Xem đoạn phim về một vườn Bách thú ( cụ thể là ở Thượng Hải ), điều tôi ngạc nhiên nhất lại là cái cách người ta trưng bày: trong khi thú ở Hà Nội được nhốt trong chuồng thì ở đây, thú được để hoang.
Còn người đi xem cũng ở vị trí ngược lại, tức là chỉ có quyền nối đuôi nhau đi theo những hành lang đã được rào chắn cẩn thận, để từ đó đưa cặp mắt nhìn ra vườn thú.
Người như bị dốt trong khi thú tha hồ tung tăng.
Có vẻ là hơi gò bó, nhưng để bù lại, họ được thấy con thú sống trong cái thế gần như tự nhiên vốn nó vẫn sống.
Đọc tài liệu về một bảo tàng mới khai trương, tôi lại nhận ra một điều lý thú khác.
Nếu vào bảo tàng Việt Nam bắt buộc phải nghe những người thuyết minh ( phần nhiều nói năng ngô nghê bởi không hiểu bao nhiêu về nội dung trưng bày, mà vui lòng làm một tiếng loa rè nhắc lại kiến thức đã được viết sẵn ) --, thì ở đấy, khi vào xem, mỗi người được phát cho một máy nghe, trông như điện thoại cầm tay.
Trước một hiện vật nào đó, nếu muốn hiểu thêm, người nghe chỉ cần bấm máy là nghe được lời thuyết minh cần thiết.
Lại có nhiều kênh khác nhau, ai biết tiếng gì mở theo kênh tiếng ấy.
Phòng bảo tàng không còn cái cảnh ồn ào của đám học trò lạch bạch chạy theo cô giáo -- đây là cô thuyết minh — giảng bài.
Mùa hè 1973, với tư cách một phóng viên của tạp chí Văn nghệ quân đội, tôi có dịp được lang thang ít ngày ở nhiều làng quê Quảng Trị.
Những xóm làng trù phú của Triệu Phong Hải Lăng chỉ vừa mới được giải phóng.
Đến đó tôi không chỉ ngạc nhiên với các loại tivi, hoặc xe honda, mà còn mê mẩn vì một chuyện khác -- nó chủ yếu bộc lộ cái sự ngô nghê của tôi, nhưng xin phép cứ được kể cho vui – là nhà nào cũng nhiều các loại vỏ chai rượu, cố nhiên toàn rượu tây, chỉ có điều mỗi loại chai chế tạo theo một kiểu dáng riêng.
Nếu ở Hà Nội hồi ấy tôi chỉ biết tới một hai kiểu chai đuồn đuỗn quê quê của nhà máy rượu Hà Nội, thì ở đây kiểu nào cũng lạ. Cái tròn cái bẹt, cái cao cái thấp, cái đút túi rất thuận tiện, cái to tổ bố trông đã sướng mắt.
Với vài ba lần được sửng sốt như vậy, tôi thấy vỡ ra một điều, hoá ra mình biết quá ít.
Và điều đáng sợ hơn, cứ tưởng ít cái đã biết là tất cả những mẫu mực nhất nhất phải theo, rồi chăm chăm nghĩ chuyện sao y bản cũ, lâu dần thành một cách nghĩ khô cứng máy móc, đến nỗi mụ mị quên hết cả tư tưởng tự do lẫn tinh thần thực dụng chân chính.
Trong khi đó với khả năng khơi gợi ý chí sáng tạo, chính chúng, cái tư tưởng tự do lẫn tinh thần thực dụng chân chính ấy, là những nhân tố cần cho đời sống, kể cả trong những việc nhỏ nhất như... tạo dáng cho mấy cái chai cái lọ vẫn dùng hàng ngày.
Trong số khá nhiều những biến chuyển gần đây của ngành văn hóa, có một số nét mới liên quan đến sự tham gia của tư nhân.
Tư nhân có quyền thành lập hãng phim; tư nhân có quyền tham gia vào khâu in ấn, xuất bản, phát hành; tư nhân có quyền thành lập bảo tàng riêng. Ai từng có mặt trong các hoạt động văn hóa mấy chục năm nay đều biết đây là một sự thay đổi vượt bực.
Trước kia chúng ta cứ tưởng làm thế rồi ai quản nổi, không chừng sẽ hư hỏng hết.
Nay mới vỡ lẽ hóa ra khi xã hội hóa như thế, nhờ có yếu tố cạnh tranh, các hoạt động văn hóa văn nghệ sẽ có cơ phá được thế trì trệ hiện thời.
Đến văn hóa văn nghệ còn có thể làm khác được thì kinh doanh sản xuất còn đợi gì mà không làm khác – làm khác với nghĩa từ bỏ cái nếp sống nếp làm việc cổ lỗ bảo thủ để tìm đến một nền nếp mới, hiện đại, phát huy hết năng lực vốn có mà lại cởi mở, tự nhiên nữa.
Đã in trong Những chấn thương tâm lý hiện đại,2009
Viết thêm 31-5-2013
Mong được các bạn trí thức đang thảo luận về các vấn đề xã hội chính trị hiện nay
có dịp liếc qua bài viết.Xin thành thật cảm ơn.VTN
Friday, May 31, 2013
Thursday, May 30, 2013
Nỗi thê thảm của sách vở thời nay
Số lượng
Thống kê của các cơ quan văn hóa mà báo chí đăng lại 12-4 -2013 cho biết tính ra người Việt một năm chỉ đọc 0,8 một cuốn sách.
Trên mạng thấy có người đã đem con số này ra so sánh với thế giới. Thì thấy ví dụ người Trung Quốc là 4,23 cuốn/người/năm. Thái Lan, Malaysia đều cao hơn so với Việt Nam.
Thói quen khai vống khai liều để lấy thành tích vốn không lạ với xã hội ta. Trong chuyện kinh tế còn thế nữa là trong văn hóa. Văn hóa là dễ lấp liếm hoặc nói bốc lên nhất.
Thành thử con số 0, 8 ở trên chỉ có thể dùng tạm.
Cái gọi bằng sách trong thống kê này hẳn bao gồm thượng vàng hạ cám đủ loại khác nhau và ở đó chắc chắn có nhiều tập giấy in chứ không thể gọi là sách được. Sách không ra sách, sách bất thành nhân dạng có tỷ lệ lớn. Có những cuốn không hề được lật ra, không hề được đọc, sau khi in ra chỉ xếp vào các thư viện chờ ngày thanh lý.
Hồi mới bung ra trong làm ăn, đã thấy có tình trạng một số sách bán chạy phải khai ít đi để trốn quản lý phí. Nhưng cái thời đó qua đi rất nhanh. Mà số lượng sách được đọc nhiều theo kiểu đó cũng chẳng phải là dấu hiệu tốt đẹp gì. Làm sao có thể coi cái sự chạy theo thời thượng ở một xã hội tiểu nông là tốt đẹp được?
Nay là một thời khác. Nhiều tập thơ thì tuy ở ngoài ghi cũng là in 1000, thực ra chỉ in một vài trăm, vì thơ có bán được đâu. Nhưng các nhà thơ thích làm thế để cho thiên hạ biết là mình được đọc nhiều lắm.
Một số sách dịch ở ta được in ra là do tài trợ nước ngoài. Muốn xin được nhiều tài trợ người ta phải giả dối khai cao lên để nhận tiền, ví dụ sách in chỉ một ngàn nhưng đề hẳn ở sau là ba ngàn. Nói dối người nước ngoài ở ta không bao giờ bị lên án cả.
Hình thức bên ngoài cũng là dấu hiệu chất lượng
Có những điều chúng ta đã quen mắt nên thấy bình thường. Nhưng đặt vào một khung cảnh xa rộng sẽ thấy rõ thực chất hơn.
Có lần trên TV giới thiệu sách VN mang bày tại Đại sứ quán Pháp để khách quốc tế tới xem. Trên màn ảnh chỉ thấy những cuốn sách mỏng dính nhưng lại lố lăng lòe loẹt.
Có người sẽ cãi đó chỉ là cái hình thức bên ngoài? Không, tình trạng của nội dung cũng là tương tự.
Kỹ thuật biên soạn ở ta chỉ ở vào trình độ làm sách của những nước lạc hậu nhất trên thế giới.
Nội dung đầu ngô mình sở lam nham, cách trình bầy sắp xếp luộm thuộm.
Trong các báo cáo thường cũng nhấn mạnh là có nhiều sách phục vụ đại chúng bao gồm từ nông thôn đến biên giới hải đảo. Nhưng trong giới người ta đều hiểu ngầm với nhau các loại sách phục vụ nhiệm vụ chính trị này được làm rất cẩu thả.
Sách giáo khoa cũng thế. Cẩn thận trong chi tiết lặt vặt nhưng lại cũ kỹ xơ cứng trong những vấn đề lớn. Chỉ oai hơn ở chỗ được coi là sách chuẩn.
Ngay cái mà ta gọi là các công trình nghiên cứu, hoặc các giáo trình là niềm tự hào của các trường đại học, thì cũng là công trình thô sơ, không thể nói là đạt tới trình độ của nghề viết sách trên thế giới hôm nay .
Sự nhếch nhác trong loại sách cao cấp này còn bộc lộ ở chỗ một số cuốn chỉ lược thuật sách của nước ngoài mà tác giả lại cứ làm như mình viết ra. Tiếng trong nghề gọi là thuổng, luộc.
Các nhà văn đồng nghiệp của tôi còn hay có cái ảo tưởng hão hiền là lúc nào một tác giả VN sẽ được giải Nobel văn chương.
Theo tôi biết, các nhà nghiên cứu thực thụ – cả bên khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội – thì biết mình biết ta hơn. Họ thừa hiểu cái chuyện từ nay tới lúc có những cuốn sách được dịch ra tiếng nước ngoài, nghĩa là góp phần vào guồng máy nghiên cứu của họ – ngày đó xa lắm.
Những bước thay đổi vô nghĩa.
Ở Hà Nội trước 1975 , thỉnh thoảng một người làm báo như tôi cũng được thấy vài cuốn sách in ở phương Tây do người đi nước ngoài mang về.
Không rõ nội dung, chỉ cần nhìn vào cách in ấn đã thấy ta đi sau họ mấy thế kỷ.
Thời nay thì kỹ thuật chúng ta nhập vào đã mang tới một sự tiến bộ. Có một số cuốn cũng làm được như sách Tây sách Tầu. Nói chung là sách đẹp, nuột nà hơn trước nhiều.
Nhưng nhiều khi những cuốn sách đẹp đó lại không phải là những cuốn có giá trị về mặt nội dung.
Hoặc đó là của mấy người buôn bán có tiền quay ra chơi bời viết sách làm sang.
Phổ biến hơn là sách của những cơ quan nhà nước muốn khoe mẽ, lấy vẻ trang trọng bên ngoài che đi phần nông cạn bên trong. Ngoài ra còn có loại sách cấp dưới làm để tô son đánh bóng cho cấp trên, ra cái vẻ sếp của mình cũng là những tác giả. Sách để bầy. Sách đẹp cho không. Loại này càng chẳng có ma nào đọc.
Sự lưu hành của sách
Tháng 4-2011, tôi đến Văn Miếu xem một ngày gọi là hội sách. Người ta phải bán kèm sách bằng cách tổ chức các cuộc đố vui, thi lấy thưởng. Và phát sách tự do. Từ đấy mới xảy ra cái chuyện hi hữu là có người xông vào cướp sách.
Nhớ lại một chi tiết trong truyện Khổng Ất Kỷ của Lỗ Tấn. Nhà nho này có tật đi chép thuê cho nhà nào thì hay thó luôn sách của nhà đó, khi bị phát giác ông ta cãi lại một cách gọn lỏn “Ăn cắp sách không có lỗi.”
Trong giới những người ham đọc cũng có một câu ba vế như sau
-- Có sách hay mà không mang khoe là một sai lầm
--Trông thấy sách hay mà không hỏi mượn là một sai lầm lớn hơn
-- Mượn được sách hay mà không thó luôn làm của mình là một sai lầm không thể tha thứ được.
Thế tức là phải thấy “có yếu tố tích cực” trong việc sách được người ta xông vào cướp. Là hay là đáng mừng chứ gì?
Không, tôi biết mấy người xông vào cướp sách lần ấy không yêu sách quý sách đến thế. Họ chỉ hăng máu làm theo người khác. Thấy xông vào ăn cướp là vui thì cũng làm theo, mình giật được cái mà người khác không giật được chẳng vui là gì. Sau khi cướp được sách có người không buồn nhìn xem cuốn sách mình cướp được là gì, chỉ thầm nghĩ có thêm ít giấy về làm việc vặt. Có người vứt luôn ngoài cổng.
Vẫn có những người đứng đắn lo viết sách như sự nghiệp đời mình.
Nhưng nỗi đau khổ thường trực của họ là hiện nay là sách ra, như rơi vào khoảng không. Không được giới thiệu trên mặt báo. Không được thảo luận. Muốn gây được dư luận, nhất là phải có tiền, bạo chi. Mấy người hiện nay hội đủ những điều kiện đó?!
Friday, May 24, 2013
Hai đoạn ghi về tuổi già và phụ nữ
TUỔI
GIÀ...
Mấy ông già tôi quen ngoài sông có lần
ngồi đọc một câu ca dao mà ở nhiều gia đình thành câu truyền miệng.
Đố:Con
gì ăn ít nói nhiều
Mau
già lâu chết, miệng kêu tiền tiền.
Trả lời: đám già.
Nhớ một lần khác, nghe một ông già kể. Có lần
một người mẹ đang chơi với con vui vẻ, thấy ông ta đến liền bảo kìa chào ông
đi, đứa bé ngó một lúc rồi sợ quay ra chúi đầu vào vai mẹ khóc nức nở.
Với nó, khuôn mặt già cả nhăn nheo là một
cái gì xấu xa kỳ dị đáng sợ.
Cái già ở đâu cũng thế, chẳng cứ mặt người!
Thế mà thử nghĩ xem, chúng ta sống giữa một xã hội già cả cố lỗ-- già trong
tinh thần chứ không phải bề ngoài.
Cả lớp trẻ hiện nay, sao tôi trông cái
cách kiếm tiền chơi bời hưởng thụ, cũng thấy họ già sớm quá.
...VÀ PHỤ NỮ
Nếu tuổi già tiêu biểu cho suy kiệt thì phụ
nữ tượng trưng cho sự đỏng đảnh. Đây là ý của Henry Troyat (1911 2007).
Ông
này là một nhà văn Nga, sau Cách mạng tháng Mười lưu vong sang Pháp, viết văn,
trở thành viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Ông
thường viết về nước Nga cũ, nhưng lại từ chối không bao giờ về thăm quê hương.
Ông bảo, để cho cái cũ nó được sống đúng như nó có.
Sau đây là đoạn văn mà tôi tạm đặt tên là Đàn
bà là gì?, Henry Troyat viết nhân khi bàn đến nhân vật Grouchenka trong
tiểu thuyết Anh em Karamazov.
Người đàn bà, ấy là sự điên cuồng làm bằng xương thịt.
Người đàn bà khô héo trong sự chờ đợi, đau khổ trong sự thực hiện những
ý muốn của họ.
Lúc thì họ ác độc để có cái thứ tỏ ra dịu dàng tiếp sau đó.
Lúc thì họ dịu dàng để có cái thú
được tỏ ra độc ác liền một khi.
Họ có những e lệ tà tâm và những khoái lạc ngây thơ. Họ nói láo với đàn
ông, với chúa, với chính họ. Họ đùa với cuộc đời. Họ đứng trước cuộc sống như
đứng trước một tấm gương. Họ làm duyên làm dáng.
Và họ thay đổi vẻ mặt điệu bộ để tự tạo cho mình cảm giác là mình đang
sống.
Đối với đàn ông sự trường tồn là
bằng chứng của thực thể họ. Và chính do sự đổi thay mà người đàn bà xác nhận sự
hiện hữu của mình.
Cái người đàn ông muốn là một, còn người đàn bà muốn là nhiều.
Người đàn ông chỉ tự cảm thấy
mạnh trong sự ý thức đầy đủ về các đức tính và lỗi lầm của họ. Người đàn bà chỉ
cảm thấy mạnh trong vô thức hoàn toàn về bản thân.
Người đàn ông, chính là cái thế
giới được tổ chức.
Người đàn bà chính là cái vũ trụ dị dạng.
Đối với người đàn bà, tất cả đều
có thể, không gì là nhất thiết với họ cả.
Tôi đã hì hục
ngồi chép lại đoạn này từ bán nguyệt san Văn
in ở Sài Gòn khoảng 1971-72, số đặc biệt về Dostoievski, và có lần đã lại chép
ra một tờ giấy rời để chuyển cho Dương Thu Hương hồi nhà văn này còn ở trong
nước.
Thursday, May 23, 2013
Đường xa vụng tính
Tiếp tục
câu chuyện tầm nhìn hạn hẹp
Từ hồi bung ra làm ăn, mốt phổ biến ở Hà Nội là
nhiều gia đình cả hai vợ chồng lao vào kiếm sống. Chồng làm thêm ở cơ quan lại
đá thêm tí cò bất động sản. Vợ bỏ nhà nước ra chạy chợ. Con cái có khi cả ngày
không thấy mặt bố mẹ. Tiền đây, ăn đi rồi học đi. Điểm khá ư, khó gì, muốn điểm giỏi cũng được, để lúc nào bọn này đến
nói chuyện với các cô bằng phong bì là xong. Bọn trẻ con yên chí đã có tiền đút
cho nhà trường rồi, không cần học, nên chỉ vạ vật vừa học vừa chơi, đến nỗi có
đỗ đại học rồi cũng không thành người, xin việc không nơi nào nhận.
Gia đình anh M. bạn tôi thì khác.
Anh chỉ để cho vợ chạy chợ. Còn anh vẫn chỉ làm việc bình thường, ngoài ra bao
nhiêu công sức đổ vào dạy con. Con anh học hết đại học được học bổng đi nước
ngoài học cao học, quay về lúc nào cũng sẵn những chỗ rất thơm mời mọc.
So với
các gia đình khác, mức sống nhà anh M. dăm năm trước có đuối hơn một chút,
nhưng nay xem ra cũng chẳng kém ai. Lại được đứa con giỏi giang, ai cũng nói
đùa giá tiền tỷ.
Anh M.
cắt nghĩa bằng giọng của người làm kinh tế: “Chẳng qua là tôi biết đầu tư thôi,
kiểu đầu tư của tôi không ra lãi ngay, nhưng hiệu quả lâu dài. Ai cũng làm
được, chỉ sợ không có gan”.
Sở dĩ cái lối nghĩ ăn xổi ở thì lan
ra ở nhiều gia đình Hà Nội vì sau chiến tranh, nhiều người chúng ta ở thế cùng,
không lao đi kiếm ăn không xong.
Mà nó
cũng là cái tính chung của dân mình, tham
bát bỏ mâm, tầm nhìn hạn hẹp.
Điều
tôi muốn nói thêm hôm nay là không những nhiều gia đình làm vậy mà cả nước mình
cũng vậy.
Bước
vào thời kỳ mở cửa, có bao nhiêu tài trí đổ ra lo làm ăn hết.
Lo có gạo xuất. Lo có dầu xuất.
Gỗ
được giá thì phá rừng cũng bán. Tôm được giá thì bỏ ruộng nuôi tôm không cần
biết sau này đất hỏng ruộng thoái hóa ra sao. Cốt ngân quỹ thu về ít tiền.
Người
ta lấy đồng tiền nộp vào kho để đánh giá từng ngành.
Cứ ai làm ra tiền ngay thì được cả xã hội săn
đón và tha hồ vênh vang. Còn ngành nào phải chi tiêu nhiều y như có tội, có khó
khăn gì thì người làm những ngành không nóng lắm này cha con tự xoay xỏa lấy
với nhau.
Đến
ngay cả mạch máu đất nước là giao thông, có cảm tưởng người ta cũng chỉ lo cho
nó vừa vừa thôi. Tôm xuất khẩu, gạo xuất khẩu mà hơi kém một tí là cả xã hội
lao vào tìm cách thúc đẩy, ai làm hỏng là phạt ngay. Chứ giao thông ấy ư, nhân
viên trong ngành có chia nhau tham nhũng và toàn làm đường xấu đường hỏng cũng
được, đường có xấu một chút hãy đi tạm, không đáng lo bằng chuyện con tôm với
thùng dầu.
Trên
cái nền tâm lý như trên, chuyện giáo dục hiện nay có bê trễ cũng không có gì là
khó hiểu.
Về
lý thuyết mà xét, không ai coi nhẹ chuyện “trồng người” này. Ngay cả tiền bạc
được chi cho giáo dục hàng năm, theo chỗ tôi được biết, cũng lớn lắm, chắc chắn
là loại hàng đầu trong bảng chi ngân sách.
Nhưng
ít ra có thể thấy mấy điểm:
Thứ nhất là tâm lý chủ quan, không thấy hết chỗ lạc hậu
của giáo dục Việt Nam, cho rằng xưa nay dân mình vốn thông minh hiếu học, cán
bộ mình vốn giỏi giang vậy chịu khó động viên nhau một chút là xong.
Thứ hai là không đặt vấn đề đưa giáo dục của mình hội
nhập thế giới, tưởng rằng cứ đào tạo một lớp người làng nhàng thế này rồi liệu
dần, dân càng dốt càng dễ bảo.
Từ đây dẫn đến tư tưởng chỉ đạo thứ
ba là không thấy sốt ruột
trước những tật bệnh của cái ngành máy cái này. Nghe nói một dây chuyền sản
xuất ở ngành kinh tế nào đó lạc hậu là cuống lên lo nhập. Nhưng trước những đổi
mới cần thiết của giáo dục thì ngần ngại, sợ tốn tiền, sợ gây ra những thay đổi
bất ngờ.
Kết quả thế nào thì tất cả chúng ta
đã biết, kết quả như kỳ thi phổ thông năm nay, cả nước cười dở khóc dở, đề ra
dễ chưa từng có mà cứ chia ba thì có một học sinh trượt. Còn giáo dục đại học
thì là một thực thể người chẳng ra người ngợm chẳng ra ngợm bất thành nhân
dạng, bằng giả đầy, bằng thật thì chất lượng cũng giả, đụng đâu cũng gặp giáo
sư, tiến sỹ mà chả ai có công trình nghiên cứu, chả ai có phát minh đóng góp gì
cho sản xuất.
Tính
sơ sơ đã thấy, từ tầm nhìn của sự phát triển, cái “tội” lớn nhất của giáo dục
là không đáp ứng nhu cầu về số lượng chuyên gia và các loại thợ lành nghề. Nói
cho đầy đủ hơn, lỗi lớn của nó là ở chỗ
không bảo đảm đào tạo được những con người có cách sống cách nghĩ và năng lực
phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện đại.
Bây giờ thì cái gì người ta cũng
tính ra tiền được. Đại khái như đợt thi vừa qua, để nói không với tiêu cực ,
nghe nói số tiền chi ra sơ sơ đã là 45 tỷ.
Vậy
tác hại của việc kém cỏi của giáo dục đến sự phát triển của đất nước ra sao,
hình như chưa ai tính, nhưng chắc tính ra con số cũng khủng khiếp lắm.
Tình
trạng giáo dục hiện nay đã bê trễ đến mức có đổ tiền vào bao nhiêu đi nữa cũng
không vực dậy lại được. Như cái chân gẫy lúc đầu tự mình bó buộc qua loa cho
xong, nay hỏng hẳn không dám dỡ ra bó lại nữa.
Mà một dân tộc đã không biết làm giáo
dục thì làm gì có tương lai.
Đã in báo NĐBND 20/08/2007
Viết thêm 24-5-13
Bài này tôi viết từ sáu năm trước. Nay tình hình đã khác đi. Chỉ nói
riêng chuyện của từng gia đình. Nhiều người đã hiểu lo tính cho con cái không
chỉ là một việc đầu tư chắc chắn ngay từ phương diện tiền bạc. Mà nó còn mang lại cho chúng ta niềm tin,
lòng khát khao chinh phục tương lai, làm ra một cuộc sống như lương tâm ta hằng
ao ước… Nhiều ý nghĩa lắm.
Nhưng lại bắt đầu một khó khăn khác. Là nền
giáo dục của chúng ta không đáp ứng được nhu cầu của mọi người. Hiện nay có tiền cũng khó tìm được nơi chữa bệnh
đáng tin, có tiền cũng khó tìm được trường tử tế cho con học nên người.
Ở trên tôi đã nói ta có một ngành đại học
bất thành nhân dạng. Nhưng đó cũng là tình hình của ngành giáo dục nói chung.
Mấy chục năm trước, sinh viên VN ra nước
ngoài có thể nhập ngay vào các trường đại học của quốc tế, trình độ ngang ngửa
với học sinh đại học các nước.
Nay thì
ngược lại. Theo chỗ tôi biết, lớp
sinh viên hiện nay ra nước ngoài học rất trầy trật, nhiều em học xong không nhận được bằng. Không kể rất nhiều em hư hỏng.
Một số gia đình đành sẵn sàng gửi con đi từ cấp phổ
thông, nhưng hiệu quả càng thấp.
Kết luận cuối cùng là:
Giáo
dục không phải là chuyện riêng của từng gia đình.
Mà
là chuyện chung của cả cộng đồng cả xã hội.
Khi cả quốc gia đã vụng tính thì các cá
nhân ưu tú khôn ngoan có bảo nhau tính xa đến đâu, việc cũng trở thành vô nghĩa.
Trong một cuốn sách sinh học, tôi thấy người ta nêu lên một quy luật của tiến hóa là không thể có tiến hóa ở từng cá thể mà phải là sự tiến hóa của cả quần thể.
Tính cách người cai trị trong lịch sử Việt Nam : trường hợp bạo chúa Lê Long Đĩnh ( bài tiếp)
Cơ sở phương pháp luận
Muốn phác họa bộ mặt quyền lực ở VN, lẽ ra anh phải đi vào những điển hình như Lê Thánh Tông chứ sao lại dừng lại ở một "nhân vật tiêu cực" như LLĐ? Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn nhắc lại một nguyên tắc của nghiên cứu khoa học hiện đại. Là người ta không dừng lại ở cái trung bình, nhất là cái đa số tức cũng là cái phổ biến. Mà lại lấy cái thiểu số - cái đột biến - cái bên ngoài hình như là ngoại lệ chứ không phải thông lệ -- làm đối tượng.
Như sau đây sẽ thấy, trong Lê Long Đĩnh cũng mang những đặc điểm chủ yếu của tầng lớp thống trị xã hội thời đầu lập quốc. Do đa số xuất thân từ thủ lĩnh quân sự, nên họ chẳng có bài bản gì trong quản lý xã hội, chỉ có lấy bạo lực để cai trị. Về phương diện này thì tính cách điển hình của vị vua độc đáo LLĐ hoàn toàn được bảo đảm.
Giải thích thêm về tính cách LLĐ
a/ Trong bài trước, ta đã thấy LLĐ bộc lộ tính cách tàn bạo trong việc xử tội. Nhưng vì sao có tính cách ấy? Việc này có từ thân sinh ông ta - Lê Hoàn.
Sách Lịch sử Việt Nam thuộc Tủ sách Đại học sư phạm, dẫn lại lời của sứ nhà Tống là Tống Cảo, cho thấy Lê Hoàn xử tội rất tùy tiện “tả hữu có lỗi nhỏ cũng giết đi, hoặc đánh từ 100 roi đến 200 roi. Bọn giúp việc ai hơi có điều gì làm phật ý cũng bị đánh từ 30 đến 50 roi, truất làm tên gác cổng, khi hết giận lại gọi về cho làm chức cũ” ( LSVN của ĐHSP in 1970, nxb Giáo dục, q.I, tập II, tr 89).
Trước đó Đinh Bộ Lĩnh cũng có tính cách tương tự. Sách Lịch sử VN từ nguồn gốc đến thế kỷ XI X của Đào Duy Anh chép có lần một sứ quân đánh ĐBL, ông phải đưa con là Đinh Liễn làm con tin. Bên kia buộc Liễn lên ngọn cây rồi bảo ĐBL nếu không hàng sẽ giết Liễn. ĐBL không chịu, cho thói quyến luyến con cái là tính khí đàn bà. Liền sai mười tay nỏ chờ sẵn, nếu bên kia cứ quyết làm sẽ bắn chết luôn Liễn. Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn thấy Đinh Bộ Lĩnh đã cương quyết và nhẫn tâm như thế, giết Liễn cũng vô ích, thả Liễn và rút quân về.
b/ Bên cạnh chất tàn nhẫn, LLĐ còn bị coi là người hoang dâm vô độ.
Nhưng đọc sử được biết Lê Hoàn cũng sống hoang phí đến mức có tội. Cả Đại Việt sử ký toàn thư lẫn Đại Việt sử ký tiền biên (ĐVSKTB ) đều chép Lê Hoàn cho xây cung điện dát vàng dát bạc.
Và Lê Hoàn cũng ham chơi. Khái quát về Lê Hoàn, sách ĐVSKTB tr 178 chép:
Vua anh minh quả quyết nhiều mưu trí giỏi dụng binh[… ]. Song tính nghiêm khắc tàn nhẫn, ưa người nịnh hót[… ].Quần áo phần nhiều chuộng lụa hồng, mũ thì trang sức bằng châu báu. Dinh thự vua ở xa hoa tráng lệ nhưng cảnh thự của các quan, doanh trại của sáu quân lại chật hẹp mộc mạc. Sứ Tống mỗi lần sang ta thường chê cười về điều đó.
Cũng sách trên ở tr. 173 viết:
Năm 992, vua ngự điện Càn Nguyên xem đèn. … nếu trong cung lợp ngói bạc, thì khi vui chơi, trên thuyền vua cho kết núi tre.
Chắc trong thực tế đây là việc rất xa hoa nên một trong những tác giả sách trên là Nguyễn Nghiễm bình luận Lửa ham muốn bùng lên mà xương tủy dân đã kiệt. Thế mà không tự xét đức hạnh còn có tính trẻ con..
Tóm lại do chỗ gần với Lê Hoàn và cả ĐBL -- nên LLĐ hiện ra như một mẫu người đã hình thành. Các cá tính của ông ta không chỉ tiêu biểu cho một vị vua thời mạt vận mà là một tính cách phổ biến với các người đứng đầu quốc gia trong thời kỳ triều chính mới thành lập.
Một nền cai trị hoang dại
Sự tàn bạo của các vua chúa lúc này mang cả vào trong việc quản lý quốc gia. Văn hóa cai trị của nhà cầm quyền còn thô sơ, đại khái găp đâu làm đấy, chẳng ra thể thống gì cả; nhân danh người có công với nước, tự coi ý mình là ý trời, bắt thiên hạ phải noi theo.
1/ Điều này khởi đầu từ nhà Đinh. Sách LSVN ĐHSP nói trên, phần đời sống chính trị cho biết thời Đinh Lê chưa có luật pháp. Mọi hình phạt đều tùy ý của vua hay các viên tướng đứng đầu các khu vực. Đinh Bộ Lĩnh đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi và quy định: người nào trái phép sẽ bị bỏ vạc dầu hay cho hổ ăn. ( tr 87).
ĐDA giải thích về việc này “Nước mới dựng kỷ cương chưa vững, trật tự chưa ổn định, ĐBL lấy hình phạt ghê gớm để uy hiếp nhân dân.”
Hoàng Xuân Hãn nhìn rộng hơn. Trong cuốn Lý Thường Kiệt nhân viết về thời Lý, nhìn lại thời Đinh Lê, ông giải thích “Các vua vũ biền các đời trước đã đem những thói giết chóc thời loạn ra thi hành ở thời bình. Những cực hình dùng hàng ngày chứng tỏ rằng các vua ấy còn giữ tập tính của người rừng rú”.
2/ Trong việc chinh phạt và ổn định tình hình xứ sở, Lê Hoàn càng tỏ ra tàn ác.
ĐVSKTB mà Ngô Thì Sĩ là một tác giả chính chép: Năm 989, Dương Tiến Lộc làm phản lôi kéo người hai châu Hoan Ái, theo về Chiêm Thành nhưng Chiêm Thành không nhận, người hai châu bị giết không biết bao nhiêu mà kể.
Ngô Thì Sĩ bình luận “người làm phản chỉ là Tiến Lộc thôi dân có tội gì” do đó chê Lê Hoàn là người thất đức.
"Người đã có công chống ngoại xâm, lấy lại đất nước từ tay giặc, sẽ tha hồ muốn làm gì dân thì làm" --người đời sau là chúng ta có quyền ngờ những ý tưởng ấy đã nẩy sinh trong trong tâm trí Lê Hoàn, nó khiến cho ông dám giết người không ghê tay như vậy.
Nền hành chính quá thô sơ
Trên kia đã dẫn đoạn Lê Hoàn đối xử với những người dưới quyền,
Người nêu nhận xét này đầu tiên là Tống Cảo, viên sứ thần TQ. Tống Cảo còn viết thêm về việc tiếp sứ của Lê Hoàn (người đầu tiên dẫn ra sự kiện Tống Cảo là Nguyễn Văn Tố-- xem Đại nam dật sử , in lần đầu trên Tạp chí Tri Tân 1943-44)
Lê Hoàn bỏ giày đi chân không, cầm ngọn tre lội xuống nước để đâm cá; mỗi khi trúng một con cá thì những người chung quanh đều hò reo nhẩy múa. Phàm có người dự ngồi trong tiệc yến đều sai cởi đai đội mũ. Lê Hoàn nhiều áo sặc sỡ và áo đỏ mũ thì dát ngọc chân châu, có khi tự hát để mời. Chẳng ai hiểu là hát bài gì. [...]Quân lính đến ba nghìn người đều chạm ở trán ba chữ “thiên tử quân”.Tính số thóc cấp cho giã lấy mà ăn. Binh khí chỉ có cung nỏ bài gỗ, súng tay, ống lệnh, yếu không thể dùng được. Lê Hoàn là người khinh suất tàn nhẫn, gần gũi bọn tiểu nhân tâm phúc có năm bẩy bọn yêm thu (?) đứng lẫn ở bên cạnh khi uống rượu lấy hiệu làm vui. Phàm quen thuộc người nào khéo nịnh được cất nhắc chỗ thân cận. Dầu người tả hữu có lỗi nhỏ cũng giết, hoặc lấy roi đánh vào lưng từ một trăm đến hai trăm roi. Dầu đến mạc tán ( tôn làm thầy hoặc làm khách ở trong nhà) hoặc tá tiểu ( người kém mình một tí) mà bất như ý cũng đánh ba mươi roi truất làm hôn lại (người canh cửa) khi hết giận lại triệu cho phục chức. (Đại nam dật sử, bản của Hội khoa học lịch sử VN, H. 1977 tr.247)
Các sử gia cổ Trung quốc có lối miêu tả cụ thể ngắn gọn mà khái quát. Như viết về xứ ta hồi ấy, Tư Mã Thiên viết rằng “Tây Âu Lạc là xứ cởi trần mà cũng xưng vương” ( theo LSVN đã dẫn, qI tI. tr.115).
Những chi tiết Tống Cảo nêu lên ở trên cũng có sức khái quát đủ cho ta hình dung ra con người và thực chất công việc làm vua của Lê Hoàn. Nó cũng có gì tương tự như việc LLĐ thiết triều -mọi chuyện đùa bỡn đã nêu ở bài trước,
Bây giờ nói về việc LLĐ cướp ngôi của anh
Ở những xã hội chưa có văn hóa chính trị, việc chuyển giao quyền lực luôn luôn rắc rối, và thường dẫn đến đổ máu.
LLĐ đã lên ngôi không phải do vua cha Lê Đại Hành sắp đặt mà theo con đường bất chính là cướp ngôi.
Tức là giết anh cả và chinh phục sự chống đối của mấy ông anh kế tiếp.
Nhưng hai chữ cướp ngôi cũng là chữ mà ĐVSKTB dùng cho Lê Hoàn ( tr.162). Chẳng những thế, nếu đọc kỹ sự kiện nhà Tiền Lê thay thế nhà Đinh, người ta còn cho thấy ở đây có một âm mưu. Khi tìm hiểu về quan hệ giữa các triều chính Đinh Lê với người phương Bắc, chúng ta sẽ gặp một người Trung Hoa làm đến Thái sư, gọi là Hồng Hiến. Ông này về sau làm tham mưu cho Lê Hoàn nhưng trước đó đã giúp vào việc đưa Lê Hoàn lên ngôi.(Chứ đâu phải đây chỉ là kết quả của cái tấm lòng yêu nước của bà Dương Vân Nga, như sử ngày nay hay nói.)
Nhân đây nói về một cách chép sử xưa. Tức là xét người theo tinh thần dân gian được làm vua thua làm giặc. Ai thắng thì được khoác cho đủ thứ danh nghĩa tốt đẹp và tha bổng cho mọi thói xấu. Vua thế mà dân cũng thế. Làm như để sống được, con người ta chỉ cần có lòng yêu nước thôi, không cần gì khác.
Mà sử ngày nay cũng đi theo vết xe ấy.
Một chính quyền có tính quân sự. Khoảng trống của học vấn
Trở lại với LLĐ. Ông vua 24 tuổi này là minh chứng cho những khái quát về các nhà cầm quyền quân sự mà sử xưa đã miêu tả: Tàn nhẫn dữ tợn kiêu căng. Và nhất là vô học ( chữ của Việt sử thông giám cương mục.)
Ngoài hành động cướp ngôi và đánh giặc ông này cũng có vài hoạt động khác.
Đại Việt Sử ký toàn thư ghi Bọn Ngô đô đốc, Kiểu Hành Hiến dâng biểu xin đào kênh, đắp đường và dựng cột bia ở Ái Châu. Vua xuống chiếu cho lấy quân và dân ở châu ấy đào đắp từ cửa quan Chi Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lung.
Vua đi Ái Châu, đến sông Vũ Lung. Tục truyền người lội qua sông này phần nhiều bị hại, nhân thế vua sai người bơi lội qua lại đến ba lần, không hề gì. Xuống chiếu đóng thuyền để ở các bến sông Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung bốn chỗ để chở người qua lại.
Nhưng hoạt động quân sự vẫn mạnh hơn cả.
Trên kia đã dẫn câu của Hoàng Xuân Hãn “Các vua vũ biền các đời trước đã đem những thói giết chóc thời loạn ra thi hành ở thời bình. Những cực hình dùng hàng ngày chứng tỏ rằng các vua ấy còn giữ tập tính của người rừng rú“.
Câu này do Nguyễn Hữu Châu Phan dẫn lại trong cuốn Xã hội nhà Lý nhìn dưới khía cạnh pháp luật ( Sùng Chính Tùng thư Huế 1971 tr 22)
Chữ võ biền này từng được nhắc tới trong lịch sử.
ĐVSKTB( tr 165) cho biết ĐBL cũng là loại “vũ lược có thừa mà học vấn không đủ, gần gũi bọn tiểu nhân, say đắm vui chơi yến tiệc”
Từ Lê Long Đĩnh có thể rút ra kết luận
-- Bộ phận nắm giữ quyền lực và kéo cả cộng đồng theo mình lúc này là các đầu lĩnh các võ tướng.
- Ra đời trong thế yếu nên ngay từ đầu chính quyền lập nên cũng chỉ lao vào việc đánh dẹp để tạo ra sự ổn định luôn luôn là tạm thời, các đầu lĩnh trở thành người có quyền sinh quyền sát quá lớn.
- Đất nước chỉ được tổ chức như một đạo quân mà không tính chuyện hình thành một xã hội.
NHCP bảo việc dùng các loại "luật pháp" rừng rú là dấu hiệu của các quốc gia chưa hình thành.
Đặt cách tổ chức chính quyền
theo kiểu quân sự trong văn hóa cai trị
Theo sách Các nền văn minh thế giới-- lịch sử và văn hóa ( bản tiếng Việt 2008) của các tác giả Philip Lee Ralph, Edward McNall Burns, thì đây là một kiểu dựng nước trong thế yếu và tình trạng chung là lạc hậu.
Sách này cho biết kiểu thống nhất xã hội ở Trung Quốc thời cổ đã là nhờ chính quyền. Nhưng chính quyền ở TQ ngay từ thời ấy đã biết nâng việc cai trị lên đến mức thành một văn hóa. Khổng tử Mạnh tử đừng nói Hàn Phi tử đều nói rất nhiều tới việc cai trị
Vẫn theo sách trên quá trình chuyển sự cai trị từ quân sự sang dân sự ở Trung quốc kéo dài nhiều đời.
Thời nhà Thương xã hội nông nghiệp được giai cấp quý tộc là các chiến binh cai trị. Đại sự quốc gia là tế lễ và tổ chức lực lượng quân sự.
Nhưng sang đời Đường, các hoàng đế không cai trị như kẻ chuyên chế quân sự mà duy trì sự khác biệt giữa dân sự và quân sự một khoảng cách đáng kể. Chỉ trong giai đoạn suy yếu các nhà lãnh đạo quân sự mới nắm chính quyền.
Vào đời nhà Đường người Trung Hoa đã tin chắc rằng các chế độ quân sự không hợp với các quốc gia có chuẩn tắc và văn minh. (Sđ d tr 405)
Xã hội đời Đường sắp xếp theo thang bậc năm cấp – sĩ nông công thương binh. Binh ở hạng cuối được gộp chung với kẻ ăn xin trộm cướp. Một câu tục ngữ thường được người đương thời trích dẫn ´sách tốt không dùng làm đinh, người tốt không dùng làm binh” ( như trên tr 407)
Theo các tác giả Các nền văn minh thế giới lịch sử và văn hóa, đánh giá như thế tức là quý trọng trí tuệ, biết dùng trí tuệ khống chế bạo lực, không coi trọng những nghề không sinh lợi.
Trong các công trinh nghiên cứu của một trí thức Trung quốc hiện đại là Lâm Ngữ Đường, người ta thấy ông luôn nhấn mạnh:
-- TQ trải qua chiến tranh nhưng không hướng tất cả nghị lực và sức mạnh cộng đồng vào chiến tranh. Họ chỉ sử dụng võ lực trong trường hợp cần thiết và trong một thời gian ngắn. Giai cấp thống trị hiểu rằng để đưa đất nước phát triển thì cần có văn—văn với ý nghĩa toàn bộ tri thức khoa học xã hội và kiến thức kinh tế
-- Ngay cả trong thời loạn lạc, người dân TQ không cảm thấy thèm một vị tướng tài bằng một người hiền tài có thể hướng dẫn họ ra thoát tình trạng chinh chiến.
Giới cầm quyền ý thức được rằng chỉ có trí tuệ mới có thể thuyết phục được tất cả, bằng trí tuệ mới quản lý được mọi người
Ở ta không phải các nhà làm sử thời nay không biết điều này.
Họ hiểu những chính quyền đầu tiên hình thành ở VN thời cổ đều có tính chất quân sự. Thoát thai ra từ thế lực chống ngoại xâm, bộ phận ưu tú trong xã hội chủ yếu là các đầu lĩnh. Hơn nữa chỉ là những đầu lĩnh nhỏ người nọ diệt người kia mà lớn lên dần.
Và họ hiểu lẽ ra cách quản lý đó phải thay đổi.
Giải thích về việc nhà Tiền Lê mất vào tay nhà Lý, sách LSVN đã dẫn viết “Tập đoàn phong kiến Tiền Lê đại biểu cho thế lực phong kiến quân sự về cơ bản đã làm xong sứ mệnh của mình” ( q.1, t II, tr 98).
Nhưng để làm tròn nhiệm vụ phục vụ tuyên truyền chính trị trước mắt, các nhà lịch sử đương thời vẫn có xu hướng coi việc lấy được đất nước là tiêu chuẩn chính để đánh giá các chính quyền nối tiếp trong lịch sử.
Cách tổ chức chính quyền theo kiểu quân sự là đặc tính kéo dài của xã hội VN suốt gần chục thế kỷ:
- Bằng cách sử dụng những ràng buộc có ý nghĩa tôn giáo, nhà Lý là một sự từ bỏ vai trò của võ tướng thời Đinh - Lê và trong việc ổn định xã hội, dành cho tôn giáo một vai trò lớn hơn.
- Nhưng chính quyền nhà Trần thì đặc sệt quân sự.
-- Đầu nhà Lê, quan võ loại Lê Sát vẫn át quan văn loại Nguyễn Trãi.
Mọi cố gắng của Lê Thánh Tông -- ông vua thuộc loại chăm lo xây dựng xã hội dân sự nhất ở ta - rút cục chỉ dẫn tới tình hình một xã hội rối ren thối nát thời Lê Mạc, tiếp theo là thời Lê Trung hưng mà nội dung chính là nền độc tài quân sự giấu mặt của họ Trịnh.
Do ẩn mình sau cái mặt nạ phù Lê, không làm nhân vật số một mà chỉ đóng vai số hai, nền độc tài đậm chất võ biền này kéo dài tới gần 200 năm. Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đã rất có lý khi gọi hình thái vua Lê chúa Trịnh là môt sự báng bổ đối với đạo Nho.
--Để hiểu bộ máy cai trị đậm chất quân sự của nhà Nguyễn khi mới lấy lại đất nước, chỉ cần nêu lên một chi tiết: trong khi triều đình đóng đô ở Huế thì Nam Bắc mỗi miền được gộp lại quanh những trung tâm quân sự là Gia Định thành và Bắc thành.
Người đứng đầu các trung tâm này là các Tổng trấn, tức là các vị chỉ huy quân đội. Tổng trấn Bắc thành lúc đầu là Nguyễn Văn Thành và của Gia Định thành là Lê Văn Duyệt.
Lịch sử VN như vậy là đi theo vết xe của các triều Ngô Đinh Tiền Lê thời đầu dựng nước .Và trước khi Pháp sang, nền hành chính VN chỉ mới bước thấp bước cao trên con đường dài dặc là trở thành xã hội dân sự theo đúng nghĩa.
Muốn phác họa bộ mặt quyền lực ở VN, lẽ ra anh phải đi vào những điển hình như Lê Thánh Tông chứ sao lại dừng lại ở một "nhân vật tiêu cực" như LLĐ? Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn nhắc lại một nguyên tắc của nghiên cứu khoa học hiện đại. Là người ta không dừng lại ở cái trung bình, nhất là cái đa số tức cũng là cái phổ biến. Mà lại lấy cái thiểu số - cái đột biến - cái bên ngoài hình như là ngoại lệ chứ không phải thông lệ -- làm đối tượng.
Như sau đây sẽ thấy, trong Lê Long Đĩnh cũng mang những đặc điểm chủ yếu của tầng lớp thống trị xã hội thời đầu lập quốc. Do đa số xuất thân từ thủ lĩnh quân sự, nên họ chẳng có bài bản gì trong quản lý xã hội, chỉ có lấy bạo lực để cai trị. Về phương diện này thì tính cách điển hình của vị vua độc đáo LLĐ hoàn toàn được bảo đảm.
Giải thích thêm về tính cách LLĐ
a/ Trong bài trước, ta đã thấy LLĐ bộc lộ tính cách tàn bạo trong việc xử tội. Nhưng vì sao có tính cách ấy? Việc này có từ thân sinh ông ta - Lê Hoàn.
Sách Lịch sử Việt Nam thuộc Tủ sách Đại học sư phạm, dẫn lại lời của sứ nhà Tống là Tống Cảo, cho thấy Lê Hoàn xử tội rất tùy tiện “tả hữu có lỗi nhỏ cũng giết đi, hoặc đánh từ 100 roi đến 200 roi. Bọn giúp việc ai hơi có điều gì làm phật ý cũng bị đánh từ 30 đến 50 roi, truất làm tên gác cổng, khi hết giận lại gọi về cho làm chức cũ” ( LSVN của ĐHSP in 1970, nxb Giáo dục, q.I, tập II, tr 89).
Trước đó Đinh Bộ Lĩnh cũng có tính cách tương tự. Sách Lịch sử VN từ nguồn gốc đến thế kỷ XI X của Đào Duy Anh chép có lần một sứ quân đánh ĐBL, ông phải đưa con là Đinh Liễn làm con tin. Bên kia buộc Liễn lên ngọn cây rồi bảo ĐBL nếu không hàng sẽ giết Liễn. ĐBL không chịu, cho thói quyến luyến con cái là tính khí đàn bà. Liền sai mười tay nỏ chờ sẵn, nếu bên kia cứ quyết làm sẽ bắn chết luôn Liễn. Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn thấy Đinh Bộ Lĩnh đã cương quyết và nhẫn tâm như thế, giết Liễn cũng vô ích, thả Liễn và rút quân về.
b/ Bên cạnh chất tàn nhẫn, LLĐ còn bị coi là người hoang dâm vô độ.
Nhưng đọc sử được biết Lê Hoàn cũng sống hoang phí đến mức có tội. Cả Đại Việt sử ký toàn thư lẫn Đại Việt sử ký tiền biên (ĐVSKTB ) đều chép Lê Hoàn cho xây cung điện dát vàng dát bạc.
Và Lê Hoàn cũng ham chơi. Khái quát về Lê Hoàn, sách ĐVSKTB tr 178 chép:
Vua anh minh quả quyết nhiều mưu trí giỏi dụng binh[… ]. Song tính nghiêm khắc tàn nhẫn, ưa người nịnh hót[… ].Quần áo phần nhiều chuộng lụa hồng, mũ thì trang sức bằng châu báu. Dinh thự vua ở xa hoa tráng lệ nhưng cảnh thự của các quan, doanh trại của sáu quân lại chật hẹp mộc mạc. Sứ Tống mỗi lần sang ta thường chê cười về điều đó.
Cũng sách trên ở tr. 173 viết:
Năm 992, vua ngự điện Càn Nguyên xem đèn. … nếu trong cung lợp ngói bạc, thì khi vui chơi, trên thuyền vua cho kết núi tre.
Chắc trong thực tế đây là việc rất xa hoa nên một trong những tác giả sách trên là Nguyễn Nghiễm bình luận Lửa ham muốn bùng lên mà xương tủy dân đã kiệt. Thế mà không tự xét đức hạnh còn có tính trẻ con..
Tóm lại do chỗ gần với Lê Hoàn và cả ĐBL -- nên LLĐ hiện ra như một mẫu người đã hình thành. Các cá tính của ông ta không chỉ tiêu biểu cho một vị vua thời mạt vận mà là một tính cách phổ biến với các người đứng đầu quốc gia trong thời kỳ triều chính mới thành lập.
Một nền cai trị hoang dại
Sự tàn bạo của các vua chúa lúc này mang cả vào trong việc quản lý quốc gia. Văn hóa cai trị của nhà cầm quyền còn thô sơ, đại khái găp đâu làm đấy, chẳng ra thể thống gì cả; nhân danh người có công với nước, tự coi ý mình là ý trời, bắt thiên hạ phải noi theo.
1/ Điều này khởi đầu từ nhà Đinh. Sách LSVN ĐHSP nói trên, phần đời sống chính trị cho biết thời Đinh Lê chưa có luật pháp. Mọi hình phạt đều tùy ý của vua hay các viên tướng đứng đầu các khu vực. Đinh Bộ Lĩnh đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi và quy định: người nào trái phép sẽ bị bỏ vạc dầu hay cho hổ ăn. ( tr 87).
ĐDA giải thích về việc này “Nước mới dựng kỷ cương chưa vững, trật tự chưa ổn định, ĐBL lấy hình phạt ghê gớm để uy hiếp nhân dân.”
Hoàng Xuân Hãn nhìn rộng hơn. Trong cuốn Lý Thường Kiệt nhân viết về thời Lý, nhìn lại thời Đinh Lê, ông giải thích “Các vua vũ biền các đời trước đã đem những thói giết chóc thời loạn ra thi hành ở thời bình. Những cực hình dùng hàng ngày chứng tỏ rằng các vua ấy còn giữ tập tính của người rừng rú”.
2/ Trong việc chinh phạt và ổn định tình hình xứ sở, Lê Hoàn càng tỏ ra tàn ác.
ĐVSKTB mà Ngô Thì Sĩ là một tác giả chính chép: Năm 989, Dương Tiến Lộc làm phản lôi kéo người hai châu Hoan Ái, theo về Chiêm Thành nhưng Chiêm Thành không nhận, người hai châu bị giết không biết bao nhiêu mà kể.
Ngô Thì Sĩ bình luận “người làm phản chỉ là Tiến Lộc thôi dân có tội gì” do đó chê Lê Hoàn là người thất đức.
"Người đã có công chống ngoại xâm, lấy lại đất nước từ tay giặc, sẽ tha hồ muốn làm gì dân thì làm" --người đời sau là chúng ta có quyền ngờ những ý tưởng ấy đã nẩy sinh trong trong tâm trí Lê Hoàn, nó khiến cho ông dám giết người không ghê tay như vậy.
Nền hành chính quá thô sơ
Trên kia đã dẫn đoạn Lê Hoàn đối xử với những người dưới quyền,
Người nêu nhận xét này đầu tiên là Tống Cảo, viên sứ thần TQ. Tống Cảo còn viết thêm về việc tiếp sứ của Lê Hoàn (người đầu tiên dẫn ra sự kiện Tống Cảo là Nguyễn Văn Tố-- xem Đại nam dật sử , in lần đầu trên Tạp chí Tri Tân 1943-44)
Lê Hoàn bỏ giày đi chân không, cầm ngọn tre lội xuống nước để đâm cá; mỗi khi trúng một con cá thì những người chung quanh đều hò reo nhẩy múa. Phàm có người dự ngồi trong tiệc yến đều sai cởi đai đội mũ. Lê Hoàn nhiều áo sặc sỡ và áo đỏ mũ thì dát ngọc chân châu, có khi tự hát để mời. Chẳng ai hiểu là hát bài gì. [...]Quân lính đến ba nghìn người đều chạm ở trán ba chữ “thiên tử quân”.Tính số thóc cấp cho giã lấy mà ăn. Binh khí chỉ có cung nỏ bài gỗ, súng tay, ống lệnh, yếu không thể dùng được. Lê Hoàn là người khinh suất tàn nhẫn, gần gũi bọn tiểu nhân tâm phúc có năm bẩy bọn yêm thu (?) đứng lẫn ở bên cạnh khi uống rượu lấy hiệu làm vui. Phàm quen thuộc người nào khéo nịnh được cất nhắc chỗ thân cận. Dầu người tả hữu có lỗi nhỏ cũng giết, hoặc lấy roi đánh vào lưng từ một trăm đến hai trăm roi. Dầu đến mạc tán ( tôn làm thầy hoặc làm khách ở trong nhà) hoặc tá tiểu ( người kém mình một tí) mà bất như ý cũng đánh ba mươi roi truất làm hôn lại (người canh cửa) khi hết giận lại triệu cho phục chức. (Đại nam dật sử, bản của Hội khoa học lịch sử VN, H. 1977 tr.247)
Các sử gia cổ Trung quốc có lối miêu tả cụ thể ngắn gọn mà khái quát. Như viết về xứ ta hồi ấy, Tư Mã Thiên viết rằng “Tây Âu Lạc là xứ cởi trần mà cũng xưng vương” ( theo LSVN đã dẫn, qI tI. tr.115).
Những chi tiết Tống Cảo nêu lên ở trên cũng có sức khái quát đủ cho ta hình dung ra con người và thực chất công việc làm vua của Lê Hoàn. Nó cũng có gì tương tự như việc LLĐ thiết triều -mọi chuyện đùa bỡn đã nêu ở bài trước,
Bây giờ nói về việc LLĐ cướp ngôi của anh
Ở những xã hội chưa có văn hóa chính trị, việc chuyển giao quyền lực luôn luôn rắc rối, và thường dẫn đến đổ máu.
LLĐ đã lên ngôi không phải do vua cha Lê Đại Hành sắp đặt mà theo con đường bất chính là cướp ngôi.
Tức là giết anh cả và chinh phục sự chống đối của mấy ông anh kế tiếp.
Nhưng hai chữ cướp ngôi cũng là chữ mà ĐVSKTB dùng cho Lê Hoàn ( tr.162). Chẳng những thế, nếu đọc kỹ sự kiện nhà Tiền Lê thay thế nhà Đinh, người ta còn cho thấy ở đây có một âm mưu. Khi tìm hiểu về quan hệ giữa các triều chính Đinh Lê với người phương Bắc, chúng ta sẽ gặp một người Trung Hoa làm đến Thái sư, gọi là Hồng Hiến. Ông này về sau làm tham mưu cho Lê Hoàn nhưng trước đó đã giúp vào việc đưa Lê Hoàn lên ngôi.(Chứ đâu phải đây chỉ là kết quả của cái tấm lòng yêu nước của bà Dương Vân Nga, như sử ngày nay hay nói.)
Nhân đây nói về một cách chép sử xưa. Tức là xét người theo tinh thần dân gian được làm vua thua làm giặc. Ai thắng thì được khoác cho đủ thứ danh nghĩa tốt đẹp và tha bổng cho mọi thói xấu. Vua thế mà dân cũng thế. Làm như để sống được, con người ta chỉ cần có lòng yêu nước thôi, không cần gì khác.
Mà sử ngày nay cũng đi theo vết xe ấy.
Một chính quyền có tính quân sự. Khoảng trống của học vấn
Trở lại với LLĐ. Ông vua 24 tuổi này là minh chứng cho những khái quát về các nhà cầm quyền quân sự mà sử xưa đã miêu tả: Tàn nhẫn dữ tợn kiêu căng. Và nhất là vô học ( chữ của Việt sử thông giám cương mục.)
Ngoài hành động cướp ngôi và đánh giặc ông này cũng có vài hoạt động khác.
Đại Việt Sử ký toàn thư ghi Bọn Ngô đô đốc, Kiểu Hành Hiến dâng biểu xin đào kênh, đắp đường và dựng cột bia ở Ái Châu. Vua xuống chiếu cho lấy quân và dân ở châu ấy đào đắp từ cửa quan Chi Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lung.
Vua đi Ái Châu, đến sông Vũ Lung. Tục truyền người lội qua sông này phần nhiều bị hại, nhân thế vua sai người bơi lội qua lại đến ba lần, không hề gì. Xuống chiếu đóng thuyền để ở các bến sông Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung bốn chỗ để chở người qua lại.
Nhưng hoạt động quân sự vẫn mạnh hơn cả.
Trên kia đã dẫn câu của Hoàng Xuân Hãn “Các vua vũ biền các đời trước đã đem những thói giết chóc thời loạn ra thi hành ở thời bình. Những cực hình dùng hàng ngày chứng tỏ rằng các vua ấy còn giữ tập tính của người rừng rú“.
Câu này do Nguyễn Hữu Châu Phan dẫn lại trong cuốn Xã hội nhà Lý nhìn dưới khía cạnh pháp luật ( Sùng Chính Tùng thư Huế 1971 tr 22)
Chữ võ biền này từng được nhắc tới trong lịch sử.
ĐVSKTB( tr 165) cho biết ĐBL cũng là loại “vũ lược có thừa mà học vấn không đủ, gần gũi bọn tiểu nhân, say đắm vui chơi yến tiệc”
Từ Lê Long Đĩnh có thể rút ra kết luận
-- Bộ phận nắm giữ quyền lực và kéo cả cộng đồng theo mình lúc này là các đầu lĩnh các võ tướng.
- Ra đời trong thế yếu nên ngay từ đầu chính quyền lập nên cũng chỉ lao vào việc đánh dẹp để tạo ra sự ổn định luôn luôn là tạm thời, các đầu lĩnh trở thành người có quyền sinh quyền sát quá lớn.
- Đất nước chỉ được tổ chức như một đạo quân mà không tính chuyện hình thành một xã hội.
NHCP bảo việc dùng các loại "luật pháp" rừng rú là dấu hiệu của các quốc gia chưa hình thành.
Đặt cách tổ chức chính quyền
theo kiểu quân sự trong văn hóa cai trị
Theo sách Các nền văn minh thế giới-- lịch sử và văn hóa ( bản tiếng Việt 2008) của các tác giả Philip Lee Ralph, Edward McNall Burns, thì đây là một kiểu dựng nước trong thế yếu và tình trạng chung là lạc hậu.
Sách này cho biết kiểu thống nhất xã hội ở Trung Quốc thời cổ đã là nhờ chính quyền. Nhưng chính quyền ở TQ ngay từ thời ấy đã biết nâng việc cai trị lên đến mức thành một văn hóa. Khổng tử Mạnh tử đừng nói Hàn Phi tử đều nói rất nhiều tới việc cai trị
Vẫn theo sách trên quá trình chuyển sự cai trị từ quân sự sang dân sự ở Trung quốc kéo dài nhiều đời.
Thời nhà Thương xã hội nông nghiệp được giai cấp quý tộc là các chiến binh cai trị. Đại sự quốc gia là tế lễ và tổ chức lực lượng quân sự.
Nhưng sang đời Đường, các hoàng đế không cai trị như kẻ chuyên chế quân sự mà duy trì sự khác biệt giữa dân sự và quân sự một khoảng cách đáng kể. Chỉ trong giai đoạn suy yếu các nhà lãnh đạo quân sự mới nắm chính quyền.
Vào đời nhà Đường người Trung Hoa đã tin chắc rằng các chế độ quân sự không hợp với các quốc gia có chuẩn tắc và văn minh. (Sđ d tr 405)
Xã hội đời Đường sắp xếp theo thang bậc năm cấp – sĩ nông công thương binh. Binh ở hạng cuối được gộp chung với kẻ ăn xin trộm cướp. Một câu tục ngữ thường được người đương thời trích dẫn ´sách tốt không dùng làm đinh, người tốt không dùng làm binh” ( như trên tr 407)
Theo các tác giả Các nền văn minh thế giới lịch sử và văn hóa, đánh giá như thế tức là quý trọng trí tuệ, biết dùng trí tuệ khống chế bạo lực, không coi trọng những nghề không sinh lợi.
Trong các công trinh nghiên cứu của một trí thức Trung quốc hiện đại là Lâm Ngữ Đường, người ta thấy ông luôn nhấn mạnh:
-- TQ trải qua chiến tranh nhưng không hướng tất cả nghị lực và sức mạnh cộng đồng vào chiến tranh. Họ chỉ sử dụng võ lực trong trường hợp cần thiết và trong một thời gian ngắn. Giai cấp thống trị hiểu rằng để đưa đất nước phát triển thì cần có văn—văn với ý nghĩa toàn bộ tri thức khoa học xã hội và kiến thức kinh tế
-- Ngay cả trong thời loạn lạc, người dân TQ không cảm thấy thèm một vị tướng tài bằng một người hiền tài có thể hướng dẫn họ ra thoát tình trạng chinh chiến.
Giới cầm quyền ý thức được rằng chỉ có trí tuệ mới có thể thuyết phục được tất cả, bằng trí tuệ mới quản lý được mọi người
Ở ta không phải các nhà làm sử thời nay không biết điều này.
Họ hiểu những chính quyền đầu tiên hình thành ở VN thời cổ đều có tính chất quân sự. Thoát thai ra từ thế lực chống ngoại xâm, bộ phận ưu tú trong xã hội chủ yếu là các đầu lĩnh. Hơn nữa chỉ là những đầu lĩnh nhỏ người nọ diệt người kia mà lớn lên dần.
Và họ hiểu lẽ ra cách quản lý đó phải thay đổi.
Giải thích về việc nhà Tiền Lê mất vào tay nhà Lý, sách LSVN đã dẫn viết “Tập đoàn phong kiến Tiền Lê đại biểu cho thế lực phong kiến quân sự về cơ bản đã làm xong sứ mệnh của mình” ( q.1, t II, tr 98).
Nhưng để làm tròn nhiệm vụ phục vụ tuyên truyền chính trị trước mắt, các nhà lịch sử đương thời vẫn có xu hướng coi việc lấy được đất nước là tiêu chuẩn chính để đánh giá các chính quyền nối tiếp trong lịch sử.
Cách tổ chức chính quyền theo kiểu quân sự là đặc tính kéo dài của xã hội VN suốt gần chục thế kỷ:
- Bằng cách sử dụng những ràng buộc có ý nghĩa tôn giáo, nhà Lý là một sự từ bỏ vai trò của võ tướng thời Đinh - Lê và trong việc ổn định xã hội, dành cho tôn giáo một vai trò lớn hơn.
- Nhưng chính quyền nhà Trần thì đặc sệt quân sự.
-- Đầu nhà Lê, quan võ loại Lê Sát vẫn át quan văn loại Nguyễn Trãi.
Mọi cố gắng của Lê Thánh Tông -- ông vua thuộc loại chăm lo xây dựng xã hội dân sự nhất ở ta - rút cục chỉ dẫn tới tình hình một xã hội rối ren thối nát thời Lê Mạc, tiếp theo là thời Lê Trung hưng mà nội dung chính là nền độc tài quân sự giấu mặt của họ Trịnh.
Do ẩn mình sau cái mặt nạ phù Lê, không làm nhân vật số một mà chỉ đóng vai số hai, nền độc tài đậm chất võ biền này kéo dài tới gần 200 năm. Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đã rất có lý khi gọi hình thái vua Lê chúa Trịnh là môt sự báng bổ đối với đạo Nho.
--Để hiểu bộ máy cai trị đậm chất quân sự của nhà Nguyễn khi mới lấy lại đất nước, chỉ cần nêu lên một chi tiết: trong khi triều đình đóng đô ở Huế thì Nam Bắc mỗi miền được gộp lại quanh những trung tâm quân sự là Gia Định thành và Bắc thành.
Người đứng đầu các trung tâm này là các Tổng trấn, tức là các vị chỉ huy quân đội. Tổng trấn Bắc thành lúc đầu là Nguyễn Văn Thành và của Gia Định thành là Lê Văn Duyệt.
Lịch sử VN như vậy là đi theo vết xe của các triều Ngô Đinh Tiền Lê thời đầu dựng nước .Và trước khi Pháp sang, nền hành chính VN chỉ mới bước thấp bước cao trên con đường dài dặc là trở thành xã hội dân sự theo đúng nghĩa.
Tuesday, May 21, 2013
Bởi một tầm nhìn quá hẹp
Có hai điều làm chúng tôi ngạc nhiên khi đi trên nhiều con đường Trung Quốc mạn gần Việt Nam.Thứ nhất mặc dù chỉ là một thứ đường biên giới, nhiều khi thuộc loại vùng sâu vùng xa, song tất cả được làm theo đúng tiêu chuẩn quốc tế. Mặt đường phẳng lỳ, dải phân cách rõ ràng. Đường xa nhà dân, mà cũng không có các đường cắt ngang. Cần cắt ngang đều dùng cầu vượt. Các loại cống thoát nước chắc chắn. Các loại biển báo đầy đủ, ghi bằng tiếng Anh đàng hoàng.
Thứ hai, điều này hơi khó tin hơn: đường rất vắng. Khi tôi hỏi thì được chính những người dân thường trả lời giản dị rằng có phải làm đường chỉ cho ngày hôm nay đâu, dăm bảy năm nữa lại đông bây giờ.
Dẫu sao trên những con đường thênh thang 6 làn xe rộng rãi, mà có khi vài trăm mét mới gặp một xe đi ngược, một người Việt như tôi vẫn không kìm được ngạc nhiên.
Bởi chỉ cần nhớ lại những con đường ở xứ mình thì biết. Chỗ nào cũng xúm xít những người.
Luôn luôn người tham gia giao thông có cảm giác “hạnh phúc là một cái chăn quá hẹp”, muốn đi được thì phải chen lấn xô đẩy, thấy chỗ hở ra không chiếm, là người khác chiếm mất.
Ngay cả con đường Thăng Long Nội Bài từng là niềm tự hào của người Hà Nội một thời cũng trong tình trạng tương tự. Cũng đã bắt đầu gợi cảm giác chật chội chen chúc của một đoạn đường phố huyện ngày phiên chợ.
Hơn hai chục năm đã trôi qua, song tôi còn nhớ như in cái cảm tưởng khi lần đầu đi trên đoạn đường này: sao mà đường rộng thế.
Với chiếc xe máy mới mua một vài năm trước đó, lúc nào tôi cũng tự dặn phải đi chậm thôi.
Ghi lại cái cảm giác ấy ở mình là để thông cảm với những người làm quy hoạch giao thông: họ cũng không ngờ giao thông phát triển như hiện nay.
Nhiều người dân vừa xây nhà xong được vài năm thì đã phải tính chuyện phá ra xây lại. Vì lúc đầu chỉ cảm thấy cần một cái nhà ở tạm; sau mới biết khái niệm về cái nhà bây giờ đã khác nhiều so với ngày xưa.
Nhiều con đường ở ta vừa mở đã biết ngay cần phải mở tiếp nhưng khốn nỗi lúc này nhà dân đã quây hết chung quanh rồi không lấy đâu ra tiền đền bù nữa.
“Các đập nước ở tỉnh X. đang trong tình trạng đụng đâu vỡ đấy”. Khi đọc một tin như vậy, chúng ta thường chỉ nghĩ đến tham nhũng hoặc ăn cắp nguyên vật liệu. Nhưng tôi biết, có khi lý do đơn giản hơn. Lúc làm đập, người ta chỉ dám chi một số tiền rất nhỏ. Một nồi sợ tốn bốn nồi không xong, các cụ xưa đã biết thế, mà có mấy ai tránh nổi cái bệnh nhìn hẹp.
Một người bà con của tôi đang sống ở Pháp kể rằng, già rồi cũng muốn về Việt Nam sống. Không gì bằng sống ở quê hương đất Tổ, đó là lẽ đương nhiên, một lý do cao quý.
Cũng phải nói thật, nay là lúc làm ăn ở trong nước được khuyến khích, tiền kiếm dễ.
Thế nhưng tại sao cứ thấy ngại, không sao quyết định nổi. Ông tự hỏi và thấy lý do khá đơn giản.
Một chỉ sợ ốm không có được sự chăm sóc cần thiết và một nữa con cái lớn lên đi học quá dễ hư.
Riêng về y tế, ông không chỉ lo cơ sở vật chất kém, trình độ thầy thuốc loàng xoàng mà cái chính là ông thấy người trong nước chữa bệnh lạ lắm. Y bác sỹ chỉ lo chữa cái phần hiện trạng, cốt sao bệnh nhân ngắt cơn, còn bệnh lâu dài không cần biết. Ngược lại, nhiều người vừa ốm là sốt ruột chạy đi khám, thuốc đắt bao nhiêu cũng chữa, miễn sao khỏi ngay, còn như dùng loại thuốc này sẽ có hại sao không cần biết.
Tức cũng là một quan niệm sơ sài thiển cận về sức khỏe đang chi phối, nó khiến nhiều người lúc nào cũng khỏe mà thật ra sức khỏe ngày một suy giảm.
Trong phạm vi công việc của một cá nhân, quyền lợi của một gia đình, người ta có cạn nghĩ một tí cũng không sao.
Nhưng đối với đại sự quốc gia, tầm nhìn hẹp là cả một tai họa.
Phải mạnh miệng mà nói với nhau như thế khi nghĩ về điều thứ hai mà người bà con của tôi lo lắng: Tình trạng giáo dục hiện thời.
Có một hồi ta tưởng cốt sao con cái được cái tiếng có đi học là đủ. Khéo bảo nhau một tí là xong, muốn giáo sư thì phong hết lên là giáo sư, muốn tiến sỹ thì cấp cho nhau bằng tiến sỹ.
Có ai lo lắng về chất lượng con người trong tương lai đâu.
Sở dĩ cái ngành đào tạo con người ở ta rơi vào khủng hoảng như hiện nay cũng vì lối nhìn hẹp hòi thiển cận chi phối.
Chúng ta sẽ lấy đâu nghị lực và quyết tâm để thay đổi nó, nếu thiếu đi tầm nhìn xa rộng về một đất nước thời toàn cầu hóa năm chục năm sau, một trăm năm sau?!
Người đại biểu nhân dân, 21/5/2007.
Wednesday, May 15, 2013
Hội chứng “ít chịu học hỏi” “ tự mình mê mình” ở người Việt
Nhiều người Việt sống ở nước ngoài đã chia sẻ
với chúng ta cảm giác thương mến nhớ nhung khi xa Tổ quốc. Nhưng bên cạnh đó,
những ngày gần đây, người trong nước còn nhận được những lời tâm sự kín đáo và
những suy nghĩ thâm trầm .
Như
trường hợp Vĩnh Sính giáo sư đại học Alberta, Canada.
Tập
sách Việt Nam và Nhật Bản -- giao lưu văn
hoá (1) của ông có nội dung khá phong phú.
Có
bài khái quát Vị trí lịch sử của Trung
quốc đối với Việt Nam và Nhật Bản
hoặc đề cập tới Trục giao lưu văn hoá
Nhật Bản Trung quốc Việt Nam vào đầu thế kỷ XX.
Có
bài giới thiệu về các nhân vật của lịch sử Nhật như Fukuzawa Yukichi và Asaba
Sakitarô .
Có
bài so sánh những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ với những đề án có tính
cách khải mông của những học giả trong hội trí thức Meirokusha.
Điều
đáng nói là ở đó người ta bắt gặp mấy đoạn ghi nhận về một khía cạnh còn đang
ít được nói tới trong tâm lý dân mình , nhưng lại rất thiết yếu với công cuộc
hội nhập đang được khởi động .
Lời nhắn nhủ của Vĩnh Sính bộc lộ trong
ba trường hợp :
1/ Thiên kỷ III đang mỉm cười là mấy trang
sổ tay, ở đó Vĩnh Sính chỉ kể lại ít điều ông ghi nhận được từ một hội nghị văn
hoá châu Á tổ chức ở Hàn quốc vào tháng 11-1998.
Khi
bàn về giáo dục, trước hết ông nhắc lại ý kiến của học giả Trung quốc Hà Phương
Xuyên là để vươn lên tầm thời đại, các dân tộc châu Á cần chuẩn bị hành trang
cho cuộc giao lưu văn hoá.
Rồi
ngay sau đó ông dừng lại khá kỹ ở một thứ chủ nghĩa quốc gia văn hoá, hay gọi
đích danh ra là một thứ “chủ nghĩa sô-vanh văn hoá ” cần phê phán.
Nguyên
đây là một ý trong bài phát biểu của giáo sư Hàn quốc Park Seong Rae bàn về Hội
chứng độc lập (independence syndrome) hay nói nôm na là “ bệnh độc lập ” của
đồng bào mình. Theo Park Seong Rae “ nếu người Hàn quốc càng nhấn mạnh độc
lập văn hoá của nước họ đối với các nước láng giềng ( Nhật Bản và Trung quốc )
-- chẳng hạn như cảm xúc nghệ thuật độc đáo của người Hàn quốc -- thì chính bản
thân họ lại càng phải chịu thiệt thòi nhiều hơn ” (tr 336).
Liên
hệ tới Việt Nam, Vĩnh Sính viết “ Hội
chứng độc lập trong con người Việt Nam cũng khiến đa số chúng ta thiếu tinh
thần tiếp thu những điều hay cái lạ của các nền văn hoá khác, đồng thời chỉ
thích nói về những gì hay ho ưu việt trong văn hoá Việt Nam hơn là nói ra những
khuyết điểm của mình để sửa chữa. Hội chứng độc lập cũng khiến ta thiếu tinh
thần khách quan khi buôn bán làm ăn hay giao lưu với nước ngoài, chỉ biết mình
nhưng không biết người ” ( tr. 337).
2/
Bài viết về Shiba Ryôtarô ( 1923-1996 ) giới thiệu một trong những tác giả đại
diện cho nước Nhật và một trong những người viết sử có ảnh hưởng nhất ở Nhật.
Ông
này có viết riêng một cuốn sách phân tích quá trình lịch sử Việt Nam. Theo ông
ở Việt Nam, “ làng xã vẫn là một đơn vị xã hội có tầm quan trọng hơn nhà nước
“(tr 280), và đó là một nhân tố gốc, nó quy định trình độ phát triển của xã hội
Việt. Theo tôi hiểu ý nhà
viết sử này muốn nói là tình trạng lộn ngược đó ( làng quan trọng hơn nước), là bằng chứng về tình trạng lạc
hậu rõ rệt của cộng đồng mà chúng ta đang sống.
Trên
đường đi vào tâm lý dân tộc, nhà nghiên cứu Nhật cho là người Việt có một số căn bệnh chưa biết bao giờ mới chữa nổi, như cái
tình trạng thiếu tinh thần hợp tác với nhau để làm việc chung .
Đặc
biệt, theo Shiba Ryôtarô, một khuynh
hướng của người Việt là “ xem người dân
tộc mình ưu việt so với người dân tộc khác ” ( các tr 288 –289), do đó là một sự cản trở đối với việc học
hỏi và chung sống với thế giới.
3/ Một dịp khác, Vĩnh Sính dừng lại ở câu chuyện
về một nhân vật của thế kỷ XVII.
Đó là
Chu Thuấn Thuỷ (1600-1682) một trí thức Trung quốc sống ở thời nhà Minh bị Mãn
Thanh xâm chiếm.
Trong
quá trình vận động phản Thanh phục Minh, có mấy lần Chu đã lưu lạc sang Việt
Nam.
Chính
quyền đương thời tức các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã có lúc tính chuyện dung
nạp ông, nhưng việc không thành, về sau Chu sang ở hẳn Nhật, trở thành một trí
thức có công giúp đỡ cho việc đưa nước này vào một giai đoạn hưng thịnh.
Những
ngày làm việc với người Việt được Chu ghi lại qua tập sách mỏng An Nam cung dịch kỷ sự dịch ra là Ký sự về việc phục dịch ở An Nam , 1657.
(2)
Dưới
con mắt Chu, xã hội Việt Nam hiện ra với những nhược điểm cố hữu của một cơ chế
khép kín ít tiếp xúc với bên ngoài. Ngay với thế giới Trung Hoa tưởng là quá
quen thì hiểu biết của người Việt cũng rất hạn chế.
Vừa
gặp Chu, các nha lại địa phương đã giở trò hống hách, bắt người ta lạy, hỏi
người ta bằng cấp gì, và nếu không có bằng cấp thì lập tức rẻ rúng.
Đúng là cái bệnh quá quê mùa và hay chấp nhặt
mà ngày nay tới thế kỷ XXI, chúng ta còn bảo lưu khá đầy đủ !
Đến
như những câu chuyện mà các bậc gọi là thức giả bấy giờ quây vào hỏi Chu Thuấn
Thuỷ thì phần lớn cũng là chuyện tầm thường.
Sự
yếu kém trong đời sống tinh thần của xã hội bộc lộ ở nhiều mức độ.
Thứ nhất là lối học chỉ hớt lấy những cái lạ mà thiếu cơ
sở học thuật, một sự ngây thơ trong tư duy khiến đương sự phải cười thầm “ Người quý quốc đọc những truyện như Tam quốc diễn nghĩa hoặc Phong thần mà cả tin là thật, cứ đến đây
hỏi tôi hết chuyện này sang chuyện khác mãi không thôi. [Trong khi ấy thì lại
bỏ qua không nghiên cứu những sách kinh điển như Ngũ Kinh, Tam sử ]. Tựa như bỏ vàng ngọc mà chọn gạch đá, nhổ lúa
xanh mà trồng cỏ tranh, không hiểu cái gì phải lấy, cái gì phải bỏ ”
(tr.393).
Thứ hai là mê muội vì những trò mà nói theo thuật ngữ hiện đại là văn hoá
tâm linh. “ Nhưng tại sao chư quân tử từ trên xuống dưới lại cứ đến đòi xem
tướng số. Hỏi thật không nhằm chỗ, đến cuối cùng không biết là đã làm nhục Du
(Tức CTT). Người coi tướng, người xem sao đông biết bao nhiêu mà đếm cho hết.
Trong tứ dân (tức sĩ nông công thương -- Vĩnh Sính chú) và chín học phái
(tức cửu lưu : Nho gia, đạo gia, âm dương gia vv… Vĩnh Sính chú ), họ là
hạng người thấp hèn nhất. So họ với nhà nho có đức nghĩa, khác xa một trời một
vực, như đen với trắng, như nước với lửa, hoàn toàn tương phản ” (tr 392).
Sau
hết, Chu cho rằng xứ này “ tuy là nước
nhỏ, nhưng khí kiêu ngạo, học vấn nông cạn, kiến thức có giới hạn, tuy có thể
tuyển chọn được người tài năng trong nước Dạ Lang của mình, nhưng không tránh
được vẻ ếch ngồi đáy giếng ” (tr.401).
Theo
ghi chú của Vĩnh Sính, “ nước Dạ Lang ” nói ở đây là một ẩn dụ, bắt đầu từ câu
chuyện có thật về một nước nhỏ thời Hán, trong giao thiệp với thiên hạ mắc bệnh
hoang tưởng, từng tranh luận với các sứ giả quanh chủ đề “ nước Dạ Lang so với
Trung Quốc bên nào lớn bên nào nhỏ ”. Dạ
Lang tự đại đã thành một thành ngữ có ghi cả trong các từ điển Hán—Hán
phổ thông như Tân Hoa, Tứ giác,
chuyên để chỉ những cộng đồng quen sống biệt lập nên không có ý thức đúng đắn
về vị trí của mình trên thế giới.
Trên đây là một trong những điều tâm đắc nhất
tôi cảm nhận được khi đọc Vĩnh Sính. Cảm hứng sâu sắc về đời sống tinh thần xã
hội Việt Nam hôm nay đã giúp cho tác giả có cách khai thác lịch sử hợp lý, và
lời đề nghị ông muốn gửi gắm sau các trang viết cũng đã rõ, vấn đề chỉ còn là ở
chỗ chúng ta có chia sẻ và chấp nhận , để rồi cùng bắt tay vào việc đi tìm
những di lụy của nó trong những công việc trước mắt và tìm cách “gỡ rối “… hay
không thôi .
Chú thích
(1) (1 ) Nhà xuất bản Văn nghệ TP HCM và Trung tâm Nghiên
cứu quốc học xuất bản , 2001. Những số trang ghi trong bài đều dựa theo bản in
trên
(2) (2) Bản dịch
cuốn sách này , do Vĩnh Sính thực hiện đã được Hội khoa học lịch sử VN cho xuất bản , 1999 , với nhan đề Ký sự đến Việt Nam năm 1657.
Đã in
trên TBKTSG 2006
với nhan đề Có
một căn bệnh gọi là Dạ Lang tự đại
Viết
thêm 15-5-2013
Trên tinh
thần tự nhận thức vừa được nhen nhóm, chúng ta gần đây hay nói tới những thói
hư tật xấu của người mình như tham lam , gian dối, lười biếng , ích kỷ, trơ
tráo... Suy cho cùng các chứng thoạt nhìn lặt vặt đó cũng có nguồn gốc sâu xa .
Như sự tham lam sở dĩ nẩy sinh vì con
người ở vào thế làm ăn kém cỏi, không
thể tự mình thỏa mãn hết những nhu cầu tối thiểu của mình; trong mối quan hệ
với người khác và với cả xã hội chỉ thấy những mối lợi nhỏ. Tham ở người Việt
thường là tham vặt, dấu hiệu của một trình độ phát triển thấp, chứ không phải
những tham vọng lớn của người có tầm nhìn rộng rãi.
Trong
bài trên, người Việt được mô tả với những thói xấu trên phương diện quan niệm. Quan niệm của
chúng ta về mình và chỗ đứng của chúng
ta trong quan hệ các cộng đồng khác.
Trong sự kém cỏi lại loanh quanh trong cái ao nhà , ta ít hiểu biết về
thế giới về con người các dân tộc khác nói chung. Đến khi tiếp xúc với họ
ta có phần ngợp. Để tự trấn an ta đành
chọn lối kiêu ngạo, trưng ra những
cái mà mình cho là ưu việt của
mình để lòe người một phần mà cũng là để tự dối mình. Rồi
tự cho mình là đứng cao hơn cả so với người các dân tộc
khác. Và xem ai không nhìn mình như thế tức là những người không có thiện chí,
thậm chí là thù địch.
Như Vính Sính đã gọi đích danh, đó phải gọi là một thứ "chủ nghĩa sô -vanh " trong văn hóa cần phê phán
Cần nhấn mạnh là cách
nghĩ này kéo dài trong lịch sử và đến thời hiện đại lại càng phát triển với
những sắc thái tinh vi hơn và ra vẻ có lý hơn.
Trong
hoàn cảnh của một quốc gia muốn vượt ra cái bóng của nước ngoài để dành độc lập, tinh thần đó là cần thiết và
tạm chấp nhận được.
Nhưng cứ kéo dài mãi như hiện nay lại thành ra
lố bịch.
Và như
tác giả Nhật ở trên đã nói, đó là một sự cản trở đối với việc học hỏi và chung
sống với thế giới.
Tuesday, May 14, 2013
“Bệnh gian và tham của người Việt không thể chữa được”
LỜI TÒA SOẠN: Lá thư của một học sinh lớp 4 Việt Nam đường hoàng gửi các nhà lãnh đạo cao nhất Trung Quốc, đã thể hiện rõ khát vọng hòa bình, bảo vệ vẹn toàn chủ quyền và khát vọng làm chủ đất nước, của những công dân tương lai. Những công dân tương lai này sẽ tiếp bước những cái tên đã trở thành huyền thoại trong giới khoa học toàn cầu như Ngô Bảo Châu. Tên của doanh nhân Phạm Nhật Vượng được xướng lên trong danh sách tỉ phú thế giới của Forbes, đã chứng minh khát vọng của nhiều doanh nhân thời đại mới muốn góp phần đưa nước Việt sánh vai các cường quốc 5 châu.
Đặng Lê Nguyên Vũ muốn Trung Nguyên vượt qua Starbucks ngay tại Hoa Kỳ trên con đường chinh phục vị trí lãnh đạo ngành cà phê thế giới; Hai CEO của Vingroup và Viện nghiên cứu phát triển giáo dục Việt Nam là Lê Thị Thu Thủy và Giản Tư Trung lọt vào danh sách những nhà lãnh đạo trẻ toàn cầu; Hai nữ yếu nhân của Vinamilk và Dược Hậu Giang là Mai Kiều Liên và Phạm Thị Việt Nga lọt danh sách 50 nữ doanh nhân quyền lực nhất Châu Á… tất cả đều là minh chứng hùng hồn của những khát vọng Việt đang trỗi dậy mạnh mẽ trên trường quốc tế.
Nhưng như vậy đã đủ cho một nước Việt hùng cường?
Để cổ vũ, phát hiện và tôn vinh cho khát vọng ấy, Báo điện tử Giáo dục Việt Nam chính thức mở chuyên
Vương Trí Nhàn là nhà nghiên cứu, phê bình văn học từng gây tiếng vang lớn nhất và được dư luận biết đến nhiều nhất với hàng loạt bài viết đăng tải trên báo Thể thao – Văn hóa nhiều năm về trước về chủ đề: “Thói hư, tật xấu người Việt”. Khi đó mỗi bài viết của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn đều là nghiên cứu, tập hợp những nhận định, góc nhìn của giới trí thức, học giả Việt Nam đầu thế kỷ XX về dân tộc mình.
Dù sau những bài viết này của ông có rất nhiều ý kiến đánh giá, nhận định trái chiều. Nhưng có một điều ai cũng thừa nhận là ông dám nói thẳng, nói thật những tồn tại, những tật xấu mà ai cũng có thể bắt gặp đâu đó của người Việt.
mục “Vì Khát vọng Việt” từ tháng 5/2013. Chuyên đề đầu tiên sẽ là: Người Việt “mạnh” hay “yếu”?
Để có cái nhìn đa chiều, bài đầu tiên (dưới đây) xin được nói về những tật xấu, điểm yếu khổng lồ của người Việt qua góc nhìn của nhà nghiên cứu văn hóa, phê bình Vương Trí Nhàn.
Bài 1: “Bệnh gian và tham của người Việt không thể chữa được”
Người Việt có thói xấu lớn nhất là sợ nói ra cái xấu của mình, ai nói ra cái xấu của mình thì coi người đó là kẻ thù và họ vội gạt đi để lấp liếm: “Tôi không như thế”… Chính “hệ miễn dịch” với cái xấu của không còn khiến người Việt không thể phát triển được…”.
Đó là nhận định của nhà nghiên cứu, phê bình Văn học Vương Trí Nhàn khi mở đầu câu chuyện nói về tính cách, điểm mạnh, điểm yếu của người Việt trong bối cảnh hội nhập thế giới.
Người Việt không thể phát triển vì… quá nhiều thói xấu
Nhắc đến nhà nghiên cứu, phê bình văn học Vương Trí Nhàn, không ít người Việt vẫn “cay cú” ông vì cái tội “vạch áo cho người xem lưng” khi nêu rõ tuốt tuồn tuột những thói hư tật xấu của họ qua những tác phẩm văn học, tác phẩm báo chí và qua chính phát ngôn của ông trong cuộc sống hằng ngày.
Dẫu biết, nêu lên những thói xấu là để cảnh tỉnh, để ai đó thấy bóng dáng của mà “tránh đi, thay đổi đi” và quan trọng là giúp người Việt nhận ra những điểm yếu để sửa chữa trong bối cảnh hội nhập với thế giới nhưng theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, làm được điều đó là không dễ, như thể con kiến đối đầu với một tảng núi.
Gần 10 năm, kể từ khi bài viết đầu tiên về thói xấu của người Việt được công khai trước dư luận, đến nay khi ngồi nói chuyện với ông, nhắc đến chủ đề này, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn vẫn lặng lẽ nói: “Hệ miễn dịch” của dân mình với thói xấu đã không còn nên không thuốc gì chữa trị được”. Với ông điều đó rất nguy hiểm, vì nó làm người Việt, nhất là người Việt trẻ không tiến lên được.
Là người yêu văn học Nga, câu nói của nhà văn Sêkhôp: Một con người sẽ tốt hơn nếu ta nói cho anh ta
biết anh ta là người thế nào... chính là “đòn bẩy” để nhà phê bình Vương Trí Nhàn tập hợp lại tất cả những nghiên cứu thói xấu của người Việt từ trước đến nay của ông với mong muốn chia sẻ, mỗi người hãy nhìn lại mình để tốt hơn.
Từ sự đúc kết ấy, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn nhận định: Người Việt bây giờ nhiều thói hư tật xấu hơn nhiều so với trước đây.
Với nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, cái xấu nhất của người Việt chính là ghét những ai nói ra cái xấu của mình. Ông cho rằng người Việt chỉ thích được người khác khen. Ngay cả khi người khác chê mình hợp lý, họ cũng thấy khó nghe.
Theo ông, người Việt không thể phát triển vì… quá nhiều thói xấu.
Chính từ thói xấu này theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, kéo theo người Việt lại nặng óc hư danh và sống không có lý tưởng. “Trước đây ông Phạm Quỳnh từng nói: Dân ta là dân rất hiếu danh, mà hiếu hư danh, tật đó dẫu người nông nổi xét xã hội mình cũng đủ biết. Từ trên xuống dưới từ thấp chí cao, từ anh khố rách trong làng cố cầu cạnh cho được chức trương tuần phó lý để được người ta khỏi gọi là bố đĩ, bố cu cho đến bậc phú hào nơi thành thị thi nhau mà mua lấy tiếng ông bá. ông hàn để ra mặt thượng lưu trong xã hội. Cậu cả, cậu hai luồn lót hàng chục, hàng trăm để được gọi là thầy thông thầy phán… hết thảy đều như có cái ma lực nó run rủi, phải cố chuốc lấy chút danh tiếng hão mới mãn nguyện”, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn nói.
Cũng bàn đến thói xấu nhất người Việt là ghét ai nói cái xấu của mình, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn cho rằng một phần vì cái tính tự ái của người Việt. Ông rất thích và tâm đắc hai câu thơ của nhà thơ Tản Đà: “Dân hai lăm triệu ai người lớn/Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”. Theo ông dân mình “trẻ con” lắm, thích khen, ảo tưởng rất nặng trong tâm lý.
Vì tính “trẻ con” nên hay tự ái, cứ khen thì vỗ tay vào còn hễ ai chê thì bực dọc khó chịu và chối ngay theo cách: “Tôi không như thế”… Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn coi đó là thói nói dối, một thói xấu đáng lên án của người Việt hiện nay.
Hệ miễn dịch với thói xấu không còn nên… không có thuốc chữa
Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn thói xấu thứ hai của người Việt không phải là nói dối mà đáng buồn hơn là nhiều người Việt hiện nay không có nhu cầu tự nhận thức, xem lại mình là người như thế nào, đặt mình trong thời gian, không gian cụ thể thì sẽ ra sao.
Một người nước ngoài từng nói: Người Việt ít có khả năng đặt mình vào vị trí người khác. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn cho rằng nhận xét đó rất chính xác, người Việt ta chỉ tri kỷ chứ không tri âm, hai kẻ nói chuyện với nhau như hai người điếc. Tiếp nữa thói xấu người Việt là sự thiếu chính xác trong mọi thứ, thiếu khoa học, thiếu nghiên cứu sống rất bộc phát hồn nhiên.
Nhưng nhìn lại tất cả theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn “cái xấu người Việt có rất nhiều và tựu trung lại một đó là sự tham và gian”.
Từng đi và nghe người nước ngoài nói rằng người Việt Nam gian xảo và tham lam ngẫm lại ông cho rằng đúng vì tham danh, tham lợi nên người ta phải nói dối phải gian xảo với nhau.
Tất cả những thói xấu này theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn sẽ cản trở sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Hơn hết cái thói tự kỷ trung tâm luận, thấy mình là trung tâm, cứ bắt người khác phải theo ý mình. Sự kiêu ngạo quá lớn của người Việt so với thế giới là điểm bất lợi cho sự phát triển của từng cá nhân và của đất nước.
Ví thói xấu người Việt là căn bệnh nan y, theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn nếu là thầy thuốc ông cũng chịu “bó tay” khi được hỏi về phương pháp “điều trị” thói xấu người Việt. Ông cho rằng, thói xấu ở đâu cũng có nhưng người Việt hiện nay thì “Hệ thống miễn dịch với thói hư tật xấu đã không còn nên không thể trị được”.
Q.Tiên-L.Hoàng
Subscribe to:
Comments (Atom)