| ngày 29/03/2010 - |
Vụ clip bạo lực của nữ sinh Trần Nhân Tông chưa kịp nguội trong dư luận, thì liên tiếp nhiều vụ bạo lực học đường và tội ác xã hội với cấp độ còn cao hơn... Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn tiếp tục chia sẻ sâu hơn xung quanh chủ đề về mầm mống bạo lực trong xã hội Việt. Bạo lực nằm sâu trong văn hóa Việt Ông đặt vấn đề suy nghĩ về gốc rễ của bạo lực trong đời sống. Vậy thì, nhìn xa hơn những biểu hiện mà ta đã nói đến, thì mầm mống của bạo lực trong đời sống Việt nằm ở đâu? Ở ngay trong di sản văn hoá của cộng đồng. Ngay trong ca dao, tục ngữ… có những câu báo động về cách cư xử của người xưa. Nhiều câu tôi nghe từ lâu Cả vú lấp miệng em, Lấy thịt đè người, Già đòn non nhẽ… Gần đây trong những dịp đọc linh tinh, tôi lại nhặt thêm được một câu Cả bè to hơn văn tự. Câu này đại khái có nghĩa thế mạnh vật chất là nhất, vượt lên trên mọi cam kết, mọi lẽ phải, mọi luật pháp. Cổ tích của chúng ta cũng có không ít truyện cho thấy ẩn ức bạo lực của con người. Trong “Tấm Cám”, cô Tấm trả thù mẹ con nhà Cám rất tàn bạo. Trong ngụ ngôn “Trí khôn của ta đây”, con người lừa trói con hổ, châm lửa đốt… chỉ để khẳng định bản thân. Đó là những biểu hiện tâm lý của thời kỳ xa xưa, có thể hiểu là thời chưa văn minh. Trên hành trình phát triển của dân tộc, những yếu tố gì khác nuôi dưỡng mầm mống bạo lực này, thưa ông? Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước ta trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh. Hoàn cảnh chiến tranh khiến người ta coi nhẹ cái chết, coi nhẹ bạo lực. Đã đổ máu nhiều tự nhiên người ta sinh ra coi thường sự đổ máu. Đi qua chiến tranh, chúng ta tưởng rằng mình sẽ khác, nhưng thực tế lại bước vào cuộc cạnh tranh khác. Những tiền đề bạo lực ấy hàng ngày đang được dung dưỡng, tha thứ. Ngoài ra, tôi cho một trong những yếu tố quan trọng là người Việt chúng ta không có một thứ tôn giáo đủ mạnh, đủ để làm cho họ sợ mà tránh phạm điều ác. Cảm giác hướng thiện, cảm giác về một cuộc sống khác trong mỗi người thường rất mong manh. Dân ta đâu có tin nhiều thần thánh! Người ta nô nức đi chùa, đi đền, không gì khác là để hối lộ thần thánh, mặc cả với thần thánh. Còn lòng nhân từ mà tôn giáo nào cũng khuyến khích lại không bắt rễ sâu sắc trong ta. Trình độ sống của người Việt còn thấp Quay trở lại các hiện tượng bạo lực hiện nay. Thực ra, có không ít sự vụ tương tự… chỉ có điều không “lộ sáng” dưới hình thức dễ tác động tới công chúng. Tức là, sự xuất hiện của những clip mà cả xã hội đang xôn xao kia chỉ là sự bộc lộ một tình trạng mà chúng ta chưa ý thức đầy đủ? Đúng như vậy. Các clip bạo lực học đường này so với nhiều câu chuyện được đề cập trên báo chí hàng ngày đã ăn thua gì. Tôi được biết, trong những vụ tai nạn xe ô tô, nhiều khi tài xế cố cán cho người bị nạn chết luôn, chấp nhận bị đi tù vài năm so với việc chẳng may phải bồi thường và nuôi nạn nhân cả đời nếu họ bị tàn tật. Bạo lực chứng tỏ trình độ làm người thấp của cả cộng đồng. Chúng ta còn rất nhiều phấn đấu để vượt lên một trình độ sống khác. Báo chí hàng ngày cho thấy các hình thức bạo lực cũng đang bùng phát ở nhiều xã hội khác, được cho là văn minh hơn. Vậy, nói bạo lực phản ánh trình độ sống thấp của dân Việt là một khái quát vội vã? Cố nhiên, dân mình không độc quyền trong chuyện này. Bạo lực đang hoành hành ở nhiều xã hội. Có điều, theo tôi hiểu, ta thuộc về khu vực của những nước bạo lực không chỉ phổ biếnmà còn bị đẩy lên quá đáng, nhiều khi phải nói là dã man. Bất cứ ở đâu phát triển bạo lực tức là nơi đó trình độ sống còn thấp. Ta cũng là một minh chứng rõ rệt cho quy luật đó. Trong thái độ bạo lực đối với thiên nhiên mà ta đã nói đến, sở dĩ loại bạo lực này còn đến ngày nay, xét sâu xa ra vì ta chưa hiểu sâu sắc mối quan hệ con người với thiên nhiên. Trong công cuộc kiếm sống, tư duy hái lượm còn đang chi phối. Tư duy hái lượm nghĩa là chỉ biết ăn sẵn, lo tước đoạt thiên nhiên chứ không biết làm giầu cho thiên nhiên. Ở các xã hội phát triển hơn, lối kiếm sống này, lối tư duy này đã bị vượt qua từ lâu. Bạo lực giữa người với người nảy sinh và tồn tại dai dẳng khi ngôn ngữ giao tiếp bất lực người ta không thể dùng lời nói để thuyết phục nhau, chia sẻ ý kiến với nhau, và quan trọng nhất là phân chia quyền lợi với nhau, đành dùng lối “thượng cẳng chân hạ cẳng tay” vậy. Sự thiếu vắng một ngôn ngữ chung hiệu qủa (ngôn ngữ theo nghĩa một công cụ giao tiếp) là dấu hiệu của trình độ sống còn thấp. Phản ứng ầm ĩ nhưng kém hiệu quả Sau mỗi vụ bạo lực, bạo hành, những cơn xúc động của dư luận bùng lên để rồi lại xẹp xuống cho đến khi lại có những vụ việc tiếp theo. Trong khi đó, xu hướng này vẫn tiếp tục. Nghĩa là những cảnh báo, báo động, kêu gọi… của chúng ta là cách phản ứng ầm ĩ nhưng lại kém hiệu quả? Trong cách phản ứng hiện nay thấy thể hiện một khía cạnh tính cách người Việt. Chúng ta thường nông nổi, đồng bóng mà ít chịu nghĩ sâu một điều gì đó. Không riêng gì với bạo lực, cách ứng xử ấy đã bộc lộ trong nhiều trường hợp khác. Chúng ta cũng đã từng kêu ầm lên khi có hiện tượng các cô gái đi lấy chồng Hàn Quốc… Rồi có làm gì thêm đâu. Hơn thế nữa tôi cảm thấy một xu hướng cư xử hiện nay là chúng ta thích dễ dãi với nhau bỏ qua cho nhau nhiều điều lẽ ra không thể bỏ qua. Ta không biết ngăn chặn cái ác từ lúc nó mới manh nha. Cái gốc là ta không đặt ra những yêu cầu cao với những người chung quanh, với người thân của ta, với con em ta nữa. Phần 3: Cần đặt vấn đề chữa trị lâu dài Minh Phương (thực hiện) |
Sunday, March 28, 2010
Trình độ sống của người Việt còn thấp
Tuesday, March 23, 2010
Thơ tình và con người riêng tư trong thơ Xuân Diệu sau 1945
Những thích ứng với hoàn cảnh đã làm nên sự thay đổi lớn lao trong số phận một nhà thơ. Với Cách mạng và kháng chiến, một Xuân Diệu từng mang tiếng là quá Tây không chỉ trở thành một nhà thơ công dân sôi nổi mà còn một nhà thơ tình có một cảm quan rất thực tế, luôn luôn biết chăm sóc đến những cái nho nhỏ bình thường trong đời sống, đồng thời lại tự mở rộng trong việc ghi lại những xúc cảm đa dạng ở con người.
Chữ bình thường vốn có thể hiểu với nhiều nghĩa khác nhau. Thời tiền chiến, bình thường ở Xuân Diệu có hàm ý thiên về cuộc sống trần trần mà ai cũng thấy hàng ngày. Ông đã có dịp bộc lộ điều này qua những lời chê trách Hàn Mặc Tử. Với ông, thơ Hàn nhiều khi như tiếng nói của kẻ trần truồng đi ngoài phố, đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, miệng kêu tôi điên đây, tôi điên đây. Ông cho Hàn là quá đáng. Và là những gì gì nữa không thể hiểu được. Dưới cái bề ngoài giống như một bà già lắm lời khó tính, ở đây ( cũng như nhiều lần về sau ) Xuân Diệu đã nói thực. Ông không chịu được những gì siêu việt tức vượt lên thông thường, hư vô, xa lạ.
Thơ tình Xuân Diệu hồi ấy đã mang dáng dấp phàm trần. Thế nhưng người ta lại phải nói ngay rằng nó có chút gì đó cao sang, nuột nà, quý phái. Còn thơ từ sau 1945 có một cốt cách khác. Nó bình thường với nghĩa mộc mạc giản dị như thứ quà của người nghèo.
Nhà thơ lắng nghe lòng mình và ghi lại đủ thứ rung động mà người khác có thể cho là lặt vặt. Một lần đèo người yêu trên xe đạp “ Em ngồi ríu rít ở sau xe – Em nói lòng anh mải lắng nghe – Thỉnh thoảng tiếng cười em lại điểm -- Đời vui khi được có em kề.” Một lần nghe mưa, nhớ tới người yêu đang xa cách, tự hỏi không biết giờ này em đang làm gì, để rồi thầm nhủ “ Thôi em nghỉ việc khuya rồi--Chăn mưa em đắp cùng trời với anh “. Nhìn áo mà nhớ người, cái mô-típ ca dao ấy được một nhà thơ thời nay nhắc lại, sao có gì tội tội “ Áo nhìn anh lại thương em – Hiểu vì vất vả cho nên vai gầy “. Ngay những lần đón nhau sau xa cách, người ta vẫn giữ được cái chừng mực phải chăng, biết hoà tình cảm riêng của mình vào đời sống cộng đồng : “ Anh là quê hương của em, em trở lại nhà -- Em là quê hương của anh, anh mừng đi đón “.
Đó là tâm tình ngự trị ở những con người của một thời đại quá vất vả do đó dễ sinh ra khắc kỷ. Thuở ấy, người ta luôn luôn phải tự nhủ rằng mình không có quyền lo cho cá nhân, không có quyền đòi hỏi, nay không phải lúc hưởng thụ. Sự tự nguyện sống cái đời sống hàng ngày với bao nhiêu lo toan chắt chiu nhặt nhạnh, làm thay đổi cả những cảm quan con người bình thường. Ai cũng biết rằng thịt bổ lắm nhưng không có thịt thôi thì hãy khen rau là ngon ; và bởi vì đã từng có phen bị đói nữa không có cả rau mà ăn, nên cái điều kêu rau ngon vẫn chính là lời nói thật.
Nam Chi Đặng Tiến từng có sự ví von xác đáng về Xuân Diệu giữa hai thời kỳ : “ Xuân Diệu đã cướp một mâm tiệc Bồng Lai đem về làm một bữa cơm trần thế cho những người ăn vì cần ăn, chứ không phải ăn cho vui miệng. Thơ Xuân Diệu ngày xưa là áo gấm, thơ Xuân Diệu ngày nay là manh áo nâu sứt chỉ đường tà.”
Cái điều đúng cho thơ Xuân Diệu nói chung đó càng đúng với thơ tình nói riêng.
Trong cái vẻ bình dân cơm bụi, nhiều bài thơ tình Xuân Diệu thời gian sau 1945 đơn sơ mộc mạc trong cách cảm cách nói. Khi xuất thần, nó có vẻ đẹp của ca dao hoặc thơ cổ điển, tưởng không thuộc về thời gian nào, tuy rằng nhìn kỹ thì lại vẫn mang dấu ấn của tư duy nghệ thuật hiện đại.
Đây là hai câu thơ mở đầu bài thơ Nguyện nói về những ước ao nho nhỏ : Nguyện miếng ngon đừng vắng bóng em – Nguyện cảnh đẹp có êm bên cạnh.
Những câu thơ như thế chỉ có thể có ở một nhà thơ Việt Nam, mà cũng chỉ có thể có ở Xuân Diệu. Bởi đọc lại người ta không khỏi nhận ra cái điều nằm sâu mãi dưới đáy lòng bao nhiêu người Việt và từng được những Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao diễn tả theo nhiều cách khác nhau : miếng ăn ám ảnh con người ; miếng ăn là chuyện tình nghĩa. Xuân Diệu cũng vậy, mặc dầu là một nhà thơ, nhưng ông luôn xem trọng chuyện đời thường chuyện thực tế. Ai đã có dịp gần nhà thơ đều biết, tác giả Thơ thơ hàng ngày rất hay nói về chuyện ăn uống. Trong lúc người khác chỉ nói điều ấy ở chỗ riêng tư thì Xuân Diệu viết thẳng nó lên mặt giấy. Nguyện miếng ngon đừng vắng bóng em … Người đời sau có thể xem thường cái vẻ chân thành cổ cổ của người viết. Thế nhưng cả đến ngày hôm nay nưã, chỉ những người đã có tiếp xúc nhiều với phương Tây và dám nói lên ý nghĩ của mình một cách trực tiếp nhất, mới có thể viết những câu như vậy.
Trong văn nghiệp của Xuân Diệu có một bộ phận là thơ dịch.Thế hệ những người yêu thơ những năm chống Mỹ hẳn nhớ hồi ấy có một dọng thơ bạn bè xa lạ song lại hết sức thân thiết, nhờ Xuân Diệu mà trở nên thân thiết, đó là thơ Blaga Dmitrova. Lạ một điều nếu khi sáng tác và trong việc nhìn nhận đánh giá sáng tác trong nước, Xuân Diệu rất kỵ thơ không vần thì khi dịch Dmitrova, ông lại sử dụng thứ thơ không vần này một cách tinh tế. Thơ dịch bộc lộ một phía khác trong con người nghệ thuật ở Xuân Diệu : ông phục thiện, ông tìm ra hình thức để thích ứng với nội dung, và ông dám có những thể nghiệm. Hơn thế nữa, có thể nói thơ dịch là nơi ông gửi gấm tâm sự cũng tức là nơi ông nói thông qua người khác.
Trở lại với thơ tình Xuân Diệu và thử so sánh với những bài thơ tình chính Xuân Diệu đã dịch.
Một điều dễ thấy : người thi sĩ Việt Nam vẫn có cái cách biểu hiện tình cảm riêng của người Việt. Thơ nhà thơ Pháp Paul Eluard : Anh bước tới em anh bước mãi mãi về ánh sáng -- Đời có thịt xương hạnh phúc đã căng buồm --Ánh sáng tràn trề những mộng và đêm --Hẹn với rạng đông những cái nhìn tin cậy. Hoặc thơ nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ Nazim Hikmet : Khi đạt tới em anh mới biết em là nơi không đạt tới bao giờ. Ngay trong thơ tình, họ vẫn có xu hướng triết lý. So với họ, thì thơ Xuân Diệu cũng như các nhà thơ Việt Nam đời thường và thiết thực hơn nhiều.
Nhưng đấy là xét đại thể. Sự tiếp nhận phương Tây vẫn ngấm dần dần, con người tự mình khác đi mà không hay biết. Trong số những bài thơ dịch, có bài sau đây ít người để ý, nhưng theo tôi mang rõ chất Xuân Diệu :
THƠ NGỢI NÀNG ĐI- TÔ
Những ngày mai của anh hiện trên mặt em
Như gân lá trên lá cây- ăn -bánh
Miệng em khi cười như chạm trong lửa thắm
Vẻ dịu dàng ánh lên trong đôi mắt em
Như giọt nước long lanh trên tấm cừu sinh động mượt êm
Sóng gợn reo say trên làn thân thể
Và lòng anh yêu da thịt của em
Như tiếng chuông ngân đổ hồi ròn rã
Đổ liên hồi trong máu khiến say thêm
Anh như những dòng sông bỏ dòng chảy cũ
Để chảy vào lòng cát sắc em xinh
Anh như những đàn én bay về tổ
Năm năm về tìm trời của em xanh
Mùa lại mùa anh vững bền vẫn ở
Trong mùa xuân bất tận những mơn trớn ân tình
Anh ở trên đất này đặng mà vĩnh viễn
Được lở và bồi trong sóng mạnh của em
Em ái ân hồi anh lại mỗi đêm
Như một trái tim lại hồi nhịp đập
Đời anh, hỡi nàng tiên rượu bồ đào trong mắt
Đời anh hỡi niềm say mía ngọt mê li
Đời em tạo đời anh như một ngọn lửa gỗ cháy diệu kỳ
Ngọn lửa in lên chân trời vô biên của nhân loại
Nên nhớ không gian đây là Hà Nội và thời gian là khoảng những năm sáu mươi. Hồi ấy không ai tưởng tượng được có lúc thơ văn tiếng Việt lại đi vào diễn tả những cách nghĩ kiểu Vi Thuỳ Linh hay Đỗ Hoàng Diệu bây giờ. Bởi thế việc một bài thơ như Thơ ngợi nàng Đi-tô thế này được dịch ra đã là bạo lắm. Khoảng 1986-1988, khi cùng ở Moskva, nhà nghiên cứu văn học Huỳnh Như Phương lớn lên ở miền nam trước 1975 tỏ ra rất thích thú khi nghe tôi đọc bài này. Anh vốn không nghĩ Xuân Diệu lại viết ra dưới hình thức dịch một bài thơ có nhiều cảm giác về xác thịt như thế. Huỳnh Như Phương phải nhờ tôi chép lại hộ, vì Thơ ngợi nàng Đi - tô in ra trong tập thơ Những nhà thơ da đen, và sau này không mấy khi được nhắc tới.
Cần phải nhắc lại Thơ ngợi nàng Đi-tô, vì ở sáng tác Xuân Diệu cũng có những bài mà người ta thấy có bóng dáng của nó. Trong bài Phượng mười năm đã có hai câu thơ hôi hổi nồng nàn “ Ta cùng mình như cành cây riết quấn – Vương lòng nhau ràng rịt biết bao đời “. Còn đây là bài Đổi trao:
Đêm qua mới thật là đêm
Tình như biển cả nghĩa thêm sông dài
Đôi ta hoá một con người
Bốn trời con mắt một nơi tâm hồn.
Hai ta đã đổi trao hồn
Đổi trao thân vẫn hãy còn đổi trao
Những gì đẹp nhất thanh cao
Chứa chan bốn mắt nghẹn ngào bờ tim
Tìm nhau mãi giữa bầu đêm
Ngôi sao anh với sao em mỉm cười
Đổi trao ánh mắt qua trời
Đôi bông hoa đỏ giữa vời vô biên
Chỗ mới trong chất liệu thơ thì quá rõ, theo chỗ tôi nhớ xưa nay chưa có bài nào của Xuân Diệu nói chuyện chung chạ “ đôi ta hoá một con người “ rõ như bài này ( kể cả thơ tình trước 1945 ). Có điều có vẻ như chỉ sau mấy câu ấy, tác giả đã hoảng, phải có bốn câu cuối làm nhoè đi, đánh trống lảng. Mà lúc đã phải đối phó như thế thì chữ nghĩa sáo mòn cổ lỗ không ai không thấy.
Có thể nói tâm thế tác giả là vừa cũ vừa mới, ông đã đón nhận của thế giới nhiều thứ nhưng rồi lại vẫn bám chắc trên mảnh đất Việt Nam.
Hồi Thơ thơ, chữ em trong thơ Xuân Diệu chỉ để dành cho những người mà nhà thơ yêu. Cô gái bị gián cách bởi một khoảng không mà chàng trai không bao giờ vượt nổi. Từ sau 1945, chữ em này đổi nghĩa, người con gái có vai mới: vai người vợ, người ấy ở ngay đây, hai người chung sống hàng ngày. Anh thương em khi ngủ, Anh đợi em về ăn cơm, Đi đâu anh cũng nhớ em, Đánh đau em -- ngay tên một số bài thơ đã nói lên điều đó. Nhưng rồi người ấy chỉ ở với với Xuân Diệu trong một thời gian ngắn. Cuộc chia tay đã tới, xót xa cho cả hai bên. Xuân Diệu đã làm một số bài thơ ghi lại nỗi đau đớn của mình trong giờ phút chia tay. Bài Chầm chậm đừng quên... sau khi nhắc lại những kỷ niệm cũ, chốt lại ở cái ý: tình yêu như sợi dây trói đã dính vào da thịt cả hai, nay dứt ra, trong sợi dây có dính cả máu và nước mắt.
Muôn sợi ngàn dây đã thắt nhau
Em ơi chầm chậm tháo gì mau
Tháo dây, rứt cả vào da thịt
Anh biết bao giờ mới hết đau
Dây buộc đôi ta lại với đời
Gỡ dây, gỡ cả cuộc đời thôi
- Chớ quên hoa duối, hoa sim dại
Em hỡi! Đừng quên “hoa anh ơi”
Biết tạc đâu ra em của anh có những đoạn trong đó người làm thơ như chết lặng đi trước cuộc vĩnh biệt sắp sửa:
Anh lấy thịt xương đâu chứa đầy mộng ước
Anh lấy gì biến hoá để thành em?
Anh bóp vụn ngày, anh xé nát đêm
Anh vá víu những người trên trái đất
Người ta có thể vô cùng xinh đẹp
Có thể thông minh, có thể rạng ngời
Có thể yêu anh đi nữa - em ơi
Anh không thể kiếm tìm em đâu cả!
Với thơ tình vậy là thơ Xuân Diệu giàu thêm bao sắc thái tình cảm mới, mà phần thơ công dân không có. Ở đó có những phút rợn ngợp, có tiếng nức nở, có sự thất vọng. Ở đó lại có cả nỗi sợ, dù chỉ một nỗi sợ nho nhỏ làm người ta tê tái : Anh có nhà có cửa – Nhưng không vợ không con – Sợ cái bếp không lửa-- Sợ cái cửa không đèn.
Cũng có cái vẻ buồn buồn tội tội là cái cách mà Xuân Diệu công bố thơ tình của mình, cùng là cái cách mà ông đến với bạn đọc. Thời ấy tình cảm cộng đồng lấn át. Người ta bảo nhau sẽ là có lỗi nếu ngồi làm loại thơ đi sâu vào tình cảm cá nhân. Thơ tình không được khuyến khích mà chỉ là một thứ vợ lẽ con thêm cho phần nào hay phần ấy. Vì thế, sự thực là sinh thời tác giả, trừ tập Cầm tay chỉ là một chùm nhỏ in chung với Mũi Cà Mâu (1962), Xuân Diệu không được in một tập thơ tình nào của riêng mình.
Khi mới bước vào nghề văn, mà cũng là hồi đầu chiến tranh, tôi cũng có cái thói quen của nhiều bạn bè thời ấy, là xin phép được đến thăm Xuân Diệu, ở 24 Điện Biên Phủ Hà Nội. Có một dạo đường Điện Biên Phủ còn mang tên Cột Cờ. Không biết ai viết, chỉ thấy cái câu lục bát sau đây được truyền tụng như là lời Xuân Diệu “ Nhà tớ 24 Cột Cờ – Ai thân thì đến, ai lờ thì đi “. Cũng có những hôm chúng tôi được Xuân Diệu ân cần trò chuyện từ lúc tới đến lúc về ; lại cũng có những hôm nhà thơ mải làm việc, chúng tôi ngồi đọc một số sổ tay ghi chép của ông và đọc những bài thơ mới làm. Sổ tay tôi còn ghi như sau : -- Quà : 3/1/65-15/1/65 --Đêm mùng sáu tết 5-6/2/65 --Xuân bên Hồ Tây 5/2/65 -- Mặt em 27/1/65—9/2/65 --Một sớm mai xuân 1/4/65-- Em tặng quạt 18/7/65--Nhớ đôi mắt 13/3/66 vv.vv… Như chỗ tôi chép được,trong số 40 bài làm hai năm 65-66 này, có độ mươi mười lăm bài sẽ được Xuân Diệu chia vào các tập như Tôi giàu đôi mắt, Thanh ca.. nhưng đáng tiếc là số chưa in lại nhiều hơn.
Không biết sinh thời Xuân Diệu có bao giờ nói với các anh Vũ Quần Phương, Anh Ngọc, Hữu Nhuận, Hoàng Cát …không, nhưng đúng là với tôi, có lần ông bảo ông sẽ làm đủ thơ để hình thành nên một từ điển thơ tình, người đọc khi gặp điều gì xúc động trong tình yêu, giở từ điển của ông, tra theo chữ cái đầu tiên, sẽ tìm ra bài thơ mà mình cần.
Đến ngày hôm nay tôi vẫn chưa nhìn thấy khả năng cái nguyện ước ấy của nhà thơ được thực hiện. Một bên là những cuốn sách của ông được chất đống lại trong một toàn tập sáu tập dày cộp mà văn bản không hề có khảo chứng chú giải tối thiểu. Một bên là những tập thơ mỏng in theo kiểu hàng chợ bán rải rác cho đám bạn đọc nghèo. Xuân Diệu chỉ đang có hai cách ấy để sống mãi với đời.
2005
Friday, March 19, 2010
"Bạo lực có mầm mống trong xã hội Việt"
ngày 19/03/2010 (VnMedia) -
Năm nay gần 70 tuổi, Vương Trí Nhàn đã làm phê bình lý luận văn học trong vài thập kỷ và sau này chuyển sang nghiên cứu văn hoá. Ông được biết đến là một trong những người đầu tiên chủ trương nghiên cứu về những thói hư, tật xấu của dân tộc Việt Nam và là người được chú ý nhất trong mảng công việc này.

Tôi muốn nhấn mạnh hai điều.

Thơ văn cho thấy chúng ta yêu thiên nhiên, sống chan hoà với cỏ cây, hoa lá. Nhưng trong đời sống tôi thấy tình yêu thiên nhiên này… chạy đi đâu cả. Văn học nói cái điều ta muốn, nhưng trong đời sống ta hiện ra hoàn toàn khác. Để tự nuôi sống, ta chưa biết tìm thêm cách để làm giàu thiên nhiên mà nhiều khi chỉ lo bóp nặn, bóc lột thiên nhiên.
Thử nhìn lại sự việc. Các em trị nhau ngay giữa phố một cách bạo lực. Bạn bè thản nhiên ngồi nhìn. Không thấy ai đứng ra can ngăn. Khi quay xong hình, các em khoái trá post lên mạng, nhiều người truyền cho nhau qua internet để cùng xem clip đó. Đó là một chuỗi sự vô cảm cho đến khi thành sự kiện hot thì xã hội mới bùng lên chất vấn. Ông có bình luận gì thêm về việc này?
Từ lâu phương Tây người ta đã nói đến sadism với nghĩa thói quen thích thú những trò tàn ác bao gồm cả quan sát người khác làm lẫn tự mình thực hiện. Những tưởng đó là chuyện đâu đâu, hóa ra xứ mình không phải không có.
(VnMedia) - Clip nữ sinh bạo lực khuấy động dư luận. Nhiều người sửng sốt vì tình trạng bạo lực học đường. Nhiều người khác giật mình chất vấn giáo dục, xã hội. Trong khi đó, nhà nghiên cứu văn hoá Vương Trí Nhàn cho rằng: Bạo lực có mầm mống trong xã hội Việt mà ta không tự thấy.
Loạt bài viết của ông về các thói xấu của người Việt được đăng tải thường kỳ trên báo Thể thao & Văn hóa cách đây vài năm đã trở thành một chuyên mục thu hút sự chú ý của nhiều độc giả và gây ra tranh luận nhiều chiều. Thậm chí, có nhiều người mong muốn có thể tập hợp thành sách “Người Việt xấu xí”, tương tự cuốn sách gây sốc Trung Hoa đại lục mang tên “Người Trung Quốc xấu xí” của tác giả Bá Dương.
Năm 2007, khi vụ scandal clip sex Vàng Anh - Việt Dart nổ ra, trong khi dư luận ầm ĩ xung quanh vụ việc này, trong khi nhiều người cũng sửng sốt và giật mình không khác gì với hiện tượng clip nữ sinh ẩu đả vừa qua… thì Vương Trí Nhàn nhìn vào sự kiện theo một cách tiếp cận rộng hơn ở góc độ dân tộc tính. Nhận định của ông “Dân tộc Việt là một khối tự phát khổng lồ” trong một bài trả lời phỏng vấn trên báo mạng ngay lập tức dấy lên một làn sóng tranh luận với nhiều ý kiến đa chiều: Có nhiều ý kiến cực lực ủng hộ và không ít tiếng nói phản đối gay gắt.
Ở hiện tượng xã hội gây xôn xao dư luận lần này, những nhìn nhận của ông cũng mang lại cái nhìn tương đối rộng mở và mới mẻ. Và, đương nhiên, cũng không ít ý kiến có thể sẽ gây tranh cãi… Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy đây là hướng suy nghĩ cần được tiếp tục bàn luận.
Dưới đây là trao đổi của VnMedia với ông trên tinh thần này.
Dưới đây là trao đổi của VnMedia với ông trên tinh thần này.
Sẽ còn những biểu hiện bạo lực mới
Tuần qua cả xã hội xôn xao với clip nữ sinh đánh hội đồng bạn trên phố. Nhìn nhận của ông xung quanh hiện tượng này?
Việc các em nữ đánh bạn dã man như trong clip là biểu hiện của một cách sống mà trong đó bạo lực trở nên cần thiết trong giao tiếp giữa người với người, mà người ta cho rằng, lời lẽ thông thường không còn đủ để tác động tới người khác.
Cảnh tượng trong clip này là sự tràn ra của một cái gì đó đã đến mức không bình thường… Nếu đọc báo những năm qua sẽ thấy nhiều hình thức bạo lực trong xã hội. Ngay trong môi trường giáo dục, không biết bao nhiêu vụ hoặc các cô trông trẻ bạo hành với trẻ con, hoặc các thầy cô giáo đánh phạt học trò hay các học trò đánh lại thầy cô giáo…
Những việc như thế này tôi cho rằng sẽ còn tiếp tục có những biểu hiện mới, với những cấp độ rồi sẽ còn cao hơn. Nếu chúng ta không tính chuyện chữa trị lâu dài, và trước tiên là tìm về tận gốc để lý giải một cách khái quát, rồi thì sẽ còn lĩnh đủ.
Có thể hiểu như thế này, sự xuất hiện của clip nữ sinh bạo lực kia trong xã hội tương tự như việc một người huyết áp thấp bị ngã ngất lần đầu. Họ hẳn là ngỡ ngàng nhưng cái sự ngất ấy nó không hề ngẫu nhiên. Và nếu chưa biết là mình bị huyết áp thấp, người ta sẽ không ý thức là mình có thể đối diện nguy hiểm hơn trong những lần ngất tiếp theo?
Tôi chia sẻ với lối ví này của bạn ở khía cạnh: Nhiều khi phải có những “cú điếng người”, ta mới hết nhởn nhơ coi thường và bắt đầu nhận ra những thứ tiềm ẩn trong mình. Cái nguy hiểm hôm qua đã đáng sợ, nhưng cái nguy hiểm tiếp theo mới thật đáng bàn.
Bây giờ thử bình tĩnh mà nhìn lại xem, hóa ra trong nhiều mặt đời sống người Việt, mầm mống bạo lực đã có mặt và ta đã chung sống với nó quá lâu - cái cách sống bạo lực ấy - mà ta không biết.
"Những việc như thế này sẽ còn tiếp tục có những biểu hiện mới, với những cấp độ rồi sẽ còn cao hơn" |
Tôi muốn nhấn mạnh hai điều.
Một là, sở dĩ có hiện tượng lớp trẻ sống với nhau theo kiểu bạo lực, vì người lớn cũng hành xử theo kiểu bạo lực. Xã hội đen. Giới giang hồ thanh toán nhau. Những vụ cướp giết hiếp, và cả những vụ nợ tình, trả thù… Có quá nhiều sự việc trong xã hội mà chúng ta chưa phản ánh hết, chưa có dịp phân tích soi rọi.
Hai là, trước khi có những biểu hiện cực đoan theo kiểu bột phát nói trên, nhiều hình thái tạm gọi là tiền bạo lực cũng đã nhan nhản trong đời sống hàng ngày. Muốn ép người ta phải nghe mình điều gì đấy nói một lần chưa đủ, nói đi nói lại hàng trăm lần, bắc loa vào nhà người ta lải nhải…
Ai đi cầu cúng đầu năm hẳn nhớ cảnh dân địa phương nhiều nơi vừa thấy người đi chùa thì áp sát, bắt người ta mua đồ cúng của mình, lèo nhèo nói đi nói lại, không mua thì chửi xéo chửi đổng, đốt vía đốt vang… Đấy là tiền bạo lực chứ còn gì nữa?
Lâu lắm rồi từ 1999, tôi đọc trên báo Nông thôn ngày nay thấy một hiện tượng kỳ cục ở một tỉnh nhỏ. Giữa công ty X và công ty Y có sự tranh chấp. Để trả thù, bên Y liên tiếp gửi tới bên X những chiếc quan tài và các vòng hoa tang, trong đó đề rõ tên tuổi kẻ thù của mình. Kiểu khủng bố độc đáo này thật tiêu biểu cho người mình, tức là ác vặt, nhưng mà cứ ác một cách dai dẳng đáng sợ.
Đạo diễn Xô viết Mikhail Rom từng có một bộ phim mang tên “Chủ nghĩa phát xít thông thường”. Ở ta giá có ai bắt chước mà làm một bộ phim “Chủ nghĩa bạo lực thông thường”, chắc cũng dễ có một tác phẩm có sức răn đe với xã hội.
Bạo lực có mầm mống trong xã hội Việt
Ở trên ông vừa nói nhiều mặt trong đời sống đã tiềm ẩn yếu tố bạo lực mà ta không ý thức.. Ông có thể nói rõ hơn một chút về cái ý này?
Gần đây tôi đã viết trong một bài báo, ngay cách đi đường của người Việt Nam hôm nay cũng có tính chất bạo lực. Chúng ta có xu hướng chen lấn, xô đẩy, chèn ép người khác để vượt lên... Không ở đâu tiếng còi bị lạm dụng như ở ta. Nó có tính hối thúc, đe nẹt, doạ dẫm… Nghe trong tiếng còi như toát lên một lời đe dọa: nếu không tránh cho tôi đi, anh sẽ biết mặt.
"Ngay cách đi đường của người Việt cũng có tính chất bạo lực" |
Thơ văn cho thấy chúng ta yêu thiên nhiên, sống chan hoà với cỏ cây, hoa lá. Nhưng trong đời sống tôi thấy tình yêu thiên nhiên này… chạy đi đâu cả. Văn học nói cái điều ta muốn, nhưng trong đời sống ta hiện ra hoàn toàn khác. Để tự nuôi sống, ta chưa biết tìm thêm cách để làm giàu thiên nhiên mà nhiều khi chỉ lo bóp nặn, bóc lột thiên nhiên.
Khách quan mà xét, đứng ngoài mà nhìn, phải nói đó là một cách ứng xử khá tệ bạc. Chặt cây, phá rừng, đốt rẫy… ta làm những việc đó vô tư chứ chả cần quan tâm gì đến thiên nhiên. Đến khi no đủ rồi thì lại bẻ hoa, ngắt cành vì thú vui của mình. Những dịp lễ tết cây cối xơ xác vì bị vặt cành làm lộc. Rồi các sự việc ở lễ hội hoa anh đào năm trước và lễ hội hoa đầu năm dương lịch vừa rồi. Chẳng nhẽ không nói đó là cách sống bạo lực?
Chúng ta cũng không phải là dân tộc yêu thương các giống vật. Các loài thú quý hiếm đang đứng trước nạn tận diệt. Ở nhiều nơi người ta sẵn sàng dùng điện, dùng chất nổ đánh cá... Rất nhiều người phương Tây ngạc nhiên vì chúng ta ăn thịt chó, là vật nuôi mà họ coi như bạn bè của con người.
Từ tháng 4 tới, Trung Quốc chính thức cấm ăn thịt chó mèo. Ở ta tôi không nghĩ được là bao giờ có thể có một lệnh cấm tương tự. Nhiều cuộc chọi trâu xong, dân sở tại mổ ngay con trâu vừa đoạt giải để bán cho dân tới xem. Chẳng có luật pháp nào kết tội người ta được, nhưng tôi cứ luấn quấn với ý nghĩ làm thế là một cách gieo mầm bạo lực mà ta không biết.
Sôi sục đấy, rồi lại quên đi rất nhanh
"Vô cảm rồi bùng lên chất vấn rồi lại quên đi rất nhanh" |
Từ lâu phương Tây người ta đã nói đến sadism với nghĩa thói quen thích thú những trò tàn ác bao gồm cả quan sát người khác làm lẫn tự mình thực hiện. Những tưởng đó là chuyện đâu đâu, hóa ra xứ mình không phải không có.
Ngoài ra tôi muốn ghi nhận một tình trạng nước đôi thế này: Không hẳn là vô cảm đâu, nhiều người chúng ta cũng đang xúc động lắm. Chỉ có cái dở là rồi chúng ta lại quên đi rất nhanh. Tôi nhớ những lần lòng mình sôi lên thầm hứa nhất định không bỏ qua chuyện nọ chuyện kia. Nhưng chỉ ít lâu sau là tôi quên hết.
Để vượt lên sự nông nổi, tôi chỉ muốn nhân dịp này chúng ta cùng suy nghĩ về gốc rễ của bạo lực trong đời sống. VnMedia ngày 19/03/2010
Saturday, March 13, 2010
HÀ NỘI – mất và được
Chùm bài Tết Canh Dần
Lúc này mà kể những chuyện buồn của Hà Nội chắc một số người...e ngại. Nhưng không chỉ riêng Nam Cao quan tâm tới Chuyện buồn giữa đêm vui ( đây là cái tên ông đặt cho một truyện ngắn). Mà đó là tâm trạng có ở nhiều người khi quay đầu đối diện với thời gian. Học theo cách nghĩ đó, tôi muốn nhắc lại một ít chuyện buồn đã đến với Thủ đô trong quá khứ để thêm vui với Hà Nội ngàn năm tuổi. Một tình yêu có nhiều trắc trở khó khăn, nhiều khi, lại mới là tình yêu sâu sắc.
Các nhà lịch sử Thủ đô thời nay thường chỉ ghi những ngày đẹp trời. Nhưng đọc một bộ sử giá trị bậc nhất của nước ta như Đại Việt sử ký toàn thư, – theo tôi tầm vóc của nó đáng được so sánh cỡ như Truyện Kiều --, chúng ta đã có thể biết tới nhiều thời điểm buồn của Thăng Long. Thuở quân Nguyên xâm lược, từ năm 1285 đến năm 1288, ba lần giặc chiếm thành, vua quan và dân chúng ba lần rút khỏi kinh đô rồi ba lần trở lại. Cuối thời Trần, quân Chiêm Thành từ phía nam đánh lên đốt phá. Suốt chiều dài lịch sử, có thể đọc ra mức độ mọi biến động trong triều đình qua sự bám trụ của bộ máy quyền lực trong lòng Hà Nội. Hồ Quý Ly khi chuẩn bị chiếm ngôi, lập ra hẳn Tây Kinh ( để đối lập với Đông Kinh tức Đông Đô ) và cho rời xa giá về đó. Sau này, khi Mạc Đăng Dung chiếm ngôi, Thanh Hóa lại là căn cứ tạm thời của các thế lực phù Lê, và chiến công trở lại Đông Đô được nhắc lại kèm với những cái tên như Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm để rồi mở đầu cho cả trăm năm nội chiến.
Buồn nhất là suốt cả thế kỷ XIX, nhà Nguyễn dời đô về Phú Xuân, biến Hà Nội thành nơi cố quận cũng là nơi mà những Ba Giai Tú Xuất mặc sức tung hoành.
Chỉ đến thế kỷ XX—theo những nguyên cớ nào mà tới nay chưa thấy ai có dịp lần lại -- chúng ta mới thấy Hà Nội như hôm nay chúng ta hay nghĩ. Hà Nội là nơi tụ họp tinh hoa bốn phương như người viết Chiếu dời đô năm 1010 ao ước. Hơn thế nữa, Hà Nội đảm nhận vai trò của một đầu mối, để trên con đường hiện đại hóa, người Việt tự làm mới mình theo những chuẩn mực thế giới.
Không phải chỉ là vai trò của trái tim đất nước như nhiều người vẫn nghĩ. Mà cùng với thời gian, từ ấy, Hà Nội còn vai trò của một bộ óc. Đằng sau cái được ngày hôm nay đã có không ít cái mất. Cái mất chốc lát và cái được lâu dài. Có vẻ như Hà Nội sở dĩ trở thành Hà Nội vì không gì có thể thay thế .
Một khía cạnh khác của chuyện Hà Nội được mất tôi muốn nói hôm nay liên quan tới quan niệm về người Hà Nội.
Bây giờ kể lại chắc nhiều bạn trẻ không tin, nhưng quả thật là trong ký ức của lớp dân Thủ đô kỳ cựu, có một giai đoạn nghĩ lại thấy hơi… buồn cười, cố nhiên là cười ra nước mắt. Đó là những năm 50-60 của thế kỷ trước. Từ những bài học trên ghế nhà trường và trong dư luận xã hội, điều mà lớp trẻ mới lớn lên những năm đó như chúng tôi tiếp nhận được là một cái gì hơi khó nói, phảng phất có ý phủ nhận. Hà Nội phải trở thành một thành phố của sản xuất. Trong khi đó, Hà Nội đã đóng quá lâu cái vai trò của một thành phố tiêu thụ, với bao nếp sống kẻ chợ hư hỏng. Thấp thoáng trong lòng mỗi người như là xấu hổ lại như là có lỗi. Chúng tôi không dám sống theo cái nếp thanh lịch mà các lớp người Hà Nội bao đời đã rèn rũa cho mình. Đóng vai trò chủ đạo của đời sống Hà Nội những năm ấy là lớp người mới nhập cư, những công dân Hà Nội thế hệ thứ nhất. Cùng với họ, một thứ khí hậu nông thôn bao trùm trong sinh hoạt ăn uống đi lại và trở thành một thứ chuẩn mực mà ngày hôm nay vẫn còn di lụy.
Tóm lại là thời ấy, khái niệm người Hà Nội nếu không bị phá vỡ thì cũng bị nhôm nhoam tầm thường hóa đi nhiều. Đấy là một cái mất rõ rệt, mặc dù nhiều khi người ta cũng không biết mất gì nữa: những mày nét khía cạnh của người Hà Nội lâu nay thực ra mới chỉ được cảm thấy chứ đâu đã được tổng kết .
Nhưng rồi cái được lại tới. Cùng với thời gian, chính lớp người mới nhập cư những năm ấy lại thấy nhớ tới Hà Nội hôm qua hơn cả. Quê quán tận đủ miền đất nước, song nay người ta bắt đầu thấy phải trả về cho Hà Nội cái tinh thần ngàn năm lịch sử tức cũng là cái Hà Nội được gạn lọc, Hà Nội của tinh hoa, trí thức, Hà Nội quý phái sang trọng, rút ra từ kinh nghiệm sống của bao lớp người nhập cư các thế kỷ trước. Một ý niệm mới về người Hà Nội lý tưởng bắt đầu hiện lên mờ ảo như một ước mơ, nhưng lại có thật như một tương lai sẽ đến.
Tôi thầm ước ao có lúc nào đó rồi người ta phải viết về những thăng trầm của Hà Nội như vậy -- thăng trầm như số phận của cái đẹp trong lịch sử. Giai đoạn những năm 50-60 của thế kỷ trước cũng là thời thịnh trị của nghệ thuật chèo ở Việt Nam. Hồi đó có một diễn viên rất chín trong nghề là bà cả Tam .Theo như sự phân tích của các nhà nghiên cứu chèo như Hà Văn Cầu, Trần Bảng thì trong diễn xuất của bà Cả có một cái gì lung linh huyền ảo. Có lần bà từng phát biểu một nguyên tắc làm nghề mà cũng là một nguyên tắc nhìn đời :” Trong cái được có cái mất, trong cái vui có cái buồn, trong cái vô vọng có cái hy vọng.” Nói theo chữ của triết học đó là một khái quát đầy chất biện chứng. Câu nói thường trở lại trong tâm trí tôi mỗi lần nghĩ về Hà Nội. Sự sang trọng của Thủ đô mà tôi nói ở trên đang được chiêu tuyết, gây dựng lại. Ít ra người ta cũng thấy nó là cần thiết, phải được mơ tới nghĩ tới.
Đã in báo Thời đại số tết Canh Dần-

Lúc này mà kể những chuyện buồn của Hà Nội chắc một số người...e ngại. Nhưng không chỉ riêng Nam Cao quan tâm tới Chuyện buồn giữa đêm vui ( đây là cái tên ông đặt cho một truyện ngắn). Mà đó là tâm trạng có ở nhiều người khi quay đầu đối diện với thời gian. Học theo cách nghĩ đó, tôi muốn nhắc lại một ít chuyện buồn đã đến với Thủ đô trong quá khứ để thêm vui với Hà Nội ngàn năm tuổi. Một tình yêu có nhiều trắc trở khó khăn, nhiều khi, lại mới là tình yêu sâu sắc.
Các nhà lịch sử Thủ đô thời nay thường chỉ ghi những ngày đẹp trời. Nhưng đọc một bộ sử giá trị bậc nhất của nước ta như Đại Việt sử ký toàn thư, – theo tôi tầm vóc của nó đáng được so sánh cỡ như Truyện Kiều --, chúng ta đã có thể biết tới nhiều thời điểm buồn của Thăng Long. Thuở quân Nguyên xâm lược, từ năm 1285 đến năm 1288, ba lần giặc chiếm thành, vua quan và dân chúng ba lần rút khỏi kinh đô rồi ba lần trở lại. Cuối thời Trần, quân Chiêm Thành từ phía nam đánh lên đốt phá. Suốt chiều dài lịch sử, có thể đọc ra mức độ mọi biến động trong triều đình qua sự bám trụ của bộ máy quyền lực trong lòng Hà Nội. Hồ Quý Ly khi chuẩn bị chiếm ngôi, lập ra hẳn Tây Kinh ( để đối lập với Đông Kinh tức Đông Đô ) và cho rời xa giá về đó. Sau này, khi Mạc Đăng Dung chiếm ngôi, Thanh Hóa lại là căn cứ tạm thời của các thế lực phù Lê, và chiến công trở lại Đông Đô được nhắc lại kèm với những cái tên như Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm để rồi mở đầu cho cả trăm năm nội chiến.
Buồn nhất là suốt cả thế kỷ XIX, nhà Nguyễn dời đô về Phú Xuân, biến Hà Nội thành nơi cố quận cũng là nơi mà những Ba Giai Tú Xuất mặc sức tung hoành.
Chỉ đến thế kỷ XX—theo những nguyên cớ nào mà tới nay chưa thấy ai có dịp lần lại -- chúng ta mới thấy Hà Nội như hôm nay chúng ta hay nghĩ. Hà Nội là nơi tụ họp tinh hoa bốn phương như người viết Chiếu dời đô năm 1010 ao ước. Hơn thế nữa, Hà Nội đảm nhận vai trò của một đầu mối, để trên con đường hiện đại hóa, người Việt tự làm mới mình theo những chuẩn mực thế giới.
Không phải chỉ là vai trò của trái tim đất nước như nhiều người vẫn nghĩ. Mà cùng với thời gian, từ ấy, Hà Nội còn vai trò của một bộ óc. Đằng sau cái được ngày hôm nay đã có không ít cái mất. Cái mất chốc lát và cái được lâu dài. Có vẻ như Hà Nội sở dĩ trở thành Hà Nội vì không gì có thể thay thế .
Một khía cạnh khác của chuyện Hà Nội được mất tôi muốn nói hôm nay liên quan tới quan niệm về người Hà Nội.
Bây giờ kể lại chắc nhiều bạn trẻ không tin, nhưng quả thật là trong ký ức của lớp dân Thủ đô kỳ cựu, có một giai đoạn nghĩ lại thấy hơi… buồn cười, cố nhiên là cười ra nước mắt. Đó là những năm 50-60 của thế kỷ trước. Từ những bài học trên ghế nhà trường và trong dư luận xã hội, điều mà lớp trẻ mới lớn lên những năm đó như chúng tôi tiếp nhận được là một cái gì hơi khó nói, phảng phất có ý phủ nhận. Hà Nội phải trở thành một thành phố của sản xuất. Trong khi đó, Hà Nội đã đóng quá lâu cái vai trò của một thành phố tiêu thụ, với bao nếp sống kẻ chợ hư hỏng. Thấp thoáng trong lòng mỗi người như là xấu hổ lại như là có lỗi. Chúng tôi không dám sống theo cái nếp thanh lịch mà các lớp người Hà Nội bao đời đã rèn rũa cho mình. Đóng vai trò chủ đạo của đời sống Hà Nội những năm ấy là lớp người mới nhập cư, những công dân Hà Nội thế hệ thứ nhất. Cùng với họ, một thứ khí hậu nông thôn bao trùm trong sinh hoạt ăn uống đi lại và trở thành một thứ chuẩn mực mà ngày hôm nay vẫn còn di lụy.
Tóm lại là thời ấy, khái niệm người Hà Nội nếu không bị phá vỡ thì cũng bị nhôm nhoam tầm thường hóa đi nhiều. Đấy là một cái mất rõ rệt, mặc dù nhiều khi người ta cũng không biết mất gì nữa: những mày nét khía cạnh của người Hà Nội lâu nay thực ra mới chỉ được cảm thấy chứ đâu đã được tổng kết .
Nhưng rồi cái được lại tới. Cùng với thời gian, chính lớp người mới nhập cư những năm ấy lại thấy nhớ tới Hà Nội hôm qua hơn cả. Quê quán tận đủ miền đất nước, song nay người ta bắt đầu thấy phải trả về cho Hà Nội cái tinh thần ngàn năm lịch sử tức cũng là cái Hà Nội được gạn lọc, Hà Nội của tinh hoa, trí thức, Hà Nội quý phái sang trọng, rút ra từ kinh nghiệm sống của bao lớp người nhập cư các thế kỷ trước. Một ý niệm mới về người Hà Nội lý tưởng bắt đầu hiện lên mờ ảo như một ước mơ, nhưng lại có thật như một tương lai sẽ đến.
Tôi thầm ước ao có lúc nào đó rồi người ta phải viết về những thăng trầm của Hà Nội như vậy -- thăng trầm như số phận của cái đẹp trong lịch sử. Giai đoạn những năm 50-60 của thế kỷ trước cũng là thời thịnh trị của nghệ thuật chèo ở Việt Nam. Hồi đó có một diễn viên rất chín trong nghề là bà cả Tam .Theo như sự phân tích của các nhà nghiên cứu chèo như Hà Văn Cầu, Trần Bảng thì trong diễn xuất của bà Cả có một cái gì lung linh huyền ảo. Có lần bà từng phát biểu một nguyên tắc làm nghề mà cũng là một nguyên tắc nhìn đời :” Trong cái được có cái mất, trong cái vui có cái buồn, trong cái vô vọng có cái hy vọng.” Nói theo chữ của triết học đó là một khái quát đầy chất biện chứng. Câu nói thường trở lại trong tâm trí tôi mỗi lần nghĩ về Hà Nội. Sự sang trọng của Thủ đô mà tôi nói ở trên đang được chiêu tuyết, gây dựng lại. Ít ra người ta cũng thấy nó là cần thiết, phải được mơ tới nghĩ tới.
Đã in báo Thời đại số tết Canh Dần-
Friday, March 12, 2010
Của thiêng
Trong truyện ngắn Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp (viết khoảng năm 1988), có một cảnh liên quan đến Tết
Trước đó, ngay từ đầu truyện, tác giả đã viết: “Cô Sinh về làm dâu nhà lão Kiền đã mấy năm nay. Khi về, cô mang theo bốn bộ quần áo mỏng, một áo dạ mặc rét, hai áo len, một vỏ chăn hoa, bốn cái xoong nhôm, một cái xoong bột, một cái phích hai lít rưỡi, một cái chậu tắm, một tá khăn bông, tóm lại là một đống tiền, nói như bà mẹ cô Sinh làm nghề buôn gạo ở chợ Xanh”.
Ở các đoạn sau, mỗi khi nói tới một nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp thường kèm theo một hai chữ, nói rõ mối quan hệ của người ấy với đồng tiền.
Cách kiếm tiền của con người trong truyện khá trầy trật, nhiều khi bằng con đường lừa lọc. Tình thế “không có vua” làm biến dạng mọi nhân cách!
Trong số những biến động ghê gớm mà chiến tranh và cách mạng mang lại nơi tâm lý mỗi người bình thường mấy chục năm qua, có một điểm này: Người ta nhiều lúc cảm thấy như chẳng cần gì. Chẳng cần của cải, chẳng cần tiện nghi. Sống thế nào cũng được.
Rồi những năm ấy qua đi, nay thì ngược lại. Từ chỗ xem thường đồng tiền, nay cả xã hội quay ra khao khát nó, sùng bái nó. Nhiều người tự nhủ miễn là có tiền, còn làm thế nào, bẩn thỉu hay sạch sẽ, không cần biết.
Ở những xã hội phát triển bình thường, người ta lấy lao động để đổi lấy tiền. Các giá trị ổn định. Và con người được chuyên môn hóa với nghĩa yên tâm làm giỏi cái nghề của mình, rồi sẽ thu nhập tương xứng.
Từ chiến tranh bước ra, từ xã hội nông thôn lên xã hội đô thị, con người Việt Nam hôm nay quan hệ với đồng tiền thật khuất khúc. Tại sao người này kiếm tiền dễ vậy, còn người khác lại quá khó khăn? Nghĩ mãi mà chẳng cắt nghĩa nổi.
Điều chắc chắn là có quá nhiều sự bất chính. Cùng là đồng tiền mà giá trị mỗi lúc một khác. Sự thiêng liêng của cuộc sống mà đồng tiền góp phần duy trì bị đánh mất.
Một nhà đầu tư nước ngoài nhận xét rằng không ít chuyên gia trẻ Việt nam hình như quá dễ dàng trong việc chuyển nghề, đâu được trả cao hơn là họ đổi sở ngay. Ý người ta muốn nói con đường kiếm tiền chân chính bị chối bỏ và quan niệm về việc làm người của một bộ phận giới trẻ đang có vấn đề.
Có điều, đó không phải là bệnh riêng của lớp trẻ. Gặp nhiều người bây giờ, không dễ xác định nghề họ đang làm. Nhiều khi dư luận đánh giá một người giỏi hay kém chỉ là trông vào số tài sản người đó có. Biết thế là sai nhưng ngày càng ít ai dám đi ngược lại cách nghĩ phổ biến nói trên.
Một ông bạn tôi vừa về quê ra Hà Nội, kể rằng các đám hiếu hỉ ở nông thôn hiện nay vung tiền rất thoải mái, có người vét túi cả vốc tiền 50.000 đồng ném xuống áo quan. Việc hơi lạ, nhưng cái xu hướng mà nó biểu thị thì có thật.
Có thể nghĩ lan man về việc này. Riêng tôi thấy sống lại cái cảm tưởng về sự thiêng liêng bị đánh mất.
Bỗng dưng nhớ tới nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Về già, con trai đã đi xa, băn khoăn lớn nhất của lão là làm sao bảo quản ít của cải sẵn có. Tài sản không nhiều nhặn gì, bao gồm một ít đất, một ít tiền và một con chó.
Nghĩ quanh nghĩ quẩn rồi lão đi đến một cách xử sự mà người đời ngày nay hẳn nghĩ rằng quá kỳ cục, là bán con chó, gom tiền lại gửi tất cả cho người khác giữ và chọn lấy sự ra đi tự nguyện. Từ Lão Hạc, chúng ta đã thấy nhiều mặt cuộc sống của người Việt đầu thế kỷ 20, trong đó có cách ứng xử của con người với tiền tài.
Sau một đời lầm lũi, người thời ấy cũng có một ít của cải nào đó. So với mong mỏi của mỗi cá nhân, số này là chưa đủ nhưng con người lúc ấy biết sống trong cam chịu, không oán trách ai. Họ tin họ đáng được như thế và đối xử với nó hết sức nghiêm túc.
Toàn bộ thiên truyện Lão Hạc xây dựng trên cái trục chính: Lão thà chết để giữ tiền cho con, vì lão tin rằng đồng tiền ấy có thể có ích cho con mình. Đồng tiền với lão vẫn là cái gì đó thiêng liêng, thiêng liêng hơn cả cuộc sống chính lão.
Cái niềm tin ấy với người đời hôm nay dường như quá xa lạ. Ta và lão Hạc, ai xứng là người hơn? Tôi tự hỏi mà chưa biết trả lời thế nào cho phải!
nld.com.vn - 15-02-2010
Trước đó, ngay từ đầu truyện, tác giả đã viết: “Cô Sinh về làm dâu nhà lão Kiền đã mấy năm nay. Khi về, cô mang theo bốn bộ quần áo mỏng, một áo dạ mặc rét, hai áo len, một vỏ chăn hoa, bốn cái xoong nhôm, một cái xoong bột, một cái phích hai lít rưỡi, một cái chậu tắm, một tá khăn bông, tóm lại là một đống tiền, nói như bà mẹ cô Sinh làm nghề buôn gạo ở chợ Xanh”.
Ở các đoạn sau, mỗi khi nói tới một nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp thường kèm theo một hai chữ, nói rõ mối quan hệ của người ấy với đồng tiền.
Cách kiếm tiền của con người trong truyện khá trầy trật, nhiều khi bằng con đường lừa lọc. Tình thế “không có vua” làm biến dạng mọi nhân cách!
Trong số những biến động ghê gớm mà chiến tranh và cách mạng mang lại nơi tâm lý mỗi người bình thường mấy chục năm qua, có một điểm này: Người ta nhiều lúc cảm thấy như chẳng cần gì. Chẳng cần của cải, chẳng cần tiện nghi. Sống thế nào cũng được.
Rồi những năm ấy qua đi, nay thì ngược lại. Từ chỗ xem thường đồng tiền, nay cả xã hội quay ra khao khát nó, sùng bái nó. Nhiều người tự nhủ miễn là có tiền, còn làm thế nào, bẩn thỉu hay sạch sẽ, không cần biết.
Ở những xã hội phát triển bình thường, người ta lấy lao động để đổi lấy tiền. Các giá trị ổn định. Và con người được chuyên môn hóa với nghĩa yên tâm làm giỏi cái nghề của mình, rồi sẽ thu nhập tương xứng.
Từ chiến tranh bước ra, từ xã hội nông thôn lên xã hội đô thị, con người Việt Nam hôm nay quan hệ với đồng tiền thật khuất khúc. Tại sao người này kiếm tiền dễ vậy, còn người khác lại quá khó khăn? Nghĩ mãi mà chẳng cắt nghĩa nổi.
Điều chắc chắn là có quá nhiều sự bất chính. Cùng là đồng tiền mà giá trị mỗi lúc một khác. Sự thiêng liêng của cuộc sống mà đồng tiền góp phần duy trì bị đánh mất.
Một nhà đầu tư nước ngoài nhận xét rằng không ít chuyên gia trẻ Việt nam hình như quá dễ dàng trong việc chuyển nghề, đâu được trả cao hơn là họ đổi sở ngay. Ý người ta muốn nói con đường kiếm tiền chân chính bị chối bỏ và quan niệm về việc làm người của một bộ phận giới trẻ đang có vấn đề.
Có điều, đó không phải là bệnh riêng của lớp trẻ. Gặp nhiều người bây giờ, không dễ xác định nghề họ đang làm. Nhiều khi dư luận đánh giá một người giỏi hay kém chỉ là trông vào số tài sản người đó có. Biết thế là sai nhưng ngày càng ít ai dám đi ngược lại cách nghĩ phổ biến nói trên.
Một ông bạn tôi vừa về quê ra Hà Nội, kể rằng các đám hiếu hỉ ở nông thôn hiện nay vung tiền rất thoải mái, có người vét túi cả vốc tiền 50.000 đồng ném xuống áo quan. Việc hơi lạ, nhưng cái xu hướng mà nó biểu thị thì có thật.
Có thể nghĩ lan man về việc này. Riêng tôi thấy sống lại cái cảm tưởng về sự thiêng liêng bị đánh mất.
Bỗng dưng nhớ tới nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Về già, con trai đã đi xa, băn khoăn lớn nhất của lão là làm sao bảo quản ít của cải sẵn có. Tài sản không nhiều nhặn gì, bao gồm một ít đất, một ít tiền và một con chó.
Nghĩ quanh nghĩ quẩn rồi lão đi đến một cách xử sự mà người đời ngày nay hẳn nghĩ rằng quá kỳ cục, là bán con chó, gom tiền lại gửi tất cả cho người khác giữ và chọn lấy sự ra đi tự nguyện. Từ Lão Hạc, chúng ta đã thấy nhiều mặt cuộc sống của người Việt đầu thế kỷ 20, trong đó có cách ứng xử của con người với tiền tài.
Sau một đời lầm lũi, người thời ấy cũng có một ít của cải nào đó. So với mong mỏi của mỗi cá nhân, số này là chưa đủ nhưng con người lúc ấy biết sống trong cam chịu, không oán trách ai. Họ tin họ đáng được như thế và đối xử với nó hết sức nghiêm túc.
Toàn bộ thiên truyện Lão Hạc xây dựng trên cái trục chính: Lão thà chết để giữ tiền cho con, vì lão tin rằng đồng tiền ấy có thể có ích cho con mình. Đồng tiền với lão vẫn là cái gì đó thiêng liêng, thiêng liêng hơn cả cuộc sống chính lão.
Cái niềm tin ấy với người đời hôm nay dường như quá xa lạ. Ta và lão Hạc, ai xứng là người hơn? Tôi tự hỏi mà chưa biết trả lời thế nào cho phải!
nld.com.vn - 15-02-2010
Friday, March 5, 2010
Thiên nhiên điêu đứng...
(TBKTSG) - So với những đoạn đường Trường Sơn thì con đường chúng tôi đi hôm ấy từ Phú Thọ qua Thanh Sơn về Trung Hà không phải là xấu, và đất bụi chưa lấy gì làm nhiều. Nhưng đoạn đường trong liên tưởng là thuộc thời chiến tranh, còn hôm nay chúng tôi đi trên con đường thời bình.
Bởi vậy tôi nghĩ mình có quyền sốt sáy không yên, và cả một chút xót xa, khi nhìn những cây nhỏ lúp xúp bên đường. Lá nào lá nấy phủ đầy bụi, bụi dày đặc; nhiều chỗ một vài giọt mưa xuân để lại những vết loang lổ chỉ tố thêm cho người ta biết rằng không phải một mà là nhiều lớp bụi đã chồng lên nhau, để xóa đi màu xanh và làm cho không một cây nào còn là cây nữa.
Đến cả cây cối thiên nhiên cũng vì người mà phải sống vạ vật thế này ư? - nhiều sự liên tưởng dồn dập kéo đến trong tâm trí tôi. Có lúc nghĩ đến những hàng cây bị biến thành chỗ treo hàng hóa nhiều vỉa hè Hà Nội. Lại có lúc nghĩ đến một mẩu tin trên báo về giống tê giác. Trong khi ở Malaysia, tê giác đẻ rất đều kỳ thì ở một vườn quốc gia Việt Nam, giống này tịt đẻ, chỉ vì người ta vừa làm một con đường băng qua khu rừng nó sống.
Nhưng thiên nhiên không phải chỉ khổ lây với người.
Tệ hại hơn, trong nhiều trường hợp khác, nó còn là đối tượng bị chúng ta hủy hoại.
Ở nhiều nước trên thế giới, người ta cấm đánh bắt cá nhỏ, ai trót câu được mà không thả chúng về nguồn sẽ bị phạt nặng. Còn ở ta, ngay giữa Hà Nội, ngoài sông Hồng, người ta dùng cả điện ắc quy để diệt cá.
Trong Nam Hoa kinh, một triết gia nhiều chất hư vô là Trang Tử từng nêu ra một nhận xét, những cây gỗ vô dụng có cái lợi, không ai thích đẵn nó, vì thế nó sống mãi, trong khi những cây hữu dụng lại sớm bị nhăm nhe khai thác.
Cây cối ở ta đang làm chứng cho nhận xét đó của Trang Tử. Mấy năm trước đã có chuyện mấy cây sưa trong công viên nhà nước bị chặt bán. Còn đây là chuyện ở Quảng Bình dịp Tết Canh Dần vừa qua: hàng loạt cây bên các ngân hàng và các tiệm vàng bị tàn phá. Vì người ta tin rằng cây ở đó có mang theo lộc. Thật đúng là “cháy thành vạ lây”. Bỗng dưng tàn đời không có lý do nào cả.
Động vật hoang dã cũng nếm đủ nỗi khổ đúng theo kiểu mà Trang Tử đã cảnh báo. Chỉ vì thịt chúng ngon, lạ, các bộ phận của chúng là những vị thuốc chữa bệnh, mà các loài vật tuyệt vời đó bị săn đuổi đến cạn kiệt.
Riêng loài gấu ở ta lại còn rơi vào cái bi kịch thê thảm là bị hành hình dần dà theo nhịp điệu của cái cưa cùn. Bị nuôi trong hoàn cảnh giả tạo, hơn nữa luôn luôn bị rút mật một cách tàn bạo, không biết bao nhiêu chú gấu lực lưỡng biến thành một giống lờ đờ chậm chạp, kéo lê cuộc đời sống dở chết dở. Còn sống đó mà chúng không còn là mình, đến nỗi khi có người đến giải thoát thì không thể trở về rừng tìm lại cuộc sống bình thường được nữa.
Giở trang tin các mạng dễ dàng tìm thấy tin những con hổ ở Hà Nội bị bức tử.
Một người nước ngoài nhiều lần đi dọc từ Nam ra Bắc bảo rằng các bạn có thấy không, nhiều ngọn núi đá của các bạn ven đường một mạn từ Ninh Bình đến Hà Nam đang vẹt đi mòn đi, một số đang biến mất.
Rồi đến cả sông nữa. Chẳng phải là nhiều con sông của chúng ta đang bị xúc phạm, kể từ làm bẩn đến gây ô nhiễm, và trước khi được tuyên bố như Thị Vải (tên một bài báo trên SGTT 5-12-2009 Thị Vải là dòng sông đã chết) thì chúng đang trở nên thân tàn ma dại?!
Vâng, trước khi được chính thức khai tử, tôi đoán hẳn Thị Vải đã trải qua tình trạng sống lê lết trong bệnh tật. Sông bốc mùi dơ. Sắc nước ngả màu. Tôm cá trong lòng nổi lềnh bềnh vì hóa chất độc hại. Tức là một tình trạng sống dở chết dở của loài gấu mà trên đây tôi vừa nói. Và đến ngày hôm nay con sông chết vẫn nằm đó. Liệu đến bao giờ người ta mới quên nổi? Chắc không bao giờ!
Rồi với các thế hệ sau, thời của chúng ta sẽ được ghi nhận như là thời của những con bạc triệu đô, vụ PMU18… Và thời có những con sông chết như sông Thị Vải!
Hiếm khi thấy báo chí ta đưa tin về cuộc sống của một ngọn núi, một con sông. Bởi vậy cái tin Thị Vải đã chết dẫu sao cũng là một đặc ân. Chỉ lạ một nỗi là cái tin đau đớn đó không gây nên chút dư ba nào cả. Người ta chỉ nhắc đến nó khi đặt vấn đề bồi thường. Ngoài ra, chả thấy ai viết về chính cái chết của sông lấy ít dòng cảm động.
Tôi nói điều này từ góc độ một người làm công tác văn học.
Trong văn chương ta, sông là sức sống, sông là vẻ đẹp. “Đẹp đẽ thay tiếng hát của dòng sông”. Mở đầu tùy bút Sông Đà, Nguyễn Tuân từng đưa lên làm đề từ câu thơ đó của W.Whitman. “Đầu xuân gió mát tựa hè - Nở bung hoa gạo bốn bề trăng xuân - Sông là người đẹp khỏa thân - Non xanh mơn mởn bước gần bước xa…”. Huy Cận đã viết như thế trong một bài thơ làm hồi miền Bắc một thời thịnh trị trước chiến tranh.
Lúc này đây, những người còn nhớ đến Thị Vải và những con sông đang chết đang cần đến những lời thiết tha tương tự của các thi sĩ. Liệu có ai đáp lại không?
thesaigontimes Thứ Năm,4/3/2010
Bởi vậy tôi nghĩ mình có quyền sốt sáy không yên, và cả một chút xót xa, khi nhìn những cây nhỏ lúp xúp bên đường. Lá nào lá nấy phủ đầy bụi, bụi dày đặc; nhiều chỗ một vài giọt mưa xuân để lại những vết loang lổ chỉ tố thêm cho người ta biết rằng không phải một mà là nhiều lớp bụi đã chồng lên nhau, để xóa đi màu xanh và làm cho không một cây nào còn là cây nữa.
Đến cả cây cối thiên nhiên cũng vì người mà phải sống vạ vật thế này ư? - nhiều sự liên tưởng dồn dập kéo đến trong tâm trí tôi. Có lúc nghĩ đến những hàng cây bị biến thành chỗ treo hàng hóa nhiều vỉa hè Hà Nội. Lại có lúc nghĩ đến một mẩu tin trên báo về giống tê giác. Trong khi ở Malaysia, tê giác đẻ rất đều kỳ thì ở một vườn quốc gia Việt Nam, giống này tịt đẻ, chỉ vì người ta vừa làm một con đường băng qua khu rừng nó sống.
Nhưng thiên nhiên không phải chỉ khổ lây với người.
Tệ hại hơn, trong nhiều trường hợp khác, nó còn là đối tượng bị chúng ta hủy hoại.
Ở nhiều nước trên thế giới, người ta cấm đánh bắt cá nhỏ, ai trót câu được mà không thả chúng về nguồn sẽ bị phạt nặng. Còn ở ta, ngay giữa Hà Nội, ngoài sông Hồng, người ta dùng cả điện ắc quy để diệt cá.
Trong Nam Hoa kinh, một triết gia nhiều chất hư vô là Trang Tử từng nêu ra một nhận xét, những cây gỗ vô dụng có cái lợi, không ai thích đẵn nó, vì thế nó sống mãi, trong khi những cây hữu dụng lại sớm bị nhăm nhe khai thác.
Cây cối ở ta đang làm chứng cho nhận xét đó của Trang Tử. Mấy năm trước đã có chuyện mấy cây sưa trong công viên nhà nước bị chặt bán. Còn đây là chuyện ở Quảng Bình dịp Tết Canh Dần vừa qua: hàng loạt cây bên các ngân hàng và các tiệm vàng bị tàn phá. Vì người ta tin rằng cây ở đó có mang theo lộc. Thật đúng là “cháy thành vạ lây”. Bỗng dưng tàn đời không có lý do nào cả.
Động vật hoang dã cũng nếm đủ nỗi khổ đúng theo kiểu mà Trang Tử đã cảnh báo. Chỉ vì thịt chúng ngon, lạ, các bộ phận của chúng là những vị thuốc chữa bệnh, mà các loài vật tuyệt vời đó bị săn đuổi đến cạn kiệt.
Riêng loài gấu ở ta lại còn rơi vào cái bi kịch thê thảm là bị hành hình dần dà theo nhịp điệu của cái cưa cùn. Bị nuôi trong hoàn cảnh giả tạo, hơn nữa luôn luôn bị rút mật một cách tàn bạo, không biết bao nhiêu chú gấu lực lưỡng biến thành một giống lờ đờ chậm chạp, kéo lê cuộc đời sống dở chết dở. Còn sống đó mà chúng không còn là mình, đến nỗi khi có người đến giải thoát thì không thể trở về rừng tìm lại cuộc sống bình thường được nữa.
Giở trang tin các mạng dễ dàng tìm thấy tin những con hổ ở Hà Nội bị bức tử.
Một người nước ngoài nhiều lần đi dọc từ Nam ra Bắc bảo rằng các bạn có thấy không, nhiều ngọn núi đá của các bạn ven đường một mạn từ Ninh Bình đến Hà Nam đang vẹt đi mòn đi, một số đang biến mất.
Rồi đến cả sông nữa. Chẳng phải là nhiều con sông của chúng ta đang bị xúc phạm, kể từ làm bẩn đến gây ô nhiễm, và trước khi được tuyên bố như Thị Vải (tên một bài báo trên SGTT 5-12-2009 Thị Vải là dòng sông đã chết) thì chúng đang trở nên thân tàn ma dại?!
Vâng, trước khi được chính thức khai tử, tôi đoán hẳn Thị Vải đã trải qua tình trạng sống lê lết trong bệnh tật. Sông bốc mùi dơ. Sắc nước ngả màu. Tôm cá trong lòng nổi lềnh bềnh vì hóa chất độc hại. Tức là một tình trạng sống dở chết dở của loài gấu mà trên đây tôi vừa nói. Và đến ngày hôm nay con sông chết vẫn nằm đó. Liệu đến bao giờ người ta mới quên nổi? Chắc không bao giờ!
Rồi với các thế hệ sau, thời của chúng ta sẽ được ghi nhận như là thời của những con bạc triệu đô, vụ PMU18… Và thời có những con sông chết như sông Thị Vải!
Hiếm khi thấy báo chí ta đưa tin về cuộc sống của một ngọn núi, một con sông. Bởi vậy cái tin Thị Vải đã chết dẫu sao cũng là một đặc ân. Chỉ lạ một nỗi là cái tin đau đớn đó không gây nên chút dư ba nào cả. Người ta chỉ nhắc đến nó khi đặt vấn đề bồi thường. Ngoài ra, chả thấy ai viết về chính cái chết của sông lấy ít dòng cảm động.
Tôi nói điều này từ góc độ một người làm công tác văn học.
Trong văn chương ta, sông là sức sống, sông là vẻ đẹp. “Đẹp đẽ thay tiếng hát của dòng sông”. Mở đầu tùy bút Sông Đà, Nguyễn Tuân từng đưa lên làm đề từ câu thơ đó của W.Whitman. “Đầu xuân gió mát tựa hè - Nở bung hoa gạo bốn bề trăng xuân - Sông là người đẹp khỏa thân - Non xanh mơn mởn bước gần bước xa…”. Huy Cận đã viết như thế trong một bài thơ làm hồi miền Bắc một thời thịnh trị trước chiến tranh.
Lúc này đây, những người còn nhớ đến Thị Vải và những con sông đang chết đang cần đến những lời thiết tha tương tự của các thi sĩ. Liệu có ai đáp lại không?
thesaigontimes Thứ Năm,4/3/2010
Thursday, March 4, 2010
Tự hiểu mình hơn qua lễ hội
Ai đọc cổ tích Tấm Cám hẳn nhớ chi tiết mẹ con Cám ghét Tấm, ghen tị với Tấm muốn hành hạ Tấm. Biết Tấm thích đi hội làng, mẹ Cám trộn thóc lẫn với gạo bắt Tấm chọn xong mới được đi. Chi tiết đã quá quen thuộc nhưng chỉ hôm nay tôi mới hiểu. Sức lôi cuốn của lễ hội thật dai dẳng. Có một ma lực nào đó cứ lôi cuốn tôi mặc dù lý trí đã bảo tôi rằng không nên đi tìm ảo ảnh. Mỗi năm mỗi có thêm những lễ hội tổ chức kém, luộm thuộm cẩu thả, nó là tình trạng chung của các hoạt động công cộng hiện nay. Và quan trọng hơn, trong một hoạt động được xem là thiêng liêng như thế, ở cả người tham dự lẫn người tổ chức laị thấy bộc lộ --khi len lỏi kín đáo, khi trắng trợn công khai -- cả một quan niệm quá ư trần tục nếu không muốn nói rằng tầm thường xa lạ với văn hóa. Vào cái “ Tháng giêng là tháng ăn chơi này”, đây là câu chuyện đầu miệng giữa mọi người và đã được báo chí khai thác dưới nhiều góc độ … cười ra nước mắt. Vấn đề tôi muốn đề nghị mọi người cùng suy nghĩ hôm nay là tại sao lễ hội lại diễn biến theo kiểu đó, tại sao dần dà chúng ta đã làm hỏng lễ hội đi trong khi vẫn bị cuốn theo nó và có vẻ như không thể thoát khỏi nó.
Trong một công trình nghiên cứu được sự bảo trợ của Viện Harvard Yenching mang tên Sự biến đổi của tôn giáo và tín ngưỡng ở VN hiện nay (in 2006), ngay trong phần dẫn luận, người ta đã đọc được một nhận xét đại ý nói trong xã hội hiện đại, sự hồi sinh của tôn giáo kể cả hình thức sơ khai như các lễ hội các cuộc hành hương cầu cúng… chính là một cách phản ứng của con người trước những thay đổi lớn lao mà nền kinh tế thị trường mang lại.
“ Có cung nên mới có cầu”. Như một phóng viên PLTP đã nêu trong bài phỏng vấn, chính những người đang đảm nhiệm thứ dịch vụ niềm tin --tức là các ban tổ chức-- đã biện bạch cho công việc của mình như vậy.
Nhu cầu nói ở đây trước tiên là trên phương diện tinh thần. Vào những ngày xuân trong mỗi con người chúng ta thức dậy cả một định hướng tâm linh. Muốn tìm tới phần sâu kín trong chính mình và chung quanh. Muốn hiểu. Muốn tự cắt nghĩa.
Trở về cội nguồn …Cố kết với cộng đồng thông qua các biểu hiện thờ cúng… Cân bằng đời sống tâm linh… Vừa sáng tạo vừa hưởng thụ văn hóa… Những luận điểm ca tụng lễ hội đã được các nhà nghiên cứu văn hóa ở ta nêu khá đầy đủ và nhiều người chia sẻ. Nhưng đó mới chỉ là một phần sự thực.
Nguyễn Văn Huyên từng viết trong Văn minh Việt Nam( 1944) “ Người Việt chỉ có những niềm tin mơ hồ”.” Đời sống tôn giáo của con người ở đây không lấy gì làm sâu sắc cho lắm “. “ Ở người Việt có sự lười biếng về trí óc, có xu hướng chấp nhận hết thẩy và bắt chước hết thảy”. Ngày nay chúng ta vẫn chưa tiến được xa bao nhiêu so với con người mà Nguyễn Văn Huyên miêu tả. Gần như trong lòng mọi người đi hội, một mục đích kép đã được đặt ra-- đồng thời với việc hành hương văn hóa, ta đặt vào đấy khá nặng những nguyện vọng cá nhân như là cầu may và cầu lợi. Tâm lý cầu may vốn là bạn đường của những con người bối rối. Thế giới luôn luôn hàm chứa những bất trắc.
Cuộc sống còn nhiều bóng tối, người ta đánh mất cả niềm tự tin, thường xuyên họ cảm thấy họ chỉ là vật hy sinh của số phận. Cuộc truy đuổi vận may không biết có hứa hẹn kết quả gì không, nhưng có làm vẫn hơn. Những lực lượng siêu nhiên và cả những ngẫu nhiên bất chợt thành chỗ bấu víu cho những ảo tưởng. Bởi sự bất trắc cũng đang bao trùm trong việc làm ăn, nên khía cạnh cầu may cũng đã có mặt trong việc cầu tài cầu lợi. Thực tế là bao người tử tế vì không biết trơ tráo liều lĩnh làm càn vẫn thất bát, ngược lại làm bậy vẫn được, giỏi mưu mô xảo quyệt tự khắc giàu lên đùng đùng. Trong những lúc lắng lại đối diện với mình, những kẻ thành đạt bằng con đường gian dối không khỏi hoảng sợ. Cùng một lúc nẩy sinh hai tâm trạng. Một mặt lo bị trừng phạt, phải đi tìm thần thánh để hối lộ. Mặt khác tiếp tục phiêu lưu vào con đường tội lỗi, mong rằng cái vận may hôm qua nay lại gặp lại. Cầu cúng chính là một dịp nuôi dưỡng những tham vọng ngầu đục muốn tìm vào chỗ tăm tối của lễ hội để được nuôi dưỡng và an tâm sống tiếp. Tâm lý cầu lợi đang chi phối cả những người làm lễ hội đón khách cầu cúng. Bởi họ cũng chỉ như chúng ta. Ban đầu họ cũng say người vì những mục đich cao cả. Nhưng rồi cuộc sống hàng ngày chi phối, họ cũng sa đà vào cảnh buôn thần bán thánh, nhân danh sự thiêng liêng của lễ hội để làm chuyện lừa lọc.
Phan Kế Bính viết trong Việt nam phong tục” Xét cái tục hội hè của ta rước xách rất phiền phí, ăn uống rất lôi thôi, chơi bời rất chán chê, thực là hại của mà lại mua lấy cái khó nhọc vào mình”. Ông cũng nói thêm hội hè là dịp người ta chơi bời, cờ bạc, thanh niên bỏ cả công việc ở nhà đi hội, vậy thì “chẳng những vô ích mà lại hại cho làng xóm”. Để thoát ra khỏi tình trạng mà Phan Kế Bính cảnh báo, cần có sự nỗ lực của cả xã hội. Cần nghiên cứu những biến động mới trong tâm lý xã hội. Cần tìm ra những cách tổ chức mới cho nhu cầu vừa là giải trí vừa là hướng thượng cho con người. Mọi thứ mệnh lệnh không đủ, đến cả luật pháp nếu có chắc cũng bó tay. Cái mà chúng ta đang thiếu là văn hóa, không phải thứ văn hóa nặng về khoe mẽ và chiều nịnh nhau, mà là thứ văn hóa của trí tuệ.
Có điều là trong khi chờ đợi những chuyển mình của cả xã hội thì mỗi chúng ta vẫn như cô Tấm ngày nào, ngóng về lễ hội với nỗi bồn chồn không yên. Như tôi đã nói từ đầu, mặc dầu biết lễ hội đang bị biến tướng, nhưng tại sao mỗi người chúng ta vẫn vô cùng quyến luyến và nếu chưa được thả mình trong nó thì vẫn phải nghĩ về nó. Tại sao ? Là bởi chúng ta vốn yếu lòng. Ta sợ xa cách với mọi người. Bước vào cuộc sống hiện đại nhiều người vẫn lúng túng như gà mắc tóc mà không sao tìm được định hướng tâm linh đúng đắn. Một sự hốt hoảng trước tương lai đang bộc lộ mà không có cách gì che dấu.
Đã in ( có rút gọn)trên PLTP 2-3-2010 dưới đầu đề Đi hội để cầu may và cầu lợi
Monday, March 1, 2010
Phải nghĩ về thủ đô
Ta yêu Hà Nội, đừng chỉ yêu bằng lời nói và xúc cảm trái tim. Đằng sau hai chữ tình yêu, tôi muốn nói tới nhu cầu của chúng ta phải nghĩ về thủ đô, quan tâm tới thủ đô, thấy nó quan hệ tới cuộc đời của mình.Trong lời bạt viết cho cuốn Sống mãi với thủ đô (tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng) in năm 1961, nhà văn Nguyễn Tuân từng đưa ra một nhận xét chung:
“Hình như hầu hết danh nhân, anh hùng cổ kim nước ta đều là những con người Hà Nội. Các vị ấy có thể quê quán gốc tích ở “ngũ tỉnh đàng trong, tứ tỉnh đàng ngoài!” nhưng cái đoạn trội nhất của các bậc ấy vẫn là diễn ra trên mảnh đất thủ đô”.
Nguyễn Tuân không nêu cụ thể nhưng tìm vào lịch sử, người ta có thể kể ra hàng loạt tên tuổi làm bằng chứng cho nhận xét của ông. Trong phạm vi văn học, đó là bản danh sách kéo dài từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ, Hồ Xuân Hương... qua Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Hoàng Ngọc Phách, Nhất Linh, Thế Lữ rồi Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Xuân Diệu, Huy Cận... Họ đã trưởng thành cùng với trung tâm văn hóa của cả nước. Tưởng như không có dịp tới thủ đô, mỗi người không thể trở thành chính mình.
Đây là những bằng chứng đánh dấu chất hội tụ, cái đặc điểm không chỉ riêng cho Thăng Long mà là dấu hiệu của thủ đô bất cứ nước nào. Khả năng hội tụ làm cho “mảnh đất trong sông” đơn sơ này trở thành thiêng liêng.
Có điều lạ mà ít người để ý: Chỗ mạnh này của Thăng Long thật ra đã được người viết Chiếu dời đô nhìn thấu. “Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương”. Theo truyền thuyết, đây là những dòng do tự tay người sáng lập vương triều Lý viết. Dường như Lý Thái Tổ muốn nhấn mạnh sức sống của thủ đô là ở mối quan hệ với những gì ngoài nó, chung quanh nó, những gì là cả đất nước.
Nhiều thế hệ sau đã sống bằng cái ý tưởng đó.
Nhưng không phải cái gì người ta biết là có thể làm ngay! Trong một xã hội luân chuyển giữa chiến tranh và trì trệ, nhu cầu đô thị hóa không cao, các đô thị ở Việt Nam lúc đầu chỉ là trung tâm quân sự, sau đó là nơi để cho người các vùng phụ cận đến buôn bán. Sở dĩ Thăng Long có lúc được gọi là kẻ chợ là vì như vậy.
Các gia đình quan lại cũng như các gia đình buôn bán ở Thăng Long xưa thường vẫn sống theo kiểu hai mang, một chân ở nông thôn, một chân trên phường phố.
Sự hội tụ trong những năm chinh chiến chủ yếu là hội tụ theo nghĩa tinh thần. Người ta nghĩ về thủ đô như nơi kết tinh hồn thiêng đất nước, nó mang lại cho con em xứ này tinh thần nồng nhiệt “xả thân vì nghĩa lớn”.
Những giai đoạn ổn định lại đòi hỏi một cách nghĩ khác. Sàng lọc tinh hoa là nhu cầu đặt ra với cả nước. Và sự thực là Hà Nội đã lớn lên theo hướng đó. Thủ đô như tự hiểu mình sinh ra để làm cho được việc đó. Nói như Nguyễn Tuân:
“Cũng là một điều đúng vậy, khi mọi người bảo rằng thủ đô là cái nơi kết tinh mọi phong vị nhân tài của một dân tộc đời này qua đời khác. Cho nên những con người thủ đô bao giờ cũng bén nhạy sắc cạnh hơn những người khác với tất cả những ưu điểm và nhược điểm của nó, với tất cả cái trí, cái dũng, cái tài, cái tật của nó”.
Cũng ý ấy, một thi sĩ thời chống Mỹ như Bằng Việt đã viết hai câu thơ cô đọng:
Mỗi hạt cát hạt vàng lịch sử
Hà Nội kiên tâm gạn lọc công bằng
Vào những ngày, những suy nghĩ ấy lại đến với anh với tôi với tất cả chúng ta.
Như một thói quen tự nhiên, với thủ đô người ta thường chỉ nói tới tình yêu. Hà Nội mà chúng ta yêu, một cách nói như thế sẵn sàng được mọi người chia sẻ.
Nhưng hôm nay chỉ như thế là không đủ. Đằng sau hai chữ tình yêu, tôi muốn nói tới nhu cầu của chúng ta phải nghĩ về thủ đô, quan tâm tới thủ đô, thấy nó quan hệ tới cuộc đời của mình. Nghĩ về thủ đô là nhu cầu mà cũng là quyền lợi của mỗi công dân của một đất nước đã trưởng thành.
Cái suy nghĩ thấm đậm tình yêu này không chỉ đau đáu trong lòng những người dân Hà Nội nhiều đời hoặc tối thiểu là từ đầu thế kỷ XX. Trong đời sống hằng ngày, tôi còn bắt gặp nó nơi tâm trí bộ phận cư dân mới “nhập tịch”, dù đó là những gia đình bắt đầu cắm rễ ở thủ đô từ sau kháng chiến chống Pháp, hay những người mới lớn đến đây làm ăn từ sau chiến tranh, khi mở ra nền kinh tế thị trường.
Mà sao lại chỉ nói tới cái tình yêu đậm chất suy nghĩ của những người coi thủ đô là nơi cư trú? Còn những người Hà Nội đang đi làm ăn lập nghiệp nơi khác và còn bao la những công dân của mọi miền đất nước?
Cái ám ảnh lớn nhất của người dân một nước sau chiến tranh là trở lại với đời sống bình thường. Theo sự kiếm sống thường nhật kéo đi, chúng ta đâu đã nghĩ được nhiều. Chất nông dân bao đời bồi đắp trong mỗi người xui ta chỉ nghĩ về vùng quê nơi có mồ mả cha ông, cũng tức là nơi chôn rau cắt rốn.
Nhưng một đất nước phát triển không phải chỉ là phép cộng của nhiều vùng quê “anh nào lo anh ấy”. Một đất nước cần có cái đầu tập trung những thông minh sáng láng nhìn thấu tương lai. Nay là lúc tư tưởng hội tụ cái hay, cái đẹp bốn phương mà Chiếu dời đô phát biểu càng trở nên có ý nghĩa. Với tất cả chúng ta, đó là một yêu cầu mà với thủ đô, đó là một thách thức.
Cái nhu cầu tự nâng mình lên, gạn lọc lấy tinh hoa, kéo cả cộng đồng phát triển, cái nhu cầu ấy không phải chỉ riêng của người Hà Nội mà đang trở nên sâu nặng trong mỗi người dân nước Việt. Khi ta đòi hỏi có một thủ đô hội tụ tinh hoa cũng là lúc ta đang khơi nguồn cho những gì tốt đẹp tiềm ẩn trong mỗi chúng ta ngày một nẩy nở để đóng góp cho đất nước.
phapluatonline
Subscribe to:
Comments (Atom)