Saturday, June 29, 2013

Thu Bồn, khuôn mặt một nhà văn con ruột của chiến tranh


     Khoảng đầu 1983, tôi gặp Thu
Bồn ở cổng Văn Nghệ Quân đội. Đây là nơi chúng tôi đã cùng sống trong một căn
nhà, và nay đều đã dọn đi chỗ khác.


     Anh thì tuy vẫn còn trong
biên chế của Tổng cục Chính trị, nhưng biệt phái ở Sài Gòn, lâu ngày mới ra
ngoài này. Tôi thì đã chuyển sang công tác ở Hội Nhà văn được mấy năm.


     Chúng tôi là những người quen cũ, nhưng lâu
ngày không gặp. Chuyện ngày xưa dông dài giở ra không tiện. Mà chuyện mới
thì bỡ ngỡ, chưa biết bắt đầu từ đâu.




    Đột nhiên, Thu Bồn cười, cái
cười khiến cho khuôn mặt có nhiều vẻ dữ dằn của anh thêm trẻ lại. Anh hỏi tôi,
giọng thỏ thẻ hiếm có:


    - Nghe nói chúng mày ở ngoài ấy nói xấu tao
nhiều lắm phải không?


    Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi buột mồm:


   -  Có gì đâu,
chẳng qua đây là một tâm lý thông thường. Bọn chó nhà bị cùm xích trông thấy
chó rừng chạy rông, thường hay ăng ẳng sủa bậy tỏ vẻ ghen tị. Kệ bọn tôi, đừng chấp.


     Sau này nghĩ lại, tôi vẫn
thầm cám ơn hôm đó trời ứng vào mồm thế nào, trả lời Thu Bồn được gẫy gọn,
khiến anh nghe được mà bọn tôi cũng vui.


     Quả thật, cuộc sống thông thường của khá nhiều
người viết văn là cuộc sống công chức tẻ nhạt. Ham muốn thì nhiều, làm được thì
ít. Hạnh phúc tầm thường. Cảm xúc sáo mòn. Lúng túng vụng về trong hành động,
chỉ lấy mấy câu triết lý hão huyền thay thế.


     Còn Thu Bồn có một cuộc sống thật khác.


     Trong đời sống hàng ngày,
anh là một người khéo chân khéo tay, tháo vát, làm gì cũng được.Trông sự nhanh
nhảu mau mắn của anh mà người ta phát thèm.


     Ấy thế nhưng trong hạnh phúc riêng tư, đấy lại
là một con người vất vả với chính mình, mà không tìm ra lối thoát, tự mình xây
đắp nên rất nhiều rồi cũng phá bỏ đi rất nhiều.


     Sức mạnh ở Thu Bồn khá rõ. Đó
là sức mạnh của suối đổ, sông trôi.


     Nhưng sức kìm hãm ở chính anh lại không theo
kịp. Có cảm tưởng anh không làm chủ nổi chính cái sức mạnh của mình, và đấy là
một điều khiến cho những người đứng ngoài vừa khâm phục, vừa kinh hãi.


     Khoảng cuối những năm năm
mươi và suốt những năm sáu mươi tức là tính chung từ 1970 về trước, cuộc chiến
tranh chống Mỹ ở phía nam còn nhiều tính chất thiêng liêng, bí mật, người đi
người về kín đáo, chứ không công khai rầm rập như những năm về sau. Nghe nói có
một người đi B. ra, là hiếm lắm, ai cũng muốn gặp.


     Mà Thu Bồn, Liên Nam lại là những người đầu tiên, từ
miền Trung Trung Bộ (B1) ra với chúng tôi.


    Tư cách của các anh bấy giờ:
đại diện cho các lực lượng văn nghệ quân giải phóng.


    Bởi vậy, nghe nói là khi các
anh mới ra ( tôi nhớ là 1968 ?) có cả lễ đón cẩn thận để quay phim chụp ảnh. Lễ đón này tôi không
được dự, nhưng ai đi về cũng kể là nó rất trang trọng.


    Trước đó, Thu Bồn đã nổi
tiếng với một số bài thơ đăng báo, đặc biệt với
Bài ca chim
Chơ-rao.


     Tôi nhớ các quan chức tuyên
huấn năm đó, rất ưu ái trường ca này, đã lệnh cho báo
Văn Nghệ in tác phẩm thành phụ trương, với số lượng
rất lớn.


     Bởi vậy, tuy trong anh em viết văn cũng có
người chưa thích lắm ( Xuân Diệu chua ngoa mai mỉa, người ta cố
rao cho nó mãi, mà nó vẫn trơ ra), nhưng trường ca vẫn được coi là một
thành công tiêu biểu cho sáng tác văn học hồi ấy.


     Thu Bồn trở thành một nhân
vật của đời sống văn nghệ. Anh thường xuất hiện trong các buổi họp có ý nghĩa
chính trị quan trọng, và với tư cách một người của miền Nam Việt Nam, anh đi dự
các hội nghị quốc tế.


    Còn trong những lúc chuyện
vặt hàng ngày, dần dần chúng tôi cũng được nghe Thu Bồn kể thêm mà nhớ nhất là nghe anh nói về những vất vả đã phải gánh chịu trên đường đi từ nam ra bắc.


     Lần ấy anh đi với người vợ đầu của mình, chị
là bác sĩ, anh là nhà thơ, hai người lặn lội trên các nẻo đường Trường Sơn, một
đứa con trai dắt tay, cháu tên là Hùng, một đứa con trọng bụng (sau này, cậu
con trai thứ hai này được đặt bằng một cái tên rất gợi cảm: Băng Ngàn).


    Vì Hùng lúc ấy còn bé, nên bố
phải đặt cậu ngồi vào một chiếc ba lô, đáy ba lô được đục thủng để thò chân ra
ngoài. Và bố mẹ thay nhau đeo ba lô trên đường.


    Sự sống những năm chiến tranh thật đã đi đến
chỗ cùng cực của nó, nhưng quả thật, nó còn là một cái gì rất mạnh. Gia đình an
toàn ra đến Hà Nội, dù sau này Hùng do ngồi địu nhiều quá, chân còng còng, phải
đập xương ra bó lại.


    Có lẽ ấn tượng của tôi về sự
tháo vát  và cả sự quyết đoán của Thu Bồn
bắt đầu từ câu chuyện ấy, chuyện vượt Trường Sơn của vợ chồng anh năm ấy.


    Sau này có dịp ở gần Thu Bồn
(trong tập thể cơ quan ở 4 Lý Nam
Đế), tôi cũng được chứng kiến sự tháo vát của anh.


     Phòng anh ở luôn luôn gọn gàng. Có khách đến,
cần phải nấu cho khách bữa cơm, sắp xếp cần để lưu khách lại cùng nghỉ qua đêm,
anh lo liệu rất nhanh.


    Thậm chí, bọn tôi hay bảo
nhau, giá có phải gánh đất, vượt thổ, chặt cây về làm nhà, sửa soạn một chỗ ở
cho tươm tất, một điều mà những anh em viết văn khác, loại nho sĩ “trói gà
không chặt” rất ngần ngại - Thu Bồn cũng làm “trên mức tuyệt vời” .


     Hình như chính chiến tranh đã dạy khôn anh
trong các việc đó.


     Ai đã từng có mặt trong
những chuyến B ngắn B dài trong những năm chống Mỹ hẳn biết cuộc chiến tranh đã
rèn luyện cho người lính của chúng ta thành những người rất năng động, thích
ứng với mọi hoàn cảnh, gặp chuyện khó khăn, biết dễ dàng vượt qua, để tạo cho
mình một đời sống tạm gọi là đàng hoàng chững chạc. Sự ưu đãi của thiên nhiên
với con người Thu Bồn bắt đầu từ phần sức vóc mà chúng tôi phải ghen tị. Và anh
đã thích ứng được với thời chiến. Cái điều mà nhiều người không làm nổi  thì anh vượt lên rất tự nhiên. Anh sống theo
kiểu của những cơn lốc.





    *


     Chuyến đưa gia đình từ miền
Trung Trung bộ vượt Trường Sơn, là chuyến thứ hai, Thu Bồn ra Bắc.


     Trước đó, năm 1954, người
lính cũ của Khu Năm này, đã từng theo đơn vị tập kết rồi về đóng quân ở các
tỉnh chung quanh Hà Nội.


      Công việc của Thu Bồn làm lúc ấy đâu là giáo
viên văn hoá của một đơn vị pháo binh. Vừa dạy học, Thu Bồn vừa làm thơ, những bài
thơ nói lên nỗi nhớ quê hương ở xa.


     Xuân Sách sau này có kể với
tôi, là những năm ấy, anh cũng mới là một cộng tác viên của tạp chí
Văn Nghệ
Quân đội
. Những lần
về 4 Lý Nam Đế họp, anh đã có lần gặp Thu Bồn. Ấn tượng chung ấy là một con
người rất nồng nhiệt, đi họp mà trong túi lúc nào cũng có rượu, ăn được, uống
được, viết được, tranh cãi với mọi người cũng được.


     Cuộc sống ít nhiều chật hẹp
trên một miền đất quá mới (cuộc sống của người lính tập kết ra bắc) khiến cho
những người như Thu Bồn cảm thấy có phần tù túng, và việc được tổ chức phân
công trở lại miền Nam đối với các anh, như là một sự giải phóng.


    Tài năng thơ của Thu Bồn cũng
được thổi bùng lên, từ chuyến trở lại quê hương lần ấy. Khi từ miền bắc ra đi
(1959) anh còn là một giáo viên, có một ít bài thơ đăng báo bình thường. Gần
mười năm sau, khi trở lại Hà Nội, anh đã là một nhà thơ được nhiều người nhắc
nhở.


   Cho đến nay, cũng chưa ai
nghiên cứu thật kỹ sáng tác của Thu Bồn, nhưng tôi có cảm tưởng ở người viết
này, có một hồn thơ rất mạnh. Hồn thơ ấy như con người anh, chon von, hoang
dại, không đậu vào đâu hẳn, không chịu được những nền nếp đều đều.


     Có nhiều câu Thu Bồn làm như
văn xuôi ngang phè, vô vị. Nhưng có những câu thật hay, như ngẫu nhiên được
viết ra, như bắt được, cái hay không sao giải thích nổi.


    Cũng như Nguyễn Trọng Oánh và
Xuân Sách, Bùi Minh Quốc và Nguyễn Đức Mậu v.v..-- sau một thời gian làm thơ, Thu
Bồn lại chuyển sang viết văn xuôi.


    Đến nay số tác phẩm tiểu thuyết, tập truyện
ngắn đã in ra, đã lên tới con số trên một chục cuốn, nhiều hơn cả số tập thơ
của anh.


    Nhưng theo tôi, chỗ mạnh của Thu Bồn ngay
trong những tập văn xuôi ấy vẫn là hồn thơ kín đáo ẩn đằng sau những rung động,
quan sát.


     Văn xuôi Thu Bồn có cái gì
hoang sơ như thiên nhiên rừng núi, cuộc chiến tranh vào trong tiểu thuyết của
anh (chẳng hạn
Dưới đám mây màu cánh vạc) có tất cả cái vẻ kỳ cục của nó, nó tạo ra
đủ thứ mặt người quái lạ điên điên khung khùng… những đặc điểm ấy đúng là tạo
nên một sự say mê riêng nhất là với các bạn đọc ở lứa tuổi thanh thiếu niên.


     Trong sự sáng tác, đôi khi
vẫn có những chuyện ngẫu nhiên vui vui. Năm 1972, cùng đi chiến trường Quảng
Trị với Thu Bồn, Liên Nam, tôi được biết rằng tác giả
Bài ca chim
Chơ rao
chỉ ghé lại vùng Triệu Hải, quê
anh hùng Trần Thị Tâm ít ngày.


    Vậy mà anh đã viết ra tiểu
thuyết
Dưới
đám mây màu cánh vạc
.Tác
phẩm được coi là khá thành công, được nhà xuất bản
Thanh niên cho tái bản, được các dịch giả xô viết dịch
ra tiếng Nga.


    Cách cắt nghĩa ở đây khá đơn
giản: Thu Bồn đã mang vào câu chuyện về Trần Thị Tâm toàn bộ những kinh nghiệm
của mình về chiến tranh.


    Theo tôi biết, khi đã bắt được cái mạch chung
của cuốn sách, Thu Bồn thường viết rất nhanh, như cố đuổi bắt lấy suy nghĩ của
chính mình.


    Nguyễn Đức Mậu có lần nói với tôi, đại ý cả
thơ, cả văn xuôi của Thu Bồn, nhiều khi toàn bài toàn tập yếu về bố cục, nhưng
thỉnh thoảng cứ có những câu những đoạn vọt ra ngẫu nhiên bất ngờ, người bình thường ngồi
kỳ cục đến đâu cũng không thể viết nổi .


    Có vẻ đẹp của nhành hoa tươi
tắn, lại có vẻ đẹp của một gốc cây xù xì, vẻ đẹp của đá. Những vẻ đẹp có vẻ thô
tháp ấy có cái hấp dẫn riêng của nó. Thu Bồn hình như cũng hiểu cái tạng của
mình, là ở cái dạng thứ hai. Càng viết, anh càng cố ý khơi thật sâu vào chỗ
mạnh  sẵn có.








    *                                                               


       Trong hoàn cảnh đặc biệt
của đất nước từ sau 1945, người thi sĩ nhiều khi đồng thời là người chiến sĩ và
muốn tồn tại được phải biết sống và nghĩ 
như người chiến sĩ.


      Không phải bao giờ ở một
người, hai vai trò này cũng tương hợp.


      Nhiều người phải cố gắng
trở thành chiến sĩ, nhưng mới dừng lại ở cái phần lý tính.  Trong khi đó , cái phần sâu sắc nhất trong
anh ta lại là những gì dịu nhẹ, tinh tế, có giấu đi cũng không được mặc dầu nó có phần
xa lạ với đời sống dầu dãi của người lính bình thường.


      Về phần mình, Thu Bồn thật có cốt cách thi sĩ,
lại cũng thật có cốt cách chiến sĩ, hai yếu tố vào anh một cách tự nhiên, và
anh có ý thức tô đậm nó lên, làm cho nó trở nên hoàn toàn thống nhất trong con
người mình.


    Nhưng không phải ở anh, không bắt gặp những hạn hẹp của cả người thi sĩ lẫn người chiến sĩ ở thời
chúng ta.


     Cũng như nhiều người trở thành thi sĩ do đòi
hỏi của chiến tranh,-- cái phần cơ bản về văn hoá chưa tương xứng với phần năng
khiếu ở Thu Bồn.


    Trí tưởng tượng của anh đi xa, nhưng nó không
bắt rễ liền với một sự tỉnh táo, chừng mực về đời sống. Sự nhẫn nại là một cái
gì xa lạ với hồn thơ anh.


     “Phàm con người ta ở đời, có cái gì hơn người,
sướng cũng vì nó mà chuốc lấy cay chua cũng vì nó”


    Trong Khách ở quê
ra,
Nguyễn Minh Châu khi bàn về
chuyện vợ con của nhân vật Khúng, có viết một câu tạt ngang như vậy.


     Câu khẳng định ít nhiều có
mang ý vị triết lý đó, kể ra đúng với nhiều người, kể cả trong văn học.


    Như ở
trường hợp Thu Bồn mà chúng ta nói ở đây, những cái hơn người  mà tôi nói trên mang lại cho anh nhiều nhưng
đôi khi cũng là  đầu mối nỗi khổ của anh.


      Khi đã làm việc gì thì phải làm bằng được, -- một
lối nghĩ ở Thu Bồn là vậy.  Anh viết tiểu
thuyết ào ào như mưa bay gió cuốn, viết thật nhanh cốt đuổi lấy ý của mình. Có
khi vừa thấy xe máy của Thu Bồn đâu đó lọc cọc trở về, lát sau đã thấy anh ngồi
vào bàn. Hoặc năm phút trước còn đánh bóng, năm phút sau đã thấy máy chữ của
anh khua rào rào. Số tác phẩm văn xuôi Thu Bồn đã viết ra khoảng chục cuốn, số
đã viết ra không in được cũng khoảng gần gần thế.


    Thơ thì Thu Bồn phải làm thơ
dài, trường ca, hết
Bài ca chim Chơ rao, lại đến Ba - dan
khát, Cam-pu-chia hy vọng

v.v và v.v.


    Trong cách làm việc, có vẻ
như Thu Bồn giống như những kiến trúc sư hiện đại, đã xây dựng là lên những toà
ngang dãy dọc đồ sộ, đơn vị để đặt lên nối tiếp nhau, không phải là từng viên
gạch bé nhỏ rời rạc, mà là những tấm pa-nen lớn, những cấu kiện lớn. Hay dở,
được mất… thế nào cũng chịu, nhưng đã làm là làm hẳn những cái lớn.


     Chỉ có điều tiếc là lưng vốn
của Thu Bồn không phải lúc nào cũng cho phép làm việc kiểu đó.


    Nghề văn là nghề của sự tổng
hợp, ở đó, cần cảm hứng, tốc độ, nhưng lại cần sự tỉ mỉ, chặt chẽ. Cái đó anh
không có và hình như cũng không muốn có.


     Nhưng thiếu một trong hai yếu tố đó thì chín
với nghề sao được.


     Không ai dở hơi đòi hỏi Thu Bồn phải có lối
viết chắt ra từng câu thơ một, như Chính Hữu chẳng hạn, nhưng sự thật, đơn
vị đầu tư sức lực của tất cả các nhà văn vẫn phải là từng tác phẩm cụ thể. 


     Nếu
không có sự bình tâm, hoàn chỉnh từng đoạn, phối hợp từng mảng, chăm cho từng
chữ, soi xét  từng câu.. thì ngòi bút  ào
ào tuôn chảy và ý chí làm việc lớn lao đến đâu rồi cũng chỉ mang lại những bán thành
phẩm.


    Đôi lúc, xem cách làm việc
của Thu Bồn, có thể đoán là anh quá tự tin và sẵn sàng bất chấp mọi quy luật
thông thường, “được ăn cả, ngã về không”. 


     Song sáng tác có sự công bằng
của nó, người ta có thể nổi tiếng một thời  nhưng vẫn khó tồn tại lâu dài trong văn học nếu không tìm cách  bắt vào được cái mạch vĩnh viễn đã tồn tại trong lịch sử. Mà việc này thì Thu Bồn không có điều kiện để làm và cũng không muốn làm.


    Sở dĩ trong
những tác phẩm đầu, anh thành công rõ rệt, vì với mọi người lúc đó sáng tác của anh là một cái gì tươi mới. Về sau, lưng vốn chưa cạn nhưng ngòi bút không tìm ra cách khai thác mới,
anh đặt hy vọng vào cảm hứng quá nhiều, mà tự mình thiếu đi sự bình tĩnh để chuẩn bị và tích
lũy cần thiết ( sự tích lũy nói ở đây không chỉ hiểu là  vốn sống).
   


    


    Rộng hơn câu chuyện “lực bất
tòng tâm”, câu chuyện ham muốn lớn hơn khả năng… tôi còn có cảm tưởng trong
sáng tác, Thu Bồn mang nặng cách sống của những đồng đội của anh trong chiến
tranh.


    Người lính chống Mỹ là những
người lính rất tháo vát, chiến tranh họ phải đối mặt là chiến tranh hiện đại,
họ phải nhanh chóng thích ứng với tất cả khó khăn, lo liệu cho mình tất cả
những thứ cần thiết.


     Cái vẻ căng thẳng quyết tâm
của Thu Bồn khi ngồi vào bàn tức tốc sáng tác mang đậm chất lính như vậy.


     Có điều, giữa hai bên vẫn có
chỗ khác. Mà chỗ người lính không cần thì người thi sĩ cần. Song ở thi sĩ Thu
Bồn lại thiếu.


     Sự tháo vát của người lính thời chiến không
dẫn đến một sự xây dựng công phu bền chắc nào cả. Trên con đường miên man tưởng
như bất tận, chiều nào, người lính cũng
căng tăng mắc võng, làm cho mình những dàn để ba-lô rất đẹp, rồi sáng hôm sau
lại tung hê tất cả  bươn bả đi tiếp, tới một trạm giao liên mới. Thu Bồn
cũng vậy, anh cứ loay hoay hết tác phẩm này sang tác phẩm khác, nhưng một tác
phẩm dồn tụ cả đời anh, thu hút sự cố gắng chung của anh, thì anh không kịp
nghĩ và không kịp làm.


     Rốt cuộc, nói về anh thế nào
cũng đúng: chăm chỉ nhưng sốt sáy vội vã; tháo vát nhưng nông nổi tạm bợ; thích
làm việc nhưng cũng ngại làm việc; có cảm hứng nghệ sĩ, nhưng thiếu hẳn sự bình
tâm đối diện  với vĩnh cửu -- nó  cũng chính là cái tầm vóc của các nghệ sĩ lớn.


     


*


    Theo quan niệm thông thường
hiện nay, chân dung văn học không phải là chỗ để kể về đời riêng của một người
viết văn.


      Vì thế, tôi thấy mình không
có quyền dẫn ra ở đây con người hàng ngày của Thu Bồn.


      Nhưng nếu được phép nói một
cách thật tóm tắt, thì tôi muốn nói rằng trong đời sống riêng, Thu Bồn cũng là
một người như trong sáng tác vậy.


    Nét mặt anh là nét mặt của một người đầy tham
vọng mũi to, miệng rộng, đôi mắt nhìn thẳng.


     Con người anh là con người
vóc vạc, đàng hoàng, anh đi nhanh, bước vội, làm việc gì cũng làm bằng được.


      Vậy mà hình như con người tháo vát trong anh
không thực hiện hết được những ham muốn mà anh vốn có, lúc nào anh cũng như sôi
nổi với bao ý định không thực hiện được.


      Còn bao nhiêu chỗ vui chơi,
anh chưa chơi! Còn bao lạc thú, anh chưa được thử sức! Ham muốn là động cơ thúc
đẩy anh mau mắn hoạt bát, nhưng cũng là động cơ đốt cháy ngày tháng mà không
giúp cho những ngày tháng ấy của anh tổ chức lại thành một cái gì trọn vẹn.


      Tôi nhớ cách ăn mặc mà một
thời, Thu Bồn rất thích: bộ quân phục màu rêu, may kiểu hiện đại.


      Trong bộ quần áo chắc khỏe
ấy, là một con người nước da bánh mật rắn chắc, linh động…


      Rõ ràng trong anh có cái
nét của những người lính cách mạng Cuba mà chúng ta bắt gặp trong các
bức ảnh và các bộ phim.


      Anh thích tô đậm ở mình một vẻ đẹp khoẻ, dữ,
tạm gọi là một vẻ đẹp rừng rú.


      Chất trữ tình mà anh muốn
là chất trữ tình chắt ra từ những cuộc chiến đấu, nó có lúc đau xót đến xé lòng, nhưng
lại biết giấu đi để chỉ phô ra có khía mạnh mẽ, hào hùng của nó.


      Tôi hiểu như thế, và tôi
biết anh kiêu hãnh về cái mới không giống ai của mình.


      Nhưng những lúc tỉnh táo,
Thu Bồn, hơn ai hết, hiểu rằng mình chưa làm được điều mình mong muốn.


      Lúc bấy giờ, trông anh có cái vẻ tê tái rất
đáng thương.


      Vâng, bạn thử nghĩ xem, một người như Thu Bồn
đáng lẽ phải uống nhiều, nói nhiều, nói gấp năm gấp bảy người khác chứ. 


      Đằng
này, tôi đã chứng kiến những lần Thu Bồn ngồi giữa bạn bè, uể oải không nói
chuyện gì, miệng méo xệch đi trong nụ cười gượng gạo, giống như tất cả những
người ở vào giây phút không muốn sống nữa.


      Giá anh ngẩng lên, tôi đoán trên khuôn mặt can
trường ấy, đang từ từ lăn một dòng nước mắt. Nhưng anh đang cúi xuống nghĩ ngợi
một điều gì đó, mái tóc của anh vốn thưa và dài nay càng thưa và dài hơn, lại
khô đi, trông như một thân cây lớn, bị nhổ khỏi đất, lá khô cành khô, hoang tàn
tăm tối, nhưng vẫn là một thân cây lớn.


     Những lúc ấy, tôi đã nói với
Thu Bồn anh có những sung sướng mà không ai trong chúng tôi có nổi, nhưng lại
có những đau khổ mà không ai trong chúng tôi có thể chia sẻ.


    Điều này vốn xuất phát từ
những chuyện tôi nghe lỏm được về những cuộc tình bão táp của anh, mà theo liên
tưởng của tôi thì nó cũng là đặc tính chung
của mọi mặt đời anh.


     Lần nào, nghe tôi nói vậy, Thu
Bồn cũng cười, có cảm tưởng như anh muốn trả lời rằng chính anh cũng cảm thấy
như thế.


     Phải dùng lại ở đây cái cách
nói mà người ta dùng đã quá nhàm— anh đã có một khuôn măt không lẫn được giữa
đời. Cùng với Thu Bồn, có nhiều khuôn mặt tương tự, mọi sinh linh ở lứa tuổi anh
tuổi tôi đều là con ruột của chiến tranh. Nhưng cái tính cách chiến binh ở con
người Thu Bồn là thuộc loại nồng nã bậc nhất và chỉ thời nay mới có.










Moscova,
1988

Sunday, June 23, 2013

Từ thiên kiến tùy tiện trong việc tìm hiểu về người đến dễ dãi và vơ vào khi nói về mình


 Bài
viết đã in trên báo Người Hà Nội

số ra 4-4-2005





    Đặc trưng văn hoá Việt Nam; bản sắc văn hoá Việt
Nam trong sự so sánh với các nền văn hoá khác … đó là những chủ đề mà lâu
nay báo chí của ta nhiều lần đề cập tới.


   Gần đây, có bài viết Văn hoá Việt nam thiết tha với
cuộc sống con người của Phan Ngọc, in trên Văn nghệ trẻ số 4 ra ngay
23-1-05, được nhiều người tìm đọc.




  Dưới
đây, từ bài viết ấy, chúng tôi có liên hệ lại cả mấy nhận xét tạt ngang trong
một bài trả lời phỏng vấn của nhà văn Nguyên Ngọc, từng in trên báo
Người Hà Nội từ 2002 -- để tìm
hiểu một cách nghĩ về văn hoá phổ biến ở nhiều người chúng ta hiện nay,
nhân đó
nêu ra một vài ý kiến riêng để các đồng nghiệp và đông đảo bạn đọc cùng thẩm
định.

Về một nhận định chung đối với văn
hoá Trung Hoa


    
Phải nhận là hiếm thấy ai biết kể về văn hoá Trung Hoa hay và lạ như
Phan Ngọc. Tự nó, những sự kiện mà ông kể lại có thể đưa người ta đến những kết
luận lý thú.



  
 Tiếc rằng ông lại tìm cách khuôn
nó vào những khái quát rất khó chấp nhận.


    
Trước hết về một nhận thức tổng thể.


   
Không chỉ trong bài viết trên, mà trong nhiều trường hợp khác ( tập
trung nhất là trong cuốn Bản sắc văn hoá
Việt Nam
mà bài viết Văn hoá Việt nam
thiết tha với cuộc sống con người
chỉ là một chương nhỏ ), Phan Ngọc nói đi
nói lại rằng văn hoá Trung Hoa như một nền văn hoá lạnh lẽo, cực đoan, duy
lý, thậm chí dị hợm, tàn nhẫn, xa lạ với nhân tính thông thường.


   
Trong phạm vi đọc được của mình, tôi cho rằng đây là một khái quát thiên
kiến, tuỳ tiện, nó chống lại ngay chính các dẫn liệu của ông, chứ đừng nói là
xa lạ với nhận thức chung của khoa nghiên cứu về Trung Hoa trên thế giới hiện
nay.


   
Để thái độ cần có sang một bên, hãy chỉ nói về nhận thức, -- với tôi, đặt
trên cái nền rộng lớn của văn hóa nhân loại nói chung, văn hoá Trung Hoa là một
trong những bộ phận có sự phát triển đầy đặn, rực rỡ bậc nhất.


  
 Đây là một trong những trường hợp
điển hình mà từ đó người ta có thể hình dung ra thế nào là văn hoá với nghĩa
cao đẹp nhất của khái niệm.


  
 Đây cũng là một trong những nền
văn hoá đã hiện thực hoá được hầu hết những tiềm năng của con người, do
đó đạt tới tính phổ biến mà mọi con người có thể tới soi mình và tìm thấy bản
thân trong đó ( về các kết luận này, nếu cần, tôi xin được phép chứng minh
trong một bài khác ).


    
Các nhà tâm lý học đưa ra một dẫn chứng khi nhìn người ngoại quốc đi lại
ngoài đường, thoạt đầu trẻ con ( nước nào cũng vậy ) chỉ thấy họ khác mình sau
mới thấy họ giống mình.


   
Nhận thức về Trung Hoa không phải là ngoại lệ.


   
Lược lại quá trình nhận thức của thế giới về Trung Hoa là chuyện quá
lớn. Nhưng theo chỗ tôi biết, lối nhấn mạnh những chỗ khác người của văn
hoá Trung Hoa, xem nó như cực đoan, lập dị là một nhận thức cũ của châu
Âu các thế kỷ đã xa; còn nhìn chung, ngày nay, người ta có xu hướng khác.


   
Một nhà văn nổi tiếng như Pearl Buck sở dĩ được Nobel vì cho người ta
thấy rằng thực ra Trung Hoa chẳng khác gì thế giới, là một biến thể (variant ) của văn hoá thế giới, mà châu
Âu là một biến thể khác, thế thôi.

    Vả chăng bản thân sự kỳ dị hiện nay
không còn có nghĩa xấu. Nhìn kỹ thì cái gì cũng trở thành kỳ dị. Bởi nói như
các nhà vật lý, nay là lúc cái kỳ dị trở thành cái phổ biến.


   
Vậy thì nói một nền văn hoá kỳ dị, cực đoan, là chưa nói gì cả.

   Kể ra đi vào cụ thể, còn nhiều điều có
thể bàn thêm. Ví dụ Phan Ngọc bảo rằng nước Trung Hoa thống nhất bởi chữ viết
chứ không phải vì văn hoá và kinh tế. Tôi muốn hỏi lại, thế ra chữ viết không
phải là bộ phận của văn hoá hay sao? Mà cả kinh tế, sự phát đạt của kinh tế một
nước và cả tư duy con người khi làm kinh tế nữa, chẳng phải cũng là bằng chứng
cho thấy sự phát triển văn hoá của nước đó đấy sao ?



Về kiểu lập luận của Phan Ngọc

     Trong khuôn khổ bằng bằng nhợt nhạt
của đời sống học thuật Hà Nội hai chục năm  nay, nhà nghiên cứu Phan Ngọc nổi lên như một
hiện tượng chói sáng hiếm hoi: riêng việc ông cùng lúc thành thạo cả tiếng Pháp
tiếng Anh lẫn tiếng Hán đã là một thứ bảo đảm bằng vàng.


   
Những kiến thức mà ông trình bày trong các bài viết bắt nguồn từ sức đọc
ghê gớm của ông, bởi vậy trong hoàn cảnh không có các ngoại ngữ phương tây và
ít đọc như đám chúng sinh bọn tôi, quả thật nghe đã thấy sợ.


   
Tuy nhiên nghĩ kỹ thì thấy ở bất cứ ai, sự phong phú của kiến thức chỉ
mới là những điều kiện để có kết luận chính xác chứ không nhất thiết bảo đảm
rằng những điều người ta nói ra là chân lý.


   
Tức một người có thể đọc được rất nhiều, song nếu đi theo những định
hướng lầm lẫn thì vẫn chỉ dẫn tới những kết luận sai lạc.

   Ngoài sách vở, Phan Ngọc còn rất mạnh
ở những kinh nghiệm riêng. Đó là một thứ vũ khí lợi hại mà đám đông chúng tôi
hiện nay, những cây bút èo uột “chân không tới đất cật không đến trời “,
vừa quan liêu hời hợt vừa kinh viện nửa mùa, có nằm mơ cũng không có
nổi.


   
Ông lại tỏ ra hết sức Việt Nam ở chỗ có ý viết thế nào để gợi cho người
ta cảm tưởng hoàn toàn tự do trong phát biểu của mình.


   
Tạm cho là thế đi, nhưng không phải cái gì được viết bằng kinh nghiệm
riêng và bằng sự chân thành của tác giả, thì tất yếu là không ai có quyền cãi
lại.


   
Thậm chí có những khi người viết xuất phát từ động cơ rất chân thành mà
kết luận đưa ra vẫn giả tạo như thường.


   
Nói như Juan Carlos Onetti, một nhà văn Mỹ la tinh hiện đại,“có nhiều
cách nói dối, nhưng cách tởm lợm nhất là cách làm ra vẻ chỉ nói sự thật, thậm
chí dám tuyên bố là nói toàn bộ sự thật về sự vật, song lại che giấu cái hồn cốt
sâu xa của nó”.


   
Tôi không rõ trong các nhận xét của mình về Trung Hoa, đâu là chỗ Phan
Ngọc cố tình che giấu, đâu là chỗ ông chỉ biết đến thế, chỉ có điều cảm thấy sự
thật không phải như ông đã viết.


   
Lâu nay, lối viết kết hợp cả kiến thức lẫn kinh nghiệm theo một cách đầy
ma thuật
( mượn lại chữ của Phan Ngọc ) hoặc mang yếu tố yêu pháp (
chữ của một bạn đọc khác ) ở tác giả Bản sắc văn hoá Việt Nam đã trở
thành một thứ bản năng tự nhiên.


   
Với nó, ông tha hồ tung hoành, có cảm tưởng là khi viết được như vậy ông
đã rất sướng mà người đọc cũng rất sướng, chỉ đến lúc tỉnh táo trở lại mới thấy
cứ miên man theo lối viết có phần ma mị ấy thì chết !


   
Nói thế bởi, theo sự quan sát của tôi, lối viết ấy đang gây tác hại ngay
với chủ nhân: nó khuyến khích ông thêm tự tin trong sự tuỳ tiện và áp đặt.


    
Các nhà nho người Việt từ giữa thế kỷ XIX từng truyền tụng câu “ Văn như Siêu quát vô Tiền Hán -- Thi đáo
Tùng Tuy thất Thịnh Đường
“. Trong bài Khái
luận về văn chương chữ Hán ở nước ta
đăng trong Tao đàn 1939, Phan Khôi đã mang câu đó ra phân tích.


   
Đến lượt Phan Ngọc trong chương III cuốn sách của mình, ông cũng nhắc
tới, nhưng bảo đó

là của một người Trung quốc nói, người Việt Nam không dám nói liều như thế
“( tr 127, bản của NXB Văn
hoá Thông tin
).


    
Lối viết bình thản như là nhân tiện mà đưa ra mà nhắc lại, song với
người đọc, nó hiệu qủa lắm, nó truyền cho người ta niềm tin rằng sự xác định
của người viết ( ông Phan Ngọc ) là một sự thật hiển nhiên, không cần chứng
minh, hoặc nêu xuất xứ.


    
Sự thực là ngược lại.


    
Giả sử có một người Tầu cụ thể nào đó nói thế ( nói giả sử cho hết lẽ,
thật ra dù là chỉ một người thôi, tôi vẫn không tin ), thì chắc chắn đó
vẫn không phải là lối nghĩ chung của nhiều người Tầu.


    
Mà nó mang nhãn hiệu Việt Nam 100%.




Một cách nhìn nhận về văn hoá

Trung Hoa cần phải thay đổi


  
Người ta thường nói chính những hàng xóm với nhau lại không hiểu nhau.
Nhận thức của nhiều người chúng ta về Trung Hoa đang trong tình trạng như vậy.


   
Trong những thiên kiến tuỳ tiện trên đây, ông Phan Ngọc không cô đơn.
Nhiều người đang nghĩ như ông.


    
Xin dẫn ra một bài thơ được in trong tuyển thơ Việt nam 1975-2000 :




NGUYỄN DU

Đến đâu con cũng gặp Người

Xin dâng chén rượu giữa trời Trung Hoa

Hạc vàng một bóng lầu xa

Hồ Nam úa ráng chiều tà hanh heo

Tiệc to thường ở nơi nghèo

Đồng ngô khô xác mái lều gió lay

Người xưa đi xứ qua đây

Bùn lưng bụng ngựa sông đầy thuyền trôi

Cỏ cây thành luỹ khác rồi

Hoàng Hà đã cạn thơ Người vẫn sâu

Thời nào thì cũng như nhau

Nỗi buồn ly biệt, nỗi đau dối lừa

Tiền Đường sầm sập đêm mưa

Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều

Nghiệp Thành còn tiếng quạ kêu

Lâm Truy bến cũ cầu treo rực đèn

Sắc tài chi để trời ghen

Người đâu phải nước đánh phèn cho trong

Cõi đời đâu cũng long đong

Văn chương bạc phận má hồng vô duyên

Bời bời những cuộc đỏ đen

Chính trường sấp mặt đồng tiền xoay ngang

Đặt chân lên đỉnh Thiên Đàn

Bốn bề mây trắng thu vàng lá rơi

Bâng khuâng con lại thấy Người

Vái Người, con đứng ngang trời Trung Hoa


(
các câu gạch dưới là do VTN nhấn
mạnh
)





   
Tôi thường đọc lại những bài thơ loại này, để tự răn mình rằng cho đến
ngày hôm nay cách nghĩ dân gian Trạng Quỳnh Trạng Lợn vẫn đang được duy trì và
tái sinh nguyên vẹn trong nhiều người chúng ta.


    
Đọc riêng một câu Đặt chân lên
đỉnh Thiên Đàn
( có kèm theo lời chú “Nơi các hoàng đế Trung Hoa tế trời “)
đã thấy kinh sợ.


    
Sao chúng ta có thể cho phép mình kiêu căng hợm hĩnh như vậy nhỉ ?


    
Mà không chỉ đối với Thiên Đàn, với Trung Hoa nói chung cũng vậy --- xin
nhắc lại đây tôi không bàn về đối sách nên có giữa các quốc gia,
chỉ bàn về nhận thức
: Lẽ nào trước những vấn đề có ý nghĩa lớn như thế, ta
có quyền nói quấy nói quá thế nào cũng được ?




Một lối so sánh không đàng hoàng




   
Tuy bỏ ra rất nhiều giấy mực để viết về văn hoá Trung Hoa, song cái đích
của Phan Ngọc trong bài viết trên là để nóí về văn hoá Việt Nam. Họ cực đoan
tức là ta chừng mực, họ dị hình dị dạng tức là ta duyên dáng đáng yêu, họ quyết
liệt sát phạt nhau tức là ta bao dung nhân ái.

   Dù biết rằng đây là một cách đang
được nhiều người sử dụng, cách đây nhiều thế kỷ các nhà nho xưa ở ta đã có sử
dụng, tôi vẫn muốn nói đó là một cách làm không nghiêm chỉnh không đàng hoàng
và trước tiên không đúng.

   Có thật như Phan Ngọc khái quát, văn
hoá Việt Nam “theo phương châm làm nhỏ nhưng chu đáo cẩn thận“ hoặc “đi
vào cái nên thơ bình dị, nhưng tha thiết với cuộc sống con người“ ?

   Để trả lời câu hỏi này, học theo
Phan Ngọc, tôi muốn bắt đầu từ một việc cụ thể.


  
Tết Ất Dậu vừa qua, như báo chí đã viết, Hà Nội mạnh về quất hơn về đào.


  
Có mấy điều đáng nói liên quan tới những cây quất này.


  
Một là mặc dầu nhà cửa của
phần đông dân Hà Nội còn rất chật chội nhưng dân ta rất thích những cây quất to
lù lù giữa nhà. Theo tôi, cái việc nhỏ này nằm trong một nét tâm lý phổ biến
thời gian gần đây: Cái gì cũng muốn quá hơn mình có. Nói chữ tức là hiếu
đại.


  
 Hai là, nhiều cây trông chín đẹp như vậy nhưng mua về một hai hôm
là hỏng, quất rụng hết .Dân trồng quất đã quét cho nó một lớp nước muối hoặc
một dung dịch hoá chất nào đó để kịp bán trong mấy ngày tết.


  
Ba là, trước những cái giả dối
ấy, chúng ta thường xuê xoa cho nhau. Rồi lại tự khen rằng biết bỏ qua như thế mới là thương người ( với tình thương ấy, rút
cục người tốt người xấu cùng có quyền tồn tại và hoà cả làng ! ).

    Tôi thường nhớ lại chuyện này để nghĩ
về văn hóa Việt Nam. Kể lại ở đây để tự lưu ý mình rằng không thể nói một cách
“ráo hoảnh” ( cho phép tôi được dùng một chữ của dân gian ) như Phan Ngọc được.


   
 Dù là trong nhà với nhau cũng nên
dè dặt, nếu không ta sẽ rơi vào tự dối mình lúc nào không biết.


   
Mỗi khi động chạm tới những vấn đề lớn lao có liên quan đến quốc gia dân
tộc, tôi hay nhớ lại câu nói của Montesquieu do Ehrenburg dẫn lại khi bàn về
việc nên nói về nước Nga ra sao.


  
Câu của Montesquieu như sau : “ Càng những gì liên quan đến Tổ quốc
càng đòi hỏi chân thực. Mỗi công dân cần phải sẵn sàng hy sinh cả tính mạng cho
Tổ quốc mình. Nhưng không ai được nhân danh Tổ quốc bắt họ dối trá “.



Liệu có thể nói là ta “ rất biết cách

quan hệ với văn hoá nước ngoài “ ?





   
Trong khi đi tìm bản sắc, một vấn đề nữa cũng đang nổi lên, là sự hiểu
biết của Việt Nam ta về thế giới và cái cách ta tiếp nhận văn hoá nước ngoài.
Chỉ có điều lạ là mặc dầu trong suy nghĩ, nay là lúc nhiều người bắt đầu cảm
thấy rằng hình như ở đây dân mình có nhiều chỗ dở, song khi kết luận thường vẫn
dừng lại ở những khái quát dễ dãi.


   
Tôi nhớ trên báo Người Hà Nội
số ra 6-4-02, nhà văn Nguyên Ngọc trong một bài trả lời phỏng vấn đã khái quát
rằng quy luật của văn hoá là gìn giữ và tiếp nhận. Và ông quả quyết một cách
hết sức đúng đắn rằng khi ta biết mở cửa biết tiếp nhận cái hay của văn hoá bên
ngoài thì ta giữ được bản sắc, khi ta đóng cửa khép kín thì mất bản sắc.


   
Thế nhưng tiếp đó ông lại bảo “ Dân tộc ta hiểu rất rõ quy luật này,và
đã vận dụng hết sức sáng tạo “.


  
 Cuối cùng, ông chốt lại bằng nhận
định “ Kiểu cách văn hoá Việt nam là gì ? Đó chính là khả năng tiếp nhận và
tiêu hoá được tất cả những tinh hoa của nền văn hoá đến từ nơi khác, chắt lọc
và hoà nhập vào cái của mình “.


    Đọc
Nguyên Ngọc đến đây ( không biết đến đầu 2005 này, ông còn nghĩ thế không ),
tôi lại thấy có lẽ không phải. Tôi tự đặt cho mình mấy câu hỏi:


    
1/ Có chắc là đứng trước tinh hoa của người, ta hiểu rất rõ, hay thường
chỉ cảm thấy một cách lờ mờ và có thể nói là kèm theo rất nhiều ngộ nhận?


  
  2/ Có chắc là vận dụng sáng tạo hay còn nhiều
phen chắp vá cứng nhắc, nhất là ăn bớt động tác để thực hiện không đến nơi đến
chốn ?


   
 3/ Nên nói là ta đã tiếp thụ được
các tinh hoa, hay cần chỉ rõ là ngay trong việc học hỏi cũng đang có rất nhiều
vụng dại, cái hay không học lại học rất nhanh cái kém cái dở sẵn có của họ ?

     Chỉ cần nhìn ra thực tế chung quanh và không
tự dối lòng thì bất cứ ai cũng sẽ tìm ra câu trả lời đích thực !

      Có thể nhận định của Nguyên Ngọc cũng như lối
khái quát của Phan Ngọc đều xuất phát từ dụng ý tốt.

     Nhưng
nên nói rõ với nhau: đó là điều chúng ta muốn hơn là điều đã xảy ra trong thực
tế.

     Chừng nào còn dễ dãi và “vơ vào
khi nói về mình như thế này thì những thiên kiến và tuỳ tiện khi nói về
người hẳn còn có đất tồn tại./.

Tuesday, June 11, 2013

Vẻ đẹp tàn tạ -- Hà Nội tháng 6/1973


1/6



   Hoa phượng. Hoa phượng đỏ, khắp thành phố ngoảnh về phía nào cũng thấy phượng. Phượng kết thành tấm thành mảng và dầy mãi lên như một niềm oan nghiệt.

  Tại sao hoa phượng đỏ trong mùa hè, lại làm cho lòng cảm động. Bởi mùa hè nồng nóng thế, mà sao vẫn đẻ ra một thứ hoa đẹp như thế? Cuộc đời càng buồn, thì trời đất càng đẹp, nó là hiện thân cái câu mà chúng ta vẫn nói -- cuộc sống chỉ có một lần.



    Quên làm sao được hoa phượng trong những buổi chiều. Anh có biết không, khi ấy mặt trời đã tắt, mọi thứ như tối sầm lại, vậy mà phượng vẫn sáng bừng lên. Màu đỏ của phượng bây giờ như một cái gì ma quái -- Làm sao lại có một thứ màu sắc kỳ dị như vậy nhỉ? Phượng lấy sắc đỏ ở đâu ra ? Hay phượng là cái phía bung ra bất cần của cuộc đời, phượng là một cái gì rất nghệ sĩ -- tôi nghĩ vậy.


   Sao năm nào, trời đất cũng đẹp, và hình như càng trưởng thành, thì người ta càng thấy trời đất đẹp hơn.


    Không phải tôi không yêu thiên nhiên. Tôi chỉ sợ thiên nhiên đánh thức trong tôi những khao khát sống. Thà cứ bắt tôi đứng giữa cuộc đời bình thường, những người đàn bà tham lam, những người đàn ông hèn hạ, những bông hoa tả tơi nhàu nát tôi lại còn thấy dễ chịu – khi ấy tôi cảm thấy cuộc sống là vừa phải. Đằng này lại là cái thiên nhiên của hoa phượng chói chang.




2/6


     Nói với ĐCTính  


    Con người hiện đại khác con người trước kia có lẽ là ở chỗ nó uyển chuyển hơn. Nó biết đầu hàng. Nó biết chịu đựng. Nó không xa lánh mọi chuyện. Nó nhập cuộc, dù thấy đời nhầy nhụa nhớp nháp cũng nhập cuộc. Và sau tất cả những cay đắng ấy, nó vẫn tìm cách thể hiện mình.


    Người nghệ sĩ mới tham gia vào những vấn đề chính trị rồi lại đứng tách ra để mà phán xét.


   Trong lời giới thiệu những nhân vật như Voznhesenski, Evtouchenko... bao giờ cũng thấy người ta nói tới hai mặt ở họ: cái hay và cái dở, cái thật và cái giả, ánh sáng và bùn lầy!





    Chúng tôi khổ vì chúng tôi là những thanh niên, tức những người ở vào cái thời gian tập làm chủ mình. Nếu chúng tôi đã lớn tuổi, đã yên bề vào một vị trí nào đó, thì chúng tôi sẽ cam chịu.


   Đằng này không phải thế. Chúng tôi ở vào cái tuổi tự do. Nhưng ai dám bảo đã có đủ điều kiện để người ta sử dụng cái quyền đó một cách tốt nhất.





Nói với Kiểm


    Những người lính bây giờ mang nhiều thói xấu mà cuộc sống chiến tranh cố kết lại trong họ. Họ đã mất đi khả năng tự nhận thức. Thành thử nếu chỉ đi với lính, anh không sao hiểu được họ.


    Người ta chỉ có thể hiểu được người lính, khi đặt họ trong thế đối lập với hậu phương. Hậu phương sẽ làm nổi họ lên. Hậu phương là cội nguồn của mọi biến động thời chiến.





    Một cái vé đi xem biểu diễn ca nhạc, một bữa ăn đủ chất? Không,  những đòi hỏi bình thường thế, trong thời chiến là quá cao. Bây giờ chúng tôi không có nhà mà ở, không có đường mà đi. Nhìn vào lòng đường các nước khác xem. Tất cả ngăn nắp trật tự, mọi người có chỗ của mình. Lòng đường của chúng tôi bây giờ bụi bậm bẩn thỉu, người đi chen chúc, người nào cũng cố vượt lên trước. Đường là hình ảnh của xã hội.





     Nghiêm Đa Văn kể ông Phạm Văn Đồng bảo ở Việt Nam bây giờ, không ai làm việc của mình cả. Người ta bắt thầy giáo và học trò làm đủ mọi việc, trừ việc dạy và học.


    Nhận xét của kiều bào ở nước ngoài về: Ở miền Bắc làm việc tốt cũng như việc xấu. Làm cũng như không làm.





8/6


     Tôi vừa kính phục những người khắc khoải và bất mãn, vừa ghê sợ. Bởi trái tim chịu được dày vò, đó là một trái tim phải lớn lắm, phải khỏe lắm. Tôi không có một trái tim như thế .


   Níetzsche hay nói tới các siêu nhân nghĩa là những kẻ vượt lên con người thông thường. Shakespeare chẳng hạn.


    Trong nhà viết kịch người Anh, người ta bắt gặp bao nhiêu cuộc đời bao nhiêu số phận. Ông là tổng số của những kẻ đó. 

     Những người bình thường đơn giản hơn nhiều.


     Song đó là chuyện của các thế kỷ trước.


     Nay là lúc ở con người bình thường cũng có không có bao nhiêu chuyện, bao nhiêu vấn đề được đặt ra. Thành thử lại có thể nói không có con người nào là  bình thường. Con người nào cũng đặc biệt, rất đặc biệt.


      Nói theo thuật ngữ văn học, tôi ngỡ phân tích cho kỹ lưỡng, con người bình thường nào cũng là con người điển hình, cũng mang những đặc điểm của giới anh ta, xã hội mà anh ta sống.


     Như là một cá nhân, tôi quằn quại xem có thể làm thế nào, để tìm đường cho mình, thấy những lẽ phải của mình, để mình có thể yên tâm. Hầu như chả ai có thể giúp được tôi, tôi kinh sợ.


     Hình như ở một quyển sách nào đó, có nói đến khái niệm Tôi, bây giờ,...


      Một câu thơ nào đó, bắt đầu bằng mấy chữ: Tôi, bây giờ... Chỉ có thế mà thỉnh thoảng nghĩ lại, cứ giật mình. Đó là một cảm giác thường trực phải có. Tôi, bây giờ, cảm giác của thay đổi, cảm giác của một người từng trải, đã có những ê chề.





     Anh đến xin việc một nơi, một người chủ Pháp sẽ hỏi: Anh có bằng cấp gì?


    Một người chủ Đức: Anh biết những gì?


    Một người chủ Mỹ: Anh có những kinh nghiệm gì?


.,.




      Và ở Việt Nam hôm nay, những người phụ trách, những người mách mối hỏi: Anh có quen ai ở đấy không? Anh có phải là đảng viên không?



9/6



    Nói với chị Yên, em không biết mua bán thế
nào. Trông cái gì cũng thấy giả dối.



-- Đến tôi cũng không biết
mua, chứ không phải chỉ có cậu. Mua cái gì cũng phải lâu, cũng phải chọn, nhìn
qua loa đã mua là y như về vứt đi.


  Cái tình trạng này bao trùm từ chuyện đời thường
tới chuyện chính trị.




 So sánh hai miền, không biết ai nói đầu
tiên, ông Khải nhắc lại:



   - Chúng ta từ chính nghĩa, hoá ra phi nghĩa.
Nó ngược lại. Bây giờ không một thằng lính nào phía bên kia  có mặc cảm là Việt gian, là nguỵ cả.


   - Không biết chừng, lúc nào nó tuyên bố xây
dựng socialism. Trước tiên, nó tuyên
bố quan hệ với Trung quốc chẳng hạn...


        Rồi có cái hư danh, nó cũng lấy nốt của
mình, chứ không phải chỉ có cái thực đâu.


     Không biết chừng, nó lại làm vẻ vang
cho dân tộc Việt Nam.


...


   Bàn về lòng tin, Nguyễn Kiên bảo giờ mình chỉ
còn có cách là tin vào người dân thường. Tôi bác lại:


   - Không, người dân thường bây giờ cũng bị
tàn phá rồi tàn phá đến khủng khiếp. Không còn những thói quen cũ. Không còn lễ
nghĩa phong kiến. Không còn sự tự trọng tối thiểu.


   


     Làm sao khỏi chán bây giờ, ông Kiên nói tiếp
và đây là câu nghe được này:


     -- Riêng ở trường hợp tôi – tôi nghĩ đúng
là nhiều lúc chỉ chán quá, đến mức, chán cả cái chán của mình, rồi thôi, -- bấy
giờ mới lại làm việc được.





12/6


    Tham
gia việc vận tải ở miền Bắc có tới 2 vạn xe. Mà trong đó  47-53% xe chạy không.


   

   Một tờ báo ở Sài Gòn nhận xét ở Hà Nội, dần
dần, mọi chữ nghĩa mất hết ý nghĩa. Mọi kế hoạch bị lãng quên.





   Xuân Sách:


-- Nhìn các nước, thấy mọi
chuyện bên trên nó có thay đổi, nhưng ở dưới, người ta vẫn làm việc một cách
bình thường


    Còn ở mình, cứ dồn mọi người vào cả một đống. Con người bị
đánh thức, việc gì cũng xông vào. Cả nước làm chính trị, cả nước dòm ngó xét
nét nhau. Cho nên không ai dám tính chuyện thay đổi. Chỉ cần chững lại một
chút, là tất cả nổ tung hết.


  

    Để làm cho người ta sống bình thản, cái công
cụ chủ yếu mà xã hội này sử dụng là làm cho người ta tê dại. Người ta khổ,
nhưng không còn sáng suốt nhận ra sự khổ sở của mình. Tức là vẫn nghĩ rằng mình
sung sướng, có lý luận như vậy. Mặc cảm làm chủ. Mặc cảm biết tất cả mọi điều.
Khả năng tự lừa dối. Như người thủ dâm.





 15/6  


    Lính ở
chiến trường, vùng tiếp giáp, nói chuyện với lính địch, không ai bắt, mà cũng dối
trá. Nói rằng ngoài Bắc sung sướng. Lính được về phép (bằng ô tô). Cho nó cả đồng
hồ. Tết, cho nó ăn bánh chưng, rồi tự mình nhịn.





   Hoàng Hưng: Thời mới hoà bình này là thời
gian của những sự dò dẫm lẫn nhau. Trên dò dưới, dưới dò trên. Nghiêm Đa Văn bảo ở
dưới, cứ chửi bới, cãi nhau lung tung trước cấp trên, nhưng sau đó, có miếng
ăn, thì cả bọn trên cũng như dưới lại nịnh nọt nhau, xoa dịu nhau.





17/6


    Khải: Trước kia mình cứ thắc mắc, sao mình
không bằng nó. Bây giờ  hiểu rồi, phong
kiến phải thua tư bản, thì tất nhiên rồi. Bây giờ, mình cứ định bắt họ (dân Quảng
Trị) trở lại vùng giải phóng, làm ăn kiểu phong kiến như mình, họ không chịu
đâu.


Cũng như, ở ngoài này, cách
mạng nó ăn vào mình rồi, bây giờ có quay trở lại những nền nếp cũ, chính mình
cũng không chịu được.





     Đỗ Chu: ở xã hội mình bây
giờ, chỉ thấy cái xấu nó quá đường bệ, nó đàng hoàng đứng đó, không làm gì được.


     Việt Nam --tức là miền Bắc bây giờ-- mang đủ những chứng xấu của chủ nghiã tư bản, cả phong kiến và cả chủ nghĩa xã
hội .Thế giới bây giờ, tất cả hội lại, mang nhãn hiệu Việt Nam.


      Có lẽ vào những ngày này,
chiến tranh mới bộc lộ hết cái độc hại của nó. Học sinh học hành chểnh mảng ư ?
Vì chiến tranh. Xã hội vô nguyên tắc ư? Vì chiến tranh.


   Trẻ
con được dậy không biết sợ là gì để sau này đi đánh nhau cho dễ.Nó học quá nhanh, nên bây giờ nó làm
loạn.


     10 năm nay, chúng ta chỉ nói với nhau một điều duy nhất là hãy đi đánh
nhau  -- Thế thì còn biết làm sao?


  Tất cả chúng ta đã bị thương, trong cuộc chiến
tranh vừa qua.


 


    Bây giờ thì chúng ta mới hiểu chiến tranh
là xa lạ với bản chất con người thế nào. Chiến tranh là đáng nguyền rủa. Định
hướng chiến tranh trong những năm vừa qua đã trở thành quốc sách. Giờ nó trả
thù. Mà không ai biết  nó sẽ dai dẳng
theo ta đến tận bao giờ.




     19/6


Trẻ con chơi, hát




Rồng
rồng rắn rắn


Bắt
con rắn qua sông


Bắt
con rồng qua bể


Bắt
con kiến lẻ loi


Này
người bạn tôi ơi


Bắt
lấy thằng đuôi chó.





     20/6


    Đến nhanh quá cái vẻ sớm tàn của hoa phượng.


  Ngày nào, cách đây, độ một
tháng, hoa phượng nở. Bấy giờ phượng vồng lên những cánh mập mạp. Có một lần,
tôi thấy một đứa trẻ cầm một cành phượng, nặng trĩu những hoa là hoa. Thế mà,
chưa đầy một tháng phượng đã héo tàn rã rượi, chỉ còn bám hờ trên những cành
lá xanh. Màu đỏ thẫm lại. Cả những con người những sự việc cũng thế , chóng nở,
chóng tàn, mà khi tàn thì day dứt mãi.





23/6


    Sao mà cuộc đời đẹp một
cách đáng sợ, đẹp đến làm ta bàng hoàng. Bão xa ở đâu không biết, đây chúng tôi
đang sống những ngày hè tuyệt vời. Thành phố như một vùng ven biển. Nắng rất
trong. Gió rất nhẹ nhưng gió lúc nào cũng có. Gió mơn man trên da người. Gió
như sự có mặt của hạnh phúc.




     ... Đi đến đâu, tôi cũng gặp
những biểu tượng của lòng ham sống. Người tràn ra đường, những cô gái rất đẹp,
một cô bé nào cái cúc áo trên cùng không
cài để ngỏ he hé cái cổ măng tơ. Những
em bé lôi nhau ra đường chơi bóng, chơi một thứ trò chơi gì đó, phải cõng nhau
rồi ném bóng cho nhau. Một cụ già mặc áo dài vào thư viện đọc sách chữ Hán. Một
đôi thanh niên nam nữ đèo nhau, bàn tay người con gái tìm bàn tay người con
trai, hai bàn tay nắm lấy nhau, trên một chiếc xe đạp. Và em tôi, đứa em kém
tôi 13 tuổi, nay cũng đã bước vào tuổi yêu đương. Nó cũng có bạn gái đến nhà,
cũng thương nhớ, ngần ngại.





25/6


 Cùng Nguyễn Khải nói về lớp trẻ :


- Nên đi, nên viết, đây đang là thời
của các ông. Phải phiêu lưu.


- Đúng đây là cái chữ mà chúng tôi
cũng đang tìm. Có những thằng như thằng Vũ nó đã nói nó sẽ vào vùng Giải phóng,
nếu cần, nó sẽ vào thành. Tôi không dám làm việc đó. Nhưng anh cũng công nhận
phiêu lưu nhất là sang phía bên kia chứ gì?


-... Ờ (lặng đi một chút). Này, nhưng
mà mình đọc sách của nó nhiều đến nỗi tuy chưa sang bên kia, mình cũng có thể
hình dung được rằng sống ở phía bên kia là không chịu nổi... Ví như mình phải
có gan đạp lên đầu người khác cơ.


- Tôi cũng đã nói với Vũ như thế. Tôi
bảo mỗi cá nhân là nhỏ bé quá. Và hình như thế này, những con người bình thường sống ở bên này là
phải. Chỉ những con người tài năng thì mới có thể sống ở bên kia. mà tôi thì không có tài.





Cái chuyện Vũ nói với tôi trên là có
thật.


 Làm thế nào, không chừng, lại đánh nhau nữa
chứ không vừa đâu, Vũ bảo.


 Tôi cãi lại không, bây giờ có đánh nhau nữa
cũng thế, mà không đánh nhau nữa cũng vậy. Chúng ta đã biến thành tù nhân vĩnh
viễn của chiến tranh rồi.


 Vũ lại bảo đi thôi. Bây giờ thì xã hội này
không phải chỉ có một hai chỗ không ra sao, mà tất cả đã là không ra sao rồi.


Tôi phải giở con bài cuối cùng. Tất
cả mọi chuyện tôi đều đồng ý với ông. Nhưng chỉ là do cảm tính. Phải sống mới
biết. Ác cái cuộc sống không bao giờ cho phép người ta ướm thử cả.








Hữu Mai : Tôi có nghi ngờ hiện tượng,
nhưng cái nguyên tắc, thì tôi vẫn công nhận. Ví như duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử.


Nhàn: Nguyên tắc tôi cũng thấy có vấn
đề. Duy vật biện chứng thì đúng, nhưng còn duy vật lịch sử? Có nhiều cái phản
duy vật biện chứng. Những vấn đề quan hệ cá nhân - quần chúng, còn lúng túng
lắm. Mà đây lại là chuyện con người đối mặt hàng ngày.