Monday, January 28, 2013

Tội làm hư dân




     Đại
Đường Tây vực ký
của nhà sư Huyền Trang 
từng được dịch ra tiếng Việt ( NXB Phương Đông, 2007). Trong thiên bút
ký này, Đường Tăng ghi lại ấn tượng sau khi đi qua 138 nước  nằm giữa Trung Hoa và Ấn Độ ( có thời gộp
chung là Tây vực).



   Đoạn tổng thuật về địa khu Tốt Lợi kể “Người
Tốt Lợi  phong tục kiêu ngoa, chuyên môn
lừa đảo, tham lam hám lợi, giữa cha con với nhau  cũng tính toán hơn  thua 
chẳng cần người tốt  kẻ xấu,
cứ  nhiều tiền là được quý trọng… Cư dân
một nửa làm ruộng, một nửa chuyên đi trục lợi ”.



   Tôi ghi lại đoạn này bởi lẽ nó góp phần gạt đi trong đầu một phân vân
khi nhận thức.


    Từ nhỏ bọn tôi đã được học rằng chỉ có các cá
nhân xấu, chứ  nhân dân lao động nơi đâu
cũng tốt. Hóa ra không phải vậy! Tùy hoàn cảnh mà con người biến đổi. Và là
biến đổi trên diện rộng. Tục ngữ ta xưa cũng có câu “bạc như dân bất nhân như
lính “. Đọc lại lịch sử thấy  nhận xét
chua chát đó không hoàn toàn sai.


    
Thế còn bây giờ ? Một lần, chập choạng tối, tôi đang đi trên đoạn đường
gần ngã tư Hàng Chiếu – Đồng Xuân Hà Nội thì gặp mưa, đành tính chuyện lánh tạm
vào một mái hiên. Bất ngờ nghe người ở trong nhà nói hắt  ra:


 --
Biến đi cho người ta còn bán hàng.


  
Trời ơi! Con người đô thị bây giờ càn rỡ và bất nhân ngoài sức tưởng
tượng !


     Ở
các tỉnh xa,  các vùng kinh tế, thì sự hư
hỏng lại mang sắc thái khác. Có lần trên một tờ báo, đọc thấy tin ở huyện Tam
Nông Đồng Tháp nhiều người  lấn chiếm đất
công rừng công, bất tuân  pháp luật.


      Lần khác xem ti vi, lại thấy dân một xã của
Quảng Trạch Quảng Bình đua nhau chặt rừng phòng hộ ven biển bán cho tư thương,
huyện xã đã tìm đủ cách ngăn chặn nhưng không nổi.


     Đủ chuyện đã xảy ra, dân ăn cướp, dân ăn cắp,
dân ăn vạ, dân xà xẻo của công và tiếp tay cho kẻ xấu, dân làm hại lẫn
nhau  … thiên hình vạn trạng không xếp loại
được.


     Vấn
đề còn lại chỉ là cắt nghĩa tại sao lại 
xảy ra cái chuyện chẳng ai muốn đó ?


    
Trở lại việc dân ở huyện Tam Nông Đồng Tháp nói trên. Đọc kỹ các bài
viết liên quan thì thấy trước khi dân hư, có chuyện ông phó chủ tịch huyện phá
rừng. Người dân chung quanh thấy ông cán bộ to hành xử như trên ( chặt tràm đào
ao làm thành lãnh địa riêng ),  bảo nhau
ùa vào làm bậy. 


   
Đây cũng là diễn biến thấy ở nhiều nơi khác.


    Trong phần lớn trường hợp, tình trạng dân hư
liên quan  tới hiện tượng nhức nhối là
chuyện cán bộ kiếm chác vô nguyên tắc, tư lợi vô cảm, gộp chung là thoái hóa
biến chất.


    Đáng
lẽ phải gương mẫu tuân thủ pháp luật thì họ lại tự đặt mình cao hơn luật, phá
luật để trục lợi.


      Trước
mặt người dân lúc ấy, lý tưởng như bị xúc phạm. Người ta  không thể thờ ơ và dễ bảo mãi. Về mặt triết
học có thể bảo con người bắt đầu rơi vào hư vô. Chúa đã chết rồi ! Ai muốn làm
gì thì làm ! Bởi cảm thấy trên đời này không còn  cái gì là thiêng liêng, họ rơi vào liều lĩnh
phá phách một cách hung hãn.


      Những cái xấu sẵn có mà bấy lâu họ kìm
nén, được lúc vùng lên quẫy lộn.


      Tự cho phép  mình hư!


      Nhìn nhau để yên tâm mà hư!


     Khuyến khích nhau hư thêm, càng đông người
hư càng thích!


      Sự bùng nổ lúc này là theo lối dây
chuyền,  không gì có thể giữ con người
lại nữa.


     Đó là phản ứng phổ biến sau cú hích của đám
dân chi phụ mẫu (nói theo cách nói thẳng của ngày xưa) hoặc các vị công
bộc
(theo cách nói dối trắng trợn của thời nay).


    Ta
chưa có thói quen đánh giá bộ máy quan chức nên tưởng việc này là khó. Sự thực việc
đánh giá này khá đơn giản. Muốn biết giới quan chức một địa phương ra sao, cứ
xem dân ở đấy thì biết. Dân ngoan làm ăn tử tế tức là bộ máy làm việc tạm gọi
là chấp nhận được, người ta còn tin. Còn dân hư, nhất định là những người quản
lý họ có vấn đề,  không  tham nhũng thì cũng kém cỏi trong quản lý.
Chỉ cần chịu tìm sẽ thấy ai có lỗi.


     Tòa án thường chỉ xét những tội cụ thể.
Nhưng tôi tưởng tất cả các quan chức, một khi hư hỏng, ngoài hành vi phạm pháp,
còn phải xét thêm một tội nữa: Tội ngấm ngầm thúc đẩy và dung túng dân làm bậy.
Tội làm hư dân.


     
Nhà xuất bản Tri thức từng cho in một cuốn sách thuộc loại kinh
điển. Đó là cuốn Chính thể đại diện của John Stuard  Mill ( nguyên bản được viết từ năm 1861). Ở
trang 82, tôi đọc được một câu đại ý như sau “ Người ta phán xét một chính
thể  thông qua tác động của nó lên con
người.  Cụ thể là có thể và nên xét
xem  nó tạo nên những công dân như thế
nào,  nó làm cho dân tốt lên hay xấu đi
  ”. Đúng là có liên quan tới vấn đề chúng ta
đang bàn. 








in lần đầu
TBKTSG 15-5 2008,


in lại trong Những chấn thương tâm lý hiện đại 2009





Viết thêm 28-1-2013





     Muôn
hình vạn trạng những đau khổ của người dân đang là câu chuyện đầu miệng ở xã
hội VN hôm nay.


   Những đau khổ này không phải từ đâu mang lại,
cũng không phải là tội của thực dân đế quốc như các tài liệu chính trị vẫn rao
giảng. Mà tất cả bắt đầu từ chính chúng ta, trong đó có những nguyên nhân sâu
xa từ sự hư hỏng sự tha hóa của con người nói chung mà chúng tôi đã đề cập  tới trong một số bài phiếm luận in gần đây.


    Mục
đích bài viết bạn đọc vừa đọc ở trên là tìm hiểu trách nhiệm của những người
quản lý xã hội trong việc làm hư dân.


    Người viết mới chỉ dừng lại ở tình trạng
giới quan chức tham nhũng bất chấp luật lệ cho phép mình làm bậy, chính họ đầu
têu cho người dân thường bắt chước theo.


    Trong
thực tế, có thể thấy cách làm hư dân của bộ máy quan chức rất đa dạng. Cũng
giống như việc cha mẹ quá chiều chuộng khiến con cái không nên người, chỉ cần
nhà cầm quyền dễ dãi vô nguyên tắc bỏ mặc cho dân muốn làm gì thì làm  thì cái việc có vẻ nhân nghĩa này đã là nguồn
gốc dẫn tới sự hư hỏng của đám đông. Họ sẽ  tùy tiện làm ăn gian dối, rồi lừa lọc nhau, ăn
cắp ăn cướp của nhau, như chúng ta đang chứng kiến.


    Mở rộng ra, cần nghiên cứu sự hình thành
tầng lớp quan chức trong lịch sử và văn hóa quản lý xã hội ở ta trước nay ra
sao. 


     Ví dụ, cần 
đi vào chi tiết  việc quản lý các
làng xã xưa,  nơi đó bọn cường hào thao
túng cuộc sống người dân và kìm hãm họ trong cảnh trì trệ.


     Hoặc là theo dõi sự vận hành của bộ máy
quyền lực những thời gần với  xã hội hôm
nay như xã hội thời Lê Trịnh ở Đàng Ngoài và các chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỷ
XVII- XVIII. Khi mà người ta làm kinh tế theo kinh nghiệm của những người chỉ
quen chinh chiến và quản lý xã hội theo kiểu trại lính thì sự nghiêm túc chỉ là
bề ngoài, bên trong là hỗn loạn thối nát.


   Chỗ khác của thế kỷ XVII-XVIII với chúng ta
hôm nay một phần là các hoạt động văn học nghệ thuật.


   Thời đó văn học dùng để nói lên nỗi đau khổ
của nhân dân. Nó vẫn là một thứ tự ý thức tỉnh táo.


   Còn văn chương ngày nay lại đang đi vào khuyến
khích sự chơi bời hưởng lạc lười biếng gian dối, tức sự hư hỏng của người dân.


   Trong
trường hợp này, trang sách viết ra không còn đóng vai giáo hóa như các nhà văn
thường kỳ vọng, mà chính là  mắc vào cái
tội chúng ta đang nói—tội làm hư dân.


   Khi con người đau khổ thì còn có cách tổ
chức lại đời sống để họ trở nên sung sướng. Nhưng khi con người đã hư hỏng mà không tự biết sự hư hỏng của mình thì thật hết đường cứu vãn.




Sunday, January 27, 2013

Thạch Lam & những cái tết thanh đạm






     Sự
tiết chế, sự điềm đạm vốn là một đặc điểm thấy rõ ở văn chương cũng như con người
Thạch Lam (1910-1942).


    
Biết điều đó, người ta sẽ không ngạc nhiên, khi nghe ông kể rằng ông thường đón
Tết một cách không mấy vồ vập, đúng hơn là đơn sơ thanh đạm.“Tết của nhà nghệ sĩ vốn giản dị… một
chai rượu mùi, một gói kẹo, một gói thuốc lá, thế là đủ. Chẳng phải vì nghệ sĩ
không ước ao hơn, nhưng vì nghệ sĩ vốn nghèo”.






   Có điều,
trong khi đứng tách riêng ra không chịu đua đả với mọi người về những tiện nghi
vật chất, thì nhà văn ấy lại vẫn mở rộng lòng đón Tết, và cũng đủ hồi hộp rung
động trước cảnh xuân sang.


    Qua văn ông, người ta đọc ra những cảm giác thiêng liêng mà có lẽ người Việt
nào cũng trải qua, cái thiêng liêng nảy sinh trước tiên do bắt gặp những vận động
tự nhiên của trời đất, nhưng lại càng thiêng liêng vì được cùng với người thân
sống lại những phong tục tập quán đã được cộng đồng dân tộc hình thành qua ngàn
năm lịch sử.





Những chiếc bánh chưng


hay là nét đẹp của phong tục


    Những ai từng đọc 
Nội băm sáu phố phường hẳn
nhớ những tinh tế của ngòi bút nhà văn trong việc ghi lại các món ẩm thực hình
thành của người dân thường Hà Nội. Trong khi quan sát mọi người chuẩn bị đón Tết,
Thạch Lam cũng không quên nhắc lại những phong tục có tự ngàn đời, như việc gói
bánh chưng chẳng hạn.


     
“Ồ, chiếc bánh chưng vuông
vắn và đầy đặn, màu xanh như mạ non, gạo nhiễn ra như bông tuyết và giữ trong
lòng bao nhiêu quý báu của miếng ngon: lượt đậu mịn và vàng đậm, những miếng mỡ
trong như hổ phách, những miếng nạc mềm lấm tấm hạt tiêu. Và thoang thoảng một
một chút mùi cà cuống, gắt như cô gái chua, sắc như mũi kim lạnh ”.


     Trong những đoạn văn như thế, người ta
không chỉ thấy sự thành thạo trong chuyện ăn uống, mà còn bắt gặp sự nhạy cảm
riêng của tác giả trước cái quan niệm hàm chứa đằng sau các món ăn: Với người
Hà Nội thanh lịch, mọi chuyện không được phép qua loa lấy lệ, hoặc xô bồ tuỳ tiện
thế nào cũng được, mà phải kỹ lưỡng thận trọng, tuân theo những luật lệ nghiêm
khắc và chắc chắn, bao giờ cũng gửi vào đấy một ý niệm về vẻ đẹp.


     Từ đấy, toát ra cái tinh thần của một nền
văn hoá độc đáo mà theo tác giả, nếu không bảo nhau giữ gìn, ta sẽ đánh mất.



Phố xá với những sắc
màu đa dạng


    
Sau khi tự nhận rằng chỉ chuẩn bị cho Tết ở mức tối thiểu, Thạch Lam kể:


     Thế rồi hai tay bỏ trong túi áo - và cầu trời cho thời tiết hơi rét và
hơi mưa bụi, tôi lẫn trong đám đông xuôi ngược trên hai bên hè phố
”.



     Nói cách khác, niềm vui của ông là được đi
ngắm cảnh thiên hạ đón Tết. Trong tầm nhìn của ông, có cây cảnh phố xá, lại có
đủ loại mặt người. Trầm lặng và như muốn lẫn đi giữa chung quanh, song con người
ông vẫn có sức bao dung rất lớn.


   Qua những truyện ngắn như 
hàng xén, ta biết rằng Thạch Lam rất hay nói tới sự nhẫn nại, sự hy
sinh. Thì ngay khi đi trên đường phố nhộn nhịp, ông cũng không quên điều đó.


    “Các thiếu nữ trong ngày sắm Tết có rất
nhiều vẻ đáng yêu. Đi đâu mà vội vàng thế? Về chậm sợ mẹ mắng hay sao? áo quần
không kịp trang điểm, mái tóc không kịp vuốt ve, cho nên có một vẻ lơ đễnh, một
vẻ xuềnh xoàng khả ái! Giờ này là giờ các cô đảm đang, đi mua đi bán, đem cái
vui vẻ cho em trai và mẹ già, các cô hết lòng lắm. Chen lấn vào đàm đông, không
sợ bị chèn ép xô đẩy. Đi guốc cao cho khỏi lấm gấu quần. Và nhất là tự nhiên và
dung dị”.


     Với tư cách tác giả Nhà
mẹ Lê, Gió lạnh đầu mùa, Thạch
Lam dành ít dòng để nói về Tết của người nghèo:


    “…ở ngoài bãi sông, Tết lại có một vẻ
riêng đặc biệt. Trông đứa bé đội mũ bông, áo mới dài và rộng, đeo chiếc khánh mạ
vàng, nhặt ngòi pháo đốt, thấy cả cái Tết ái ngại và nho nhỏ của cả một vùng”.


     Và đây nữa, một nét Tết
Hà Nội, dưới con mắt Thạch Lam:


     “Đêm 29 Tết, vào giờ trước giao thừa…
có ai lên trước chợ Đồng Xuân, để nhìn những cái gì còn lại, những cái gì bị
khinh bỉ từ chiều? Những cành đào xấu xí, ít hoa; những bát thuỷ tiên tơi tả,
đã chuyền tay hết người này sang người khác mà không được ai mua, những chậu
cây cúc và thược dược rã rời và lấm đất. Dưới mưa bụi, bùn đã vấy lên trên những
cành đào, mai rải rác trên đường, bao nhiêu bàn chân dày xéo (…). Để trang điểm
cho những căn buồng tiều tuỵ, những căn nhà lá nghèo nàn ở các ngoại ô đối với
nhiều người, tuy xấu xí tơi tả mặc dầu, những thứ ấy cũng vẫn là biểu hiện của
ước mong, của trông đợi”.




Một nét thần thái

    Rồi bao nhiêu chuẩn bị đã xong, điều mọi người
háo hức chờ đợi  -- mùng một, mùng hai,
những ngày Tết thực thụ -- đã tới với bức tranh thiên nhiên thoảng qua một chút
xao động lẫn những cảnh tượng sinh hoạt như ngàn đời vẫn vậy. Thạch Lam không
nói gì khác những điều ai cũng biết, ấy vậy mà đọc ít dòng ghi chép của ông,
người ta vẫn cảm thấy như tất cả vừa được nhận ra lần đầu.


    “Qua bãi cát rộng, con sông ngày Tết từ
từ trôi mấy bông hoa nát không biết ở đâu về. Đây Tết rải rải khắp ven bờ. Một
cái bến vài con thuyền đỗ, thế là cũng có khói hương cũng có hoa đào và xác
pháo (…)


    Ngoài trời lại mưa bụi.
Xuân có vẻ đè nén, bao bọc và dằng dai:


Ngõ trúc lùn tùn tun ngọn trúc

Mưa xuân lún phún lụn ngày xuân.

    Không hiểu tại sao hai
câu thơ không nhớ của ai ấy thật đúng cái cảm giác tôi có lúc mùa xuân
”.

    Câu chuyện về những ngày Tết dưới con mắt Thạch
Lam tới đây đã có thể dừng lại. Song có một điều người đọc không khỏi vương vấn:


    
Hình như nhân nói về một ngày lễ cổ truyền, Thạch Lam vừa động chạm tới một cái
gì lớn hơn thuộc về thần thái của sinh hoạt cộng đồng, nghĩa là những yếu tố
trường tồn trong thời gian. Và ai cũng muốn thử cắt
nghĩa tại sao đến nay nhiều người còn rất thích văn Thạch Lam, có lẽ phần nào tìm được câu giải đáp.


      Lớn
lên trong cảnh đất nước bị thực dân thống trị, song lại tiếp nhận được một cách
nhuần nhị nền văn hoá Pháp, Thạch Lam (cũng như nhiều đồng nghiệp đương thời)
đã biết hướng toàn bộ tâm tình vào việc yêu mến, tìm hiểu, khám phá cốt cách
dân tộc. Mà cái cách trở về với dân tộc của Thạch Lam thì chân thành và cảm động.
Ở đây mọi tình cảm không ồn ào song lại rất thấm thía, càng hiểu cái nghèo túng
chật vật của hoàn cảnh người ta cảm thấy nặng lòng với đất nước đã nuôi nấng
mình lớn lên. Đó là cách nhìn, là tấm lòng của những trí thức chân chính.





 Đã in trong Chuyện cũ văn chương dưới nhan đề


Những ngày tết dưới con mắt một người Hà Nội lịch lãm





Một bài báo Tết của Thạch Lam





                                        Nghệ thuật ăn Tết





Hưởng, đấy là khôn ngoan; khiến hưởng, đấy là đức hạnh


(Cách ngôn Ảrập)


     Ngày Tết, đối với nhiều người, chỉ có thú
vị khi nào nghĩ lại
 - Người
ta thường hay cùng nhau nhắc tới những Tết năm ngoái, năm xưa với một vẻ mến tiếc
âu yếm, lẫn với đôi chút ngậm ngùi. Nhất những Tết ngày còn nhỏ… Lúc ấy, cùng với
những nỗi vui ngày Tết đã qua, còn vướng niềm thương tiếc tuổi niên hoa, cái tuổi
mà người ta nhận là “vô tư lự”, ngây
thơ và sung sướng.


     Nhưng nỗi nhớ tiếc ấy
chẳng ích lợi gì, mà lại ngăn chúng ta không toàn hưởng được thời khắc hiện giờ.
Đậm đà, mạnh mẽ hơn bao nhiêu là sự hưởng thụ ngay hiện tại, thêm vào cái thú
hưởng những giờ vui, cái thú vô song của sự mình biết mình đương hưởng.


    Ngày còn ít tuổi, tôi
không hiểu biết được cái thú uống trà. Chén trà thơm lúc đó như sao bằng được
những mộng đẹp tôi đang mơ tưởng trong lòng. Bây giờ tôi đã có biết rồi
 - và thỉnh thoảng một buổi sớm hay trưa, nâng
chén trà lên để nhìn qua hương khói. Hưởng hương vị chén trà thì ít, nhưng hưởng
cái thú ở đời, và nhất là hưởng cái giờ khắc nghỉ ngơi, nhàn nhã, mà tự mình
cho phép - (người
ta chỉ có thể hưởng được cái khoái lạc của nghỉ ngơi, khi biết cái nghệ thuật
nghỉ ngơi cũng như biết cái nghệ thuật làm việc).


     Tôi hiểu là vô ích và
điên dại cuộc theo đuổi mộng ảo không cùng, việc lần để ngày lại ngày hạnh
phúc. Tôi hiểu rằng hoa nở sớm nay cũng tươi đẹp chẳng kém hoa nở ngày mai, thời
tiết xuân nay êm dịp hơn xuân bao giờ hết, và trời trong cùng ánh nắng kia hiện
giờ đã đẹp vô ngần…


     Tết! Còn dịp nào
trong đời ta nhiều thú vị vui tươi hơn nữa. Ngày Tết nhắc ta nhớ lại những Tết
đã qua, và khuyên ta an hưởng ngay cái Tết bây giờ. Đêm giao thừa
 “thời
gian qua nghỉ bước trên từng cao” là giờ khắc say sưa êm dịu nhất. Hưởng mùi
thơm thuỷ tiên, cánh hồng hoa đào nở, hưởng làn khói trầm vấn vít đủ lên cao.
Hưởng đi, trong cái khoái lạc của sáng suốt, trong cái minh mẫn của tinh thần,
trong sự thư thái thảnh thơi của lòng bình tĩnh. Tiếc thương như gia vị và mong
mỏi như làm ấm nóng cái thú vô cùng.


     Rượu sánh trong cốc
pha lê trong trộn mùi khói pháo với hương thuỷ tiên. Tiếng pháo nổ vui từ nhà nọ
sang nhà kia, liên tiếp, đi mãi vào trong đêm để làm vang động bầu không khí
xuân của khắp cả các gia đình. Đó là tiếng hiệu lệnh của sự thông đồng chung hưởng.


     Lúc đó mỗi nhà đều uống
rượu thưởng năm mới. Rồi chiếc bánh chưng đầu năm mang lên, xanh mịn trên đĩa
trắng. Bánh chưng gói khéo thì vuông và chắc rắn: gạo  mềm và nhiễn, nhân
đậu và mỡ quánh vào nhau. Chỗ nạc thì tơi ra như bông gạo Có nhà gói lắm nạc, nhưng nhiều mỡ vẫn ngon
hơn: mỡ phần, chỗ giọi, lúc chín thì trong, và không có thớ. Bánh chưng kể mặn
là phải vị. Nhưng có dăm bảy chiếc gói ngọt cũng hay. Chỉ khó làm sao cho đừng
sượng, và đường với đậu phải biến với nhau mà thôi.


     Tưởng lúc xén đũa đưa
miếng bánh chưng lên, thoảng mùi lá dong thơm và mùi nếp cái, ăn với dưa hành
trong như ngọc thạch, hoặc với củ cải đậm và ròn như pháo xuân! Đó là tất cả
hương vị của cái tết Annam, ngày nay và ngày xưa.


    Sáng mồng một, chúng
ta uống rượu và ăn mứt. Rượu hẳn là phải rượu tây: những thứ vang cũ ngọt như
Porto, nồng chua như Vermouth, hay say như Cognacq. Uống những thứ ấy thích hơn
liqueurs. Nhưng sao ta không có rượu ngon của ta? Tiếc vì bây giờ cái gì của
người mình cũng vụng về và giả dối. Còn đâu thứ rượu cau có tiếng ở Hoàng Mai,
thứ rượu cúc nổi danh ở tỉnh Bắc? Cái hào nhoáng, cái lộng lẫy bề ngoài đã thay
cái chân thực, cái cẩn thận của người xưa. Đơn sơ và cẩu thả đã cướp chỗ của tốt
bền, ở tất cả những sản phẩm của nước mình.


    Mứt ngày trước cũng
ngon và khéo léo hơn mứt bây giờ. May gần đây, sự làm đã khá. Đã có mứt sen Cự
Hương, mứt khoai Việt Hương, vị cũng nhã, mà trình bày lại sạch sẽ, tinh tươm.
Đem làm quà ngày Tết kể cũng tạm được.


     Mứt phải đủ ngũ vị:
ngọt, bùi, đậm, béo và cay. Thứ mứt gừng cay là quý nhất. Chỉ tiếc thay mứt gừng
ngoài Bắc thô và mạnh quá. Tôi ước ao được một ngành mứt gừng ở trong Trung
 -mứt
gừng của Huế, làm bằng mầm gừng non và cả nhánh, trong như ngọc và cay, mềm dịu
cũng như con gái Huế.


    Thế rồi đi du xuân ngày mồng một, nhìn cây
nêu phấp phới trước các nhà, tiếng khánh sành reo theo gió. Một cuộc hoà
nhạc của sắc màu: quần áo mới của bầy trẻ, xác pháo đỏ trên gạch rêu, màu hồng
nhạt hay đỏ tươi của câu đối giấy dán trên cổng, và màu củ cẩm (hay cánh
sen) trên những tranh tết
 - nhất
cái màu tím mát ấy, màu của đất nước Annam, của thời xưa chân thật mà không bao
giờ nhìn tôi không thương nhớ ngậm ngùi…


   Trong lúc đó, trời xuân
đầy mây thấp và gần gụi, thời tiết êm ả như đợi chờ, gió xuân nhẹ như hơi thở,
và cây cối đều nở mầm non, lộc mới
 - tất cả cái gì như đầm ấm, như dịu dàng. Còn
hưởng cái thú nào man mác và thanh cao hơn nữa?


   Cho nên ngày Tết, tôi
mong các bạn cùng vui vẻ tươi sáng như ánh mùa xuân, trong khi lần giở những
trang của tập báo vì các bạn này.


 Ngày Nay số xuân 1940         

Saturday, January 26, 2013

Những ngày hòa bình đầu tiên




24/1


     Hoà bình ư? Nhưng anh nên nhớ rằng tất
cả mọi người chung quanh đều vẫn là những người cũ. Đó là ý nghĩ đầu tiên của tôi về hoà
bình, một trong những ý nghĩ thuộc loại cay đắng.




     Tôi đón nghe tin hoà bình vào một buổi tối,
tối 23/1. Tôi say say như vào một đêm giao thừa. Tôi chịu không nổi, phải đi ra
đường phố.


     Hoà bình rồi, các ông các bà ơi! Tôi muốn
kêu lên như vậy, nhưng lại nghĩ mình thuộc loại người điên mất, nên thôi.


     Ra cầu Long Biên. Đèn sáng. Giờ này, cầu vẫn
hoạt động, ga vẫn hoạt động. Người ta đang khôi phục đường sắt, tết này sẽ có 5
ngả thông đường. Đêm yên tĩnh. Một vài cái xe kéo đi. Nguyễn Khải bảo sao mà xe
chạy nháo nhác vậy!


     Buổi trưa hôm sau, gần trưa, tôi nghe tin ở
vườn hoa Hàng Đậu.


     Lâu
nay đường đã là của xe đạp và người đi bộ. Riêng phố tôi là phố của xe bò, trên
đường loét nhoét màu thẫm thẫm của phân mới. Mỗi lần gió quẩn, cũng đã thấy bốc
lên cái mùi khó chịu.


     Nhiều người đang đi xe đạp dừng lại. Có
người dừng lại giữa đường. Trong khi đó, những chiếc xe bò cứ chầm chậm mà đi.
Người chủ của nó còn mải nghe chuyện gì đó.


    Đài báo tin là văn bản được ký tắt. Những
người chiến thắng là những người quanh tôi, những người này ư ? Một bà mẹ già
nhăn nheo nét mặt. Những em bé nhếch nhác. Và một cô gái đứng bên hiệu ảnh, vô
can với mọi điều.


      Cũng
như con người, phố xá đường đi lối lại chung quanh đã bẩn thỉu quá, đã nhem nhuốc
quá, đến nỗi phải nghĩ rằng một là chiến thắng kia thật tầm thường, thật
vơ vẩn, hai là cái chiến thắng đó thật to lớn, những người này không xứng
được hưởng.


    Một chiếc xe bò đi ngang phố Quan Thánh,
trên xe, một tảng gỗ lớn, như tảng đá -- một thứ gốc cây. Hoà bình như một tảng
gỗ vậy chăng? Chúng ta mất bao nhiêu công chuyên chở nó từ đâu về, và nó nằm ườn
ra như thế. Nó mới là một khả năng, nó còn cần phải cưa xẻ, phải thay hình đổi dạng. Nó đã
là một cái gì đấy, mà lại chưa phải là một cái gì cả. Và chắc là chúng ta còn
phải vất vả với nó.


      Tôi lên tàu điện. Mấy người công nhân nói
chuyện với nhau theo cái kiểu“bốc phét”của người dân thường. Nó bảo - chữ ký
của hai bên bằng cả nền kinh tế Nga Xô. Rồi nó sang cho mà xem, Hà Nội sẽ đầy Mỹ.
Phòng họp hôm ấy thế nọ thế kia...


     Cái vui vẻ quá đáng của một người lâu mới
được vui. Của một người chiến thắng cơ mà !


     Mấy bà cụ đã bắt đầu thương những gia đình có người chết.Tiếc quá, cuối tháng trước như thế. Giá sống yên một tháng nữa thì hoà
bình.


     Đó cũng là cái chất Việt Nam, như chúng ta
nói!


     Mấy ông kỹ thuật ở nhà máy điện í ới gọi một
người bạn:


      - Này thôi, không phải đi 100 cây số nữa chứ.


      Một ông già đứng ra đường, gọi một người
quen:


      - Này hoà bình rồi.


      Mấy người công nhân sửa chữa đường đi
qua.


       - Thế hả bác, hoà bình rồi hả bác? Thế
là chúng cháu khỏi phải đi lấp hố bom.


      Một bọn trẻ con cũng biết bảo nhau hoà
bình rồi. Tết này tha hồ mà vui.


- Các cháu cũng biết hoà
bình cơ à?


- Biết chứ.


   Sao có một cái gì như đặc tính của người Việt
Nam hôm nay: thản nhiên, vô tâm, thích nghi với mọi hoàn cảnh. Không tin rằng
hoà bình đến sớm như vậy. Chỉ nghĩ đến một sự thoát nạn.





25/1


    Thế giới đều nói: "Đây là một cuộc chiến
tranh mà tất cả mọi người mong đợi kết thúc".


     Không
thể nào nhớ hết con đường nhọc nhằn mà người ta đã qua...


      Và là người trong cuộc, tôi nghĩ đến sự
nhọc nhằn của chính mình. Lẽ nào cuộc sống không có một cách nào khác, ngoài
cách sống khó nhọc như hiện nay.


    Nguyễn Khải:


   -- Thắng lợi của mình đúng là gồm thắng lợi
của một ý chí của dân tộc, kết hợp với một trí tuệ, như Kissinger. Đấy đúng là,
như ông Chu Ân Lai nói, một người biết nói tiếng nói của cả 2 phe.


    Còn ông
Hữu Mai kể hôm đầu tiên họp lại (8-1) mình không ra đón. Khi vào, mình bảo: Các
ông vừa ném bom chúng tôi, chúng  tôi
không thể ra đón được. Kissinger bảo các ông làm như thế là đúng.


   .. Đúng
là một hàn nho nhớ.


     Trong cuộc mặc cả này, chính là ông ta đã
đứng vượt lên được cả hai phe.


     Ông ta đã phải thuyết phục chính Nixon.


   


      Mỗi người nói về sự kiện theo cách riêng của
mình.


     Khải kể chính Kissinger nói công bằng
nghĩa là không một bên nào được tất cả những điều mình mong muốn - như thế là
công bằng chứ còn gì?


     Về đại cục, theo Hân, Kissinger từng nói Mỹ
không thắng ở Việt Nam tức Mỹ thua. Việt Nam không thua Mỹ tức Việt Nam thắng.


    Khải
bổ sung:


     --- Nói rằng chúng ta có hoà bình, thì người
ta dễ quên. Nhưng nói rằng chúng ta đã chiến thắng thì người ta mới thấm thía
lâu.





... Đối thoại với một tù
binh SG :


- Chúng tôi sẽ thắng các
ông.


- Vâng, chúng tôi sẽ thua.
Nhưng rồi chúng tôi sẽ mua các ông.





    Cũng Nguyễn Khải: Tôi chỉ
không hiểu sao thằng Mỹ nó lại có thể ký một hiệp ước hòa bình với mình như thế.


    Hân: Có lẽ là nó muốn thu
phục mình. Trong quyển của D. Landau đã có cái ý Mỹ không tuyên bố chiến tranh,
cho nên cũng cứ rút ra một cách lặng lẽ. Sài Gòn không đổ ngay là được. Còn sau
đó, Sài Gòn đổ mặc kệ. Mỹ có thể bắt tay với mình. Vì mình là một tập đoàn lãnh
đạo mạnh hơn.





28/1


     Ngày
hoà bình đầu tiên. Người ta đón hoà bình trên mảnh đất thân yêu với người ta.
Tôi đón hoà bình với Hà Nội -- mảnh đất mà tôi đã có những gắn bó suốt những
năm qua.


      Cờ
đỏ trên cây xanh Hà Nội. Cờ đỏ trên những giàn dáo đã dựng.


        “Hoà bình đã được lập lại trên hai miền. Chiến
tranh đã chấm dứt hoàn toàn.”  Đó là một
điều lâu nay ta đã nghĩ tới. Nhưng nghe vẫn tưởng như trong mơ. Tưởng như những
năm 60 còn kéo dài đến 2 năm đầu của những năm 70. Và bây giờ chúng ta mới bước
vào một kỷ nguyên mới .


         Hà Nội trầm tĩnh, Hà Nội hớn hở ra mặt. Em bé
ngồi trên gác ba ga xe của mẹ run
run. Những nhân viên bưu điện tươi cười đi giữa hai hàng người, phát báo.


         Những câu mọi khi nghe sáo rỗng nhất của đài,
của báo, giờ đây cũng khiến lòng người rưng rưng cảm động. Hôm nay, đài phát thanh phát
nhiều lần một bài ca về đất nước.


        Mỗi dịp như thế này, chúng ta lại nghĩ
đến đất nước. Có một cảm xúc là lạ sượng sùng, như là đất nước mà nay chúng ta mới
biết. Đất nước là những cảm xúc cũ nhất, mà sao vẫn là những cảm xúc tươi mới
nhất.


      Sao trong những ngày chiến tranh, lòng ta
bình tĩnh, mà hôm nay lòng ta lại nôn nao? Lòng ta rạo rực quá. Tôi biết có nhiều
chiến sĩ, vào những lúc bom đạn, có thể thản nhiên, nhưng có lúc nghe một tin
xót xa về các đồng chí của mình mắt cũng cay cay. Tất cả chúng tôi giờ đều như
thế.


      Tôi
trở lại bờ đê sông Hồng. Cờ đỏ trên phố nứa. Buổi sáng, người qua cầu phao
đông. Người ta đi đón con. Có những người muốn phá hết những hầm ở ven sông,
không muốn để những cái hầm này có mặt thêm một ngày nào nữa.


      Với
tôi sông Hồng là con sông của lịch sử. Lúc cần nhớ đến lịch sử, tôi luôn luôn
nghĩ đến sông. Sao con sông lại có thể trở nên gần gũi như vậy. Hà Nội với những
vấn đề hiện đại luôn luôn tựa lưng vào lịch sử.


       Trở
lại phố phường. Những người công nhân Cục công trình vệ sinh công cộng dọn một
vườn hoa cạnh Nhà hát thành phố nơi hôm qua bùn đất nhoe nhoét, than xỉ bẩn thỉu.


      Những mầm chuối đầu tiên đã mọc lên,
trên mảnh đất Khâm Thiên. Màu cờ đỏ lồng lộng trên đường phố như chỉ có trong
những ngày lễ lớn. Tôi ước ao lúc này, có mặt ở mọi nơi.


     Giữa
ban ngày, phố xá Hà Nội đông người như chưa bao giờ vậy.


     Trên một lều nhỏ ven sông, mấy ông già ngồi trầm
ngâm. Những thanh niên đứng trên những nóc nhà cao nhất của những nhà gác Bờ Hồ.
Có phải tất cả những người kia đều đang nghĩ tới Hà Nội.


      Trong những ngày này - mỗi người như cảm
thấy muốn tốt hơn với bạn bè, với đồng chí, với những người vừa gặp.


      Không phải là hoà bình đã gắn với hạnh phúc.
Nhưng quả thật, với nhiều người, hoà bình đã là một thứ hạnh phúc.


      Hà
Nội hôm nay thật nhiều quần áo mới.





       Với hoà bình, cả cuộc sống như được sống
lại. Tối 28-1, đi xem biểu diễn ở Nhà Hát lớn. Những nền nếp cũ hiện ra vụng dại.
Những nền nếp ấy nó là dấu hiệu của một cuộc sống khác. Cả người biểu diễn lẫn
người xem đều hơi loạc choạc. Nhưng rồi lại quen ngay được.





       Tiếp tục ra các khu xa trung tâm. An
Dương, màu đỏ lá cờ nổi lên trên màu đỏ của gạch ngói bị vỡ. Và tôi hiểu ý
nghĩa của màu đỏ mà chúng ta thường thấy. Em trai tôi kể: Qua Yên Viên, không
còn nhận ra gì cả, chỉ thấy cờ đỏ. Cờ đỏ ở trên cây. Cờ đỏ ở một ít nhà còn sót
lại.


      Một người đàn ông phá hầm.


      - Bác phá cho tan luôn?


       - Ăn chắc rồi, hoà bình ăn chắc rồi, tội
gì mà chẳng phá.


      Trong khi người bố lật những mảnh xi măng
từ chiếc hầm bị phá, em  bé ngồi cạnh đấy
cũng lật lại mảnh hầm vỡ như nghịch một con ngựa gỗ ở các vườn hoa.


       Hà
Nội sẽ phải dọn tới  40 ngàn mét vuông mặt
bằng.





29/1


     Một
chuyện chả có gì dây dưa đến chiến tranh, một cô gái từ Moskva gửi một bức thư
về toà soạn VNQĐ  một ít tư liệu
về Napoleon, Hitler và thủ đô nước Nga. Có lúc tôi nghi ngờ, làm gì có ai lúc
này còn đọc sử. Nhưng rồi tôi thấy quý mến, nhìn thấy ở đó một việc tôi cũng muốn
làm. Lạ nữa, tôi mơ hồ cảm thấy ở đó có một điều gì may mắn đối với nghề nghiệp
của mình.


   Một
chuyện vui khác mà tôi phải kể với nhiều người. Hôm qua, ngày hoà bình đầu
tiên, đi đường, tôi nhặt được 2 quả bóng hơi, thứ bóng trẻ con chơi. Tôi cầm
bóng, lòng sung sướng như người cha mang về cho đứa cho nhỏ ở gia đình. Có lẽ
nào lại chẳng thấy đối với mỗi người, cuộc sống thật là kỳ lạ. Bất cứ một vật
gì bình thường, khi nó thật sự là nó, thì người ngoài nhìn vào, cũng có thể tìm
thấy một chút hào hứng.





30/1


     Một chi tiết vui vui nó như dư âm cuối
cùng của những ngày qua.


     Kissinger (sau khi ký xong hiệp nghị) bảo:


  --Tôi không có gì để nói với các bạn cả. Và
đó quả thật là một điều kỳ lạ.





   Cái chết của một người, khi nó được khắc
lên thời gian, không gian theo một cách nào đó (ví như cô bé Tanhia, mà Nixon
nhắc khi đến thm Nga) thì nó lại gây ấn tượng hơn cái chết của số đông hàng vạn
người khác.


    Một tờ báo Sài Gòn: Hòa bình như một cơn mơ
đẹp. Nhưng có được cơn mơ đó, thì người ta đã phải trải qua nhiều ác mộng.





      Thế nào là bản lĩnh? Thế nào là lòng tin?
Tôi không thể tin dễ dãi quá, tôi đã tính toán cẩn thận, vậy mà nhiều lúc tôi
còn lầm lạc. Tôi đã bao lần bị lừa trong khi trông đợi hoà bình.


       Báo Mỹ: Những vấn đề chiến tranh sẽ
không rời bỏ nước Mỹ một thời gian nữa, không biết là đến bao giờ.


      ... Chúng ta đã biến thành rác rưởi của
cuộc chiến tranh này.


      Chúng ta không muốn ai dí mũi vào công việc
của chúng ta. Và đó là cuộc chiến đấu vĩ đại. Nhưng việc đó không hề bảo đảm rằng
chúng ta sẽ biết sống với nhau.


       David Landau: Những phong trào của
châu Á quá chú ý tới những hư danh, hơn là cái ý nghĩa thực. Trong cuộc chiến đấu
của Việt Nam, người ta đòi bằng được việc Mỹ rút về nước trên danh nghĩa mà
không chú ý xem thực chất vấn đề này là gì. Có những cách nào làm việc đó? Có
cách nào làm cho Mỹ vừa đỡ mất mặt, vừa được việc cho Việt Nam?





 31/1


     Những
chiếc xe bò đổ đất lấp hầm leo lên vỉa hè Hồ Gươm, sắp hàng dài. Tùng bê, đất đổ,
gạch đổ, cái hầm cá nhân kia đầy lên.


     Ở khu vực Láng Hạ, những người con gái đi
ra lấp hố bom, bằng những cái cuốc, cái xẻng nhỏ như cánh tay của họ.


     Dân Đường sắt kể  nghe tin hoà bình, tàu hoả kéo còi một lúc
lâu, người hai bên đường cứ dạt ra.


    Rất nhiều người nghĩ ở một thủ đô khác, chắc
là những ngày hoà bình mọi người đã nhảy
cả lên. Nhưng cách biểu hiện tình cảm của Hà Nội, của người Việt Nam là lặng lẽ.
Mọi người quên đi thật nhanh những gì vốn có mà ngày hôm qua, chính vì thế mà họ
cũng không reo lên.


     Hay là đã e rồi mai đây, chẳng có chuyện
gì phải reo lên cả.


    Anh có thấy Hà Nội, trong những ngày này,
thỉnh thoảng vẫn thoáng qua những bóng áo xanh bộ đội. Anh bộ đội về phép đi
qua thủ đô. Luôn luôn có một Hà Nội riêng của những người không phải dân Hà Nội.

Monday, January 21, 2013

Xuân & tết với con người tiền chiến


                     Trở lại với các bài báo Tết đã viết      


       



Những dòng nước ngược



      Chuyện buồn giữa đêm vui là tên một thiên truyện của Nam Cao trong
đó có nhân vật chính sau khi mời họ hàng đến ăn bữa cơm cưới, kể lại cho vợ
nghe về một người cô hôm ấy không có mặt.









    Để nội dung cụ thể sang một bên, hãy nới tới
cái ý nghĩa khái quát nằm sau đầu đề thiên truyện: cuộc đời chung quanh chúng
ta chẳng bao giờ trọn vẹn. Bởi vậy, hình như trong những ngày vui, những người
không quá vô tâm, những người có lương tri thường không khỏi nhớ tới những gì
chưa được hoàn thiện, những bất công khổ sở còn đầy rẫy quanh mình. Cái buồn ở
đây không phải bi quan, càng không phải để làm dáng. Ngược lại, nó là tình cảm
tự nhiên ở những con người lành mạnh, có yêu cầu cao về đời sống, và nhạy cảm
với những gì đang diễn ra chung quanh.


   


  Nếu không phải tất cả, thì một số nhà văn Việt Nam, nhất là
nhưng cây bút hàng đầu của nền văn học dân tộc trong thế kỷ này – Nguyễn Công
Hoan và Khái Hưng, Thạch Lam và Nguyễn Tuân, Tô Hoài và Thanh Tịnh… đã nghĩ như
vậy. Khá nhiều thiên truyện mà họ đã viết nhân những ngày tết và nội dung có
liên quan đến tết, lại là những truyện gợi cảm giác buồn bã.


    


  Người ngựa và ngựa người của Nguyễn Công Hoan có hai nhân vật chính thì một là
anh  phu xe đói khách, hai là cô gái làng chơi ế hàng, không có tiền cũng
cứ gọi xe để dử mồi. Cuối cùng cả hai đều thất vọng. Cô ả trốn biệt. Anh phu xe
bị quỵt tiền. Giữa lúc ấy “tiếng pháo chào xuân nối đuôi nhau đùng đùng toạch
toạch”.


    


  Tối ba mươi của
Thạch Lam được xây dựng từ một cảm hứng hoàn toàn khác, song cũng buồn không
kém. Cả hai nhân vật chính “sống đời truỵ lạc” (chữ của tác giả) song thực ra
họ đều là người tử tế, do sa cơ nhỡ bước mà rơi vào vũng bùn. Đêm tất niên,
không có khách lai vãng, hai người càng cảm thấy lạnh lẽo. Họ mua các thứ về
thắp hương, cúng tổ tiên, cha mẹ và tủi về thân phận của mình, ôm nhau khóc.


   


   Ngày tết là ngày của hy vọng. Các nhân vật chính trong thiên
truyện mang tên Đón khách của Nam Cao cũng không nghĩ khác.
Ông bà đồ Cảnh ở đây chỉ mong kiếm cho đứa con gái của mình một tấm chồng sáng
giá. Họ nhịn nhục đi vay tiền làm bữa cỗ thật to chờ anh chàng rể tương lai.
Nhưng chính lúc đó, họ nhận ra sự thật: anh chàng Sinh, mà họ định bẫy, chỉ
buồn tình đùa bỡn gia đình họ cho vui. Anh đã có đám khác. Điều oái oăm là ở
chỗ tin thất thiệt đổ ụp xuống gia đình ông đồ Cảnh giữa ngày mồng hai tết.


   


   Có thể kể thêm ra đây nhiều thiên truyện tương tự ở đó, cái nền
xảy ra câu chuyện là những ngày xuân chỉ khiến cho những nỗi đau khổ của các
nhân vật thêm nổi bật. Thanh Tịnh từng miêu tả cái vui gượng gạo trong đêm giao
thừa của những hành khách trên một chuyến xe lửa cuối năm. Khái Hưng trong một
thiên truyện pha hồi ký, kể lại cảnh mình bị khám nhà giữa đêm ba mươi tết (ấy
là hồi ông còn làm đại lý xăng dầu ở Ninh Giang).


   Trong Quê người của
Tô Hoài, có một nhân vật tên là Thoại. Do quá nghèo túng, giữa đêm tất niên,
Thoại xoay ra đi lùng chó, những con chó sợ pháo chạy lung tung giữa đồng.
Nhưng cái mưu đồ ấy cũng không thành. Thoại bị một trận đòn nhừ tủ, đến nỗi xấu
hổ quá, dắt vợ con bỏ làng ra đi. 


   Tóm lại, “Khôn ngoan đến cửa quan mới biết –
Giàu có đến ba mươi tết mới hay” – hình như trong những ngày tết, ai đã vui lại
vui hơn, ai đã buồn lại càng buồn hơn. Ngày xuân ngày tết chỉ làm rõ hơn cái
tình thế mà mỗi người sẵn có. 


   Và chỉ cần để ý kỹ chung quanh một chút thôi,
người ta sẽ nhận ra ngày những cái tết eo hẹp, đạm bạc của những nguời quanh
mình để không bao giờ đẩy sự vui vẻ tới mức quá trớn – hình như các nhà văn
muốn nói thêm với bạn đọc điều ấy.


    


     Thế cái quy luật này có tồn tại trong thơ, như đã tồn tại trong
văn xuôi tiền chiến? Câu trả lời: cũng gần như thế! Cố nhiên, thơ vui ngày tết
thì nhiều rồi, nhưng thơ buồn cũng không phải không có.


    Lấy một ví dụ: Có lần,
các nhà sưu tầm thơ Nguyễn Bính đã chọn những bài thơ ông viết về mùa xuân và
cảnh tha hương làm thành một tập riêng gọi làXuân tha hương, trong đó,
riêng những bài đầu đề có chữ tết, chữ xuân đã đến hơn chục bài: Xuân
về, Vườn xuân, Thơ xuân, Xuân thương nhớ, Hội xuân, Mùa xuân, Rượu xuân, Nhạc
xuân, Tết của mẹ tôi, Tết biên thuỳ


     Những người quen biết Nguyễn Bính
trước 1945 thường kể ông là người duy nhất hồi ấy có thể sống được bằng nhuận
bút thơ. Vậy nên có thể dự đoán khá nhiều bài thơ nói về xuân về tết này được
làm theo com-măng của các báo. Mặc dù được làm theo đơn đặt hàng, đây vẫn
là những bài thơ khá hay. 


   Có điều, nếu thời gian mới làm nghề, thơ Nguyễn Bính
về xuân và tết thường là những bài thơ vui, thì về sau, âm hưởng chính lại là
buồn bã.





      - Em đi dệt mộng cùng
người


     Lẻ loi xuân một góc trời riêng anh




     - Dang dở một thân nơi đất khách

    Tết này ta lại ngắm hoa suông

    


    - Huyền Trân Huyền Trân Huyền Trân ơi!

    Mùa xuân mùa xuân mùa xuân rồi

   Giờ đây chín vạn bông trời nở

    Riêng có tình ta khép lại thôi.


    


  Những câu thơ vui, nhí nhảnh của Nguyễn Bính viết về xuân
kiểu như Mùa xuân là cả một mùa xanh Trời ở trên cao
lá ở cành
… được nhiều bạn đọc trẻ tuổi ghi nhớ. Nhưng cũng có phần chắc
chắn không kém là những câu thơ xuân kể lại cảnh cô quạnh, đơn độc của tác giả
cũng đã là bàu bạn của lớp người từng trải, hơn thế, là lời an ủi cho những
người cùng cảnh ngộ.





    Bài viết này mượn nhan đề một tập thơ của Tú Mỡ. Điều may mắn cho
chúng tôi là đọc lại tập thơ trào phúng đó cũng có mấy bài viết về tết, mà cũng
là dòng nước ngược, với nghĩa: tuy tác giả không tả những cảnh buồn
đau thất vọng, song ông cũng không hùa theo đời, tô vẽ cảnh tết, mà lại nhìn
thấy trong ngày vui này những cái nhố nhăng nhếch nhác. Đây là một ví dụ:





                                            Ghét tết
                                                   (thơ yết hậu)




Thiên hạ sao ưa Tết?

Hẳn vì mặc áo đẹp

Tớ đây bảo Tết phiền

Ghét!




Tiêu pha thực tốn tiền

Chè chén cứ liên miên

Hết Tết đâm lo nợ

Điên!




Mồng một đi mừng tuổi

Chúc nhau nghe inh ỏi

Toàn câu sáo rác tai

Thối!

Mừng tuổi đèo phong bao

Năm xu lại một hào

Ai sinh cái lệ đó?

Hao!




Kiết xác như vờ rồi

Còn ngông đốt pháo mãi.

Pháo kêu: Tiền hỡi tiền

Dại!


    


     Cố nhiên, nghĩ như Tú Mỡ cũng có phần cực đoan. Sau một năm lao
động vất vả, chúng ta có quyền vui tết. Điều có thể chia sẻ với Tú Mỡ trong
trường hợp này là: có được một cái Tết cho hợp lý, có ý nghĩa mà cũng là có văn
hoá- cái đó không phải dễ.





Đã in Chuyện cũ
văn chương 2001
                  
      






                             Một cách đón tết đầy thách thức


       Đã gọi là nhà văn, xa gần ai
chả viết về đời sống dân tộc, song trong các nhà văn Việt Nam hiện đại, nếu cần
tìm một người biết từ những mảng sống, những thực tế ai cũng sống ấy, đưa lên
thành nề nếp, thành một cái gì thuần thục kỹ lưỡng, tóm lại là biết xem xét đời
sống ở bình diện văn hoá, thì người ta trước hết nghĩ đến Nguyễn Tuân
(1910-1987).


        Cách sửa soạn cho
một ấm trà ban mai hay cái nghi thức thiêng liêng mở đầu cho một ngày.


          Những đắn đo bàn
bạc trước khi làm mấy cái đèn trung thu hay vẻ trịnh trọng trong việc đón cái
Tết vốn chỉ được coi là dành cho con trẻ.


          Rồi ý nghĩa tìm thấy ở trò chơi thả thơ đánh
thơ, quan niệm về nhân cách qua một kiểu viết chữ…


         Rồi đức hy sinh của
một người chị cho một nguời em trai, niềm tự tin hay những kiêu hãnh chính đáng
của một vị quan có học…


        Bao nhiêu nếp sống
hàng ngày đã được Nguyễn Tuân ghi nhận.


       Thì dĩ nhiên là những
ngày Tết nguyên đán cũng đã để lại vang và bóng của nó trong tâm trí Nguyễn
Tuân, dù nhiều khi chỉ là những vang bóng thoáng qua.


        Lấy ví dụ như ở thiên truyện Hương
cuội
 in trong Vang bóng một thời. Đặt bên cạnh những Chém
treo ngành
 hoặc Ném bút chì có gươm khua, có máu chảy
(dù là tất cả đã được làm một cách rất tài hoa), thì Hương cuội giống
như một sự dềnh dàng cố ý cốt cho thấy cách đón xuân của cổ nhân cầu kỳ mà cũng
thanh đạm đến như thế nào.


        Này là cảnh chuẩn bị
Tết ở nhà cụ Kép: trong lúc đám dâu con đàn bà ngồi lau lá dong và làm bếp, còn
lũ trẻ lo đánh bóng đỉnh đồng, lư hương, thì ông cụ chỉ loanh quanh bên cái
chậu hoa, và để hết tâm trí tới việc sửa soạn bữa rượu Thạch lan hương.


       Quả thật, cái cảnhuống rượu nhắm với đá
cuội tẩm kẹo mạch nha
 là một nét lạ của văn hoá Tết cổ truyền mà có
thể đoán là khống mấy người thuộc lớp hậu sinh chúng ta được biết, và những
trang văn Nguyễn Tuân thật đã có vai trò của những thước phim quay chậm để ghi
lại tư liệu quý.


   


     Sau Vang bóng một thời xưa đâu Nguyễn Tuân còn định viết Vang bóng một thời Tây. Rồi cái ý
định ấy, cũng như nhiều dự định hay ho khác, đành xếp xó. Nhưng đây đó, nhà văn
thích phác hoạ lại nếp sống một thời và mang lại cho nó vẻ thanh lịch của một
hành động văn hoá, nhà văn ấy cũng đã kịp ghi lại vài nếp sống của xã hội ta
khi chuyển sang thời Âu hoá, trong đó có cảnh đón Tết ở các đô thị.


       Đọc Một người
cha về ăn tết
 (in trongTuỳ bút I) người ta biết rằng vào những
năm ba mươi của thế kỷ này, thành phố Hà Nội vẫn chỉ là nơi làm việc của nhiều
công chức, chứ không phải gia hương của họ.


     Cuối tháng chạp âm
lịch, hai mươi, hăm lăm gì đó – tuỳ cảnh tuỳ người – nhiều cặp vợ chồng giao
nhà cho đầy tớ, rồi kéo con cái về quê ăn tết. Có thể là ở quê, họ lại sẵn sàng
ngồi bên nồi bánh chưng cổ truyền suốt đêm để sống lại cái nền nếp vốn có của
cha ông. Còn ở thành thị, nơi họ làm việc, thì cái nếp sống Tây phương cũng đã
len vào thành những phong tục mới, nhuần nhị và thành thục. Trông nhà trong mấy
hôm ấy, một trong những việc đám thằng nhỏ phải làm là để cái đĩa pha lê ra bàn
giữa nhà cho bạn bè của chủ chúng (mà chúng thường gọi là cậu mợ) đến đặt danh
thiếp.


  


    Tuy nhiên cái độc đáo của Tết ở văn Nguyễn Tuân
chưa phải là ở những mảng sống được ông miêu tả ghi chép như vậy. Bởi lẽ, sự
quyến rũ của văn ông là ở cái hình ảnh bao trùm của con người lãng tử, nên cái
ấn tượng về Tết khiến người ta nhớ hơn cả cũng là cách xử sự kỳ lạ của chàng
Nguyễn và những phiên bản của chàng vào những ngày mọi người khép mình chờ đợi.





     Mặc dù biết rõ là Tết sắp đến nhưng
Nguyễn của chúng ta vẫn mải mê với việc vui chơi và sẵn sàng lang thang ở những
chốn đâu đâu mà không hề đoái hoài tới việc tận hưởng mọi thú vui thông thường,
kể cả việc về nhà sum họp cùng vợ con.





     Trong Những đứa con hoang, người
ta gặp cái cảnh Nguyễn với hai người bạn xuống xóm vào một
ngày tất niên, khi các nhà cô đầu tịnh không ai đi hát, và từ các bà chủ đến
các cô con gái trong nhà có nghĩ gì, thì cũng là nghĩ đến chuyện làm ăn trong
năm mới.


      Lại như câu chuyện Một người
cha về ăn Tết.
 Cái việc tốt đẹp nói ở đầu đề thiên tuỳ bút, thực ra
phải đâu là nằm trong dự định của Nguyễn mà chỉ là kết quả của sự tình cờ. Đang
ở nhà bạn, định sống thêm một cái Tết tha phương, chợt trông thấy mấy đôi giày
trẻ con, thế là lòng nhớ nhà của Nguyễn thức dậy và chàng mới ra ga, về quê
trong chuyến tàu rạng sáng ba mươi.


       Tóm lại, sau trước, Nguyễn
vẫn là Nguyễn, Tết chẳng qua là một dịp để con người ấy tiếp tục mài sắc cá
tính của mình, càng mang tiếng chơi ngông, trêu ngươi mọi người, càng lấy làm
đắc ý. Giữa cái xã hội Âu hoá nhố nhăng, để khẳng định cá tính, Nguyễn vẫn chỉ
có một con đường độc đáo để đi, ấy là con đường đã in dấu chân của nhiều bậc
lãng tử cuối mùa, mà ông Cử Hai trong Một cảnh thu muộn là ví
dụ.


         Vâng, ông Cử Hai
ấy cũng là một người đem cái tài hoa ra để đùa với cuộc đời. Đi dạy học khắp
nơi với ông là một thứ “đi ngoạn cảnh hoặc là đi dâng hương ở các đền chùa cổ
tích”. Bởi vậy mới có cảnh “gần ngày Tết nhất, người trưởng tràng lúc thu xong
sổ đồng môn, chỉ khổ lên vì đi tìm thầy”. Giữa ngày vui của mọi người, cái con
người nghệ sĩ không chịu sống cho người khác và hùa theo với người chung quanh
ấy sẵn sàng ẩn trong một mái đình vắng nào đó, để gọt cho hết một lắp thuỷ
tiên.


     Người ta có thể không sống theo và trước
tiên là không thích thú với cách sống cao ngạo trái khoáy này, song phải công
nhận người giữ được cái đạo đó phải là người có cuộc sống nội tâm phong phú,
nội lực vững vàng, trong khi biết tìm cho mình những thứ thức ăn tinh thần
không giống một ai, họ thật đã có cuốc ống vượt lên cái phàm tục mà kẻ sĩ xưa
nay hằng ao ước.


      Đơn độc ngay trên quê hương mình,
trốn tránh mọi người, chỉ lấy sự lang thang chỗ này chỗ nọ làm vui, những tưởng
ở Nguyễn Tuân đã chết hẳn con người bình thường.


      Nhưng không, đến khi có dịp xa quê
thực sự, thì Nguyễn Tuân lại có một cái Tết thật buồn, đến mức người ta phải tự
hỏi không biết đâu mới là bản chất thực của cái con người phiền toái đó.


       Trong Một
chuyến đi
 ông đã kể lại kỹ lưỡng nhiều chuyện liên quan đến cái lần
nhà tài tử nghiệp dư là ông, cùng với một số bè bạn, sang Hồng Kông đóng phim.
Cảnh ông ăn Tết ở xứ người chính là xảy ra vào đầu năm Dần đó (1939).


      Hiện lên trước mắt chúng ta là
một bức tranh hai màu đối lập.


      Một bên là cảnh dân địa phương náo
nức vui thú. Những tràng pháo dài hàng vạn quả đua nhau nổ dữ dội. Những gốc
đào tươi tua tủa hoa nhạt và nụ thắm. Rồi đêm Hương Cảng đỏ rực hẳn lên với
phiên chợ Tết “như cảnh bài trí trong một truyện thần tiên hoặc trong Liêu Trai…”.


      Một bên là cái tâm trạng buồn thiu
của người lữ khách cô độc, mắt mờ hồn mê, tiền không có, bạn không có, đi giữa
đường vui phải giơ tay nắm chắc lấy lòng can đảm của chính mình để khỏi chán
chường thêm.


      Vốn là điều làm nên sự kiêu hãnh của người
lãng tử, sự khác người với Nguyễn Tuân trong những ngày Tết năm ấy chỉ còn là
một cái gì nặng nề, không sao chịu nổi. Trong lúc tỉnh táo, tác giả cảm thấy
rất rõ là mình đang đánh mất mình: “Tôi chiều nay hằn học với số phận, dám
cáu kỉnh với cả cuộc đời phiêu lưu mà xưa nay tôi vẫn ca ngợi. Chiều nay, tôi
cũng muốn vứt đi một cái gì
”.


     Chưa bao giờ như trong Một chuyến
đi,
 con người Nguyễn Tuân lại hiện ra yếu đuối đến thế, bất lực đến
thế!


     Song cũng là một sự thực kỳ lạ: ấy cũng là
lúc Nguyễn đáng yêu hơn bao giờ hết. Sau cái lần vỏ ngạo ngược, ngông nghênh
hoá ra chàng Nguyễn vẫn rất mềm yếu, rất tình cảm, nghĩa là rất gần với mọi
người.


     Có lẽ vì thế, chúng ta hiểu vì sao sau
này tỏng tiếng súng chiến tranh khi cùng một đoàn kịch đi suốt từ Hà Nôị tới
Nam Trung bộ, khi lội suối trèo đèo theo bộ đội đánh đồn, nhiều cái Tết trong
văn Nguyễn Tuân lại hiện ra với những nét vui vầy đầm ấm, và những ngày hoà
bình sau 1954, hầu như Tết nào ông cũng có những bài tuỳ bút vui Tết với mọi
người.


      Vẫn với cách nói hóm hỉnh vốn có,
ông bảo rằng đó là những lần mình ngả từ vườn đào nhà ra mấy cành để góp mặt
với những ngày vui ở chợ hoa Hàng Lược. Một trong những bài tuỳ bút của Nguyễn
Tuân hồi ấy độ một cái tên khá lạ lùng Tôi bán năm cành hoa tết.





 Vốn là bài Cùng đón tết với
ông Nguyễn 


đã in trong Chuyện cũ văn chương 2001