Monday, April 25, 2011

Tinh thần phê phán của Phan Bội Châu trong Việt Nam quốc sử khảo

Trong Tự  phán ( Phan Bội Châu niên biểu ) có đoạn kể lúc mới đến Nhật (1905), Phan Bội Châu gặp một người phu xe Nhật tốt bụng. Người này thấy Phan là dân ngoại quốc, lần đầu đến xứ người, đang lạ nước lạ cái, thì hết sức giúp đỡ, vui vẻ  chở tới nơi đã định, tìm hộ người cần gặp, lại chỉ lấy giá xe đúng mức như mọi đám khác.

       Nói về người, nhưng Phan không quên nói về mình.

       Một nét tâm lý của chính Phan có liên quan trong dịp này được ông  ghi nhận: Trong lúc chờ người phu xe lo việc, ông rất băn khoăn. Người phu ấy chạy xuôi chạy ngược suốt từ 2 giờ tới 5 giờ. Tốn công quá !
        Và ông liên hệ tới cách sống bon chen vô cảm của những người phu xe trong nước. Sau những vụ này tương tự, họ ăn vạ bắt chẹt đủ đường.
       Ông nghĩ bụng,  “ sợ nó cũng một nết như phu xe nước mình thì e cũng khốn nạn với vấn đề đòi tiền”.
    Cách xử sự của người phu xe Nhật khiến Phan đi từ ngạc nhiên đến thán phục, ông tự  nhủ “ Than ôi ! Trí thức trình độ dân nước ta  xem với tên phu xe Nhật bản, chẳng dám chết thẹn lắm hay sao !” (1)
   Đọc xong đoạn này, nhiều người hẳn  giật mình.
    Lâu nay nói tới Phan Bội Châu, ta nghĩ ngay tới một ngọn cờ vẫy gọi lôi cuốn  quốc dân hành động chống Pháp. Con người ông là của những sự việc hoành tráng. Nói như Phan Châu Trinh, ông “ thích dùng quyền thuật, dám làm, nói lớn lối “.  (2)
    Gắn liền với tên tuổi ông là những lời hô hào thuyết phục kêu gọi khích lệ.Theo logic thông thường, ta đoán cái chuyện thói hư tật xấu của dân Việt là một khái niệm xa lạ với Phan. Có biết thì ông cũng bỏ qua để  khỏi cản trở công việc!
     Hóa ra chúng ta  nhầm.
    Đọc lại tập Cao đẳng quốc dân (1928) tìm thấy trong đó những đoạn hết sức thống thiết


    Chứng bệnh hay giả dối là chứng bệnh chung của người nước ta mà ở trong lại có một chứng đặc biệt là chứng ái quốc giả …
     Nào đám truy điệu, nào tiệc hoan nghênh, nào là kỷ niệm anh hùng, nào là sùng bái chí sĩ, chuông dồn trống giục, nam hát bắc hò, xem ở trong một đám lúc nhúc lao nhao, cũng đã có mấy phần người biết quyền nước đã mất thì tính mạng không còn, hồn nước có về thì giang sơn mới sống.
   Nếu những tấm lòng ái quốc đó mà thật thà chắc chắn thì giống Tiên Rồng chẳng hạnh phúc lắm sao?
Nhưng tội tình thay, khốn khổ thay, người ưu thời mẫn thế chẳng bao nhiêu mà người rao danh thì đầy đường đầy ngõ.
 Giọt nước mắt khóc nước vẫn ngày đêm chan chứa mà xem cho kỹ thì rặt nước mắt gừng;
  tiếng chuông trống kêu hồn vẫn trong ngoài gióng giả mà nghe cho tới nơi thì rặt là chuông trò trống hội;
 ngoài miệng thì ái quốc mà trong bụng vẫn là kim khánh mề đay;
 trước mặt người thì ái quốc mà đến lúc đêm khuya thanh vắng thì tính toán những chuyện chó săn chim mồi.
   Cha ôi! trời ôi! ái quốc gì? ái quốc thế ư? Đeo mặt nạ ái quốc để phỉnh chúng lừa đời, một mặt thời mua chuốc lấy tiếng chí sĩ chân nhân, một mặt thì ôm chặt lấy lốt ông tham bà đốc.(3)


    Lúc này, tác giả đã về Huế an trí  nên việc những đoạn trên xuất hiện dưới ngòi bút cuả Phan là dễ hiểu. Ông già bến Ngự thôi không còn là một nhà hoạt động sôi nổi mà trở lại vai trò một  người trí thức. Và trong tâm trí của chúng ta, nó có vẻ là một cái gì lạc  điệu, không phải một Phan Bội Châu chúng ta hằng nghĩ. 
      Quay trở lại những cuốn như Việt nam quốc sử khảo(1908) thì thấy thật ra cách nhìn cách suy nghĩ có tính cách phê phán đã đến với Phan ngay trong lúc hoạt động ở Nhật. Không thấy phương diện này trong tư tưởng Phan Bội Châu tức là làm nghèo ông đi rất nhiều.




 Tinh thần chính trực “ nhìn thẳng vào sự thật”
     Chương thứ năm trong Việt Nam quốc sử khảo mang tên Sự thịnh suy của dân quyền và dân trí của nước ta.
      Tiết thứ tư của chương bàn kỹ về dân trí mà Phan khái quát chung  bằng một từ “đáng thương “
    (...) Vì vậy, giờ đây tôi xin kể những điều tai nghe mắt thấy để quốc dân cùng biết:
    Hay nghi kỵ lẫn nhau, không làm nên việc gì cả, đó là điều rất ngu thứ nhất.
    Tôn sùng những điều xa hoa vô ích, bỏ bễ những sự nghiệp đáng làm, đó là điều rất ngu thứ hai.
    Chỉ biết lợi mình mà không biết hợp quần, đó là điều rất ngu thứ ba.
   Thương tiếc của riêng, không tưởng đến việc ích chung, đó là điều rất ngu thứ tư.
    Biết có thân mình nhà mình mà không biết có nước, đó là điều rất ngu thứ năm.
    Dân được cường thịnh là nhờ có sự nghiệp công ích. Nay những việc đó, người nước ta đều không thể làm được. Hỏi vì sao không làm được, thì nói là vì không có tiền của. Sở dĩ không có tiền của là vì đã tiêu phí vào những việc vô ích xa hoa rồi. “ (5)


      Nhìn chung cả tiết này, có thể thấy  thói hư tật xấu  mà Phan  nêu ra chưa phải toàn diện. Trong phạm vi 15 trang ( Tr 222- 235) của một cuốn sách 140  trang (163- 305), ông chỉ tập trung vào những thói xấu có hại cho công cuộc vận động cách mạng. Đó là cách sống rời rẽ  sự nghi kỵ lẫn nhau, người nào cũng chỉ biết lợi riêng, không ai tin ai, không ai đoàn kết ai.
       Tuy nhiên, trên đà suy nghĩ tự phán ông đã nhìn rộng ra để nói rằng xã hội ta chưa được tổ chức lại một cách hợp lý, cũng như trong sự vụ lợi, ông thấy rõ chúng ta còn dừng lại ở một tầm nhìn tầm nghĩ hạn hẹp, không sử dụng hết năng lực làm người của mình.
        Một thói xấu cũng được  Phan sớm để ý tới là  sự xa hoa. Tại sao ? Để hiểu điều này phải trở lại với hoàn cảnh của Phan lúc đó : Không có thực lực, không có  tiền của.
        Đọc Tự phán thấy ở Nhật có lúc các ông phải đi ăn mày. Trong khi đó thì  trong nước nhiều người không biết dùng của cải vật chất vào việc gì. 
       Trong môt văn bản được viết chủ yếu để tuyên truyền ông không quên nói cả chuyện hôn nhân, chuyện tang ma.
        Nhìn vào những đám cưới phiền phức,  ông thấy ở đó chúng ta bị những lề tục tự phát trói buộc, rồi cứ bày đàn mà theo nhau “ nhà giàu thì hao phí tiền của, nhà nghèo thì phải cầm bán ruộng đất sản nghiệp” “làm một việc hao tổn vô vị, thật quái gở thay’’.
         Hoặc nhìn vào những đám tang trong lúc người trong cuộc đau đớn thì chung quanh ăn uống linh đình, ông bảo “ sao mà  nhẫn tâm thế, sao mà ngu ngốc thế”.
         Đến như cái việc mà cho đến đầu thế kỷ XXI  này, dân ta vẫn coi là một cái gì thiêng liêng, không ai dám mang ra bàn, Phan Bội Châu cũng đề cập tới theo cách riêng của mình.
        Đó là câu chuyện đua nhau làm cỗ thật to gọi là thờ cúng tổ tiên.
         Ông thấy ở cách làm đó một sự phô trương giả tạo. Cái lý của tác giả rất cụ thể
  “ Chưa một ai chết rồi mà còn có thể ăn thịt uống rượu được …Bày biện cỗ bàn, giết thịt bò dê gà lợn để  mời hàng xóm  họ hàng khách khứa  đến ăn uống no say mới thôi, như thế  có phải là mượn  tiếng người chết  để làm sướng mồm người sống hay  không ?
  Thật là nhẫn tâm quá.
   Huống chi  lúc cha mẹ đang sống, một chén cơm một bát canh cũng không cho ăn ; đến khi chết rồi thì lại làm lễ tam sinh  tốn kém hàng vạn để báo hiếu ? Sao lại lừa dối người quá đến thế ?(6)


Tấm lòng và tầm vóc suy nghĩ      
     Cũng như khi hô hào kêu gọi, -- khi nhắc lại  những thói xấu nói trên, Phan Bội Châu  có cái giọng rất thống thiết.
       Ông dùng đến những chữ rất nặng, những chữ mà người khác nói ra sẽ lập tức bị buộc tội là khinh rẻ dân tộc chẳng hạn như ngu, ngu muội ( lắp lại tới 7 lần ).
        Nhiều đoạn sau khi kể thói xấu, lại thường kết bằng một câu hỏi “ Sao mà ngu thế ?” “ thật là ngu quá không thể hiểu được”.
      Nên nhớ những đoạn đang nói ở đây là trích ra từ trong một cuốn sử. Chúng ta biết rằng nền sử học ở  ta đầu thế kỷ XX ít về số lượng mà đơn sơ về quan niệm,  do đó chất lượng non yếu kém cỏi, không đáp ứng được nhu cầu tự nhận thức của dân tộc.
       So với cả trước cả sau, trong cái vẻ còn luộm thuộm vụn vặt, Việt nam quốc sử khảo đã mở ra một quan niệm mới về cách viết sử.
        Phải có cả sử phong tục tập quán. Phải sớm viết sử về tâm lý người dân thường. Phải có cả lịch sử sự giao lưu và tiếp nhận  của ta với nước ngoài . Từ những việc Phan Bội Châu đã làm , người ta có thể rút ra những phương hướng làm sử như vậy.
        Về việc sử dụng chuẩn mực khi phê phán, có đến mấy lần khi nêu ra thói hư tật xấu của người mình, Phan Bội Châu dùng đến những chữ như “ quái gở thay “ “ hoặc đặt câu hỏi “đạo làm người có nên như thế không ? “.
         Tức là khi xét thói hư tật xấu, ông xuất phát từ những nguyên lý nhân bản nói chung.
         Tiêu chuẩn để ông xem xét  rồi từ đó bảo cái này tốt cái kia xấu không phải là những tiêu chuẩn riêng của Việt Nam mà là những chuẩn mực chung của nhân loại.       
       Với cách suy nghĩ như thế, phải nói Phan Bội Châu đã đạt tới cốt cách của một  nhà trí thức theo nghĩa hiện đại.
      Mang so sánh dân mình với dân xứ khác là một điều  nhiều người ngần ngại,  vì rất dễ rơi vào dung tục thô thiển .
       Nhưng  Phan Bội Châu đã làm và làm một cách thuyết phục.
       Sau khi kể khá kỹ ở Nhật người ta tiến hành tang ma hiếu hỷ đơn giản mà chân thành ra sao, ông quay lại phê phán lễ nghi cổ hủ của người mình.
        Vấn đề không chỉ là Phan Bội Châu có một quan niệm thông thoáng đối với các vấn đề đời sống.
        Mà dường như ông còn muốn nói người ta không được phép sống theo thói quen, cứ xưa làm sao nay làm vậy rồi bảo rằng như thế mới là tự tôn tự trọng, là có bản sắc riêng.
        Trong khi không viện dẫn tính độc đáo để biện hộ cho cách sống phiền phức mang nặng hình thức của dân mình, ông giả thiết rằng tất cả các vấn đề của đời sống có thể làm khác như cái cách mà chúng ta vẫn làm.
       Và trước tiên cách sống trình độ sống của cộng đồng luôn luôn phải được xem xét khảo sát đánh giá lại.
        Có thế mới có cơ thoát khỏi những tình thế bế tắc mà chúng ta thường xuyên phải đối mặt .
         
  -----   
(1) Phan Bội Châu Tự phán bản của NXB Văn hóa thông tin  Hà Nội, 2000, tr75-76
(2)  Nguyễn Văn Dương  biên soạn Tuyển tập Phan Châu Trinh, NXB Đà Nẵng 1995,   tr 550
(3)Phan Bội Châu. Về một số vấn đề văn hóa  xã hội chính trị NXB Thuận Hóa  2000
tr119-120
(4) Những tác phẩm của Phan Bội Châu, tập I Việt nam vong quốc sử. Việt nam quốc sử khảo NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1982
(5)  Sách đã dẫn, tr .224
(6)Sách đã dẫn, tr227-228




Bài đã in Văn hóa Nghệ An
Số ra 12-2007




Tuesday, April 19, 2011

Chuyện lan man từ những chiếc xe gắn máy

  Nhân đọc Tuổi trẻ 19-4, thấy trang nhất có mục 
Mở đợt vận động người dân đi xe buýt 



Hà nội xưa




 Có những lúc trong đầu óc người ta nẩy sinh ra một vài ý nghĩ chính mình cũng không ngờ, lại thấy như là kỳ cục, không hiểu sao nó lại tìm tới mình để rồi mọc rễ trong đầu, muốn gạt đi cũng không nổi. Thuộc loại cái “ý nghĩ khi khỉ” đó – chữ của Nguyễn Công Hoan – xuất hiện nơi đầu óc tôi ngay trong những năm chiến tranh là một chút khó chịu với chiếc xe đạp.
     Hồi đó Hà Nội nghèo lắm, nhìn ra đường chỉ thấy xe đạp, và cái món tự hành xa này lúc đó cũng còn ít, mỗi con phố hẹp Hà Nội lưa thưa vài chiếc.
     Với một thanh niên mới vào đời như một số bạn bè tôi lúc đó, việc mua được một chiếc xe là một sự kiện lớn. Tôi như biết bay trong con ngựa sắt của mình.
    Vậy mà đôi lúc, tự nhiên thấy nó kỳ cục, ý tưởng sao mà lạ vậy …
    Cho đến lần tôi được đọc truyện ngắn Người trong bao của nhà văn Nga A.Tchekhov. Trong truyện có cái cảnh hai người giáo viên, một nam một nữ, mặt đỏ gay, cưỡi xe đạp phóng qua một ngọn đồi vùng quê, lại còn trò chuyện với nhau ầm ỹ. Trong con mắt nhân vật chính Belikov, cái cảnh ấy kỳ quái tới mức không thể tưởng tượng nổi. Hắn bảo với một người  khác:” Cái gì lạ thế? Hay là tôi lóa mắt? Chẳng lẽ giáo viên trung học và đàn bà con gái lại có thể cưỡi xe đạp sao tiện? “
    À ra thế, không phải riêng mình mà hóa ra nhiều người đã thấy buồn cười khi nhìn vào một xã hội mỗi người nhông nhông một chiếc xe đạp, tôi tự nhủ. Chẳng qua không còn có cách nào nên đành chịu.



...và hà nội ngày nay
    Thì bây giờ lại đến xe gắn máy ! 
    Vài chục năm gần đây, cái phương tiện này đã dính vào con người xứ mình. Sự có mặt của nó gây nên một khí hậu sống. Có lúc tôi muốn gọi nước mình là “xe máy quốc “.
     Nhìn vào nhiều gia đình Hà Nội thấy nó chình ình ngay đầu giường. Mở mắt ra là thấy có tiếng xe rú ga trong ngõ. Mỗi buổi sớm có dịp nhìn lên cầu Chương Dương, tôi phát ngán vì lớp lớp xe ken đặc và khói xả khét lẹt.
      Và đáng sợ nhất là những nét mặt người ngồi xe, người nào mặt mũi cũng hằm hằm khó chịu, con mắt chăm chăm tìm chỗ hở để luồn lách đi tới.
      Nhiều lần chứng kiến một đám thanh niên châu đầu xe máy tán chuyện giữa đường, tôi cảm thấy như các chiến binh thời xưa mỗi người một ngựa sẵn sàng ra roi phi thẳng vào vùng chiến địa.
       -- Ngồi lên xe tự nhiên là cái ngông nghênh trong con người mình nổi dậy, muốn vượt lên thật nhanh, muốn cả thiên hạ phải nhìn theo khâm phục. Khoái lắm chứ !
        Một thanh niên đã giải thích cho tôi như vậy. Nó là tâm sự của cả mấy thế hệ từ chỗ chỉ có cái xe đạp kẽo kẹt, nay có trong tay một phương tiện cơ giới sản xuất từ các nước phát triển. Ta có ảo tưởng là ta đã trở thành con người hiện đại.
     Có biết đâu tình trạng cả triệu chiếc xe cùng rồ máy bóp còi chen lấn chỉ tố cáo một tình trạng xã hội cổ lỗ, manh mún, mới dừng lại nửa vời trên đường hiện đại.
     Những ngày Hà Nội mưa rầm rả rích, trời đất tôi tối mờ mờ, từ sở trở về, nhìn hàng xe ken chặt các con phố hẹp trong tiếng loa phường văng vẳng, người hay mủi lòng cảm thấy một không khí thực sự trung cổ.
      Thêm một chuyện nữa khiến tôi càng không dứt bỏ nổi sự khó chịu nói trên. Mấy chuyến du lịch bụi cho tôi tận mắt thấy bên Trung quốc, sự lưu thông xe  gắn máy ở các thành phố lớn hạn chế đến mức tối thiểu. Họ bảo loại xe này chỉ làm loạn thành phố. Làm ăn kinh tế ở họ rộn rã nhưng trong trật tự. Ai cần dùng phương tiện cơ giới, xin mời đi xe bus. Ai thích riêng tư, trước khi sắm cái ô tô của mình, hãy cứ bằng lòng với cái xe đạp. Các đường phố vận hành như một cỗ máy khổng lồ. Con người hiện ra với vẻ đẹp của sự bình thản tự tin.
    Làm sao để có ngày dân ta thoát khỏi chiếc xe gắn máy bây giờ ? Một câu hỏi như thế đến với tôi từ mấy năm nay và càng ngày càng cảm thấy không có lời giải đáp.
     Thoát khỏi xe máy với nghĩa tổ chức lại mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. Để sự giao lưu thông thoáng. Mà cũng để mang lại những quân bình trong tâm lý con người. Mỗi cá nhân sẽ không loay hoay cạnh tranh với người đi bên cạnh mình. Ta biết phối hợp với người khác để làm việc. Và cả xã hội sẽ nhịp nhàng vận động về phía trước.
     Vừa nghĩ tới, đã thấy xa xôi lắm, cái sự giải thoát đó! Nỗi buồn phiền ngán ngẩm với ngày hôm nay lặp đi lặp lại hóa nhàm, sự sùng bái hiện tại đang là phương thuốc làm dịu lòng người, ai hơi đâu mà trăn trở về cái chuỵện vặt là chiếc xe  gắn máy?
    Trong lúc nghĩ ngợi lẩn mẩn nhìn sang Trung Hoa, tâm trí tôi lại còn nẩy ra một câu hỏi khác:
    -- Cũng xuất phát từ những thành phố ken đặc xe đạp như ta, sao họ lại sớm có cái quyết định thông minh như vậy?
    May quá lần này tôi không bí nữa. Câu trả lời cho tôi đã nằm sẵn trong cuốn 100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung quốc ( Nguyễn Văn Dương dịch, 2002) phần viết về Triệu Ung.
     Ông này là vua một nước nhỏ thời Chiến quốc, chủ trương nhiều cải cách, trong đó có lối ăn mặc.
     Nguyên là trước đó, dân Triệu cũng như dân Hoa Hạ nói chung sống theo một nhịp thong thả chậm chạp. Họ mặc lối cổ, áo dài tay, thân rộng thùng thình và đề lên thành lễ nghi. Ăn mặc như thế để cưỡi ngựa bắn cung thật hết sức bất tiện. Trong khi đó quân Hồ -- một dân tộc thiểu số phía bắc—quần chẽn, áo ngắn, ôm chặt lấy người. Y phục gọn gàng, nên có trở nên thiện chiến cũng không phải lạ.
      Sau khi khảo sát kỹ càng, Triệu Ung buộc từ người lính ngoài chiến trường tới văn võ bá quan trong triều, phải thay đổi phục trang ăn mặc theo kiểu người Hồ.
     Nên biết là trong trường hợp này, người cải cách chịu áp lực lớn từ chung quanh. Có người nói “Mặc y phục phương xa, làm mất nền giáo hóa cổ, làm thay đổi đạo lý”. Theo họ, phong tục xưa đã vậy, nay không có quyền thay đổi. Triệu Ung đáp lại: “ Vì lợi ích của đất nước, bất tất phải theo phép xưa”.  Và trong bàn tay nhào nặn của ông, nước Triệu trở nên một xứ sở khác.
     Mẩu chuyện trên thường trở đi trở lại trong tâm trí tôi bởi lẽ nó cho thấy sự đồng bộ của đời sống. Một thời đại thường được đánh dấu bằng những tư tưởng mà người ta phát biểu, bằng những phát minh sáng kiến lớn lao. Nhưng chính  những chuyện tưởng là nhỏ nhặt như ăn mặc đi lại, cùng là nhu cầu thay đổi tìm ra cái tối ưu trong những phương thức sinh hoạt, cũng là một thứ chỉ số nó cho thấy người ta đang ở chặng đường nào của lịch sử.
    Danh nhân một nước thường được hiểu là các nhà hoạt động chính trị quân sự, các nhà triết học, nhà tư tưởng, văn gia, thi gia… Nhưng  trong cuốn 100 danh nhân  có  ảnh hưởng đến lịch sử Trung quốc nói ở đây, bên cạnh những cái tên như Tần Thủy Hoàng, Khang Hy, Càn Long, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lỗ Tấn… tôi đọc thấy có một vài trường hợp lạ như Công Thâu Ban,  tổ sư nghề mộc và nghề xây dựng, hoặc Hoàng Đạo Bà là người có công cách tân hệ thống công cụ dệt vải, nâng cao kỹ thuật dệt.
     Và tôi đọc thấy trường hợp Triệu Ung. Các nhà sử học sau này ghi tên ông  vào lịch sử như một người mang lại biến đổi đánh dấu một thời đại, do đó đáng gọi là vĩ nhân.
    Tôi không ghi được xuất xứ, nhưng nhớ có một bài báo đã viết rằng một trong những phát minh lớn nhất của nhân lọai hiện đại là phát minh ra cái hố xí tự hoại.
    Người Trung Hoa cũng có lối nghĩ thiết thực tương tự.
    Còn ở ta thì sao? Các đầu óc ưu tú của nước ta thường chỉ tập trung vào đánh giặc và làm thơ. Từ xưa đến nay, bao thời đã vậy. Nói một chuyện nhỏ: có lẽ trừ vài nghề đặc biệt như nghề dệt, còn ở các làng thủ công Việt Nam, người ta thường bày ngay đồ nghề trên nền nhà, và ngồi trên những chiếc ghế lè tè sát mặt đất mà hành nghề. Bao nhiêu nước chảy qua cầu, chưa thấy ai nghĩ chuyện thay đổi.   


  Lần đầu in trên TBKTSG
   số Xuân Canh Dần


Wednesday, April 13, 2011

Nhật ký 2011 ( tuần XII—XIV )

Trong cuốn Hỗn độn & hài hòa (tác giả Trịnh Xuân Thuận; bản tiếng Việt do Phạm Văn Thiều và Nguyễn Thanh Dương dịch -- nxb Khoa học kỹ  thuật  2003) ở tr 180, tôi đọc thấy một đoạn nói về một hạt kỳ lạ, được Wolfgang Pauli phát hiện ra và sau này được đặt tên là nơtrino.

     Nó không có khối lượng. Cũng không có điện tích, lại chuyển động với tốc độ ánh sáng.
     Vì lẽ đó, nó chỉ tương tác với những lực hạt nhân yếu. Còn lực hấp dẫn,  điện từ và hạt nhân mạnh không hề tác động tới nó.
     Do đó,  các hạt này ít có dịp bộc lộ. Tựa như một hồn ma—tác giả viết tiếp –   chúng kín đáo lướt đi trong một màn đêm dày đặc, nên trước đó các hạt mới này không thể nắm bắt được.”
    Ở đoạn dưới, tác giả cho biết nơtrino còn có mấy đặc tính.
     Một là rất nhiều.
     Hai là sức sống rất mãnh liệt. Một lượng khổng lồ các nơtrino sinh ra trong  những giây đầu tiên của vụ nổ nguyên thủy đến nay vẫn tồn tại.
     Mà tồn tại cách nào? Đặc tính thứ ba: Chúng lang thang trong vũ trụ và có mặt ở khắp nơi.
      Đây là câu nguyên văn của tác giả” Vào lúc mà bạn đang đọc những dòng chữ này, hàng trăm tỷ nơtrino sinh ra ngay từ buổi khai thiên lập địa vẫn đang đi xuyên qua cơ thể của bạn mỗi giây… “
     Tôi nghĩ đến những hồn người bé nhỏ tham gia vào cả quá trình lịch sử mấy chục thế kỷ nay để rồi thành tạo nên cuộc sống chúng ta hôm nay. Không phải chỉ có biết ơn mà cái tình cảm của chúng ta, với những hồn ma làm nên quá khứ ấy, chắc chắn phức tạp hơn nhiều. Hiểu biết về chúng một cách tường tận là một trong những bước đi cần thiết trên đường ta hiểu về ta ở mọi thời điểm.


27-3

   TIẾP TỤC  CÂU CHUYỆN  SỰ CÓ MẶT CỦA NHỮNG NGÀY XƯA
     Cái quan trọng thì mất. Cái đáng còn thì không còn. Cái đáng thay đổi thì giữ nguyên.
    Tôi thực không ngờ người viết câu Hôm nay 8-3 – Tôi giặt hộ bà cái áo của tôi cũng là nhà thơ. Thế thì trên đất nước này có ai không phải nhà thơ!
     Nhìn việc cầu cúng của những người đi lễ hội nhiều năm nay, người ta hiểu thêm tư duy của người mình, ví dụ dân buôn thì cầu buôn may bán đắt, còn quan chức thì đổ đi nhận những đặc sản của lễ khai ấn để còn toan tính thăng quan tiến chức.
      Một mặt quan cũng từ dân mà ra chứ  đâu có phải trên trời rơi xuống.
      Măt khác, phải nhận nhập được vào ngạch quan, tức đã thành một thứ cá vượt vũ môn. Ở phương diện nào cũng được, nhưng nhất thiết họ phải là những tinh hoa của dân chúng.
       Tôi hiểu thêm điều đó, cái sự hơn người của quan chức, qua chuyện ông H. đi cầu cúng. 
        Ông này thường mầy mò đi lễ riêng chứ không đợi đến các lễ hội chen  chúc. Nghe kể là có một năm, ông bắt vợ ông gánh đồ lễ ( vàng mã)  lên cả núi Tản và yêu cầu vợ chỉ khấn cho mình ngôi ghế vững vàng, tóm lại là chỉ cầu chữ lộc thôi chứ không cầu thêm gì cả.
      Ông giải thích thêm. Có lộc là sẽ có tất cả, có phúc cho cả mình và dòng họ, mà cũng có luôn chữ thọ, tức có sức khỏe.
       Đúng đến thế thì ai còn cãi nổi!


MỘT NHÂN VẬT HẬU HIỆN ĐẠI
      Theo dõi các nhân vật trong vở kịch Libya hiện nay, nhớ  nhiều chi tiết  thú vị. Nào là cái vô chiêu trong chính trị  -- Gadaffi không nhận một chức vụ cụ thể nào cả, mà chỉ thích được gọi là đại tá. Nào là lối núp bóng đại chúng, cái gì cũng dẫn đại chúng. Hồi phương Tây chưa can thiệp, chung quanh nhiều cứ điểm phòng ngự, ông ta cho dân lên, dân ca hát… Nhiều khi tôi cứ muốn kêu lên Gadaffi sao mà ông hiện đại thế, hiện đại của những năm cuối thế kỷ XX này tức là hậu hiện đại.
    Trong chưởng Kim Dung từng có nhiều nhân vật luyện công theo lối dùng vô chiêu thắng hữu chiêu.


29-3
  ĐÂU DỄ  HIỂU NGƯỜI
    Khâm phục người Nhật trong việc đứng vững trước tai họa, nhưng  có vẻ như những lời giải thích tại sao người Nhật có khả năng đó còn đang bất cập.
     


 Y PHỤC BẤT XỨNG KỲ ĐỨC
  Ngôn ngữ báo chí của chúng ta đang bùng nổ theo nhiều nghĩa khác nhau của cùng một tình trạng mâu thuẫn: sự xuất hiện của những từ nước ngoài xa lạ  ---biểu hiện của tâm lý học đòi, máu làm sang--đi kèm với một lối nói thiên về phong cách khẩu ngữ ở khía cạnh tầm thường của nó.
     Nhưng trước tiên là hiện tượng lắm lời, lối làm dáng, sự phát ngôn ào ào của những người không thuộc nghĩa của nhiều từ chính mình đang nói.   
      Mỗi lần nghe vậy tôi lại nhớ một đoạn mà Nam Cao đã viết từ hồi 1948 , kể về những người dân của một làng quê Bắc Bộ, lúc nào cũng cảnh giác đánh địch, lúc nào bàn chuyện công tác và nhất là trong lời lẽ lúc nào cũng những từ ngữ mới nhập khẩu
       “Viết chữ quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên. mở miệng ra  thấy đề nghị  yêu cầu  phê bình cảnh cáo, thực dân phát xít phản động xã hội chủ nghĩa  dân chủ với lại cả tân dân chủ nữa.”
       Bảo rằng mọi chuyện đóng đinh như hôm qua thì là không có thiện chí rồi. Nhưng liệu có ai dám bảo rằng cái tinh thần mà Nam Cao miêu tả ấy không còn chi phối xã hội. Hay là chúng ta lại đang chứng kiến những “đa bội” của nó.
     Còn nhớ hồi trước 1975 một người bạn của bọn tôi đã buột miệng thốt ra một sự so sánh: Dân mình nhiều khi nói chính trị như nói tục. Sau đó anh giải thích thêm, người nói trong trường hợp này thì rất thản nhiên, vì đã quá chai sạn với cái vỏ ngôn từ quen tai hàng ngày, còn người nghe thì cứ thấy xấu hổ vì lúc đó ngôn ngữ với họ vẫn còn tính chất nguyên bản tức cái nghĩa thực của nó. 
       Còn nhớ lúc ấy nhiều người chúng tôi e ngại không muốn mình phải nghĩ tiếp, do đó yêu cầu ngay là người bạn kia đừng nói thêm nữa.
       Nhưng trong đầu, bọn tôi đều thoáng qua cái cảm giác hơi sờ sợ , không chừng đúng là như vậy.




 5-4
    AI ĐÁNG KHEN?
    Hơn ba năm qua, việc điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam gần như thay đổi liên tục và theo các chiều hướng trái ngược”. Đó là nhận xét được nêu trong bài Ổn định không đến từ điều hành theo cách xử lý tình huống TBKTSG 1-4.
     Và báo dẫn lại một khái quát của đại biểu Nguyễn Bá Truyền: “Chúng ta cứ tạo ra khuyết điểm, song khắc phục khuyết điểm lại báo cáo thành tích”
      Có một truyện ngắn tôi đọc được từ những năm trước 1975, có liên quan tới tinh thần cái việc vừa nói. Truyện biểu dương một chiến sĩ thông tin, trong lúc đi tác nghiệp, chợt nhận ra cả đường dây đứt mà lại thiếu một đoạn dây sơ cua để nối tạm.
      Gặp tình huống cấp trên cần truyền một lệnh gấp, anh chiến sĩ nọ tự lấy thân mình làm trung gian nối cho thông tin thông suốt.
        Không biết về mặt kỹ thuật có đúng thế không, nhưng cái đích ở đây không ai nhầm: đó là ca ngợi người có sáng kiến, và nhất là người dám lấy thân mình ra làm công cụ để thực hiện nhiệm vụ.
       Nhưng tôi nhớ là một vài năm sau đã có một bạn trẻ diện tuổi đang ngồi trên ghế nhà trường, nhận xét: Chắc chắn là trong lúc đó bao nhiêu đồng đội của anh chiến sĩ nọ vẫn bảo đảm thông tin thông suốt, nhưng vì không ai quên đoạn dây sơ cua, không cần có sáng kiến, nên không được biểu dương, không ai biết tới họ.
       Thế thì ai đáng quan tâm hơn đáng ca ngợi hơn?


6-4
 XÂY DỰNG CHƯA XONG ĐÃ DỠ BỎ  
    Báo Thừa Thiên - Huế: Sông Hương ngập “rác vàng mã” sau lễ hội lễ hội điện Hòn Chén diễn ra vào ngày 5/4 (mùng 3 tháng ba âm lịch)
        Việc này không những gây ô nhiễm cho dòng Hương mà còn làm mất đi hình ảnh linh thiêng của lễ hội điện Hòn Chén.
      Nghịch lý, theo tôi, là ở chỗ: Trong lúc chúng ta đi tìm thêm sự thiêng liêng thì cũng là lúc chúng ta lại gỡ bỏ những gì làm nên sự thiêng liêng ta đã tích lũy về nó từ trước.


 9-4
 THEO QUY LUẬT CỦA NI LÔNG
     Sáng 5/4, hàng trăm người dân nhốn nháo khi chứng kiến cảnh ngôi nhà 5 tầng trong ngõ 91 Nguyễn Chí Thanh (Hà Nội) bị nghiêng và có nguy cơ sập
Trước đó đã có ngôi nhà đường Huỳnh Thúc Kháng nằm sóng soài trên đất .
     Lại có tin nhiều nhà ở phường Cống Vị cũng nghiêng tức có nguy cơ …
     Giống như chuyện sập cầu, chuyện tai nạn giao thông, chuyện nói ngọng,     chuyện gian dâm, chuyện hết chỗ đổ rác…loại tin tức đó làm nên cái mùi vị riêng tức sự hấp dẫn riêng của báo chí hiện nay.
 

Tin trên ThienNhien.Net 23-3 – Giá cọc tre tăng cao khiến một số hộ dân sống dọc tả ngạn sông Thương thuộc xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tự ý chặt phá lũy tre chắn sóng vốn được trồng để bảo vệ tuyến đê xung yếu. Nguy hiểm hơn, nhiều bụi còn bị đốt trụi phần gốc nên khó có khả năng mọc trở lại.

 Sau đó ở mục tin nổi bật

  1. Châu Á cần ngăn chặn nạn chặt phá rừng hàng loạt


  2. Hậu Giang: Nhà máy đường xả nước, cá chết hàng loạt


  3. Long An: Bắt hàng loạt xe bồn chở chất thải xả ra sông


  4. Sông Trà Khúc bị “đầu độc”: Cá chết hàng loạt


  5. Hà Nội: Cá dọn bể chết hàng loạt trên sông Nhuệ


  6. Tôm chết hàng loạt ở Đồng bằng sông Cửu Long


  7. Nghệ An: Cá chết hàng loạt trên sông Lam


  8. Cá chết hàng loạt trên sông Đồng Nai


  9. Hàng loạt doanh nghiệp gây ô nhiễm sông Thị Vải tạm thời phải đóng cửa


  10. Hàng hóa “Made in China” điêu đứng sau hàng loạt bê bối

  VTN: Cái  đáng lưu ý trong các tin trên là sự lặp lại của chữ hàng loạt












    Ngay từ trước 1975, khi ở Hà Nội, nilon còn là thứ hàng hiếm, quần áo may bằng vải pha nilon được coi là mốt, tôi đã được nghe một đồng nghiệp --- nếu tôi nhớ không nhầm thì chính là anh Vũ Quần Phương --- chia sẻ một nhận xét:
-- Cậu phải biết nilon là thứ bền đấy, nhưng đến kỳ đến hạn, một cái áo không chỉ rách riêng một chỗ nào, mà đã rách là nứt tung ra một lượt cả gấu lẫn cổ, cả thân lẫn tay...
    Một bài học để tôi hiểu một đặc điểm cốt lõi của xã hội hiện đại!

Tuesday, April 12, 2011

Công việc của Phan Bội Châu lúc về già

 Bằng vào những tài liệu ghi trong các tập lịch sử văn học cũng như trong các sách giáo khoa dạy văn dạy sử từ phổ thông đến đại học, lâu nay Phan Bội Châu (1867-1940) đã được biết tới như một trong những nhà văn lớn nhất nửa đầu thế kỷ XX.





Nhưng nhìn cho kỹ thì thấy trước đây, Phan Bội Châu được nhắc nhở chủ yếu như một ngòi bút có mãnh lực đặc biệt trong việc khơi gọi lòng yêu nước và thúc giục đồng bào ta đấu tranh. Những gì ông viết ra trước khi bị bắt (1925) được hết sức trân trọng, còn những sáng tác của ông khi đã bị giam lỏng ở Huế chỉ được kể tới một cách chểnh mảng. Điều có vẻ ngẫu nhiên đó thực ra nằm trong quan niệm về văn học một thời: Môt là đánh giá văn thơ qua tác động trực tiếp của nó với người đương thời và hai là gắn văn chương với thành công trước mắt mà quên rằng nhiều khi ngay trong thất bại, vẫn có thể nảy sinh những tác phẩm có giá trị thực thụ.





Trong dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất của Phan Bội Châu (29-10-1940 – 29-10-1990), nhà nghiên cứu Chương Thâu, được sự ủng hộ của Nhà xuất bản Thuận Hoá cho in liền một lúc mười tập Phan Bội Châu toàn tập. Đồng thời với việc gợi ra ý niệm về khối lượng sáng tác đồ sộ của Phan Bội Châu, bộ sách còn làm được một việc lớn lao là đính chính lại hình ảnh Phan Bội Châu trong chúng ta nữa.





Ngay cách bố cục của bộ sách đã nói lên điều đó. Ba tập đầu được dành cho sáng tác của Phan Bội Châu từ 1925 về trước. Còn những gì ông viết 15 năm cuối đời được dành hẳn cả bảy tập cuối. Vả chăng, vấn đề không phải chỉ là số lượng. Vấn đề còn là trong bảy tập cuối này, có chứa hai công trình nghiên cứu lớn của Phan Bội Châu. Một về Chu dịch. Một về đạo Khổng. Trước khi hoạt động cách mạng, Phan tiên sinh đã có một căn cốt tri thức vững vàng. Nhờ thế, lúc đã về già, trong cảnh cá chậu chim lồng, ông vẫn tìm được việc để làm và sự thực là đã có những công trình hữu ích! Trước mắt chúng ta Phan Bội Châu hiện lên không chỉ như một ngòi bút có sức cổ động mạnh mẽ, mà còn là một nhà nghiên cứu sâu sắc đủ sức viết nên những tác phẩm đánh dấu trình độ tri thức một thời.





Ngoài việc giới thiệu Chu dịch quốc âm dẫn giảiKhổng học đăng, Phan Bội Châu toàn tập còn dành cả một tập để giới thiệu văn xuôi tự truyện của tác giả và đây cũng cần coi là một đóng góp nữa của bộ sách. Bởi lẽ, như chúng ta biết phần sáng tác này của Phan Bội Châu cũng thường bị lãng quên một cách oan uổng.

Trên danh nghĩa ai cũng bảo Phan Bội Châu niên biểu là tác phẩm quan trọng bậc nhất của Phan tiên sinh. Nhưng không kể lần trích in một phần ở Huế 1946, thì đến nay cuốn hồi ký đó của ông chỉ được in thành sách riêng hai lần, một lần vào năm 1955, một lần vào 1957 rồi không thấy được in lại nữa, kể cả trong một số bộ tuyển. Vậy nên, riêng việc tiếp xúc với một tác phẩm nay đã trở thành ấn bản hiếm ấy cũng đã hứa hẹn nhiều thú vị với những ai sẽ đọc Phan Bội Châu toàn tập. Và người ta lại sẽ hào hứng hơn nếu biết rằng cuốn Niên biểu ấy là một thứ hồi ký mẫu mực. ở đó tác giả không định kể công, không tự tô vẽ, không muốn biến mình thành thánh, ở dó, ông chỉ mong người sau trông vào vết xe đổ của mình để tránh thất bại. Xưa nay cái yếu tố tự phán ấy (như một tựa đề vẫn được truyền tụng để gọi Phan Bội Châu niên biểu) thường vẫn là tinh thần chính toát ra từ các cuốn hồi ký tài ba của các nhà văn, đồng thời là những trí thức chân chính.



 Trong Chuyện cũ văn chương

Saturday, April 9, 2011

Hỗn loạn trong giao thông, hỗn loạn trong tâm lý

- Liệu có thể nói rằng, hàng ngày, phóng xe đi lại trên đường Hà Nội, anh chưa một lần vượt đèn đỏ trái phép? Anh đừng chối, đúng là không chứ gì? Mượn cái chữ của các cơ quan quản lý, vậy là có những lúc anh đã thiếu ý thức. Có bao giờ anh thử giải thích với chính mình tại sao cái gọi là ý thức giao thông khó bồi dưỡng đến vậy?

Một anh bạn đã độp vào mặt tôi mà tương ra những câu hỏi hắc búa trên, đúng vào những ngày giao thông đang trở thành câu chuyện đầu miệng giữa mọi người.
Bởi anh đã cài trước rằng đừng có chối, nên tôi cũng phải thành thực mà nhận. Nhận rằng có đôi lúc không tự chủ được. Nhìn trước nhìn sau không có công an đứng đón là tranh thủ làm một cú ào qua đường. Chẳng qua không phải là làm thường xuyên thôi. Và phải nói ngay là nhiều lần khác, cái định ào qua đường ấy đã đến, rồi thấy có lẽ cũng hơi nguy hiểm, nên bấm bụng chờ đợi.
Tôi nghĩ rằng trước hết ở đây, nói cho to tát ra, có cái tạm gọi là "căn bệnh thời  đại" : bệnh sốt ruột. Hình như nay là lúc ai cũng vội. Hàng ngày mở mắt ra đã thấy bao nhiêu việc chờ mình. Ý nghĩ chúng ta đi quá nhanh. Mà tốc độ đi lại thì quá chậm. Đó là một lẽ. Nhưng không chỉ có vậy.
Hồi còn sống, nhà văn Phan Tứ (tức Lê Khâm) nổi tiếng máy móc. Đi đâu, ông cũng túi dết khẩu trang đàng hoàng. Nhà thơ Xuân Quỳnh dự đoán : “Ông này 12 giờ đêm, qua ngã tư vẫn giơ tay xin đường… ”. Theo tôi, cái thói quen ấy của Phan Tứ có liên quan đến cuộc sống nền nếp mà bây giờ không sao khôi phục nổi. Những năm bảy mươi của thế kỷ trước, giao thông Hà Nội còn khá quy củ.
Chắc Phan Tứ cũng có lúc khổ vì thói quen của mình, muốn sửa mà không sửa được.
Còn chúng tôi bây giờ thì khác. Cái đời sống nhộn nhạo chung quanh lúc nào cũng thầm thì vào tai tôi : “Luật lệ là một chuyện, nhưng kìa, nhìn xem, trên đường phố và ở bao nhiêu những góc tối của cái thành phố này, bao nhiêu người đang phạm luật. Mình chỉ là một thành viên bé nhỏ của cái guồng máy khổng lồ. Giữ gìn chỉ thiệt!”.
Ở trên, tôi vừa nói là có những lúc, tôi đã định ào qua đèn đỏ, rồi kịp kiềm chế, và lâu dần thành một thói quen sống bình tĩnh, từ tốn, sống biết chờ đợi.
Nhưng có những lúc lạ lắm. Rõ ràng đã tự nhủ rằng : “Không đi đâu mà vội!” rồi, mà vẫn cứ đâm đầu phạm lỗi. Nghĩ lại thì hóa ra lúc ấy có mấy người khác cũng làm cái chuyện bậy bạ đó và mình bị cái tâm lý bày đàn chi phối.
Phương Tây từng có câu chuyện ngụ ngôn kể về một anh nọ hại một nhà buôn cừu bằng một cách lừa đơn giản. Trên chuyến tàu vượt bể, anh ta gạ mua của nhà buôn chỉ một con với giá rất đắt. Để làm gì? Để quẳng nó xuống biển. Kết quả đau lòng, cả đàn cừu của gã nhà buôn cùng nhảy xuống theo.
Tôi biết rằng người ta sẽ cãi lại : “Ý thức của anh đâu?”.
Ai có cười thì tôi cũng xin  chịu, nhưng phải nhận trong con người tôi lúc ấy, có một con cừu nó thức dậy.
Người ta thích bắt chước nhau lắm. Bắt chước cái tốt thì khó chứ chạy theo cái xấu thì dễ ợt, có ai cần phải cố gắng.
Hồi Hà Nội còn xe đạp nhiều hơn xe máy, đến Thư viện Quốc gia, giới bạn đọc bọn tôi (kể cả những người già như tôi, chứ không phải chỉ các cô các cậu sinh viên) có thói quen phóng cả xe qua cái cửa hẹp. Mới đầu, mấy sinh viên nước ngoài nhìn thấy thế lắc đầu, bảo người Việt các anh lạ thật đấy, vội vội vàng vàng, trăm người như một. Vài năm sau, chính họ cũng làm thế, cũng phóng xe qua cửa rồi mới xuống xe một cách “tự nhiên như người Hà Nội”. Nói như dân gian, do ở đây lâu, họ đã ăn phải đũa người Việt lúc nào không biết.
Kết luận cuối cùng của tôi : Trong điều kiện giao thông vừa manh mún vừa quá tải, nói chung là trong điều kiện đời sống còn rất lạc hậu như hiện nay, những rủi ro là khó tránh khỏi. Nhắc nhở nhau về ý thức là cần, nhưng cũng nên biết, ở đây không phải chỉ có ý thức, mà còn phải tính tới sự có mặt một mớ bòng bong rắc rối gọi chung là tâm lý cá nhân nữa. Trong tâm lý của mỗi người đều in dấu của xã hội. Rồi ra xã hội có tiến lên thì tâm lý con người mới khá lên theo được.