Saturday, December 31, 2011

Rất nên quan tâm tới ... lưu manh

1 Trong bài Đường đi và người đi -- Những khám phá thú vị về xã hội người Việt xưa in trên TT&VH số ra 18-12-2011 nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng có viết :

“ Ngày xưa đi buôn, thường phải thuê người gánh hàng, một người gánh hai thúng gọi là Đểu, hai người gánh chung một thúng hoặc một kiện hàng gọi là Cáng. Dân gánh thuê Đểu Cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ buôn, nên chữ Đểu Cáng dần mang nghĩa xấu, cũng như chữ Lưu manh – người mù đi lang thang, đôi khi cũng trộm cắp, nên chữ này cũng mang nghĩa xấu”.



Tôi muốn bàn thêm với anh Thượng riêng về hai chữ lưu manh.

Chữ manh ở đây không phải người mù.

Trong chữ Hán cũng có một chữ manh viết bằng cách kết hợp chữ vong với bộ mục, Đào Duy Anh dịch nghĩa là mắt không có con ngươi, tối tăm.





Nhưng trong từ ghép lưu manh thì sách vở xưa nay đều viết chữ manh khác, gồm chữ vong như trên và bộ thị thay cho bộ mục. Chữ manh nói về sau này thời cổ là chỉ chung là dân. Trong Bình Ngô đại cáo có câu:

Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập

Đào Duy Anh dịch là

Dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp

Là dùng chữ manh ấy.

Từ chỗ ban đầu chỉ dân nói chung ( Hiện đại Hán ngữ từ điển giảng “ cổ đại xưng bách tính”), sau chữ manh này chỉ dân không có nghề nghiệp. Nó cũng không mấy khi được dùng riêng mà thường dùng như một thành phần trong từ ghép lưu manh.

Anh Phan Cẩm Thượng cho rằng đểu cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ hàng nên có nghĩa xấu. Nghĩa xấu đó là gì? Từ điển Khai trí tiến đức 1931 ghi đểu cáng là hạng người hèn mạt vô hạnh. Như vậy là từ một thói xấu đã biến thành một bản chất. Nay đểu cáng thường dùng như một tính từ chỉ phẩm chất.

Hạng lưu manh cũng vậy. Các từ điển Hán -- Hán hiện đại thường ghi lưu manh ban đầu chỉ dân lang thang vô nghề nghiệp, sau chỉ kẻ “bất vụ chính nghĩa, vị phi tác đãi’, tức là kẻ không biết chính nghiã là gì, dám làm mọi việc phi pháp xấu xa.

Tra các từ điển Hán Anh, tôi thấy người ta thường dịch lưu manh thành rogue, gangster, hooligan, sau đó chuyển sang nghĩa rộng hơn, nó dùng để chỉ những quan niệm hành động phi đạo đức, liều lĩnh, bậy bạ, rộng hơn là những triết lý “vô thiên vô pháp”, cho phép người ta dùng mọi thủ đoạn cốt đạt được mục đích.





2 Hồi cuốn Văn minh vật chất của người Việt mới ra, tôi đã thấy cái tên sách hình như to quá so với thực chất. Lẽ ra nên gọi gọn lại, đại khái như Các đồ vật của người Việt thì mới đúng. Chứ còn vật chất là một khái niệm khái quát hơn nhiều. Ví dụ một dạng vật chất là năng lượng, hoặc các loại vật liệu -- ở đây đâu có nói tới.

Người Việt là một khái niệm có nghĩa rộng. Việc ở đây tác giả chỉ nói về người Việt ở đồng bằng Bắc bộ cần được xác định rõ ngay từ tên gọi tập sách.

Ngoài ra tôi còn băn khoăn về một chuyện khác. Trong một lần trả lời phỏng vấn, tác giả bảo muốn viết về những đồ vật xưa nếp sống xưa để các bạn trẻ có dịp trở về với cái hồn của dân tộc mà khỏi phải đọc sách vở kinh phật lão.

Tôi thì tôi nghĩ khác. Không gì thay thế sách vở được. Người nghiên cứu hôm nay không thể thỏa mãn với những hồi tưởng hồi ức xưa rồi dừng lại ở cái nếp sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng mà phải đi tới toàn bộ đời sống tinh thần của người xưa. Trong việc này, nhất thiết phải vận dụng tới sách vở từng có từ bao đời nay, kể cả sách của ông cha ta cũng như sách của nước ngoài. Đó là con đường mà các bạn trẻ không thể lảng tránh.





3 Dẫu sao tôi cũng cảm ơn nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng. Từ chỗ nghiên cứu nghệ thuật thuần túy, anh chuyển sang nghiên cứu cơ sở của nghệ thuật là xã hội.

Khi nghiên cứu về giao thông VN trong xã hội cũ, anh không chỉ nói tới đường đi mà còn nói tới người đi, vì thế mới có câu chuyện chúng ta trao đổi ở đây.

Tôi lại rất tán thành cái hướng mà anh theo là phân chia xã hội không theo thang bậc giai cấp chung chung nông dân—địa chủ phong kiến mà theo các tầng lớp hình thành trong xã hội như kẻ sĩ, nhà buôn, kẻ hạ lưu trộm cướp lưu manh.

Xin phép nói thực, tôi cũng đang muốn làm như vậy.





Phần góp chuyện của tôi:

Ngày nay chúng ta thường hay lý tưởng hóa chữ dân. Nhưng ở trang 87 của Từ điển từ nguyên tiếng Trung ( Nxb Hồng Đức H. 2008 ), tác giả Nguyễn Mạnh Linh ghi:

Để áp bức nô lệ làm việc và tránh tạo phản, bọn chủ nô thường bắt họ đeo gông tay gông chân hoặc dùng mũi khoan chọc mù mắt họ. Chữ dân trong Giáp cốt vănKim văn nghĩa gốc là chỉ nô lệ, nghĩa rộng chỉ kẻ bị thống trị trong đó bao gồm nô lệ và dân thường. Sau này phiếm chỉ bách tính quần chúng nhân dân.

Phải đi vào từ nguyên học lôi thôi như vậy vì nói tới người dân xưa là nói tới tình trạng lang thang vô nghệ nghiệp. Mà đó cũng là nguồn gốc tạo nên cách sống của họ. Họ chẳng coi cái gì là quan trọng. Họ dám làm những việc động trời bất chấp pháp luật. Nhờ thế, trong lịch sử các nước như Trung Quốc Việt Nam họ là nguồn gốc của những hỗn lọan mà ngày nay ta hay gộp vào và gọi chung là những cuộc nông dân khởi nghĩa.

Lưu manh du đãng… ở ta đóng vai trò lớn trong các cuộc chiến tranh kể cả nội chiến lẫn chống ngoại xâm. Nhiều bộ sách cũ tôi đọc được có ghi những người theo Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận là du đãng, mà sau này Quang Trung mạnh cũng là nhờ tập hợp và phát huy sức mạnh đám người này.





Trong lịch sử Trung quốc, những Lưu Bang Hán Cao Tổ, Chu Nguyên Chương Minh Thái Tổ cũng mang đậm trong mình chất vô lại, du đãng, lưu manh. Đã có câu tổng kết trí thức chỉ làm đến tể tướng chỉ có lưu manh mới có thể làm vua.





Nhận xét ấy trong thời hiện đại được chứng nghiệm qua bộ đôi Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.





Lịch sử cả Đông lẫn Tây vận động theo hướng xã hội khép kín trong các làng xóm thôn lạc thời cổ điển bị phá vỡ, con người tràn ra thành thị. Trong khi các tầng lớp nhà buôn và quan lại dùng tri thức tổ chức lại đời sống thì tầng lớp lưu manh cũng xuất hiện, và  phát triển  mạnh theo hướng thâm nhập vào các tầng lớp khác. Trong xã hội hiện đại, xu thế này chi phối sự hình thành nhân cách từ người lao động đến người có học, làm họ cũng trở nên lười biếng tầm thường tàn ác vô cảm …tức là lưu manh hóa họ. Mặc dù nhiều khi mượn áo trí thức để làm dáng nhưng trong thực tế bản chất của lưu manh là thâm thù căm ghét trí thức chân chính. Và họ căm thù trí tuệ nói chung. Ở tầng lớp lưu manh khóac áo trí thức, cái lõi là vô học, bao nhiêu cái có học bên ngoài chỉ là đắp điếm thêm.

Friday, December 23, 2011

Hà Nội hai tuần cuối 1972

Tối 18/12
Lại cảm thấy như chiến tranh lần đầu. Máy bay Mỹ đánh Hà Nội sau 2 tháng nghỉ. Thủ đô không đèn, trong ánh trăng suông. Khi ánh trăng lóe lên, lại  thấy hơi sợ, chắc là bom nổ?
Phố xá khắc trên nền trời những đường nét nhấp nhô. Phố đáng yêu quá, mong manh quá. Những hố cá nhân nứt ra từ bao giờ. Nhưng sao nhiều hố có nước thế.

- Đúng cụ nhà mình sơ tán thì máy bay.
- Đến 2 tháng nay mới lại bị đấy.
- Mày có xuống hầm đi không? Đây, cầm lấy cái mũ rơm.
- Nhà nào còn để đèn thế kia.
- Gớm cô cậu, giờ còn đèo nhau.
Tiếng của những cái nắp hầm xè xè trên miệng hầm ngắn, đằm, hơi rờn rợn.
Tiếng súng nổ rất đanh. Nhưng mà sợ nhất là sự im lặng. Đến những đứa trẻ cũng ưu tư. Tiếng loa trên đường phố đâm có ý nghĩa.
Chiến tranh nghĩa là gì? Nghĩa là mọi hoạt động ngưng lại, ô tô ngưng lại, người đi đường ngưng lại, cho đến cả những chiếc xe rác cũng ngưng lại. Một đứa trẻ ngồi bên bờ Hồ đòi... ị. Người mẹ nói cái gì, nghe rõ nhất chữ "quấy đảo" "quấy đảo". Nói về đứa con hay về máy bay?
 Những gì bình thường nhất cũng phải ngưng lại như vậy chăng? Nghĩ đến sự chết. Đổ nhà đổ cửa.
Hai người đàm đạo kiểu tếu:
--Để mai ta mang bom đến Hoa Thịnh Đốn ta ném mới được.
- Ông ghé cái A pô lô xuống cho tôi đi cùng với.
Chợ Đồng Xuân. Phố Hàng Đường. Phố Hàng Ngang. Những phố xá của một thời Hà Nội. Hàng hóa còn đang dọn dở. Người đứng nhìn ra đường. Cái loa đầu phố song sóc. Các đồng chí dân phòng không cho người lạ vào khối ta nữa...
Người Hà Nội sống bằng niềm tin gì? Trong chiến tranh, người ta sống bằng gì?
Lần đầu tiên... Không, bây giờ không phải lần đầu tiên nữa. Nhưng tôi vẫn có cảm giác là lần đầu tiên. Không ai quen được với chiến tranh. Cũng như nghe một ngàn loạt đạn rồi, đến loạt ngàn linh một vẫn cứ sợ.
... Quen như mọi khi, tôi bổ ra đường đêm báo động. Đôi giày "săng đá" vang lên âm thầm, không thấy ai nói. Tôi yêu những người dân phòng mũ sắt đang đứng trên đường. Trong đêm, tôi yêu tất cả phố xá. Ngồi trên ghế đá Bờ Hồ, tôi duyệt lại tình yêu Hà Nội. Cho đến khi những vệt đèn hướng lên, như trong một buổi tối. Người đi đầy đường. Những lần tan một cuộc vui, người cũng đông vậy. Tôi nhớ sắp đến những ngày vui, sắp Noel, sắp đầu năm mới.
... Nhưng mà chính vì thế mà Hà Nội bất ngờ. Đèn mới tắt được vài phút thì lại nghe đạn nổ, đạn đỏ lừ ở phía Nam. Chiến tranh là chuyện bất ngờ, bao giờ cũng là chuyện bất ngờ. Nhưng lần này thì Hà Nội bất ngờ thật.  Tôi nhớ câu nói của người thanh niên lúc báo yên. “Nó xơi mất một tiếng hai mươi phút còn gì”.
Người Hà Nội quen làm việc theo giờ giấc, người Hà Nội đêm nay sẽ được biết một cuộc chiến tranh không giờ giấc, có thể nói là suốt đêm.
Tôi đi bộ từ Bờ Hồ về cơ quan trong tiếng súng. Một chiếc máy bay bay thật thấp, vụt qua. Cái chết vụt qua, may nó không chạm vào mình. Nhiều người chia nhau cảm giác may mắn đó khi gặp lại nhau.
Những người cơ quan tôi từ nhiều phía mang về những tin khác nhau ở chi tiết, nhưng giống nhau ở sự bất ngờ. Nghệ thuật vẫn len vào cuộc sống, nghệ thuật lại chung số phận trong chiến tranh. Đoàn ca múa TCCT hôm qua còn biểu diễn cả tối cho chúng tôi xem, hôm nay phải ngưng lại. Tôi nghĩ đến Linh, một cô gái tôi quen. Có thể chăng, những diễn viên như Linh đêm nay lại phải đi khỏi Hà Nội. Tôi nghĩ đến cái lúc họ vừa quệt nốt một vệt son còn sót lại trên má, vừa dõi theo cái heo hút bên đường. Những cặp người yêu nghĩ đến một điều gì vừa mất đi cùng Hà Nội. Những người xem cũng cảm thấy vừa mất đi một cái gì đó cùng đoàn văn công. Nhưng họ đi là phải. Báo động gần suốt đêm.
Chưa bao giờ Hà Nội lay động cửa nhà như vậy. Tôi nói lay động nghĩa đen. Bom ở đâu không biết nhưng cũng không phải là gần (chính bom gần, nghe tiếng bom, đón hơi bom, rất nhỏ).
Nhưng sao vẫn lay động.
Rơi cả những bức ảnh trên tường nhà chị tôi, rơi rụng cả những kỷ niệm.
Và tí nữa rơi rụng cả cái đồng hồ, rơi rụng cả thời gian.
Và ở khu vực Láng Hạ... Đã rơi rụng cả một cái gì của không gian và thời gian, rơi rụng những kiếp người. Chết người, tất nhiên là cùng chết theo những gì thân thiết nhất của mỗi kiếp người. Mái nhà ấm gia đình, những vật dụng gia đình.
Một đài nước ngoài nhắc lại tin của một người Hà Nội rằng trong mưa, lửa vẫn cháy. Tôi vẫn chui rúc trong sợ hãi, ngủ vùi ở tầng hai cơ quan trong liều lĩnh  -- cũng chẳng cần biết và không thể biết được những gì đã xảy ra chung quanh mình.


19-12. Hương Ngải
Chỉ biết rằng đêm qua, cả Hà Nội thức. Một đêm kinh khủng của 8 năm nay từ hồi chiến tranh phá hoại; 18 năm nay, từ hồi hòa bình 1954; và có thể 26 năm nay, từ hồi toàn quốc kháng chiến.
Buổi sáng mai, trở dậy, đã nghe đài Hà Nội veo vẻo. Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược... Tiến đến đánh thắng hoàn toàn... Ông Châu cười khảy: Những gì đêm qua không báo hiệu gì cho luận điểm đó cả.
Cả Hà Nội, từ trên xuống dưới, đã đứng trước một chuyện không ngờ. Film xi-nê mới chiếu trong phạm vi hẹp trở lại từ hôm 18-12. Báo động trong lúc các ông cốp tuyên huấn đang duyệt văn công. Những người khác cũng vậy.
 Những gì bi quan nhất đã đến với tôi. Có lúc tôi tưởng như  tuyệt vọng.
Tôi đã ở những vùng bị ném bom. Nhưng không đâu tôi cảm thấy sức tàn phá man rợ như ở đây. Và thách thức như ở đây, ở một thành phố. Nhớ những lần ở trong vòng bom. Lần này chỉ ở ngoài, sao cũng sợ. Cảm thấy như ai đó đang đạp vào đầu mình. Cảm thấy như tôi đang cùng với một đoàn người nào đó bị vây. Tôi nhớ tới sự làm nhục, kẻ yếu bị kẻ mạnh làm nhục. Ở Thái Bình, máy bay địch đã từng bay rạt nóc nhà suốt đêm, để dọa đàn bà và con trẻ. Rất có thể, ở đây, phải gọi là chúng tôi cũng bị làm nhục. Đã có lệnh là phải sơ tán trước 4 giờ sáng. Biết đâu, địch sẽ đánh suốt từ giờ đến sáng, và không ra được nữa.
(Hôm sau, những người ở xa Hà Nội nói rằng ban đêm, tưởng là Hà Nội bị đánh vụn. Tưởng người ở trong Hà Nội đã chết, không còn ai ra được nữa).
Sự bi quan đã đi đến tột cùng trong mỗi người. Tại sao? Chúng tôi không còn chỗ dựa. Hà Nội vốn là chỗ dựa về mặt tinh thần, đã bị sụp đổ. Cảm thấy  cô đơn. Mọi khi bao giờ cũng cảm thấy còn có một nơi nào đó đang chiến thắng. Nay thì nơi đó không còn .
Vì sao, vì sao? Cũng không hiểu được nữa.
Lấy một người dân bình thường để nói tiếng vọng của thời đại vào họ. Một người như bà chị tôi, chị nói:
- Người ta bảo ông Thọ đi thì mừng, ông Thọ về là mang bom mang đạn về theo thôi. Ở bên kia, ông ấy đập bàn đập ghế với nó, thì bên này mình khổ.
“Chủ quan” “Cảnh giác”. Tôi lại chợt nhớ tới tiếng nói của một thứ người tuyên huấn, cứ lên gân lên guốc. Và cái câu lắp đi lắp lại của người ta, là chớ chủ quan khinh địch.
Nguyễn Minh Châu: Đến Hà Nội còn mất cảnh giác, thì trên thế giới này đâu không mất cảnh giác nữa?
Lại một lần nữa, tôi thấy rằng cả những người bi quan nhất cũng không bi quan bằng thực tế. Thực tế đáng bi quan hơn nhiều. Lâu nay, có ai trong chúng tôi tưởng tới việc Mỹ đánh lại miền Bắc.
Phụ lục
 18/12  7g  tối, Nhà trắng còn tuyên tố cải chính đánh ra ngoài vĩ tuyến 20. Nhưng 8 g thì Hà Nội báo động. Nixon đã ra  lệnh đánh lại "cho đến khi có giải pháp" Giải thích, người ta không thể lợi dụng hòa đàm để chuẩn bị một cuộc chiến đấu khác. Không thể để cho miền Bắc yên trong khi chiến tranh ở cả miền Nam.
- Những ngày 18/12, 19/12 Mỹ huy động 500 máy bay, và 100 B52 đánh miền Bắc. Giá 1 B52,3 triệu đô la. Giá F 111 còn đắt hơn 1 B52.
- Mỹ dùng 1 tỷ đô la để mua 20 vạn cán bộ ở sông Cửu Long (giết, hủ hóa...)
- 1 ngày Mỹ chi cho chiến tranh Việt Nam 36.633,64 đô la cho chiến tranh Việt Nam
-  ngoại thành Hà Nội hơn 100 xã,thì 90 xã bị đánh.


Ngày hôm nay 19/12, tôi lên sơ tán trong không khí chiến tranh sôi động. Người đạp xe đạp nhoay nhoáy trên đường. Xe quân sự, loại xe to, cao kềnh càng, chở lính ngồi chật ở trên, lao về các trận địa Hà Nội. Những tên lửa để dọc đường bây giờ được kéo về đặt trên xe, những chiếc xe to lớn kéo nó lao đi rất nhanh. Dễ có chiếc xe nào cán phải người rồi cũng thôi. Bây giờ, người ta đang phải vội.
Tôi nhớ tới Hà Nội tôi vừa từ đó ra đi, Hà Nội trong buổi sáng, tôi trở dậy. Trong cái tĩnh lặng của  buổi sáng, cảm thấy không khí chiến chinh rõ nhất là ở tiếng nổ của một kho đạn gần đấy. Tiếng nổ không to, nhưng cứ cầm canh đều đặn như một thứ nhắc nhở mọi người về một thực tế. Cái thực tế này, mọi người đã biết, nhưng vẫn là ghê sợ khi thấy nó cứ rung lên bần bật trước mặt như vậy.
20/12
 Qua đi 2 đêm liền, tiếng B52 ù ù trên trời như tiếng cối xay. Lại có thể quen chăng?
Tình hình đại cục, bây giờ biết hỏi đâu? Có nhiều chuyện đúng là phải trở lại từ gốc, từ thời gian dài, với những vấn đề lớn. Là một người bình thường, tôi tạm vẽ ra như thế này có đúng: Chúng ta đã nhìn nhận miền Nam như tình thế hồi kháng chiến chống Pháp. Chúng ta, trên nét lớn, vẫn dùng lối đưa quân vào, vận động quần chúng như vậy. Cho đến Mậu Thân. Từ Mậu Thân tình hình đã khác. Chiến tranh hóa thành một cuộc viễn chinh miền Bắc vào miền Nam. Nói dân miền Nam theo nó không đúng. Nhưng họ mệt quá rồi, họ mặc kệ. Và nó đổ vào tiền của xây dựng. Một dấu hiệu thất bại của ta là Quảng Trị giữa năm . Một nước nông nghiệp, không thể nuôi một đạo quân viễn chinh, dù là viễn chinh ở một phần đất nước của mình.
Bây giờ thì hòa đàm mới thực sự có ý nghĩa. Hòa đàm lúc trước với hy vọng đòi để đỡ phải đánh mà vẫn được. “Anh biết điều anh nên chạy trước. Tôi đòi như thế này cơ".
Hòa đàm bây giờ, với ý nghĩa mở cho mình một lối thoát. Thôi, việc trước mắt đã chịu, bây giờ tạm nhận lấy một con đường yên. Miễn là với điều kiện giữ lấy khả năng tiếp tục gây biến động, tìm cách đi đến mục đích về lâu về dài.
Nhưng lại gặp phải một thằng địch quá quắt. Nó khôn ngoan, nó thừa biết ý định chiến lược của mình. Nó tìm mọi cách chẹn cái xu thế đó. Một nền hòa bình đầy cạm bẫy. Đúng là nó đã nhậy cảm hơn bao giờ hết. Nó không chịu.
       Có phải trên thế giới hiện nay, phía cách mạng đã nhiều phen không thắng trong hòa bình, như đã không thắng trong quân sự. Người ta chưa chịu rút cho mình bài học kinh nghiệm.
Thế là mặc cả cũng không xong. Nó lại đánh. Y như nó phải dồn mình vào cái cửa thương lượng của nó vậy. Tùy thuộc vào sức chiến đấu, và sự chịu đựng của mình.
Một khả năng nhiều người đã tính tới. Nó sẽ đánh ra, một cuộc nội chiến thật sự -  lúc ấy sẽ lôi thôi lắm!
Khải:
- Tôi chỉ sợ các ông nhà mình nghe báo cáo sai lạc đi thôi. Báo cáo cấp dưới xưa nay đều muốn vừa lòng cấp trên. Cấp trên cũng chỉ thích nghe những điều mình đã định kế hoạch. Thế là khéo thậm thụt đánh một mùa khô nữa. Khốn nạn, chính là chiến tranh thì dễ, cứ bài bản cũ, công tác tư tưởng cứ phải tiến lên thôi. Còn như hòa bình, các ông ấy phải đối mặt với địch, lại phải đối mặt với dân. Người ta sẽ hỏi những cố gắng trong chiến tranh mang lại cho người ta những cái gì? Thế thì biết trả lời sao.
 (Nguyễn Minh Châu hay nói, suy cho cùng, chiến tranh nó vẫn có cái đơn giản của nó. Hòa bình lúc nào nó cũng mang sẵn trong mình nhiều hiểm họa)
- Vừa rồi, cứ tưởng là ràng buộc được nó. Xuống dưới Hải Hưng, ở huyện ở xã toàn nói chuyện kế hoạch chiến đấu chứ có nói chuyện gì đến hòa bình đâu? Nào là mình đánh nó trong kia. Nào là thế giới phản đối. Đi đâu cũng nghe phổ biến hòa đàm tốt lắm. Nó chịu mình nhiều điểm cơ bản lắm. Thế mới chết.
- Ngay cả trong đàm phán nữa. Đúng là anh nhà quê chơi với thằng tư sản. Nó có nói mát cho mấy câu cũng không biết. Lại tưởng là xỏ được nó, nào nó có cần gì? Lại nghe có chuyện bao nhiêu điểm, chính nó cũng rối. Nó có rối khối nó ấy. Mình cứ lấy mình mà suy ra nó. Khốn nạn, ngay mình lừa các ông ấy cũng dễ nữa là. Đáng tuổi bố mình mà mình vẫn lừa. Như lần nào gặp ông Song Hào,  Hữu Mai chỉ xin đọc bản tin, cũng không được. Các ông ấy chỉ vặn lại các anh biết lắm làm gì, đã học hết đường lối chính trị của đảng ta chưa? Đường lối chẳng phải sâu xa mà các anh đi mãi không hết hay sao? Hoặc như tôi, cứ nói nào mình ghen với những anh em trẻ mới được đào tạo, thế là cấp trên bằng lòng ngay. Lại còn sợ anh em bi quan nữa. Khốn khổ, toàn những thằng đập đầu không chết, cứ xoen xoét, xoen xoét, mà vẫn cứ tin.
Hữu Mai:
-- Phen này thì các ông lên hang đá Hòa Bình rồi, có điện có nước đầy đủ. Chỉ có dân đen là khổ.
21/12
... Lần đầu tiên Hà Nội bị uy hiếp mạnh như vậy.Ta giờ như cá nằm trên thớt. Con đường từ Từ Sơn về Yên Viên nát nhừ, xe đạp không đi được nữa. Vứt ngổn ngang ra đường là bánh mì, thịt lợn, và có khi cả... thịt người. Nhiều người mất tích lắm.
... Cũng lần đầu tiên, đài phát thanh Hà Nội bắt rất khó. Nói như danh từ mới xuất hiện, tức là hệ thống chính trị đã bị đánh phá.
Một cụ già nói: Đánh nhau lâu quá rồi. Khéo phải tìm người can. Bây giờ không có trung thần, ngự sử như cũ nữa.
22/12
Tính lại những nơi bị bom đánh.
Đêm 18/12 Đánh Láng Hạ (đài phát thanh, thông tin) Yên Viên, Lương Yên. Ngoài Hà Nội:  Vĩnh Phú (sân bay) Kép
Trưa 19/12 đánh Bạch Mai, trường ĐH Bách Khoa...
- Tối 19 đánh B52 Yên Viên
- Tối 20 đánh trận địa từ An Dương đến Phúc Xá
- Trưa 21 đánh ga Hàng Cỏ, ga Giáp Bát, đại sứ quán Cu ba gần đấy.
- Tối 22 đánh lại Yên Viên, Gia Lâm. Đánh từ Vọng xuống Đuôi Cá.
Không biết đánh những hôm nào( sau biết là trưa 21/12) mà hỏng một phần nhà máy điện Yên Phụ. Tàu điện ngổn ngang trên đường. Không chạy được. Có thời gian mất nước.
Xuân Sách: Nó đã nổi khùng lên rồi. Thế này tức là nó sẽ đánh đến cùng. Đánh thế cũng là hạ sách, cũng là mất nhân tâm. Nhưng đã thế, lại phải làm bằng được, làm cho xong đi.


Những gì đã xảy ra với mỗi người dân ở cạnh những mục tiêu bị đánh, những mục tiêu quân sự  ai mà biết được. Đang đêm, bom ù ù trên đầu. Tường đổ, nhà sập, vợ chồng cha con chúi xuống hầm. Ngẩng lên, không còn là nhà mình nữa. Không còn hàng xóm. Ở An Dương người chết, không đủ quan tài, nhiều người phải  bó bằng ni lông.
Những gì người ta tưởng thiêng liêng nhất cũng đã bị đánh: ga Hàng Cỏ (ga Quốc tế)
Những gì ở rất xa, chỉ khiến người ta sợ bóng sợ vía, thì nay đã đến - B52.
Còn có thể nghĩ gì nữa. Trong đêm báo động, tôi bảo thấy rất rợn. Mai Ngữ bảo không sợ nhưng chỉ chán. Ông Vũ Cao thấy nó hơi ra áp-xoét, hơi phi lý và ma quái. Có lẽ vậy. Mai Ngữ kể có con gà định ăn chờ hòa bình, bây giờ sơ tán, làm thịt luôn. Thịt cứ đắng ngắt.
Đã gọi chiến tranh là không có bờ bến. Là một sự kỳ quái vô thường. Tại sao tôi vẫn mong có một cái gì đó giới hạn. Và mỗi lần, tôi lại thấy như lần đầu hiểu được chiến tranh!
Hình như có những người không hiểu, dù là chính họ khơi mào ra chiến tranh- các nhà chính trị. Bây giờ họ vẫn đủ phương tiện làm việc. Báo Mỹ viết phải mang chiến tranh đến châu thổ sông Hồng để cho các lãnh tụ Hà Nội biết chiến tranh là như thế nào.
Có thật là như thế. Một người dân: "Bây giờ đưa con cho đảng và chính phủ thì cũng như trong truyện  Thạch Sanh nộp con cho Mãng xà vương rồi còn gì?”
Rút cuộc, người ta lại bàn tới chuyện ấy, chuyện những những người gieo rắc chiến tranh. Có phải vì mải chứng minh cho một lý thuyết, một chủ nghĩa? Có phải vì muốn làm nốt cái sự nghiệp vốn đã vẻ vang của mình? Và luôn luôn là nhân danh nhân dân, nhân danh dân tộc. Lúc chúng tôi đứng ở cái hầm sau nhà tạp chí, hầm còn là loại khá so với hầm của các gia đình chung quanh, tôi nhớ tới những cái hầm xây mất hàng ngàn, hàng vạn bạc. Ông Mạn bảo hầm thế thì đánh đến già.
Như lúc chúng tôi đi xe đạp đạp trên đường, tôi nhìn những chiếc ô tô Volga nối đuôi...
Nhưng mà đó còn là tiểu tiết. Còn chủ nghĩa ư? Biết làm sao nói được. Biết là phải, nhưng có làm được đâu. Tôi nhớ một ý nói về ông Mác: ông ta đã nhân danh sự sung sướng, lẽ phải, mà gây ra nhiều cuộc chém giết ghê gớm nhất trong lịch sử. Đúng thế chăng? Vì luôn luôn, ở Hà Nội, tôi còn nhớ đến Sài Gòn. Tôi nhớ tới cảnh thất tán của những gia đình ở Quảng Trị. Một người dân từng bảo chiến tranh tưởng ngày một ngày hai thuyên giảm lại nặng thêm ra. Bên nào cũng muốn chứng minh cho ý chí của mình bằng được.
Phiêu lưu? Nhưng hơn thế nữa, vô nhân đạo. Người ta đang có lý thuyết về 3 nền văn minh. Nền văn minh Âu Lạc (trống đồng Đông Sơn?). Nền văn minh Đại Việt (đánh thắng Nam Hán, Tống, và đánh quân Nguyên). Và bây giờ là nền văn minh thứ ba. Chao ôi! ảo tưởng.
24/12 Hà Nội.
 Còn nhớ là tối 17 đi xem văn công Tổng Cục Chính Trị về, tôi  tha thẩn mãi ngoài đường. Tôi đi trong đêm sương tháng chạp. Tôi đi trong phố xá sạch sẽ. Tôi đi trong một không khí tết đến nao lòng.
Tối sau nó đánh.
Hôm nay, 24, một tuần đã qua, một tuần chiến tranh khủng khiếp nhất của Hà Nội và những người Hà Nội.
Những ngày này, ao ước về một cái tết đến gần, một cái tết nhất làm ăn sau một mùa hè dài vất vả. Nhưng sao những ngày này lại chính là ngày của chiến tranh. Một sự vỡ mộng đến cay đắng.
Nói với XQ: Người ta bảo rằng trẻ con mới yêu tết, mới yêu đời. Còn người lớn, không yêu được như thế nữa, người lớn hay buồn. Nhưng đâu phải vậy. Nhièu người lớn chẳng yêu đời kém hơn một đứa trẻ. Buồn hơn cũng là vì yêu đời hơn. Càng hiểu hơn, càng cay đắng với nó hơn, cũng là vì càng yêu nó hơn mới đúng.
Có một cái gì đó, trong những ngày này, làm cho tôi yêu Hà Nội hơn bao giờ hết.
Có lẽ vì tôi thử đặt đời tôi ràng buộc với một cô gái không phải ở Hà Nội. Và lúc đó, tôi cảm tưởng tôi mới hiểu hết một cái chất gì đó của Hà Nội, mà tôi suýt nữa đã bỏ qua. Một kiểu quen biết. Một cách nói chuyện. Một lối tự giới thiệu. Một quan niệm về cuộc sống. Tôi nhớ  đến Diễm. Giả sử không có chuyện VA, thì cô ấy thật đáng phải nghĩ tới. Có một cái gì đấy là cuộc sống của ngày hôm nay, lại không phải hoàn toàn như vậy.
25/12
Trong nhiều năm nay, mùa hè đối với tôi là mùa ra đi, đi xa, là mùa của công việc, dự định. Còn mùa đông, mùa rét, một ngọn đèn dầu, một trang giấy trắng, nhưng điều phải làm, và chao ôi, mùa của ao ước về những hạnh phúc gia đình, mùa của tình yêu và gợi ý về tình yêu. Bây giờ thì khác.
Nhớ hôm bom đánh đúng phần nhà chính ga Hàng Cỏ. Người đứng xem, sau bốn ngày, còn đông. Những khẩu hiệu để bên cạnh ga đỏ vàng một cách lạc lõng.
Một khoảng trống nứt ra ở cái nơi mà hôm qua nguyên lành. Ở đó, hôm qua, là một khung nhà. Hôm nay, đưa mắt nhìn lên, không thấy cái khung nhà ấy nữa. Hôm nay, là những đường viên lởm chởm, của một cái gì nứt ra, không thành hình gì cả.
Tôi đến khu tập thể ngõ Lý Thường Kiệt. Người đang bới đồ đạc, vôi bụi bám vào mặt vào mày, như là vừa từ đống bom đi ra. Người ta làm dây chuyền chuyển gạch. Người ta mang vôi, đổ từ đống này sang đống kia. Một căn gác vặn vỏ đỗ đổ dở dang. Một người đàn ông đi với một người đàn bà. Người đàn bà ăn mặc kiểu Hà Nội. Người đàn ông áo bộ đội, mũ giải phóng, cầm cái gậy, như người ta thường nói, chiếc gậy Trường Sơn. Họ đi từ căn gác hai đang vặn vỏ đỗ lần xuống.
Tiếng mấy học trò cấp 3:
- Nhà cô Hằng đấy.
- Hết rồi còn gì.
- Cô bảo lúc đi chỉ người không.
-  Giờ đồ đạc mất hết. Khổ. Đúng, cô giáo có mang cái gì lành lặn đi đâu.
- Thì cũng như chúng mình, toàn mang quần áo rách.
Buổi sáng Thiên chúa giáng sinh. Tôi xuống bệnh viện Bạch Mai. Dãy nhà lá bên kia đường tơi tả. Chính bên viện, căn nhà khoa tai mũi họng cũng sóng xoài. Mặt đường từ cửa trở vào còn đầy bùn đất. Cái cửa sắt bị vặn vẹo, trở nên sắc nhọn. Tôi đứng áp vào cái cửa sắt nhìn. Bên trong, nơi gian nhà đổ có mấy người đứng một cái chiếu úp trên một cái gì đó. Lúc cái chiếu mở ra, thấy mấy cái áo quan. Mấy bát cơm đơm có ngọn, trên có những nén hương. Nhưng mà người ta chưa đóng áo quan. Một lúc sau, thấy có người lấy búa ra, cầm búa gõ vào áo quan. Nẹp những cái đinh cuối cùng vào đó.
Tôi đứng ở cái cửa thường trực. Những người đứng xem. Chỉ là số ít. Trong chốc lát, bao nhiêu người ra vào. Nhân viên đến hỏi địa điểm sơ tán. Con nhân viên đến chờ cha mẹ. Những người bộ đội đánh xe vào, một gã bộ đội nghênh ngênh đôi ủng.
Một ô tô chở công nhân đến thu dọn (nhiều người đã mặc áo mưa, mặc áo lao động, ngồi sắp hàng trên xe, bắt vào một việc quan trọng lắm).
Ở cái đất nước này, chết chóc nghe đã trở thành bình thường. Những ngày tôi về Hà Nội lần này, thấy nhiều vành khăn tang, nhiều người khóc chồng khóc con, mắt khóc sưng lên đi trên đường.  Mấy trăm người? Mấy nghìn người cho vừa? Không thể quen được...


Những nỗi khổ còn lại đổ lên vai những người sống, trong buổi chiều lễ giáng sinh, tôi thấy ở khu vực An Dương là rõ hơn cả. Những nhà sập không gì thay thế được. Nhưng ở bãi An Dương, tôi đã thấy người ta đi trốn. Làm nhà, làm hầm ở giữa bãi cát. Ghếch cái bếp ra bên cạnh. Những xô nước đục ngầu. Một người mẹ còn trẻ giặt tã lót cho đứa con đầu lòng, phơi ra ngay trên những cây dâu bãi dâu ngoài sông.
Có một Hà Nội, Hà Nội dọc bờ sông. Hà Nội của lụt, cũng là Hà Nội của giặc phá. Tai nạn gì cũng làm cho khu bờ sông -- đứa con nhà nghèo, như là bị bóc trần ra, không có chỗ dựa. Lần đầu tiên, khu An Dương bị bom. Những mái nhà bật tung lên, cát bị hất lên mái nhà. Ở cái bãi cát chỗ ngã ba sông, trước khi đổ ra bãi giữa, tôi thấy một Hà Nội muốn lẫn đi trong cát. Chiến đấu, súng cũng tìm cách vùi giấu trong cát. Xe ô tô tải, xe xích tìm một chỗ cuộn trong cát. Và trên cát là những tấm ván người ta bỏ nhà khênh ra. Trong buổi chiều mùa đông, đất trời ảm đạm, cây dâu xanh như lẫn đi, màu nước bạc cũng hóa xỉn đi. Thấy cuộc đời này vừa vô tận, vừa ngắn ngủi, mà sao mong manh quá, mỗi kiếp người thật mong manh.
Tôi không cầm được nước mắt, khi thấy một đứa bé đi theo mẹ ra hầm. Em bé gái độ 3 - 4 tuổi, cái áo đông xuân cũ của người nhớn mặc trùm kín đít em cầm cái chổi lúa vừa đi, vừa nói với mẹ. “Con cầm chổi đi, như là con ra trường làm vệ sinh, mẹ nhỉ!” Thế nghĩa là em còn nghĩ tới bao nhiêu điều tốt đẹp. Em còn nghĩ đến ngày em đi học.
26/12
Tối hôm qua, đi cùng với Tính trong một buổi tối vắng người. Và tôi tưởng tôi có thể đi suốt cả tối, đi trong im lặng, đi trong niềm vui duy nhất, có một người cùng đi với mình, thế là được rồi. Ngoài ra thì tôi không muốn nói gì nữa, và cũng gần như không muốn nghe gì nữa. Hạnh phúc, mất mát tất cả đều là có thật. Hy vọng ư? Nên lắm. Vô vọng ư? Tất nhiên thôi. Cuộc đời là biến cải, là mất mát, là bị vượt qua. ở tuổi ba mươi, tôi đã già đi, đã yếu đi. Tôi luôn cảm thấy bất lực trong mọi ý nghĩ. Nhưng rõ ràng, vẫn có đó, một đời sống, một hy vọng, một cái gì thành nếp. Có những người đẹp, có những niềm vui (những niềm vui trong sạch thật sự chứ không phải những niềm vui thật hèn). Những ngôi nhà rêu phong, nó là những gì làm nên quá khứ. Con người cũng chỉ là những bằng chứng như những ngôi nhà ấy. Và chúng ta, những người sống, là sống cùng với tất cả những gì còn lại.


Ban đầu, chúng tôi đi vào cái khu gồm mấy phố mạn Quan Thánh, Hàng Bún.
 Hàng Bún vắng, tối, sự vắng vẻ đáng yêu mọi ngày trở thành một sự gì ghê sợ. Tất cả các nhà đều đã bỏ đi hết. Tưởng nhiều nhà là cái nhà hoang, xộc vào, ở trong sẽ có ma. Chúng tôi không vào, chỉ ngước lên trời. Bầu trời Hà Nội trong các ngõ vắng cắt ngang cắt dọc thành những đường thẳng; bầu trời hình chữ nhật, hình vuông; một thứ bầu trời giữa các nhà 2 tầng, 3 thầng. Đã có chỗ chúng tôi thấy những bầu trời qua các mái ngói bị lật tung ra. Bầu trời thành từng ô, từng ô - nó cũng bị xé rách.
Men theo phố Cửa Bắc, chúng tôi cuối cùng cũng đến gần nhà máy điện. Ban ngày, đã thấy hai ống khói vặn vẹo. Ban đêm, chúng tôi chứng kiến một dấu hiệu cái chết kinh khủng hơn -- cái chết yên lặng. Cái nhà máy vốn ồn ào. Vắng những tiếng tuyếc bin mọi khi, hôm nay nó như một nhà mồ. Tính bảo hình như nó phát ra cả hơi lạnh nữa. Tính nhớ tới những cái bốt hồi kháng chiến chống Pháp. Đi qua đấy, mẹ bảo qua đây phải im lặng không được ho. Không được khóc. Cái nhà máy điện ấm nhất thành phố, nóng nhất thành phố, hôm nay như vậy. Không thấy cả người lính CANDVT đứng gác mọi khi. Ở một vòm đá, như ở cái lỗ chào mào thò ra, còn ánh sáng, không chừng có ai còn ở trong đó.
Chúng tôi đã đi quanh nhà máy. Trở lại phố Hàng Bún, đi quành phố hàng Than. Đường phố Hà Nội dạo này trớ trêu, có quãng điện sáng y mọi ngày. Có quãng ngọn đèn chỉ là một chấm đỏ y như những chấm hương. Và cả phố là một cái áo quan thật dài. Những liên tưởng của chúng tôi hơi tệ chăng. Nhưng chưa bao giờ Hà Nội biết đến chiến tranh kinh khủng như vậy.Ở phố Hồng Phúc, đã thấy người ta đào hầm ngay bên hè, đất đắp cao lên, như một thứ hầm kiểu riêng của thành phố. Nhìn xuống dưới hầm, một ngọn đèn dầu, mấy mặt người nhóa nhòa bên trong. Tính bảo như Quảng Trị.
Không hiểu sao, trong những ngày này, tôi lại nghĩ nhiều đến tình nghĩa. Nghĩ đến tình bạn. Tôi thường đến mọi người để mà biết rằng họ không việc gì trong những ngày bom đạn vừa qua. Chúng tôi ngồi trong phòng.Tất cả im lặng. Không biết nói chuyện gì. Không dám cười, không dám nói xấu che bai châm chọc nhau như mọi khi vẫn làm. Chỉ ngồi đấy, nghĩ rằng có nhau. Có cái cuộc đời buồn bã này.
Trên con đường Yên Phụ, một đôi nam nữ đứng với nhau, điếu thuốc lá của người con trai đỏ lên trong đêm. Ở phố Hàng Than chúng tôi thấy một đám cưới. 7g 30 tối, đám cưới đã không còn khách nữa. Hai hàng ghế sạch bóng. Có lẽ chẳng có mấy khách, đèn sáng, trên tường tấm vải đỏ dán chữ song hỉ thật trắng.
Hạnh phúc? Chưa chắc. Nhưng vẫn là hạnh phúc. Lúc này, người ta vẫn phải cưới nhau, vì cái hạnh phúc bao lâu nay chuẩn bị, bây giờ đã chín muồi, cuộc sống của cả đất nước trì trệ, nhưng cuộc sống của mỗi người vẫn là phải vận động, và đó là một bi kịch.


27/12
Khi một người đứng đắn nhất cũng đã phải kêu, thì không phải chuyện thường.
Hữu Mai bảo năm 72 này ông ấy bị bao nhiêu chuyện bất ngờ. Nixon qua Trung quốc, Liên Xô, nó làm được như thế, là một thứ bất ngờ. Đánh vào Quảng Trị, dân không nổi dậy - bất ngờ. Quân ngụy trụ vững - bất ngờ nữa. Cuối cùng, là việc nó đánh ra như thế này. Trong một năm, bị bao nhiêu chuyện bất ngờ thế còn nói gì nữa.
Văn Thảo Nguyên kể ở trên một chuyến đò qua sông Hồng, dân chửi ông trên như Trần Duy Hưng:” Nó chỉ sướng cái thân nó. Nó có hầm có hố cẩn thận rồi mà.”
Một người cán bộ bực bội nói lại, cáu lắm, tưởng có thể vứt người kia xuống sông.
 Đại khái dân thắc mắc vậy mà người ta thì làm công tác tuyên truyền theo kiểu cũ. Một lần, ông Cục phó của chúng tôi đến bảo nó đánh B52 thế này là mình càng có dịp lập công. Còn trên đã dự kiến rồi, ta không chịu đi sơ tán, ta chết là tại ta.
Khốn khổ, lúc nào cũng nói là ta đã dự kiến rồi. Y như một người bị đánh hộc máu mũi nói với thằng khốn nạn nó đánh mình rằng biết mà, biết mà, biết là mày sẽ đánh hộc máu mũi tao mà.
Nhiều cán bộ nói một cách vô liêm sỉ: Bây giờ nó chỉ còn có cách đánh Hà Nội là cùng chứ gì? Cứ dương dương tự đắc về một thứ thế cùng mà mình dồn nó vào như vậy.
Không ai nghĩ đến dân chết. Rất nhiều dân chết.
Có người nhớ tới chiến tranh thế giới thứ 2. Nhật hoàng vì thương dân  mới quyết định đầu hàng.(Theo công bố trong tuần đầu Mỹ đã ném xuống một khối lượng bom bằng 2 lần số thuốc nổ quả bom ném ở Hirôsima).
Lại xoay sang tình hình chiến sự. Đài bên kia công bố họ đòi 5.000 quân kiểm soát. Ta chỉ cho có 250, lại không có điện đài, phương tiện. Âm mưu là để giữ quyền tiếp tục khống chế miền Nam.
- Ta nghĩ cạn lắm cơ. Nghĩ rằng mình có quyền ràng buộc nó vào một hiệp nghị. Nghĩ rằng nó sẽ phải tôn trọng trong khi thực tế, nếu cần lúc nào nó cũng xé toang những cái đó.
- Bây giờ không thắng nổi nó lại còn tính chuyện thắng nó trong tương lai!
Và người ta mở rộng ra:
- Phen này ta vào Sài Gòn xem, không một vụ chém giết kinh khủng chắc? Rồi đưa dân Sài Gòn đi, chiếm nhà, có khi lại còn chiếm cả vợ con họ nữa. Ký hiệp ước ngày 26/10, mình không làm một cú tràn xương máu ấy à.
- Nghĩ cho cùng cách mạng mấy chục năm nay, chỉ thấy phá chưa thấy xây gì. Hưng Yên, Nam Định, Phủ Lý ngày xưa lúc thị xã nhỏ đẹp lắm... Phá thành phố, phá đình chùa, phá cả những nền nếp cũ.
Mỗi ngày đài lại có những bình luận:
- Tai họa Việt Nam cũng tựa tai họa của Ni- ca –ra - goa.
- Kẻ thù của loài người là vô vọng.
- Chiến tranh hiện nay-- chiến tranh tùy theo sự tức giận.
- E. Kennedy: Người ta phải nghe quá nhiều những lý do đã trở thành nhàm tai từ cả hai phía, mưu chiến cũng như phản chiến.


Tôi đang cùng mọi người ngồi trên khu sơ tán Hương Ngải để nhớ lại.
Tối 26/12,  Mỹ ném bom dữ dội khu Khâm Thiên. Nhà lá dạt xuống.
Tối 27,  một B.52 rơi tại Bách Thảo.
Tối 28, ném Nhật Tân, Chèm...
 Tiếp tục họp được với nó, tưởng đã có thể xong. Có một hồi đã có nhận định bây giờ sức mạnh của nó là không gì ngăn cản nổi. Nhưng mà lại miệng khôn trôn dại, bây giờ lại vẫn ì ra, im.Thương nhất là dân. Hết đám này bới chưa xong, lại đến đám kia.
Nhị Ca: Biết cách làm ăn của mình rồi. Ngay thời thịnh trị, có mỗi cái máy mà toàn phu khuân tay, phu đói thì làm ăn ra gì, chỉ thấy toàn khẩu hiệu.


Mỗi ngày của người ở sơ tán bây giờ  thường diễn ra thế này. Sáng đến gặp nhau, bàn nhau “Hôm qua nghe ghê quá, nhất là mạn Hà Nội". Trưa ra đứng đường, chờ xem có ai Hà Nội lên, hỏi tin tức. Tối, 6-7 giờ,  ngồi nghe đài --Nghe BBC mà tiếng nhạc đã gợi nhiều hứa hẹn đến mức có người gọi đùa là quốc ca (!)
Nguyễn Khải: nghe nói bây giờ mình lại có lý luận về sức ép tối đa. Cố qua kỳ sức ép tối đa này, rồi mới tính được mọi chuyện. Bây giờ mà nó lui, thì lại bảo nó không thể chịu đựng được đòn phòng thủ của ta. Phương châm của ta là đánh tiêu diệt cơ mà.
Nguyễn Minh Châu: Lúc cần thì ca ngợi Hà Nội ghê lắm. Lúc này thì hy sinh cả Hà Nội cũng sẵn sàng.


Trong những ngày đánh phá ác liệt chuyện gia đình vẫn điểm xuyết vào, nhẹ nhàng mà xót xa.
Ng Khải: Lắm lúc nghĩ mình cũng thấy buồn cười. Cả đời mình đóng vai một thứ nhà văn quân đội, cũng đi chiến trường, cũng được tiếng là xông xáo. Thế mà động thấy xác chết, là tôi cứ sa sẩm mặt mày, cứ buồn nôn thôi.
Trong năm nay, có một chuyện nhiều lần phiền muộn. Đứa con lớn xin  đi bộ đội. Tôi đã phải nói rất trang trọng: "Bố nhận là bố có lỗi, với con. Nhưng con ạ, sao con không lo tiếp tục học cho giỏi đi " "Con không muốn rèn luyện dưới mái trường XHCN nữa. Bây giờ là lúc chiến tranh, con muốn rèn luyện ngoài chiến trường”.
 Nghĩa là nó toàn dùng những chữ thật sáo cả. Thế nên mình cứ bấm bụng chịu, mình cũng phải dùng những chữ sáo ngược lại. Khổ, ăn nói học theo văn chương ông Hồ Phương cả. Cái loại này, đúng là đưa sang Trung quốc làm cách mạng văn hoá thì đắt lắm đây.
... Bây giờ mà viết một quyển sách, nói bố thì sợ chiến tranh con thì thích chiến tranh, toàn bộ hai bố con lý lẽ với nhau, suy nghĩ khác nhau thế nào. Viết độ 150 trang thôi, ra hết vấn đề rồi còn gì.
29/12
 Chiến tranh là gì? Chiến tranh vào mỗi cá nhân, ví dụ một cá nhân như tôi, thật ra cũng không nhiều những phút hoảng loạn.
Nhưng trước hết, chiến tranh là những dằn vặt liên tiếp. Chiến tranh là những phút ngồi oán giận không biết gây ra từ nơi nào, và sẽ kết thúc ra sao.
Trong chiến tranh, người ta sống bằng gì? Sống bằng hy vọng rằng chiến tranh sẽ đi qua. Rồi lúc chán quá thì tự an ủi rằng chiến tranh có thể mang lại cho mình những kinh nghiệm sống bổ ích. Cũng là một thứ A.Q.


Saturday, December 17, 2011

Hồ Dzếnh

       Hồ Dzếnh, người lữ hành đơn độc trong nửa thế kỷ văn học  


                                                                Hồ Dzếnh sinh 1916, mất 1991. Tính đến  2011, vừa đúng kỷ niệm 95 năm  sinh và 20 năm ngày mất của nhà văn

  

 Lời dẫn         CÒN PHẢI VIẾT THÊM VỀ NHỮNG NỖI BUỒN, NHỮNG CON NGƯỜI CÔ ĐỘC

    Có hai nguyên tắc chi phối các nhà sáng tác ở ta, một thứ lạt mềm buộc chặt rất khó trốn nổi.

       Thứ nhất nên tập trung làm nổi những gì tốt đẹp trong cuộc đời, đại khái chỉ nên viết về niềm vui chứ không viết về nỗi buồn, cũng như chỉ nên viết về thành đạt quang vinh  mà không bao giờ nên dừng lại ở bất lực thất bại. Thứ hai, khi miêu tả con người, phải đặt họ trong sự gắn bó với chung quanh, không được dừng lại ở những con người cô độc.

       Các nguyên tắc này cũng chi phối cả trong công việc nghiên cứu về tác giả mà giới phê bình văn học thường xuyên tiến hành. Sự đơn độc cá nhân vốn không được chấp nhận trên phương diện công dân, lại cũng không được khuyến khích với các nhà văn – phương hướng khai thác đã rõ  chớ có làm khác .

        Đó là những điều sơ đẳng khi vào nghề, tôi cũng như các bạn cùng lứa sớm được dạy dỗ. Có điều những gì tiếp thu được do tìm hiểu học hỏi từ các tài liệu sách vở về xã hội học tâm lý học …, nói với tôi ngược lại. Và tôi tìm thấy sự ngược dòng này ngay trong các nhà văn hồi đó đang sống, rõ nhất là trong Hồ Dzếnh và Thanh Tịnh.     

      Hai nhà văn này đều là người mà nửa đầu cuộc đời có những thành tựu sáng rõ và độc đáo, còn nửa sau, sống như những cái bóng mòn mỏi, cô đơn. Hồ Dzếnh buộc phải nghỉ viết, Thanh Tịnh tuy vẫn sống giữa người viết đó, nhưng quay ra làm những việc có vẻ như khá phù phiếm và  xa lạ hẳn với cái mạch sáng tác vốn có từ trước.

      Hai cách tồn tại này là những ca, những trường hợp điển hình giúp ta hình dung về cách tồn tại của những người làm nghề văn nửa cuối thế kỷ XX.

       Với Thanh Tịnh tôi có điều kiện sống gần, nên dừng lại ở phần con người của ông.

      Với Hồ Dzếnh mà tôi mới làm quen một hai năm trước khi qua đời, tôi chỉ có thể viết về những tác phẩm của ông trước 1945, chủ yếu là tập Chân trời cũ. Song  cách sống của ông khoảng 1958 - 86 cũng để lại cho tôi một ấn tượng rõ rệt, chính nó làm nền cho khái quát về con người ông.

      Từ hai bài về Thanh Tịnh và Hồ Dzếnh -- cái viết từ hai chục năm trước, cái hơn chục năm--  tôi đang chuẩn bị để có thể trình với bạn đọc một số suy nghĩ trong quá trình viết các chân dung văn học thời gian qua







Nét độc đáo làm nên số phận Hồ Dzếnh

Với tập thơ Quê ngoại, nhất là với tập truyện ngắn Chân trời cũ, Hồ Dzếnh đã tạo ra được một vị trí vững vàng trong đời sống văn học trước 1945. Từ góc độ tâm lí sáng tác mà xét, văn phẩm của ông có vẻ như một minh chứng xác thực cho cái điều thỉnh thoảng các nhà văn vẫn nói: viết văn, ấy là phương tiện duy nhất để con người ta thoát khỏi sự đơn độc.

" Những nỗi u kín của ngày xưa"

Chân trời cũ in ra lần đầu vào năm 1942. Cho đến trước năm 1945, tập truyện ngắn đó còn được in lại một vài lần, đại khái cũng bằng số lần mà nó được in lại ở vùng tạm chiếm Hà Nội trước 1954.

Bẵng đi một thời gian, không thấy cuốn sách ra mắt bạn đọc, thậm chí nhắc đến nó, người ta cũng ngại.

Nhưng đến cuối những năm 80, nó lại “tái xuất giang hồ” và từ đây trở đi thì đều đều có mặt trên thị trường, giống như những bạn cùng trang lứa Số đỏChí Phèo, Tắt đènNhững ngày thơ ấu

Có vẻ như dần dần, người ta đã xác định được vai trò của Chân trời cũ trên văn đàn: ấy là loại tác phẩm không gây ra những choáng váng, đột ngột, song luôn luôn có bạn đọc; hết lớp này đến lớp khác, các thế hệ bạn đọc tìm đến những trang sách, lại thấy chúng như là vừa viết cho mình. Trong cái thế giới do Hồ Dzếnh phác ra đó, một thế giới “mang nặng những nỗi u kín của ngày xưa” như ông hằng nói, con người ta thất bại mà không ngã lòng, mất mát mà không hoảng hốt, bị phản bội mà không thù hận, thậm chí có khi sa đà, hư hỏng mà vẫn gợi được tình thương của mọi người. Bằng một giọng kể ngậm ngùi chân chất, các trang sách như luôn thì thầm với những ai đang đọc nó, rằng cuộc đời thật oái oăm, thật nhiều đớn đau buồn thảm, cuộc đời là dâu bể, con người chỉ có cách nhẫn nại cam chịu mà sống cho qua ngày. Nhưng nó vẫn không quên giả thiết rằng, trong sự nhẫn nại và cam chịu ấy, từ mỗi con người lại ánh lên vẻ đẹp cao quý, đấy chính là lý do làm cho ta đáng sống và lờ mờ thấy hình như cuộc sống còn có ý nghĩa nào đó.

Riêng về tập Quê ngoại, tập thơ ông có ngụ ý đề tặng cho Quê mẹ Việt Nam, thì trong bối cảnh của trào lưu lãng mạn những năm 30 và 40 trong đó thơ văn mở ra việc tự phát hiện cái thế giới bên trong của tâm hồn người Việt Nam, cùng với một Xuân Diệu “rất tây”, một Huy Cận “mang mang” chất học sinh thành thị, hay một Nguyễn Bính của “hồn quê”…, thơ Hồ Dzếnh là tiếng lòng của những tâm hồn học sinh sống ở huyện lỵ, đã tách khỏi nông thôn rồi mà lúc nào cũng lưu luyến nông thôn, những thiên nhiên, hoa bướm, những mối tình ngẩn ngơ vụng dại, giống như những trang văn xuôi của Đỗ Tốn trong tập truyện ngắn Hoa vông vang.

Sự xa lạ rất gần gũi

Để nói tới những ngang ngược vô lý trong yêu cầu của con người với văn chương, nhà văn Liên Xô I.Ehrenbourg từng kể lại câu chuyện như sau:

Lần ấy, ông cùng các đồng nghiệp đang họp để bàn phương hướng sáng tác thì có một số đại biểu công nhân đến dự. Thôi thì ngành nào cũng ra sức ân cần mời mọc để các nhà văn tới chỗ mình và viết về ngành mình. Được lời như cởi tấm lòng, dĩ nhiên là nhiều cây bút sung sướng lắm, đi bằng được, về viết và đòi in ra bằng được. Chỉ ít lâu sau, họ mới vỡ lẽ: công nhân dệt nhiều khi rất ngại đọc tiểu thuyết viết về ngành dệt, thợ mỏ thì không phải bao giờ cũng thích đọc những trang sách “ăn tươi nuốt sống” thực tế vùng mỏ của họ. Mà ở đâu và ngành nào cũng vậy, thợ dệt hay thợ mỏ, công nhân nghề rừng hay anh em lái xe vận tải… họ đều chỉ thích những tác phẩm hay, kể cả mấy cuốn sách toàn kể về đời tư của các vị công tước bá tước thời xưa, chẳng hạn loại Con đầm pích, Chiến tranh và hòa bình, Anna Karênina v.v…

Trở lại với trường hợp tập truyện ngắn Chân trời cũ. Trên đất nước này, số người Hoa định cư rải rác đủ các nơi thật, song so với dân bản địa, không thể gọi là nhiều. Đặc biệt số phụ nữ gốc Tàu thứ thiệt, loại người Trung Hoa “quý phái” như Hồ Dzếnh gọi, lớn lên bên chính quốc, sau mới sang làm dâu các gia đình người Hoa bên này, số đó lại càng ít, có lẽ tính chi li thì phải nói trong hàng triệu người mới có một hai người. Vậy mà cớ sao một thiên truyện như Người chị dâu tôi cứ làm chúng ta xúc động, và ta sẵn sàng đọc đi đọc lại nó hơn là đọc hàng trăm thiên truyện lẩm cẩm viết ngay về những người xung quanh ta và rất giống ta nữa.

Cắt nghĩa rằng Hồ Dzếnh viết hay mà những người khác viết dở, thì cũng bằng chưa cắt nghĩa gì.

Đúng hơn, có lẽ nên nói trong bóng dáng người chị dâu “đặc Tàu” ấy, nhiều người chúng ta tìm thấy tâm tình, số phận của chính mình.

Có thể là từ bé đến giờ, thực ra thì bạn vẫn khổ, nhưng sao trong một góc tâm tư nào đó, bạn vẫn lướng vướng để sót lại cái ý nghĩ rằng xưa kia, nếu không thì kiếp trước, bạn sướng lắm, và cuộc sống hôm nay chưa phải đã xứng đáng với chính bạn. Bởi thế, trong việc một người phụ nữ Trung Hoa gạt nước mắt để lam làm chịu đựng, cốt sao thích ứng với hoàn cảnh, với gia đình nhà chồng, trong tình thế người đàn bà ấy từ bỏ mọi hy vọng, âm thầm tự khác mình đi, đánh mất mình nữa, cốt sao tồn tại, bạn thấy có nét gì chung của mọi kiếp người, trong đó có bạn. Vả chăng, cuộc biến đổi diễn ra một cách bình thản, từ tốn, nên sự đầu hàng của người đàn bà ấy, của mỗi chúng ta – nếu có thể nói như vậy – không có gì là trái tự nhiên cả. ấy có lẽ là điều Hồ Dzếnh nhắn thêm với ta khi ông, theo lối bỏ nhỏ, đặt vào thiên truyện cái hình ảnh “người đàn bà buồn khổ sàng từng hạt tấm xuống nong, trong khi trời chiều sàng từng giọt hoàng hôn xuống tóc”.

Không chỉ riêng người chị dâu lưu lạc mà bất cứ ai trong gia đình riêng của Hồ Dzếnh, chú Nhì và chị Yên, em Dìn và người anh xấu số… phàm đã được tác giả để mắt tới rồi kể lại, cũng đều khiến người đọc bâng khuâng, bởi lẽ trước sau vẫn một bút pháp ấy, bút pháp nói về những gì tưởng xa lạ mà lại gần gũi với tâm tưởng mỗi người đọc. Sau hết, cái kỳ lạ của Chân trời cũ nằm ngay ở trong tình thế của tác giả, mối quan hệ giữa Hồ Dzếnh và nền văn học đương thời. Cha ông vốn gốc Quảng Đông mới sang đây một đời, chỉ có mẹ ông là người Việt. Rõ ràng, khi nói về xứ sở này, ông ở vào cái tình thế chông chênh chân trong chân ngoài, quê hương là thực mà như là hư, là phải mà lại như không phải, gần gũi đấy, mà lại xa vời đấy. Nhưng có lẽ chính vì thế mà ở ông có cái lui tới trong cách nhìn, cái xót xa trong tình cảm, cái khao khát vươn tới một mảnh đất tâm linh tưởng không bao giờ vươn tới nổi… Bấy nhiêu yếu tố hội lại khiến cho các trang văn của ông có được chất thơ chân chính.

“Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở”

Có một bộ phận hợp thành của Chân trời cũ mà trong một số lần xuất bản gần đây, có khi người ta bỏ qua, có khi xếp không đúng chỗ, và chỉ ở một số bản in, mới thấy nó được trả lại cái vị trí vốn có, ấy là lời tựa của Thạch Lam cho tập sách.

Trong một lần nói chuyện với người viết bài này, Hồ Dzếnh bảo rằng nếu trong mấy chục năm qua, có một thứ gì ông đã đánh mất, để rồi bây giờ, thấy tiếc hơn cả, thì đó chính là bản viết tay của lời tựa ấy.

Không phải ngẫu nhiên, trên tạp chí Thanh nghị số 33 (1943), Phạm Chí Lương (người được Hồ Dzếnh đề tặng thiên truyện Em Dìn) từng có bài viết xếp Thạch Lam, Thanh Tịnh và Hồ Dzếnh vào chung một dòng phái ấn tượng chủ nghĩa.

Cũng trên Thanh Nghị năm ấy, trước đó mấy số, Hồ Dzếnh cho in thiên truyện Sáng trăng suông với lời đề từ ngắn gọn mà hôm nay đây đọc lên, hẳn nhiều người còn thấy nao lòng Tặng gió đầu mùa xa xôi.

Thiên truyện được viết sau khi Thạch Lam mất và chỉ được bổ sung vào Chân trời cũ trong những lần in lại.

Với Hồ Dzếnh, dường như Thạch Lam đồng nghĩa với nền văn học đương thời.

Nhà văn ấy đã dang rộng tay đón Hồ Dzếnh, khi ông mới chập chững trên những trang viết đầu tiên.

Nền văn học ấy còn để lại trong ông bao kỷ niệm, nào là in sách xong, mang bán rong khắp Đông Dương với người này, nào những ngày làm báo với người kia, nào một lần gặp mặt nhưng còn nhớ mãi một người khác nữa.

Gần như đã thành công khai, đồng nghiệp và bạn đọc nhiều người biết rằng Hồ Dzếnh còn có một bút danh là Lưu Thị Hạnh. Bút danh ấy ông ký sau mấy cuốn tiểu thuyết Một truyện tình 15 năm về trước, Tiếng kêu trong máu, Những vành khăn trắng. Được hỏi về việc này, Hồ Dzếnh chỉ mỉm cười, một nụ cười độ lượng. Gặng mãi ông mới trả lời đại khái rằng, âu cũng là một cách thử làm nghề, thử lăn lộn với việc cầm bút.

Nghĩa là, nếu nhập cuộc, nếu đi hẳn với nghề viết văn, ông cũng có thể ngang ngửa như bất cứ ai.

Nhưng không, do một sự xui khiến huyền bí nào đó, ông không chọn con đường vạch sẵn ấy. Luôn luôn Hồ Dzếnh đứng cách nghề văn một khoảng cách cần thiết. Trước kia thì dạy học, làm thư ký cho các hãng buôn, cùng lắm thì làm báo, sau này nhiều năm làm thợ đúc thép… Lúc nào ông cũng có một nghề khác để kiếm sống và chỉ viết văn làm thơ theo sự bức xúc của nội tâm và sự thích thú của từng lúc. Hẳn điều đó có mang lại cho ông những thiệt thòi nào đó. Nó không giải phóng hết mọi khả năng vốn có nơi ông. Nó làm cho ông nhiều khi cứ có cái vẻ ngơ ngác ngây thơ của một người ngoài cuộc. Nhưng để bù lại, nó giúp cho ông tránh được tình trạng bảo cứng lại, cằn đi cũng được, bảo úa ra chết mòn cũng được, ấy là cái tình trạng hết nhung hết tuyết rồi mà vẫn cứ sống ườn ra trong nghề, như người ta thường thấy ở không ít cây bút công chức khác.

 Còn nhớ Hồ Dzếnh từng có bài thơ Ngập ngừng trong đó ông bảo rằng tình yêu đến mức đắm đuối nhất phải là tình yêu không đến với nhau, vì đến với nhau, rồi sẽ thất vọng. ý tưởng ấy hẳn đã chi phối những suy nghĩ của ông về nghề văn và đến lượt mình, điều đó lại làm chúng ta thấy ra rằng với nghề này, lúc nào ông cũng giữ được một tình yêu bền bỉ.

In lần đầu trong Những kiép hoa dại 1993,
sau đó in lại trong Cánh bướm và dóa hướng dương, 1999


                                      Chân trời không bao giờ cũ

Hồ Dzếnh qua đời ở tuổi 75, song quả thật, ông hầu như đã ngừng viết trước dó rất lâu. Sau hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954) cũng đã có một vài cuốn sách mang tên ông được xuất bản – cả sách sáng tác lẫn sách dịch – có điều chúng không có gì đáng kể và sự thực là trong cuốn Hồ Dzếnh tác phẩm chọn lọc làm năm 1987 khi ông còn sống, phần chủ yếu vẫn là tập truyện ngắn Chân trời cũ cùng ít bài thơ trong Quê ngoại.

 Bảo rằng về già, Hồ Dzếnh sống trong chờ đợi thì cũng không hẳn. Những gì tâm huyết đã mang cống hiến cho đời và ông sống khá thanh thản. May mà trong trường hợp này lịch sử đã công bằng.

Mấy năm trước khi mất, chẳng những Hồ Dzếnh có tuyển tập mang tặng bạn bè mà ông còn có dịp chứng kiến Chân trời cũ được in lại ở mấy chỗ, trong sự tha thiết yêu chiều của bạn dọc, nhất là những bạn đã đọc văn Hồ Dzếnh từ lâu, mà không kiếm được sách. Thật là một sự ơn trả nghĩa đền xứng đáng.

Cuộc đời mỗi nhà văn – cũng giống như cuộc đời mỗi con người – là một cái gì độc đáo, không ai giống ai, và mọi ý muốn người ta áp đặt cho nhau, khuyên bảo nhau, suy cho cùng, đều chả mấy nghĩa lý: số phận là cái không ai có thể chọn lựa. Dẫu sao nghĩ lại thì thấy trừ những kẻ bất tài và lười biếng, ở đây, trong văn chương đại khái có hai cách tồn tại. Một là những tác giả, viết luôn tay, viết đều, có khi lại hoạt động trên các thể loại khác nhau, và như có bàn tay vàng, làm gì cũng nổi lên tự nhiên và sự nghiệp toà ngang dãy dọc đồ sộ. Và thứ hai là loại người sống như kẻ lơ đãng, tâm trí để tận đâu đâu, họ chỉ viết rất ít, cả một đời văn thu gọn trong một vài quyển sách chi đó. Song chỉ thế thôi mà cứ là sống mãi trong lòng người yêu văn chương. Không nói đâu xa, ngay trong các nhà văn Việt Nam thế kỷ hai mươi cũng đã thấy có sự phân chia đôi ngả đôi dòng như vậy. Một bên là Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính… và bên kia là Thạch Lam, Thanh Tịnh, Nguyễn Nhược Pháp, và lùi về phía sau một chút, là Quang Dũng.

Cố nhiên, Hồ Dzếnh cũng thuộc cái loại thứ hai chúng ta đang nói. Tên tuổi ông gắn liền với Chân trời cũ, ở đó người ta đọc ra tiểu sử, những từng trải riêng của đời sống và cả cách cảm cách nghĩ riêng của Hồ Dzếnh trước cuộc đời này nữa.

Mặc dù được viết ra khi tác giả mới 26 tuổi, và chủ yếu nói về những năm tuổi trẻ của một đời người, song Chân trời cũ lại có một sự già dặn riêng. Nó là thứ văn chương không có tuổi. Thậm chí – bây giờ đã đến lúc có thể nói được điều này – nó là thứ văn chương viết xong người ta có thể gác bút, có thể buông tay nhắm mắt.  Và chỉ nhờ thế, cuốn sách chưa đầy 200 trang đó, mới đủ tư cách để đưa một con người trở thành một tên tuổi vĩnh viễn trong lịch sử văn học.

Những người có dịp gặp gỡ Hồ Dzếnh mấy năm cuối đời hẳn còn nhớ ông già trên 70 tuổi ấy luôn luôn có cái vẻ thản nhiên, hình như mọi chuyện “thế sự buồn rầu và cảnh đời hùng tráng” – chữ của Hồ Dzếnh – mình đều đã biết cả rồi, thiệt hơn thế nào cũng được, cuộc sống là thực mà cũng là một cõi hư vô nào đó. Thành thử, ông lại luôn luôn tìm được niềm vui hồn nhiên của mình. Nụ cười ấy đã thường trực trong tâm trí Hồ Dzếnh cho đến khi ông chia tay chúng ta.

  Viết  ngày Hồ Dzếnh qua đời 13-8-1991

 Đã in trong Chuyện cũ văn chương 2001

Sunday, December 11, 2011

Thanh Tịnh, cuộc đời Ngậm ngải tìm trầm

     Năm sớm năm muộn xê xích ít chút nhưng nói chung hàng năm cứ đến khoảng cuối tháng mười một, đầu tháng chạp dương lịch, khi những chiếc lá bàng chuyển dần từ màu xanh sang màu đồng điếu, thời tiết bắt đầu ngả hẳn sang mùa đông, trời đất thấm lạnh đôi khi có thể giá rét thấu xương - thứ rét ngọt như người ta vẫn nói - thì cũng là lúc dân làm báo Hà Nội chúng tôi bắt tay vào một công việc thuộc loại vất vả trong năm là chuẩn bị những số báo tết.

Đời làm báo những năm chống Mỹ, dù không tất bật và lúc nào cũng bị ám ảnh bởi một cuộc cạnh tranh sôi động như thời kinh tế thị trường hiện nay, song so với nhiều nghề khác trong guồng máy làm các ấn phẩm có liên quan đến chữ nghĩa, thì cũng đã là bận rộn hơn hẳn. Lo làm dâu thiên hạ mà! Tháng nào tuần nào cũng phải tự trình diện trước dư luận và cấp trên tất cả phong độ của một kẻ đứng đắn và thành thạo trong làm nghề, kể cũng đã mệt lắm chứ. Nữa đây lại là báo tết! Ở tạp chí Văn nghệ Quân đội nơi tôi công tác những năm ấy, có lệ mỗi lần Tết đến, mọi phóng viên trong toà soạn phải góp một bài để số báo có chất lượng. Thơ thẩn còn không ngại, chứ đến truyện ngắn và các mục râu ria như giai thoại, thơ vui, câu đố, cùng nhiều thể tài gọi là tạp nhạp khác, thì quả thật viết đã khó, mà chạy ra bài lấp đầy các số báo cũng không dễ. Hình như hồi ấy, chúng tôi thường bận tâm vì những suy nghĩ nghiêm trang, nên tay nghề xoàng xĩnh và không biết làm hàng như về sau này! Bởi vậy vừa dọn dẹp bài vở cho số tết, vừa nhăn nhó và cứ nghĩ đến việc phải vẽ vời ra cho được dăm ba bài chọc cười mọi người, đã thấy lúng túng, bụng bảo dạ mình thì làm cho ai cười được, vì có ai làm cho mình cười được đâu! Những lúc ấy, nhà văn Nguyễn Minh Châu thường nhìn cánh trực biên tập (tức là đang lo dựng các số báo) một cách thương hại, và tủm tỉm:

- Trông kia kìa, chắc cụ Thanh Tịnh đã viết được vài bài rồi, giờ lại đang viết tiếp đấy. Tết năm ngoái, đọc sơ sơ các báo, mình đếm chắc chưa đầy đủ, mà đã có đến chục bài ký tên Thanh Tịnh... Ở nhà này, về khoản làm báo, cánh cầm bút lớp sau cứ gọi là xách dép cho cụ Tịnh cũng không đáng!
Cố nhiên là Nguyễn Minh Châu không nói oan cho Thanh Tịnh chút nào. Đóng góp của ông cho các số báo tết làm cho chúng tôi ngạc nhiên, vì như bắt gặp một Thanh Tịnh khác so với con người chúng tôi vẫn gặp. Có cảm thưởng như sau một năm dông dài, ông chợt nhớ ra phải làm việc nào đó để bù lại tháng ngày đã mất. Và mỗi lần thấy ông vừa thở phì phì, vừa bước những bước nặng nề đi lại trong phòng để ngẫm nghĩ, rồi thỉnh thoảng lại quay vào bàn ghi ghi chép chép, rồi hào hứng cười thầm như tự thưởng cho những ý nghĩ hóm hỉnh của mình thì chúng tôi chỉ còn có cách bảo nhau rằng - hẳn ngày xưa, một ông đồ già lọ mọ lục lại đống bồ cũ, lấy ra mấy thỏi mực, mấy tờ giấy hồng điều, thử lại vài cây bút mốc meo bấy lâu xếp xó trước khi ra phố bò toài trên chiếu viết thuê các loại câu đối tết, chắc cũng có cái vẻ mải miết tương tự.

Từ những ngày làm báo Tết ấy, tôi thường vân vi nghĩ rộng ra cả cuộc đời Thanh Tịnh để hiểu về một cách tồn tại độc đáo trong văn học.

Cuộc sống nhân loại là một sự phân công tự nhiên, song bao giờ cũng có. Và ngay trong phạm vi hẹp là từng nghề thôi, thì cũng đã có sự phân công đôi khi rất ngẫu nhiên ấy. Có người đóng góp cho cuộc đời này những chủ lực như gạo thịt nuôi sống người ta. Lại có những người chỉ như trái ớt quả chanh, thêm thắt tô điểm bên mâm cơm, không có không chết ai nhưng sự thực là thiếu đi, cũng dễ làm cho đời sống mất hết ý vị.

Nói thế này không rõ vong linh Thanh Tịnh ở dưới suối vàng có giận không, chứ quả thật, sự tồn tại của Thanh Tịnh thời tiền chiến theo tôi hiểu là thuộc cái dạng một sự thêm thắt không thể thiếu ấy.

Đã có lúc ông làm nghề đạc điền. Đã có lúc ông dạy học. Nhưng hình như hồi tiền chiến cái nghề ông làm lâu nhất, lại là nghề hướng dẫn du lịch, một thứ công việc lang thang đây đó, góp chuyện với mọi người, làm cho mọi người vui bằng những câu chuyện nhỏ của mình. Và cái thú của nghề này chính là ở biên độ dao động rất rộng của nó. Tán hão cho vui cũng được. Mà dày công nghiên cứu để mang lại kiến thức cho mọi người thì tâm sức bỏ ra mấy cũng chưa đủ.

Đến như đóng góp của Thanh Tịnh trong văn học - một tập truyện ngắn một ít bài thơ, tất cả đều có cái giọng bùi ngùi, và càng bùi ngùi thêm vì loanh quanh toàn kể về những con người hiền lành song bất hạnh - sự đóng góp ấy cũng chỉ là một sự thêm thắt nếu người ta tính đến số lượng ít ỏi của nó. Có điều, nhờ sự thành thật, và cả cái vẻ dịu dàng nhỏ nhẻ, không giống một ai mà rồi những trang văn chương ấy sẽ tồn tại trong tâm trí nhiều thế hệ. Sau khi đã đọc bao nhiêu ý tưởng quyết liệt nhất của Nhất Linh và Vũ Trọng Phụng, sau khi đã biết đến cái đậm đà duyên dáng của tiểu thuyết Khái Hưng, cũng như sau khi nghe tiếng nói thâm trầm và điềm đạm của Thạch Lam, người ta vẫn có những lý do riêng, để thỉnh thoảng tìm đến với văn Thanh Tịnh.

Đời xếp anh tôi với Thạch Lam
Ngồi chung một chiếu hội văn đàn
Chao ôi! Chiếu đã hai lần lạnh
Còn lại mình tôi vớí thế gian

Hồ Dzếnh đã viết như thế khi Thanh Tịnh qua đời. Đọc mấy câu thơ người ta cảm nghe được một cái gì giống như lời an ủi về tình thế “cùng một lứa bên trời lận đận” của các ông, những ngòi bút không thuộc dòng chủ lưu, nhưng lại làm cho không ai quên nổi.

Trong một hồi ký về quá trình đi theo kháng chiến, Thanh Tịnh kể: thực ra, hồi ấy (tức là cuối 1946) ông chỉ tính ra dự Đại hội văn hoá toàn quốc. Chẳng qua ngày họp kíp quá, mà tiếng súng kháng chiến ở Hà Nội diễn ra nhanh quá: vốn tính đận đà ông không quay về kịp, nên mới có một sự nhập cuộc như chúng ta đã thấy, tức là mặc dù quê ở Huế, song Thanh Tịnh lại theo đoàn người khổng lồ của Hà Nội lên Việt Bắc, rồi có mặt trong các hoạt động kháng chiến tám năm liên tục.

Nhưng sự nhập cuộc này - một sự nhập cuộc đàng hoàng, bởi chính thức mà nói, ông là một chiến sĩ quân đội - vẫn có cái vẻ riêng rất Thanh Tịnh của nó. Thời gian đầu hoạt động văn nghệ trong các lực lượng vũ trang còn đang lẻ tẻ tự phát và lẫn vào các hoạt động khác. Ví dụ, nhân có một đoàn tuyên truyền chính sách, hay một đoàn kiểm tra đi các địa phương các đơn vị, ở trên mới ghép thêm vào một vài chiến sĩ văn nghệ, để gây không khí. Nhưng ai ngại không biết, chứ Thanh Tịnh không ngại. Ông thích ứng ngay được với lối hoạt động nhỏ lẻ ấy. Tới đâu ông cũng nhanh chóng thâm nhập để biến thành người trong cuộc, rồi xem có gì đáng biểu dương thì làm thơ biểu dương, hoặc có gì đáng phê phán thì viết bài phê phán. Thứ thơ dễ hiểu với mọi người ấy lại được mang “sân khấu hoá” tức không bắt người ta phải đọc thầm, mà là chuyển thành cảnh diễn, nên thông thường là được quần chúng tán thưởng. Bắt đầu ra đời một thể tài gắn với cái tên Thanh Tịnh hồi kháng chiến chống Pháp: thể độc tấu. Và cứ thế, cứ với độc tấu, Thanh Tịnh như một người du ca, có mặt ở nhiều địa điểm của căn cứ địa Việt Bắc. Qua năm 1951, trong khuôn khổ của việc sắp xếp lại tổ chức nói chung, Thanh Tịnh nghe một cán bộ chính trị khuyên “Nên về lại quê hương”, thế là ông đi bộ trở vào vùng trong. Nhưng đến Nghệ An, biết vùng tự do Bình Trị Thiên chật hẹp, không có đất hoạt động, ông liền ở lại với Chi hội văn nghệ Khu Bốn. Bên cạnh Hải Triều, Hoàng Trung Thông, Bùi Hiển, Chế Lan Viên... ông có làm thơ viết báo, nhưng chủ yếu là phụ trách văn công. Và đây một đợt công tác độc đáo: ấy là khi hoà bình mới lập lại 1954, ông được giao phụ trách một đoàn xẩm, gồm 23 anh chị em, phần lớn là mắt kém, đi về hướng Bùi Chu Phát Diệm, lấy lời ca tiếng hát dân gian để động viên đồng bào đừng nghe theo những lời dụ dỗ di cư của kẻ địch mà hãy ở lại với quê hương.

Không biết ai đã có sáng kiến đặt Thanh Tịnh vào việc ấy?

Song quả thực, đấy là một trong những lần tài năng của Thanh Tịnh được sử dụng một cách đắc địa.

Thanh Tịnh là thế, là cuốn theo chiều gió, là ngọn cỏ gió đùa, là nương theo sự xô đẩy của hoàn cảnh mà tìm lấy tính chủ động, ở đâu thì cũng giữ lấy vai nghệ sĩ của mình, và hình như càng gặp những điều kiện sống khó khăn, không ổn định ông càng trở nên sinh động tự nhiên và nổi bật lên với khả năng thích ứng. Ngược lại sẽ hiện ra sẽ sống khó khăn thậm chí ông yếu đuối, lạc lõng lúng túng trong những hoàn cảnh ổn định, mọi thứ sắp xếp đâu vào đấy.

Sở dĩ tôi nói vậy, vì nghĩ đến hơn ba chục năm cuối đời của Thanh Tịnh bắt đầu kể từ 1954 khi ông nhận công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân đội, rồi từ đó, về hưu.

Bề ngoài mà xét, thì sau hơn chục năm kháng chiến, làm người lính từ địa phương đến chủ lực, khi ở Việt Bắc, khi vào Khu Bốn, nay ông mới có một đơn vị công tác chuyên sâu, một nơi ở ổn định. Hơn thế nữa, từ nay, ông được làm cái nghề mà ông yêu thích, và đã tự nguyện theo đuổi, là viết văn viết báo, hỏi còn gì lý tưởng hơn nữa?

Song sự thực mọi chuyện không suôn sẻ như thế.

Những người quen biết, khi viết về tuổi già Thanh Tịnh, thường tả căn phòng của ông trong ngôi nhà số 4, ở đó rất nhiều đồ vật lịch sử “cái đĩa thời Lê, viên gạch thời Lý”, ngoài ra là ngổn ngang những vật kỷ niệm “một mảnh máy bay B.52, viên đạn ở chiến trường Quảng Trị, một con vịt nhựa sứt mẻ nhặt được sau một trận bom...” Và có người còn bảo là trong hoàn cảnh bấy giờ, Thanh Tịnh đã khéo tổ chức một cuộc sống riêng rất hợp lý. Có điều đấy là một cách an ủi cho người đau khổ đỡ tủi. Nên biết là ngay từ sau 1954, Văn nghệ Quân đội là một cơ quan rất được ưu đãi, anh em cán bộ chiến sĩ tuy đang tại ngũ, nhưng không phải lúc nào cũng bắt buộc mặc quân phục, và giờ giấc cũng không chặt chẽ như các đơn vị hành chính khác. Chỉ riêng một việc cơ quan đặt ở ngoài thành lại không có trạm gác đi về thoải mái, đã là một ân sủng quá sức chờ đợi! Là những người lính, nhưng hầu hết cán bộ trong cơ quan có gia đình ở Hà Nội, và sau một ít giờ sinh hoạt chung, ai về nhà nấy, thậm chí viết lách cũng có thể ngồi nhà, chỗ ngồi viết được cơ quan bố trí có để mốc ra đấy, cũng chẳng ai có ý kiến. Chính trong không khí đầm ấm đó mà sự cô độc của Thanh Tịnh càng nổi lên rõ rệt: Hãy thử tuởng tượng, vào những buổi tối, cả ngôi nhà hai tầng thâm nghiêm sang trọng đó vắng lặng chỉ có Thanh Tịnh, với một hai đồng chí chiến sĩ khác làm công tác phục vụ ở lại. Sau những bữa cơm chiều tẻ nhạt, có đi đâu một lát thì cuối cùng ông cũng phải trở về với dãy phố chỉ có hàng sấu lá reo, với cái cầu thang mênh mông mà bóng ông không bao giờ lấp kín. Trong khi đó, không cần tưởng tượng phong phú gì lắm, cũng có thể hình dung ra cảnh các đồng nghiệp của mình đang vợ con ríu rít như thế nào - tất cả những chuyện này, đối với Thanh Tịnh lặp đi lặp lại hàng ngày, và một tâm hồn nhạy cảm như ông làm sao không cảm thấy xót xa cho được? Chẳng ai có lỗi trong nỗi bất hạnh này của Thanh Tịnh cả - chẳng qua đất nước chia cắt, ông lập gia đình sớm, mà giờ vợ con lại ở tận trong kia, trong khi bọn chúng tôi trẻ hơn, bấy giờ mới bén mùi hạnh phúc riêng tư, nên tự nhiên là có cuộc sống khác hẳn ông như vậy. Tuy nhiên sáng sáng, nỗi hào hứng của bọn tôi khi được bắt tay vào một ngày mới, đến với cơ quan với bao náo nức, quả thực là có xẹp đi ít nhiều, khi chợt thấy người đồng nghiệp đồng đội già của mình lầm lũi xách một xô nước, từ bể chứa dưới nhà lên gác hai. Chính chúng tôi cũng muốn lẩn tránh ông, chứ không phải riêng ông muốn tránh chúng tôi. Lấy đâu ra lời lẽ, để ngày nào cũng an ủi nhau, và an ủi làm sao nổi - chúng tôi tự nhủ. Chỉ hoạ hoằn lắm, có đợt cả loạt anh em cơ quan cùng đi công tác, những lần ấy, mọi người như đều bình đẳng với nhau trong sự xa nhà của mình, và những buổi tối, ở nhà khách tỉnh ủy Hà Giang, hay cơ quan Hội văn nghệ Tuyên Quang gì đó, chúng tôi cùng quây quần nghe chuyện Thanh Tịnh - chỉ lúc bấy giờ, cái con người lớn tuổi nhất cơ quan mới có sự hào hứng, sự thích thảng mà ở Hà Nội, ông không bao giờ có.

Về lý thuyết mà xét, thì sự cô đơn có thể là điều kiện làm việc lý tưởng cho những ai có niềm say mê lớn. Nhưng khốn nỗi, quả thật đấy là chuyện lý thuyết, còn trong thực tế những người cầm bút ở ta hiện nay, một sự cân bằng trong tình cảm, lại là một bảo đảm tự nhiên cho sáng tác và nghĩ tới một người xa gia đình như Thanh Tịnh ai cũng hiểu ngay là “nhiều khi rỗi rãi mà không biết làm gì”. Chẳng những thế, lại phải biết thêm là sinh hoạt văn học từ sau 1954, nhất là từ 1958-60 trở đi, rồi trong chiến tranh, có một vẻ tấp nập riêng chỉ nó mới có. Các nhà văn Nguyễn Khải, Hữu Mai, Hồ Phương, Hải Hồ, Nguyễn Trọng Oánh, lúc ấy mới trên 30, đi khoẻ, viết khoẻ, tháng trước vừa theo đơn vị này đi tiễu phỉ ở Hà Giang, về viết một hai tuần nộp bài cho cơ quan xong, tháng sau lại có thể theo một đơn vị khác làm kinh tế, và trở về, lại có bài ngay để nộp, cả toà soạn như một đàn ong cần cù, hàng ngày hàng giờ toả đi khắp nơi để viết, viết ngay về cái thực tế sôi động của miền Bắc lúc ấy. Còn Thanh Tịnh của chúng tôi thì sao? Ngoảnh đi ngoảnh lại tuổi 50 đã đến với ông từ lúc nào. Ông không thể xông xáo như mọi người, mà có lao đi khắp nơi, trở về, ông cũng không thể viết nhanh viết khoẻ như họ. Hơn thế nữa ở đây, không khỏi còn những phân cách trong thói quen, trong quan niệm. Một bên là lớp nhà văn mới trưởng thành từ kháng chiến, lòng đầy tự tin, và cái háo hức chủ yếu, là háo hức làm nên một nền văn học trước đây chưa từng có; còn bên kia là Thanh Tịnh dẫu sao cũng là còn hơi hướng tiền chiến, nghĩa là thuộc về một quá khứ người ta đang muốn chôn vùi. Và thứ văn chương như Quê mẹ, dẫu sao cũng là thứ văn hiu hắt buồn tẻ của một thời đã xa lắm rồi, một người đã viết nên thứ văn như thế, làm sao có thể bắt ngay vào cái nhịp sống mới. Tuy không ai nói ra, nhưng hồi ấy, hầu như tất cả nghĩ thế. Mỗi lần bàn về Thanh Tịnh, thường mọi người thầm bảo nhau: Thôi thì cứ để “cụ” tuỳ nghi viết gì thì viết, còn phần công việc chủ yếu, sẽ phải là do lớp trẻ gánh vác.

Nhưng khi đã nghĩ như thế, tức là mọi người không còn coi Thanh Tịnh như một chiến sĩ bình đẳng với mình. Tức ông đã sớm trở thành một thứ cựu chiến binh ngay trong thời gian tại ngũ. Có cái rỗi rãi của người được chiều, có cái tuỳ nghi của người không bị ràng buộc. Nhưng chính vì thế, lại dễ trở nên lạc lõng. Tiếng thở dài hàng ngày của ông - ông tập thở theo lối dưỡng sinh - vẫn cất lên đều đều khi bước chân nặng nề đưa ông từ gác xuống nhà, từ nhà lên gác, song đáp lại tiếng ngân vang của nó, chỉ có một sự im lặng buồn tẻ. Kể ra, sự xa cách trong lối sống đã được giữ gìn kín đáo để khỏi trở thành lộ liễu. Là những cây bút đầy tài năng và hiểu biết, những Hữu Mai, Hồ Phương, Nguyễn Khải, Từ Bích Hoàng, Vũ Cao... đối với Thanh Tịnh vẫn có cái tình riêng. “Ông viết văn từ khi ta còn học tiểu học”, “Và bây giờ trong lúc ta vợ con đầm ấm, thì ông cô độc cô quả, xa nhà xa vợ con” - hầu như bất cứ ai cũng có lần tự nhủ vậy, để đối với Thanh Tịnh thật gượng nhẹ. Riêng Nguyễn Minh Châu lại có cái gì hơn thế. Hình như với cái cốt cách riêng của mình, Nguyễn Minh Châu cứ có sự bùi ngùi thương cảm riêng với các bậc đàn anh tiền chiến và thường xuyên dậy lên trong ông một tình cảm giống như sự biết ơn chân thành. Một lần nào đó, viết xong một truyện ngắn, bên cạnh nhan đề Những lá thư vui, Nguyễn Minh Châu trang trọng chua thêm mấy dòng “Kính tặng bác Thanh Tịnh” (như ngày xưa, Thanh Tịnh đã viết Con so về nhà mẹ để “Kính tặng hương hồn anh Thạch Lam”). Lại một lần khác, sau nhiều dịp trò chuyện với Thanh Tịnh, Nguyễn Minh Châu đóng vai nhà báo, viết hẳn một bài phỏng vấn giúp cho Thanh Tịnh giãi bày đủ điều với mọi người.

Nhưng cuộc đời không phải chỉ có những cái đó.

Cuộc đời trước tiên là một nhịp sống bình thường. Hàng ngày cơ quan chúng tôi túm tụm, người đi thực tế về, người mới đọc được quyển sách hay, người có cái tin sốt dẻo, cứ gặp nhau là dính với nhau, tiếng cười vang lên trong các gian phòng đóng kín, khiến người qua lại phải giật mình.

Trong những hội vui đó, không có Thanh Tịnh.

Tôi nghĩ rằng một người nhạy cảm như tác giả Quê mẹ rất biết tình thế của mình. Ông không chống chọi nổi với thời gian, song ông hiểu. Bằng cái từng trải của một chiến sĩ quân đội lâu năm, không phải ông không thấy mọi người có lý. Thành thử, ông cũng không buồn vất vả xoay xoả viết lấy được - một việc có lẽ ông cho là vô ích - mà cùng với những bế tắc trong hoàn cảnh riêng, ông sống như sống cho xong, buông thả, vui chơi qua ngày, đến đâu thì đến.

Những ấn tượng trên đến với tôi ngay từ những ngày mới đặt chân về công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân đội, tức khoảng 1968. Ở vào cái tuổi chưa đầy sáu mươi mà Thanh Tịnh những năm đó trông đã già lắm, già hơn tuổi rất nhiều. Hồi ấy, một tờ báo ra hàng tháng như chúng tôi chưa có ô tô riêng, bởi vậy, trừ những trường hợp đi các tỉnh xa, xin được xe Tổng cục, còn đi đâu loanh quanh Hà Nội, thì các thủ trưởng như Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, hoặc các nhân vật trụ cột trong cơ quan cỡ như Hữu Mai, Nguyễn Khải, Hồ Phương cũng cứ xe đạp cá nhân mà đạp. Thanh Tịnh - người cao tuổi nhất cơ quan - cũng không ra khỏi thông lệ đó. Với một xe đạp cũ, ông tự mình có mặt ở khắp nơi, buổi họp này, dịp vui kia, và mặc dù đi bên cạnh mọi người, song cái dáng cao lớn trên cái xe loại vành 680 lại cứ làm cho ông tách hẳn ra. Nhưng muốn biết Thanh Tịnh đơn độc thế nào, phải nhìn những lúc ông đi bộ. Trên đường Phan Đình Phùng, dưới những hàng sấu, cũng già cả mệt mỏi, ông bước đi như không thể dừng lại nên phải bước, khuôn mặt đăm chiêu, dáng điệu đờ đẫn. Không trù tính định liệu, không ham muốn, ông nhìn thẳng về phía trước mà hoá ra chẳng nhìn gì cả. Đến cả bước chân của ông cũng không ai nghe tiếng nữa. Chỉ có tiếng thở dài của ông là có thật.

Trong các hồi ký, nhiều người đã nói về khả năng hài hước của Thanh Tịnh. Tất cả đều nói đúng, và chỉ quên một điều: đấy là cái hài hước của một người đã quá buồn! Con người vốn được nuông chiều, mà nay phải sống xa gia đình. Con người vốn ham chơi, mà nay phải sống trong không khí khổ hạnh. Trước khi chọc ghẹo thiên hạ, ông cần làm cho mình vui cái đã. Ông cười, cũng y như ông làm báo tết ở trên tôi nói, tất cả là để tạo nên một chút vang động giữa cái vắng lặng mà ông đã triền miên phải chịu. Nhìn ông vọc vạch những bài báo tết - mấy đoạn ca dao nôm na dễ hiểu, mấy mẩu đố vui, cũng như nhìn ông phát biểu giữa đám đông -, đôi khi tôi nhớ tới một hình ảnh mà những ai ở Hà Nội từ 1960 về trước đều biết. Đó là những ông già ngồi nặn những Tôn Ngộ Không, Quan Công, Trương Phi, bằng các loại bột xanh đỏ cắm trên một chiếc tăm tre, bán cho bọn trẻ nhỏ.

Những ông già ấy làm vui cho mọi người, cốt để khuây khỏa nỗi buồn trước sự xô đẩy của thời gian, và Thanh Tịnh của chúng tôi cũng thế. Tôi nhớ những ngày mùa rét, Thanh Tịnh hay bận ra ngoài một cái áo dạ màu cổ vịt, một màu rất chua, và chói hẳn lên giữa đám người nâu sồng hoặc toàn quần áo màu xám chung quanh. Đấy cũng là một cách để tỏ rõ cái khác biệt với chung quanh chăng? Cũng có thể Thanh Tịnh không cố ý, nhưng cái cách của ông cứ xui người chung quanh nghĩ thế. Vả chăng, cái con người thật của chính mình, thì mỗi người làm sao giấu được! Một cảm tưởng chung chúng tôi vẫn hay trao đổi với nhau: Ngoài mùi cao Sao vàng hắc hắc - cái mùi phổ biến của những người già - riêng ở Thanh Tịnh tuổi sáu mươi hồi ấy lại còn thường hay bốc lên mùi nước hoa. Chắc chắn đó là thứ nước hoa thật rẻ, anh em nhà văn đi nước ngoài (chủ yếu hồi ấy là đi Liên Xô) gửi tặng. Thứ xa xỉ phẩm này, cũng như màu áo cổ vịt, khiến cho Thanh Tịnh nổi bật lên giữa những người khác. Trước mặt Thanh Tịnh nhiều người khen lấy lòng: “Anh Tịnh vẫn galant quá”, nhưng sau lưng, tôi biết người ta vẫn thầm thì với nhau: cụ phải làm thế vì già rồi, lại dân nghiện cũ, lâu không tắm, không đổ nước hoa lên quần áo thì còn dám đi đâu nữa!

Phần lớn các thiên truyện Thanh Tịnh viết trong Quê mẹ là những truyện buồn. Cô Duyên trong Bên con đường sắt chịu sự đàm tiếu của mọi người mà đâu có hạnh phúc. Cô Sương trong Tình thư không nuôi nổi mối tình thuần hậu qua những bức thư. Cô Hoa trong Con so về nhà mẹ thường xuyên sống trong cái tâm trạng chán nản rồi ao ước hão. Ở nơi này thì bảo rằng ở nơi kia khá hơn. Cho đến cô Thảo trong Quê mẹ cũng phải nhắm mắt nhắm mũi mà sống, luôn luôn ra vẻ rằng mọi người trong gia đình mình quý mến nhau lắm. Nhưng có lẽ thiên truyện gần với con người Thanh Tịnh về sau, mà cũng là đậm chất Huế của quê hương ông là truyện Con ông Hoàng. Trước cảnh gia đình túng đói, ông Hậu, con ông Hoàng vẫn phải cố giữ lấy chút tiếng hão. Tương tự như ông Hậu con ông Hoàng, Thanh Tịnh của chúng tôi cũng không bao giờ có thể sống hết cái con người buồn rầu đau đớn của mình. Ông phải giữ tiếng cho mình và cho mọi nguời, vì cái tiếng của ông đã quá lớn. Chung quanh và chính ông đã ép ông thành một thứ phượng hoàng nhồi rơm nhồi trấu rồi treo trên tường, ông phải giữ lấy cái vai đã có.

Lại nhớ cái phòng bảo tàng những thứ cổ vật mà Thanh Tịnh xây dựng cho mình, trên cái phòng số 14 gác 2 nhà số 4 Lý Nam Đế những năm ấy. Nghèo thế, Thanh Tịnh của chúng tôi lấy đâu ra tiền để mua cổ vật? Mà cũng buồn thế, cô độc thế, một người ít nghị lực như Thanh Tịnh lấy đâu sức lực để mang lại cho bộ sưu tầm của mình một vẻ hoàn thiện dù là chỉ trên phương diện công phu thuần túy? Chẳng qua buồn tình quá, ông nhặt nhạnh một ít đồ cũ, xếp cho ra bộ, trong lúc không ai biết chơi thì cách chơi của ông đã là độc đáo, thế thôi. Song giá kể chỉ dừng lại ở chỗ ấy, thì Thanh Tịnh lại đi hơi quá: Từ lúc nào không biết, một cách tự nhiên, ông hay kể lể về cái bộ sưu tầm của mình. Toàn đám tinh ma, cố nhiên là chúng tôi có biết cái sự tô vẽ của Thanh Tịnh. Nhưng sự lịch sự tối thiểu không cho phép ai nói chuyện đó ra trước mặt ông làm gì. Rút cuộc là một cuộc chung sống hoà bình, Thanh Tịnh cứ nhặt nhạnh và mang ra khoe, nghĩ chẳng ai tin thì cũng buồn quá, nên tự nhủ rằng biết đâu sự bày biện rất thành thực của mình vẫn có tác dụng. Còn chúng tôi thì lúc nghe ông nói, phải giữ bộ mặt nghiêm trang cho khỏi bật cười, và lâu dần, việc đó cũng chẳng khó khăn gì với chúng tôi, vì ra ngoài, chúng tôi lại giễu ông ngay lập tức.

Trò chơi hơi buồn!

Nhưng nó là trò chơi duy nhất một ông già tạo ra được cho mình, và cũng là trò chơi độc đáo, dù không được đẩy đến cùng. Nó không làm hại làm phiền ai cả. Nó có thể được chấp nhận, ngay cả lúc người ta quá bận rộn.

Không rõ bây giờ có ai đang làm việc cho những tập hồi ký viết về những năm chống Mỹ. Nhưng dăm bảy năm trở lại đây, có dịp sống với cái tốc độ chóng mặt và những chương trình quảng cáo gây ấn tượng đậm của kinh tế thị trường, lớp người cả một thời trai trẻ sống trong chiến tranh và bom đạn như bọn tôi càng hay nhớ về những năm ấy. Hà Nội trong chống Mỹ là một cái gì lạ lắm, không phải là một thủ đô hoà bình - tất nhiên rồi, nhưng một thủ đô của chiến tranh cũng không hẳn. Tuy mấy năm 1966-67, thỉnh thoảng cũng có bom Mỹ bắn phá, nhưng với cái tính gan lì của người Hà Nội thì không thấm thía gì hết. Rồi từ cuối 1968, mọi chuyện đâu đóng đấy, chúng tôi nhởn nhơ sống, trẻ con vẫn đi học, người lớn vẫn “tất cả cho sản xuất”, mà vẫn vui vầy sống đủ mọi hệ luỵ của kiếp người. Ngoài kia là mặt trận, mọi người đều có con em mình ở ngoài ấy, và có thể mai kia đây, đến lượt mình đi, có sao! Nhưng hôm nay, hãy cứ vui vẻ với cái hạnh phúc trần thế mà mình đang có. Tôi đạp xe với bạn dong nhan các phố. Anh nhâm nhi vại bia bên mấy củ lạc. Anh kia nữa thành kính ngồi nghe một bài hát dân ca theo chương trình ca nhạc theo yêu cầu thính giả sáng chủ nhật của Đài tiếng nói Việt Nam. Vào những ngày tết, bên cạnh bánh chưng xanh và những hộp mứt ọp ẹp cung cấp theo ô phiếu, thì lại vẫn còn những cành hoa đào Nhật Tân bán trên Hàng Lược, nó là một thứ xa xỉ được chiến tranh cho phép, bởi nó là dấu hiệu về một đời sống bình thường, mà mọi người thấy cần tỏ ra cho kẻ thù biết. Có lẽ đời sống văn nghệ của chúng tôi mà được phát triển, thì lý do cũng tương tự thế chăng, chỉ biết trông vào những số báo tết, cũng có chút tươi tỉnh lên thật. Trên trang thơ, Xuân Diệu cho đăng những bài thơ tình tha thiết và đôi khi hơi buồn nữa, mà có thể là ông làm đã từ lâu, nhưng chỉ vào các dịp Tết mới tìm thấy lý do công bố. Tế Hanh đứng tên sau các bài thơ viết về con. Còn nhà hùng biện Chế Lan Viên thì trưng ra một nét mặt mới: thay cho các bài thơ chính trị, là thơ về hoa, về quả, hoặc thơ về... thơ. Chính trên cái nền rộng rãi ấy mà Thanh Tịnh trong những dịp Tết trở lại với cái nghề cũ của mình là nghề làm báo, và đặt bên cạnh bọn ngọng nghịu chúng tôi, thì đấy vẫn là một tay nghề có hạng. Hoàn cảnh những năm chiến tranh đã tập cho chúng tôi một thói quen là không sưu tầm gìn giữ gì hết, gia đình tôi cũng chật hẹp như mọi nhà, nên chả làm sao giữ được những số Văn nghệ Quân đội mà tôi đã góp phần làm trong hơn chục năm từ 1968 đến 1979 (và suốt thời gian ấy, mỗi tháng, tôi được phát hai số), nhưng mỗi lần có dịp thấy lại những số báo ấy, nhất là những số Tết dày dặn hơn một chút, màu sắc loè loẹt hơn một chút, thì tôi lại nhớ ngay đến Thanh Tịnh. Chút quà mọn là những số báo của chúng tôi, hình như là quá bé bỏng so với cái vóc vạc cao lớn của ông, nhưng ông đã đổ vào đấy tất cả tâm sức, và bên tai tôi lại vẳng lên tiếng nắc nỏm của Nguyễn Minh Châu:

- Trông kìa, cụ Tịnh chắc đã viết được hơn chục bài rồi... Ở nhà này, về khoản làm báo, cánh cầm bút lớp sau cứ gọi là xách dép cho cụ Tịnh cũng không đáng!