây, tất cả phân phối
theo phiếu, trừ sự tự hào


Đất nước này tự hào về
sự nghèo nàn của mình


Ước gì bằng sự tự hào
đó, may ra họ có thể ra khỏi sự nghèo nàn thật sự của họ.





Mưa rất lâu, rất lâu.
Nhưng còn một thứ lâu hơn nữa, là chiến tranh


Ở đây, chiến tranh đã
làm tất cả những gì mà ở nơi khác, chiến tranh đã làm


Ở đây  1/3 phụ nữ goá chồng.


Ở đây, những cây lúa
nhón chân lên


Như là những đứa trẻ
con nhón chân lên


Để nhìn vào những máy
bay-- xem máy bay mình có lên không


Ở đây, người ta lại hát


Em
ơi đợi anh về


Đợi
anh hoài em nhé


Tôi nhìn bức tượng
nghìn mắt nghìn tay


Nhưng nghìn tay kia
không đủ để lau nước mắt


Nghìn mắt kia không đủ
để nhìn thấy máy bay.


Vẫn biết rằng chiến thắng
rồi sẽ đến


Nhưng nó có xứng với những
hy sinh của người ta?