Thursday, December 31, 2009

Di sản giữa đời thường







Nghề làm tranh dân gian của làng tôi là một thứ đặc sản của văn hóa Việt Nam mà mức độ độc đáo có thể so với rối nước, các điệu chầu văn, các làn quan họ. Đấy là điều không chỉ người trong cả nước biết, mà khách du lịch nước ngoài cũng biết và dân làng tôi lại càng biết. Mỗi lần về quê, tôi lại được mấy ông thuộc loại đàn anh trong làng nhắc nhở:
- Chú phải nhớ rằng tranh của Đông Hồ mình là có mặt ở những bảo tàng lớn của thế giới kia đấy.
Nhưng là dân sở tại, nên so với các nơi khác, dân làng tôi còn biết thêm một điều nữa có liên quan đến di sản của làng. Ấy là mặc dù bàn dân thiên hạ cứ khen như vậy, cứ tự hào hộ như vậy, và tết đến báo chí cứ viết dài dài về làng tranh xưa, nhưng chả ai mua tranh mình làm ra cả! Cái cảnh tết đến, lái buôn các nơi về tranh nhau lấy hàng, thuyền đỗ nườm nượp bên sông, và từng bó, từng bó tranh sẽ theo sông nước tỏa đi khắp chợ cùng quê - cái cảnh ấy chỉ còn là trong tưởng tượng, và thỉnh thoảng ông già bà cả có kể cho con cháu nghe, thì cũng chẳng khác chi kể truyện cổ tích. Thế vào chỗ tranh Đông Hồ xưa, ở đồng bằng Bắc bộ hiện nay, khắp chợ cùng quê bày bán các loại tranh in, tranh phổ biến hiện đại, nhất là tranh Tàu. So với tranh làng tôi làm ra, thì các loại tranh ấy giấy trắng hơn, màu đẹp hơn, nhất là nhiều hình ảnh tân thời, chứ đâu quanh quẩn con lợn, con gà... thành thử giá có đắt hơn tí chút, người ta vẫn thích mua. Rút cục, nghề làm ăn ở cái làng nổi tiếng là có lịch có lề như làng tôi giờ teo tóp hẳn, chỉ còn một hai nhà kỳ cạch làm thứ hàng thửa, hàng kỹ cho khách Tây đến xem và bán cho họ theo giá hàng lưu niệm. Nhưng không phải như thế nghĩa là cả làng bó tay cam chịu, mà phần đông đã sớm tìm được chỗ để hướng sự khéo tay và cái gu tuyệt vời của mình trong mỹ thuật vào cuộc kiếm sống - ấy là làm hàng mã. Đại khái sản xuất đủ thứ, từ voi ngựa, xe máy, xe đạp, tivi, quần áo... tất cả trông cứ như thật, nhưng thực ra là làm bằng giấy, cốt để các nhà giàu chung quanh Hà Nội mỗi dịp giỗ tết, đốt cho người nhà của họ đang cư ngụ nơi âm phủ. Thuyền bè sông nước cũng không cơ động bằng chiếc xe đạp. Theo dọc sông Đuống, cả đàn bà con gái quê tôi cũng đạp xe nhoay nhoáy, mang hàng đi phục vụ bà con buôn bán ở Hà Nội và các tỉnh lân cận. Còn cái chuyện tranh gà, tranh chuột, mấy chục năm nay xếp xó, dân làng cũng không lấy thế làm chán nản, ai hỏi vẫn tự nhận là dân làng Hồ, vẫn tự hào về truyền thống làm tranh ngày xưa như thường. Chỉ có những lúc mệt mỏi quá trong cuộc kiếm sống - sau một chuyến chổng phao câu đạp xe giao hàng chẳng hạn - những người biết nhìn rộng ra chung quanh mới chép miệng:
- Chả bù cho làng người ta cũng là di tích di sản mà chẳng phải đi đâu cả, cứ quanh quẩn đầu làng cuối làng vẫn cơm giò cơm chả.
Quả có như thế! Các làng chuyên nghề làm ruộng tị với làng tôi, còn làng tôi thì lại tị với các làng bên huyện gần đấy, tuy cũng được mang danh là di sản, song dứt khoát không nổi tiếng bằng, ấy vậy mà dân sống mát mặt hơn hẳn. Nói nôm na là làng ấy có một ngôi đền, nếu không phải dâm từ thì cũng chỉ thờ một nhân vật loàng xoàng, và đứng về mặt kiến trúc, chẳng có gì đặc sắc. Có điều, sự đời bây giờ ăn ở cái tiếng: chỉ nhờ có cái tên gọi liên quan đến sự làm ăn mà cái đền giời ơi đất hỡi ấy tự nhiên người đến lễ bái nườm nượp. Mới đầu chỉ đông vào tuần rằm mùng một. Sau gần như ngày nào cũng có người đến lễ. Nhất là vào những tháng trước và sau Tết âm lịch người đông như hội, người chật như nêm, vào đền rồi, có khi đứng hàng tiếng đồng hồ hai tay mỏi rời với mâm lễ đang bưng, mà vẫn không lê nổi đôi chân đến bên bàn thờ. Những ai đi lễ mà lắm thế? Dân buôn, tất nhiên rồi. Nhưng thời buổi này, quốc doanh không chịu kém tư nhân về làm ăn, thì làm sao lại chịu kém tư nhân về lễ bái - nghe nói ở nhiều công ty, anh em xúm lại chuẩn bị vàng hương để "sếp" đánh xe đi làm lễ. Và thế là đền thiêng lại thêm thiêng và gần như cả làng bên ấy sống về cái di tích văn hóa có khả năng sinh lời đó. Đàn bà đi bán vàng hương, xôi bánh, hoa quả, các thứ hàng cúng và không quên những thứ làm no bụng người đi thờ cúng. Đàn ông đi trông xe, đi giữ trật tự, người nào có dáng nho nhã và khéo học lỏm một chút còn đi làm đơn, làm sớ. Việc cho trẻ con cũng không thiếu: Tan buổi học về - đây là nói những đứa chưa tiện bỏ học - chúng sấp ngửa chạy ra trước cửa đền. Đồ nghề chẳng cần gì, chỉ có cái miệng khéo nói, với lại đôi tay bưng bê chắc chắn, là tha hồ dắt khách, thu nhập đằng thằng bằng mấy lương các ông cán bộ huyện! So với người làng tôi, thì dân cái làng có đền thờ quý hóa ấy chẳng những thu nhập có phần hơn, mà lại được cái sướng là hành nghề tại chỗ, bám ngay vào di tích mà kiếm sống, chứ không phải chạy rông ra mãi Hà Nội, và các tỉnh bạn, bởi vậy người làng tôi - cái làng tranh nổi tiếng trên đã vào từ điển - mới suy bì tị nạnh:
- Thế mới là di sản chứ!
Câu nói buột ra tự nhiên song đằng sau đấy tôi đọc ra cả một quan niệm mà như tôi quan sát, nó đang ngự trị dài dài trong đầu óc không chỉ người dân làng tôi mà cả vùng tôi và nhiều vùng đất khác tôi từng có dịp ghé qua. Muốn có được định nghĩa rành rọt rằng di sản là thế này thế nọ, hãy đi tìm các sách nghiên cứu dày cộp, các loại bách khoa đứng tên toàn những giáo sư với tiến sĩ danh vang thiên hạ. Người thường chúng tôi không hiểu được cặn kẽ như vậy. Nhưng chỉ cần biết rằng người dân làng tôi vẫn thuộc vanh vách cái truyền thống làng tranh của mình, thì cũng không trách ai được: chúng tôi cũng thích những cái cao sang ấy lắm. Chỉ có điều, do sống giữa đời thường nên bên cạnh đấy, trong tâm trí chúng tôi không nguôi một nỗi mong muốn sâu xa: Cái gọi là di sản ấy phải nuôi sống được dân sở tại. Di sản không được phép không sinh lợi! Cái lý do khiến cho ở nơi này, di sản được chăm bẵm tươi tốt, nơi kia hoang vắng điêu tàn, rút cục là ở chỗ ấy. Khi một di sản đã sinh lợi, nếu nó không thiêng chúng tôi biết cách làm cho nó thiêng, không có lịch sử, chúng tôi sẽ làm ra lịch sử. Cả làng cả nước mà đã đồng tình thì đâu có khó!



 


NHÂN NÀO QUẢ ẤY



















Sunday, December 27, 2009

Trở lại với di sản , thành tựu và hạn chế





Bên lề một thế kỷ văn học


VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG PHÁP MỚI

Ông cha ta ngày xưa không thiếu tinh thần tự hào về sự sáng tạo văn học và cũng đã bắt đầu làm các loại sách có tính chất sưu tầm nghiên cứu để hệ thống hoá di sản của tiền nhân ,tuy nhiên ở đây có hai điều phải gọi là hạn chế : 



1) số lượng những bộ sách này thực quá ít – theo Trần Văn Giáp sơ bộ thống kê trong cuốn Tìm hiểu kho sách Hán Nôm t .II , thì số Hợp tuyển thơ văn này chỉ có 13 cuốn cộng thêm 9 cuốn sưu tầm văn học dân gian trong khi đó sách Thi văn tập tức là sáng tác của từng tác giả riêng biệt lên tới 129 cuốn


2) chất lượng các công trình nghiên cứu sưu tầm này chưa cao bằng chứng là không thấy cuốn nào ngày nay được phổ biến rộng rãi trong bạn đọc. Phải nhận là trong việc sưu tầm nghiên cứu này thì thế kỷ XX làm được nhiều việc hơn và chất lượng cũng khá hơn .Tại sao ? Ở đây rõ ràng có vai trò của phương pháp khoa học mới được du nhập từ phương Tây .Lấy một ví dụ đặt bên cạnh cuốn Việt Nam phong sử hoặc Nam quốc phương ngôn tục ngữ bị lục thì cuốn Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc in ra lần đầu 1928 là một bước tiến vượt bậc Đấy là nói cụ thể về sưu tầm . Trong nghiên cứu , tư duy khoa học càng đóng vai trò sống còn . Mặc dù có thế đứng của người trong cuộc song không nhà nho nào trước đây kể cả những người sống ở đầu thế kỷ XX đủ sức khái quát về học thuyết của đạo Khổng đến tầm cỡ như Trần Trọng Kim . Người ta không thể giải thích điều này nếu không chú ý tới phương pháp ,công cụ và nói chung là quan niệm nghiên cứu được Trần Trọng Kim sử dụng (gần đây bộ Nho giáo của ông vẫn thường được in lại và bày bán rộng rãi ). Nhìn chung việc áp dụng những phương pháp sưu tầm và nghiên cứu mới như thế này đã làm cho việc tìm hiểu và khai thác di sản trong thế kỷ XX đạt tới trình dộ mà các thế kỷ trước không dám nghĩ tới .




NHỮNG CỐ GẮNG LIÊN TỤC


Từ 1932 về trước trong khi việc sáng tác các tác phẩm thơ văn mới còn đang trong giai đoạn mầy mò thì chính là lúc việc sưu tầm và nghiên cưú di sản được bắt đầu một cách hiệu quả.Từ Nguyễn Văn Tố tới Phạm Quỳnh từ Phan Kế Bính tới Tản Đà ...và lùi về trước nữa cả Trương Vĩnh Ký lẫn Huỳnh Tịnh Của mỗi người theo một cách riêng đều muốn làm một chút gì đó cho lịch sử văn chương , ngôn ngữ của dân tộc và sự thực tất cả nhứng vấn đề cơ bản từ văn hoá dân gian đến văn chương cổ điển đều được họ xới ra và mời gọi các thế hệ sau cùng giải quyết .
Tiếp đó như được những thành tựu mọi mặt của tiểu thuyết và Thơ mới cổ vũ , từ sau 1932 công tác nghiên cứu cũng có được những công trình tương đối tổng hợp chẳng hạn các bộ Việt Nam văn hoá sử cương của Đào Duy Anh hoặc Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm cũng như cuốn Truyện Kiều do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim chú giải .
Trong hoàn cảnh của đất nước có chiến tranh , một điều dễ hiểu với công việc nghiên cứu sau 1945 là đưa ra cách giải thích mới đối với di sản nhằm kích thích lòng tự hào dân tộc và động viên tinh thần chiến đấu của dân chúng . Ngay ở Việt Bắc , phương pháp mác-xít đã được vận dụng để đáp ứng yêu cầu này của công tác nghiên cứu di sản và trong tay của những người có kinh nghiệm nó đã dược triển khai khá uyển chuyển với những tác phẩm như Giảng văn Chinh phụ ngâm của Đăng Thai Mai hoặc Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của Hoài Thanh và về sau trong Các nhà thơ cổ điển Việt Nam của Xuân Diệu.Do nhu cầu của giáo dục ,nhiều bộ giáo trình được biên soạn những năm 70 như giáo trình của Đại hoc tổng hợp Đại học sư phạm Hà Nội đánh dấu nhận thức và cách giải thích về di sản của một thời (Ở Sài gòn trước 1975 các bộ sách của Thanh Lãng và Phạm Thế Ng ,tiếp tục đi theo cái hướng mà Việt Nam văn học sử yếu đã mở ra từ hồi tiền chiến cũng là những thành tượ mà những người đi sau phải tham khảo). Thực tế là trong các mặt di sản văn hoá nói chung thì di sản văn học vẫn là bộ phận được coi trọng nhất có truyền thống nghiên cứu sớm nhất .Các ngành nghiên cứu lịch sử hoặc tư tưởng , tôn giáo thường vẫn dựa vào nghiên cứu văn học một phần .Các ngành nghiên cứu nghệ thuật như các bộ môn lịch sử mỹ thuật lịch sử âm nhạc xem đây là nơi tạo ra chuẩn mực để so sánh đối chiếu .Chính đấy lại là những thách thức mà ngành nghiên cứu di sản văn học phải chấp nhận .






CHƯA THỂ BẰNG LÒNG



Cho đến nay những cuộc tranh cãi về văn bản Truyện Kiều vẫn đang được tiếp tục một cách uể oải và một cuốn tiểu sử khoa học về Nguyễn Du vẫn chưa được biên soạn .Chung quanh hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương chỗ nào là phần có thực chỗ nào là sự huyền thoại hoá của đời sau ? Dịch giả Chinh phụ ngâm khúc là Đoàn Thị Điểm hay Phan HuyÍch ? Đóng góp của nền văn học VN nửa dầu thế kỷ XIX dưới triều các vị vua hay chữ của triều Nguyễn là gì ? Rồi sự chuyển mình của văn học VN sang thời hiện đại ,tầm vóc thực sự của văn học VN thế kỷ XX --- những câu hỏi ấy cũng như nhiều câu hỏi tương tự vẫn chưa có lời giải đáp đáng tin cậy và điều này phản ánh một căn bệnh dai dẳng của việc tìm hiểu di sản văn học ở VN , ấy là việc gì cũng có người làm nhưng không việc gì làm đến nơi đến chốn . Đã đành nhìn lại thì nhiều công trình nghiên cứu của những Trần Văn Giáp,Nguyễn Tường Phượng , Hoa Bằng , Vũ Ngọc Phan ...là không tránh khỏi những luộm thuộm song nhiều cuốn sách in ra gần đây mang danh viện nọ viện kia đứng tên toàn những giáo sư tiến sĩ nổi tiếng cũng lại luộm thuộm theo một cách khác .Còn nếu đặt bên một công trình hoàn chỉnh như cuốn Thi nhân Việt Nam 1932-1941 thì người ta lại càng nản lòng .Trong mươi mười lăm năm gần đây có tới hàng chục tập sách tuyển chọn lại Thơ mới đã được in ra , nhưng chả có cuốn nào hứa hẹn một cuộc sống lâu dài như tập sách của Hoài Thanh và Hoài Chân .
Trong hoàn cảnh giao lưu quốc tế được đẩy mạnh ,nhu cầu trở lại với di sản ngày càng là một đòi hỏi cấp bách và chính đáng , song nhìn lại công việc những năm gần đây thì thấy có vẻ như nhu cầu ấy chưa thể đáp ứng một cách đầy đủ và đó là một món nợ mà thế kỷ cũ còn để lại cho thế kỷ mới 


1. Dương Quảng Hàm
một trong những người có công lớn trong việc hệ
thống hoá di sản văn học



2, Trở lại với kho tàng
ngôn ngữ của người xưa cũng luôn luôn là việc cần
thiết
Trong hoàn cảnh giao lưu quốc tế được đẩy mạnh ,nhu cầu trở lại với di sản ngày càng là một đòi hỏi cấp bách và chính đáng , song nhìn lại công việc những năm gần đây thì thấy có vẻ như nhu cầu ấy chưa thể đáp ứng một cách đầy đủ và đó là một món nợ mà thế kỷ cũ còn để lại cho thế kỷ mới .







































Monday, December 21, 2009

Khôn lỏi- ranh vặt -tinh tướng




Một người đã sống qua ở Nhật cho biết người Nhật trong khi giao thiệp, nhất là trong khi làm kinh tế, cũng có nhiều quái chiêu không thể thương được. Đầu cơ,móc ngoặc, hối lộ, gọi chung là đi đường tắt...trò gì cũng có cả.

`

Nhiều người trong đám dân đi chào mời tiếp thị (gọi là "mizu shobai") là những chuyên gia về lừa lọc. Họ lừa có bài có bản. Nhà người Nhật thường đóng cửa và khóa, trước cửa nhiều nhà thường phải gắn bảng miễn tiếp loại người này.Bởi "mizu shobai" như có bùa mê thuốc lú, làm cho người ta phải xiêu lòng, rồi sau mới biết mình bị lừa.

Bài viết so sánh: “Cái tinh ma thâm độc của họ khác với cách xảo trá ngô nghê hay dối quanh của người Việt, nên lúc đầu rất khó nhận ra.”

Có chút gì đó vừa “vui” vừa buồn khi nghe nhận xét trên đây. “Vui” vì không phải chỉ người Việt thích lừa lọc nhau, thiên hạ cũng xấu chẳng kém gì ta.Mà buồn vì hóa ra người mình rút cục chỉ biết mẹo vặt, chứ không có cái mưu đồ sâu xa, cái thâm trầm như thiên hạ.

Hơn bù kém thấy đáng buồn hơn vui. Người bị lừa vừa bật cười vừa bực mình - đến lừa mà cũng vụng dại hớ hênh,thì còn làm được cái gì nên hồn (!).

Người nước ngoài thường nhận xét nói chung người Việt thông minh lanh lợi. Nhưng họ cũng thấy ngay sự nhạy cảm nhanh nhẹn trong phản ứng này không dựa trên một sự suy nghĩ chắc chắn mà có gì đó nông nổi vội vã. Trong sự chủ động lại như mang sẵn yếu tố thụ động.

Bản thân chúng ta không phải không biết điều đó.

Trong tiếng Việt từ “khôn” không hàm ý sâu sắc trong tư duy và uyên bác trong kiến thức, mà ngả sang một sự tính toán lặt vặt dễ gây phản cảm.

Đó là nghĩa của khôn trong những câu tục ngữ “khôn ăn người dại người ăn “, “khôn văn tế dại văn bia” “khôn chẳng qua lẽ khỏe chẳng qua lời “”khôn sống mống chết” “ khôn nên quan gan nên giàu ‘ “ khôn ngoan chẳng lọ thật thà – lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy “…

Theo từ điển tiếng Việt Hoàng Phê, “khôn” là khả năng suy xét để một người tìm ra một cách xử sự có lợi nhất, tránh được những gì có hại đến quyền lợi các mặt của anh ta. Khôn lỏi - ranh ma - láu cá … đều là thực dụng và vụ lợi.

Tuy không dùng đến từ khôn, nhưng câu “Ăn cỗ đi trước lội nước đi sau” thật đã thâu tóm đủ cái tài tính toán của người mình và minh họa cho định nghĩa nói trên.

Tồn tại trong suốt lịch sử, công thức này đã thành một thứ “ chân lý mặc định “, người Việt dùng nó để “minh triết bảo thân” và việc truyền dạy trong các gia đình được xem là hoàn toàn tự nhiên. Không ai mang nó ra phê phán bao giờ. Gặp một người hành động theo nguyên tắc đó, chúng ta hoàn toàn thông cảm, trong bụng hiểu rằng ai cũng phải xử sự thế thôi, trông người khôn ta phải học theo để khi khác áp dụng.

Cả trong truyện kể dân gian lẫn trong chính sử, người xưa còn ghi lại nhiều mưu mẹo vặt của người mình trước sứ Tàu. Nguyễn Văn Tố trong Đại nam dật sử (1944) kể khi tiếp Tống Cảo, Lê Hoàn cho xua trâu bò của dân ra để dọa, gọi là quan ngưu, không đầy một nghìn nói khoe là mười vạn. Đấy là khi cần khoa trương thế lực. Còn nói tới việc khoe trí khôn, hẳn ai cũng nhớ sự tích Trạng Quỳnh thi vẽ: Quỳnh chấm cả mười đầu ngón tay vào mực để vẽ giun.

Về khoản khôn ngoan ranh vặt thì Trạng Quỳnh là cả một tượng đài vĩnh viễn.Trong danh sách những điển hình của tính cách Việt,nhân vật này bao giờ cũng đứng đầu sổ.

Thời xã hội mới bước sang giai đoạn hiện đại hóa, Nguyễn Công Hoan được biết tới như một ngòi bút giàu chất An Nam bậc nhất. Người Việt trong tác phẩm của ông đôi khi cũng ngớ ngẩn ngờ nghệch, nhưng phổ biến và được ông diễn tả sinh động hơn cả là loại láu cá và rất giỏi biến báo trong đối xử. Như viên tri châu nọ,trong truyện Sáu mạng người sau khi bắn nhầm mấy người dân địa phương đi hái thuốc, thì vu cho người ta là giặc khách để báo lên quan trên lấy thưởng. Như gã nhà giàu nọ,có ông chú từ quê lên chơi, muốn đuổi ,liền kêu ầm lên mất ví để buộc ông ta phải bỏ về sớm. Và như trường hợp cụ Chánh Bá có đôi giày cũ, nhân đi ăn giỗ, bắt thằng nhỏ vứt béng ra sau vườn, để bắt vạ nhà chủ, buộc người ta mua đền đôi giày mới.

Các nhân vật nông dân của Nguyễn Khải loại như Tuy Kiền cũng nổi tiếng là ranh ma. Trong việc tính toán giành lấy một chút lợi riêng, họ ở vào thế yếu. Luôn luôn họ phải che giấu lẩn tránh và tìm ra mưu mẹo để tự khẳng định. Họ thường hiện ra vừa đáng yêu vừa đáng ghét

So với “khôn lỏi” “ranh vặt” thì “tinh tướng” có nghĩa hơi khác một chút, nó được dùng để chỉ những người không những đã khôn mà còn muốn phô ra để cho người khác biết. Đọc Ngô Tất Tố, hẳn ai cũng nhớ mẩu chuyện Làm no hay là cái ăn trong những ngày nước ngập. Cái việc khoe rằng mình có sáng kiến chế biến đất ra đủ các loại thức ăn chính là có dấu hiệu của một lối xử thế tinh tướng, dù ở đây, người ta thấy ghét thì ít mà tội nghiệp nhiều hơn.



6-10-07 TT-VH






Sunday, December 13, 2009

Bức tranh đô thị chưa định hình


THÓI XẤU THỊ DÂN VÀ VĂN MINH ĐÔ THỊ



Một người bạn nước ngoài nói với tôi: Lối sống của các ông qua cách đi đường có tính chất bạo lực sao ấy.








Nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn: Tôi không phản đối việc người các nơi đổ về đô thị. Tôi chỉ phản đối việc mang cái xô bồ nhếch nhác về đây.

LTS: Đã gần hai năm TP.HCM thực hiện cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh đô thị. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng kết quả còn rất hạn chế, chúng ta chưa có được những thị dân đúng nghĩa.



Vậy thì ở những thị dân “chưa đúng nghĩa” ấy, đâu là những thói xấu phổ biến? Nó ảnh hưởng thế nào đến việc xây dựng đô thị văn minh? Làm sao để có những thị dân, những đô thị đúng nghĩa?...

Bắt đầu từ ý thức tham gia giao thông, nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn thẳng thắn:

Đô thị Việt Nam sinh ra trong hoàn cảnh đất nước nhiều xáo trộn, đời sống văn hóa có nhiều hỗn loạn. Người đô thị là những người muốn tổ chức lại đời sống của mình nhưng không có thói quen, không có chuẩn để phấn đấu theo. Cho nên theo tôi, đô thị của ta vẫn còn là một bức tranh chưa được định hình.





Lối sống... bạo lực

. Thưa ông, có vẻ như ý thức tham gia giao thông cũng nói lên rất nhiều điều về lối sống của người đô thị hiện nay?

+ Một người bạn nước ngoài nói với tôi: Lối sống của các ông qua cách đi đường có tính chất bạo lực sao ấy. Người nọ đe nẹt người kia, bấm còi thật to như để áp chế, tranh giành, thúc giục kiểu “ông không đi tôi đâm ông bây giờ”.

Chưa kể, đường sá ở đô thị rất chật chội, chúng ta chỉ lo chen lấn và tranh giành nhau. Đi ngoài đường người ta nghĩ mình không cần tử tế nữa, mà cũng không thể tử tế được. Đến công sở người ta phải ngồi nghỉ, văng tục mấy câu cho hả giận rồi mới làm việc. Điều đó làm hại đến nhân cách của chúng ta, đến cả những cái thương mến bình thường nhất cũng mất đi.

. Các đô thị đang bị quá tải và nó ảnh hưởng đến không gian sống và lối sống của người thành thị như thế nào, thưa ông?

+ Tôi nhớ có lần trời mưa, tôi dắt xe vào trú ở ngã tư. Nhưng một bà liền đuổi tôi đi để lấy chỗ bán hàng. Cả cái vỉa hè chung họ cũng cho là của họ. Tôi mới nghĩ mãi thế này thì TP đâu phải của mình nữa. May lắm mình về cái nhà của mình và làm chủ nó nhưng cũng đã yên thân đâu. Bao nhiêu là tiếng ồn từ ngoài đường, từ nhà hàng xóm cứ vọng vào ầm ĩ.

Tôi cho rằng chúng ta đang sống trong những TP bị đánh mất. Không thể tưởng tượng nổi ở Hà Nội ngày nào cũng gặp chuột chết vứt ra đường. Vào một quán ăn ngon cũng chẳng được ngồi yên mà thưởng thức. Bao nhiêu người chực sẵn, chỉ chờ mình đứng dậy là giành chỗ ngay...

Đặc tính “vô danh”

. Sự tự do, tùy tiện có phải một phần là do đặc tính “vô danh” của người thành thị?

+ Ở nông thôn, một người luôn được biết đến là cháu ông nọ, con bà kia... Còn ở TP thì không ai biết ai. Khi rơi vào tình trạng “vô danh”, lập tức cái tự do, tùy tiện được bộc lộ. Hơn nữa, nhiều người hiểu rất sai về tự do, nghĩ rằng tự do là muốn làm gì thì làm, càng làm những điều bị cấm thì coi như càng tự do.

Người thành thị, nhìn sâu xa trong lịch sử, đều có gốc gác là người nhà quê. Họ là những người muốn thay đổi, muốn làm lại cuộc đời mình. Nhưng nông thôn Việt Nam rất bảo thủ, người Việt Nam nói chung thường thích chê bai những người thay đổi. Vì thế người đô thị từng có mặc cảm mình là “con hoang” của nông thôn.

. Mặc cảm đó ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển đô thị, thưa ông?

+ Tôi ví dụ, nếu như một đứa trẻ được tin tưởng mình là đứa con đáng hy vọng của gia đình thì nó sẽ tự tin và sống tốt hơn. Còn đô thị chúng ta vẫn bị xem là “con hoang” nên cứ phải mò mẫm mà đi. Nhiều người sống ở đô thị luôn có mặc cảm ly hương là có lỗi nên nhất định phải quay về. Như vậy, anh sống ở TP nhưng anh không toàn tâm toàn ý với cuộc sống mới của mình, làm sao anh có thể là mũi nhọn của đô thị.

Bỏ qua cơ hội “nâng mình lên”

. Phải chăng vì tình trạng “chín người mười làng” mà việc hình thành những chuẩn mực chung trong lối sống người thành thị là không dễ?

+ Tôi nói trường hợp cụ thể ở Hà Nội. Trước chiến tranh (năm 1945), thâm nhập thủ đô rất khó khăn. Người tứ xứ phải cạnh tranh rất nhiều, phải giỏi giang mới có thể có một chỗ đứng ở đó. Họ cũng rất nể trọng TP và muốn sống theo nếp sống thành thị. Nhưng từ sau chiến tranh, vội vội vàng vàng thế nào, nhiều người lên đô thị mà vẫn giữ nguyên những nếp sống tùy tiện và cho rằng như thế mới là “chân quê”. Như vậy, họ vừa góp phần vào việc níu kéo đô thị, vừa bỏ qua luôn khả năng tự nâng mình lên thành con người hiện đại.

Tôi vẫn cho rằng thành thị là nơi có sức thu hút và sàng lọc cao, cái tinh hoa sẽ thắng cái kém cỏi. Tôi không phản đối việc người các nơi đổ về thủ đô. Tôi chỉ phản đối việc mang cái xô bồ nhếch nhác về đây.

. Ông đang nói về “tâm lý tiểu nông”?

+ Tiểu nông có những cái hay của nó. Nhưng cái “tâm lý tiểu nông” chưa được nhận thức, không được phê phán để biết mình phải sống thế nào mới là cái có hại.

Ví như việc ma chay ngày trước có thể “ò í e” vì thuở ấy đời sống vắng lặng, phải dùng tiếng kèn để gợi không khí sống. Nhưng bây giờ, ở thành thị chật chội, họ vẫn cứ mang cả loa đài hét vào tai người khác, trẻ con, người già mà ốm chỉ có nước chết thôi.

Không thể cứ mãi mò mò đi đêm

. Nghĩa là theo ông, chúng ta phải sống khác lối sống ngày hôm qua?

+ Khi tôi nói chúng ta phải sống khác thì nhiều người lại nghĩ là tôi đang chê bai này nọ. Không nên vậy. Phải thành thật mà nói với nhau rằng chúng ta sống còn dở lắm. Chúng ta không thể sống như thời nông thôn vắng lặng, cả xóm chỉ dăm chục người. Chúng ta đang sống trong 1 km2 với bao nhiêu người thế này, xe cộ đi lại thế này, sao lại giỗ tết, ma chay như ngày trước được!

Tôi hay nói dân tộc Việt Nam là một khối tự phát khổng lồ. Nó thể hiện trong cách cư trú ở nông thôn: Một nhóm người, một dòng họ đi đến đâu tiện thì ở đó, không cần cải tạo gì hết. Nhưng cư trú ở đô thị thì có ý thức. Người ta mong muốn một cuộc sống tốt hơn và họ cải tạo mọi thứ xung quanh.

Tôi cho rằng văn hóa cư trú rất quan trọng nhưng cũng không có mấy người nghiên cứu kỹ lưỡng về điều này. Chúng ta cứ lấy tấm lòng ra nói với nhau. Nhưng tấm lòng là cái rất mù mờ, đỏng đảnh, sáng yêu chiều đã ghét. Trong khi lý trí, hiểu biết mới là cái phù hợp trước nhất với sự phát triển của đô thị.

Theo tôi, các nhà khoa học phải dành nhiều thời gian hơn nữa để nghiên cứu về đô thị. Qua đó có thể biết là chúng ta sống với nhau như thế nào, các dân tộc khác sống như thế nào. So sánh mình với họ, thấy được cái nào của mình dở, cái nào của họ hay, hôm qua mình thế nào, hôm nay và mấy chục năm nữa ra sao. Chứ không thể cứ sống theo kiểu mò mò đi đêm hay “vón cục” lại với nhau mãi được!

. Xin cảm ơn ông.

 THÙY LINH - BẢO PHƯỢNG

phapluat online\14/12/2009


























Friday, December 11, 2009

Tại sao gần như là vô phương cứu chữa



Một điều đáng mừng là thời gian gần đây có vẻ xã hội đã chấp nhận rằng ngành giáo dục của chúng ta bệnh đã quá nặng cần mang ra cho mọi người bàn bạc góp ý kiến , và nếu có ai hiến kế để chữa chạy thì càng tốt .Trước khi bốc thuốc , điều cần thiết đầu tiên vẫn là thấy rõ căn bệnh . Trong cuộc hội chẩn này , có thể nêu một số giả thiết để làm việc – dưới đây tôi xin phép được nêu giả thiết của tôi :

1/ Cũng như nhiều ngành khác , ngành giáo dục của ta được xây dựng ngoài những chuẩn mực chặt chẽ mà đáng lẽ phải được tôn trọng . Ta hay có lối chưa đủ điều kiện , nhưng thấy cần vẫn cứ làm . Ví dụ một trường đại học chỉ được thành lập khi có đủ cơ sở vật chất , cả cán bộ giảng dạy lẫn cán bộ quản lý . Những yêu cầu này ở nước nào người ta cũng tuân theo , chỉ có riêng ta thì không . Trên danh nghĩa cũng có những người gọi là giáo sư hay tiến sĩ đấy , nhưng đó là ta phong với nhau để làm việc , chứ thực tế chắc chắn là thấp hơn chuẩn mực rất nhiều , bởi vậy có mấy người được nước ngoài công nhận ( không phải là họ làm cao hoặc cốt gây khó khăn cho ta , mà thực tế không chấp nhận nổi ) .
Cố nhiên cái sự chưa đạt chuẩn mực này không chỉ đặc trưng cho cách tồn tại , cách vận hành riêng của các trường đại học mà là chung của các cấp học , và nó bao trùm trong mọi lĩnh vực , từ trường sở , sách giáo khoa , cách cho điểm , cách tổ chức thi cử , cho tới chất lượng dạy và học . Luôn luôn xảy ra tình trạng không đáp ứng đúng chuẩn mực cũng cố mà làm , giáo viên chưa đủ trình độ cũng cho dạy , học sinh không đủ trình độ cũng cho lên lớp , sinh viên ra trường không ai nhận cũng cứ xin thêm chỉ tiêu đào tạo . Trước mắt chúng ta là một cơ thể tiên thiên bất túc , lúc nào cũng ốm yếu quặt quẹo .

2/ Tên bệnh đã vậy , thế còn mức độ thì sao ? Chứng minh ra thì hơi dài dòng , song có thể tin là những thiếu sót mà gần đây , nhiều người đã nêu khi nói về giáo dục ở ta ( từ giảng dạy xa rời thực tế , tới học sinh hư hỏng , quay cóp lu bù , rồi nạn thày giáo lao vào kiếm sống , dạy thêm học thêm tràn lan , mua bán văn bằng trắng trợn …) tất cả đều có liên hệ tới bệnh thiếu chuẩn mực , do đó có thể nói bệnh gốc đã ăn vào lục phủ ngũ tạng và rất khó chữa . Để cùng xác định mức độ nghiêm trọng , xin có một chút liên hệ : đọc báo gần đây , thấy các cơ quan quản lý giao thông đề nghị mọi người hiến kế để có cách làm sao tai nạn giao thông có thể mỗi ngày mỗi giảm . Nhưng vấn đề là ở chỗ người ta phải dự tính điều này từ khoảng mười lăm hai mươi năm trước , khi số lượng các phương tiện còn tạm chấp nhận được . Chứ với mức độ xe máy như hiện nay, thì có tài thánh cũng không hạn chế nổi tai nạn . Bệnh nào cũng có cái ngưỡng của nó , quá ngưỡng thì chịu . Đối với giáo dục cũng vậy . Thêm một ví dụ nhỏ , chứng tỏ mọi sự chữa vặt là vô nghĩa : Dăm bảy năm nay , nhận thấy các trường công lập bị bao ràng buộc , nhiều người đã tính bàn nhau mở thêm các trường dân lập . Gia đình tôi cũng thử xem sao , cho con đi học dân lập , sau mới ngớ ra , nếp làm giáo dục ở ta mấy chục năm nay nó đã thế rồi , thì lúc ra tồn tại với danh nghĩa khác , người ta cũng cứ đường cũ mà đi. Các trường dân lập cũng có đủ bệnh như trường công lập nói chung . Thế thì còn có cách nào mà cựa bây giờ ?

3/ Khi không có những điều kiện cần và đủ mà bắt buộc phải tồn tại , tự bản thân cơ chế giáo dục phải có cách thích ứng , lâu dần nó tự ổn định trong tình trạng hiện thời và tự nhiên là trở nên trơ lì , không thể phấn đấu thành cái đáng ra nó phải thế , cũng tức là không thể trở lại chính mình nữa . Quán tính tự bảo vệ không cho phép người trong ngành thấy hết bệnh tật đang có trong cái môi trường người ta tồn tại . Thật vậy , một điều không ai nói ra nhưng ai cũng biết , lâu nay giáo dục đã là nơi sinh sống làm ăn của bao nhiêu con người . Nay giả thử có sự thay đổi thì những người đó đi đâu làm gì bây giờ ?! Không ai tự chặt chân mình , tự làm phiền mình trong công việc cả . Thành thử cứ với nhận thức như hiện nay , thì dù nhiệt tình đến đâu cũng chỉ có thể có những cải cách hời hợt chứ không thể có những thay đổi cơ bản .

4/ Mặt khác , không chỉ là bệnh riêng của ngành giáo dục , mà tình trạng bê bết khó khăn còn đang ngự trị trong nhiều lĩnh vực khác , bởi vậy những tác động từ bên ngoài tới giáo dục cũng là rất hạn chế . Ở nhiều cơ quan hiện có tình trạng ông thủ trưởng này làm ăn kém điều đi, đưa ông khác về , lại còn không bằng ông cũ . Thật khó kiếm người biết làm giáo dục , như đang không có người biết làm kinh tế , người biết làm du lịch , người biết bảo quản các di sản do ông cha để lại ...

5/ Nói vậy có phải là quá bi quan không ? Tôi cũng đủ lương tri để sau khi nảy ra những ý nghĩ như trên , loay hoay tìm cách tự bác bỏ , mà chưa bác bỏ nổi , vậy xin cứ ghi ra đây . Dẫu sao tôi vẫn tin ngoài con đường trở lại với chuẩn mực , thì không có cách gì để cứu vãn nền giáo dục hiện thời cả .
Cũng phải nói thêm sở dĩ chúng ta biết không đạt chuẩn mực vẫn cứ làm , lý do là vì muốn ai cũng được hưởng phúc lợi giáo dục , ngay trong hoàn cảnh xã hội chưa trưởng thành về kinh tế cũng cố phổ cập rộng rãi để lấy tiếng và để mọi người ai cũng có thể vừa lòng. Nay có lẽ đã đến lúc chúng ta phải lựa chọn : hoặc chất lượng giáo dục hoặc số lượng .Tức một việc đau xót có thể xảy ra , là phải tạm thời từ bỏ nguyên tắc phổ cập đó ,lùi một bước tiến ba bước , có nguồn nhân lực tốt để đóng góp cho xã hội rồi sẽ phổ cập sau . Giống như trong kiếm sống , phải có người giàu trước người giàu sau , thời gian trước mắt , trong giáo dục chúng ta chỉ có thể bảo đảm cho một số nhỏ thanh thiếu niên được học hành cẩn thận , còn đa số sẽ chỉ được trang bị một ít kiến thức cơ bản rồi lo học nghề , để ra làm thợ ... , có lẽ như thế sẽ hợp lý hơn chăng ? Còn trong tình trạng hiện thời , cố để mà phổ cập giáo dục là một việc quá sức , và thực tế là sẽ không thể có giáo dục với nghĩa đúng đắn của nó .




Sunday, December 6, 2009

Di sản và phát triển



1. Sự tự phát hiện của di sản qua thời gian

Những năm đang còn chiến tranh, hay nói chung, khoảng từ 1986 về trước, mấy chữ di sản văn hoá đã hay được nhắc tới trong các chỉ thị nghị quyết, các văn bản chính trị và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Lúc bấy giờ thuật ngữ này thường được hiểu theo nghĩa: một ít truyền thống của dân tộc, như tinh thần đấu tranh bất khuất, tinh thần đoàn kết, xả thân vì nghĩa lớn...

Gắn liền với mấy chữ di sản văn hoá người ta cũng đã nghĩ đến đền thờ vua Hùng, chùa Một Cột, chùa Yên Tử,... nhưng lúc bấy giờ các đơn vị vật chất này của di sản lại thường được hiểu một cách rất tượng trưng, chúng được nhắc tới không phải bởi chính giá trị của chúng mà vì những chùa, đền... ấy là biểu hiện cụ thể của những truyền thống tinh thần vừa nói ở trên. Thành thử, trên đại thể di sản lúc bấy giờ còn khá trừu tượng, tuy cũng là khá thuần nhất và nó lại luôn luôn được phủ lên một lớp sương huyền thoại xa xôi, bí ẩn.

Từ khoảng 1986 tới nay, cách hiểu về di sản của xã hội ta trở nên cụ thể hơn hẳn. Đi đâu cũng thấy đình chùa miếu mạo được sơn quét, trang hoàng tu bổ. Vào những ngày xuân, tiếng trống hội làng trở nên rộn rã khắp trên những vùng có truyền thống văn hiến. Ngày càng thêm có nhiều di sản lịch sử được công nhận. Ngoài ý nghĩa tượng trưng cho hồn thiêng của tổ quốc, di sản lúc này được xem đồng nghĩa với một thứ của cải vật chất lâu lâu bị bỏ quên, nay cần phải tận dụng. Nó có được cái công năng mà bấy lâu người ta không thể ngờ tới: nó có thể mang lại tiền của.

Có thể nói đây là một cách hiểu thông tục phổ biến hiện nay về di sản. Tuy cũng là một hiệu quả do tác động của công cuộc phát triển, song cách hiểu này chắc chắn có phần đơn sơ, nông nổi. Người ta không khỏi ngạc nhiên khi hàng ngày hàng giờ bắt gặp một quá trình mâu thuẫn:

Một mặt, việc khai thác di sản được triển khai đều khắp và rõ ràng là đang trở nên ồ ạt bừa bãi, do mang tính cách tuỳ tiện vụ lợi, làm mất giá trị khoa học đáng lẽ phải có (nhiều di tích được xếp hạng là do sửa chữa, thêm thắt, rồi xin xỏ, chạy chọt)

Mặt khác, thì hàng ngày hàng giờ thấy xảy ra tình trạng những di sản nổi tiếng, như Vịnh Hạ Long, tháp Chàm, chùa Tây Phương, chùa Trầm, tượng Tô Thị, khu kinh thành Huế...bị phá hoại: tượng bị ăn cắp; đá bị đem nung vôi; nhà cửa dột nát, hư hỏng. ấy là không kể đến bảy tám chục phần trăm di sản bị làm hỏng bằng cách biến thành những cơ sở để phô bày óc mê tín và trục lợi.

Sở dĩ quá trình song đôi vừa khai thác vừa phá hoại di sản này xảy ra đồng thời, bởi lẽ nhận thức về di sản hình thành tự phát, thiếu cơ sở khoa học, nhất là thiếu một chiều sâu cần thiết.

Đã đến lúc phải nói rõ: Di sản không chỉ là những của cải vật chất (có thể sinh lợi, như nguời ta đã nghĩ), mà còn là những của cải tinh thần, những thói quen những cách hiểu cơ bản của cộng đồng về xã hội nhân sinh, nó chi phối từng con người trong cuộc sống.

Và di sản không tồn tại ở dạng từng đơn vị riêng lẻ, không tách riêng vật chất tinh thần, mà là một hệ thống liên đới chằng chịt (Ví dụ, nếu người ta không hiểu chân giá trị của đình chùa về mặt văn hoá, mà chỉ a dua trong việc “yêu mến di sản” thì sẽ sẵn sàng làm bất cứ điều gì, thậm chí tô vẽ bịa đặt về đình chùa, tức là một cách làm phản văn hoá để kiếm lợi)

Dưới ánh sáng của phát triển, dẫu sao cũng phải thấy là nhận thức của chúng ta về di sản đã trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn. Bản thân di sản giờ đây hiện ra như một khối cấu trúc phức tạp, có phần nổi lên trên, có phần tạo thành nền móng, song lại chìm, ẩn, không hiểu thấu ngay được.



2. Tác động có thể có của di sản với phát triển.

Dễ thấy nhất, là các di sản vật chất đang trở thành điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Một số nghề thủ công cũ mất đi, nhưng lại có những nghề phát đạt lên (ví dụ, nghề làm đồ gỗ, nghề dệt lụa xuất khẩu v.v..) hứa hẹn mang lại cho công cuộc phát triển một sắc thái dân tộc không phải là không cần thiết, nhất là trong giao lưu kinh tế.

Nhưng sự thật đó chỉ là chuyện nhỏ so với những tác động lớn lao, mà di sản - di sản với nghĩa tinh thần, nghĩa văn hoá, thứ di sản vô hình - đang và sẽ tác động tới phát triển.

Các tài liệu nghiên cứu khoa học, cũng như các tờ báo phổ cập gần đây đã đưa nhiều tin liên quan đến một cuộc luận bàn: vai trò của Nho giáo đối với bước tiến vượt bậc của Nhật Bản, và mấy con rồng châu á, như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo. Dù nặng nhẹ mỗi người nhấn mạnh một mức độ khác nhau, song rõ ràng là tác động của Nho giáo đã được xem như một yếu tố phải tính toán đôi khi như là một “vũ khí” bí mật mà nhờ nó, công cuộc phát triển đã tạo ra được những kỳ tích.

Sau đây là hai ví dụ tương tự mà người ta có thể quan sát thấy, từ công cuộc phát triển ở Việt Nam.

1. Trong số 3, ra tháng 7/1994, tạp chí Xưa và nay của Hội Lịch sử Việt Nam vừa cho in bài viết của nhà nghiên cứu lão thành Nguyễn Văn Xuân, trong đó ông kể lại vụ tai tiếng lớn nhất của ngoại thương Việt Nam giữa thế kỷ XVIII. Phần chính của bài viết là những trang nhật ký của một người Pháp đến tím cách thông thương với xứ Đàng Trong của các chúa Nguyễn. Nhưng qua những trang nhật ký đó, người đọc cảm thấy nền văn hoá buôn bán, văn hoá ngoại thương của chúng ta, vào thời điểm giữa thế kỷ XVIII, là rất nhiều điều đáng chê trách: những nhà buôn giao thiệp với người Pháp và cả các quan chức trông nom nghề buôn nữa, thường kém cỏi, chậm chạp, không biết người biết của, lại rất vụ lợi chỉ chờ hở cơ là tham nhũng.

Chúng tôi không nghĩ rằng người Pháp kia đã nhìn ta sai lệch méo mó rồi lấy cớ để thúc đẩy việc quân Pháp đến xâm lược.

Ngược lại, bằng vào kinh nghiệm ngoại thương những năm gần đây, tức qua những tài liệu mà báo chí đã đưa, cũng như những câu chuyện xì xào của người trong giới, có thể dự đoán rằng nhận xét của nhà buôn Pháp kia là khá chính xác là đáng tin cậy. Cho đến hôm nay, những thói xấu ấy trong buôn bán vẫn còn được duy trì, và sở dĩ có nhiều chậm trễ trong lĩnh vực này, vì nó đã thành một “di sản”, một “truyền thống” khó gỡ.

2. Gần đây báo chí, nhất là báo Lao động bắt đầu đưa nhiều tin về các cuộc đình công xảy ra ở các xí nghiệp liên doanh với người nước ngoài. Lý do phần nhiều là chính đáng: đồng lương rẻ mạt, thái độ thiếu tôn trọng của các ông chủ với người làm công. Nhưng nên giải thích thêm cả bằng một nét tâm lý đã trở thành truyền thống: Theo nhà sử học Lê Thành Khôi, ở nước Việt Nam phong kiến trước kia, ruộng công khá nhiều. Mặc dù cũng phải đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn, nhưng người nông dân không cảm thấy mình là nô lệ cho kẻ khác. ý thức tự trọng của họ khá cao. Đấy là một yếu tố phải tính tới trong đời sống tinh thần của người Việt

Từ hai ví dụ trên, có thể thấy nay là lúc di sản văn hoá đang tác động toàn diện tới đời sống xã hội hiện đại. Không phải ngẫu nhiên mà chính ở những nước đang phát triển - nghĩa là những nước theo cách hiểu thông thường, phải chú ý trước tiên tới kinh tế như nước ta - thì văn hoá ngày càng được nhắc nhở một cách khẩn thiết.

Các nhà vạch chính sách tìm thấy ở nó yếu tố duy trì sự nhất trí của cộng đồng, bất chấp mọi biến chuyển sẽ tới.

Các chuyên viên kỹ thuật nhìn thấy ở nó những đặc điểm chuyên biệt của thực tại mà mình phải tìm cách tác động.

Các tầng lớp trong xã hội tìm thấy ở nó một điểm tựa: mình đã là một thực thể có bản sắc riêng, trước khi phát triển và mình sẽ vẫn là mình trước những ảnh hưởng xa lạ.

Tóm lại, văn hoá trở thành một yếu tố không trực tiếp, nhưng lại luôn luôn có mặt, và chỉ cần người ta không chú ý tới nó, là sẽ có dịp biết ngay tầm quan trọng mà nó vốn có. Khi kiểm tra đánh giá lại sự thất bại của một số dự án - kể cả những dự án thông minh nhất - nói chung người ta có xu hướng kết luận đó là do không chú ý đầy đủ tới nhân tố con người, nhân tố văn hoá.

Trên đường tìm tới một cách hiểu đầy đủ và chính xác hơn về di sản, cũng cần nhấn mạnh tới một điểm nữa mà chỉ dưới ánh sáng của phát triển người ta mới thấy rõ: Đó là trong di sản không chỉ có tinh hoa mà còn có cặn bã . Đối với bất cứ di sản văn hoá nào cũng vậy, mà đối với di sản văn hoá ở Việt Nam cũng vậy. Lâu nay, nói tới tác động của truyền thống, của di sản tới đời sống hiện đại, hầu như ở ta chỉ nhấn mạnh chiều thuận, tức di sản là một vũ khí tinh thần quý báu, một nguồn động viên lớn lao kiểu “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận”. Nay người ta bắt đầu thấy bên cạnh chiều thuận di sản còn có thể tác động tới xã hội theo chiều nghịch. Mà đây là nói về hướng của véc-tơ. Còn lực thì về chiều nào, cũng đều có thể rất lớn!

3. Tiến tới một cách hiểu khoa học về di sản để phục vụ cho công cuộc phát triển.

Khi bàn về chiến lược phát triển ở ta thường có xu hướng nhấn mạnh những yếu kém về cơ sở vật chất, nhất là thiếu vốn, thiếu tiền, thiếu nguyên vật liệu. Rất ít khi thấy mọi người đả động tới các yếu tố tinh thần. Vì chúng ta còn ít kinh nghiệm trong một lĩnh vực quá mới mẻ, cái đó cũng có một phần. Nhưng lý do sâu xa hơn có lẽ là đất nước Việt Nam bước vào phát triển trong điều kiện vừa trải qua chiến thắng lẫy lừng trong chiến tranh. Trong cuộc chiến tranh ấy, ta cũng nhiều phần thua kém về vật chất, và chỉ nhờ động viên được một sức mạnh tinh thần hùng hậu, mà vượt lên được. Vậy thì nay là lúc tinh thần vẫn đang sung mãn, hình như ở đây không có gì là đáng lo ngại - nhiều người đã nghĩ như thế.

Sự thực thì sao? Sau một thời gian gọi là mở cửa, xã hội ta đã bộc lộ những yếu kém không phải chỉ về vật chất, mà là một cái gì hoàn toàn khác:

- Thiếu người biết quản lý

- Luật pháp hỗn loạn, hiểu như thế nào cũng được.

- Kỷ cương không nghiêm. Trên nói một đằng, dưới làm một nẻo. Các địa phương bộc lộ trăm nghìn bộ mặt kỳ cục.

Đó là những yếu kém về mặt tinh thần. Sở dĩ có những yếu kém đó, một phần là do chiến tranh hơn ba chục năm kéo dài, tạo cho con người nhiều thói quen xấu. Nhà nước pháp quyền chưa được xây dựng, trong xã hội có lúc có tình trạng mạnh ai nấy làm, tự phát tuỳ tiện, chưa tạo ra hình ảnh xã hội như một thực thể duy nhất.

Tuy nhiên, sẽ là không đủ, nếu chỉ nhìn thấy lý do yếu kém ở chiến tranh hoặc trên một số phương diện, ở hệ tư tưởng.

Nhìn cho thấu đáo, thật ra những yếu tố tinh thần cần được đặt lại ở ta có rất nhiều.

- Lẽ sống của một con người, điều đáng tự hào của một đất nước là gì?

- Đâu là mối liên quan giữa ta và người, giữa cá nhân này với cá nhân khác, cộng đồng này với cộng đồng khác?

- Vai trò của hoạt động kinh tế và tác động của đồng tiền? Có phải đồng tiền “rất nhiều mặt tiêu cực đáng lên án” như trong sách giáo khoa ở ta vẫn giảng.

- ý nghĩa của tài năng, cách thức chăm sóc tài năng v.v... Mối quan hệ giữa những phần tử ưu tú và đám đông, vẫn được gọi là quần chúng. Người ta có thể vừa tự do lại vừa bình đẳng?

Bởi phát triển phải tính đến yếu tố con người nên những cách sống cách nghĩ loại đó phải được kiểm soát và phải trở nên thích hợp với yêu cầu mới của hoàn cảnh. Song đó là một việc rất khó thực hiện. Nhìn kỹ hoá ra, những cách sống cách nghĩ loại đó không gì khác chính là có liên quan đến thứ di sản tinh thần mà chúng ta thừa hưởng từ các thế hệ trước. Nó “điều kiện hoá” cách suy nghĩ của chúng ta, khiến con người chỉ có thể thế này mà không thể thế khác.

Muốn được trở nên hợp lý, khoa học, có được tác dụng với thực tế đời sống, một cách hiểu di sản lúc này phải bao gồm:

- Miêu tả được bộ mặt đa dạng của toàn bộ di sản, thấy được cả mặt mạnh mặt yếu của nó.

- Cắt nghĩa được quá trình hình thành của di sản, mối quan hệ của nó với lịch sử.

- Tìm ra được cách tác động tới di sản đó. Như trong hoá học người ta thường nói “chất nổ rất dễ tính với người hiểu những đặc điểm hoá học của nó”, di sản cũng có thể điều khiển được, nếu người ta hiểu nó một cách thấu đáo.

4. Những thuận lợi của việc nghiên cứu về di sản hôm nay

Nghiên cứu bất kỳ đối tượng nào cũng cần có sự so sánh đối chiếu, giữa đối tượng đó với các đối tượng khác. Di sản văn hoá của một dân tộc là một thực thể quá lớn, việc nghiên cứu nó chạm tới rất nhiều khía cạnh tế nhị của tình cảm dân tộc, nhưng không phải vì thế, mà không cần có đối chiếu so sánh: Làm sao mà người ta có thể hiểu được văn hoá phương Đông, nếu như không hiểu văn hoá phương Tây? Cũng như làm sao nhận chân bản chất văn hoá Việt Nam, nếu như không có ý niệm đúng đắn về những nền văn hoá từng có nhiều ảnh hưởng đến nó, như văn hoá Trung hoa, văn hoá ấn Độ, văn hoá Pháp; những nền văn hoá gần kề, như văn hoá các nước Đông Nam á, sau hết là những nền văn hoá tuy hơi xa nhưng không khỏi có những nét tương tự, như văn hoá Nhật Bản, hoặc nói chung là các nền văn hoá á-Phi- Mỹ la tinh?

Chính ở chỗ này, chúng ta nhận ra những hạn chế tất yếu của công việc đã làm trong những năm chiến tranh. Vấn đề không phải chỉ lúc ấy, điều kiện vật chất thiếu thốn mà điều quan trọng là lúc ấy mối quan hệ của đất nước ta với các nuớc ngoài là không bình thường. Kẻ khác - một ý niệm rất quan tọng trong văn hoá - bị hiểu một cách lệch lạc, nhiều lúc chỉ còn là đồng nhất với những thế lực liên quan đến nền độc lập, tức là hoặc là đồng minh hoặc là kẻ thù của ta. Và khoa học gì thì khoa học lúc ấy lương tâm bất cứ ai cũng không cho phép có những nhận thức tình cảm không có lợi cho sự nghiệp chiến đấu.

Đến nay, những hạn chế vừa nói đã được dỡ bỏ. Công cuộc phát triển là một quá trình hợp quy luật của lịch sử. Vì thế, dưới ánh sáng của phát triển, chắc chắn di sản sẽ hiện ra đầy đủ hơn, đa dạng hơn (không thuần nhất một chiều như những năm chiến tranh). Nhưng diễn biến trong phát triển xảy ra hàng ngày, nói đòi hỏi được giải thích cắt nghĩa từ nhiều phía, trong đó có di sản. Vì thế, cách hiểu về di sản của chúng ta được kiểm tra, được thẩm định, sai đúng rõ rệt. Cũng không kém phần quan trọng là đặc điểm sau đây của thời kỳ phát triển: Kẻ khác bây giờ không phải chỉ là kẻ thù (hoặc đồng minh), mà là những đối tác có tính trung hoà. Cả chủ thể là ta lẫn các đối tác là những nước đến buôn bán với ta đều có nhu cầu hiểu nhau, hiểu đến tận chân tơ kẽ tóc về nhau. Giao lưu kinh tế, do đó, bao giờ cũng kèm theo giao lưu văn hoá. Những tài liệu nghiên cứu về văn hoá các nước trong mấy năm phát triển, được dịch ra, có thể là không thấm thía gì với tài liệu kinh tế, nhưng cũng đã là nhiều hơn hẳn, so với tài liệu được in ra trong những năm chiến tranh. Qua đối chiếu với các nền văn hoá khác, dĩ nhiên người Việt có dịp hiểu về văn hoá chính mình hơn. Và nếu quá trình này tiếp diễn đều đặn thì việc nghiên cứu di sản văn hoá nhất định sẽ được đẩy tới.

Nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ và các bản điều trần của ông, có người đã nói rằng đấy là lần đầu tiên, có một người Việt Nam nhìn lịch sử Việt Nam trong cái mạch chung của lịch sử thế giới.

Đứng về một phương diện nào đó mà xét, thì cái cách nghiên cứu di sản văn hoá mà công cuộc phát triển hiện nay tạo điều kiện và đòi hỏi, cũng là cách nhìn văn hoá Việt Nam bằng những tiêu chuẩn chung, và đặt văn hoá Việt Nam vào cái mạch chung của văn hoá thế giới. Tự nhận thức là cả một công việc khó khăn: nói lại những thành tựu của cha ông vui vẻ phấn khởi bao nhiêu thì khi cần phân tích những chỗ yếu kém - nhất là những yếu kém mà ai cũng biết là đã sống với bao thế hệ cha ông, đã trường tồn trong lịch sử - người ta dễ ngập ngừng ngần ngại bấy nhiêu. Song đã đến lúc phải làm đầy đủ cả hai việc đó. Để di sản có thể có những đóng góp tích cực cho phát triển. Không có sự chọn lựa nào khác./.



Những nhận xét của Lê Thành Khôi là do giáo sư Hòang Ngọc Hiến cung cấp। Nhân đây xin được cảm ơn।
Chữ cặn bã là mượn từ cuốn Đại cương lịch sử văn hoá Trung quốc, NXB Văn hoá thông tin, 1993, tr. 20











Thursday, December 3, 2009

Thiếu một thói quen suy nghĩ chính xác

Nguyễn Công Hoan trong hồi ký Đời viết văn của tôi (1971) có nhiều đoạn tự thú khá trắng trợn. Đại khái ông kể là lúc ra học tiểu học ở Hà Nội cần giấy khai sinh,nhưng ngại về làng bên Bắc Ninh làm tận gốc, liền nhờ ông chủ nhà trọ làm hộ. Ông này bảo hai người bạn làm chứng, rồi kiếm cành cau với vài hào bạc đưa lý trưởng Hàng Trống. Vài ngày sau, ông Kép Tư Bền trong văn chương tương lai có ngay tấm giấy khai sinh và nghiễm nhiên thành người sinh ở Hà Nội.
Câu chuyện được kể ra chỉ cốt để khoe một sự khinh bạc bất cần đời, không quan tâm tới các con số, không muốn và không có nhu cầu hiểu biết về chính mình cũng như hoàn cảnh quanh mình. Song từ đây, người ta bắt gặp mầm mống của nhiều thói xấu khác như kiểu tư duy chín bỏ làm mười, bất chấp chuẩn mực, không coi cái gì là thiêng liêng, dối trá tùy tiện, xem thường pháp luật.
Ngày nay chúng ta còn bắt gặp nó trong những tin tức đầy rẫy trên báo chí. Nhiều làng làm giả hồ sơ thần tích để xin cấp bằng di sản văn hóa. Nhiều chi tiết ở các vụ án có dấu hiệu bị làm lệch. Hết thể thao khai man tuổi đấu thủ lại đến bóng đá trọng tài bắt thiên vị.Sự cẩu thả lúc này đã biến thành gian manh càn rỡ chà đạp lên dư luận xã hội.
Tình trạng không có cái gì chính xác cũng được nhà nghiên cứu người Pháp Pierre Gourou (1900—1999) miêu tả khá kỹ khi đi sâu vào nhiều làng mạc lấy tài liệu cho cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (viết năm 1936 và bản dịch ra tiếng Việt in ở Hà Nội 2003).Theo cách miêu tả của Gou rou, ở nhiều tỉnh đồng bằng sông Hồng“ chỉ cần đưa một ít tiền cho chức dịch là có thể nhận được một bản khai sinh hoàn toàn theo ý thích ,trong đó ngày tháng năm sinh được ghi phù hợp với nguyện vọng của người xin“. Sự phổ biến của các hiện tượng tương tự buộc người ta phải kết luận rằng đây là một biểu hiện của trình độ tư duy và một quan niệm sống. Còn hai tác giả người Pháp khác là Pierre Huard và Maurice Durand trong Hiểu biết về Việt Nam (1954) thì cắt nghĩa sở dĩ có hiện tượng này,một phần vì xã hội Việt xưa chưa biết tới đồng hồ và khái niệm về thời gian “chỉ được kinh qua chứ không được đo “.Sự lẫn lộn giữa lịch sử và huyền thoại trở thành đương nhiên. Và sự tồn tại dai dẳng của kiểu tư duy tiền Descartes thường thấy ở phương Đông có thêm một ví dụ sống động.
Nên biết rằng ngay các vua chúa cũng không bao giờ biết cả nước có bao nhiêu dân, quan chức các cấp không cần biết một làng mà họ thu thuế có bao nhiêu xuất đinh, còn các xã thì bao giờ cũng cố giấu bớt số người phải nộp thuế để trốn thuế được chừng nào hay chừng ấy. Lúc này thói quen đùa bỡn đã đóng vai một nhân tố cản trở sự trưởng thành của xã hội.
Một vài hiện tượng khác được Pierre Gourou ghi nhận cũng khá đắt giá. Ông bảo đến một làng khi cần hỏi về lai lịch của làng, người ta chỉ nhận được những câu trả lời rất mơ hồ; nếu như muốn có một sự chính xác thì câu sau thường lại mâu thuẫn với câu trước. Gần như không làng nào có ý niệm chắc chắn về sự thành lập của làng mình, đi đâu cũng chỉ thấy người ta thề sống thề chết là làng mình có từ cổ xưa, đâu như từ thời Hùng Vương, tức là đã có từ hơn bốn ngàn năm trước. Sự thiếu hiểu biết và nói chung là thiếu ý niệm chính xác về thời gian không ngăn cản người ta sử dụng độ lùi của thời gian để khoe mẽ. Gourou chỉ hết ngạc nhiên khi biết rằng một dòng họ có vài ba người thăng quan tiến chức thì thường thuê ngay một nhà nho có tên tuổi viết lại gia phả nhà mình, mà nhà nho ấy thì nghĩ rằng ông ta có nghĩa vụ thêm thắt vào cuốn gia phả ấy cho nó đẹp thêm, và không ai thấy phải thắc mắc về hành động đó cả. Thói quen thiếu chính xác trong suy nghĩ đến đây tìm được biến tướng mới là tô vẽ lịch sử, viết lại lịch sử thế nào cũng xong, miễn là đề cao được mình, do đó có lợi.

TT&VH 3-7-07