Friday, February 25, 2011

Lễ hội: mô hình thu nhỏ của đời sống

     Ở  số báo Người đưa tin Unesco số ra tháng hai 1989, với tiêu đề Lễ hội nơi nơi, tôi đọc được một nhận xét tổng quát : Từ đông sang Tây, gần như ở tất cả các xã hội đã và vẫn đang còn hội hè đình đám. Tại sao? Bởi thế giới này hỗn độn đến cùng nên nhất thiết cần trật tự, -- một lễ hội được coi như có lý do tồn tại khi để lại trong con người tham gia cái dư vị có sức ám ảnh đó.
     Thế còn ở ta, ở người Việt ta hôm nay, thì sao?
     Báo Tuổi trẻ 18-2-2011 chạy trên trang nhất cái tít: Thảm hại lễ hội. Những chữ được dùng trong các phản hồi: vô văn hóa, cuồng tín, lố bịch, nhảm nhí, mê muội.
     Tại sao lại có tình trạng như vậy?



Phủ Giầy-Bắc Ninh
    Câu trả lời chung nhất trong trường hợp này chỉ có thể là sự giống nhau giữa nó và đời sống .
    Lễ hội là một thứ mô hình đời sống thu nhỏ. Chúng ta đến với nó trong cái bối rối của những người đang đứng trước một tương lai vô định.Trong lúc cuống cuồng vượt lên để theo đuổi cái ảo ảnh phía trước, ta sẵn sàng chen chúc nhau giẫm đạp lên nhau, lừa lọc nhau, miễn cảm giác là mình được sống.
   Với những đám đông hỗn độn, lễ hội là điển hình của tình trạng tự phát bản năng của đời sống người Việt.
   Lễ hội hôm nay đang mất thiêng vì bao nhiêu phương diện khác nhau của đời sống đang bị hả hơi và nhiều khi người ta phải tự dối lòng để khỏi kêu thật to khi mỗi ngày một chút, âm thầm nhận ra sự mất mát lớn lao đó.
   Tại sao, hết hội này đến hội khác, chúng ta đua đả nhau để đi bằng được? Vì biết bao việc hàng ngày ta làm đâu có hiểu vì sao mà làm,  đúng ra là chỉ nhắm mắt đưa chân theo nhau mà sống, yên tâm làm vì có bao nhiêu người đang làm như mình.  
   Tại sao đi hội cứ phải kèm theo mua bán ăn uống hưởng thụ chơi bời hưởng lạc?
   Trong số  báo Người đưa tin Unesco nói trên, một nhà nghiên cứu văn hóa đã lý giải Lễ hội vừa hoan lạc vừa có tính chất lễ nghi. Lễ hội hòa giải những điều trái ngược. Lễ hội liên kết những gì mà dòng ngày tháng có xu hướng muốn tách rời— nghiêm trang và lêu lổng, tôn giáo và phàm tục, tàn phá và phục hồi. Trong khi đi tìm cái thiêng liêng, nhiều khi lễ hội chẳng khác gì một cuộc truy hoan phóng đãng.



Hội Lim
    Kinh doanh và lễ hội. Tại sao trên mảnh đất muôn đời nghèo khổ là đồng bằng Bắc bộ này, một không khí mua bán xoay xỏa kiếm chác cứ len vào làm nên một phần hồn cốt và cái vẻ hấp dẫn riêng của lễ hội? Không khó khăn gì để trả lời câu hỏi này cả. Khi đó đã là một thứ khí hậu của đời sống chúng ta thì tránh đâu cho thoát?
     Cái sự buôn thần bán thánh ở đây chỉ là tiếp tục các vụ mua quan bán chức mua bằng bán học vị ngoài đời.  Đến các buổi tập thể dục buổi sáng ở các công viên cũng có chợ nữa là ở đây. Một tờ báo đã khái quát nay là thời toàn dân vào cầu cả nước đánh quả. Làm sao lễ hội có thể  nằm ngoài cái xu hướng nói chung đó?
     Nhiều khi chúng ta sống bằng cách khai thác những lầm lạc mê muội của người khác. Với một bộ phận cư dân các làng nghề, mỗi mùa lễ hội là một vụ làm ăn. Nhiều địa phương sở dĩ tha thiết với việc xin được cấp trên công nhận di tích địa phương mình vì có thể vất vả một hai tháng mà sống cả năm.
   Người ta giẫm đạp lên đồng tiền. Người ta nhét tiền vào bất cứ chỗ nào được cho là thiêng liêng. Trong thái độ tự khinh rẻ thành quả lao động của mình, người ta đang chứng tỏ rằng với tư cách là điểm tận cùng của phàm tục, sự hư vô đã bắt đầu xuất hiện.  



Đền Trần-Nam Định
     Những điệu múa đơn sơ và giống nhau. Những điệu nhạc pha tạp. Những chi tiết trang trí lô lăng và cẩu thả, những ngôi chùa tối tăm, xấu xí … Lễ hội tố cáo chúng ta có một cuộc sống nghèo nàn và để che giấu cái sự nghèo đó nhiều người sẵn sàng nhắc đi nhắc lại đến ngàn lần không chán rằng chúng ta rất giầu có rất hạnh phúc.
     Tại sao chỗ nào cũng thấy kêu về những ban tổ chức chỉ có trình độ làng xã, nhưng lại nhất quyết đứng ra tổ chức cho hàng chục ngàn người trong khi chỉ lo tổ chức một ít bãi giữ xe và giữ trật tự cũng không xong ? Có gì lạ đâu, có bao nhiêu việc hàng ngày nhỏ thì như tổ chức giao thông an toàn cấm hút thuốc lá …, lớn lao hơn thì như kéo con người vào sự học hành tử tế, sản xuất làm ăn hơn là buôn gian bán lận…mà các nhà quản lý đâu có làm nổi?
    8000 là con số lễ hội diễn ra cùng lúc trên toàn quốc. Tính trung bình mỗi ngày có 20 lễ hội. Người đưa ra con số ấy bắt đầu gợi ý chúng một  sự bùng nổ  trên phạm vi số lượng giống như sự phát phì, sự làm hàng giả tràn lan trong cái hoạt động tâm linh này.
      Lại nhớ từ xưa, mà nhất là thời chiến tranh liên miên như thuở Trịnh Nguyễn phân tranh Đàng Trong Đàng Ngoài, rất nhiều đền chùa mọc lên đến mức sau khi lên ngôi, Quang Trung đã có lệnh là phải soát xét lại để xóa bỏ các dâm từ.
    Hoặc ngay từ thời đánh xong quân Minh, Lê Lợi cũng cho kiểm tra lại các chùa nếu chùa nào sư mô không đủ trình độ thì bắt phải hoàn tục.
    Xô bồ và hỗn loạn đã bành trướng đến mức là phải gạn lọc, nhiều người gặp nhau trong ý nghĩ đó. Nhưng lễ hội làm sao có thể thực hiện cái việc mọi lĩnh vực khác bất lực.
    Đã bắt đầu có ý kiến rằng phải hạn chế lễ hội.
    Nhưng mùa xuân sang năm tôi đoán là sẽ gặp lại tất cả không khí lễ hội của mùa xuân này với những lời kêu ca phàn nàn những sự phiền trách và xấu hổ. Cuộc sống đang trên cái mạch của nó, chưa thấy dấu hiệu gì là nó có thể khác. Thì làm sao lễ hội có thể khác?


  






Monday, February 21, 2011

Một nếp sống tầm thường dung tục

Trong những năm qua,tôi đã viết một số bài phiếm luận về các lễ hội
-- Lễ hội và sự lên ngôi của thói vụ lợi
-- Hiện tượng “lại gạo
--Tự hiểu mình hơn qua lễ hội
--Nối lễ hội vào... trụy lạc .
Vào những ngày này, các bạn có thể tìm thấy những bài đó trên một số mạng , chẳng hạn mạng Chung ta.com.
Dưới đây là một bài ngắn thuộc loạt bài Thói hư tật xấu, cũng về chủ đề nói trên.
Phan Bội Châu trong thời gian mười lăm năm cuối đời, sống ở Huế (1925-1940), có để lại một cuốn Tạp ký. Lúc này ông không còn tâm thế của người đứng ra vận động cứu nước mà thiên về cái nhìn của một trí thức từng trái, đau lòng trước tình trạng lạc hậu của đất nước. Dưới đây là một đoạn ông nhận xét về không khí xô bồ nhếch nhác thường thấy phổ biến ở lễ hội của người Việt – miếng ăn quá to, người ta chỉ nghĩ đến ăn, tranh giành ngôi thứ cũng chỉ vì ăn :

Tế có nghĩa là giao tế vì nó ở trong phạm vi nghi lễ. Quá lắm thì xa xỉ, không đúng mức thì bủn xỉn, đều chưa hợp lễ.

Dân gian tế tự, nghi thức không đủ, mà còn đùa bỡn vật mọn, cả nước như cuồng. Trước lúc chưa tế thì mồm nói cấm kỵ mà đòi uống tìm ăn. Nghe xướng hai tiếng “ lễ tất “, ai nấy đều nhao nhao. Bưng mâm thì ăn ngay trước cửa thần, rót rượu thì uống ngay trước mặt thánh. Đến khi dọn cỗ, trên các quan viên, dưới đến bình dân, ngồi đứng lung tung. Sau khi uống một hai chén rồi, Giáp thì đánh Ất, Ất thì đánh Bính, chửi mắng rầm rầm. Thậm chí chia thịt chưa đều thì đua sức đua hơi ngay ở đấy, để chia tôn ti, phân biệt thứ bậc đi lại thù tạc mời đãi nhau

.

Theo Trương Hữu Quýnh trong bài Tìm hiểu những mặt hạn chế và tiêu cực trong di sản truyền thống của dân tộc ta đầu thời Nguyễn, Gia Long từng có một đạo dụ liên quan đến tình trạng tế lễ ở các làng :

Vào đám hát xướng nhiều thì vài mươi ngày đêm, ít thì tám chín ngày. Chèo thuyền hát hỏng ăn uống xa hoa, tiêu không tiếc của, rồi lại đua thuyền múa rối, đủ mọi thứ trò. Lại kén lấy trai tơ gái trẻ đánh cờ đánh bài. Tưởng là thờ thần, thực là để thỏa lòng dục. Ngân quỹ hết thì sinh ra đóng góp, cầm bán ruộng công.



Trong các tiểu thuyết của các nhà văn tiền chiến, lễ hội cũng thường hiện ra như một khung cảnh ồn ào luộm thuộm và mang nhiều tính cách tầm thường. Trong tiểu thuyết Lan và Hữu, Nhượng Tống sau khi miêu tả cảnh đi hội chen chúc hỗn độn, lại đặc biệt than phiền về tình trạng bẩn thỉu mất vệ sinh ở các chùa

Nếu tôi có tội phải người ta bắt đi đầy thì đầy tôi ra Côn Đảo ba năm tôi không sợ bằng đầy tôi nơi cửa chùa Thiên Trù suốt ba tháng hội.

Thật không khó gì nếu cần chứng minh cho tính đúng đắn của các nhận xét trên. Báo chí thời nay cũng đã hé ra cho thấy tình trạng tương tự. Vấn đề không phải chỉ là việc tổ chức luộm thuộm, người xe chen lấn ùn tắc, mà còn ở cảm giác dung tục mà con người thời nay mang tới lễ hội. Thiếu lòng thành kính tối thiểu, người ta đi chỉ cốt để cầu lợi.

Hội đền Hùng mùa xuân năm 2002 thường được ghi nhận với việc làm ra một chiếc bánh dày 1,8 tấn, việc này về sau đã được đưa vào sách kỷ lục Guinnes. Nhưng đây là số phận của vật lễ thiêng liêng đó. Ngày 9-3 âm lịch trên đường chuyển đến nơi hành lễ, chiếc bánh bị cả trăm người xúm quanh xô đẩy dằng xé. Bà con đi hội đã tự tiện thụ lộc. Trong khoảng hơn một giờ đồng hồ, từ 10 đến 11.30 h, chiếc bánh bốc hơi hoàn toàn.

Báo Tiền Phong ra ngày 22-4-2002 cho biết như vậy. Theo chỗ tôi đọc được chỉ riêng báo Tiền phong, ngoài ra không có báo nào đưa sự kiện “ hi hữu “ này. Về sau cũng không ai nhắc tới, coi như không có.



TT&VH 5-6-07

Tuesday, February 15, 2011

Nhật ký 2011 ( tuần V -VI)



1-2
MỘT TRÍ THỨC
         Vũ Đình Hòe mất, người ta chỉ nói tới ông như một nhà giáo dục. Theo tôi, phải tính tới ông trong vai trò của một trí thức. Cả thời trung đại lẫn thời Pháp mới sang,  trí thức tự do nếu có chỉ  là trí thức làng xã. Lớp cao cấp như Vũ Đình Hòe ra đời đánh dấu sự trưởng thành của xã hội VN nửa đầu thế kỷ XX.








       Một định hướng của xã hội lúc này là chuẩn bị cho việc lấy lại đất nước từ tay người Pháp và bằng cách học hỏi văn hóa Pháp và văn hóa thế giới, chứng tỏ khả năng làm chủ của mình – chữ văn hóa ở đây theo nghĩa rộng bao gồm văn hóa sống văn hóa quyền lực văn hóa chính trị.... Những tư tưởng mà Vũ Đình Hòe và các đồng chí của ông phát biểu trên tờ Thanh Nghị  tồn tại thời 1941 - 45 là  sự chuẩn bị tư tưởng để quản lý đất nước một khi ta có độc lập.
        Có vẻ như vào những ngày này rất ít người biết có một Vũ Đình Hòe với một thời như vậy.
        Muốn đúng ý nguyện của Vũ Đình Hòe, tôi cho rằng phải nhắc lại ở đây các chiến hữu của ông, những Phan Anh, Vũ Văn Hiền, Nghiêm Xuân Yêm, Đinh Gia Trinh, Đỗ Đức Dục...
      Vũ Văn Hiền chẳng hạn, một cái tên như thế kêu lên chắc chẳng gợi trong lòng người có học hôm nay một cảm tưởng nào cả.  Nhưng trên đường nghiên cứu xã hội và văn hóa trước 1945, tôi thật sự xúc động khi đọc những nghiên cứu của Vũ Văn Hiền về nông thôn VN và con người VN, xã hội VN nói chung in trên Thanh Nghị. Tôi đã thử tóm tắt một số ý của Vũ Văn Hiền để viết thành bài Bức tranh làng xã một thời quá khứ.
      Hơn nửa thế kỷ qua, thời cuộc xô đẩy các ông mỗi người một phương số phận mỗi người ra sao chẳng ai biết hết  --,  điều có thể tin chắc là nhiều người trong  nhóm Thanh Nghị qua đời trong ngổn ngang tâm sự -- họ đã có bao nhiêu  đóng góp cho dân cho nước mà chưa được  hiểu, được đánh giá đúng.
    


4-2


MONG MỎI LÚC  VỀ GIÀ
     Nguyễn Văn Thành kể là mấy ngày tết đi với một bạn Việt Kiều xuống Hưng Yên và Quảng Ninh chơi, nghe được một ít tâm sự. Mấy năm nay mong mỏi của nhiều anh em xa nước hóa ra rút lại một điều là muốn quay về mua cái nhà, lấy chỗ yên nghỉ tuổi già. Sinh hoạt trong nước dẫu sao cũng rẻ hơn, người với người dễ đầm ấm hơn.
     ( Ấy là không kể một điều không tiện nói ra—nếu muốn làm ăn vung vít rồi trốn thuế, chỉ cần hối lộ qua loa là tha hồ vơ của, hoặc bán dạo những thứ kiến thức ế ẩm ...thì  có đâu hơn nơi đây bây giờ  -- VN đang là thiên đường của những trò làm ăn gian dối .)
    Tôi nghe mà cũng buồn lây. Anh em trong nước bí đã đành, người đi xa sao cũng không tìm thấy hướng làm lại cuộc đời mình? Một lý do thường được nêu lên khi tính chuyện về là những đóng góp cho quê hương. Có thể có những cách  hiểu khác nhau với hai chữ đóng góp, và rộng hơn,với  nhu cầu của xã hội VN lúc này. Về phần mình tôi cho rằng sau mấy chục năm chiến tranh, cái mà đất nước  đang cũng rất cần là tự nhận ra mình. Đang thiếu những công trình nghiên cứu tổng hợp về lịch sử VN, xã hội VN.  Biết đâu chính khoảng gián cách lại là yếu tố cần thiết để cho người ở xa có được những khái quát chính xác..


6 - 2
    Diễn đàn kinh tế  của VNN có bài đặt vấn đề “Sao không mời Trung Quốc sản xuất tại Việt Nam?”. Trong mối quan hệ răc rối và mệt mỏi giữa Trung quốc và VN  đây có lẽ là một đề xuất tốt . Khi đã không thể rời xa nhau, chi bằng tính cách cộng tác với nhau.
      Trong lịch sử, sự cộng tác này đã là thường xuyên. Từ Tuyển tập các táo cáo tóm tắt   trình bày trong  Hội thảo quốc tế VN học lần thứ ba  mang tên Hội nhập và phát triển  diễn ra ở TP HCM từ 4/12/2008, tôi ghi được một đoạn dẫn chứng.    


 Báo cáo mang tên Sự mở rộng lãnh thổ thời Hậu Lê
 Tác giả là Song Jung Nam, một giáo sư Đại học ngoại ngữ Hàn quốc.
  Tóm tắt ý chính: trong lịch sử, VN  là mục tiêu của chính sách mở rộng lãnh thổ của Trung quốc; cùng lúc VN lại có chính sách mở rộng về phía các quốc gia  yếu hơn là Champa và Campuchia. Kết quả là trong lịch sử VN, có sự tồn tại song song chủ nghĩa quốc gia chống ngoại xâm và chủ nghĩa quốc gia xâm lược.Trong quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam, không thể không nói đến một nhân tố quyết định là người nhập cư Trung Hoa.  Những người Trung Hoa đã cung cấp một  số lượng lớn lao động do đó  thúc đẩy VN phát triển thương mại  và làm cho VN thành một quốc gia đa chủng tộc đa văn hóa.( sđd, tr.25)


7-2  
 NHÌN RA THIÊN HẠ
   Băng giá tận trong cốt lõi là tên một bài viết trên báo Economist Anh, TTXVN dịch ra tiếng Việt. Bắt gặp vài ý hay hay. Nước Nga hiện có một nhà nước không chỉ trắng trợn coi thường pháp luật vì lợi ích của riêng mình mà còn gửi một tín hiệu mạnh mẽ cho bộ máy hành chính quan liêu rằng hành động này giờ đây được tán thành. Hiện nhà nước đó  được coi một như tài sản không được đầu tư, yếu kém, và người ta đang tư hữu hóa nó.  Ranh giới giữa các  doanh nghiệp quan trọng nhất  và các quan chức chính phủ đi từ mập mờ đến không tồn tại.  Thanh niên  thích có môt  công việc trong chính phủ hoặc một công ti nhà nước hơn là một doanh nghiệp tư nhân. Hối lộ là một  thị trường lớn, giá trị của nó tăng đến 300 tỷ USD, hoặc 20% GDP.
       Trong các tin tức liên quan tới sự kiện Ai Cập, người ta cũng luôn luôn nhận thấy mối quan hệ giữa những quyền lợi kinh tế và sự lựa chọn chính trị. Ông Mubarak không chỉ là nhà chuyên chế mà còn là người có một tài sản khổng lồ,  vài chục tỉ đô.  « Ám ảnh về sự ổn định và an ninh đã cản trở ông ta hiện đại hóa đất nước ».  (Libération ) « Sau 30 năm trị vì, tổng thống Ai Cập là nạn nhân của sự khép kín, tắc nghẽn và cô lập của hệ thống quyền lực do chính ông ta tạo ra. » (Le Figaro )
         
        Quay trở lại với đời sống xã hội mấy chục năm nay người ta  phát hiện ra  không chỉ Ai Cập mà nhiều nước trong thế giới Ả Rập nằm dưới ách Những tổng thống – vua (  báo TT 9-2-11). Đó là những “nhà cách mạng” cầm quyền suốt đời.  Và họ lại thường công khai tạo dựng  cho con cái vai trò kế nghiệp.    
        Như vậy là gặp ở đây một ví dụ khẳng định thêm cái điều tôi hay nghĩ: Nay là lúc ở nhiều nơi, cái mới chẳng qua là cái cũ trá hình. Ai Cập vẫn đầy chất phong kiến. Lịch sử có lúc như là quay ngược. Phương diện này của đời sống tiến lên thì phương diện khác thụt lùi. Muốn hiểu một xã hội đừng có căn cứ vào  nhãn mác nó dùng mà hãy nhìn vào thực chất .
  
8-2
    Đi ngang qua một nghĩa trang làng, thấy một ngôi mộ có cắm thêm một cành đào nhỏ. Không thể bật cười được chỉ nghĩ con người bây giờ như điên lọan, thường làm những việc linh tinh bát nháo mà chính họ cũng không hiểu nổi là tại sao mình làm vậy...


10-2
     ĐẾN HƯNG YÊN.
   Cảm thấy như được trở lại với không khí rất hài hòa của đời sống những năm sáu mươi bảy mươi, của thế kỷ trước. Một đô thị chuẩn, không quá tải, không bị những lớp người nông thôn kế tiếp nhau ùn ùn đóng trại như Hà Nội sau 1954, sau 1975 .
      Lùi về quá khứ được biết đây là một “ phòng thí nghiệm”  tiếp nhận những ảnh hưởng tốt đẹp nước ngoài,  suốt từ thời cả người Tầu lẫn phương Tây các thế kỷ XVII -- XVIII  cho tới khi được nhào nặn dưới bàn tay của người Pháp đầu thế kỷ XX.
     Thành phố nho nhỏ, xe ít đến mức không cần bóp còi, vỉa hè rộng làm yên lòng người đi bộ... Và điều làm tôi thích thú là không thấy những đống đất đống gạch đống cát ven đường, không những ngôi nhà dang dở, không biển quảng cáo, không tiếng nhạc mở quá to ở mọi cửa hàng, không có cái sự cọc cạch cũ mới lẫn lộn, nhất là không có cái thèm muốn thay đổi và khao khát hưởng thụ mà chạy loạn cả lên … như ở Hà Nội
11-2
   TẾT TRUNG CỔ  
    Cậu em tôi từ Sài Gòn ra bảo là sao ngoài Hà Nội vui thế không khí tết nhất kéo dài thế. Tôi chỉ cười chẳng qua Hà Nội nặng nợ với nền nếp sinh hoạt bao cấp, còn dư âm thời chiến tranh sống đến đâu hay đến đấy, dông dài dềnh dang chậm rải, —cái đó nó thấm nặng lắm làm sao thay đổi được.
     Luôn luôn tôi phải tự nhắc không được lấy chuyện thời mình ngày xưa ra áp đặt cho chung quanh. Nhưng luẩn quẩn một lúc vẫn không thóat khỏi qua cái ý nghĩ sao thời nay nghỉ tết lắm thế.  Ngày xưa chúng tôi chỉ tết có ba ngày mồng một mồng hai, vay trước chiều ba mươi thì sẽ phải trả cho ngày mồng ba. Bây giờ ấy ư, đêm đêm hàn thực ngày ngày nguyên tiêu, nhất nhật tiểu yến tam nhật đại yến, rồi mấy ngày nay nườm nượp rủ nhau du xuân và sẽ còn dung dăng dung dẻ với nhau cho tới hết tháng giêng.
     Lần đầu nẩy ra cái ý “ta đang trở lại thời tiền hiện đại’, còn thấy hơi nghi ngại  nhưng rồi  thấy phải nói vậy vì nhìn đâu cũng bắt gặp một không khí trung cổ ngự trị và nó được người ta gọi là truyền thống .
   Chữ trung cổ là tôi mượn từ Xuân Diệu, trong bài viết của ông nhân tết 1946. Tôi đã khai thác ý này trong bài viết mang tên Đúc tết lại  năm ngoái. 


12-2  
      Những biến động nho nhỏ thế này là gì nếu không phải là dấu hiệu của một cơ thể hỗn lọan thoái hóa ?   
        Nhân đây đặt câu hỏi tại sao lế hội thường có khuôn mặt tòe toẹt xấu xí? Một câu trả lời có thể là: Tính tổ chức không phải là mặt mạnh của văn hóa VN, mà lễ hội là vấn đề tổ chức.  










Wednesday, February 9, 2011

Trao con dao sắc cho trẻ

   Chuyện lì xì ngày tết


     Nỗi khổ của những ngày Tết là chủ đề mà cánh già ngoài bãi sông Hồng chúng tôi mấy ngày qua hay bàn. Chủ đề sáng nay lái sang câu chuyện về việc người lớn lì xì, hay nói theo lối đồng bằng Bắc bộ, gọi là mừng tuổi lớp trẻ.
     Anh A mào đầu kể, mấy ngày tết đi chúc tết đã mệt nhoài, tối nào về cũng có một việc phải làm là quản tiền mừng tuổi mà đứa con trai anh đã nhận hôm ấy. Rồi ra, đây cũng là việc mà tết xong anh phải lo tổng kếtlên kế hoạch  đối phó với nó khá tỉ mỉ.
     -- Sao lại căng thẳng đến thế ?-- tôi hỏi lại.
     -- Trẻ con giờ khôn lắm, nó biết đấy là dịp trời cho, tiền kia là tiền của nó, mình không thể muối mặt đòi lại nó được. Sẽ được tùy nghi tùy tiện, muốn làm gì thì làm. Được phiêu lưu trong hư hỏng… Thật chẳng khác gì người ta -- không cần biết con mình còn vụng về thế nào -- đưa cho con mình con dao sắc, bố mẹ có gỡ mãi cũng không nổi.
     Chỉ còn có cách an ủi là nghĩ rằng trước đó mình cũng đã tham gia vào việc trao con dao sắc cho con người khác nghịch chơi. Trách ai được nữa.
      Anh B kể về một nỗi khó xử khác:
      -- Có lần đến một nhà quen, đôi bên mừng tuổi con cái. Tôi cứ theo thói quen đưa cái bao sắp sẵn hai mươi ngàn, nghĩ là lì xì trẻ lấy lệ. Nhưng về hỏi con mới biết hôm ấy con tôi được anh bạn lì xì một trăm ngàn. Tự nhiên cảm thấy như mắc một món nợ. Vợ tôi thì bảo thôi rút kinh nghiệm sang năm phải tìm hiểu trước, xem bạn bè mình năm vừa qua làm ăn thế nào sẽ lì xì cho con mình bao nhiêu để mà ra đòn tương tự, chứ không lại mang tiếng là bủn xỉn.
     Anh C tiếp tục trở lại khía cạnh tiền làm hư trẻ:
     -- Chưa nói chuyện tiêu vung cả lên sau, --  ngay lúc nhận tiền, ở đứa trẻ lập tức hình thành một thái độ. Hễ ai cho nhiều tiền thì đó là người tử tế đàng hoàng, ngược lại thì đó là người kém cỏi nếu không muốn nói là tồi tàn, bất lịch sự, không biết cách cư xử. Đồng tiền mừng tuổi trở thành yếu tố quyết định trong việc đánh giá con người của chúng, đã đáng sợ chưa? Phần lớn trẻ hiện nay cư xử như tôi vừa kể.  Nội cái việc cỏn con này, đã chứng tỏ chúng ta vụng về  thế nào trong việc  đối xử với cái thế hệ tương lai mà lúc nào ta cũng lo lắng.
 
       Lúc nào đó, phải nghiên cứu lai lịch cái chuyện lì xì này, xưa thế nào và nay ra sao.
       Có một điều chắc nhiều phong tục VN bắt nguồn từ Trung quốc.
      Trong cuốn Cội nguồn văn hóa Trung Hoa, tôi đọc thấy người ta viết rằng “ sau bữa cơm đêm giao thừa, người bề trên mừng tuổi cho đám hậu sinh….Cũng có khi vào buổi sáng mồng một Tết, khi trẻ em đến chào hỏi người trên, thì cũng được mừng tuổi tặng tiền”... Có người dùng tiền mừng tuổi đặt trong bao đặt dưới gối con trẻ để xua đuổi tà ma…”.  
     Còn ở VN, ngay trong những câu chuyện kể về Tết ngày xưa, chuyện này cũng chỉ được nhắc qua loa.
     Việt Nam phong tục của  Phan Kế Bính giới hạn mừng tuổi trong phạm vi gia đình.  
      Nếp cũ làng xóm Việt Nam của Toan Ánh cho biết “ con cháu chúc tết các cụ xong, các cụ cũng chúc tết lại  […] Và các cụ cũng mở hàng lại cho con cháu một món tiền gọi là tiền mừng tuổi, người giàu mừng tuổi nhiều, người nghèo cũng mừng tuổi tượng trưng một vài đồng[ …] miễn sao để con cháu gặp được may mắn tốt đẹp “.
    Phong tuc làng xóm Việt Nam của Nhất Thanh—Vũ Văn Khiếu ghi: trong quan hệ với họ hàng bạn hữ, mừng tuổi cũng gọi là mở hàng, nhiều ít tùy cảnh, và ngầm nói rằng việc khách mừng tuổi cho con chủ nhà chỉ là việc tiện thì làm không thì thôi, không ai đánh giá nhau qua việc đó cả. 
    Đối chiếu lại như thế, thì thấy mừng tuổi với con người gọi là thời kinh tế thị trường hôm nay đã biến thành một tệ nạn.
    Sau chiến tranh, nhiều phương diện đời sống ở ta có thiên hướng trở lại với cái thời tiền hiện đại.
     Nhân danh tiếp nối truyền thống, người ta thả mình vào vòng tay của mê tín dị đoan, đằng sau đó không gì khác chính là nỗi lo lắng thường trực cho tương lai và liều lĩnh làm tất cả để mưu sinh.    
       Mối quan hệ giữa người với người không tìm được những chuẩn mực hợp lý.
      Để sang một bên việc mừng tuổi đối tượng làm ăn để ra giá, để mặc cả, để hối lộ, và mừng tuổi người lạ để khoe của ngạo đời, --  hãy nóimối quan hệ hàng ngày giữa những người công nhân viên chức lao động bình thường. Việc mừng tuổi tràn lan vô tội vạ hiện nay chính là một bằng chứng của việc con người không đủ sức kiểm soát nổi các hành động của chính mình. Ta tưởng ta làm việc tử tế với người khác. Hóa ra ta đẩy đối tượng của mình vào một tình thế hết sức khó xử. Ta muốn tỏ ra yêu thương con bạn nhưng làm thế là nối giáo cho giặc, đánh thức cái phần hư hỏng trong đứa trẻ. Làm một việc dễ dẫn đến hiệu quả tai hại – trong nhiều trường hợp phải gọi là một việc xấu -- mà lại cứ đinh ninh là làm việc tốt và vênh vang tự hào vì điều đó.


Sunday, February 6, 2011

Lộn xộn tiếng Việt thời giao lưu văn hóa

Nổi cộm nhất phải kể hiện tượng pha phách tiếng Anh vào các thông tin cập nhật. Đọc báo mãi rồi cũng hiểu là những từ mới như show diễn như world cup có nghĩa gì, nhưng nhiều người chỉ tự hỏi, chẳng lẽ từ nay trở đi cứ phải chấp nhận chúng mãi coi chúng như tiếng Việt?
Khi còn chưa biết chính mình là gì


Với một niềm tin dai dẳng, các phương tiện thông tin đại chúng ở ta thường không mệt mỏi trong việc nhắc nhở mọi người là phải giữ gìn bản sắc dân tộc, hoặc trong ngôn ngữ thì nhắc nhau là phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Vậy mà mọi chuyện cứ diễn ra theo hướng ngược lại, tại sao lạ vậy?

Hiện tượng nói ở đây chỉ có thể giải thích: chính là khi bước vào giao lưu tiếp xúc với thế giới, chúng ta không có sự chuẩn bị cần thiết. Muốn nói và viết đúng thì khi còn đang cắp sách đi học, người ta phải được dạy kỹ về tiếng mẹ đẻ.
Song, đến nay, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam còn đang mò mẫm và chưa có bộ ngữ pháp nào được mọi người nhất trí là phản ánh đúng những quy luật nội tại của tiếng Việt. Luôn luôn nhắc nhở nhau phải giữ gìn bản sắc song bản sắc là thế nào thì lại chưa biết - cái đặc điểm chi phối quá trình giao lưu văn hóa nói chung cũng đang hiển hiện cả trong ngôn ngữ.
Ngoài ra, sự cẩu thả, lối làm lấy được, làm cho xong chuyện, bất chấp quy cách chuẩn mực, một khi đã lan tràn trong cách sống chung, thì trước sau nó sẽ chi phối cách nói và viết, làm sao khác được? Không phải giao lưu văn hóa là nguồn gốc của những lộn xộn trong ngôn ngữ hôm nay. Nó chỉ là điều kiện để những căn bệnh vốn có ở chúng ta có dịp bộc lộ.



Sau khi phác họa cái nguyên nhân gây ra những sự lộn xộn trong ngôn ngữ hiện thời, dưới đây tôi thử nêu vài hiện tượng nổi cộm nhất.



Nói ngọng



Khoảng những năm 50 của thế kỷ XX về trước, trong các gia đình Hà Nội, người ta đã có nỗi lo là lo con cái nói ngọng. Đáng nói làm gì thì đọc nàm gì, đáng giới thiệu với người khác tôi ở bên Hàng Lọng thì bảo tôi ở bên Hàng Nọng. Cái ngọng bấy giờ thật rõ quê mùa, mộc mạc.



Ngày nay, lối ngọng ấy hầu như đã được thanh toán, nhưng lại nảy nòi một lối ngọng mới: ngọng ngược. Sáng sáng, cái xe đạp bánh mỳ rong đánh thức cả khu tập thể bằng tiếng rao lanh lảnh "Bánh mỳ lóng đây!". Trưa trưa, mấy cô quang gánh qua nhà thiết tha mời mọc "Có ai ăn rượu lếp?". Bạn bè rủ nhau: "Ra làm chén lước đã". Đồng hương lâu này gặp nhau kể chuyện "Dạo lày thằng ấy ló trúng quả lắm!".





Nhưng đây chưa phải là chỗ duy nhất phân biệt cái ngọng thời nay với cái ngọng thời xưa. Ít ra, còn phải lưu ý mấy "nét đặc thù" nữa.



Một là, trong số người bây giờ, có cả những người tạm gọi là rất có văn hóa. Cả một số học sinh cấp ba, một số sinh viên cũng nói ngọng. Người đang đi học, không được chữa chạy kịp thời, cố nhiên là nguồn bổ sung vô tận cho người đã ra trường ngọng một cách công khai thoải mái.



Hai là, không gian để người ta nói ngọng đang được mở rộng, cách nói ngọng đang xâm nhập cả vào những khu vực xưa kia nó bị cấm cửa. Người ta nói ngọng ở nơi công cộng, nhà ga, bến tàu, lúc về bên mâm cơm với gia đình đã đành, có người lại còn nói ngọng cả khi có việc lên đài, lên tivi nói cho cả triệu người nghe. Nhiều người Việt Nam ra nước ngoài vẫn nói ngọng trước sự ngạc nhiên của người nước ngoài học tiếng Việt, họ (những người nước ngoài ấy) tưởng đấy là một thứ tiếng Việt mà họ chưa biết!



Nỗi lo này có phần giống với nỗi lo của một người làm nghề nghiên cứu ngôn ngữ. Sau khi nhận ra rằng hình như bây giờ ai muốn nói ngọng thì tùy, không ai thấy ngượng vì nói ngọng và nghe người khác nói ngọng nữa, trong đầu óc anh chợt nảy ra một dự báo khoa học:



- Tôi chỉ sợ khi nhiều người nói ngọng quá thì lâu dần, lại hóa ra họ nói đúng, mà mình lại bị coi là nói ngọng không biết chừng. Bấy giờ khi mình nói mình đang làm việc ở Hà Nội, người ta sẽ bảo là ngọng rồi. Hà Lội mới đúng" - và câu đầu tiên của Truyện Kiều phải sửa thành:"Trăm lăm trong cõi người ta".



Hỗn hào, hổ lốn



Vừa đọc một cuốn tiểu thuyết ra đời cách đây vài năm mang tên Cơ hội của chúa, nhiều bạn đọc nhận ngay ra một đặc điểm: ngôn ngữ các nhân vật trẻ trong truyện phải nói là khá tạp, nhất là có pha thêm nhiều từ nước ngoài, mà đôi khi lại nói sai, và tác giả viết vào sách cũng sai luôn; cố nhiên là nhiều người tỏ ý than phiền và cho là ngôn ngữ một cuốn tiểu thuyết không thể hổ lốn như vậy.



Điều đáng nói ở đây: cuốn sách nói trên là một trong số nhỏ những tác phẩm mang được không khí làm ăn sinh sống ngày hôm nay vào văn chương.
Tạm rời trang sách nhìn rộng ra các loại sách báo, và lắng nghe lời lẽ mà hàng ngày chúng ta vẫn nói với nhau thì thấy ngôn ngữ xã hội cũng na ná như ngôn ngữ trong sách, tức là tùy tiện, lộn xộn, đại khái là so với tình trạng nhà cửa xây dựng chẳng theo một quy hoạch nào, hoặc các loại xe cộ đi lại chen chúc trên đường, thì cũng chẳng có gì khác!
Việc mở rộng giao lưu kinh tế xã hội trước sau ảnh hưởng tới văn hóa, mà trong văn hóa thì ngôn ngữ vốn là bộ phận năng động, nhạy cảm, xốp, dễ in dấu mọi thay đổi, vậy một ít sự hỗn hào vô trật tự là không tránh khỏi, có điều giờ đây nó đã kéo quá mức có thể chấp nhận.



… và lai căng, pha tạp



Nổi cộm nhất phải kể hiện tượng pha phách tiếng Anh vào các thông tin cập nhật. Đọc báo mãi rồi cũng hiểu là những từ mới như show diễn như world cup có nghĩa gì, nhưng nhiều người chỉ tự hỏi, chẳng lẽ từ nay trở đi cứ phải chấp nhận chúng mãi coi chúng như tiếng Việt?
Vả chăng tình hình có phải đã yên đâu, được đằng chân lân đằng đầu, chẳng hạn mới đây lại thấy có một chương trình ca nhạc mang tên Phương Thanh Live Show.
Sau khi phải hỏi cậu con trai hàng xóm xem mấy chữ đó có nghĩa là gì, tôi chỉ còn có cách tìm ra một đối tượng nào đó để trút nỗi bực mình: tại nhà trường không cho bọn tôi học tiếng Anh? Hay là tại ban tổ chức người ta không có lời dặn trước là ai không biết tiếng Anh thì đừng nên ngó ngàng tới băng quảng cáo âm nhạc thuộc loại thời thượng?



Một người bạn tôi biện hộ cho cái sự xâm nhập ồ ạt của tiếng nước ngoài vào tiếng Việt:



- Anh thử nghĩ xem: hàng ngày chúng mình đi xe Honda, Suzuki đi làm; ở nhà hay cơ quan thì xài tủ lạnh Sanyo hay Daewoo và dùng TV của Sony JVC. Chẳng những các xí nghiệp Việt Nam sản xuất bằng máy móc nhập từ nước ngoài, mà cho đến một lọ hồ hoặc cái kẹp tài liệu nhiều cơ quan đang dùng hiện nay đều là của Đài Loan, hay Nhật Bản.
Dân mê bóng đá bọn mình gặp nhau là bàn tán về M.U với lại AC, còn vợ con mình mê chuyện Càn Long, chuyện Hòa Thân... Trong hoàn cảnh ấy thử hỏi làm sao ngôn ngữ chúng ta sử dụng không cộm lên những từ bê nguyên xi từ nước ngoài cũng như những cách nói vốn có từ bên Tây bên Tàu cứ nhập lậu vào ngữ pháp ta lúc nào không biết?



Tôi công nhận anh bạn có lý, song vẫn cảm thấy ở đây có gì kỳ cục. Chẳng lẽ cùng với quá trình toàn cầu hóa, rồi ra ngôn ngữ các dân tộc sẽ pha trộn lung tung để trở nên những món cháo vữa? Không, không thể như vậy được!



Học làm sang



Từ đầu thế kỷ XX, khi bắt đầu phải tiếp xúc rộng rãi với văn minh phương Tây, nhiều thuật ngữ chính trị xã hội, nhiều danh từ trừu tượng vốn có từ tiếng Hán đã được du nhập vào tiếng Việt, quá trình này còn tiếp tục trong những năm cách mạng kháng chiến và kéo dài cho tới ngày nay.
Lấy một ví dụ chỉ gần đây trong nhiều bộ phim hai chữ nô tài mới được dùng thường xuyên. Lại như trường hợp lâm tặc tin tặc, cách tạo từ này cũng gần đây mới xuất hiện. Thôi thì trong lúc chưa có phương án tạo từ mới trong tiếng Việt, chúng ta đành tạm bằng lòng với sự vay mượn nói trên.
Song tình hình đáng báo động là ở chỗ không những từ vựng Hán mà cả cách kết cấu câu của chữ Hán đang lan tràn, ra phố thì thấy nào là cây dừa quán, cầy tơ quán, lẩu dê nhất ly, giở sách báo ra thì bắt gặp đương kim dẫn đầu giải, nữ nhà văn, Khổng tử truyện, Cỏ may thi tập.. Không ai tuyên bố rõ rệt, nhưng có thể đoán nhiều người cho rằng như thế là một cách làm sang, và gây được sự chú ý.



Việc sử dụng những kết cấu ngữ pháp của tiếng Hán như trên phải nói là đáng trách, nó xâm phạm vào những quy định phân biệt tiếng Việt với tiếng Hán tức là động chạm tới chỗ sống còn của ngôn ngữ dân tộc. Thế nhưng với một số người thì đây lại là một lỗi lầm không đáng kể vì nó không gây sốc và trong giao thiệp hàng ngày người nghe vẫn hiểu được ý người nói, thế là họ cứ tiếp tục!



Cố ý vọng ngoại



Các tài liệu lịch sử còn ghi rõ: Khoảng giữa thế kỷ XIX, trước sự bành trướng của thực dân Pháp, triều đình Tự Đức cũng đã tính chuyện cho dịch một vài cuốn sách kỹ thuật phương Tây nhưng vì không có người có trình độ dịch nên đành cho lưu trữ ở Viện Cơ mật. Còn ngày nay nhiều khi thấy trên mặt báo tên phim tên sách viết bằng tiếng Anh, tôi có đi hỏi, thì được nghe một số dịch giả thú nhận là không biết dịch thế nào cho ổn. Hóa ra xưa với ngày nay cách xa hơn một thế kỷ vẫn chung một bệnh!



Trong điều kiện kinh tế thị trường, báo chí cạnh tranh cao độ, không ai bình tâm ngồi nghĩ cách dịch cho xuôi một cái tên phim, thôi thì cứ chép đại ra, bạn đọc muốn hiểu thế nào thì hiểu (!)



Nhưng mọi chuyện không dừng lại ở chỗ ấy. Theo sự quan sát của tôi, trong nhiều trường hợp, người ta có thể bắt gặp cả cái ý nghĩ sâu xa ẩn trong tâm lý của một số người khi viết nguyên văn tiếng nước ngoài lên mặt báo. Họ tự hào là được hưởng thụ những thành quả mới của nghệ thuật thế giới, và hình như phải nói và viết tên bài hát hay cuốn phim bằng chính tên gốc tiếng Anh hoặc giữ nguyên tên sách rồi đọc to lên bằng âm Hán Việt thì họ mới sướng.



Tức là, đứng ở góc độ cá nhân mà xét, họ vọng ngoại một cách sâu sắc, vọng ngoại tận trong tiềm thức. Hoặc, đơn giản hơn, họ không có ý thức đầy đủ về hành động nói và viết của mình. Họ không yêu tiếng Việt như họ vẫn tưởng.
 (Sách  Nhân nào quả nấy, NXB Hội Nhà văn, 2006)

Thursday, February 3, 2011

Cười - Chất lượng cao

Phóng viên VĂN NGHỆ TRẺ (PV): Thưa anh Vương Trí Nhàn, từ góc nhìn của một người làm phê bình văn học, xin anh cho biết một nhận xét chung về tiếng cười trong tác phẩm văn chương ở ta hiện nay?
VƯƠNG TRÍ NHÀN (VTN) So với cái thời tôi mới vào nghề, tức là thời chống Mỹ, trong đời sống chúng ta đã cười nhiều hơn, và điều đó đã chuyển một phần vào trong văn chương. Nhưng cho phép tôi nói một cảm tưởng: hình như chúng ta đang có nhiều tiếng cười dễ dãi hời hợt mà thiếu hẳn cái tiếng cười ở tầm suy nghĩ sâu sắc.
PV: Trước tiên hãy dừng lại ở cái ý đầu tiên của anh.  Phải anh muốn nói rằng có sự thay đổi của tiếng cười trong thời gian?
VTN: Đúng vậy. Thời bao cấp, xã hội hình như “chỉ biết nghiêm chỉnh”. Mọi người ít cười trong văn chương. Vì sao ư, vì lúc nào cũng sợ cười sai. Một phần truyền thống văn học phương Đông là thế, nó đạo mạo, nó trịnh trọng, nó thích cái sự thiêng liêng, dù chỉ là thiêng liêng giả vờ.
      Nay cuộc sống đã khác. Bề ngoài, nó có cái vẻ nhốn nháo của một thời tan băng. Hồi trước, trong một thời gian dài, yếu tố phê phán bị “xếp xó”.  Người ta sợ nó như sợ một con dao sắc. Nay, cả trong đời sống, lẫn trong văn chương, tinh thần phê phán được hiểu khác đi. Nó không bị xem là một cái tội. Mà xuất phát từ một quan niệm gốc: Không phải cái gì chúng ta đang có cũng đều làlý tưởng cả. Tất cả có thể làm khác, cả tôi với anh lẽ ra cũng phải khác, so với cái đang tồn tại. Phê phán là đặt yêu cầu cao với đời sống. Tiếng cười là một trong những phương tiện hữu hiệu để làm công việc phê phán cần thiết đó. Tiếng cười làm cho đời sống trở thành chính nó chứ không phải đời sống giả tạo do người ta tưởng tượng ra và ép nhau phải theo.
PV:  Thế thì tại sao ở phần trên anh còn có vẻ như là chưa hài lòng về tiếng cười hiện nay?
VTN:  Thú thực, bây giờ giá có ai hỏi tôi trong văn chương ta đương thời có cây bút nào nổi lên với một bút pháp hài hước sâu sắc cỡ như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao trước 1945, hoặc lùi xa hơn như Hồ Xuân Hương, Tú Xương, tôi vẫn không biết gọi ai. Nhiều cây bút đương thời đã muốn cười, nhưng những tiếng cười lẫn vào nhau, và trong nhiều trường hợp là giả tạo tầm thường. Đại khái cũng giống như tiếng cười mà nhiều diễn viên hài đang “phát huy” trên sân khấu và màn ảnh nhỏ. Nó dung tục và dễ dãi, thường mỗi khi bắt gặp là tôi tắt tivi ngay.
       Tình trạng này có nguyên do sâu xa của nó. Một  thời gian dài chúng ta quên cười nên khi quay lại tiếng cười có phần lúng túng. Và dễ chuyển sang cười nhạt nhèo, cười giả, cười lấy được. Trên kia tôi đã nói tới tình trạng tan băng. Dù ở ta không có băng nhưng tôi vẫn thích cái hình ảnh ấy. Nó thích hợp để nói về một giai đoạn đời sống như hiện nay.  Nên nhớ khi đóng băng thì những thứ thiu thối không bốc lên mùi gì. Còn lúc tan băng thì đời sống hiện ra với cả cái trong trẻo lẫn cái ngầu đục, cả cái sức sống tràn đầy, lẫn những cái đã chết hoặc đang chết, nhưng chưa thiêu hủy hoàn toàn.
        Một khía cạnh khác: chúng ta mải suy nghĩ những chuyện đâu đâu mà chưa có sự suy nghĩ nghiêm chỉnh về tiếng cười hàng ngày của mình. Tức đã đến lúc phải nhận quan niệm về tiếng cười của chúng ta có vấn đề.
PV:  Người ta hay nghĩ cười đơn giản tức là vui, là tếu. Sao lại có chuyện tiếng cười cũng nghiêm chỉnh và cũng phải được xây dựng trên những quan niệm vững chắc, thưa anh?
VTN:  Có chứ. Tiếng cười có nhiều sắc thái, và viết tới cái  mức thiên hạ đọc cười ra nước mắt bao giờ cũng là mơ ước của những nhà văn lớn.
      Nói chung cười là một biểu hiện của trình độ chiếm lĩnh cuộc sống, trình độ làm người của mỗi cộng đồng cũng như mỗi cá nhân.
      Đoạn trên tôi vừa nói rằng có một thời cả trong văn chương lẫn trong đời sống thưa vắng tiếng cười. Nhưng thưa vắng chứ không phải không có. Những cái chưa thể viết hết ra được, hàng ngày người ta đem ra nói cho nhau nghe trong những lúc gọi là trà dư tửu hậu. Những cuộc trò chuyện văn chương bên lề mà tôi được tham dự khi mới vào nghề  bao giờ cũng có tiếng cười. Tôi tự tổng kết cho mình: những nhà văn viết hay là những người sắc sảo, câu chuyện của họ luôn mang đến tiếng cười. Khả năng hài hước thường là tỉ lệ thuận với tài năng văn học.
    Sự nghiêm chỉnh của tiếng cười bắt đầu từ khả năng của nó trong việc giúp người ta nhận thức sâu về đời sống. Đấy là điều tôi học được trong các công trình nghiên cứu về tiếng cười trên phương diện triết học cũng như mỹ học.
      Người ta  thường chỉ nói rằng tiếng cười giúp vào việc từ bỏ thói hư tật xấu, và đó là chức năng chính của nó. Nhưng trong một tài liệu mà tôi từng đọc, một nhà mỹ học người Nga ngay từ thời xô viết đã bảo rằng: Chức năng chính của tiếng cười là giúp vào việc nhận thức. Chừng nào nhân loại còn muốn và cần  phát hiện lại đời sống, họ còn được cười.
PVLiệu có thể đọc ra một quan niệm nào đó sau những tiếng cười tầm thường dễ dãi mà anh hay nhấn mạnh ?
VTN: Con người suy nghĩ còn Thượng đế thì cười là một câu tục ngữ Do thái cổ mà nhà văn  Pháp gốc Tiệp Milan Kundera dẫn ra trong một tiểu luận văn chương. Một số người ở ta vồ ngay lấy nó, giải thích một cách nông nổi. Họ thích dẫn lại để nói rằng cuộc đời này chẳng có gì  nghiêm chỉnh và người ta  chỉ còn một cách phản ứng duy nhất trước cái đời sống nhảm nhí ấy là cười. Đằng sau tiếng cười ở đây rõ ràng là sự mệt mỏi, sự đầu hàng trước hoàn cảnh, sự cao ngạo vô lối mà thực chất là sự lảng tránh  trách nhiệm. Tôi từ chối một quan niệm như  thế, nên thường không thể chịu được tiếng cười của họ.
PV: Nhiều người chỉ nghĩ cười là một phương tiện để đưa nội dung mà họ muốn nói một cách dễ dàng tự nhiên. Cười càng nhẹ nhõm càng dễ lây lan. Anh không đồng tình ?
VTN:  Đang tồn tại một lớp công chúng ngại nghĩ ngại đọc những gì nghiêm chỉnh, và với một số nhà văn mà anh vừa nói –  thì tiếng cười là một thứ nước đường ngày xưa người ta dùng để dỗ trẻ con, hoặc như trong đông y, là một thứ “thang” để người đọc dễ nuốt trôi những thứ thuốc đắng. Tôi chấp nhận có một loại nhà văn như vậy với quan niệm tiếng cười như vậy, nhưng xin cho phép tôi đề nghị một quan niệm khác. Đấy là cái quan niệm  trên kia tôi vừa nói: Tiếng cười có chức năng phát hiện đời sống. Tiếng cười là một công cụ để con người hoàn thiện mình.Tiếng cười ấy cũng thiêng liêng cao cả như nỗi đau, như tiếng khóc. Xin nhắc lại đó là quan niệm mà các nhà mỹ học cổ điển cũng như hiện đại đều khẳng định. Hồi chống Mỹ, các nhà văn như Chế Lan Viên, Xuân Diệu cũng thường nói vậy. Anh Chế Lan Viên chia ra dòng lớn và dòng nhỏ trong thơ trào phúng là cốt để nhấn mạnh ý này.  
 PV: Có phải anh muốn đề nghị  một tiếng  cười có chất lượng  cao...
 VTN:  Vâng, đó sẽ là một tiếng cười văn hóa.


Đã in trên báo Văn Nghệ trẻ số ra 9-6-07




Tuesday, February 1, 2011

Cười ra nước mắt







Ngày tết

thử bàn về tiếng cười

một cách... nghiêm túc

Những tiếng cười giáp với tiếng khóc

 Nghiến răng cười ha hả trời ơi!
Câu hát tuồng ấy, tôi nghe từ lâu lắm, nhưng không rõ ở đâu và là tiếng cười của ai.


Mở Google ra tra. Thì ra đó là một câu trong vở Sơn hậu, ở đoạn Đổng mẫu mẹ Đổng Kim Lân bị anh em họ Tạ bắt, nghĩa là một tình tiết bi kịch -- một người tử tế, không ngại tuổi già vẫn dấn thân làm việc nghĩa, ngờ đâu việc không thành.
Trong cảnh khốn cùng, bà đau đớn cất lời:
-- Bẩy chục thân già chi xá,
Nghiến răng cười ha hả trời ơi!
Trong phần lớn trường hợp của đời sống hàng ngày, con người thường cất lên tiếng cười khi nhận ra một cảnh tượng gì thú vị, thông thường đó là trước những cảnh nhố nhăng kỳ quặc hoặc những thói xấu. Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588-1679), “ dầu sinh ra bởi nguyên nhân nào, cứ đi vào tận cùng của cái cười, ta luôn luôn gặp nó đi chung với sự khoan khóai thầm kín của lòng tự ái, tự tôn, tự đại, một cái gì giống như sự thỏa thích ma quái.”
Đằng này tiếng cười là sự xác nhận một tình cảnh éo le ngang trái, đẩy cao lên, là một tình thế bi tráng, gần như không có cách giải quyết.
Ca dao có câu Ai ơi chớ vội cười nhau / Cười người hôm trước hôm sau người cười .
Tức là thông thường tiếng cười có một đối tượng là kẻ khác. Ta cảm thấy ta cao hơn kẻ ấy. Cần cười để chê bai để chế giễu.
Ngược lại, tiếng cười ở đây dành cho chính người cười.
Tiếng cười ở đây nối tiếp tiếng khóc, một sự chuyển hóa sang cái tưởng như đối lập, nhưng lại là một sự chuyển hóa biện chứng.
Chế Lan Viên cũng từng miêu tả một tình huống chuyển tiếp tương tự:
Khóc chẳng xong ư, anh hãy thử cười
Cười được rồi sẽ tan rơi nước mắt
Như những đồng tiền cũ không ai tiêu phải vứt
Khi trong lòng đã đúc triệu đồng vui.
Tuy nhiên sau hai câu đầu rất hứa hẹn, ở hai câu tiếp, tác giả đã dễ dãi đồng hóa tiếng cười với niềm vui. Cười hóa ra một sự lảng tránh, tự mình dối mình, xí xóa cho xong. Tiếng cười bị hạ thấp, không có được cái bi tráng như trong câu hát tuồng Nghiến răng cười ha hả trời ơi nhắc ở trên.
Về sự lơ lửng chuyển hóa giữa nỗi buồn và niềm vui, tiếng cười và tiếng khóc, tôi nhớ một thiên truyện của nhà văn Mỹ W. Saroyan.
Câu chuyện bắt đầu từ sự việc một học sinh loại lớp cuối bậc tiểu học trong giờ học mải cười đùa với các bạn, tiếng cười vốn vô can không ngờ xúc phạm đến niềm tin nghề nghiệp thiêng liêng của cô giáo.
Sau giờ học, cô yêu cầu em ở lại, và ra lệnh bây giờ, trong thế đơn độc một mình, em hãy cười đi, cười cho thỏa thích thì thôi.
Chú bé, nói như người Việt, lúc này phải cố rặn ra cho được tiếng cười.
Sức người có hạn, chỉ được một lúc, rồi tới lúc không cười được nữa, chú cảm thấy trống trải bơ vơ và quay ra bật khóc.
Thì nhìn lên, không hiểu sao cô giáo cũng đang bật khóc.
Kết thúc đoạn kịch không lời, trò và cô chia tay với một thoáng bẽ bàng.
Ra khỏi cổng trường, như được tháo cũi xổ lồng, chú bé sung sướng đuổi theo các bạn. Nhưng lúc này các bạn đã ra về từ bao giờ. Chỉ mình chú bé trên đường.
Rất nhanh, từ thóang cười thầm sung sướng được trở lại là mình, chú bé quay ra nức nở, và cứ thế rên rỉ mãi không dứt.
Tôi chưa sống qua những phút kịch tính như thế bao giờ. Nhưng tôi hiểu ở giai đoạn tiếp giáp với tiếng khóc, tiếng cười trở thành biểu hiện của một trạng thái nhân sinh cao cả.
Ít ra đó không phải là tiếng cười bốc đồng dễ dãi, lại càng không phải tiếng cười rẻ tiền, tiếng cười tiểu nhân hèn hạ, tiếng cười độc ác... như nhiều người chúng ta thường cười với nhau một cách vô độ hiện thời .


Đã in Tuổi trẻ cười Xuân Tân Mão 2011