Đền chùa ở các tỉnh xa thường được đặt trong một cảnh quan rộng rãi thoáng đãng nên đi dạo ở ngoài khuôn viên cũng đã là một niềm vui. Chùa Côn Sơn trong cái lần tôi đến thăm mấy năm trước lại mới được tu sửa nên khá khang trang.
Chỉ hiềm một nỗi ra về tôi cứ thấy thương cho mấy cây đại vốn rất điển hình cho các chùa chiền phương Đông được trồng ngoài sân.
Còn nhớ trong những lần ghé qua một số thắng cảnh ở Trung quốc thấy các cây cổ thụ loại quý đều có gắn một tấm biển ghi rõ cây đã bao nhiêu tuổi. Ngay ở Bách thảo Hà Nội trước năm 1954 nhiều cây cũng có biển ghi tính danh cùng niên xỉ đính ngay vào thân.
Còn trước mấy cây đại ở Côn Sơn, bọn tôi chỉ có cách đứng nhìn rồi đoán già đoán non về tuổi của chúng.
Khổ một nỗi nữa là cảnh chèn ép diễn ra trước mắt.
Không hiểu từ đâu lạc vào mà mấy thân si tầm thường có mặt ngay giữa sân chùa. Lá si xanh tốt, rễ si khô cứng lùm loà tranh cướp cả không gian sinh sống, thành thử mấy cây đại kia trở nên côi cút lạc lõng ngay trên mảnh đất vốn dành cho chúng.
Từ Côn Sơn sang đền Kiếp Bạc không xa, và ở đây chúng tôi lại xót xa vì một chuyện khác.
Vào nhiều đền chùa bây giờ người ta không khỏi bực mình vì những bức hoành phi câu đối được tu sửa. Màu sắc không phải thứ màu nền nã vẫn thấy ở các đền chùa thời xưa. Mà màu mới tô, khi thì quá xỉn, khi quá loè loẹt, không hợp với khung cảnh chung. Chữ viết lại xấu, chắc không tìm đâu ra các cụ thạo chữ Hán nên cứ viết đại cho xong, cốt có chữ vuông là được.
Đền Kiếp Bạc cũng không ra ngoài thông lệ đó. Đến như đôi voi đá đặt ở sân đền thì lại càng khiến người ta ngao ngán. Chúng trắng phếch như vừa được làm vội và thô thiển như một thứ hàng tầm tầm. Chắc do ai đó mới đặt để công đức cho đền.
Di tích là của mọi người, ai cúng vào cái gì mà chẳng thấy quý? Chắc có người sẽ hỏi thế.
Song, sách vở mà tôi từng đọc mách bảo một cách nghĩ khác. Xưa, phải thứ chữ như thế nào mới được mang khắc ở đền chùa. Cũng như đồ cung tiến nói chung phải tinh xảo sang trọng như thế nào mới được phép đặt vào những nơi tôn nghiêm.
Chỉ có tiền và mong muốn đóng góp chưa đủ, nếu không nói là không được phép.
Người xưa hay gọi những nhà có của mà kém về khiếu thẩm mỹ là mấy anh trọc phú đâu có phải oan ?
So với các công việc phải làm ở một cơ sở cơ sở văn hóa thì việc chọn trồng vài giống cây, sắp đặt vài cái ghế chỉ là một việc nhỏ. Có thể những người chủ trì trong ở hai di tích này chỉ hành động theo thói quen, nhưng thật ra đằng sau đó là cả một trình độ quản lý xã hội:
-- không tách nổi cái ưu tú khỏi cái tạp nhạp làng nhàng
--với cái thực có giá trị thì rẻ rúng chẳng coi là gì, còn với những cái tầm thường thì lại quá rộng rãi, để chúng tha hồ lấn lướt và leo lên cả những chỗ chúng không xứng đáng.
Câu chuyện như vậy là có liên quan tới một chủ đề dư luận đang bàn nhiều – câu chuyện về các tài năng và một nhu cầu cấp bách là khai thác các tài năng ấy phục vụ tối đa cho xã hội.
Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Ở rất nhiều nơi, người ta nhắc đi nhắc lại câu nói đó. Thế nhưng thực tế là như thế nào?
Xem thường. Ghen ghét. Khinh rẻ. Cần người trung thành nịnh bợ hơn người hiểu biết. Khi cần cũng có thể lợi dụng, nhưng nếu thấy có vẻ bảo không được là thẳng tay gạt bỏ…
Tạm để những cái quá đáng đó sang một bên, chỉ riêng việc đối xử bình quân, coi các tài năng thực sự với những kẻ làng nhàng loại hai loại ba, cá mè một lứa, ngang hàng như nhau -- suy cho cùng là một quan niệm nông cạn và hời hợt về thang bậc giá trị -- cũng đủ là cho các tài năng thực sự ngày một héo hon thoái hóa.
Cũng như ở các ngành khác, ngành sáng tạo văn học của chúng tôi những năm tháng này đang chịu một thử thách lớn. Người ta làm ra quá nhiều của tầm tầm mà lại không sao làm ra nổi những tác phẩm có giá trị có thể đứng vững trong thời gian và hy vọng hòa nhập vào gia tài của ông cha.
Anh A còn mới vào nghề cắt nghĩa:
-- Tôi cũng thừa biết là những bài viết của tôi giá kể được đầu tư thêm thì còn có thể khá hơn. Nhưng so với một bài làng nhàng, công sức bỏ ra để có một bài viết hay nhiều khi gấp hàng chục lần, mà thu nhập trở lại có khi chỉ được thêm có vài chục phần trăm. Vậy thì tội gì?
Anh B lâu năm trong nghề nhìn rộng ra xứ người:
-- Ở nước ngoài người ta có thể bỏ ra cả đời để viết một hai tác phẩm, nhưng nên nhớ là sau đó khi thành công chỉ với một hai tác phẩm đó họ đủ sống cả đời. Còn ở ta ai dám làm chuyện phiêu lưu đó?! Giá sử cam chịu cảnh cơm niêu nước lọ để lo viết đi nữa thì chắc gì ra đời đã được công chúng đánh giá đúng mức. Chen làm sao lại với bọn to mồm huyênh hoang và quăng tiền quảng cáo, hoặc chạy chọt với cấp trên để chiếm giải thưởng?
Điều dễ thấy nhất là một thứ chủ nghĩa bình quân đang ngự trị cả trong việc đãi ngộ lẫn quan niệm chi phối.
Mà đứng đằng sau đó là một sự thiếu hiểu biết sâu sắc về những bước tiến hóa của xã hội và vai trò của những nhân tố ưu tú trong việc thúc đẩy sự tiến hóa chung đó.
Cái ưu tú có một nhược điểm lớn. Nó rất yếu và dễ bị thương tổn. Còn cái tầm thường thì dễ nuôi dễ sống. Chẳng những thế , một khi thắng thế chúng lại tha hồ bành trướng lấn át những cái tốt đẹp và tác oai tác quái. Người xưa gọi đó là tình thế con tốt lộng hành. Trong truyện ngắn Ngôi mả cũ in trong Vang bóng một thời, nhà văn Nguyễn Tuân đã gửi vào miệng ông già một chân lý khi để ông giảng giải cho một cậu nho sinh trẻ hơn:
-- Cậu thua vì đã khinh thường con tốt biên của tôi và để nó qua hà. Rồi lại cho nó nhập được vào cung. Con tốt mà sang hà tức là đứa tiểu nhân lúc đã đắc thế. Tha hồ mà phá phách .
Lâu lắm tôi không trở lại Côn Sơn, không biết cái cảnh cây si bắt chết cây đại nay thế nào. Cũng có thể có người nào đó đã nghĩ ra cái việc đánh cây si đi nơi khác, trả không gian thanh tĩnh về cho cây đại. Nhưng có phần chắc hơn, nếu không phải là nó đã chết hẳn thì mọi chuyện vẫn y như cũ, tức nép mình mà nhẫn nhục sống, cằn cỗi mòn mỏi, trong khi thân si bên cạnh thì càng rườm rà tươi tốt. Bởi trong đời này tôi đã và đang thấy bao chuyện tương tự. Trong các lớp học phổ thông, mấy học sinh học giỏi giang chăm chỉ khổ sở vì sự ghen tị của đám bạn hỗn hào và lười biếng. Trong các cơ quan nghiên cứu khoa học, các tài năng xuất chúng bị chén ép, bị khóac lên vai đủ thứ công việc lặt vặt và chỉ được thí cho những đồng lương còm, khiến họ trước sau không khỏi bị lôi kéo vào những việc bịp bợm để kiếm tiền, tức bị tha hóa dần dần. Còn trong giới quan chức, càng ngày những kẻ tầm thường phàm tục càng thêm vênh vang, giữa thanh thiên bạch nhật mà tự do lui tới như trong chỗ không người, quát thét hành hạ dân thường, ra tay kiếm chác cho thỏa lòng tham. Trong thâm tâm, đám người này thừa hiểu rằng nay là thời của họ.
Sự tiết chế, sự điềm đạm vốn là một đặc điểm thấy rõ ở văn chương cũng như con người Thạch Lam (1910-1942).
Biết điều đó, người ta sẽ không ngạc nhiên, khi nghe ông kể rằng ông thường đón Tết một cách không mấy vồ vập, đúng hơn là đơn sơ thanh đạm. “Tết của nhà nghệ sĩ vốn giản dị… một chai rượu mùi, một gói kẹo, một gói thuốc lá, thế là đủ. Chẳng phải vì nghệ sĩ không ước ao hơn, nhưng vì nghệ sĩ vốn nghèo”
. Có điều, trong khi đứng tách riêng ra không chịu đua đả với mọi người về những tiện nghi vật chất, thì nhà văn ấy lại vẫn mở rộng lòng đón Tết, và cũng đủ hồi hộp rung động trước cảnh xuân sang.
Qua văn ông, người ta đọc ra những cảm giác thiêng liêng mà có lẽ người Việt nào cũng trải qua, cái thiêng liêng nảy sinh trước tiên do bắt gặp những vận động tự nhiên của trời đất, nhưng lại càng thiêng liêng vì được cùng với người thân sống lại những phong tục tập quán đã được cộng đồng dân tộc hình thành qua ngàn năm lịch sử.
Những chiếc bánh chưng hay là nét đẹp của phong tục
Những ai từng đọc Hà Nội băm sáu phố phường hẳn nhớ những tinh tế của ngòi bút nhà văn trong việc ghi lại các món ẩm thực hình thành của người dân thường Hà Nội. Trong khi quan sát mọi người chuẩn bị đón Tết, Thạch Lam cũng không quên nhắc lại những phong tục có tự ngàn đời, như việc gói bánh chưng chẳng hạn.
“Ồ, chiếc bánh chưng vuông vắn và đầy đặn, màu xanh như mạ non, gạo nhiễn ra như bông tuyết và giữ trong lòng bao nhiêu quý báu của miếng ngon: lượt đậu mịn và vàng đậm, những miếng mỡ trong như hổ phách, những miếng nạc mềm lấm tấm hạt tiêu. Và thoang thoảng một một chút mùi cà cuống, gắt như cô gái chua, sắc như mũi kim lạnh ”.
Trong những đoạn văn như thế, người ta không chỉ thấy sự thành thạo trong chuyện ăn uống, mà còn bắt gặp sự nhạy cảm riêng của tác giả trước cái quan niệm hàm chứa đằng sau các món ăn: Với người Hà Nội thanh lịch, mọi chuyện không được phép qua loa lấy lệ, hoặc xô bồ tuỳ tiện thế nào cũng được, mà phải kỹ lưỡng thận trọng, tuân theo những luật lệ nghiêm khắc và chắc chắn, bao giờ cũng gửi vào đấy một ý niệm về vẻ đẹp.
Từ đấy, toát ra cái tinh thần của một nền văn hoá độc đáo mà theo tác giả, nếu không bảo nhau giữ gìn, ta sẽ đánh mất.
Phố xá với những sắc màu đa dạng
Sau khi tự nhận rằng chỉ chuẩn bị cho Tết ở mức tối thiểu, Thạch Lam kể:
“Thế rồi hai tay bỏ trong túi áo - và cầu trời cho thời tiết hơi rét và hơi mưa bụi, tôi lẫn trong đám đông xuôi ngược trên hai bên hè phố”. Nói cách khác, niềm vui của ông là được đi ngắm cảnh thiên hạ đón Tết. Trong tầm nhìn của ông, có cây cảnh phố xá, lại có đủ loại mặt người. Trầm lặng và như muốn lẫn đi giữa chung quanh, song con người ông vẫn có sức bao dung rất lớn.
Qua những truyện ngắn như Cô hàng xén, ta biết rằng Thạch Lam rất hay nói tới sự nhẫn nại, sự hy sinh. Thì ngay khi đi trên đường phố nhộn nhịp, ông cũng không quên điều đó.
“Các thiếu nữ trong ngày sắm Tết có rất nhiều vẻ đáng yêu. Đi đâu mà vội vàng thế? Về chậm sợ mẹ mắng hay sao? áo quần không kịp trang điểm, mái tóc không kịp vuốt ve, cho nên có một vẻ lơ đễnh, một vẻ xuềnh xoàng khả ái! Giờ này là giờ các cô đảm đang, đi mua đi bán, đem cái vui vẻ cho em trai và mẹ già, các cô hết lòng lắm. Chen lấn vào đàm đông, không sợ bị chèn ép xô đẩy. Đi guốc cao cho khỏi lấm gấu quần. Và nhất là tự nhiên và dung dị”.
Với tư cách tác giả Nhà mẹ Lê, Gió lạnh đầu mùa, Thạch Lam dành ít dòng để nói về Tết của người nghèo:
“…ở ngoài bãi sông, Tết lại có một vẻ riêng đặc biệt. Trông đứa bé đội mũ bông, áo mới dài và rộng, đeo chiếc khánh mạ vàng, nhặt ngòi pháo đốt, thấy cả cái Tết ái ngại và nho nhỏ của cả một vùng”.
Và đây nữa, một nét Tết Hà Nội, dưới con mắt Thạch Lam:
“Đêm 29 Tết, vào giờ trước giao thừa… có ai lên trước chợ Đồng Xuân, để nhìn những cái gì còn lại, những cái gì bị khinh bỉ từ chiều? Những cành đào xấu xí, ít hoa; những bát thuỷ tiên tơi tả, đã chuyền tay hết người này sang người khác mà không được ai mua, những chậu cây cúc và thược dược rã rời và lấm đất. Dưới mưa bụi, bùn đã vấy lên trên những cành đào, mai rải rác trên đường, bao nhiêu bàn chân dày xéo (…). Để trang điểm cho những căn buồng tiều tuỵ, những căn nhà lá nghèo nàn ở các ngoại ô đối với nhiều người, tuy xấu xí tơi tả mặc dầu, những thứ ấy cũng vẫn là biểu hiện của ước mong, của trông đợi”.
Một nét thần thái
Rồi bao nhiêu chuẩn bị đã xong, điều mọi người háo hức chờ đợi, mùng một, mùng hai, những ngày Tết thực thụ đã tới với bức tranh thiên nhiên thoảng qua một chút xao động lẫn những cảnh tượng sinh hoạt như ngàn đời vẫn vậy: Thạch Lam không nói gì khác những điều ai cũng biết, ấy vậy mà đọc ít dòng ghi chép của ông, người ta vẫn cảm thấy như tất cả vừa được nhận ra lần đầu.
“Qua bãi cát rộng, con sông ngày Tết từ từ trôi mấy bông hoa nát không biết ở đâu về. Đây Tết rải rải khắp ven bờ. Một cái bến vài con thuyền đỗ, thế là cũng có khói hương cũng có hoa đào và xác pháo (…)
Ngoài trời lại mưa bụi. Xuân có vẻ đè nén, bao bọc và dằng dai:
Ngõ trúc lùn tùn tun ngọn trúc
Mưa xuân lún phún lụn ngày xuân.
Không hiểu tại sao hai câu thơ không nhớ của ai ấy thật đúng cái cảm giác tôi có lúc mùa xuân”.
Câu chuyện về những ngày Tết dưới con mắt Thạch Lam tới đây đã có thể dừng lại. Song có một điều người đọc không khỏi vương vấn:
Hình như nhân nói về một ngày lễ cổ truyền, Thạch Lam vừa động chạm tới một cái gì lớn hơn thuộc về thần thái của sinh hoạt cộng đồng, nghĩa là những yếu tố trường tồn trong thời gian. Và ai cũng muốn thử cắt nghĩa tại sao đến nay nhiều người còn rất thích văn Thạch Lam, có lẽ phần nào tìm được câu giải đáp: Lớn lên trong cảnh đất nước bị thực dân thống trị, song lại tiếp nhận được một cách nhuần nhị nền văn hoá Pháp, Thạch Lam (cũng như nhiều đồng nghiệp đương thời) đã biết hướng toàn bộ tâm tình vào việc yêu mến, tìm hiểu, khám phá cốt cách dân tộc. Mà cái cách trở về với dân tộc của Thạch Lam thì chân thành và cảm động. ở đây mọi tình cảm không ồn ào song lại rất thấm thía, càng hiểu cái nghèo túng chật vật của hoàn cảnh người ta cảm thấy nặng lòng với đất nước đã nuôi nấng mình lớn lên. Đó là cách nhìn, là tấm lòng của những trí thức chân chính.
Đã in trong Chuyện cũ văn chương dưới nhan đề
Những ngày tết dưới con mắt một người Hà Nội lịch lãm
Sau đây là một bài viết của Thạch Lam
trên Ngày Nay số xuân 1940
Nghệ thuật ăn Tết
Hưởng, đấy là khôn ngoan; khiến hưởng, đấy là đức hạnh
(Cách ngôn Ảrập)
Ngày Tết, đối với nhiều người, chỉ có thú vị khi nào nghĩ lại - Người ta thường hay cùng nhau nhắc tới những Tết năm ngoái, năm xưa với một vẻ mến tiếc âu yếm, lẫn với đôi chút ngậm ngùi. Nhất những Tết ngày còn nhỏ… Lúc ấy, cùng với những nỗi vui ngày Tết đã qua, còn vướng niềm thương tiếc tuổi niên hoa, cái tuổi mà người ta nhận là “vô tư lự”, ngây thơ và sung sướng.
Nhưng nỗi nhớ tiếc ấy chẳng ích lợi gì, mà lại ngăn chúng ta không toàn hưởng được thời khắc hiện giờ. Đậm đà, mạnh mẽ hơn bao nhiêu là sự hưởng thụ ngay hiện tại, thêm vào cái thú hưởng những giờ vui, cái thú vô song của sự mình biết mình đương hưởng.
Ngày còn ít tuổi, tôi không hiểu biết được cái thú uống trà. Chén trà thơm lúc đó như sao bằng được những mộng đẹp tôi đang mơ tưởng trong lòng. Bây giờ tôi đã có biết rồi - và thỉnh thoảng một buổi sớm hay trưa, nâng chén trà lên để nhìn qua hương khói. Hưởng hương vị chén trà thì ít, nhưng hưởng cái thú ở đời, và nhất là hưởng cái giờ khắc nghỉ ngơi, nhàn nhã, mà tự mình cho phép - (người ta chỉ có thể hưởng được cái khoái lạc của nghỉ ngơi, khi biết cái nghệ thuật nghỉ ngơi cũng như biết cái nghệ thuật làm việc).
Tôi hiểu là vô ích và điên dại cuộc theo đuổi mộng ảo không cùng, việc lần để ngày lại ngày hạnh phúc. Tôi hiểu rằng hoa nở sớm nay cũng tươi đẹp chẳng kém hoa nở ngày mai, thời tiết xuân nay êm dịp hơn xuân bao giờ hết, và trời trong cùng ánh nắng kia hiện giờ đã đẹp vô ngần…
Tết! Còn dịp nào trong đời ta nhiều thú vị vui tươi hơn nữa. Ngày Tết nhắc ta nhớ lại những Tết đã qua, và khuyên ta an hưởng ngay cái Tết bây giờ. Đêm giao thừa “thời gian qua nghỉ bước trên từng cao” là giờ khắc say sưa êm dịu nhất. Hưởng mùi thơm thuỷ tiên, cánh hồng hoa đào nở, hưởng làn khói trầm vấn vít đủ lên cao. Hưởng đi, trong cái khoái lạc của sáng suốt, trong cái minh mẫn của tinh thần, trong sự thư thái thảnh thơi của lòng bình tĩnh. Tiếc thương như gia vị và mong mỏi như làm ấm nóng cái thú vô cùng.
Rượu sánh trong cốc pha lê trong trộn mùi khói pháo với hương thuỷ tiên. Tiếng pháo nổ vui từ nhà nọ sang nhà kia, liên tiếp, đi mãi vào trong đêm để làm vang động bầu không khí xuân của khắp cả các gia đình. Đó là tiếng hiệu lệnh của sự thông đồng chung hưởng.
Lúc đó mỗi nhà đều uống rượu thưởng năm mới. Rồi chiếc bánh chưng đầu năm mang lên, xanh mịn trên đĩa trắng. Bánh chưng gói khéo thì vuông và chắc rắn: gạo mềm và nhiễn, nhân đậu và mỡ quánh vào nhau. Chỗ nạc thì tơi ra như bông gạo. Có nhà gói lắm nạc, nhưng nhiều mỡ vẫn ngon hơn: mỡ phần, chỗ giọi, lúc chín thì trong, và không có thớ. Bánh chưng kể mặn là phải vị. Nhưng có dăm bảy chiếc gói ngọt cũng hay. Chỉ khó làm sao cho đừng sượng, và đường với đậu phải biến với nhau mà thôi.
Tưởng lúc xén đũa đưa miếng bánh chưng lên, thoảng mùi lá dong thơm và mùi nếp cái, ăn với dưa hành trong như ngọc thạch, hoặc với củ cải đậm và ròn như pháo xuân! Đó là tất cả hương vị của cái tết Annam, ngày nay và ngày xưa.
Sáng mồng một, chúng ta uống rượu và ăn mứt. Rượu hẳn là phải rượu tây: những thứ vang cũ ngọt như Porto, nồng chua như Vermouth, hay say như Cognacq. Uống những thứ ấy thích hơn liqueurs. Nhưng sao ta không có rượu ngon của ta? Tiếc vì bây giờ cái gì của người mình cũng vụng về và giả dối. Còn đâu thứ rượu cau có tiếng ở Hoàng Mai, thứ rượu cúc nổi danh ở tỉnh Bắc? Cái hào nhoáng, cái lộng lẫy bề ngoài đã thay cái chân thực, cái cẩn thận của người xưa. Đơn sơ và cẩu thả đã cướp chỗ của tốt bền, ở tất cả những sản phẩm của nước mình.
Mứt ngày trước cũng ngon và khéo léo hơn mứt bây giờ. May gần đây, sự làm đã khá. Đã có mứt sen Cự Hương, mứt khoai Việt Hương, vị cũng nhã, mà trình bày lại sạch sẽ, tinh tươm. Đem làm quà ngày Tết kể cũng tạm được.
Mứt phải đủ ngũ vị: ngọt, bùi, đậm, béo và cay. Thứ mứt gừng cay là quý nhất. Chỉ tiếc thay mứt gừng ngoài Bắc thô và mạnh quá. Tôi ước ao được một ngành mứt gừng ở trong Trung - mứt gừng của Huế, làm bằng mầm gừng non và cả nhánh, trong như ngọc và cay, mềm dịu cũng như con gái Huế.
Thế rồi đi du xuân ngày mồng một, nhìn cây nêu phấp phới trước các nhà, tiếng khánh sành reo theo gió. Một cuộc hoà nhạc của sắc màu: quần áo mới của bầy trẻ, xác pháo đỏ trên gạch rêu, màu hồng nhạt hay đỏ tươi của câu đối giấy dán trên cổng, và màu củ cẩm (hay cánh sen) trên những tranh tết - nhất cái màu tím mát ấy, màu của đất nước Annam, của thời xưa chân thật mà không bao giờ nhìn tôi không thương nhớ ngậm ngùi…
Trong lúc đó, trời xuân đầy mây thấp và gần gụi, thời tiết êm ả như đợi chờ, gió xuân nhẹ như hơi thở, và cây cối đều nở mầm non, lộc mới - tất cả cái gì như đầm ấm, như dịu dàng. Còn hưởng cái thú nào man mác và thanh cao hơn nữa?
Cho nên ngày Tết, tôi mong các bạn cùng vui vẻ tươi sáng như ánh mùa xuân, trong khi lần giở những trang của tập báo vì các bạn này.
Hình ảnh méo mó của một lớp người cầm bút tiền chiến
Cái tết của những nhà đại văn hào là tên môt truyện ngắn không có trong các tuyển tập Nguyễn Công Hoan gần đây. Đầu năm Canh Thìn (tức đầu 1940), nhà văn đã viết truyện ngắn này cho một số báo Tết đương thời. Cũng như những Một tin buồn, Báo hiếu trả nghĩa mẹ, Thế là mợ nó đi Tây – cái tên đặt cho thiên truyện có ý nghĩa mỉa mai. Thực chất, nó kể lại một cái tết nhếch nhác thảm hại của mấy người làm nghề cầm bút trước 1945.
Mở đầu thiên truyện là nỗi hí hửng của thi sĩ Vũ.
Đang lo không biết sống sao cho qua mấy ngày tết, anh chợt nghĩ ra một lối thoát: đến ăn chực ở nhà cây bút tiểu thuyết Lê. Nhưng Lê cũng đang trong cảnh túng quẫn. Cả hai bèn nghĩ ra mẹo là rủ nhau nhảy dù đến nhà kịch sĩ Trần. Anh này cũng đang đói nốt, nên nhập ngay với Lê, Vũ, thành một bọn giong tàu điện về ám nhà Nguyễn.
Song nhà Nguyễn cũng không khá gì hơn, vợ Nguyễn đi xoay món nợ khẩn chưa về. Đã tới bước đường cùng cả bọn không còn biết đi đâu thành ở đấy báo vạ. Cho đến sáng mùng một, “Cả nước Nam mà có lẽ cả nước Tàu nữa, nghĩa là một góc địa cầu, đang vui vẻ ăn Tết” thì bốn anh em vẫn “ nằm khàn, đắp chăn xù xù, chưa thèm dậy”. Họ chỉ có cách “ăn tết bằng những giấc ngủ ngon lành và nói những chuyện văn chương” cho hết thì giờ.
Từ thiên truyện, cái ý nghĩa đập vào mắt mọi người đã quá rõ. Khi người trí thức kiếm chưa đủ sống, thì không ai có quyền đòi hỏi ở họ lòng tự trọng, chí tiến thủ, nỗi lo đời – cùng là đủ thứ phẩm hạnh cao quý khác. Nhà văn, nhà giáo, nhà báo, nhà nghèo – cái nghèo đã thành gia truyền trong các gia đình trí thức, từ thời Nguyễn Công Trứ (Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch, người quân tử ăn chẳng cần no” ) đến thế hệ Tản Đà, Nguyễn Công Hoan…-- vẫn còn nguyên vai trò của nó. Nó là nguồn gốc của bao nhiêu chán chường oán giận thất vọng cay đắng từng đến trong lòng mỗi người. Hơn thế nữa, khôn ngoan đến cửa quan mới biết - giàu có đến ba mươi tết mới hay, cảnh tết “ngủ trừ bữa” của những Vũ, Lê, Trần… ở đây còn làm bộc lộ mấy căn bệnh độc ác đang hoành hành trong giới cầm bút bấy giờ.
Một là tâm lý A.Q, tự mình lừa mình. Trong cảnh khốn quẫn, họ tự an ủi “nghề của mình là nghề cao thượng nhất vì nó thật thà nhất… Mình không như những đứa làm bất cứ nghề gì khác ở xã hội này. ở xã hội này, họ không cần giỏi nghề bằng giỏi khen rắm quan thơm và giỏi nói dối với nói phét” Nghiêm khắc mà xét, phải nói đó là những ý tưởng hàm hồ: chính trong nghề văn không thiếu những kẻ dối trá, nịnh nọt, làm đủ việc độc ác để tiến thân, khiến người ngoài nghề không thể tưởng tượng nổi là có lúc họ đã viết nên bài thơ này cuốn tiểu thuyết nọ. Nhưng thôi, cứ tạm cho qua. Lúc nghe thi sĩ Vũ bảo: “cái nghèo của nhà văn là cái nghèo thanh cao, cái nghèo đáng trọng, cái nghèo phải ghi vào lịch sử văn học của thế giới”, người ta mới thấy họ đã đi tới cùng của lối tự mê hoặc, tự tạo ra những ảo tưởng hão huyền. Giá Vũ, Lê,Trần là những nhân vật có thực và đến nay còn sống, chắc họ sẽ thấy chả có thứ lịch sử văn học thế giới nào rỗi hơi nhắc tới những cuốn sách nhảm nhí cùng là ghi lại cảnh nghèo túng quẫn bách của họ cả.
Hai là, do đã bị cuộc sống hành cho khốn đốn quá lâu, ở những Vũ, Lê, Trần, Nguyễn này dần dần nảy sinh ra tâm lý cố thây trắng trợn mà họ không tự biết. Đây chính là lời Vũ bàn trên đường “hành quân” đến nhà Nguyễn:
- Được đến đâu hay đến đó. Chúng mình đi đâu mà chết đói được. Nó không có nhà đã có anh em nó tiếp chúng ta. Và nếu không gặp ai, chúng mình cứ vào bừa một nhà nào đó, chẳng lẽ người ta nỡ hất hủi ba nhà đại văn hào à?
Còn đây là lời Nguyễn nói với các bạn.
- Tao tưởng chúng bay đến chơi với tao thì tao mới tiếp. Chứ chúng bay đến chơi với cái bánh chưng nhà tao, thì tao tống cổ bây giờ.
Cái giọng rất phũ ấy, một nhà văn – nếu thật sự là một trí thức – không có quyền nói, dù là nói đùa: ở đây, nhân vật không hoàn toàn đùa, đây là nửa đùa nửa thật! Lại nữa, một câu tuyên ngôn của cả bọn: “Chúng ta là những đại văn hào chúng ta không cần gì hết”. Câu nói thoạt nghe vô thưởng vô phạt, nhưng ngẫm cho kỹ, thấy không được. Tư tưởng của các nhân vật lúc này đã đi gần tới sự hư vô, với họ chúa đã chết không còn gì là linh thiêng phải giữ gìn nữa.
Từ thằng ăn cắp, anh lính gác đến các viên công chức quèn rồi các điền chủ phất lên thành hàn nọ, nghị kia, các quan phủ, quan huyện… nhân vật của Nguyễn Công Hoan thường có một số nét chung: trắng trợn, bất cần, những cách nghĩ của bọn lưu manh. Lúc đầu, nhân danh cái nghèo, họ cho phép mình làm đủ thứ xấu xa, miễn sao sống sót. Về sau đã có danh có lợi rồi, thói quen suy nghĩ của bọn du thủ du thực trộm cắp lừa đảo vẫn còn nguyên trong họ.
Với Cái tết của những nhà đại văn hào, người đọc lại bắt gặp chất lưu manh ấy trong lớp người làm nghề thoạt nghe rất sang trọng là nghề cầm bút. Thật rõ – nhân vật nào của nhà văn ấy. Trong khi mang dấu ấn riêng của Nguyễn Công Hoan, thiên truyện đồng thời phác ra một cách chân thực hình ảnh một lớp trí thức quặt quẹo được hình thành trong xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ này với những căn bệnh vô phương cứu chữa của họ.
Cái nạn mừng tuổi
Câu chuyện mồng một đi chúc tết nhau
Ngòi bút tác giả Oẳn tà roằn vốn nhạy cảm với những gì là phi tự nhiên, éo le, kỳ cục. Trong những sáng tác viết về tết, thói quen ấy vẫn được ông khai thác triệt để. Sở dĩ một thiên truyện như Người ngựa và ngựa người để lại trong bạn đọc cái dư vị chua xót là do nó đã nêu lên một nghịch cảnh mà trong những khi bận rộn tết nhất, người ta ít để ý: ấy là giữa lúc thiên hạ náo nức vui tết với gia đình, có những kẻ vẫn phải lang thang kiếm sống. Và tình thế lại càng thê thảm hơn, khi xảy ra cảnh đò nát đụng nhau, tức là trong cơn tuyệt vọng, hai kẻ khốn khổ đó (ở đây là một phu xe ế hàng và một nhà thổ không bói ra khách) còn lừa lọc nhau, rút cục là người nọ làm khổ người kia, và đứng ngoài nhìn, chúng ta chỉ có cách cười ra nước mắt.
Trong một truyện ngắn mang tên Năm mới tôi mừng ông (in trong một tập sách tết, 1943) Nguyễn Công Hoan lại trình ra một cảnh trớ trêu khác. Lần này, ông lấy một chuyện chính ông đã trải để kể với bạn đọc.
Ấy là một lần, đúng mồng một tết, ông tới thăm nhà một đồng nghiệp dạy học tên là Định. Người này với ông không thật thân nên không mấy khi ông đến chơi. Mà ông lại không nhớ số nhà, chỉ ang áng quãng ấy quãng ấy.
Vào cửa, ông được con sen trong nhà tưởng là khách quen nên mời ngay lên gác để gặp chủ và trong khi đang lên cầu thang, ông được chủ mời làm một chân tổ tôm. Nghe tiếng, đã hơi ngờ ngợ, đến lúc chủ nhà ngẩng mặt lên, mới biết đã vào nhầm nhà, đành xin lỗi quay ra. Lúc ông xuống thang còn nghe chủ nhà mắng đầy tớ:
- Con ranh con, cửa cứ mở toang, ông Hoan đấy chứ, giá là kẻ gian thì có chết không?
Đến nước này, tự nhiên tác giả cảm thấy bẽ bàng vô hạn: “Như bị một phát đạn nữa, tôi vội vàng trút trả miếng trầu và điếu thuốc lá, cút thẳng một mạch”.
Kể ra đây cũng là một tình thế trớ trêu, mà người ta ai cũng có thể gặp, nhất là những khi sơ ý.
Có điều, đằng sau câu chuyện mua vui, cái dụng ý của Nguyễn Công Hoan trong thiên truyện này ở ở chỗ khác. Mặc dù là một người ghét lý luận, lại càng ghét sự dông dài trong khi thuật truyện, song trước khi kể lại cái “kỷ niệm để đời” nói trên, Nguyễn Công Hoan vẫn để ra một đoạn dài gọi là trữ tình ngoài đề mà chúng tôi muốn chép lại đầy đủ như sau:
“Tối ba mươi tết năm ấy, tôi cố xong tất cả các công việc để đến hôm sau, chịu cái tai nạn nó làm mất cả ngày: nạn tiếp bạn đến mừng tuổi và nạn mừng tuổi bạn.
Sự đi mừng tuổi nhau hôm mùng một đầu năm thật là một cái nạn. Còn gì khổ cho bằng phải tiếp những người hoặc đi đến nhà những người quanh năm chẳng gặp nhau lần nào, trừ tết nguyên đán. Chuyện đã chẳng có gì để nói, mà cứ phải cười gượng, nịnh nhau sằng, rồi mắt trước mắt sau chỉ muốn chuồn cho mau đến nhà khác để cũng làm cái công việc nhạt nhẽo ấy. Còn gì dơ dáng cho bằng mình vừa ở nhà một ông bạn chẳng thân gì, đã không có chuyện để nói, mà độ nửa giờ sau, ông bạn ấy đã lại nghễu nghện đến nhà mình cũng chẳng để nói một chuyện gì hơn là để mình khỏi trách là xử quỵt.
Cho nên, ngày mồng một tết, ở nhà nhưng nói dối là đi vắng, tức là đã làm một việc nghĩa rất to tát. Nhiều ông chỉ cần dò xem mình không có nhà lúc nào là đến tót ngay, để quảng lại trên bàn tấm danh thiếp rồi đi cho mau, để lại quẳng vào nhà khác tấm danh thiếp. Đến nhà người ta mừng tuổi mà được chủ đi vắng, nhiều người cho là một sự may.
Vậy mà lối giao thiệp giả dối này lại rất cần cho những chỗ bè bạn sơ sơ. Vì quanh năm chẳng đến nhà nhau, hôm mồng một tết cũng chẳng đoái hoài đến nhau nốt, ấy là tỉnh bằng hữu đi đứt”.
Không chỉ các nhà nghiên cứu mà trước tiên, bản thân Nguyễn Công Hoan đã chú ý tới một nét tiểu sử nó quy định tính cách con người ông. Ấy là ông xuất thân từ một gia đình phong kiến có nền nếp, thứ phong kiến thanh đạm, biết giữ đạo trung dung, và thường có một chút bảo thủ trong cách nhìn nhận sự đời.
Nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, thì gần như đã thành một quy luật ở ông: “Nếu có quan hệ đối lập giữa nam và nữ thì ông đứng về phía nam. Giữa bố mẹ và con cái thì ông đứng về phía bố mẹ. Giữa vợ cả và vợ lẽ thì đứng về phía vợ cả”.
Thế thì giải thích làm sao cái trường hợp phá cách nói trên, nghĩa là thái độ ngán ngầm ra mặt của ông với một nghi lễ thiêng liêng và phổ biến trong ngày tết? ở đây, chúng ta phải đối chiếu giữa nghi thức và cái cách người ta thường tiến hành nó để cùng nhận chân ra một sự thực:
Nghi thức ra đời và tồn tại là để bảo đảm tính chất trang nghiêm của một buổi lễ.
Trong những quy định đôi khi rườm rà, cổ nhân cốt lưu ý con cháu rằng đây không phải là một chuyện thông thường mà là một dịp đặc biệt. Các nhà nghiên cứu về Nho giáo thường nói lễ là để bày tỏ cái thành ý, kính ý. Trong cuốn sách viết về Khổng Tử, từ con mắt nhìn của con người hiện đại, Nguyễn Hiến Lê cũng nhấn mạnh “các nghi thức mà ngày nay chúng ta cho là phiền phức chính là có mục đích phát dương những tình cảm đôn hậu của ta”.
Tuy nhiên, là một sản phẩm của lịch sử, nghi thức cũng không tránh khỏi một tình trạng mà ngày nay, ta gọi là sự tha hoá, tức là hình thức không đi kèm với nội dung, và ở một số người trong một số trường hợp, sự cảm động thiêng liêng càng ít thì nghi thức càng trở nên cầu kỳ rắc rối. Nghi thức trong những ngày tết cũng không tránh khỏi sự biến dạng đó. Sự thực này không lọt khỏi con mắt quan sát tinh quái của Nguyễn Công Hoan. Trong ông không chỉ có con người trọng lễ giáo mà còn có con người thực sự cầu thị, chán ghét mọi chuyện phi tự nhiên, giả dối, cho nên ông đã lên tiếng. Mà khi đã nói, thì ông nói khá phũ, đến mức như là hơi trắng trợn nữa.
Về phần mình, giờ đây đọc lại thiên truyện, chúng tôi cho rằng một mặt nghi thức rất cần, bao giờ cũng cần, mặt khác, những gì quá ư cầu kỳ mà lại vô bổ nên được xem xét lại. Và nhất là trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không nên tiến hành nghi thức một cách giả tạo.
Với lối nói có phần cực đoan của mình trong thiên truyện nói trên, Nguyễn Công Hoan còn kể là ông chia bạn bè ra làm bốn loại:
“Hạng nhất là các bạn quen xoàng hoặc hay giận
Hạng nhì là các bạn quen xoàng nhưng đại lượng.
Hạng ba là các bạn thân vừa
Hạng bét là các bạn thân”.
Và mỗi năm ngày mùng một tết ông cư xử như sau:
” Tôi chỉ cần đi chúc tết các bạn hạng nhất, còn từ hạng nhì trở đi, không tết năm nào tôi xử lại sòng phẳng”.
Chúng tôi chép đoạn văn này ra đây, không phải để… khuyện bạn đọc làm theo, mà là để bạn đọc tham khảo và tìm ra cách đi chúc tết tốt nhất và phù hợp nhất với bản thân.
Lệ làm báo Tết, theo nhà văn Tô Hoài, vốn có từ các tỉnh trong Nam, sau mới lan ra cả nước. Song, một khi đã thành phong trào, thì hầu như tờ báo nào Tết đến cũng cố làm cho hay cho đẹp. Vô hình chung hình thành nên một cuộc ganh đua ngầm, trong đó, lực lượng các nhà văn cũng được huy động rất sớm.
Tản Đà, nhà thơ đi đầu trong việc chuyển nghiệp hoá ngòi bút hồi đầu thế kỷ, có lẽ là một trong những người để lại nhiều thơ về Xuân về Tết hơn cả. Trong tuyển tập Tản Đà in ra 1986, riêng trong phần Thơ chưa rõ xuất xứ, đếm ra đã thấy trên chục bài có chữ Xuân và Tết. Xuân tứ, Tân xuân cảm, Gặp xuân, Cảm xuân, Ngày xuân nhớ xuân, Ngày xuân thơ rượu...
Tiếp đó, đến phần thơ mới đăng báo và An Nam tạp chí, chưa in thành tập, người ta lại gặp những là Mậu Thìn xuân cảm, Xuân hứng, Vui xuân... Thơ nhiều như thế, một phần là vì Tản Đà viết khá dễ dàng, phần khác, có một lý do quan trọng không kém: Tác giả Khối tình con sớm có ý thức về cái việc "thơ văn bán phố phường". Nghĩa là có người yêu cầu thì phải làm bằng được. đã mang lấy kiếp thi nhân, phải biết đơm hoa kết trái những lúc thiên hạ mong đợi. Tết nhất là một dịp "con gà khoe tiếng gáy".
*
Trong số các thi sĩ xuất sắc của phong trào thơ mới, người biết tự khai thác mình một cách bền bỉ nhất trong những dịp Tết, phải kể là Nguyễn Bính. Một mặt, thơ Nguyễn Bính loại này rất nhiều. Mặt khác theo dõi từ năm này qua năm khác, người ta thấy rõ một sự biến đổi. Thoạt đầu là những bài thơ ngợi ca mọi sự êm đềm tốt đẹp, đôi lúc ngả hẳn sang giọng chúc tụng lấy lòng.
Pháo nổ đâu đây pháo ngợp trời
Nhà nhà đoàn tụ dưới hoa tươi
Lòng tôi như cánh hoa tiên ấy
Một sáng thơ đè nét chẳng phai
Dần dần, niềm vui nói mãi cũng hết, nhưng bài thơ về Xuân và Tết của Nguyễn Bính về sau thường vẽ lại những cảnh xót xa. Tết xa nhà, xa người yêu; xuân tha hương, xuân đến mà chẳng có gì để thiết tha và hy vọng; càng thấy thiên hạ hân hoan đón Tết càng ngao ngán cho phận mình. Lòng người thi sĩ lúc này có phần giống như lòng người lính thú nơi biên ải.
Rượu chẳng say cho, đèn cũng lụi
Ngày mai xuân nở khắp giang san
Ngày mai ăn Tết bằng chi nhỉ
Ăn Tết bằng hai cánh cửa quan
Đây là sự đổi màu thấy ở nhiều nhà thơ khác chứ không riêng gì Nguyễn Bính.
So với việc làm thơ, thì việc viết văn xuôi (nhất là truyện ngắn) cho các số báo Tết, lại có cái khó riêng của nó. Người viết không những cần cảm hứng, mà còn cần có câu chuyện có nhân vật.
Song không phải vì thế, mà các nhà văn tỏ ra kém cạnh trong việc làm hàng. Họ vẫn phải viết để làm đầy các số báo Xuân. ở đây có thể quan sát thấy hai quá trình trái ngược:
Một là, trong khi chiều lòng thiên hạ, người nào người nấy vẫn giữ được mặt hàng riêng của mình. Nguyễn Tuân khai thác đến kiệt cùng những vui buồn chung quanh cuộc đời lang bạt của chàng lãng tử. Nguyễn Công Hoan rất thiện nghệ trong việc trưng ra mọi cảnh trớ trêu như kiểu Người ngựa, ngựa người. Nam Cao thì trở lại với những con người lún sâu vào trong vô vọng, bất lực...
Hai là, cũng không ít trường hợp, nhờ làm báo Tết, nhà văn phát hiện ra mình những mảnh đất mới, lâu nay chưa có dịp khai thác.
Nguyễn Công Hoan vốn xưa nay chỉ viết truyện ngắn và tiểu thuyết, có lần đã đóng góp vào một số báo Tết tới hai vở kịch ngắn. Thạch Lam thì vẽ minh hoạ cho một số đoạn văn ngắn in trong các số Ngày nay do ông chủ trì, và có lần (hình như là duy nhất) ký tên dưới một bài thơ. Lại có trường hợp như Khái Hưng. Bên cạnh những tiểu thuyết và truyện ngắn viết về cuộc sống thường ngày của con người đương thời, nhà văn này còn là tác giả của nhiều thiên truyện dựa hẳn vào mô típ sẵn có trong các truyện cổ tích, chẳng hạn như Quán Nghinh Xuân (viết theo Lưu Bình Dương Lễ). Có thể nói đó là món đặc sản mà việc làm báo Tết đã rèn đúc cho Khái Hưng. Liên tiếp trong nhiều năm, từ 1936 trở đi trên báo Ngày nay các Tết, Khái Hưng thường khai bút bằng các truyện cổ tích, do ông mới... bịa ra. Bởi một trong những nguyên tắc chi phối việc làm báo của nhóm Tự Lực, là luôn luôn phải có mặt hàng lạ, để bạn đọc khỏi có cảm giác nhàm chán.
*
Một lần, nhân nói về nghề với mấy anh em chúng tôi là lớp người viết trẻ hơn, Tô Hoài kể: Mấy năm 1941-1942, có những truyện ngắn, ông chỉ viết đúng có một đêm. Đại khái, tối ba mươi sau đủ chuyện lo Tết cho gia đình, tác giả mới ngòi vào bàn viết gấp một truyện cho xong, để còn kịp, sáng hôm sau mùng một mang đến mừng tuổi ông Vũ Đình Long, chủ nhà Tân Dân. Sau khi mừng tuổi lại mình vài đồng, ông ấy sẽ cất vào tủ cái truyện ngắn vừa được viết ráo mực ấy đi, để sang năm đưa in vào Tiểu thuyết thứ bảy, số Tết.
Đây có lẽ là một ví dụ cho thấy, hồi bấy giờ trình độ làm hàng của các nhà văn đã lên dến mức thiện nghệ, và trong cái việc bắt buộc phải làm theo com-măng, người ta vẫn vùng vẫy một cách tự nhiên, hào hứng.
*
Những người có dịp lo nấy cỗ Tết đều biết rằng lúc bấy giờ quả thật thịt thà không thiếu. Cái để cho người ta phải lo- bởi nó là yếu tố để cho mâm cỗ được đậm đà vị Tết- nhiều khi lại ở mấy thứ gia vị.
Thì nghề làm báo cũng vậy!
Người đứng ra chủ trì một số báo Tết, ngoài những bài phông, bài đinh (từ chữ Pháp: clou) không thể để mắt tới các bài dấm ghém, be bé, nho nhỏ nhưng lại thường được bạn đọc đọc ngay khi mới cầm tờ báo trên tay.
Ở chỗ này, người ta mới chợt nhận ra sự đắc địa của một vài cây bút như Thanh Tịnh hoặc tài tháo vát biến báo của tác giả Mấy vần thơ, là nhà viết kịch Thế Lữ.
Có lần, khoảng năm 1942, Thanh Tịnh đã đứng ra thầu hẳn một số báo Xuân. Một phần thì ông xin bài những người quen. Phần còn lại (hơn nửa số báo 24 trang khổ to) do ông bao sân. Truyện ngắn có. Thơ có. Rồi chuyện phong tục ăn tết ở Huế. Rồi chuyện thờ cúng ở các tỉnh miền Trung. Bên cạnh những mẩu đùa vui rí rỏm, ông đã sáng tác từ hồi còn học tiểu học, là những đoạn thơ hài hước, lấy đề tài trong văn thơ cổ. Tóm lại, trò diễn ấy gần như chỉ có một diễn viên duy nhất, vậy mà đọc thấy rất hoạt.
Thế Lữ cũng tỏ ra một người đa-gi-năng kỳ lạ, trên các số Phong Hoá, Ngày nay ra ngày Tết. Với ông, không có mục nào là mục nhỏ, không đáng làm. Phần lớn những bài lặt vặt ở góc trang, đọc vui ngồ ngộ, có sự tham gia của ông. Và nhiều khi do ông đầu têu. Thế Lữ lại còn có biệt tài trong việc "câu khách" tức lôi cuốn bạn đọc tham gia viết báo. Dưới bút danh Lê Ta, ông đã thách mọi người đối lại một câu đối mà vế ra như sau:
Tết năm mèo ông lão dê mua hoa mõm chó gói giấy mỡ gà đem tặng cho mèo mà không biết hổ.
Không biết bao nhiêu câu đối lại đã được gửi về toà soạn, chỉ biết số in ra trên mặt báo, đã lên tới hơn một chục. Và khá nhất có lẽ là hai câu dưới đây:
Xuân Năm Tí, cô bé tị, tắm nước lá mùi ở bên bờ dậu, mới được một tí phải cảm nên thân.
Xuân còn xanh, thiếu nữ trắng thoa phấn màu hồng, đôi môi thắm đỏ, đi trong bóng tối, trông thật là đen.
*
Văn chương sâu sắc thì không gì bằng và lúc nào cũng cần.
Nhưng trong lúc chưa sâu sắc được và để người ta phải đọc trong những ngày Tết nhất bận rộn chỉ có một yêu cầu: Không được phép nhạt. Hơn ai hết, những cây bút tài năng hồi tiền chiến, rất biết điều đó khi làm báo Tết.
Thể thao Văn hoá Xuân 98
Thạch Lam& và một số báo Tết
Trong thời kỳ hưng thịnh của mình Tự lực Văn đoàn có hai cơ quan ngôn luận là Phong Hoá và Ngày Nay. Phong Hoá xuất bản sớm hơn mang tính cách mở đường, nhiều khi ngả sang đấu tranh gay gắt. Trong khi, Ngày Nay được hình thành muộn hơn và do đó, đằm hơn, chín hơn.
Tên tuổi Thạch Lam đã xuất hiện trên Phong Hoá nhưng với Ngày Nay mới thật là cuộc trình diện đầy đủ. Ở đây, có thời gian ông làm thư ký toà soạn, lo việc sắp xếp bài vở và thực sự đã mang lại cho tờ báo một sắc thái riêng: sắc thái của một ấn phẩm chuyên về nghệ thuật.
Công việc chuẩn bị cho những số báo Tết càng cho thấy rõ điều đó.
Nhìn vào Ngày Nay số 198, số Tết 1940, trước tiên chúng ta bắt gặp mấy lời rào đón mà dù Thạch Lam không ký tên, ta cũng đoán ra chỉ ông mới viết như thế.
Ông thận trọng giới thiệu bức tranh phụ bản mang tên Dưới hoa do Trần Văn Cẩn vẽ, cho thấy rằng đây là “Một bức vẽ có giá trị, những nét uyển chuyển hợp với các màu nhã và êm dịu ”, bởi lẽ, qua những hình ảnh được phác hoạ “hai thiếu nữ, tóc còn buông xoã, mình hơi gầy vì còn non trẻ đứng tựa dưới cành hoa phù dung” người ta có được “một cảm giác mát mẻ và tươi sáng”.
Ông dừng lại kỹ hơn ở bức tranh dùng làm phụ bản cho báo, bức Ba thiếu nữ của Tô Ngọc Vân. Nói về một tác phẩm mà như Thạch Lam gọi ra cái thần của người nghệ sĩ (cố nhiên đây là Tô Ngọc Vân trước 1945): “trong nét bút và màu sắc của hoạ sĩ này, có phảng phất một đằm thắm xác thịt, một tình yêu các hình thể nõn nà vừa đến độ nẩy nở. Một vài đường nhịp nhàng và hoạt động, sự hoà hợp của vài màu tươi thắm, thế là hoạ sĩ đủ khiến chúng ta có một cảm giác hơi say mê và ân ái. Và nhận thấy cùng một lúc cái nghệ thuật chắc chắn và cái thông minh ý nhị của hoạ sĩ”.
Tiếp đó,Thạch Lam trình bày qua về cách sắp xếp bài vở, về những khó khăn trên các phương tiện in ấn mà toà soạn đã phải tìm cách vượt qua để mang lại cho tờ báo một tính cách hoàn hảo.
Đọc những dòng này, ai người có lúc vào trong hậu trường bếp núc của việc làm báo Tết, ắt hẳn cảm thấy được thông cảm: ra cái sự làm báo Tết, thời nào cũng vậy. Không phải ngẫu nhiên mà trong một bài viết ở số Tết ấy, Thạch Lam lấy câu cách ngôn Ả Rập sau đây làm đề tài:
Hưởng, đấy là khôn ngoan;
Khiến hưởng, đấy là đức hạnh.
Đặt vào hoàn cảnh của số báo, câu này có nghĩa: làm cho người khác vui, chuẩn bị những món thức ăn tinh thần ngon lành thanh sạch cho bạn đọc thân yêu, đấy là đạo đức của người làm báo. Ở chỗ này, mỗi người cầm bút giống như nhiều nhân vật phụ nữ trong văn Thạch Lam, những người chí chút kỹ càng, lấy sự tận tuỵ hy sinh làm lẽ sống của chính mình.
Chẳng những đứng ra đạo diễn chung cả số báo, mà nhiều lần, khi làm báo Tết, Thạch Lam cũng đã góp vào đấy những bài viết riêng. Có khi ông viết về tục đi hái lộc, tục gói bánh chưng, có khi ông trình bày những suy nghĩ riêng về những bức tranh Đông Hồ – vốn là một “tài sản” của vùng Kinh Bắc xưa.
Bài viết mang tên Tranh tết ( in trong Sách Tết Đời nay 1941) giới thiệu sau đây không chỉ bộc lộ sự hiểu biết kỹ lưỡng của Thạch lam về văn hóa dân tộc mà còn cho thấy ở ông một mỹ cảm tinh tế, nó là điều mà người nghiên cứu cần biết khi tìm hiểu văn ông.
Tranh tết
Những tranh ngày Tết người ta bán nơi nhà quê kẻ chợ. Đó là những tranh khắc gỗ, do mấy làng làm. Tranh vẽ nhiều cảnh, tất cả cuộc sinh hoạt của thôn xóm Annam, những bà mẹ và trẻ em thường gọi là “tranh gà lợn”. Đó là những tranh rất cổ của ta.
Những bản gỗ của các tranh ấy không rõ có từ bao giờ, và do ai vẽ. Trong sự giấu tên kín tiếng của các nghệ sĩ xưa ấy có một cao quý và trong sạch đáng yêu. Đó hẳn là những người bình dân vẫn sống chung lộn với những người khác trên đồng ruộng, cùng sống một cuộc đời, cùng làm những công việc im lặng và khó nhọc. Họ không biết họ là nghệ sĩ, và có lẽ, nếu không có một trường hợp nào đó, một kích thích gì đột nhiên, họ suốt đời không bao giờ vẽ cả.
Những người đó vẽ với tất cả tâm hồn của họ. Vẽ đối với họ tức là sống lại ngay chính cái đời họ sống. Những cảnh đồng ruộng, các công việc cày cấy, những cảnh trong gia đình hay ở sân sau, được hoạ trên giấy một cách rất linh động và đúng nét. Cái khoa học dáng điệu của họ - nếu có thể gọi được thế, một sự tự nhiên, không xếp đặt trước - thật là lạ lùng. Dáng điệu của người cày ruộng, người quạt thóc v.v… như sống thật. Tất cả cái thi vị, một mạc và đơn sơ của đồng ruộng, phô diễn trên giấy. Những gia súc, vì họ sống gần gụi và thân mật với chúng, trong nét hoạ cũng trở nên thân mật như thực. Cả đến các gia thần, ông Táo Quân, ông Thổ Công, cũng chỉ là những người cùng sống chung dưới một nóc, có liên lạc mật thiết đến cuộc đời của người.
Những nghệ sĩ Annam của thôn quê đó còn cả cái giễu cợt khôi hài ý tứ và chân thật nữa. Trong bức tranh “Đám cưới chuột”, hay “Ông đồ ếch và học trò” có thấm thía một cái duyên vui và rộng lượng. Những người giản dị ấy không mất lòng kính trọng của họ đối với mọi việc. Cái roi mây trong tay ông đồ hay cái hoả lò để quạt nước cho thầy biểu hiện tất cả cái tinh thần cốt yếu của buổi học, cùng một lúc với cái khôi hài thân mật của người vẽ.
Trong cảnh “Đám cưới chuột” tôi thấy sự mềm dẻo và, quen đi, dai dẳng của cuộc sống. Bao nhiêu triết lý trong việc dâng biếu cá cho chú mèo! Tất nhiên là muốn được an hưởng thì phải đút lót; trước khi đám cưới đi, người ta đã trù tính rồi. Mới đầu còn là sợ hãi bắt buộc, rồi sau mãi, biết đâu lại không thành quen đi, và lấy làm sung sướng và vui vẻ nữa. “Ngài” sẵn lòng nhận cá, thế là ơn huệ rồi.
Tôi muốn dừng lại lâu hơn ở những cảm tưởng mà các tranh tết ấy đã dậy trong trí tôi. Không phả là hoạ sĩ, tôi e sự phán đoán về màu, nét của tôi không đủ đúng đắn. Những bức tranh mộc mạc ấy, ngày tết, trang hoàng cho vách đất, của phên ở thôn quê, chỉ là hình cảnh của cái đời ấy. Những màu tuy tươi thắm mà cổ xưa, màu cánh sen, màu xanh lá mạ, là bài ca hát của người và vật truyền nhau trên đồng ruộng: cái gì tựa như một tục lệ hằng năm nhắc lại, mà không vì thế mất vẻ đáng yêu.
Tôi ước ao những tranh ấy cứ còn mãi. Những bản gỗ ấy bây giờ còn ở làng Hồ (Bắc Ninh). Hình như còn vài làng nữa, tôi không nhớ tên. Những màu sắc đều lấy trong thảo mộc cả. Bởi vậy không có cái sắc lánh và lạnh rắn của kim loại, vẫn dịu và mát tuy rất tươi. Màu đen rất ấm cúng, êm như nhung, và màu trắng thì ánh như xà cừ.
Mấy năm gần đây, đã có thấy các chợ bày những tranh lối mới, vẽ những cảnh bây giờ. Nhưng vụng về và giả dối, thật rõ cái không trật tự, sự lẫn lộn của các giá trị ở buổi này. Không phải ai cũng có thể vẽ được những tranh đẹp như cũ. Phải cần một hoạ sĩ mà tâm hồn cảm thẳng ngay với cảnh vật của đất nước, không cần đến sự môi giới của trí thông mình. Cái nghệ thuật phải tự nhiên và thật.
Hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí mấy năm trước đây có khắc vài bản gỗ mà hoạ sĩ gọi nhũn nhặn là một “cuộc thí nghiệm” . Với tôi, sự thí nghiệm ấy đã thành công đầy đủ rồi. Trong mấy bức chụp đây, người ta thấy rõ hoạ sĩ đã đi đúng đường. Dáng điệu và các nét thật linh hoạt và phơi phới. Tôi không thể nói hết được cái giá trị cao về nghệ thuật.
Một hương vị cổ kính và mãi mãi hiện ra trong các tranh ấy. Cử chỉ của cô bé đội lá sen trên đầu để che mưa có tính cách gì bình dân và Annam lắm. Và cây bàng lá thu che bóng cho chị hàng rươi tự bao nhiêu năm trở lại.
Những tranh Tết kia là hình ảnh bằng màu sắc của cuộc sống Annam, cũng như những câu ca dao là nình ảnh thơ điệu. Hai nghệ thuật cùng một nguồn và nghệ sĩ nọ có khi là nghệ sĩ kia. Sống cùng một màu đất và cùng một gió mùa, họ lưu truyền cái gì là sâu sắc, bền chặt và tinh tuý nhất của tâm hồn chúng của dân gian, yên tĩnh hay biến đổi, nhưng biểu lộ trong tất cả trạng thái có khi rất nhỏ nhặt của cuộc đời.
Chuyện buồn giữa đêm vui là tên một thiên truyện của Nam Cao trong đó có nhân vật chính sau khi mời họ hàng đến ăn bữa cơm cuối, kể lại cho vợ nghe về một người cô hôm ấy không có mặt.
Để nội dung cụ thể sang một bên, hãy nới tới cái ý nghĩa khái quát nằm sau đầu đề thiên truyện: cuộc đời chung quanh chúng ta chẳng bao giờ trọn vẹn. Bởi vậy, hình như trong những ngày vui, những người không quá vô tâm, những người có lương tri thường không khỏi nhớ tới những gì chưa được hoàn thiện, những bất công khổ sở còn đầy rẫy quanh mình. Cái buồn ở đây không phải bi quan, càng không phải để làm dáng. Ngược lại, nó là tình cảm tự nhiên ở những con người lành mạnh, có yêu cầu cao về đời sống, và nhạy cảm với những gì đang diễn ra chung quanh.
Nếu không phải tất cả, thì một số nhà văn Việt Nam, nhất là nhưng cây bút hàng đầu của nền văn học dân tộc trong thế kỷ này – Nguyễn Công Hoan và Khái Hưng, Thạch Lam và Nguyễn Tuân, Tô Hoài và Thanh Tịnh… đã nghĩ như vậy. Khá nhiều thiên truyện mà họ đã viết nhân những ngày tết và nội dung có liên quan đến tết, lại là những truyện gợi cảm giác buồn bã.
Người ngựa và ngựa người của Nguyễn Công Hoan có hai nhân vật chính thì một là anh phu xe đói khách, hai là cô gái làng chơi ế hàng, không có tiền cũng cứ gọi xe để dử mồi. Cuối cùng cả hai đều thất vọng. Cô ả trốn biệt. Anh phu xe bị quỵt tiền. Giữa lúc ấy “tiếng pháo chào xuân nối đuôi nhau đùng đùng toạch toạch”.
Tối ba mươi của Thạch Lam được xây dựng từ một cảm hứng hoàn toàn khác, song cũng buồn không kém. Cả hai nhân vật chính “sống đời truỵ lạc” (chữ của tác giả) song thực ra họ đều là người tử tế, do sa cơ nhỡ bước mà rơi vào vũng bùn. Đêm tất niên, không có khách lai vãng, hai người càng cảm thấy lạnh lẽo. Họ mua các thứ về thắp hương, cúng tổ tiên, cha mẹ và tủi về thân phận của mình, ôm nhau khóc.
Ngày tết là ngày của hy vọng. Các nhân vật chính trong thiên truyện mang tên Đón khách của Nam Cao cũng không nghĩ khác. Ông bà đồ Cảnh ở đây chỉ mong kiếm cho đứa con gái của mình một tấm chồng sáng giá. Họ nhịn nhục đi vay tiền làm bữa cỗ thật to chờ anh chàng rể tương lai. Nhưng chính lúc đó, họ nhận ra sự thật: anh chàng Sinh, mà họ định bẫy, chỉ buồn tình đùa bỡn gia đình họ cho vui. Anh đã có đám khác. Điều oái oăm là ở chỗ tin thất thiệt đổ ụp xuống gia đình ông đồ Cảnh giữa ngày mồng hai tết.
Có thể kể thêm ra đây nhiều thiên truyện tương tự ở đó, cái nền xảy ra câu chuyện là những ngày xuân chỉ khiến cho những nỗi đau khổ của các nhân vật thêm nổi bật. Thanh Tịnh từng miêu tả cái vui gượng gạo trong đêm giao thừa của những hành khách trên một chuyến xe lửa cuối năm. Khái Hưng trong một thiên truyện pha hồi ký, kể lại cảnh mình bị khám nhà giữa đêm ba mươi tết (ấy là hồi ông còn làm đại lý xăng dầu ở Ninh Giang). Trong Quê người của Tô Hoài, có một nhân vật tên là Thoại. Do quá nghèo túng, giữa đêm tất niên, Thoại xoay ra đi lùng chó, những con chó sợ pháo chạy lung tung giữa đồng. Nhưng cái mưu đồ ấy cũng không thành. Thoại bị một trận đòn nhừ tủ, đến nỗi xấu hổ quá, dắt vợ con bỏ làng ra đi. Tóm lại, “Khôn ngoan đến cửa quan mới biết – Giàu có đến ba mươi tết mới hay” – hình như trong những ngày tết, ai đã vui lại vui hơn, ai đã buồn lại càng buồn hơn. Ngày xuân ngày tết chỉ làm rõ hơn cái tình thế mà mỗi người sẵn có. Và chỉ cần để ý kỹ chung quanh một chút thôi, người ta sẽ nhận ra ngày những cái tết eo hẹp, đạm bạc của những nguời quanh mình để không bao giờ đẩy sự vui vẻ tới mức quá trớn – hình như các nhà văn muốn nói thêm với bạn đọc điều ấy.
Thế cái quy luật này có tồn tại trong thơ, như đã tồn tại trong văn xuôi tiền chiến? Câu trả lời: cũng gần như thế! Cố nhiên, thơ vui ngày tết thì nhiều rồi, nhưng thơ buồn cũng không phải không có. Lấy một ví dụ: Có lần, các nhà sưu tầm thơ Nguyễn Bính đã chọn những bài thơ ông viết về mùa xuân và cảnh tha hương làm thành một tập riêng gọi là Xuân tha hương, trong đó, riêng những bài đầu đề có chữ tết, chữ xuân đã đến hơn chục bài: Xuân về, Vườn xuân, Thơ xuân, Xuân thương nhớ, Hội xuân, Mùa xuân, Rượu xuân, Nhạc xuân, Tết của mẹ tôi, Tết biên thuỳ… Những người quen biết Nguyễn Bính trước 1945 thường kể ông là người duy nhất hồi ấy có thể sống được bằng nhuận bút thơ. Vậy nên có thể dự đoán khá nhiều bài thơ nói về xuân về tết này được làm theo com-măng của các báo. Song, mặc dù được làm theo đơn đặt hàng, đây vẫn là những bài thơ khá hay. Có điều, nếu thời gian mới làm nghề, thơ Nguyễn Bính về xuân và tết thường là những bài thơ vui, thơ về sau, âm hưởng chính lại là buồn bã.
- Em đi dệt mộng cùng người
Lẻ loi xuân một góc trời riêng anh
- Dang dở một thân nơi đất khách
Tết này ta lại ngắm hoa suông
- Huyền Trân ơi!
Mùa xuân mùa xuân mùa xuân rồi
Giờ đây chín vạn bông trời nở
Riêng có tình ta khép lại thôi.
Những câu thơ vui, nhí nhảnh của Nguyễn Bính viết về xuân kiểu như Mùa xuân là cả một mùa xanh - Trời ở trên cao lá ở cành… được nhiều bạn đọc trẻ tuổi ghi nhớ. Nhưng cũng có phần chắc chắn không kém là những câu thơ xuân kể lại cảnh cô quạnh, đơn độc của tác giả cũng đã là bàu bạn của lớp người từng trải, hơn thế, là lời an ủi cho những người cùng cảnh ngộ.
Bài viết này mượn nhan đề một tập thơ của Tú Mỡ. Điều may mắn cho chúng tôi là đọc lại tập thơ trào phúng đó cũng có mấy bài viết về tết, mà cũng là dòng nước ngược, với nghĩa: tuy tác giả không tả những cảnh buồn đau thất vọng, song ông cũng không hùa theo đời, tô vẽ cảnh tết, mà lại nhìn thấy trong ngày vui này những cái nhố nhăng nhếch nhác. Đây là một ví dụ:
Ghét tết
(thơ yết hậu)
Thiên hạ sao ưa Tết?
Hẳn vì mặc áo đẹp
Tớ đây bảo Tết phiền
Ghét!
Tiêu pha thực tốn tiền
Chè chén cứ liên miên
Hết Tết đâm lo nợ
Điên!
Mồng một đi mừng tuổi
Chúc nhau nghe inh ỏi
Toàn câu sáo rác tai
Thối!
Mừng tuổi đèo phong bao
Năm xu lại một hào
Ai sinh cái lệ đó?
Hao!
Kiết xác như vờ rồi
Còn ngông đốt pháo mãi.
Pháo kêu: Tiền hỡi tiền
Dại!
Cố nhiên, nghĩ như Tú Mỡ cũng có phần cực đoan. Sau một năm lao động vất vả, chúng ta có quyền vui tết. Điều có thể chia sẻ với Tú Mỡ trong trường hợp này là: có được một cái Tết cho hợp lý, có ý nghĩa mà cũng là có văn hoá- cái đó không phải dễ.
Đã in Chuỵen cũ văn chương 2001
Một cách đón tết đầy thách thức
Đã gọi là nhà văn, xa gần ai chả viết về đời sống dân tộc, song trong các nhà văn Việt Nam hiện đại, nếu cần tìm một người biết từ những mảng sống, những thực tế ai cũng sống ấy, đưa lên thành nề nếp, thành một cái gì thuần thục kỹ lưỡng, tóm lại là biết xem xét đời sống ở bình diện văn hoá, thì người ta trước hết nghĩ đến Nguyễn Tuân (1910-1987). Cách sửa soạn cho một ấm trà ban mai hay cái nghi thức thiêng liêng mở đầu cho một ngày. Những đắn đo bàn bạc trước khi làm mấy cái đèn trung thu hay vẻ trịnh trọng trong việc đón cái Tết vốn chỉ được coi là dành cho con trẻ. Rồi ý nghĩa tìm thấy ở trò chơi thả thơ đánh thơ, quan niệm về nhân cách qua một kiểu viết chữ… Rồi đức hy sinh của một người chị cho một nguời em trai, niềm tự tin hay những kiêu hãnh chính đáng của một vị quan có học… Bao nhiêu nếp sống hàng ngày đã được Nguyễn Tuân ghi nhận! Thì dĩ nhiên là những ngày Tết nguyên đán cũng đã để lại vang và bóng của nó trong tâm trí Nguyễn Tuân, dù nhiều khi chỉ là những vang bóng thoáng qua. Lấy ví dụ như ở thiên truyện Hương cuội in trong Vang bóng một thời. Đặt bên cạnh những Chém treo ngành hoặc Ném bút chì có gươm khua, có máu chảy (dù là tất cả đã được làm một cách rất tài hoa), thì Hương cuội giống như một sự dềnh dàng cố ý cốt cho thấy cách đón xuân của cổ nhân cầu kỳ mà cũng thanh đạm đến như thế nào. Này là cảnh chuẩn bị Tết ở nhà cụ Kép: trong lúc đám dâu con đàn bà ngồi lau lá dong và làm bếp, còn lũ trẻ lo đánh bóng đỉnh đồng, lư hương, thì ông cụ chỉ loanh quanh bên cái chậu hoa, và để hết tâm trí tới việc sửa soạn bữa rượu Thạch lan hương. Quả thật, cái cảnh uống rượu nhắm với đá cuội tẩm kẹo mạch nha là một nét lạ của văn hoá Tết cổ truyền mà có thể đoán là khống mấy người thuộc lớp hậu sinh chúng ta được biết, và những trang văn Nguyễn Tuân thật đã có vai trò của những thước phim quay chậm để ghi lại tư liệu quý.
Sau Vang bóng một thời xưa đâu Nguyễn Tuân còn định viết Vang bóng một thời Tây. Rồi cái ý định ấy, cũng như nhiều dự định hay ho khác, đành xếp xó. Nhưng đây đó, nhà văn thích phác hoạ lại nếp sống một thời và mang lại cho nó vẻ thanh lịch của một hành động văn hoá, nhà văn ấy cũng đã kịp ghi lại vài nếp sống của xã hội ta khi chuyển sang thời Âu hoá, trong đó có cảnh đón Tết ở các đô thị. Đọc Một người cha về ăn tết (in trong Tuỳ bút I) người ta biết rằng vào những năm ba mươi của thế kỷ này, thành phố Hà Nội vẫn chỉ là nơi làm việc của nhiều công chức, chứ không phải gia hương của họ. Cuối tháng chạp âm lịch, hai mươi, hăm lăm gì đó – tuỳ cảnh tuỳ người – nhiều cặp vợ chồng giao nhà cho đầy tớ, rồi kéo con cái về quê ăn tết. Có thể là ở quê, họ lại sẵn sàng ngồi bên nồi bánh chưng cổ truyền suốt đêm để sống lại cái nền nếp vốn có của cha ông. Còn ở thành thị, nơi họ làm việc, thì cái nếp sống Tây phương cũng đã len vào thành những phong tục mới, nhuần nhị và thành thục. Trông nhà trong mấy hôm ấy, một trong những việc đám thằng nhỏ phải làm là để cái đĩa pha lê ra bàn giữa nhà cho bạn bè của chủ chúng (mà chúng thường gọi là cậu mợ) đến đặt danh thiếp.
Tuy nhiên cái độc đáo của Tết ở văn Nguyễn Tuân chưa phải là ở những mảng sống được ông miêu tả ghi chép như vậy. Bởi lẽ, sự quyến rũ của văn ông là ở cái hình ảnh bao trùm của con người lãng tử, nên cái ấn tượng về Tết khiến người ta nhớ hơn cả cũng là cách xử sự kỳ lạ của chàng Nguyễn và những phiên bản của chàng vào những ngày mọi người khép mình chờ đợi.
Mặc dù biết rõ là Tết sắp đến nhưng Nguyễn của chúng ta vẫn mải mê với việc vui chơi và sẵn sàng lang thang ở những chốn đâu đâu mà không hề đoái hoài tới việc tận hưởng mọi thú vui thông thường, kể cả việc về nhà sum họp cùng vợ con.
Trong Những đứa con hoang, người ta gặp cái cảnh Nguyễn với hai người bạn xuống xóm vào một ngày tất niên, khi các nhà cô đầu tịnh không ai đi hát, và từ các bà chủ đến các cô con gái trong nhà có nghĩ gì, thì cũng là nghĩ đến chuyện làm ăn trong năm mới.
Lại như câu chuyện Một người cha về ăn Tết. Cái việc tốt đẹp nói ở đầu đề thiên tuỳ bút, thực ra phải đâu là nằm trong dự định của Nguyễn mà chỉ là kết quả của sự tình cờ. Đang ở nhà bạn, định sống thêm một cái Tết tha phương, chợt trông thấy mấy đôi giày trẻ con, thế là lòng nhớ nhà của Nguyễn thức dậy và chàng mới ra ga, về quê trong chuyến tàu rạng sáng ba mươi.
Tóm lại, sau trước, Nguyễn vẫn là Nguyễn, Tết chẳng qua là một dịp để con người ấy tiếp tục mài sắc cá tính của mình, càng mang tiếng chơi ngông, trêu ngươi mọi người, càng lấy làm đắc ý. Giữa cái xã hội Âu hoá nhố nhăng, để khẳng định cá tính, Nguyễn vẫn chỉ có một con đường độc đáo để đi, ấy là con đường đã in dấu chân của nhiều bậc lãng tử cuối mùa, mà ông Cử Hai trong Một cảnh thu muộn là ví dụ.
Vâng, ông Cử Hai ấy cũng là một người đem cái tài hoa ra để đùa với cuộc đời. Đi dạy học thực tế với ông là một thứ “đi ngoạn cảnh hoặc là đi dâng hương ở các đền chùa cổ tích”. Bởi vậy mới có cảnh “gần ngày Tết nhất, người trưởng tràng lúc thu xong sổ đồng môn, chỉ khổ lên vì đi tìm thầy”. Giữa ngày vui của mọi người, cái con người nghệ sĩ không chịu sống cho người khác và hùa theo với người chung quanh ấy sẵn sàng ẩn trong một mái đình vắng nào đó, để gọt cho hết một lắp thuỷ tiên.
Người ta có thể không sống theo và trước tiên là không thích thú với cách sống cao ngạo trái khoáy này, song phải công nhận người giữ được cái đạo đó phải là người có cuộc sống nội tâm phong phú, nội lực vững vàng, trong khi biết tìm cho mình những thứ thức ăn tinh thần không giống một ai, họ thật đã có cuốc ống vượt lên cái phàm tục mà kẻ sĩ xưa nay hằng ao ước.
Đơn độc ngay trên quê hương mình, trốn tránh mọi người, chỉ lấy sự lang thang chỗ này chỗ nọ làm vui, những tưởng ở Nguyễn Tuân đã chết hẳn con người bình thường.
Nhưng không, đến khi có dịp xa quê thực sự, thì Nguyễn Tuân lại có một cái Tết thật buồn, đến mức người ta phải tự hỏi không biết đâu mới là bản chất thực của cái con người phiền toái đó.
Trong Một chuyến đi ông đã kể lại kỹ lưỡng nhiều chuyện liên quan đến cái lần nhà tài tử nghiệp dư là ông, cùng với một số bè bạn, sang Hồng Kông đóng phim. Cảnh ông ăn Tết ở xứ người chính là xảy ra vào đầu năm Dần đó (1939).
Hiện lên trước mắt chúng ta là một bức tranh hai màu đối lập.
Một bên là cảnh dân địa phương náo nức vui thú. Những tràng pháo dài hàng vạn quả đua nhau nổ dữ dội. Những gốc đào tươi tua tủa hoa nhạt và nụ thắm. Rồi đêm Hương Cảng đỏ rực hẳn lên với phiên chợ Tết “như cảnh bài trí trong một truyện thần tiên hoặc trong Liêu Trai…”.
Một bên là cái tâm trạng buồn thiu của người lữ khách cô độc, mắt mờ hồn mê, tiền không có, bạn không có, đi giữa đường vui phải giơ tay nắm chắc lấy lòng can đảm của chính mình để khỏi chán chường thêm. Vốn là điều làm nên sự kiêu hãnh của người lãng tử, sự khác người với Nguyễn Tuân trong những ngày Tết năm ấy chỉ còn là một cái gì nặng nề, không sao chịu nổi. Trong lúc tỉnh táo, tác giả cảm thấy rất rõ là mình đang đánh mất mình: “Tôi chiều nay hằn học với số phận, dám cáu kỉnh với cả cuộc đời phiêu lưu mà xưa nay tôi vẫn ca ngợi. Chiều nay, tôi cũng muốn vứt đi một cái gì”.
Chưa bao giờ như trong Một chuyến đi, con người Nguyễn Tuân lại hiện ra yếu đuối đến thế, bất lực đến thế!
Song cũng là một sự thực kỳ lạ: ấy cũng là lúc Nguyễn đáng yêu hơn bao giờ hết. Sau cái lần vỏ ngạo ngược, ngông nghênh hoá ra chàng Nguyễn vẫn rất mềm yếu, rất tình cảm, nghĩa là rất gần với mọi người.
Có lẽ vì thế, chúng ta hiểu vì sao sau này tỏng tiếng súng chiến tranh khi cùng một đoàn kịch đi suốt từ Hà Nôị tới Nam Trung bộ, khi lội suối trèo đèo theo bộ đội đánh đồn, nhiều cái Tết trong văn Nguyễn Tuân lại hiện ra với những nét vui vầy đầm ấm, và những ngày hoà bình sau 1954, hầu như Tết nào ông cũng có những bài tuỳ bút vui Tết với mọi người.
Vẫn với cách nói hóm hỉnh vốn có, ông bảo rằng đó là những lần mình ngả từ vườn đào nhà ra mấy cành để góp mặt với những ngày vui ở chợ hoa Hàng Lược. Một trong những bài tuỳ bút của Nguyễn Tuân hồi ấy độ một cái tên khá lạ lùng Tôi bán năm cành hoa tết.
-- Tại sao nhiều người quá tin vào những lời hứa hão để cho vay với lãi xuất cao ? Chỉ tại lòng tham ?
-- Không đủ. Lòng tham con người VN thời nay quái đản kỳ quặc hơn bất cứ thời nào. Thời đại đẩy họ tới cách nghĩ như vậy. Trước mắt họ bao nhiêu kẻ tự nhiên giàu lên đùng đùng, bao nhiêu vụ làm ăn nhảm nhí cuối cùng trót lọt. Họ không còn tin tính chính thường của sự phát triển.
Vả chăng, dân ta thường sống bằng tâm lý cầu may.
-- Tại sao nói ngọng ngày một tràn lan?
-- Vì cả xã hội chúng ta đang có một thái độ rất cẩu thả về ngôn ngữ. Vì các chuẩn mực của chúng ta không hình thành, và trước đó, một số thành phần của nó được hình thành một cách ngẫu nhiên tùy tiện. Tôi rất muốn viết một bài báo chứng minh rằng với tư cách một công cụ giao tiếp, thứ ngôn ngữ mà chúng ta đang dùng làm chậm lại sự phát triển xã hội.
Nói ngọng l/n chỉ là một dạng. Chúng ta đang ngọng đang cóng trong bao nhiêu chuyện khác. Trong khoa học có một danh từ gọi là entropy. Nó là sự hỗn loạn, là sự thoái hóa, là điểm chết.
22-11
ĐỒNG TIỀN VÀ XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
D.I. Levin Sự hiện đại hóa theo kích thước của nhân loại là tên cuốn sách anh Sokolov mới gửi tôi, trong đó ngay trang đầu đã có một câu đầy hấp dẫn “ Đối với ngành nghiên cứu tâm lý xã hội không có một nhiệm vụ nào quan trọng và khó khăn hơn là cắt nghĩa bằng cách nào, con người của xã hội truyền thống lại trở thành những nhân cách của xã hội hiện đại”( nguyên là của hai tác giả Mỹ Inkeles và Smith, Levin chỉ dẫn lại)
Ở trang 100 của cuốn sách, tác giả lại trích một đoạn trên Tạp chí kinh tế Viễn Đông FEER 29-9- 1994, viết rằng “ một sự thay đổi khủng khiếp đã diễn ra trong lòng người dân Trung quốc. Tiền! Có thể nói chỉ riêng từ đó đã thâu tóm đầy đủ tâm trạng của người Tầu hiện đại”
24-11
SỰ VÔ CẢM THƯỜNG TRỰC
Từ dưới bãi một em nhỏ lên cầu Long Biên, cất tiếng chào khi tôi dắt xe từ cầu đi xuống. Lẽ ra tôi phải sung sướng vì gặp được một đứa trẻ ngoan mới phải. Sao lần này cứ thấy gờn gợn. Mãi mới nghĩ ra. Đứa trẻ chỉ chào lấy lệ. Em chẳng hề quan tâm tới tôi, chả đặt một thoáng tình cảm nào vào lời chào của em. Và có vẻ đó không phải là một đứa trẻ ngoan nữa, một ấn tượng bao trùm đọng lại trong tôi.
Mặc dù biết vậy, tôi vẫn không khỏi… tủi thân. Nhất là buồn cho một con người mà mình vừa gặp.
Muốn gọi đó là sự vô cảm.
Chung quanh mình đang có một sự vô cảm thường trực. Bận bịu quá, nhiều thứ thu hút quá, con người không còn những xúc cảm bình thường mà con người xưa nay thường trải nghiệm.
Dư luận đang nói nhiều tới sự vô cảm. Chủ yếu muốn kêu gọi lòng trắc ẩn, tức là thương xót cảm thông với những bất hạnh.
Nhưng tôi cho là lẽ ra chúng ta phải đặt tình cảm suy nghĩ vào những người quanh ta ở tất cả biểu hiện của nó.
Không chỉ vô cảm trước tai họa mà còn không được vô cảm trước các tài năng, trước vẻ đẹp, trước sự cao quý của con người. Cái đó càng thấy rõ là cần trong một xã hội bị thống trị bởi chủ nghĩa bình quân và tràn ngập những yếu tố thấp kém.
27-11
Sợ hãi và bóng tối nuôi dưỡng những kẻ tàn bạo.
Sai dốt là căn bệnh khó chữa nhất. Khôn vặt bao giờ cũng kèm theo khôn nhà dại chợ. Ngu dốt thông đồng với nô lệ và dã man.
Học là gì? Là từ con người hoang dã trở thành người làm chủ mình. Từ bản năng đi đến trí tuệ. Khổng Tử là người đầu tiên quan niệm về học như vậy.
Thời đại chúng ta cốt yếu là một thời đại bi thảm, bởi thế chúng ta từ chối cảm nhận nó một cách bi thảm. Cuộc đại biến động đã xảy ra, chúng ta ở giữa những đổ nát, chúng ta bắt đầu xây dựng những túp lều trú ngụ tạm bợ và dấy lên chút hy vọng nhỏ bé mới. Đó là một công việc khá nhọc nhằn. Bây giờ không có một con đường bằng phẳng nào dẫn tới tương lai, nhưng chúng ta sẽ đi vòng quanh hoặc bò qua những trở ngại. Chúng ta phải sống thây kệ bao nhiêu bầu trời đã sụp. (D.H.Lawrence, nhà văn Anh, 1885-1930 tác giả Người tình của Chatteleyphu nhân)
30-11
GIỮA VÒNG VÂY
CỦA MỘT THỊ TRƯỜNG QUẢNG CÁO TÀN BẠO
Chị Đàm bạn tôi kể bữa cơm cũng như mọi nhà thường hay đồng thời xem tivi. Nhưng tay chị luôn phải cầm bộ điều khiển để hết tin là tắt tiếng ngay, một sự tự vệ tránh sự khó chịu mà quảng cáo mang lại.
Sao mà quảng cáo thời nay nhiều thế!
Chúng tôi là lớp người già, thường nhớ cái câu “hữu xạ tự nhiên hương’. Chắc là hàng kém hàng hỏng thì nhiều nên mới phải chi cho quảng cáo lớn đến thế, thấy sự lặp lại quá đáng của nhiều chương trình quảng cáo, chúng tôi thường tự nhủ.
Quảng cáo ồn. Quảng cáo nhạt. Quảng cáo theo lối của dân bán kem rao trên tầu điện trước 1954 ở Hà Nội. Quảng cáo vào nhà người ta theo lối của kẻ gian phi, cứ sắp đến những tin mà người ta chờ đợi – chẳng hạn các tin thời sự thế giới, hoặc mảng tin thể thao—buộc người ta đằng nào cũng phải nghe.
Và tôi cũng ngờ trong cái triết lý chi phối nhiều chương trình quảng cáo, ở cái lõi của nó, không khỏi chứa chất một chút triết lý lưu manh. Để bán được hàng, tôi có quyền nói quá lên so với sự thực. Che giấu mặt xấu, chỉ phô ra mặt tốt. Nói dối ít chút thôi, nhưng với niềm tin mọi dối trá đều thắng thế miễn là lặp đi lặp lại nhiều lần. Đó cũng là thứ triết lý vuốt ve nịnh bợ mà thực ra là khinh rẻ con người và sẵn sàng lấy thịt đè người, đẩy tới cùng thì thành triết lý của khủng bố và bạo lực.
4-12
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHÓAN
Kỳ dị Bàn về cái lĩnh vực mà tôi mù tịt này, một nhà chuyên môn bảo rằng nó, trong những ngày cuối năm 2011, đang bị méo mó, lệch lạc hay nói đúng hơn là “dị dạng”, không bộc lộ đúng bản chất ….
Xã hội thu nhỏ Có lần tôi nghe một người trong cuộc than thở, bây giờ tôi không còn biết tin ở ai nữa, không tin ở cơ quan quản lý mà cũng không tin ở những đồng nghiệp của mình.
NHÌN RA THẾ GIỚI
Gaddafi nhà chính trị. Ông tự coi mình là người lập ra chính phủ của quần chúng nhà nước quần chúng. Có kỹ năng thao túng đám đông. Sự cai trị của ông có đặc tính bảo trợ và kiểm soát chặt chẽ của nhà nước cảnh sát. Tệ nhất là việc lấy người dân Lybi làm vật thí nghiệm cho các lý thuyết xã hội. Cũng tiến hành cách mạng văn hoá, cấm doanh nghiệp tư nhân hoạt động và đốt sách báo không hợp. Lương công chúng thấp. Chỉ một bộ phận thượng lưu sống sung sướng.
Chất đồng bóng Một trong những nét đáng nhớ của nhà lãnh đạo Lybi vừa bị gạt bỏ này là tính đồng bóng. Nền chuyên chế thường đi kèm theo với cả thói đĩ bợm, nói chung là sự truỵ lạc.
Trở lại với VN trong quá khứ. Sách Xã hội Đại Việt của Lê Nguyễn thấy kể, theo lời lái buôn Poivrre, chúa Nguyễn Võ Vương Phúc Khoát cũng đỏng đảnh, thích tập trung phụ nữ các trấn về rồi cùng học thêu, học may với họ.
Về quan hệ giữa chúa và các quan chức đương thời, Poivrre viết ” chúa sống giữa một đám những tên ăn cắp đã chia sẻ với ông cái thi thể của một đất nước nghèo nàn.”
Khó lường Một đội bóng khó đánh bại là một đội bóng trở nên khó lường. Gaddafi là kẻ khó lường. Gaddafi người coi thường mọi nguyên tắc mà mọi người ở địa vị ông ta phải theo. Ông ta bảo "người dân ở bốn góc trời này đều yêu mến tôi".
Phát điênDân Nga nói về Putin sau vụ bầu cử :"Chính phủ của ông ta tệ hại, tòa án là những con rối, những kẻ chuyên áp hình phạt thì khoác áo cảnh sát, các ủy ban bầu cử đã xếp sẵn kết quả và những người trong guồng máy của ông ta thì nắm giữ những vị trí quan trọng nhất, béo bở nhất - tất cả những thứ đó khiến chúng tôi phát điên!"
Sự tưởng tượng chỉ huy cuộc sống Nhà phê bình lịch sử Ian Ratchinski nhận định về cặp lãnh đạo nước Nga Putin-Medvedev: “Dù họ không ủng hộ tư tưởng cộng sản, nhưng hai ông vẫn quản lý đất nước theo kiểu chế độ Xô Viết, giống như các lãnh đạo Liên Xô cũ chỉ dựa trên các báo cáo ngụy tạo của cơ quan mật để ra quyết định. Họ luôn sống trong một thế giới tưởng tượng.”
7-12
GHI VẶT
Tờ Thể thao văn hoá có bài Mỹ cũng khủng hoảng giáo dục.
Người mình hôm nay rất thích những bài nói về cái xấu của thế giới. Họ cũng như mình. Họ còn tệ hơn mình nữa. Trong cơn tuyệt vọng, điều đó giống như một niềm an ủi.
Một nhà sử học tự hào mình đã dám nói là vua Gia Long thuỷ chiến giỏi. Việc tối thiểu, bây giờ được coi là việc ghê gớm, kỳ thế đấy.
Ý của bộ trưởng Lê Doãn Hợp hồi còn đương chức: không thể cho phép có báo chí tư nhân, vì dân trí thấp và nhà báo không chuyên nghiệp.
Nhưng nhớ lại sau 1945, tại sao có báo chí tư nhân? Lúc ấy khá hơn? Kết luận là xã hội chúng ta đã thụt lùi? Lỗi đó thuộc về ai ? Rồi sự thụt lùi còn đi đến đâu?
HẬU CHIẾN THỜI NAY – HẬU CHIẾN THỜI XƯA
Chiến tranh trong xã hội VN cũ gồm cả nội chiến lẫn chống ngoại xâm. Cả hai cùng khai thác sức người đến kiệt quệ.
Sau chiến tranh phần lớn lính tráng còn sống trở về cũng trong tình trạng thân tàn ma dại, giải ngũ chẳng qua là cam lòng sống chút ngày thừa. Cả một xã hội làng xã quằn quại giữa tàn lụi và tái sinh, thiếp đi đến hàng vài chục năm.
Thời nay, chiến tranh hiện đại càng bòn rút sức người đến khủng khiếp. Nhưng phần lớn các chiến binh khi trở về không cam chịu cảnh bị gạt ra rìa. Chúng ta đổ về các đô thị lấp đầy bộ máy nhà nước và bắt tay vào những công việc phức tạp của quá trình xây dựng xã hội hiện đại.
Về chuyên môn, ta gần như không được đào tạo. Nhưng cần gì ? Duy ý chí ư ? Ảo tưởng… Giá kể có ai nói vậy thì ta thừa sức cãi lại. Cái khát vọng làm lại cuộc sống thổi vào tai ta đủ thứ lý lẽ, mà lý lẽ quan trọng nhất là đã làm chiến tranh được thì làm gì cũng được.
Theo tôi đây là cái tâm thế đang đóng vai trò chi phối mọi người cả tôi cả anh cả nhiều người chúng ta. Nó là nguồn gốc của sự bừng bừng khí thế và những rạn vỡ hôm nay do chính chúng ta tạo ra.
Ngày xưa ta từng tự nhủ chỉ cần đất nước trong tay người mình thì chúng ta sẽ làm được tất cả.
Ngày nay nhiều người hầu như quên rằng đã có lúc bảo nhau lý lẽ theo kiểu ấy. Ta lảng tránh, không muốn bàn thêm thế nào là sai, thế nào là đúng. Chỉ còn hành động theo thói quen, hành động theo những định hướng có sẵn. Tai vạ làm sao thoát khỏi?
10--12
DI LỤY CHIẾN TRANH
PLTP đưa tin theo thống kê, bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh tại Việt Nam có tại tất cả các tỉnh, thành phố với hàng trăm chủng loại khác nhau.
Tổng diện tích bị ô nhiễm bom mìn lên tới 6,6 triệu ha, chiếm khoảng 20,12% diện tích cả nước. Ước tính để dọn sạch bom mìn, vật liệu nổ trên toàn quốc sẽ phải mất hàng trăm năm với kinh phí lên tới khoảng 10 tỉ USD.
Thế còn những di lụy trong cách nghĩ cách sống? Có thể ước tính ra sao?
Sau vụ Lê Văn Luyện cướp tiệm vàng, có tin ở Đà Nẵng có một nhóm gồm 7 người tuổi còn rất trẻ, lập blog, lấy tên là “Sống về đêm”, tự xưng là “đàn em của Lê Văn Luyện”. Chung tiền mỗi người từ 50.000 - 100.000 đồng để mua máy về chế tạo hung khí.
Khi giải thích chuyện này người ta có thiên hướng xem đó là do ảnh hưởng của phim hành động xã hội đen. Tôi công nhận cái đó có. Nhưng tôi còn nhớ tới những tấm gương chiến đấu trong chiến tranh mà người ta viết thành bài học ngày nay vẫn đem giảng ở nhà trường. Có khác nhau mấy đâu.
HIỆN ĐẠI HÓA THEO KIỂU CHÍN ÉP
Các loại bao bì ngày một bị lạm dụng. Theo tôi hiểu, ở nước ngoài, người ta cho phép sử dụng rộng rãi bởi vì loại người ta dùng là loại có thể tự hủy. Còn ở ta, cái công nghệ ấy chưa có. Sự hiện đại hóa nửa vời là sự hiện đại hóa có hại.
15-12
NHÀ VĂN VÀ CHIẾN TRANH
Chợt nhận ra rằng trong những năm chiến tranh nhà văn ở ta viết nhiều về chiến công chiến thắng chứ không viết về những thể nghiệm của mình trong cuộc sống hàng ngày thời chiến.
Vì cấp trên không hề yêu cầu ở ta các sáng tác đó, và báo chí lúc ấy cũng chẳng in các sáng tác đó.
Nhưng không in báo không có nghĩa là ta không viết. Mấy năm 1966-67, bom Mỹ đánh cả vào trung tâm Hà Nội. Xuân Quỳnh có bài thơ sau đây, nó ghi lại cái bồn chồn nơi tác giả giữa thời ly loạn.Theo tôi nhớ thì bài chưa in ở tập thơ nào của tác giả.
Điều không nói hôm nay
Chúng ta đi trên phố còn cháy dở
Im lặng dừng chân bên mảnh tường đã vỡ
Ngọn đèn chiến tranh thức đỏ đêm trường
Và tuổi thơ nát vụn dưới chân tường
Nghĩ gì anh anh không nói cùng em
Một tiếng thiêng liêng trước cuộc đời còn mất
Nếu không nói lúc này em biết
Điều ấy với em, anh chẳng nói bao giờ
Anh có thể gặp lại em trên đường phố Thủ đô
Hạnh phúc xanh dưới ngọn đèn bỡ ngỡ
Những nhà cao xóa đi nền gạch vỡ
Mặt người qua mang mỗi nét vui riêng
Điều hôm nay ta dẫu chưa quên
Nhưng đời khác mà lòng ta cũng khác
8/67
Bình Thuận -- Khai thác titan tàn phá bờ biển hơn chiến tranh.
Có một lần một người đã đùa bỡn đề nghị tai nạn giao thông nhiều quá, những nước có chiến tranh như bên Iraq Afganistan, hàng ngày người ta cũng không chết nhiều như mình, vậy thì phải tuyên bố tình trạng chiến tranh thôi.
19-12
MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN VĂN HÓA
-- Anh giải thích sao về điện ảnh ta hôm nay?
-- Ở nước nào điện ảnh cũng phải dựa vào văn học và sân khấu. Văn học và sân khấu ta thế này thì điện ảnh cục cựa sao nổi?
Ảo tưởng của một số anh em điện ảnh là có thể dựa vào kỹ thuật để vượt lên so với các ngành khác. Xin lỗi, ấu trĩ quá.
-- Điều kiện để có thể khôi phục lại một lễ hội ?
-- Nó phải có thật; tôi nói vậy, vì nhiều lễ hội xưa không có nay mới được người ta bịa ra để trục lợi. Khi đặt vấn đè khôi phục, nó phải được nghiên cứu nghiêm túc, đúng như nó có. Sự hiểu biết về một lễ hội không chỉ bao gồm việc người ta lâp một hồ sơ chân thực về chính nó. Mà còn phải biết chỉ ra mối quan hệ giữa lễ hội và cái không gian văn hóa chung quanh.
GHI VẶT
Chữ Hán dạy cho người ta điều gì? Ngang bằng số thắng sự cân bằng động những khoảng trống. Ở Trung Hoa, thư pháp không chỉ được coi là một nghệ thuật mà còn được đưa lên thành một văn hóa.
Tại sao sử học VN không phát triển? Một phần vì chúng ta không có một thứ văn tự hữu dụng, làm công cụ chuyển giao kiến thức giữa các thế hệ.
Cho đến ngày hôm nay, người Việt vẫn sống theo hàng ngang với trục đương đại hơn là sống với quá khứ với chiều dọc thời gian lịch sử.
Cuốn Nước Đại nam đối diện Pháp và Trung Hoa được in lại. Lời cảnh báo của Tsuboi: Năm 2012, với xã hội VN, là năm quyết định. Ông ta còn nói thêm, các bạn còn yếu tố văn hoá. Có đúng thế không?
Đang phổ biến thói chơi máy ảnh. Người Việt trẻ khao khát ghi lại từng giây phút đời sống của mình. Chỉ đối diện với mình là ngại. Sự phổ biến của máy ảnh càng làm lộ sự thiếu sót về tự nhận thức.
NHỮNG CÂU HỎI LẨN THẨN
Việc bia rượu chỉ cấm với những người tham gia giao thông. Còn nói chung thì tràn lan từ nông thôn tới đô thị và theo mức độ ngày một khủng khiếp hơn.
Tôi nhớ rằng các xã hội lành mạnh đều có hạn định về chuyện này. Nhưng ở ta thì đến bao giờ, bao giờ tìm ra một công thức hợp lý?
Quảng cáo bia đang chiếm bao nhiêu phần trăm thị trường quảng cáo?
Điện ảnh suy thoái. Âm nhạc khủng hoảng. Thế còn văn học thì sao?
Báo động sức khỏe công nhân Thời buổi giá cả đắt đỏ, suất cơm công nhân không chỉ teo tóp mà còn thiếu chất. Sau hai năm khảo sát 1.000 công nhân đang làm việc trên địa bàn TPHCM, có đến 30% số công nhân bị suy dinh dưỡng. Đối với lao động làm việc trong môi trường độc hại, gần 30% công nhân có sức khỏe từ kém tới rất kém.
Người Việt kéo dài tuổi thọ nhưng không khoẻ. 80% người già mắc từ hai thứ bệnh trở lên
Nhiều lúc, xem các chương trình quảng cáo VTV, coi chỉ muốn kêu lên, các ông bà hãy tha cho trẻ con, dạo này các ông bà lạm dụng hình ảnh trẻ quá nhiều đấy.
Một bài báo ít ai để ý: Báo động về nạn lôi kéo nhân dân trồng cần sa. Chuyện của Đà Nẵng.
20-12
Mấy năm nay tôi rất ngại đi dự các đám tang, nhất là các đám trong phạm vi của những người dính dáng đến bộ máy quan chức. Lý do là vì ở đó tôi cảm thấy không khí quan phương nặng nề quá. Người ta quân sự hóa nó, biến nó thành một thứ lễ nghi trang trọng giả dối. Xin giới thiệu đoàn đại biểu cơ quan do đồng chí … chức vụ… dẫn đầu.
Nhân đây muốn nói ta không nên trách trẻ khi thấy chúng không dừng lại trước cảnh các xe tang nối nhau trên đường. Tại sao? -- Bởi có mấy khi tang ma được tổ chức nghiêm túc đâu. Không vì người chết, mà người ta chỉ lấy đó làm dịp để tỏ thái độ với nhau, để móc ngoặc. Nhiều khi là một vụ làm ăn.
24-12
ĐIỀU PHẢI TÍNH KHI SUY NGHĨ TÁI CƠ CẤU
Sách Chế ước quyền lực Nhà nước của Nguyễn Đăng Dung Nxb Đà Nẵng ở tr. 404 có đoạn dẫn lại lời Thủ tướng Phan Văn Khải, nói tại Hội nghị Doanh nghiệp 10-2004, báo Thanh Niên ghi lại, trong số 15-10-2004.
Điều tôi canh cánh bên lòng là bộ máy hư hỏng.
… Bây giờ các chính sách đã có nhiều tiến bộ, nhưng bên dưới vẫn còn nhiều tiêu cực. Ví dụ chính sách thuế đúng nhưng người thực hành thu không đúng, hành hạ người ta thì chính sách đó cũng mất tác dụng…
Đại diện Phòng thương mại Mỹ nói tham nhũng ở nước ta tràn lan, làm vô hiệu hóa bộ máy nhà nước có pháp quyền nhưng hóa ra lại vô pháp quyền …Ta cứ nói là lo cho dân, nhưng đâu cũng có tiêu cực thì người ta đâu có tin mình. Trong nhiều năm làm Thủ tướng tôi canh cánh một điều trong lòng và chắc là cả đến lúc nghỉ hưu , là bộ máy chúng ta hư hỏng, làm sao đẩy lùi được .
Nhìn lại hội nhập, một bài trên TBKTSG có cái tên: Một hội nhập buồn
Ea Sola nhận xét “Dân Đông Nam Á treo nền văn hoá truyền thống của mình - như con người treo tóc lên cây -- để phát triển kinh tế, theo kiểu phương Tây. Một dân tộc như thế không bao giờ thành ra phương Tây mà chỉ là tự sát”
NHÌN RA THẾ GIỚI
LHQ cấm nước giàu xuất khẩu rác phế thải ra nước nghèo
Xây dựng ở Philíppin -- những nhà ổ chuột bị đốt, để lấy đất thành thị xây cao ốc.
Thái Lan Trong lũ lụt, cấp dưới cũng không nghe lệnh Thủ tướng
Mianma chuyển sang dân chủ, tại sao ? Tôi nhớ những bài viết về xứ đó từ lúc đen tối nhất. Vẫn còn sinh viên. Còn đám công chức mẫn cán, rất giỏi tiếng Anh và không được tính chuyện làm thêm. Trong những buổi tiếp khách nước ngoài, các nhân vật hàng đầu của cái xứ gọi là chuyên chế này không cần phiên dịch. Đúng là hôm qua họ là các tướng lĩnh. Nhưng đó là những viên tướng trí thức.
Tóm lại họ còn văn hóa thứ thiệt. Còn văn hóa thì sẽ còn dân chủ. Xã hội không có nền tảng văn hóa thì có muốn cũng chỉ có dân chủ ở dạng đơn sơ, hình thức giả tạo.
Tổng Thống Obama trong bài phát biểu trước Quốc hội Úc 21-11-2011 nói: Lịch sử đứng về phía của các xã hội tự do, chính quyền tự do, kinh tế tự do, con người tự do.Lịch sử chứng minh rằng, qua quá trình lâu dài, dân chủ và phát triển kinh tế cùng nhau đồng hành. Và thịnh vượng mà không có tự do thì chỉ là một hình thức khác của sự nghèo khó.
- Cách mạng Ả rập chỉ là lật đổ cái chế độ chuyên chế và tham những
Nhưng sau đó là hỗn loạn đình đốn và cai trị kém. Và tiếp theo mùa xuân Ả rập lại là sự bắt đầu của mùa đông Ả rập
27- 12
NHỮNG CON SỐ
Một số doanh nghiệp phản ánh phải đào tạo lại 94% sinh viên mới ra trường.
Chỉ có 1% số công trình xây đựng được vận hành theo đúng tiến độ dự định.
Tiến ngoài sông kể cuối niên học trường con anh ta học ngoài bãi Phúc Xá có những lớp chỉ có hai học sinh.
Theo các chuyên gia: 1/3 trẻ em Việt Nam bị còi do thiếu nguồn dinh dưỡng từ sữa mẹ.
Đêm Noel Hồ Gươm biến thành bãi rác và quán nhậu.Túi bóng, thức ăn thừa, vỏ chai bia, rượu, rác rến vứt bừa bãi và các bãi cỏ ở Hồ Gươm bị hàng nghìn người xéo nát.
Chồng làm đám tang cho vợ đang sống! Nhiều biểu hiện của ăn hóa thời nay là sự trở lại của phần lạc hậu trong văn hóa xưa.
28-12
SỰ KHỐN CÙNG CỦA CHẤT LƯỢNG
Cái giả đang trở thành một bộ phận của đời sống. Thí dụ đạo đức giả, bằng giả, học thuyết giả, hoa giả, người giả và hàng trăm thứ giả. Và giá trị của nó cũng tăng tiến Chả thế mà trong dân gian có câu: Giả thật hơn thật/Sai đúng hơn đúng ( câu này dẫn theo mạng Ng X Diện )
Có tin cả một số mặt hàng gốm Bát Tràng cũng là hàng từ Trung quốc chuyển sang, đóng dấu “ tinh hoa văn hóa Việt”. Và người Bát Tràng tự nguyện làm việc này.
Nguồn tin từ Tổng Cục Hải Quan Việt Nam VN cho biết 90% những loại hàng giả trên thị trường trong nước đều có xuất xứ từ Trung Quốc.
Theo số liệu của Interpol, Việt Nam có số lượng thuốc giả cao thứ nhì khu vực Đông Nam Á. Đây là những loại thuốc pha chế bằng bột mì hoặc dược chất thấp.
Ai mà chẳng ngại hàng giả?
Thế tại sao cái giả ấy vẫn ngự trị giữa đời sống hàng ngày của chúng ta, sự từ chối không bao giờ được đẩy tới cùng?
Chưa nói các mặt hàng cao cấp Tầu làm giả của Tây… Chỉ cần nhìn vào quần áo người dân Hà Nội đang mặc, con dao cái xẻng, cái bút, tập vở đồ đạc mọi người đang dùng, cái vốn ngôn từ mà cánh nhà báo thích khoe đưa ra nhằm gây ấn tượng…
Giữa bao nhiêu nguyên cớ khiến cho cái sự giả thắng thật này còn diễn biến triền miên, tôi nhận ra một lý do chủ yếu. Cái giả ngoại nhập ấy của họ còn tốt hơn rẻ hơn tiện dụng hơn và nói chung là thích hợp hơn cái thật người mình sản xuất mà mang bán cho nhau. Giãy giụa chỉ là một cách làm dáng. Chỉ còn có cách ngậm ngùi cho sự phát triển của xã hội mình, chứ trách ai bây giờ!