Friday, September 30, 2011

. Ảo tưởng, đâu dễ từ bỏ

Giữa bao nhiêu vụ bê bối đương thời, thì vụ bán độ trong bóng đá năm 2004 “ chỉ là một cái gì rất nhỏ. Sau khi điều tra trên diện rộng,  và có lẽ chỉ có một số nhỏ người có liên quan là có án cụ thể. Song tôi nghĩ cái số người  không có án, số đó mới đáng sợ. Nghĩ tới họ ta hình dung ra cả một tình trạng lầm lỗi tràn lan  với những biểu hiện muôn màu muôn vẻ.

Đã có những con người hư hỏng, cậy chút tài năng để buông thả, và thường xuyên đầu cơ lòng yêu mến của người hâm mộ. Đã có những cán bộ phụ trách làm ăn với xã hội đen để kiếm chác. Đã có những tập thể cùng nhất trí đưa tiền đi hối lộ. Đã có những thành tích có được do đi xin đi chạy. Đã có lối sống bài bạc trai gái rủ rê nhau làm bậy rồi phản bội nhau, ăn chặn tiền công của nhau. Đã có những cuộc chạy làng. Đã có lỳ lợm chối quanh ngoan cố cãi chày cãi bửa sau khi bị cơ quan điều tra  phát hiện.Tóm lại, đã có những tội lỗi mà lâu nay chúng ta chỉ đọc trong sách vở, hoặc xem trong phim ảnh, nay trong thực tế còn bẩn hơn ghê hơn. Không gì xa lạ với chúng ta cả.

Đấy, cái chính làm cho người ta nghĩ ngợi nhân chuyện cá độ bóng đá là ở chỗ ấy: Nó không phải là một “hiện tượng cá biệt” như chữ ta hay dùng. Nó tiêu biểu cho một xu thế thấy ở nhiều ngành nhiều địa phương. Chẳng qua, những ngành những địa phương đó quan trọng,  lôi ra thì xấu hổ chung nên người ta ỉm đi. Còn thể thao ư, thể thao có vẻ chẳng là gì cả, nên người ta cho “ bới tung” ra như vậy. Dẫu sao, nó – cái hiện tượng tiêu cực chung –, cũng đã có dịp được bộc lộ, và ai cũng thấy đây không phải là chuyện riêng của một ngành thể thao.

Nhân đây tôi nhớ lại một mẩu chuyện cũ.

Nhà thơ Thợ Rèn có lần kể với tôi:  Cụ Tuân ( tức nhà văn Nguyễn Tuân ) mang tiếng là hay thắc mắc chứ thật ra nhiều khi cũng ngây thơ lắm.  Đâu mấy năm đầu hoà bình 1954, chính cụ đã có lần  kêu tướng lên rằng nay là lúc ai cũng tốt cả, vậy thì các loại nhà  tù như  Hoả Lò cần giải tán đi chứ  để làm gì nữa. Sau này nghĩ lại, chính Nguyễn Tuân cũng thấy buồn cười cho mình.

Nhắc lại chuyện ấy để thấy ngay ở những nhân vật xuất sắc của xã hội, trong sự suy nghĩ nhiều khi cũng có ảo tưởng. Mà cái ảo tưởng lớn nhất là lầm tưởng rằng chúng ta có một xã hội khác hẳn mọi xã hội khác. Xấu xa đê tiện hư hỏng tàn ác  … không có đất sống. Có thể còn nghèo nhưng “ đói mà sạch rách mà thơm “. Mọi người đều “trên mức tuyệt vời”. Ai cũng thành chủ nhân ông chân chính của đất nước. Ai cũng đáng yêu. Vâng kỳ lạ, ngớ ngẩn, ảo tưởng,  bốc thế đấy ! Có người còn ngờ vực chưa tin ư ? Chỉ cần giở sách giáo khoa mà học sinh các cấp đang học. Chỉ cần giở các sáng tác văn thơ “kinh điển “ ra, những câu kiểu như “ Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn “ (Chế Lan Viên ) nhan nhản, nó là bằng chứng của một cách nghĩ đã thuộc về quá khứ.

“  Răng không cô gái trên sông—Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài- Thơm như hương luỵ hoa nhài — Sạch như nước suối ban mai cửa rừng…

Đó là mấy câu trong bài Tiếng hát sông Hương của Tố Hữu mà nhiều thế hệ học sinh nửa thế kỷ nay phải học thuộc lòng, và nếu tôi không lầm thì ai cũng thấy đúng. Ngày mai sẽ hơn ngày nay, còn gì đúng hơn thế nữa? Nhưng nay nghĩ lại, nó không phải là ảo tưởng  thì còn là một cái gì khác ?

Ảo tưởng mãi mãi nẩy sinh là vì thế, nó thuộc về tất cả chúng ta, khi chúng ta chưa trưởng thành. Và nó khó vượt qua, là vì khi đã nẩy sinh rồi thì cứ làm người ta quyến luyến mãi.

Năm 2006 có vụ tự truyện Lê Vân yêu và sống bị nhiều người phản đối. Nhiều người không thể chấp nhận chuyện một người con  gái — ở đây là một diễn viên nổi tiếng – mang kể tung những chuyện riêng trong gia đình mình cho mọi người cùng nghe. Một mặt người ta tỏ ý thạo đời: “ Ai chả biết!”. Mặt khác người ta vẫn cho là nhiều điều chẳng hay ho gì ấy nhất thiết không được đưa lên trang giấy, không được cho lớp trẻ đọc.

Qua việc này tôi nhận thấy thói quen sống trong ảo tưởng vốn đã trở nên thâm căn cố đế nơi nhiều người lại có thêm cách bộc lộ mới. Ảo tưởng rằng nếu ta nhắm mắt không muốn nhìn một hiện tượng xấu nào đó thì rồi tự khắc nó sẽ biến đi. Nhất là ảo tưởng là chúng ta muốn nhào nặn lớp trẻ thế nào cũng nên, muốn nói dối những công dân tương lai đó thế nào cũng được.

Trên nguyên tắc thì ai cũng biết phải dám nhìn thẳng vào sự thật. Nhưng trong thực tế thì đã bao lâu nay lối sợ khuyết điểm sợ sự thực kéo dài, dẫn tới  che giấu cho nhau và nhiều khi cả đám đông hùa vào cùng bảo nhau che giấu. Người nọ sợ người kia biết. Cấp dưới sợ cấp trên biết. Người già sợ thanh niên biết. Người phụ trách sợ dân biết … Thoạt đầu là thành tâm, là có dụng ý tốt. Nhưng do đã kéo quá dài nên những động cơ tốt đẹp ấy không đủ để biện minh cho bao nhiêu tai hại tiếp nối.

Friday, September 23, 2011

Nhật ký 2011 ( tuần XXXV –XXXVII)

31-8

TIN NHÒE TIN NHẠT TIN KHÔNG RA TIN

Nghe các bản tin thời sự trên TV, đôi khi có những nỗi bực mình nho nhỏ. Chẳng hạn mấy người dẫn chương trình cứ tên đất tên người tiếng Anh thì nuốt chữ đọc vội.

Thoạt đầu tôi chỉ nghĩ chẳng qua các phát thanh viên ấy kém ngoại ngữ. Sau mới vỡ ra, cái chính là trong phần lớn trường hợp, họ -- bây giờ đã đôn cả lên thành biên tập viên --chả hiểu gì về những điều họ nói.

Một đặc điểm chung của cách đưa tin ở ta là lối làm cho tin nhòe đi. Trong một đoạn tin, cứ chỗ nào quan trọng thì người ta lướt nhanh.

Xã hội tràn ngập thông tin, nhưng toàn là những thông tin lờ mờ vô bổ, chả giúp cho người ta gì cả. Nếu bảo là tin rác cũng không oan nào.

Ngoài ra là các loại quảng cáo. Hoặc là một thứ nịnh bợ rủ rê rất gian giảo. Hoặc như một thứ áp lực, thúc ép dọa dẫm, dí súng vào tai người ta mà bảo rằng hàng tốt hàng quý thế này, có mua hay không thì bảo!

Một nội dung thông báo trên TV là các hội thảo. Nhưng bạn thử để ý cách đưa tin mà xem, chỉ toàn thấy tên người đến chỉ đạo. Còn chính những báo cáo quan trọng của hội thảo đó thì người đưa tin không biết mà cũng ngầm nói rằng người nghe không cần biết.



Một nhà đầu tư nước ngoài phát biểu “Chúng tôi cần nhân công đáng tin cậy.” Nhưng có cái gì ở ta bây giờ đáng tin cậy?!





1-9

QUAN CHỨC THỜI XƯA QUAN CHỨC THỜI NAY

Tại sao thời trung đại dân mình làm ăn kinh tế kém? Theo Đào Duy Anh trong Việt nam văn hoá sử cương, (1938), lý do phần lớn là tại là tại lối quản lý. Nhà nước “đối với công nghệ không những không khuyến khích mà lại còn áp chế.” Ông dẫn lại một đoạn trong sách Lịch triều hiến chương , ở đó Phan Huy Chú viết rằng “đời Lê Dụ Tôn, đặt lệ trưng thu hoành lạm ( thu mua quá mức) khiến nhiều nhà nghề không kham nổi mà đành bỏ nghiệp. Như nhà nước đòi sơn thì dân chặt cây đi, nhà nước đòi vải lụa thì dân phá khung dệt, đòi gỗ thì dân quăng búa rìu, đòi tôm cá thì dân xé lưới “.



Đọc các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan hay tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng tôi được biết rằng ngày xưa cứ huyện nào vỡ đê thì quan huyện không lần chần nài nẫm gì hết, về chuẩn bị giấy tờ sổ sách mà bàn giao cho người khác. Hoặc ở nhà ngồi chơi xơi nước hoặc đổi lên các tỉnh miền ngược .

Còn ngày nay, vừa thấy tin nơi này vỡ đê nơi kia hỏa hoạn, là thấy ngay hình ảnh mấy ông quan đầu tỉnh đầu huyện (nhiều khi chỉ là cấp dưới của họ nữa) đến vi hành. Rồi là chuyện cấp phát cho người ta vài đồng bèo bọt. Rồi là cuối năm báo cáo lên trên coi như thành tích kịp thời thế nọ, ngay lập tức thế kia.

Dân gian xưa đã biết tới cái cách thức thâm độc, khi có những kẻ vừa hành hạ dân xong lại quay ra ban ơn xoa dịu. Cái động tác liên hoàn Bẻ què cho thuốc dẫn người ta vào tình thế bị ràng buộc lâu dài và không bao giờ đủ sức lực để vượt thóat.





NẠN CƯỚP TRONG LỊCH SỬ

Ám ảnh về cướp bóc bao trùm suốt thời phong kiến, đến mức nó được xem như một chỉ số đánh giá một thời. Thời này thịnh trị người dân sống an lành. Thời kia cướp bốc nổi lên như ong.

Nhiều hương ước được sử dụng ở các làng Bắc bộ có riêng phần về trách nhiệm quan viên trong làng cũng như dân thường mỗi khi làng bị cướp đột nhập.

Một bài trên mạng Nguyễn Xuân Diện viết về làng cổ cho biết “dân làng Mông Phụ (Đường Lâm) khi ở làng cũng như ở nơi thiên hạ rất đoàn kết với nhau. Vào khoảng đời Thành Thái (1889-1907) có bọn giặc cướp quấy phá, dân làng đã hạ thủ được tướng cướp, triệt nọc được một băng cướp khét tiếng tỉnh Đoài. Vì thành tích ấy, làng được Công sứ đại thần, Tuần phủ Sơn Tây vâng mệnh vua ban tặng cho dân làng bức hoành phi “Dũng cảm khả tưởng” (Dũng cảm đáng khen) để biểu dương. Bức hoành phi này nay vẫn còn treo ở đình làng.”



3-9

DẠO QUA CÁC CỬA HÀNG SÁCH

Có những buổi tối, tôi không biết làm gì, mò ra phố sách giá rẻ Nguyễn Xí. Nhận ra nhiều sự lạ, ví dụ nay là thời mà các loại sách kinh tế chính trị sách dạy làm người, cả sách phong thủy bói tóan… chiếm vị trí chủ đạo. Còn sách văn chương chủ yếu là sách dịch của phương Tây. Văn xuôi đương đại của ta lép vế hòan toàn.



Không khỏi cảm thấy chạnh lòng khi những cuốn sách mà thời nhỏ mình phải học, những tác giả đồng nghiệp của mình từng được tung hô như thần như thánh, nay chỉ khép nép trong góc nào đó. Người mua nếu có chỉ là một số học sinh sinh viên buộc phải mua vì ở trường họ phải học.



Đang thấy phổ biến nhiều lời kêu ca đại loại “văn chương Việt không có gì để đọc”. (Xem bài Trần Nhã Thụy trên báo Tuổi trẻ)

Tôi chỉ đồng ý một nửa.

Tôi cũng từng trải qua những thất vọng tương tự. Trong chỗ riêng tư, với những người tin tôi (và tôi cũng tin họ), tôi còn mạnh dạn đưa ra một lời khuyên rằng không nên cho con em đọc văn chương mới in nóng sốt, vì phần lớn đọc vào chỉ tổ hỏng người và hỏng tiếng Việt.

Nhưng đừng dùng khái niệm văn chương Việt một cách hàm hồ. Không kể văn học trung đại -- chỉ tính riêng văn học hiện đại, còn văn chương tiền chiến và văn học Sài Gòn trước 1975. Ở đó ngoài phần rác bỏ đi không kể, thì phần cho người ta đọc lại vẫn còn kha khá. Riêng tôi thỉnh thoảng vẫn có niềm vui là giở lại những trang sách cũ ấy, khi cần nghiền ngẫm thêm về các vấn đề xã hội.

Vài đoạn trích dẫn



--Sự hài hòa trong thành phố không phải tự nhiên mà có được, không phải cứ hàng ngày gặp gỡ nhau thì sự cô đơn lẫn sự thiếu hiểu biết tự chúng sẽ tan biến đi.



Quá khứ chỉ lưu lại trong đô thị di sản của sự biết toan tính lo liệu trước.



Ta hãy tôn tạo nó, vì tương lai không thể tự đến mà ta phải chuẩn bị cho nó.



Không một kiến trúc nào chỉ giới hạn trong việc phản ánh một cách thụ động cái xã hội sản sinh ra nó, không có một công trình đền đài nào lại chỉ có mục đích sử dụng đơn thuần.



Tất cả các công trình đó đã ghi dấu ấn vào không gian và thời gian một ý tưởng nào đó về sự hữu ích, về cái đẹp, về cuộc sống ở đô thị và cả về mối quan hệ giữa người với người. (Tổng thống Pháp Frangois Mitterand phát biểu trong chiến dịch quy hoạch lại thủ đô Paris vào những thập niên cuối thế kỷ trước)



-- Ngẫm về lịch sử lâu dài và đen tối của loài người, ta thấy số tội ác kinh khủng được tiến hành nhân danh sự thần phục nhiều hơn số tội ác nhân danh sự nổi loạn. (C.P. Snow)

-- Sự chín tới của vẻ đẹp đánh thức nỗi nhớ nhức nhối về sự đau khổ và tình yêu với con người (Kawabata )



5-9

THI CỬTHỜI LOẠN

Nhạc sĩ Phạm Tuyên kể rằng khi nổ ra Cách mạng 8-45, ông chưa đỗ tú tài. Khoảng 1947-48 những người như ông có một dịp may. Một cuộc thi được tổ chức, vài trăm người thi. Chỉ có ba bốn người đỗ, trong đó có ông. Thi xong ông định đi học cả luật nữa, sau mới chuyển sang ngành nhạc.

Có nghĩa chính những năm đầu chiến tranh ấy vẫn đang là thời thịnh trị. Người ta còn tôn trọng chuẩn mực, còn đi tìm cái tinh hoa, cái giá trị.

Còn nay, gần bốn chục năm sau chiến tranh vẫn là thời loạn, các cuộc thi cử diễn ra trong dối trá lừa lọc và học thế nào rồi cũng đỗ hết.

Gs Nguyễn Văn Hiệu bảo khoa học Việt Nam đang đứng trước nguy cơ “tuyệt tự”.

Một bài viết về đào tạo tài năng trên Đại Đoàn kết số 29-8 dẫn lại lời của Gs Nguyễn Cảnh Toàn “người có tài thì không được dùng, người được dùng thì không có tài.”

Gs Phạm Song thì bảo “ Muốn thực hiện ý tưởng khoa học mà không có chức quyền thì không làm được gì”.



6-9

CÔN ĐỒ CŨNG ĐỔ ĐỐN

1/ Lưu manh côn đồ phát triển đã không còn lẻ tẻ và ở dạng tự phát mà tập hợp lại thành hẳn một thế lực xã hội một bộ phận của đời sống. Thế lực này có mặt ở khắp nơi, họ như thứ xe càn xe ủi tham gia giải quyết mọi việc.



Nghĩ vậy vì mấy hôm trước, VNExpress đưa tin sáng 30/8, khoảng 500 người kéo tới Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam (quận Liên Chiểu, Đà Nẵng) để phản đối việc gây ô nhiễm môi trường và cho rằng công ty có liên quan việc thuê côn đồ đánh dân.



2/ Anh A. có căn nhà phần ngoài hàng rào bị lấn chiếm. Tính đi trình chính quyền địa phương.



Anh B. can, làm thế vô ích, các ông ấy lại vòi tiền cũng quá chết, mà không chừng chính các ông ấy bảo kê cho việc họ làm. Nhờ làm sao được, B bảo.



A đáp thế thì mình đi thuê luôn đám dân anh chị ấy vậy.



B mới giảng cho biết là thuê được bọn họ cho êm thấm cũng không phải dễ. Bọn họ cũng hay bắt nạt mình lắm, quát giá đã cao, mà nhiều khi còn ăn vạ. Chẳng hạn, thanh tóan xong họ còn kêu rêu nào là nguy hiểm quá, nào bị thương khi hành nghề, xin các anh cho thêm, không cho không được.



Sau B phải giúp A mãi mới tìm được một đầu mối ra giá sòng phẳng mà lại gọn việc.



Có thêm kết luận, thời buổi này không chỉ người bình thường và quan trên đổ đốn. Mà chính cái đám “dưới đáy” ấy cũng đổ đốn so với chính họ hồi xã hội mới chớm hỏng.



8-9

NGUỒN BỔ SUNG VÔ TẬN

Đã quá đủ những lời chê trách bộ máy quan liêu hiện thời. Chỉ có điều, nếu đến lượt những người vẫn đứng ra chê trách đó – họ thường nhân danh nhân dân để phát biểu – ra làm quan, thì người ta sẽ thấy họ lại y như lớp quan liêu hôm nay. Chúng ta luôn luôn có được một bộ máy quản lý xứng đáng với chính chúng ta. Xã hội nào nào quan chức vậy.



10-9

GHI VẶT

Nói không với rượu bia khi tham gia giao thông.

Tôi tưởng phải nói không với rượu bia trong rất nhiều trường hợp bình thường của đời sống.

Anh Đoàn Công Tính bạn tôi kể là bên Mỹ, những gia đình Việt kiều làm ăn đứng đắn chỉ vào ít ngày thật vui mới cho phép nhau làm ít chén nhỏ.

Chúng ta trong nước thì lâu nay lấy bù khú làm lẽ sống, xã hội lại còn khuyến khích người ta say sưa hết cỡ. Bản năng được thả lỏng từ lâu nay không gì kìm hãm lại được nữa.

Ngoài ốc bươu vàng còn có mấy giống gây hại là hầu Thái Bình Dương và tôm thẻ trắng là hai giống ngoại lai có hại vì nguy hiểm và gây bệnh.

TQ hai phút một người tự tử .

Mấy hôm trước đọc thấy nói nhiều thanh niên rất ngại trong những ngày nghỉ cuối tuần.

Mạng Dân trí 4-9-11 – Sinh viên “đốt” ngày lễ với những trò vô bổ, hại thân. Những trò này là cờ bạc rượu chè. Chơi ăn thật, chơi đậm hơn những ngày khác.



Còn Tuổi trẻ có bài Tội phạm đang trẻ hóa – Ghét là ra tay, bất chấp hậu quả.



Lại nhớ một câu đọc được trong Đặng Thai Mai và văn học : Hoàn toàn ỷ thị vào trực cảm vào bản năng là một thái độ sống kiêu căng điên rồ và nguy hiểm.



13-9

CÒN ĐÂU ĐẤT HỌC NGÀY XƯA

“ Nghi trộm chó, một thầy giáo bị đánh dã man”. Chuyện này xẩy ra ở Yên Thành Nghệ An. Đọc tin, tôi lập tức nhớ truyện cười dân gian Thầy đồ ăn vụng mật. Rồi tôi lại nhớ tới mấy câu thơ của Xuân Diệu kể về gia đình mình :

Cha Đàng ngoài mẹ ở Đàng Trong

Ông đồ Nghệ lấy cô làm nước mắm

Làng xóm cười giọng ông đồ trọ trẹ

Nhưng quý ông đồ văn vẻ giỏi giang

Bà ngoại nói Tôi trọng người chữ nghĩa

Dám gả con cho cách tỉnh xa đàng



Từ lâu , trong lúc chuyện trò với bạn bè và đồng nghiệp quê Nghệ Tĩnh, mấy anh em dân Bắc tôi thường bảo ngày xưa Nghệ Tĩnh nổi tiếng thật thà chăm chỉ mà Hà thành kỹ tính hơn người; ngày nay dân Bắc thì làm ăn dối dá mà dân trong ấy cũng buôn lậu thành thần. Trong cái thuở trời đất nổi cơn gió bụi này, cả hai đều đánh mất mình.



14-9

CHUYỆN NHỮNG NGƯỜI GIÀ

Bà chị tôi 75 tuổi kể rằng dạo này yếu lắm, cứ ngồi xem ti vi thì ngủ gật mà nằm xuống thì lại không ngủ được.



Chị M. kể về một cậu em. Lúc trẻ sống độc thân tự tin lắm, bảo rằng khi về già đau ốm sẽ tự lo liệu, nếu không được thì sẽ tự xử, chứ không làm phiền đến ai. Ngoài sáu mươi bị tai biến mạch máu, nay vào nhà dưỡng lão lại rất yêu đời, ham sống. Đã có một căn nhà cho thuê đủ chi tiêu, nhưng ai tới thăm cũng ngửa tay xin người ta tiền.



Ở tuổi 55, bậc sư phụ trong nghề của tôi là Nhị Ca bị ốm. Vợ con hầu hạ ông được bốn năm, tới năm thứ năm ông bảo thế là đủ rồi, đi viện ông không cho truyền dịch, lặng lẽ tiếp nhận cái chết.



Nhà báo Thái Duy năm nay tuổi đã 85. Ông kể rằng có nhiều người già như ông hồi trước cũng quyết tâm lắm, quyết tâm nếu bị tai biến mạch máu não là làm luôn mấy viên thuốc ngủ liều cao cho đi luôn, chứ sống đâu có chữa được nằm mãi khổ lắm.



Nhưng đến khi tai biến xảy tới thì chưa kịp lấy thuốc, người nhà đã khiêng đi viện, rôi quay về, kéo dài bệnh tật ở giường nhà. Một số ngồi trên xe bảo con cái khiêng ra đường ngắm người chung quanh, lòng ngao ngán với ý nghĩ đâu có muốn chết là được, chết theo ý mình càng khó.



Simone de Beauvoir, nhà văn Pháp, có một tác phẩm mang tên Tuổi già. Ở ta, Nxb Phụ nữ đã cho in cuốn sách này, bản dịch của Nguyễn Trọng Định. Trong sách có điểm qua quan niệm và thực trạng về người già ở hàng loạt dân tộc trên thế giới.



Ví dụ, trong chương Tuổi già trong các xã hội ngày xưa, những người quen khoe về sự “trẻ mãi không già” của mình hẳn bị dội một gáo nước lạnh khi tìm thấy một câu được viết từ thế kỷ XV ở Pháp “ người già nhầy nhụa những đờm, dãi và cứt đái , cho tới khi trở thành tro bụi”.



Tạp chí Thơ số ra 6-2011 có in lại bài viết của Xuân Diệu về thơ Tagor trong đó dẫn ra hai câu tuyệt vời của thi hào Ấn Độ:

Tôi có ngại gì tóc tôi điểm bạc

Bao giờ tôi cũng trẻ và cũng già như người trẻ nhất và người già nhất trong làng



16-9

GIÀ LÀ CHẤP NHẬN TẤT CẢ

Sách Luận ngữ ở thiên Vi chính có đoạn 4 như sau:

Tử viết: “ Ngô thập hữu ngũ nhi chí ư học; tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh “

Nhiều sách dịch là : Khổng tử nói ta mười lăm tuổi để chí vào việc học đạo; ba mươi tuổi biết tự lập; bốn mươi tuổi không nghi hoặc nữa; năm mươi tuổi biết mệnh trời .

Tôi cũng như một số đồng nghiệp thường dừng lại ở đó.

Nhưng có lúc mò mẫm, mới biết trong nguyên bản câu này còn thêm đoạn sau : Lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục bất dụ củ…

Tạm để vế thất thập lại hãy xét vế lục thập nhi nhĩ thuận.

Đoàn Trung Còn giảng: đến sáu mươi tuổi, lời chi tiếng chi lọt vào tai ta thì ta hiểu ngay, chẳng cần suy nghĩ lâu dài.

Sách Tứ thư toàn tập của Dương Hồng—Vương Thành Trung… do Trần Trọng Sâm dịch ra tiếng Việt ( nxb Hội nhà văn 2006) thì hiểu là sáu mươi tuổi nghe người khác nói đều thuận tai.

Sách Văn hóa Trung Hoa của Đại học Phúc Đán 2006 thì cho rằng đó là nghe được những ý nghĩa tinh tế nhất trong lời người khác.

Đi xa hơn cả, bản của Trung Hoa thư cục Bắc kinh 2008 (đã in tới lúc đó 50.000 bản) đưa ra một cách hiểu khá thanh thoát: sáu mươi tuổi có thể nghe được các ý kiến khác nhau (Lục thập tuế năng thính đắc tiến các chủng bất đồng đích ý kiến ).

Tôi không hiểu chữ Hán lắm nhưng thấy thú vị với bản dịch này của Trung Hoa thư cục và tin là họ hiểu đúng cụ Khổng. Lý do là vì đọc thì thấy trong khi trò chuyện với học trò, Khổng tử thường có lối nói dè chừng có thể thế này có thể thế khác, ông không bao giờ độc đoán và cho mình quyền nói tiếng nói cuối cùng.



Nhân đây xin ghi nhận rằng nếu từ 1949 đến 1976, Trung quốc có rất nhiều sai lạc trong việc áp đặt Mác Lê để giải thích triết học Trung quốc cổ đại thì gần đây họ có nhiều thay đổi trong việc thẩm định các giá trị quá khứ. Nay họ thường đứng trên quan điểm nhân văn để suy nghĩ chứ không sống sượng quy chụp theo lý luận về đấu tranh giai cấp



TIẾP TỤC CÂU CHUYỆN VỀ TÍNH NGHIỆP DƯ

Một tờ báo hỏi một nhà thơ trẻ xem anh lấy đâu ra động lực để sáng tác.

- Nhưng anh nghĩ thế nào, nếu báo chí chỉ toàn những trang PR sách, còn chúng ta, những người viết thì lại quá mệt để… "chống lại mafia"?

Nhà thơ trả lời:

- Điều đó bình thường thôi. Cuộc sống cũng như sân khấu, lúc nào cũng phải có người nhảy lên đó làm diễn viên, nếu không sẽ thấy trống trải. Còn màn diễn có đọng lại không thì lại là chuyện khác. Cứ diễn đi, nó chỉ có lợi thôi, còn hơn là để sân khấu "chết"…

Ồ, lại cái lý luận về méo mó có hơn không của dân mình rồi. Nó làm cho mọi hoạt động của dân mình mãi mãi phi chuẩn, mãi mãi nghiệp dư chắp vá tạm bợ và không bao giờ theo kịp thế giới hiện đại.



17-9

NHÌN VÀO TẤM GƯƠNG TRUNG QUỐC

Bản tin tham khảo 5/10/05 dẫn một bài trên Tuần Châu Á cho biết xã hội Trung quốc vẫn là tiền hiện đại. Đặc trưng của mọi xã hội tiền hiện đại là:

- Bạo lực, man rợ, vô trật tự.

- Xa xỉ

- Tham nhũng

Dân chủ hoá một quốc gia là điều kiện thiết yếu tạo ra một chính quyền mới, xã hội mới. Trung quốc hiện nay chỉ là thể chế quân nhân cũ khoác áo hiện đại. Xã hội không tôn trọng con người, coi trọng tính mệnh.

Tư bản hoá trong điều kiện nhân văn xã hội và tố chất con người thấp.

Khắp nơi lộn xộn. Chính phủ không bảo vệ quyền lợi người dân.

Thực chất: chủ nghĩa quyền lực, chủ nghĩa sùng bái đồng tiền.



Tài liệu tham khảo đặc biệt 12-3 2011 thì in bài của tác giả Tôn Lập Bình—giáo sư Đại học Thanh Hoa.

1.Xã hội Trung quốc hiện nay không phải bất ổn mà là băng hoại.

Thế nào là bất ổn ? Là ở đó có những xung đột xã hội nghiêm trọng, vượt quá khuôn khổ.

Còn băng hoại là xã hội mà ở đó các tế bào trong tình trạng hoại tử, các chức năng thần kinh chức năng vận động bị tê liệt.

Xung đột giống như bị thương có ai đánh vào, trong khi băng hoại là căn bệnh nặng của tổ chức mô, tổ chức cơ thể.

2. Dấu hiệu của băng hoại là ở đó quyền lực dù phình to ra vẫn không còn kiểm soát được xã hội. Trong bản thân nó, quyền lực cũng không tự kiểm soát nổi mình, địa phương chống lại TW, bộ phận chống lại toàn thể, những nhóm lợi ích chi phối làm biến dạng hẳn bộ máy quyền lực nói chung.

Mặt khác hệ thống thông tin của xã hội cũng tha hóa, thông tin thường xuyên bị làm giả” thôn lừa xã, xã lừa huyện—thị trấn, các tỉnh lừa thẳng lên Quốc vụ viện”

3.Trong một xã hội băng hoại, con người trở nên vô cảm thờ ơ băng giá, nghi ngờ mọi chuẩn mực, chạy theo mọi sự hưởng thụ và thả lỏng mình, sẵn sàng đối xử với nhau bằng bạo lực.

Để đối phó lại, chính quyền phải vận dụng tới mọi biện pháp đàn áp, vượt qua mọi quy chế dân chủ và nhân văn tối thiểu.

Tình trạng rối loạn ngày mỗi bộc lộ thiên hình vạn trạng.

Tầm nhìn của cả xã hội bị thu hẹp lại. Khi các vấn đề ngắn hạn bị thổi phồng, người ta không còn sức đâu quan tâm tới các vấn đề lâu dài. Quyền lợi trước mắt và phân chia lợi ích đã chiếm hết tâm trí. Thời gian dành cho cuộc sống bình thường và cho công việc chẳng còn là bao.



18-9

MỌC ĐẦY GAI CỎ

Hồi trước 1975, ở Hà Nội thơ văn in ra không có quyền được nói chuyện buồn; nói chung không khuyến khích các nhà thơ chiến sĩ viết về những tình cảm nhân văn thông thường.

Một trong những cách đối phó của các nhà thơ chỉ còn là gửi lòng mình qua những bản dịch.

Tế Hanh đã làm như thế.

Bài thơ sau đây của Taras Shevtsenco (1814—1861) có một chút gì đó rất Tế Hanh trong xúc cảm cũng như trong giọng điệu. Tôi thường thỉnh thoảng đọc lại bởi nó gợi ra những liên tưởng về một cuộc đời buồn buồn tui tủi nó là số phận chung của bao người bình thường chúng ta.



Ba anh em

Ba con đường lớn

Gặp nhau ngã ba đường

Ba anh em nhà nọ

Bỏ nhà đi tha phương





Họ từ giã mẹ già

Người anh cả xa vợ

Người thứ hai xa em

Người thứ ba xa một cô thiếu nữ





Bà mẹ già đã trồng

Ba cây bàng ngoài ruộng

Người vợ đã trồng

Một cây dương cao lớn





Người em gái

Trồng ba cây phong

Và cô thiếu nữ

Trồng cây hoa hồng





Ba cây bàng không sống

Cây dương đã héo khô

Ba cây phong cũng chết

Cây hồng đã phai màu





Ba anh em không về

Bà mẹ già mắt lệ

Các người con khóc theo

Trong căn nhà lạnh lẽo





Người con gái đi tìm

Các anh nơi xa lạ

Cô thiếu nữ từ giã cuộc đời

Trong chiếc quan tài lạnh giá





Ba anh em không về

Đi lang thang đây đó

Và ba con đường

Mọc đầy gai cỏ



Sunday, September 18, 2011

Ta & người

Người Việt và việc tiếp nhận văn  hóa nước ngoài
 trong con mắt của một số trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX




        Đằng sau câu chuyện về tính ưa dùng hàng ngoại, thật ra có ẩn dấu những vấn đề lớn lao của mối quan hệ giữa cộng đồng người Việt mình với các cộng đồng mà chúng ta có tiếp xúc trong suốt trường kỳ lịch sử.
          Trong các công trình nghiên cứu văn hóa của một quốc gia,  thường người ta không quên để riêng một phần nói về lịch sử giao lưu văn hóa của nước chủ nhà với các nước khác, các nền văn hóa khác.

          Nhu cầu tự nhận thức buộc người ta phải làm vậy.
          Không một dân tộc nào chỉ sống khép kín mà không quan hệ với các cộng đồng khác.
          Tối thiểu thì trong mối quan hệ này, các dân tộc sẽ học hỏi để ngày mỗi trở nên mạnh mẽ hơn giàu có hơn.       
         Còn nói cho to tát ra thì đây chính  là chỉ số đánh dấu trình độ  trưởng thành của mỗi dân tộc  với tư cách một bộ phận của nhân loại.
         Trong quá trình này, ý thức về ta và người nẩy sinh, nó cũng là một khía cạnh làm nên  tâm thế làm người, một hằng số lặp đi lặp lại ở nhiều thế hệ.
         Hiện trong các công trình nghiên cứu về văn hóa VN,  vấn đề này gần như chưa được đặt ra.
         Song ở dạng những nhận xét tạt ngang, nó đã được các nhà trí thức các nhà hoạt động văn hóa trong quá khứ quan tâm và phát biểu đây đó.
       Mấy năm trước chúng tôi đã trích lục một số ý kiến này để đưa vào mục Người xưa cảnh tỉnh, in rải rác trên mặt báo.
       Nay xin hệ thống hóa lại và giới thiệu chúng theo trình tự thời gian mà các tác giả đã phát biểu. Các đầu đề nhỏ là do người biên soạn đặt.












Sống như mơ ngủ
      Nước ta từ ngày Pháp sang bảo hộ trên mấy mươi năm, người mình học Tây học chỉ làm được việc phiên dịch nói phô mà thôi, không có ai hấp thu được chỗ tinh tuý, phăn (phanh) tìm đến nơi màu nhiệm về mà đào tạo ra học trò để làm việc vẻ vang cho nòi giống. Trái lại, bụng không một hạt gạo mà nói chuyện thi thư (1), tay không nửa đồng mà tự xưng Khổng Mạnh. Có lẽ da thịt huyết tuỷ của người nước mình mấy ngàn năm nay đã bị cái hấp lực của huyết dẫn người Tàu chi phối hết cả, nên ngày nay đành làm nộm rối cho người Tàu mà không tự biết chăng? Không thế thì sao lửa đốt bên da mà không biết nóng, sét đánh ngang trán mà không biết sợ, thày hay bạn giỏi ở một bên mà không biết gắng sức bắt chước bước theo. Thậm nữa trằn trọc tráo trở, một hai toan tìm một nước thứ ba nào yêu thương mình mà vui lòng làm tôi làm tớ.
    Hiện trong lúc ngủ say mới tỉnh, xu hướng chưa định, học mới học cũ ngả đường phân chia công hội thương hội chương trình chưa nên, thành hiện ra một cái quái tượng, đầy nhà rối rít ồn ào, chưa giải quyết vội được.


(1)   Nghĩa gốc: Kinh Thi và Kinh Thư. Ở đây chỉ việc học hành ở trình độ cao 


 Phan Châu Trinh
 Hiện trạng vấn đề, 1907


Tuỳ tiện cẩu thả trong giao lưu tiếp xúc
   Xét nước ta các đời thụ phong Trung quốc chỉ là chính sách ngoại giao cho nên coi là trò chơi, không coi là vẻ vang.
       Kẻ lấy Trung quốc làm ỷ lại, ắt là vào thời cuối (1): vua nhác, tôi nịnh, binh bị không sửa sang, coi họ như cha mà quên điều nanh ác. Thời cuối các đời Trần, Lê đều có, mà triều ta (2) lại càng nhiều.
      Sứ thần ngày xưa làm nhục được người Trung quốc coi như vinh dự. Những kẻ đi việc sứ đời sau lấy việc được một bài thơ, bài văn, một lời than tiếng cười của sĩ phu Trung quốc trở về để khoe khoang với bạn bè làm vẻ vang.
      Mặt này lại là một điều suy sút của sĩ phu nước ta.


(1) tức giai đoạn suy tàn của một triều đại
(2) triều ta đây tức là nhà Nguyễn
 Phan Châu Trinh
 Nước Việt Nam mới sau khi Pháp Việt liên hiệp,1912


Sang đến xứ người
cũng không biết đường học hỏi 
    
     Người nước ta thường tự xưng là đồng loại, đồng đạo, đồng văn (1) với Nhật Bản, thấy họ tiến  thì nức nở khen, chứ không khi nào chịu xét vì sao họ được tiến tới như thế ? Họ chỉ đóng tàu đúc súng mà được giàu mạnh  hay họ còn trau dồi đạo đức sửa đổi  luân lý mới được như ngày nay ?
      Tôi rất lấy làm lạ cho những người đã qua Nhật về, không đem cái hay cái tốt về cho dân nhờ  mà chỉ làm giàu thêm tính nô lệ !
       Hay là người  mình như kẻ đã hư phổi rồi cho nên một nơi có thanh khí như nước Nhật mà cũng không thở nổi chăng ?!
       Lấy lịch sử mà  nói thì dân tộc Việt Nam  không phải là không thông minh, thế thì vì lẽ nào ở dưới quyền bảo hộ hơn 60 năm nay (2) mà vẫn còn mê mê muội muội  bịt mắt vít tai  không  chịu xem xét không chịu học hỏi lấy  cái hay cái khéo của người. 


(1) cùng theo đạo Khổng cùng sử dụng chữ Hán
(2)  tính tới thời điểm  tác giả nói trong bài này, nước Pháp mới đô hộ nước ta 60 năm 
                                                                           
                                                                                                      
                                                                            Phan Châu Trinh
 Đạo đức và luân lý Đông Tây, 1925      


Dễ ỷ lại
   Tục ngữ có câu rằng Tháp đổ đã có Ngô xây Việc gì vợ goá lo ngày lo đêm. Tháp đó là tháp của ta, ta không xây được hay sao? Nghểnh đầu nghểnh cổ trông ngóng, nếu Ngô không sang thì vạn tuế thiên thu chắc không bao giờ có tháp. Tháp đổ mặc tháp, khoanh tay đứng dòm, nghiễm nhiên một đống bồ nhìn rồi hẳn. Hỏi vì cơn cớ làm sao? Thì chỉ vì ỷ lại.
   
Phan Bội Châu
 Cao đẳng quốc dân,1928


Thạo sử người hơn sử mình
      Sĩ tử khắp nước ta làu thông kinh sách mà không biết đất đai của nước ta và nòi giống dân ta như thế nào.
       Họ chỉ biết Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông mà không biết Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ ra làm sao.
        Họ chỉ biết Khổng Minh, Địch Nhân Kiệt, mà không biết các bề tôi Tô Hiến Thành, Trần Quốc Tuấn thờ vua giúp nước như thế nào.
       Họ chỉ biết núi Thái Sơn cao chót vót, sông Hoàng Hà cao thăm thẳm, nhưng không hề hay biết núi Tản Viên từ đâu tới, sông Cửu Long ở Nam Kỳ phát nguyên từ nơi nào.
      Ưa chuộng phong tục nước ngoài cho nên bao nhiêu nghi lễ về quan hôn tang tế (1), chúng ta đều bắt chước người Trung Hoa cả.
        Người nước ta lại còn lấy kỹ nghệ nước ngoài làm ưa thích. Đã không chịu học hỏi cách biến chế, óc sáng kiến của họ, mà lại đi tiêu thụ hàng hoá giúp cho họ. Đa số những vật liệu như đồ sứ hàng tơ lụa, hàng thêu, hàng đoạn (2) , chúng ta đều đi mua sắm từ bên Trung quốc về dùng. Rồi dần dà lâu ngày, linh hồn của dân ta tự nhiên bị đổi dời, trí não của dân ta tự nhiên bị bưng bít mà ta không hề biết, chỉ vì cái cớ chúng ta chuyên trọng Bắc sử (3) mà thôi.


(1)   Các việc thuộc về đình đám, ma chay, cưới xin v..v..
(2)   Hàng dệt bằng tơ, mặt bóng mịn
(3)   Tức lịch sử Trung Hoa
 Hoàng Cao Khải
 Việt sử yếu, 1914


Học đòi làm dáng một cách sống sượng
      Cứ chiều đến, độ sáu bảy giờ, đứng ở góc hồ Hoàn Kiếm, trông kẻ đi qua người đi lại, thấy ngứa mắt quá. Nhất là trông mấy ông ăn mặc quần áo Tây. Gớm sao mà khéo bắt chước, giá sử sự học hành, sự buôn bán mà cũng bắt chước được khéo thế thì hay quá! Ông cổ cồn trắng, cổ nút xanh, nút đỏ, đầu thì mũ cỏ, tay thì ba toong, giày thì bóng nhoáng, hai ngón tay thì khéo gẩy gẩy cái nách áo gi-lê. Ông ngồi xe thực khéo lấy dáng. Ngày xưa cái ô lục soạn, cái điếu thuốc lá bọt. Nay những cái ấy đã cho là đồ cũ rồi. Cái xe Nhật Bản bây giờ cũng bỏ. Bây giờ có xe cao su, êm hơn mà ngồi ưỡn ra bệ vệ hơn nhiều. Tay cầm quyển sách hay là cái nhật trình (1), mắt giả lờ trông thì lại ra tuồng (2) nữa.
     Em (3) thực là người hiếu (4) sự duy tân. Cách ăn mặc An Nam đội cái khăn bằng cái rế, búi tóc như quả bưởi, áo lướt tha lướt thướt, giày lẹp cà lẹp kẹp, móng tay gãi đầu như người rũ chiếu, thì cũng bẩn lắm thực. Em cũng muốn rằng người An Nam ăn mặc cho gọn gàng sạch sẽ diện mạo tinh nhanh, nhưng mà thấy những trò sài sơn (5) của các ông cũng ngứa mắt lắm.


(1)               báo ra hàng ngày
(2)    trông có vẻ phường tuồng
(3)   bài này in trong mục Nhời đàn bà của Đăng cổ tùng báo, ký Đào Thị Loan nên tác
giả xưng em
(4)    ưa thích
 (5) chúng tôi chưa tra cứu được chỉ đóan là  làm dáng ăn diện
 Nguyễn Văn Vĩnh
 Đăng cổ tùng báo, 1907


Thị hiếu tầm thường
       Cái lý thú của nước Nam ta nhỏ mọn lắm.
       Kìa cái đồng hồ từ tám mươi đời thì quấn vải tây điều, kết quả găng. Nọ núi non bộ khéo chắp tỉ mỉ trong trồng cây uốn con phượng. Cầu quán con con, thuyền bé lí tí. Câu đối với tranh thì hết tứ thời phong cảnh lại đến thiên lý giang sơn.
       Thi hoạ nhỏ nhen, thi chẳng ra thi hoạ chẳng ra hoạ.
        Giang sơn treo cửa sổ, sơn thuỷ để đầu giường. Hoành phi câu đối thì chữ nghĩa đẹp phẩy mác hơn đẹp ý tình (1). Đồ chạm đồ cẩn thì tỉ mỉ con dơi già quả mướp non, người ngoại quốc mua cho cũng là thương công hơn trọng khéo. Ghế giường bàn tủ dáng dấp nặng nề.
       Nói tóm lại thì người Nam mình chưa cái gì là cái khéo. Mà càng bắt chước Tây bắt chước Tàu bao nhiêu, càng xấu bấy nhiêu.
        Người mỗi ngày một hay, vi xảo là thông ngôn ông Tạo hoá (2). Ta mỗi ngày một đổ (3), vi xảo là cơn hứng chí điên cuồng. Học chẳng phải mà bắt chước chẳng phải.
        Xảo nghệ muốn noi theo ngoại quốc, là phải noi lý tưởng chớ không nên bắt chước phù hoa. Kẻo mà khéo thêm ra chẳng thấy đâu, lại đang nghề nguyên lành hoá nghề lang lố (4).


(1)   phẩy mác là tên gọi các nét trong chữ Hán.
(2)   vi xảo: sự kỹ lưỡng khéo léo; cả câu ý nói sự hoàn chỉnh của sản vật đạt đến mức như là tự nhiên sinh ra đã vậy.
(3)    kém đi, hỏng đi
(4)   Nghĩa như nhố nhăng
 Nguyễn Văn Vĩnh
 Đăng cổ tùng báo, 1907


Vay mượn tuỳ tiện
thêm thắt lung tung  
      Ngày nay có cải lương (1) gì, thì chỉ sợ rằng trái đạo lý cũ của mình.
         Đạo lý cũ của mình là thế nào có ai biết đâu? Con khóc cha mà cúng phải tìm trong Thọ mai gia lễ hay là Văn công gia lễ, xem ngày xưa ở bên Tàu các ông ấy khóc cha ra làm sao, thì cứ thế mà khóc.
         Gián hoặc (2) trong hai cách có điều gì khác nhau thì cũng biết vậy, lúc túng việc thì vớ được quyển nào theo quyển ấy. Gọi là cho nó theo một lệ nào đó, thì là nhà văn phép.
         Trong cả các trò chơi, như hát tuồng, hát chèo cũng hay bắt chước những cách vô lý.
        Tấn tuồng thì lấy trong các sự tích của Tàu, mà lúc ra hát thì quên cả đến thời đến xứ (3). Cứ nhân chỗ nào hát được mấy câu nam thì nam (4) cho mấy câu. Chỗ nào có dịp khôi hài thì khôi hài. Thấy người xem có mấy người dễ cười, thì làm mãi.


(1)               cũng tức là cải cách
(2)                thỉnh thoảng, giá như
(3)               thời ở đây tức niên đại thời gian, xứ tức hoàn cảnh không gian
(4)               nam: vốn được hiểu là những gì mang tính cách thuần Việt. Đọc chệch thành nôm. Chữ nam thứ hai thì dùng như một động từ


 Nguyễn Văn Vĩnh
 Tật huyền hồ sáo hủ, Đông dương tạp chí,1913


Học không biết cách
      Về đạo cương thường cứ nói rằng ta thâm nhiễm (1) của Tàu nhiều lắm rồi, nhưng tôi xét ra chưa có điều gì gọi là thâm nhiễm cả.
        Trong hết cả số người theo Nho học thì hoạ là có mấy ông vào bực giỏi, hiểu biết được đạo Khổng Mạnh. Còn những bực nhoàng nhoàng thì thường cứ thấy người ta học cũng học, học cho thuộc cách mà thôi, chứ không có định trong bụng rằng theo những điều nào, kháp (2) đạo ấy vào tính tình riêng của người nước mình nó ra sao...
        Vua Gia Long bỏ luật Hồng Đức (3) đi, mà làm ra cả một pho luật mới chép tuốt cả của Tàu, cả từ điều nước mình có, cho đến những điều mình không có, cũng bắt chước. Thành ra luật pháp cũng hồ đồ. Cương thường đạo lý toàn là giả dối hết cả, không có điều gì là có kinh có điển.


(1)                ảnh hưởng sâu sắc
(2)                tức khớp, ghép lại cho khít, cho phù hợp
(3)               bộ luật cổ của nước ta có từ thời Lê, tham khảo nhiều từ bộ luật của đời Đường


 Nguyễn Văn Vĩnh
 Đông dương tạp chí, 1913


Học đòi vặt vãnh
bỏ qua chuyện lớn


      Quái lạ cho người đời, hễ ai bảo cải lương lối nhà cửa ở, hay là cải lương ách ăn mặc bắt chước theo lối Âu Tây, thời đua nhau như vịt; còn nhỡ ai khuyên bảo nên cải lương những thói xấu nết hư -- chốn hương thôn không nên tranh giành kiện tụng nhau, ở với bè bạn thời phải giữ lòng trung tín --   thời dẫu nói rát cổ bỏng họng cũng chỉ lờ đi, chớ không thèm nghe.
                                                                                               Nguyễn Bá Học
                                                                 Di ngôn, do Nguyễn Bá Trác thuật, Nam Phong, 1921


Nặng tính hiếu kỳ
    Cái tính hiếu kỳ  là cái bệnh chung  trong lối học của ta, xưa kia học chữ Tàu, đọc sách Tàu, lâu dần quá mê chuộng  mà khinh rẻ những cái của mình.
       Cái gì của Tàu cũng cho là hơn mà chịu khó nghiên cứu, cái gì của mình  cũng cho là dở là kém không thèm nhìn tới.
        Thành ra núi sông đình miếu  nước Tàu thì biết  mà núi sông đình miếu nước mình thời không hay; danh lam thắng tích bên Tàu thì rõ mà danh lam thắng tích nước mình thì không tường; lịch sử địa dư nước Tàu thì thiệp liệp (1), mà lịch sử địa dư nước mình  thời mịt mù; phong tục nhân vật nước Tàu thời tường tất  mà phong tục nhân vật nước mình thời tối tăm.
         Mà có phải mình thiếu gì cái  đẹp cái hay, cái đáng ngắm


(1) cũng  có hiểu ít nhiều
                                                                                                 Dương Quảng Hàm
                                                          Học sao cho phải đường, Hữu thanh, 1921




Không có can đảm là mình
      Ông Dorgelès trong quyển Con đường cái quan có nói đến thói hay bắt chước của người mình. Đại khái ông nói rằng: “Ngày xưa người Tàu sang cai trị An Nam, người An Nam đều nhất nhất theo Tàu cả. Nay người Pháp sang bảo hộ mới được gần một trăm năm mà nhà cửa đã theo Tây thời rất dễ dàng, mà nói đến tiếng An Nam thời khô khan, hình như phải dịch tiếng mình ra tiếng nước ngoài.
  ... Khoa học có nói rằng giống thằn lằn hễ bám vào cây nào thì lâu dần sẽ giống da cây ấy. Ở bên An Nam này thời không thế, thằn lằn không đổi màu da mà chính cây đổi màu da để lấy màu da thằn lằn.”
    Câu nói đau đớn thay mà xét người ta nói cũng phải.
    Người viết văn phải có can đảm mà dịch những chữ nước ngoài ra. Mới đầu có hơi ngang tai, sau dần rồi cũng nghe được. Cụ Nguyễn Du không can đảm sao dịch nổi chữ tang thương ra chữ bể dâu, chữ thiết diện ra chữ mặt sắt (1)...
      Mà cũng lạ thay cho người mình không suy xét kỹ: Người Tàu nói chữ vân cẩu tang thương có khác gì chữ mây chó chữ bể dâu không. Ấy thế mà giá mình nói “Bức tranh mây chó vẽ người bể dâu” (2) tất phần nhiều người cho là mách qué!
    Người Tàu trước kia làm gì có những tiếng cộng hoà, cách mạng, cá nhân, vật lý học, kỷ hà học (3)... Vì lòng sốt sắng làm cho tiếng nước nhà giàu thêm lên, nên họ không ngại khó, rồi mới đặt ra được cái tiếng ấy.
       Người mình thì không thế. Muốn dịch một chữ Pháp hay chữ Anh ra tiếng nước nhà mà không dịch nổi, thì cứ việc mở ngay tự vị (4) Tàu ra, trong ấy đã sẵn sàng cả rồi. Dù người Tàu có dịch sai chăng nữa cũng mặc cứ cắm đầu cắm cổ mà chép, ai biết đến đó mà lo.


 (1) Hai câu nguyên văn trong Truyện Kiều: Trải qua một cuộc bể dâu Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình
(2) Một câu trong Cung oán ngâm khúc: Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương
(3) Tức hình học
(4) Tức từ điển
 Nguyễn Duy Thanh
                                                Muốn cho tiếng An Nam giàu, Phụ nữ tân văn, 1929


Bắt chước không phải lối
     Tính bắt chước vốn là tính tự nhiên của loài người, dẫu ở nước nào cũng thế cả. Nhưng giá ta có sẵn cái tinh thần tốt rồi chỉ bắt chước lấy những điều có bổ ích thêm cho tinh thần ấy thì thật là hay lắm. Chỉ hiềm vì mình để cái tinh thần của mình hư hỏng đi, mà lại mong bắt chước sự hành động của người ta thì sự bắt chước ấy lại làm cho mình dở hơn nữa.
    Vì đã gọi bắt chước là chỉ bắt chước được cái hình hài bề ngoài mà thôi còn cái tinh thần ở trong, phi(1) lâu ngày nhiễm (2) lấy được mà hoá (3) đi thì khó lòng mà bắt chước được. Thành thử bao nhiêu những sự bắt chước của mình chỉ là làm loạn cả tính tình tư tưởng và phong tục của mình.
     Có lắm người vọng tưởng (4) rằng mình cố bắt chước được người ngoài là mình làm điều có ích cho sự tiến hoá của nòi giống. Không ngờ rằng sự bắt chước vội vàng quá lại thành cái độc gây ra các thứ bệnh cho xã hội. Mà sự lầm lỗi ấy chỉ mỗi ngày một thêm ra chứ không bớt đi được.


 (1) không phải
 (2) thâm nhập
 (3) thay đổi. Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu ghi: phàm vật này mất đi mà vật kia sinh ra gọi là hoá
 (4) nghĩ lầm


 Trần Trọng Kim
 Nho giáo, 1930
Óc sùng ngoại nặng nề
     Anh thợ vẽ cầm lấy cái bút là vẽ ngay phong cảnh Cô tô thành ngoại Hàn Sơn tự; thầy đồ cầm đến cái bút là tả ngay lịch sử Hán Cao Tổ Trương Lương Hàn Tín; anh phường tuồng ra trò là diễn ngay tấn Lưu Bị Quan Vũ Trương Phi.
      Thổ sản thổ hoá (1) mà hễ cái gì tồi thì cho một tiếng “nam “vào để giễu, như cái áo tơi gọi là áo cừu nam sột soạt, anh chàng dở người mà hay bàn thời thế họ gọi là Gia Cát nam. Cái gì tốt thì cho một tiếng “tàu “vào để khen, như măng khô gọi là măng tàu.
       Ấy cũng vì tư tưởng đã thiên di (2)như thế mà những nhà chế tạo nội hoá rất khốn khổ, đồ tốt không bán được phải thất nghiệp, mà những đồ thô bỉ tầm thường thì may còn ngoi ngóp sống để kiếm ăn với những người quê mùa nghèo khó.


(1)   hàng trong nước làm ra
(2)   biến chuyển


 Nguyễn Trọng Thuật
 Điều đình cái án quốc học, Nam Phong, 1931




   Khi  học hỏi người, thường thiếu  tự tin
    Cách học muốn cho bằng người  thì phải biến hoá khác đi. Nay cứ toàn mô phỏng, thấy không thể theo cho bằng được, bèn sinh lòng tự tiện (1), là mình tự khinh cái tài của mình; tự tiện quá rồi tự khí (2) tự bỏ cái tài của mình, cho mình là đồ bỏ.
     Mà đồ bỏ thật, vì học không có cái gì dùng được như mẫu của người.
     Cũng vì thế mà bao nhiêu cái hay không còn gì nữa.
       Trước khi vì học thuật nước nhà mà hy vọng, ta phải hết sức từ bỏ cái căn bệnh cẩu thả, cái tính tự tiện tự khí. Không thì về xã hội  lại cứ lười biếng a dua  không suy xét lựa chọn, không có cái tinh thần tự giác tự tin. Về kẻ học giả lại cứ tham cận lợi (3), nhai văn nuốt chữ, lấy học đường của nước văn minh làm con đường tắt hiển vinh, học đến bao giờ cũng chung vô sở đắc  (4).  
                                                                            
(1)  tự tiện đây là tự coi rẻ mình coi mình là hèn;  khác với  tự tiện có  nghĩa làm theo ý thích hiện nay hay dùng
(2 ) tự làm hỏng mình
(3) lợi ích trước mắt
(4) cuối cùng vẫn không có gì là của riêng mình  
                                                                                   Nguyễn Trọng Thuật
                                                                                       Điều đình cái án quốc học, 1931






Chỉ biết học cái bề ngoài
     Người mình vốn có cái thiên tính dễ đồng hoá, nghĩa là có tư cách(1), dễ am hiểu dễ thu nạp lấy những gì khác lạ với mình, dễ đem những điều hay điều dở của người ngoài mà hoá làm của mình.
       Nhưng cái tài đồng hoá đó thường thường chỉ là cái khoé tinh (2), biết xem xét và bắt chước của người, phảng phất ở bề ngoài, chứ không thấu triệt được đến chỗ căn để (3), chỗ tinh tuý.
     Tỉ như thợ An Nam thì phỏng chép tài lắm; những hình dáng kỳ đến đâu, những kiểu cách lạ đến đâu, họ bắt chước cũng được như hệt cả.
       Cái cách đồng hoá dễ dàng thô thiển đó thiết tưởng không phải là cái tính tốt.
       Như học trò ta học rất mau, nhớ cũng rất mau, nhưng chưa chắc đã hiểu được thấu, đã hoá được hẳn những cái người ta dạy mình, và chưa chắc cái học tiếp thu được dễ dàng như vậy nó đã làm cho óc được khôn ra, người được chín ra chút nào.
       Có những người mặc thì mặc theo đúng mốt tối tân ở Paris, nói năng ba hoa đi đứng đường đột; bề ngoài như vậy mà bề trong nghị luận mơ hồ, tư tưởng lộn xộn, không có thống hệ (4), không biết bắt chước lấy cái lối nói năng gãy gọn, biện lẽ phân minh như người Tây phương.


(1) nghĩa cũ: tài lực trình độ khả năng
(2) mánh khóe ranh ma
(3) gốc rễ
(4) ngày nay hay nói ngược lại: hệ thống
 Phạm Quỳnh
 Giải nghĩa đồng hoá, Nam Phong, 1931




                                                                              


Không có thì giờ lo đến văn hoá,
đành đi vay mượn
    Cả cuộc lịch sử của nước Nam là một cuộc chiến đấu vô hồi vô hạn đối với người Tàu hoặc bằng võ lực, hoặc bằng  ngoại giao, hằng ngày chỉ nơm nớp sợ bị nội thuộc lần nữa. Cái công của các tiên dân ta chống giữ cho non sông đất nước nhà, can đảm vô cùng, kiên nhẫn vô cùng, thật đáng cảm phục.
     Nhưng cả tinh lực trong nước đều chuyên chú về một việc cạnh tranh để sinh tồn đó, cạnh tranh với một kẻ cường lân (1) hằng ngày nó đàn áp, để cố sinh tồn cho ra một nước độc lập, còn có thì giờ đâu, còn có dư sức đâu mà nghĩ đến việc khác nữa.
       Cái quan niệm quốc gia bị nguy hiểm luôn nên thường lo sợ luôn chiếm mất cả tâm tư trí lự, không còn để thừa chỗ cho những quan niệm khác về văn hoá về mỹ thuật.
       Nói riêng về học thuật  thì đã sẵn cái học của Tàu đó, tiêm nhiễm vào sâu từ thuở mới thành dân thành nước, không thể tưởng tượng được rằng ngoài sách vở của thánh hiền  còn có nghĩa lý (2) gì khác.
 (1)kẻ hàng xóm mạnh
 (2)Cái lý thuyết  phải theo


                                                                                                             Phạm Quỳnh
                                                                                                  Bàn về quốc học, 1931


Tâm lý ỷ lại, chịu  làm học trò suốt đời 
    Địa lý lịch sử, chính trị  đều như hiệp sức nhau lại  mà gây cho nước ta  một cái tình thế rất bất lợi cho sự học vấn tư tưởng. Bao nhiêu những người khá trong nước  đều bị cái tình  thế ấy nó áp bách  trong mấy mươi đời  nên dần dần lập  thành một cái tâm lý riêng, là cái tâm lý ỷ lại vào người  chứ không dám tự lập một mình ; trong việc học vấn  thì cái tâm lý ấy là tâm lý làm học trò suốt đời.
      Nước ta  ở ngay cạnh nách nước Tàu, từ hồi ấu trĩ cho đến lúc trưởng thành  đều nấp  bóng nước Tàu  mà sinh trưởng, khác nào như  một cái cây  nhỏ mọc bên một cái cây lớn, bị nó “ cớm “  không thể nào nẩy nở lên được.
Phạm Quỳnh
                                                                                                  Bàn về quốc học,1931


Học người  cũng không xong
       Phàm phóng chép (1) của người chỉ phóng chép được những cái thô thiển trước, còn đến cái tinh tuý thì phải công phu lắm mới nhập diệu (2) được.
       Thử xét trong những kẻ tự xưng là hạng tân tiến (3), mấy người đã học được đến nơi đến chốn? Mấy người có thể đối đáp nghị luận với tây, nói những chuyện văn chương mỹ thuật, chính trị triết học mà người ta phải chịu phải phục? Hay là phần nhiều chỉ mới học mót được mấy câu văn sáo đã đem ra mà huyễn diệu (4) đồng bào?
       Ấy là không nói những kẻ học chữ tây cũng còn chửa thông, nói một câu không khỏi sai mẹo, mà cũng làm ra mặt thông thạo các lối văn minh mới, nhất thiết tự xưng là duy tân cả, coi văn hoá cũ của nước nhà như cỏ rác hết.
        Tưởng học được của người những gì hoá ra chỉ học được những thói tự do rởm, bình đẳng xằng, những cách du đãng phóng túng với cái tính khinh bạc ngạo mạn mà thôi.
         Lắm lúc trông thấy cái kết quả bất lương đó mà ngờ rằng nếu học tây mà đến thế thì thà không học nữa còn hơn.
       Cái học kia làm cho người ta nước giàu dân mạnh của khéo người khôn, có đâu lại tạo ra những cái quái vật như vậy?!
      Hay mình như cái đất xấu, hạt giống tốt trồng vào rồi mọc lên cũng thành ra cằn cọc?


(1) bắt chước
(2) đi tới cái thần khí sâu xa của sự việc
(3) tức hạng hướng sự học sang Tây phương, hồi đầu thế kỷ XX
(4) khoe khoang (với ai đó)
 Phạm Quỳnh
 Phong hoá suy đồi, Nam Phong, 1932




Chưa biết trở thành chính mình  
      Tôi không nhớ vị giáo sư Pháp nào, ở lâu năm bên ta, đã nói: “Những thanh niên Việt Nam đào tạo ở trường học mới, không có một tinh thần sáng tạo chắc chắn ”.
         Lời bình phẩm có vẻ vội vàng gắt gao, nhưng không phải là không có một phần sự thực.
       Vì sự thực cái bệnh ỷ lại là bệnh của ta và đã ăn sâu vào trong xương tuỷ người nước ta, cơ hồ không gột rửa được nữa.
       Không phải bây giờ mà từ bao giờ, không phải ở trong văn chương mà ở khắp các địa hạt, người Việt Nam đã tỏ ra mình là một giống người sống một cách lười biếng và cẩu thả.(...). Cẩu thả và biếng nhác trong sự ăn, sự mặc, sự ở, nhất là trong sự phô diễn tư tưởng.
         Tự ta, ta không hề cố gắng và tạo tác ra một cái gì hoàn toàn của ta; ta chỉ muốn hưởng thụ những của sẵn và cam tâm làm kiếp con ve của thơ ngụ ngôn (1).
         Ta đã vay mượn của người hàng xóm từ một điệu thơ nhỏ nhặt đến một đạo lý cao xa. Hồi xưa kia chúng ta là những người Tàu, gần đây chúng ta là những người Tây, chưa có một lúc nào chúng ta là những người Việt Nam cả.


(1)   ý muốn nói vui chơi ca hát, không biết tính xa, và sẵn sàng vay mượn để sống qua ngày. Lấy tích từ bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine Con ve và con kiến, bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh.


 Lưu Trọng Lư
 Một nền văn chương Việt Nam, Tao đàn 1939




Hợm hĩnh quá đáng
      Một vài ông vua nước Nam đã làm cho thần dân của các ngài tưởng lầm rằng văn học nước mình cũng ngang hàng với Trung quốc. Sự thác giác (1) ấy làm hại cho quốc dân từ lâu nay, cái hại chẳng phải nhỏ.
      Lê Thánh Tôn phê bình hai câu thơ của Thân Nhân Trung quan đại học sĩ tại triều mình Quỳnh đảo mộng tàn xuân vạn cảnh - Hàn giang thi lạc dạ tam canh hợm hĩnh cho rằng dù Lý Bạch, Đỗ Phủ, Âu Dương Tu, Tô Thức (2)… cũng vị tất đã nghĩ được ra.
      Gần này người ta còn truyền tụng hai câu thơ phê bình thi văn bản triều (3): Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán -- Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường.
     Văn học chữ Hán đến triều Nguyễn đáng gọi là thịnh hơn các triều khác; nhưng nếu bảo vượt qua cả Hán Đường thì quá lố!
     Những lời tự khoe ấy cần phải cải chánh.


(1) lầm tưởng
(2) các thi hào nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung quốc.
(3) tức triều Nguyễn


 Phan Khôi
 Khái luận về văn học chữ Hán ở nước ta,Tao đàn,1939




Trì trệ và bất lực
     Bị ý thức hệ nho giáo bảo thủ lung lạc, bị nguỵ thuyết của bọn Tống nho đưa lạc nẻo, bị chế độ thi cử chi phối, đẳng cấp nho sĩ Việt Nam không còn một chút hoạt lực (1) nào, không còn được một tính cách cấp tiến nào nữa.
      Bởi vậy họ đã chống tiến hoá chống cải cách.
       Phụ hoạ với triều đình, họ đã lấy cái học bã giả (2) của Tống nho dựng một bức trường thành ngăn các trào lưu triết học khác không cho tràn tới địa hạt tri thức do họ giữ đặc quyền.
       Thiếu độc lập về tư tưởng, hoàn toàn phục tùng cổ nhân Trung Hoa về cả mặt tình cảm, quá câu nệ về hình thức thơ Tàu, -- đẳng cấp nho sĩ Việt nam chỉ sản xuất ra được những lối thơ nghèo nàn. Nhiều tập thơ mài giũa công phu nhưng không chút sinh khí.
       Qua ngay hình thức của thơ, ta cũng thấy rõ tinh thần bảo thủ của đẳng cấp nho sĩ, và sự bất lực của đẳng cấp này trong mọi công cuộc sáng tạo xã hội có tính chất cấp tiến.


(1) sức sống
(2)điều ai cũng biết.


 Lương Đức Thiệp
 Việt Nam tiến hoá sử,1944
Thoả mãn  với việc
mô phỏng bắt chước
     Vô luận là vấn đề gì,  về quốc kế hay dân sinh cũng như về luân lý hay triết lý, kẻ sĩ nước ta  đều thấy các thánh hiền  Trung quốc giải quyết sẵn cho mình  rồi, cái công phu của mình  chỉ là thuật lại để thực hành cho xứng đáng chứ không cần phải sửa chữa thêm bớt chút gì.
      Trái lại cái gì của Trung quốc có vẻ vĩ đại hay cao siêu quá, thì chúng ta lại phải hãm  lại  cô lại cho vừa  với kích thước khuôn khổ của chúng ta.
       Bởi thế chính  trong thời kỳ toàn thịnh của nho học nước ta, người ta thấy  có những nhà nho kinh luân như Tô Hiến Thành,  nhà nho anh hùng như Trần Quốc Tuấn, nhà nho cao khiết như Chu An,  nhà nho khẳng khái như Nguyễn Trãi, mà  tuyệt nhiên vẫn không thấy một nhà tư tưởng một nhà triết học nào.
      Chúng ta chỉ có những nhà  nho lao tâm khổ tứ  để bắt chước thánh hiền  mà cư xử  và hành động cho hợp với  đạo lý  chứ không có  nhà nho nào dám hoài nghi bất mãn với đạo lý xưa  mà băn khoăn  khao khát đi tìm  đạo lý mới.


Đào Duy Anh
Việt nam văn hóa sử đại cương * 1950
 *Đây là bộ sách Đào Duy Anh viết ở Thanh Hóa những năm kháng chiến chông Phap. Không phải Việt nam văn hóa sử cương 1938     


Nền văn hoá của kẻ yếu
     Hình như sống dưới cái bóng của cái khối văn hoá Trung quốc, sừng sững ở bên mình như cả núi Thái Sơn, văn hoá chúng ta chỉ cố sức để man diên (1) ở trên mặt đất chứ không có cái khuynh hướng trổ vọt lên trời.
      Để sống còn, chúng ta chỉ cốt bám chặt lấy đất như bám lấy cái nguồn sinh khí.
      Cho nên chúng ta không có cái vinh dự là có những tổ tiên chọc trời khuấy nước, làm chấn động thế giới bằng những tư tưởng hay hành động, nhưng chúng ta lại đã may mắn có được những tổ tiên cần cù, kiên nhẫn biết sống thiết thực và biết tổ chức cuộc sống một cách thích đáng để đối phó với vận mệnh khắc nghiệt của mình.
      Cái giá trị tranh đấu chúng ta nhận thấy trong cái tính chất thiết thực ấy lại tuồng như chỉ là tiêu cực.
      Ngay trong văn hoá bình dân, cái văn hoá phát triển ở ngoài phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của Hán hoá, tuy có lộ rõ cái tinh thần chống đối luân lý lễ giáo của nhà nho, thế mà cũng chỉ là sự chống đối của kẻ yếu.
      Có những người sau khi làm tròn phận sự một người quân tử ở đời thì rũ sạch nợ trần đi tìm nhàn hạ ở nơi thôn dã, hay có người bất bình với thời thế khiến mình không thể làm tròn phận sự được mà đi tìm an ủi ở sơn lâm.
     Nhưng thảy đều là những người chỉ cầu tự nhiên cấp cho những thú thanh cao để di dưỡng tính tình mệt mỏi, chứ không ai dám đem tâm trí mà tìm tòi mà tra hỏi tự nhiên.


 (1)  bò lan như cây cỏ


 Đào Duy Anh
 Việt Nam văn hoá sử đại cương, 1950