Friday, April 30, 2010

Hòa hợp hòa giải trong lịch sử

Tìm lại dấu người xưa để hiểu thêm bài học về đối xử với người cùng một nước
Khi giặc ngoại xâm tới, xã hội Việt Nam thời Trần có phân hóa, và không thiếu người cộng tác với kẻ thù hoặc buộc phải sống trong vùng chúng kiểm soát. Đánh giặc xong, đối xử với họ thế nào bây giờ?
Trong số các việc quan trọng trong năm 1289-- là năm đầu tiên sau ba lần đánh thắng quân Nguyên -- sách Đại Việt sử ký toàn thư có ghi bên cạnh việc định công, là việc trị tội những kẻ hàng giặc. Trần Ích Tắc, "thuộc chỗ tình thân cốt nhục", hoặc Đặng Long, "cận thần của vua", một người rất giỏi văn chương thời bấy giờ, cũng không phải là ngoại lệ.



Tuy nhiên có một việc đáng lưu ý được ghi như sau :

"Trước kia, người Nguyên vào cướp, vương hầu quan lại nhiều người đến doanh trại giặc xin hàng. Đến khi giặc thua bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng Hoàng [Trần Thánh Tông] sai đốt hết để yên lòng những kẻ phản trắc." (1)

Việc này cũng có ghi trong Khâm địnhViệt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn và Việt sử cương mục tiết yếu của Đặng Xuân Bảng. (2)

Quân Nguyên chỉ vào Thăng Long ít ngày.

Quân Minh chiếm nước ta hơn chục năm, đã tổ chức nên cả một xã hội khá ổn định.

Quá trình đánh chiếm các căn cứ của giặc kéo dài nhiều ngày nhiều tháng với rất nhiều công việc, kể cả cái việc mà nói như chúng ta ngày nay là giải quyết hậu quả. Cụ thể là đánh đến đâu, phải lo chuyện hàng binh đến đấy.

Khâm địnhViệt sử thông giám cương mục ghi tình hình giữa năm Đinh Mùi 1427: "Bấy giờ những người đã đầu hàng ở các thành cả nam lẫn nữ gồm hơn 6000 người. Vương sai các lộ Thiên Trường Kiến Xương Lý Nhân và Tân Hưng thu lấy mà nuôi dưỡng, đừng để cho họ long đong không yên chỗ.

Đặt rõ thể lệ chuộc tội bằng tiền cho vợ con và gia quyến của ngụy quan. Các người trong gia quyến và các nô tì của các ngụy quan từ bố chính sứ ti xuống đến sinh viên đều được chuộc tiền có tầng bậc khác nhau." (3)

Chẳng những chăm lo hàng binh, nếu có thể, còn cần lôi cuốn họ tham gia chiến đấu. Đó là chủ trương bắt nguồn từ cấp cao nhất. Trước khi đánh Đông Quan, đã đánh Thị Cầu. Sau khi Thị Cầu đầu hàng, tháng 3, ngày 19, Vua ra lệnh: "Người trong nước ai có vợ con hoặc anh em đã bị quân giặc ở các thành cướp bắt làm vợ, làm thiếp hoặc làm tôi tớ nay chúng đã ra hàng, nếu chủ nhân có thể cùng tham gia đánh vào thành Đông Quan, chém được hoặc bắt được giặc, sẽ cho tra hỏi tìm người thân thích của họ giao cho lĩnh về, và người có chiến công vẫn được thưởng cấp bậc, tùy theo từng hạng."

Đoạn này tôi lấy ở Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn. (4)

Đánh xong giặc, Lê Lợi lên ngôi 1428, thì ngay năm đó và năm sau 1429 cũng có mấy lệnh chỉ liên quan đến những người từng làm việc với ngoại bang.

1/ Tháng 4 nhuận (năm Mậu Thân 1428– Thuận Thiên năm thứ nhất -- VTN chú ) ra lệnh chỉ rằng: những quân dân bị bắt vào bốn thành Tây Đô Đông Kinh Cổ Lộng Chí Linh đã được bổ vào các quân phụ vào quân Thiết đột mà có ruộng đất nhà cửa tịch thu thì được trả lại.

2/ Ngày 30 [theo văn mạch, đây là mùa hạ, tháng 4 Kỷ Dậu 1429, Thuận Thiên năm thứ 2-- VTN chú], ra lệnh chỉ rằng những ngụy quan trước đã có lệnh tha tội và cho chuộc mệnh thì cho miễn cả ruộng đất( không phải sung công).

Cả hai đoạn này có ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư. (5)

Một việc lớn sau chiến tranh là chuyện chiêu mộ hiền tài. Nhiều sách sử đã ghi chuyện này. Riêng ở Việt Sử cương mục tiết yếu có thêm chi tiết liên quan tới ngụy quan chúng tôi cho in đậm thêm như sau: "Xuống chiếu tiến cử nhân tài còn bỏ sót. Có lệnh rằng: Hào kiệt trong thiên hạ có thể còn bị bỏ sót hoặc chìm đắm không có ai tiến cử, không kể là ngụy quan hoặc dân thường, đều đến chỗ Thiếu phó Lê Văn Linh [ tự tiến]. (6)

***

Ở đây, tôi thử tìm lại một số tài liệu lịch sử để thấy trong quá khứ, vấn đề đã được ông cha ta giải quyết thấu tình đạt lý, ngườì nay không thể không biết.

Sử học VN sau 1945 tập trung vào nông dân khởi nghĩa và các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm nên không khỏi có phần làm nghèo lịch sử dân tộc. Song nhu cầu trước 1975 chỉ cần có vậy, nên có thể châm chước.

Song đọc kỹ thì thấy ngay là các bộ sử cổ còn ghi nhiều sự kiện và để lại nhiều bài học quý, từ việc giải quyết tình hình hậu chiến, tới các việc lớn - nói như ngôn ngữ ngày nay - là xây dựng kinh tế phát triển giáo dục .



Đáng lẽ phải tiếp tục tìm về quá khứ với các vấn đề phong phú của nó, từ đó rút ra bài học cần thiết thì chúng ta lại không làm.

Cố nhiên trở lại với lịch sử chỉ là bước đầu. Trên cơ sở các sự kiện xưa và nay, công việc cấp thiết còn là giải thích được tại sao người xưa hành động vậy còn ngày nay chúng ta lại hành động vậy.

Nhà ngoại giao Vũ Văn Sung trong bài trả lời phỏng vấn trên mạng VietnamNet 26-4-2010 đã nói chiến tranh càng kéo dài và ác liệt thì việc hòa hợp hòa giải càng khó khăn. Đó mới là một, thực ra đi sâu vào tư liệu có thể thấy còn nhiều lý do khác. Vì công việc hậu chiến quá ngổn ngang, con người chưa tìm ngay được một cách xử lý quá khứ khôn ngoan nhất. Vì cách nghĩ hẹp hòi. Vì bị tình cảm bức xúc chi phối… Tất cả những lý do này cần được trao đổi rộng rãi để tham khảo.

Giúp cho hậu thế hiểu rõ thêm về cái thời chúng ta đang sống không chỉ là trách nhiệm của giới sử học vốn rất mỏng mảnh yếu ớt hiện nay, mà đúng ra là của mọi người.

Ghi chú

(1) ĐVSKTT bản in của Nxb Khoa học xã hội H. 1985,2 tập, tập II, tr.63

(2) KĐVSTGCM 2 tập, tập I, Nxb Giáo dục H. 1998 tr. 541

VSCMTY Nxb Khoa học xã hội H.2000, tr. 188

(3) KĐVSTGCM sđd, tr 815 . Ở đoạn chú giải có ghi rõ thêm Thể lệ chuộc tội bằng tiền bao gồm vợ con gia quyến của bố chính sứ ti: 70 quan; vợ con gia quyến của sinh viên hoặc thổ quan: 10 quan; còn các nô tì cả trai lẫn gái: 5 quan

(4) Lê Quý Đôn toàn tập, tập III, ĐVTS, bản của Nxb Khoa học xã hội 1978, tr 59

(5) như ở chú thích (1) các tr. 295, 301

(6) VSCMTY sđd, tr 301

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một nhà phê bình và nghiên cứu văn học đang sống tại Hà Nội.

Thursday, April 29, 2010

Suy nghĩ nông nổi, tính khí thất thường

Cuộc sống đô thị con người đô thị ở nước Việt Nam khi mới bước sang thời hiện đại là phần nội dung chính được miêu tả trong truyện dài Thiếu quê hương (1940) của Nguyễn Tuân. Nhưng chương cuối sách lại có đoạn tác giả cho nhân vật chính về một làng quê là làng Xuân Phả, Thanh Hóa,bàn chuyện đưa một đoàn người làng này qua San Francisco bên Mỹ múa tuồng. Chúng ta bắt gặp ở đây hình ảnh người Việt trong cái làng quê cố hữu của họ, cả người lẫn cảnh không khỏi có phần lèm nhèm nhếch nhác, và khi bước vào sinh hoạt chốn công cộng thì cách cư xử của cá nhân thay đổi thất thường rất khó xác định.



Bảo rằng con người có ý thức về mình ư, đúng lắm ? Trước mặt nhân vật từ trên tỉnh về, một người làng có tài làm nghề và đang được gọi để cùng đi theo đoàn múa tuồng ra vẻ hùng hổ, muốn nhân chuyện người ta cần đến mình mà lên mặt với đời: “ Đi một chuyến cho biết đó biết đây, và chuyến này chúng ông đi Hoa Kỳ về mà đứa nào ở làng này còn giở lối hà hiếp tranh chỗ ngồi ngoài đình với chúng ông, ông đánh tan xương cho mà xem ”.

Anh ta vừa nói xong, mấy người chung quanh hoa chân múa tay dấm dẳn phụ họa.

Thế nhưng chỉ cần các cố lão lên tiếng đe “ Đừng có mượn chén mà nói láo “ là anh ta xun vòi ngay. Lại còn không biết xấu hổ, bưng mặt khóc hu hu,” lạy các cụ con khổ lắm !‘

Cái chất nông nổi thất thường này của người Việt từng được nhiều người nước ngoài nêu lên, như một đặc tính cản trở họ trong bước đầu đến gặp gỡ giao thiệp, cũng như quan hệ lâu dài.

Theo trích dẫn của Hữu Ngọc trong một bài viết in trong sách Về giá trị văn hóa tinh thần Việt Nam ( Hà Nội 1963 ), một sĩ quan Pháp từng nhận xét “ Họ hiền lành vô tư lự, nhút nhát thích khoe khoang dễ bốc mà xỉu cũng nhanh, thường có tâm lý ăn may của người chơi bạc, nhiều khi biến thành lập lờ hai mặt “.

Một nhà văn là Jean Hougron cho rằng người Việt “ nhu nhược không có cá tính, biển lận, thích tố giác “.

Một người khác là Palazzoli thì chỉ ra hàng loạt những đặc tính mâu thuẫn : một đằng là lịch thiệp tế nhị, lãng mạn và đa cảm ; mặt khác là nửa kín nửa hở, dè dặt, dò xét. Mở rộng hơn là “một thiên hướng đa nghi, mưu mẹo, một thói quen lúc nào cũng thích chống đối, rồi lại nhanh chóng buông trôi chấp nhận “.

Tạp chí Bách Khoa số 73 ra ở Sài gòn 1960, từng trích dẫn nhiều ý kiến sâu sắc của linh mục F Parrel về Thanh niên Việt Nam hiện nay.Theo ông,ở họ trực giác lấn suy tưởng trừu tượng, chủ quan lấn khách quan … Tâm hồn ít xúc động về vật và người. Chiến tranh làm cho người ta không biết tới người khác. Họ phải tự động tạo ra mọi phương tiện tự vệ. Tâm hồn họ khô rắn lại vì đời sống bất trắc.

Trong Văn minh Việt Nam, Nguyễn Văn Huyên cũng đã ghi nhận đặc tính đó của người Việt, và ông lý giải thêm ở đây có vai trò của một đời sống quá gian khổ mà luôn luôn bấp bênh ; hơn thế nữa, ở đây có cả vai trò của yếu tố thời tiết (Xem một số trích dẫn ở mục Người xưa cảnh tỉnh TT&VH hàng tuần )

Gần đây hơn, trên báo Tiền phong số ra 1-1006, bạn Nguyễn Tất Thịnh nêu lên hàng loạt nhược điểm có tính cách nửa vời của người đương thời

- Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng – vừa đe hàng tổng đã sợ thằng mõ

- Chưa biêt nghề đã dạy thợ, vừa dạy thợ đã chán nghề

- Chưa làm đã mệt vừa mệt đã kêu

- Chưa vui đã cười vừa cười đã khóc

-- Chưa đói đã ăn, vừa ăn đã bỏ dở

-- Chưa tỉnh đã say, vừa say đã làm càn

-- Chưa có tài đã đánh mất tâm, vừa có chút tâm đã bài xích tài

v.v..

Theo bạn Nguyễn Tất Thịnh lối cư xử này có nguy cơ trở thành tập tính của cộng đồng.Tức là một nếp sống nếp nghĩ ổn định, khó thay đổi.

TT&VH 12-6-07

Thursday, April 15, 2010

Giới thiệu sách mới


Tên sách: Phê bình & tiểu luận


Nội dung chính :Tuyển chon các bài viết phê bình & tiểu luận được xem là khá nhất của tác giả sau hơn bốn chục năm viết phê bình văn học
80% là những bài chưa đưa vào các tập sách trước đây .
Sách dày 548 trang, in trong xê-ri sách nhà nước đặt hàng của nhà xuất bản Hội nhà văn VN, 2009.
Sau đay là Lời dẫn và mục lục
LỜI DẪN
Bắt đầu có bài viết in trên báo Văn nghệ từ 1965, tới 1968 thì tôi được chuyển về phụ chân biên tập phần lý luận phê bình cho tạp chí Văn Nghệ quân đội. Ngoài phần chạy bài thì cũng có viết. Một năm được đăng độ hai bài dài mỗi bài 1500—2000 chữ là năng suất trung bình của người làm nghề ở Hà Nội những năm chiến tranh. Ở một trong những tờ báo chính chuyên về văn nghệ hồi đó, tôi kịp cố gắng để đạt các chỉ tiêu còm mà bây giờ không ai tưởng tượng nổi đó.
Từ chỗ có bài đăng báo, tới khoảng 1978 tôi tính chuỵện gộp các bài đã in lại thành sách. Là do nhìn vào các bậc đàn anh nên bắt chước vậy. Một điều động viên tôi thêm tự tin là tới 1977, tôi đã được gợi ý để làm đơn xin vào Hội nhà văn. Thủ tục vào hội hồi ấy, có thời gian dự bị hẳn hoi, dự bị vài năm thấy viết có lên mới được chuyển thành chính thức. Sau này nghĩ lại tôi thấy cái cách đó khá hay, nó làm cho người ta phải cố để ngòi bút ngày một trưởng thành .
Vào hội thì phải có sách chứ ?—câu hỏi đã đến một cách tự nhiên.
Nhưng việc đời đâu có dễ. Hồi đó sách in ít lắm,đầu sách dành cho phê bình càng ít mỗi năm nhà xuất bản Văn học lúc ấy chỉ in độ 2-3 cuốn gì đấy. Theo chỗ xếp hang, còn lâu tôi mới đến lượt.
Chin năm sau khi vào Hội tức năm 1986, tôi mới được nhà xuất bản Tác phẩm mới cho in một tập phê bình nghiên cứu của mình.Tập sách mang tên Bước đầu đến với văn học này mỏng về số lượng và non kém về chất lượng với nghĩa nội dung rời rạc không chụm vào một đề tài nào; chất lượng dừng lại ở những bài báo thời sự, ít có tính khái quát; ngôn ngữ riêng cái giọng riêng của một người viết phê bình không rõ, hoặc cũng gọi là có đấy nhưng là cái giọng yếu ớt, lại pha một chút làm điệu.
Hai chục năm trời làm nghề liên tục để dồn vào được 170 trang sách non yếu – nhìn tập sach in ra năm 40 tuổi, tôi có lúc ngán ngẩm tới mức đã tưởng phải bỏ nghề.
Thật ra trước khi làm tập Bước đầu đến với văn học đó, tôi đã chán viết lắm. Ngoài việc mở rộng tầm mắt xã hội và bám thực tế đời sống, kể cả những chuyến đi B ngắn mỗi chuyến vài tháng-- tôi chủ yếu lo học. Học ngoại ngữ để đọc thêm các tài liệu phê bình nghiên cứu văn học. Mở rộng ra đọc xã hội học, tâm lý học, triết. Đọc thêm về văn học nước ngoài và nhất là văn học tiền chiến cũng như văn học cổ điển
Về mặt thể loại sử dụng tôi hướng ngòi bút theo những hướng mới, chân dung văn học, phiếm luận văn hóa xã hội. Ngay trong phê bình, tôi tìm tới một cách viết mà tôi cho là tự do hơn, giúp cho cái tôi chính đáng của một ngòi bút có dịp bộc lộ .
Một điều may mắn lớn là mấy năm 1986-1989, tôi có dịp xa sang Moskva làm chuyên gia xuất bản.
Gọi là may vì nhờ thế tôi có một thời gian gián cách so với cái thực tế mà mình đã sống liên tục trong hai mươi năm .
Ấy là không kể đến với văn học xô viết vào thời nó muốn nghiêm chỉnh nhìn lại chính mình, tôi học ngay cái cách đó để nhìn văn học Việt Nam đương đại.
Trở về Hà Nội tôi làm việc tự tin hơn và cũng có sự tính tóan dài hơi hơn. Từ đầu những năm chin mươi trở đi, tôi đã có mấy đầu sách: Những kiếp hoa dại – 1993, Cánh bướm và đóa hướng dương –1999, Buồn vui đời viết—1999, Chuyện cũ văn chương – 2001, Cây bút đời người –2002, Ngoài trời lại có trời –2003. Những tập này đều có sự tập trung về đề tài và sự thống nhất về giọng điệu.
Tuy nhiên, bên cạnh phần đã in trong các tập sách ấy thì còn cái phần tôi viết rải rác đây đó trên một số tạp chí, các tham luận trong một số cuộc hội thảo.
Những trang sách Tác phẩm chọn lọc mà các bạn sẽ đọc sau đây được hình thành từ cả hai nguồn nói trên, nguồn đã đưa vào sách và nguồn còn tản mạn đây đó trên mặt báo.
Cuốn sách được sắp xếp thành năm cụm ( mỗi cụm chỉ có năm sáu bài, cụm ít nhất chỉ có hai bài)
    --cụm một, một số bài tôi viết trước 1990.
--cụm hai, các bài viết về văn học đương đại, nhưng lấy cảm hứng từ văn học những năm trước sau 2000
-- cụm ba, bàn sâu về phê bình nghiên cứu
-- cụm bốn, về văn học cổ điển và văn học tiền chiến
-- cụm năm các bài viết về văn học nước ngoài và việc tiếp nhận văn học nước ngoài
-- cụm sáu , mấy bài bút ký xã hội học
-- cụm bẩy, chân dung văn học
Khoảng cách từ bài đầu tiên đến bài cuối cùng in trong sách là khoảng gần bốn chục năm.
Sau một thời gian quá dài như thế, con người tôi đã thay đổi, ngòi bút tôi đã thay đổi. Nhiều điều viết cách đây mấy chục năm lẽ ra phải viết lại, hoặc chí ít thì cũng cần ghi chú thêm. Có điều trước mắt tôi chưa làm được, rất mong bạn đọc và các đồng nghiệp lượng thứ.
Mục lục
I
Ký sự , một thể tài thích hợp với thời chiến
Sự tiến hoá của truyện ngắn về mặt thể tài
Thử nhận diện tiểu thuyết
Phương hướng lựa chọn chủ đề và phát triển
tính cách
Một thời tuổi trẻ hồn nhiên
Nguyên Hồng và sự sáng tạo trong đau khổ
Kim Lân nhà văn của lớp người “đầu thừa đuôi thẹo”
II
Tô Hoài và thể hồi ký
Tổng kết cuộc đời theo cảm quan của một thời lãng mạn
Nhận diện con người hậu chiến trong Thời xa vắng
Đồng Đức Bốn và chất hoang dại trong thơ
Con người khám phá & con người thích ứng trong Nỗi buồn chiến tranh
III
Vài nét về tư duy tư sự của người Việt
Đó chưa phải là phê bình
Tiếp nhận và vận dụng lý luận
Công việc viết văn nhìn dưới góc độ nghề nghiệp
Mặc cảm- tha hoá- phân thân trong tâm lý người viết
Tự thú của một người viết phê bình
Chung quanh câu chuyện đổi mới nhận thức lịch sử
IV
Nguyễn Du như một thi sĩ
Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hoá phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
Bóng dáng con người hiện đại trong Xuân tóc đỏ
Người tập sống cùng nhip với thế giới
Nhà thơ số một của Thơ mới
V
Một hồ sơ nhỏ về Đốt *
Chất nhân bản trong Tchékhov
Một giai đoạn tiếp nhận văn học nước ngoài ở Hà Nội
Ngoài trời lại có trời
Vừa là phương tiện giải trí, vừa là bạn đồng hành trong quá trình nhận thức thế giới


VI
Tâm tình một lớp thanh niên thời chiến
Nhật ký Đặng Thùy Trâm & đời sống tinh thần người Việt
sau chiến tranh
Con người và tư tưởng thời bao cấp !

VII
Xuân Sách , một đặc sản văn chương
Thanh Tịnh cuộc đời ngậm ngải tìm trầm

* riêng các bài đã in trong các tập sách trước có thêm gạch dưới

Sunday, April 11, 2010

Thầy không ra thầy, thợ không ra thợ

(TBKTSG) - Nhìn vào các nghề thủ công, nhiều người có tuổi và kỹ tính một chút thường nhận ngay ra rằng nếu so với một người thợ ngày xưa thì thợ bây giờ non tay hơn nhiều. Những ngôi đình ngôi chùa nổi tiếng, giá bảo bây giờ dựng lại không sao dựng nổi. Thử đặt những cái chuông cũ trước cánh thợ đúc, những pho tượng trước cánh thợ mộc… Có cho tiền tỉ các vị cũng lắc đầu không dám nhận làm.

Nói tới thợ thủ công là phải nói sự tinh tế, cái hoa tay. Thợ bây giờ hơn hẳn người xưa ở các phương tiện hiện đại trợ giúp. Nhưng máy móc, trong khi giúp con người đỡ vất vả, lại làm thui chột đi năng khiếu mà chỉ con người mới có.
Nhân nhà có việc cần, tôi đi mua một cái cuốc. Lưỡi cuốc nhập từ Trung Quốc, không nói làm gì. Nhìn vào cái cán. Xưa chỉ cán tre, nay có cán gỗ. Chết nỗi, gỗ chỉ được đẽo gọt qua loa. Chưa bao giờ tôi thấy có một cái cán cuốc nham nhở như vậy.
Thầy không ra thầy, thợ không ra thợ
Đã nhiều ý kiến ghi nhận con người thời nay suy thoái so với ngày xưa. Dối trá lừa lọc làm bậy bất chấp luật pháp… Còn một khía cạnh khác đơn giản hơn: Sự lỏng lẻo trong mối quan hệ con người với công việc. Sự kém cỏi trong chất lượng công việc mà họ hoàn thành.
Có lẽ không nước nào như ở nhiều cơ sở sản xuất nước ta, hàng hoá chỉ được những mẻ đầu, càng về sau càng hỏng.
Nhiều con đường mới làm đã nứt vỡ toe toét.
Đình chùa được tu bổ ngày một lai căng xa lạ.
Trong nghề viết văn viết báo, văn chương chữ nghĩa chưa bao giờ bị rẻ rúng như bây giờ. Người viết viết bừa viết ẩu, người duyệt bài cứ ký đại đi cho in - chỉ cốt không sai chính trị còn tội lỗi gì cũng tha bổng hết.
Xảy ra tình trạng lộn xộn không chỉ do sự dễ dãi thiếu chuẩn mực cùng sự kém cỏi của những người cầm trịch mà còn do sự tha hoá của bản thân người lao động. Nhiều người thiếu hẳn sự tha thiết với công việc hàng ngày vốn là lẽ sống của mình. Cứ ngong ngóng những chuyện đâu đâu trong khi chính nghề nghiệp bị thả nổi.
Ở Hà Nội những năm sau 1954 có một tình trạng khá kỳ quặc. Chủ nghĩa bình quân bộc lộ ra thành những biến tướng kỳ lạ. Những người lao động đơn giản được tôn lên vị trí rất cao trong khi người trí thức thì lại luôn luôn bị đặt thành vấn đề. Trước mắt là phải cải tạo họ bằng những thứ lao động đơn giản, người ta bảo vậy!
Ở nhiều cơ quan, người dọn dẹp vệ sinh (lúc ấy gọi là lao công) được bố trí đi học văn hoá ngay trong giờ làm việc, còn các nhân viên khác thì phải bỏ việc của mình đi làm những việc như lau nhà lau cửa, dọn dẹp vệ sinh. Công thức tóm lại là “Người quét rác đi học văn hoá, các nhà khoa học lo đi quét rác”. Từ đây đẻ ra cái tình trạng nhấp nhổm, chả ai yên tâm làm việc gì.
Trong các cuốn lịch sử nghệ thuật Nhật Bản, tôi đọc thấy họ hay nói là có những người theo nghề một cách hết lòng tới mức có những cô gái tự nguyện không lấy chồng để yên tâm cống hiến cả đời cho nghề.
Ở ta thì lâu lắm tôi không nghe thấy nói có ai “điên” kiểu ấy. Kiểu sống hết mình với một niềm tin nào đó được coi là lập dị và không chấp nhận được. Khi chuyển hoá vào trong cách ứng xử người lao động, nó hiện ra thành sự coi thường những việc nhỏ mọn.
Trong điều kiện một nước mới chuyển từ nông nghiệp lên hiện đại, xưa phố xá đi đâu cũng gặp những người thợ chữa những thứ lặt vặt như chữa khoá chữa giày. Nay thì nghề này ngày càng ít người làm.
Thằng cháu con đứa em tôi đang ở bên Đức thỉnh thoảng về chơi. Nó kể thời học đại học, mùa hè nó đi vác lợn trong lò sát sinh rồi lái xe chở lợn đến các cửa hàng. Nghe chuyện, hàng xóm bảo nhau: Ở Việt Nam không ai làm thế. Thanh thiếu niên có nghèo mấy nhưng bảo đi làm những việc có vẻ bẩn thỉu một chút là lảng xa. Nhiều gia đình ngấm ngầm khuyến khích con cái khôn ranh lừa lọc hơn là lặng lẽ trau dồi nghề nghiệp.
Sự hư hỏng công nhiên phô phang ra và biến thành sự trơ tráo không biết từ lúc nào. Những tiền đề tạo nên sự vô cảm, bạo lực ngày một tích tụ. Những nghề phục vụ ăn chơi đàng điếm chưa bao giờ phát triển nhiều như bây giờ, tuy ngó vào thì thấy cả ở đây nữa, người ta chỉ có một trình độ nghề nghiệp loàng xoàng.
thesaigontimes Thứ Năm, 1/4/2010

Friday, April 9, 2010

Ngại đi xa, yên phận, sợ cái mới

Các tài liệu nghiên cứu về Phan Châu Trinh thường dẫn ra đoạn một bài báo nhỏ in trên báo Tiếng dân 24-3-1936, mang tên Cụ Phan Tây Hồ với việc Tây học. Tác giả bài viết Huỳnh Thúc Kháng kể năm 1906, cụ Phan qua Nhật có gặp nhiều yếu nhân Nhật. Thoạt gặp, nhà chính khách Khuyển Dưỡng Nghị đã hỏi:

- Các ông có biết tiếng Pháp ?

- Thưa chưa

- Sao lại không học. Phải học để biết điều hay của họ chứ.



Tiếp đó Phan Châu Trinh gặp Đại Ôi. Ông thủ tướng đương thời của Nhật nhận xét ngay “ Việt Nam thuộc quyền bảo hộ của nước Pháp mấy mươi năm mà nay tôi mới gặp người Việt Nam đầu tiên tới nước tôi, đủ thấy các ông ít đi ra ngoài. Đã không ra ngoài, mà không học tiếng, ở cạnh nhau cách xa ngàn dặm nhưng thấy ngay là các ông mắc bệnh ngột” .( ngột = ngạt thở ).

“Lìa nhà mười dặm đã bùi ngùi những mưa gió hoa vàng . Ở lữ thứ vài năm đã than thở quan hà đầu bạc “-- Văn minh tân học sách cũng từng nói rất hay về cái tâm lý ngại đi xa của dân mình.

Có thể dự đoán cách sống bảo thủ và ngại thay đổi này hình thành ngay từ buổi đầu mới hình thành dân tộc. Theo sách Phương Đông thời cổ đại( trong tủ sách Que saisje – Tôi biết gì nổi tiếng ),nếu sự ra đời của đô thị là cuộc cách mạng thứ hai trong lịch sử cư trú loài người thì cuộc cách mạng thứ nhất bắt đầu từ thời điểm ra đời của nông nghiệp và kèm theo đó là sự ra đời của làng xã. Cho đến trước thời hiện đại, người Việt vẫn chỉ dừng lại ở cuộc cách mạng thứ nhất, tức là một cách sinh sống tự nhiên gặp sao hay vậy. Kinh tế xã thôn phụ thuộc thiên nhiên lại ở trình độ thấp, nhiều khu làm không đủ ăn. Đời sống mong manh và đầy bất trắc. Nhưng người ta không tin là có thể và cần thay đổi.

Nói như kỹ sư Nghiêm Xuân Yêm : “Họ nhận thấy ruộng thiếu phân bón nhưng họ chẳng biết làm thế nào cho có nhiều phân. Vì hình như họ cho sự thiếu thốn ấy là dĩ nhiên “ .

Nói chung là có nhiều việc họ hiểu nếu làm thì rất có lợi nhưng lại chẳng bao giờ bắt tay cùng làm .

Rồi họ buông trôi lảng tránh “Thà rằng chẳng nghĩ đến làm còn hơn (!) “( báo Thanh Nghị,1945 )

Trong khi chỉ biết quan tâm tới sự tồn tại trước mắt, tự nhiên là tâm lý bày đàn hình thành và cái nguyên tắc trông nhau mà sống, Chết một đống hơn sống một người càng níu kéo người ta lại.Một trong những câu ca dao mà cha mẹ vẫn nhắc nhủ con cái Ta về ta tắm ao ta – Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Bảo thủ ở đây được đề lên thành nguyên tắc tối cao. Cả trong làm ăn sinh sống lẫn trong tổ chức xã hội .

Cái lối tư duy chỉ cốt số lượng mà bất chấp chất lượng đang làm khổ con người hôm nay, thật ra có nguồn gốc sâu xa như vậy.

Trên báo Tiền phong chủ nhật 24-8-03 có bài phỏng vấn Ea Sola. Nhà đạo diễn múa có cảm giác mệt mỏi “ Tôi đã đi khắp nơi, đã sống rất lâu ở nước ngoài. Anh không thể tưởng tượng được đâu, con người nhạt lắm, nhạt khủng khiếp. Nhạt! “.

Sau khi “ phán “ một câu chung chung rằng “ Chúng ta cần lo cho cuộc sống hôm nay tốt đẹp hơn “, được tác giả bài báo hỏi lại “Là lo cái gì ?”, Ea Sola bừng tỉnh, hạ một câu gan ruột :

- Người Việt hình như không thích cái mới.

Nhiều nhân vật của Thạch Lam trong Gió đầu mùa viết từ 1937 lại còn không cảm thấy mình có quyền thích hay không thích như vậy . Họ chỉ đơn giản là thấy mình bị ràng buộc trong cái cũ như con ruồi sa vào tấm lưới nhện mà không sao phá vỡ nổi. Nhân vật Liên trong Một đời người rất yêu người bạn trai nhưng không dám bỏ gia đình theo bạn . Như tác giả viết :

Liên nhiều khi sung sướng tưởng tượng đến cái đời dễ chịu của nàng nếu lấy Tâm .Nhưng Liên vẫn từ chối. Chính nàng vẫn không hiểu tại sao mà từ chối. Hình như có những cái lẽ tối tăm làm cho nàng sợ hãi, không dám nhận lời“.



TT&VH 31-7 2007

Saturday, April 3, 2010

Người Việt sống bằng hành động nhiều hơn suy nghĩ

vnmedia.vn - 31-03-2010 15:04



(VnMedia) -"Một đặc tính của dân Việt là sống hời hợt, thường phản ứng vội, theo phong trào, ra quyết tâm nhưng ít đi tới cùng. Quan niệm ăn sâu “nói thì dễ, làm mới khó”, trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn đề cao hành động hơn suy nghĩ, không có sự nghiền ngẫm sống…".
Từ hiện tượng bạo lực trong xã hội, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn chia sẻ những nhìn nhận sâu xa hơn về dân tộc tính.
ảnh minh <br />họa
Sống bằng hành động nhiều hơn suy nghĩ







Chia sẻ với ông, trong các vấn đề xã hội gây bức xúc, dư luận cũng quan tâm và lên tiếng mạnh mẽ đấy, nhưng rồi hầu như “chẳng làm thêm được gì”. Có người cho rằng, xã hội đã nhờn thuốc với những lời cảnh báo, hô hào
Vấn đề không phải nhờn thuốc, mà là chưa tìm được thuốc hiệu nghiệm.

Còn làm sao để tìm ra thuốc hiệu nghiệm? Tôi cho rằng trước khi đặt vấn đề phải giáo dục nhau thế này, phải lên án nhau thế kia… ta phải nghiên cứu hiện tượng ở bề sâu và bề rộng của nó, từ đó nhận thức cho được thực chất của hiện tượng. Phải xác định không thể nóng vội và xử lý được ngay mà cần thời gian, cần đặt vấn đề chữa trị lâu dài.


Một đặc tính của dân mình là sống hời hợt, thường phản ứng vội, theo phong trào, ra quyết tâm nhưng ít đi tới cùng. Quan niệm ăn sâu “nói thì dễ, làm mới khó”, trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn đề cao hành động hơn suy nghĩ, không có sự nghiền ngẫm sống…
Thiếu sự tư duy, vì không chịu phân tích và suy xét kỹ nên trong các vấn đề, chúng ta không hiểu biết một cách thấu suốt, thực chất… khi ấy, hành động chưa thể hiệu quả.


Ý ông là, trong những vấn đề xã hội như thế, chưa nên vội dùng các loại thuốc kháng sinh như các biện pháp xứ lý, trừng phạt… mà là tìm thuốc bổ cho cơ thể?
Phải dùng cả thuốc bổ lẫn thuốc kháng sinh. Điều đầu tiên là phải tự tìm hiểu chính mình, vấn đề quan trọng nhất là tự nhận thức. Chỗ này liên quan đến quan niệm sâu xa của mỗi người về kiếp nhân sinh.
Tôi hay đọc lại Khổng Tử, và may mắn là tìm ra được một ông Khổng Tử có liên quan đến chuyện chúng ta đang bàn. Khổng Tử của tôi trước tiên là một nhà nhân học vĩ đại, với nghĩa ông rất hiểu về tiềm năng hư hỏng của con người.
Trong khi Mạnh Tử đề ra thuyết tính thiện (Nhân chi sơ tính bản thiện) thì với Khổng Tử con người có cả thiện lẫn ác. Ông luôn đặt vấn đề con người phải vượt lên trên bản năng của mình, để tốt hơn, sống cho ra người hơn. Theo nghĩa này, Khổng Tử là một triết gia rất hiện đại.
Còn chúng ta hôm nay lại quan niệm về con người quá đơn giản. Trong cách giáo dục, chúng ta luôn tự hào là nhân dân ta sống rất nhân hậu. Tôi không cho là dối trá, nhưng chúng ta ảo tưởng rằng mình nhân hậu. Có nhiều cái chúng ta làm mà không nghĩ rằng đó là bạo lực. 
ảnh minh <br />họa


Phải có nghiên cứu Xã hội học bạo lực








"Phải có nghiên cứu về Xã hội học bạo lực. Với  thanh thiếu niên, phải có những chuyên đề

đi sâu vào bạo lực học đường".


Bây giờ, với trường hợp bạo lực xã hội, đặt vấn đề chữa trị lâu dài, theo ông, phải bắt đầu từ đâu?


Phải đưa các hiện tượng mà ta gọi là tiêu cực hiện nay thành một vấn đề cần nghiên cứu nghiêm túc.
Nhiều người nước ngoài nhận xét, thanh niên ta hiện nay khá về khoa học tự nhiên hơn khoa học xã hội. Các kiến thức có tính nhân văn ở các em rất đơn giản. Vì chính người lớn chúng ta cũng có chịu tìm hiểu chính mình đâu, lại càng không chịu tìm hiểu về xã hội mình đang sống. 
Ví dụ ở các nước, trong hoàn cảnh như ta, chắc chắn người ta phải có những công trình nghiên cứu tầm cỡ về tâm lý thời hậu chiến trong đó có Xã hội học bạo lực… Với  thanh thiếu niên, phải có những chuyên đề đi sâu vào bạo lực học đường.
Ở ta chẳng ai chịu chi tiền cho cán bộ khoa học làm. Bất đắc dĩ phải làm thì chỉ nhăm nhăm minh họa cho những ảo tưởng có sẵn. Những công trình nghiên cứu gọi đúng thực chất xã hội thì mang đút ngăn kéo, không cho phổ biến đến đông đảo công chúng. Thế sao gọi là nghiêm túc, là thực sự cầu thị?


Đi cụ thể vào bạo lực học đường, nhiều ý kiến tranh luận giữa vai trò và trách nhiệm của nhà trường, gia đình, xã hội… Giáo dục có trách nhiệm như thế nào trong chặng thời gian “chữa trị lâu dài” ấy, thưa ông?
Trước đây, có sách Quốc văn giáo khoa thư (do nhóm nhà giáo đứng đầu là ông Trần Trọng Kim biên soạn), là sách được dạy chính thức trong các trường học trước năm 1945. Trong loạt bài nói về tính xấu của con người có hai bài đáng lưu ý..
Một bài tả cảnh một bé gái, chơi với mèo song lại giở thói ác, kéo đuôi mèo thật mạnh khiến nó quay lại cào cho một cái thật đau. Bài kia tả một em bé trai chơi với ai chỉ tìm cách hại người ta. Cậu ta từng lấy bút của bạn ngồi cạnh đâm cho quằn đi, lấy đó làm sung sướng.
Lối soạn sách như thế này chắc đã bị nhiều nhà giáo dục của ta phản đối. Nhưng tôi cho rằng cách làm của người xưa đúng hơn. Bên cạnh việc giáo dục lòng nhân từ, chúng ta phải đưa vào chương trình phổ thông những bài học như thế này, để ngăn đe, để chống cái tàn bạo bản năng của lớp trẻ..
Khi soạn sách, phải đưa những bài văn có tính chất nuông chiều, buông thả bạo lực ra khỏi nội dung. Nếu cần phải giảng dạy những ca dao tục ngữ truyện cười, truyện cổ tích… có cài chen yếu tố bạo lực như đã nói, không nên lảng tránh mà cần chỉ rõ đây là những di lụy của thời xưa, ngày nay ta biết để tránh.
Sở dĩ tôi có đề nghị như vậy vì thấy gần đây, sau những cảnh bạo lực trong học sinh, người ta chỉ nói tới vai trò của thầy giáo cô giáo. Phải luôn luôn quan tâm tới các em, phải biết ngăn chặn các em… Tất cả những cái đó là đúng nhưng chưa đủ.
Toàn ngành giáo dục phải vào cuộc với nghĩa cả những người định ra nội dung chương trình giảng dạy, cả những người soạn sách giáo khoa cũng phải có mặt.


Truyền thông cũng phải trở thành trường học






ảnh minh họa
Trước khi đặt vấn đề phải giáo dục nhau thế này, phải lên án nhau thế kia… ta phải

nghiên cứu hiện tượng ở bề sâu và bề rộng


Truyền thông và các hoạt động nghệ thuật có vị thế là có khả năng ảnh hưởng tương đối. Theo ông, thì vai trò của họ trong vấn đề này, như thế nào?


Truyền thông hiện nay cũng phải trở thành một thứ trường học. Cần lôi cuốn các nhà nghiên cứu cơ bản tham gia phát biểu về các vấn đề thời sự. Rộng hơn từng hiện tượng lẻ, cần khai thác các ngành xã hội học trong việc tìm hiểu con người Việt xã hội Việt. Vấn đề không phải nói cái tốt hay cái xấu, mà là nói thực chất. Nói đúng thực chất thì tự nhiên có người nghe.
Với tư cách một người phê bình văn học, điều cuối cùng tôi muốn nói là trước tình trạng đạo đức xã hội như hiện nay, những người làm công việc văn chương tinh thần cũng nên tự vấn lương tâm của mình, nên nghĩ rằng mình phải có trách nhiệm. Vì làm giáo dục một cách mòn sáo thất bại, nghệ thuật đang nghiêng về phía giải trí “mua vui” cho thiên hạ, tuy như ta thấy, chiều nịnh công chúng rút cục là làm hại công chúng.
Xin cảm ơn ông.




Minh Phương (thực hiện)