Friday, March 29, 2013

Một bài học cho nghề văn

    Đến Vườn quốc gia Côn Đảo, tôi gặp một bản hướng dẫn, mà ngay từ câu đầu Những điều thú vị ở trong rừng không chỉ dừng ở những điều bạn thấy/ Hãy dành một chút thời gian đọc các biển chỉ dẫn khi đi trên tuyến đường đã khiến người ta không bỏ qua.



    Tại sao tôi nói vậy?

    Thông thường đọc các bản nội quy hướng dẫn loại này, sau các câu khoe khoang về tầm quan trọng của cơ quan chủ quản, chỉ thấy những lệnh cấm thế nọ thế kia.

     Đằng này bản hướng dẫn như đang nói chuyện với tôi khuyên tôi là đã đến đây làm sao có được những thu hoạch đáng giá.

     Mà ở đoạn dưới, người ta đưa ra những lời khuyên thú vị thật.

    Đoạn viết về dây leo cũng như đoạn về những chú kiến chẳng hạn. Tôi cảm thấy được một bài học về tinh thần nhân bản. Hãy chú ý cả tới những thân phận cỏ nội hoa hèn. Nhưng không phải là từ cao nhìn xuống thương hại họ. Mà hãy nói đóng góp của những thân phận bèo bọt ấy cho cuộc đời.

     Đoạn viết về tiếng chim trong rừng như là những vần thơ.

     Cũng như thế là câu cuối cùng, không lấy gì ngoài những tấm hình, không để lại gì ngoài những dấu chân.

Tôi "dán" lại ra đây cả bản hướng dẫn mà tôi coi là một bài học cho nghề văn. Chúng tôi phải viết sao để bạn đọc không thể xì một tiếng rồi bỏ đi. Viết sao để bạn đọc cảm thấy được tôn trọng đồng thời lại có thể mang tới những điều cần yếu cho họ.

    Những đoạn gạch dưới nhấn mạnh đều là của VTN



1/ Những điều thú vị ở trong rừng không chỉ dừng ở những điều bạn thấy/

Hãy dành một chút thời gian đọc các biển chỉ dẫn khi đi trên tuyến đường





2/ Tổ mối

Nếu không có những con mối này thì rừng sẽ ra sao?

Mối chính là nhà máy phân hủy rác trong rừng. Những nhà máy này không

để lại bất cứ thứ rác gì của rừng. Nếu một cây rừng đổ xuống, những

con mối này sẽ tiến hành phân hủy cây làm thức ăn. Bằng cách đó chúng

giúp vệ sinh rừng và hoàn trả lại đất chất dinh dưỡng từ cây chết. Nhờ

đó mà đất rừng luôn mầu mỡ cho các thế hệ cây non mới mọc



3/ Tiếng chim

Hãy dành một chút thời gian để lắng nghe tiếng chim rừng quanh bạn.

Có bao nhiêu tiếng chim đang gọi nhau?

Tùy từng thời điểm trong ngày mà bạn có thể nghe được tiếng hót của

những loài chim khác nhau. Thời gian tốt nhất để nghe những âm thanh

này là ngay sau khi bình minh hoặc chiều muộn. Tiếng hót của các loài

chim là để thông báo về lãnh thổ của chúng hoặc gọi bạn kết đôi. Hãy

thử bắt chước tiếng của một loài chim và lắng nghe chúng đáp lại !



4/ Dây leo

Đây là những loài thực vật thông minh trong rừng. Để có được ánh

sáng mặt trời tổng hợp chất hữu cơ, chúng sử dụng những cây khác làm

bàn đạp vươn lên cao mà không tốn một chút công sức nào. Chúng cuốn

quanh các thân cây khác và dễ dàng tìm lên tận đỉnh cao của khu rừng

bắng con đường nhanh nhất.



5/Những con kiến

Hãy nhìn xung quanh dưới chân bạn có thể bắt gặp những con kiến.

Chúng đang làm gì thế?

Đây là những công nhân chăm chỉ nhất trong rừng, chúng luôn bận rộn

tìm thức ăn, bảo vệ, chăm sóc đàn con và phục vụ kiến chúa. Kiến giúp

vận chuyển chất hữu cơ và dinh dưỡng trong đất, diệt côn trùng. Ngoài

ra chúng còn tham gia vào việc phát tán hạt, thụ phấn hoa và là thức

ăn của nhiều loài động vật khác



Tổng quan

Cây là bạn của chúng ta, không nên bẻ cành, hái hoa, vặt lá, khắc

lên cây hoặc có những hành động làm tổn thương đến cây.

Các loài động vất hoang dã rất muốn làm quen, gần gũi với bạn, vì vậy

không gây tiếng động làm chúng hoảng sợ

Không săn bắn động vật rừng, không gây cháy rừng làm mất nơi sống của

các loài động vật hoang dã

Rác thải không nên bỏ bừa bãi trong rừng

Không nên mạo hiểm đi vào rừng hoặc tắm biển một mình vì bạn có thể

gặp nguy hiểm

Không nên lấy vật gì từ thiên nhiên vì có thể làm ảnh hưởng tới môi trường

Không lấy gì ngoài những tấm hình, không để lại gì ngoài những dấu chân



    Tôi đoán văn bản trên đây không phải do cơ quan quản lý Vườn quốc gia, mà là do tổ chức quốc tế nào đó — chắc là người Pháp –soạn thảo, họ tài trợ và họ viết luôn, ta dịch ra, thế thôi. Phía VN chỉ có điều đáng ghi nhận là đã để cho họ viết, chứ không nhân danh quyền làm chủ trên phương diện tinh thần để đòi viết theo cách của mình.

   Cả cuộc sống cộng đồng hơn nửa thế kỷ qua  là nhằm đấu tranh cho quyền làm chủ xứ sở . Nhưng nay nghĩ lại, chắc những đầu óc tỉnh táo sẽ không dám nói là chúng ta đã biết làm chủ. Đến viết một thứ cáo thị  hướng dẫn người ta khi vào rừng cũng không xong, hỏi nói chi những việc khai thác tài nguyên, tổ chức sản xuất thỏa mãn mọi nhu cầu của xã hội hiện đại và chăm lo giáo dục các thế hệ tương lai!

Tuesday, March 26, 2013

Hư hỏng lặn sâu vào trong cách nghĩ

    Khi tôi hỏi nhà văn Tô Hoài “ so với con người thời xưa thì con người thời nay có xấu hơn ?”, ông không ngần ngại trả lời “chẳng những xấu hơn mà người nay lại hay có lắm lý lẽ biện hộ cho sự hư hỏng của mình”.

    Tôi đã tìm cách nối dài gợi ý của Tô Hoài bằng bài viết sau, chủ yếu nhấn mạnh trách nhiệm của chính xã hội trong việc này. 

     Thời nay đã trang bị cho con người đủ thứ lý sự khiến họ  trượt dài trong sự hư hỏng, mà vẫn yên tâm không biết hối hận là gì,do đó bệnh trạng lại càng vô phương cứu chữa.





Người làm sao ta làm vậy

Người làm bậy ta làm theo



Tôi muốn nhắc lại câu tục ngữ mới ấy để lưu ý rằng sự tiêu diệt tinh thần tự chủ cá nhân và cách sống bầy đàn mà xã hội tạo ra cũng đã là môi trường rất tốt để cái mầm mống triết lý hư hỏng nói trên phát triển, và lan ra như một nạn dịch.



Từ câu chuyện nhỏ về mấy thứ

rau quả có thể gây ngộ độc...

Trong số những gánh hàng rong bán quanh Hà Nội thì hàng rau vốn có từ lâu dời nhất. Từ sau 1954 lại thêm những chiếc xe đạp đằng sau thồ hai sọt bự chở rau quả cũng len lỏi khắp mọi phố sá, tự chúng đã thành một nét riêng của Hà Nội, làm chứng cho sự có mặt của những người nông dân ở một thành phố có nhiều dây mơ rễ má với nông thôn.

Bước vào thời bung ra làm ăn, tự nhiên có chuyện một số hàng rau quả bị phun thuốc sâu quá mức cho phép, ăn vào có thể ngộ độc, nhiều người đâm ngại. Chẳng biết mua cái ăn ở đâu khác, và ham rẻ, người ta vẫn mua, nhưng mang về phải ngâm nước hoặc gọt vỏ mới dám ăn.

Giá kể chuyện xảy ra ở các nước có nền kinh tế phát triển, người ta sẽ có cách đối phó là kiểm tra hàng rồi mới cho mang bán. Nhưng ở ta, cái chuyện khoa học rắc rối ấy, ai mà dám nghĩ tới.

Cũng chưa ai xác định rằng đây có phải là một thứ tội trạng không và nếu bắt được quả tang người bán thứ hàng độc hại ấy thì sẽ xử ra sao. Rút cục mọi người chỉ đành nhắm mắt cho qua.

Nguời gọi là có trình độ lý luận hơn thì nhấn mạnh:

- Căn bản là phải đẩy mạnh công tác giáo dục ý thức tự giác cho nhân dân để bảo vệ sức khoẻ chung!

Kể ra cách đặt vấn đề như vậy, cũng đã bắt đầu lần ra đầu mối của mọi hiện tượng gọi là tiêu cực. Tuy nhiên, ở đây tôi muốn đi xa hơn một chút.



...tới những cách lý sự mang màu sắc dân gian

Để sang một bên cái chuyện người dân khi phun thuốc sâu quá độ cho phép vào rau quả không biết là nó có thể gây ra độc hại.




Cách biện hộ như vậy quá xa thực tế. Xưa nay, nông thôn ta vẫn có lối thông tin khá tuỳ tiện mà cũng khá hiệu nghiệm, đó là những lời đồn đại.

Nữa là bây giờ, báo đài (radio) sẵn hơn, ti-vi nhiều hơn, hẳn là nhiều người cũng đã biết rõ hậu quả việc họ đã làm.

Thế nhưng tại sao họ cứ tiếp tục?

Có thể dự đoán là nếu nghe có lời bàn ra tán vào, người ta sẽ chỉ tặc lưỡi:

- Ôi giời! Đau bụng một lúc rồi khỏi. Với lại dân thành phố bây giờ tiền nhiều, lại sẵn thuốc Pháp, thuốc Mỹ, đau mấy rồi họ cũng khỏi.

Tạm gọi đấy là một ý nghĩ giản đơn, nông nổi. Song theo tôi tính, sở dĩ những giản đơn nông nổi ấy nảy sinh, vì ở tận bề sâu, cái ý nghĩ người ta để bụng phải là:

- Mình thì khổ quá, đã vất vả quá. Còn những người ấy thì sung sướng như giời như bể!

Và để đi tới chỗ tự cho phép mình làm liều mà không cần áy náy, có cái điều người ta không nói ra, nhưng chắc chắn đã nghĩ:

- Người khổ có quyền làm bất cứ việc gì miễn là thoát ra khỏi cảnh khổ.

Khi hành động, suy cho cùng, con người ta ít hay nhiều, gián tiếp hay trực tiếp, đều đã bộc lộ một triết lý về hành động.

Và không vì triết lý đó còn mang đậm tư duy dân gian, còn ở dạng tự phát (và chắc chắn là không thành hệ thống), mà chúng ta không thử gọi rõ nó ra như thế.



Liên hệ việc người nông dân bán cả thứ rau quả có thể gây ngộ độc với vô vàn việc gọi là tiêu cực trước mắt (học sinh quay cóp bài; người qua đường liều lĩnh vượt xe ở những quãng đang có đèn đỏ; kẻ buôn lậu tàng trữ thứ thuốc tiêm chích vốn một lãi trăm lãi ngàn; các nhân viên nhà nước lợi dụng chức quyền để tham nhũng v.v..), tôi tưởng có thể nói nhiều người đang gặp nhau ở ý nghĩ: thời buổi này, chẳng còn gì để phân biệt là lợi với hại, là việc bị pháp luật nghiêm cấm với việc được phép; cũng chẳng nên nói rằng việc này hợp, còn việc kia trái đạo lý.



Trong việc mưu cầu lợi ích cá nhân - ở một số người, nó được xem như sự định hướng duy nhất, như động cơ chi phối mọi hành động - con người ta chỉ còn một “triết lý” đơn giản: “Chỉ có những việc chưa làm được, chứ không có việc không được làm “. Một “triết lý” tuỳ tiện về nguyên tắc, có thể mở đường cho mọi tội lỗi, cố nhiên.



Căn nguyên văn hóa

Theo cách hiểu thông thường mà đa số chúng ta chia sẻ, văn hoá chẳng qua chỉ là những gì thuộc về sinh hoạt tinh thần chủ yếu là các loại văn chương, phim ảnh, các loại hình sân khấu hội họa… các phương tiện tuyên truyền cờ đèn kèn trống cùng các hoạt động vui chơi giải trí.



Nhưng văn hoá theo nghĩa sâu sắc của nó thì bao trùm mọi lĩnh vực sinh hoạt trong đó có những lĩnh vực cao xa hơn nhiều. Nó liên quan đến cách sống cách tồn tại của cả cộng đồng, nó là những ý tưởng toát ra từ cả những chuyện cụ thể như ăn mặc, sinh hoạt, hội hè... cho đến những chuyện trừu tượng như quan niệm về nhân sinh và vũ trụ; cách hiểu về mối quan hệ giữa thế giới đang sống và thế giới bên kia, về thời gian,về lịch sử v.v...



Theo nghĩa ấy mà xét, một triết lý sống ở dạng tự phát, đại loại “chỉ có những việc chưa làm được, chứ không có những việc không được làm” cho thấy một cách hiểu về quyền hành động của mỗi con người, và mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, do đó, nó cũng thuộc về những tầng văn hoá được hình thành và di truyền một cách vô thức (ở đây là văn hoá chung sống).



Bền vững và ổn định trong thời gian, nó nằm sâu trong tâm linh để chi phối mọi hành động của cá nhân.



Nói cách khác, những biểu hiện tản mạn rời rạc hàng ngày sẽ không thể biến đổi tận gốc chừng nào người ta chưa nhận chân ra những căn nguyên văn hoá đứng đằng sau và có đối sách thích hợp.



Liệu có rơi vào suy diễn quá xa, khi thử nêu nhận xét như trên? Tôi hiểu, khi phân tích những rắc rối trong làm ăn buôn bán hay thực thi pháp luật trên phạm vi toàn xã hội, người ta thường không dành cho các nhân tố lịch sử - văn hoá một vai trò nào đó.

 Khi bàn về công cuộc phát triển, nhiều người tin chắc như đinh đóng cột rằng “So với nước người, ta có thể còn non kém về kinh tế chứ nhất định không có chuyện người dân ta chưa trưởng thành về văn hoá “, lại càng không ai muốn tin rằng trong những năm gần đây, cái nền móng văn hoá ở mỗi người bình thường lại đang bị xói mòn và biến dạng.



Tóm lại văn hoá không được nhìn nhận như một cái gì đứng sau tất cả, lại càng không mấy ai quan niệm rằng ở đó có thể tích tụ cả những độc tố, thường xuyên gây tác hại.



Trong khi ấy, những diễn biến của đời sống trước mắt có lẽ đang yêu cầu một cách nghĩ khác.



Nếu không tìm cho ra những căn nguyên văn hoá đứng sau những hiện tượng tiêu cực đang là những ung nhọt nhức nhối trên cơ thể cả xã hội, thì cuộc đấu tranh ở đây sẽ chẳng khác là bao so với chuyện chặt đầu tên giặc Phạm Nhan ngày xưa: cứ đầu này bị chặt, đầu khác lại mọc.



Đã in Nhân nào quả ấy 2004 dưới nhan đề

Đáng sợ nhất là những cách nghĩ tưởng như rất có lý

Tuesday, March 19, 2013

Khổ quá nên sinh đổ đốn




     Theo Từ điển tiếng Việt, tha hóa có hai nghĩa
1/ con người đánh mất dần phẩm chất đạo đức, trở nên xấu xa tồi tệ 2/ con người
 biến chất và trở nên xấu hẳn đi, trở
thành một cái gì khác đối nghịch lại với chính mình. 


         Nghĩa thứ nhất là phổ biến
và cũng là nghĩa chúng tôi dùng trong bài này.


      Nguyên nhân dễ thấy nhất của sự tha hóa (=xấu
xa hư hỏng ) ở xã hội VN hôm nay trong
phần lớn trường hợp chỉ là vì con người đã khổ quá , không biết làm sao tồn tại
nếu không làm bậy.


        Tuy nhiên
đây cũng là điều quan sát thấy trong lịch sử. 




      Nguyễn Trãi
 từng thay Lê Lợi  viết trong Tờ
tấu cầu phong
, nhắc lại tội ác của quan lại  nhà Minh để giải thích về hành động khởi
nghĩa:


     Quan
lại thương dân chúng thì tuyệt không có ai 
mà xem dân như cừu thù  thì đều
như thế cả. Càng ngày càng tệ, dân sống không yên như đắm nước sâu như thui lửa
nóng. Khốn nỗi trời thì cao mà triểu đình thì xa, tình dưới không kêu thấu được.
Song đói rét thiết thân thì không còn đoái gì lế nghĩa, bèn đem nhau để giết
quan lại, đó là thế bất đắc dĩ trong nhất thời 
để mong bớt chút khổ cực ở trong
nước lửa mà thôi
. ( Trích  theo Nguyễn
Trãi toàn tập
, nxb Khoa học xã hội H. 1976, tr, 146)


       Công
thức tóm lại của Nguyễn Trãi ở đây là: khổ quá thì không thể có lễ nghĩa, kỷ cương, văn hóa.


      Đây cũng là ý nghĩ của nhiều người chúng ta
hôm nay, và tôi đã thử diễn tả quá trình đó trong một trường hợp cụ thể dưới
đây.





KIẾM SỐNG VỚI BẤT CỨ  GIÁ NÀO ! 


         Thời tiết oi ả, đang nóng bỗng lạnh đang lạnh
bỗng nóng, nhiều nhà đêm trước vừa  mở điều
hoà,đêm sau đã phải lôi chăn mùa rét ra đắp, khí trời năm nay ở đồng bằng sông
Hồng độc quá ! Chẳng những con người nhoai ra mà đến cả các giống vật cũng khó
sống : ở vùng ngoại ô tôi đang ở, sáng
sáng trên mặt  hồ vô khối cá chết nổi lềnh
bềnh. Có cá chết là có người đi vớt, bởi thứ cá này đun lên còn cho lợn cho chó
ăn được.


     Mấy 
người dạy sớm lại chuẩn bị sẵn vợt, cá vớt được dễ đến cả rổ. Đến lượt một
ông già nọ, lộc giời chẳng còn bao nhiêu, đi lui đi tới ngắm nghía mãi mới thấy
một hai con sót lại. Cá thì nằm khá xa mà trong tay ông không có lấy một cái
que cái sào nào cả. Nhưng ông không chịu ! Thoạt đầu thấy ông nhặt  gạch hòn to hòn nhỏ vun thành đống lùm lùm
tôi chưa hiểu để làm gì. Bỗng nghe tũm tũm gạch ném xuống nước, thì ra ông lấy
gạch để lái cho cá trôi dần vào bờ. Liên tiếp, có đến vài chục viên gạch được sử
dụng. Khi mùi cá chết nồng nặc xông lên thì cũng là lúc tôi nghe cái túi ni -
lông trong tay ông gìa sột soạt. Có thế chứ ! Thoát làm sao được khỏi tay ta, hỡi
những chú cá không biết mới chết đêm qua hay từ hôm kia mà thân hình đã mủn cả
ra trên mặt nước!


    Tôi đứng nhìn ông già lấy gạch dồn cá mà
nghĩ đến cách kiếm sống của con người  hiện
nay. Nào ông có khác với nhiều thanh niên trai trẻ háo hức vào đời, nhất là những
thanh niên nông thôn đang đổ lên đô thị: Tay
trắng lập nghiệp. Nghề ngỗng chẳng có. Đồ nghề không tức là công cụ không.
Có miếng ngon miếng sốt thì lớp người đi
trước dành hết cả rồi. Thành thử có gì là lạ khi họ chỉ còn cách lăn xả vào bất
cứ việc gì người ta thuê mướn dù là  mồ
hôi đổ ra nhiều mà đồng bạc thu về  chẳng khác mấy con cá trôi nổi trên mặt hồ.


    Thế nhưng cái đáng sợ nhất vẫn là cái  “triết lý” toát lên từ cái việc kiếm sống đơn
giản  này. 


      Nhìn đống gạch  được ném xuống nước, tôi cứ định nói với ông
già rằng như thế tức là trực tiếp phá huỷ môi trường. 


     Ai cũng thích thì làm, hôm nay mươi viên mai vài chục viên ném xuống hồ, hỏi còn gì là cái mặt nước thân yêu ?

     Chẳng phải là chỉ mấy năm nay nước hồ đã đen dần vì nước cống, lòng hồ đã bồi
cao lên vì các loại phế thải xây dựng và rác rưởi ? 


       Nhưng tôi không mở miệng nổi. 

     Từ cái việc mà ông già thản nhiên và hào
hứng theo đuổi, tự nó đã  toát ra một lời tuyê
n bố: để kiếm sống, con
người ta có quyền làm bất cứ việc gì họ có thể làm, bất kể là có hại cho người
chung quanh hoặc tàn phá môi trường sống
chung quanh đến như thế nào.


    Lại nhớ nhà văn Nga Tchékhov (1860 – 1904)
từng có một đoản thiên kể chuyện một người
mugich hồn nhiên tháo đinh bù loong trên đường sắt về rèn mấy cái đinh
thúc ngựa. Sắt ê hề ra đấy mà làm gì, tháo một vài cái có sao, không  tàu hoả thì đi bộ đã chết ai ? --ông ta lý sự. 


     Còn ở ta  những
năm chiến tranh có những người coi kho phá cả một cỗ máy để lấy mấy cái vít. 


    Xét về mặt lý lẽ mà người trong cuộc đưa
ra để biện hộ, giữa cái hành động của người mugich Nga thế kỷ XIX với việc người Việt thế kỷ XXI đã và đang làm


     rải đinh trên đường cao tốc, 

     bán đủ các loại rau quả vừa phun thuốc trừ sâu, 

    đá bóng vào lưới nhà để thực hiện
hợp đồng bán độ, 


    rồi chặt phá rừng vô tội
vạ, rồi mua bán bằng cấp và chức sắc, rồi kê đơn cho bệnh nhân toàn những thuốc
đắt tiền để ăn hoa hồng, 


     rồi đưa ma tuý vào trường học rủ rê con nhà lành vào
con đường nghiện ngập cốt bán được ít hàng quốc cấm... 


      các hành động ấy bắt nguồn từ những ý nghĩ có khác nhau là bao?

     Ở đâu thì cũng cùng một lý lẽ ấy, lý lẽ của ông già ném gạch dồn cá, vốn đã bắt rễ trong tiềm thức nhiều người chúng ta hôm nay. 

      Khi độ nguy hiểm của nó ta
còn
 chưa cảm thấy rõ ràng thì làm sao đủ
sức để chống lại?
 





Đã in Nhân nào quả ấy 2004



















Sunday, March 17, 2013

Về tình trạng tha hóa ở con người hôm nay




 




       Hồi ký Đời viết văn của tôi của Nguyễn Công Hoan có đoạn viết:


      Trong các mục của  An Nam
tạp chí
mới chấn chỉnh,  có một mục đặt
tên là Việt Nam nhị thập thế kỷ xã hội ba
đào ký
. Thấy cái tên khá dài dài, tôi hỏi, ông Tản Đà nói rằng  mục này đăng 
những bài viết về những cảnh xuống của con người ( sdd , bản  in lần đầu của nxb Văn học 1971, tr 138 ).




      Trong
chữ cảnh xuống, Tản Đà  và  Nguyễn Công Hoan
đã nói về
sự tha hóa của con người VN hiện đại.


     Từ sau 1945, hai chữ cảnh xuống ấy xa lạ
với chúng ta. Xã hội quay cuồng trong niềm tin rằng mình chỉ có đi lên  mình sẽ trở thành những con người mới, khác
hẳn con người cũ.


     Nhưng đến ngày hôm nay, có một cảm giác mơ hồ hình thành trong một số
người. Là hình như người Việt đang trở nên xấu xí hơn bao giờ hết?


     Bọn  tôi vốn được đào tạo để sống theo cách nghĩ cách nói của Tố Hữu ( Người yêu người sống để yêu nhau ). Khi
bắt gặp ở mình những ý nghĩ như thế, -- những ý nghĩ mà Tố Hữu và bộ máy của ông sẽ gọi là sa đọa -- chúng tôi e sợ mà tự cãi
lại với mình, sao lại có thể như thế được.


      Nhưng rồi dần dần cái cảm giác ấy cứ
lớn dậy trong lòng, gạt bỏ không nổi.


     Nói người Việt xấu xí là chỉ
nói về một tình hình có thực và đã ổn định trong lịch sử.


     Nói con người đương đại đang tha hóa suy thoái,
tức là nói tới một quá trình, người ta
đang hỏng đi, bị làm hỏng  và tự làm hỏng mình luôn
thể.


     Nếu muốn có một công trình nghiên cứu đầy
đủ, một nhà xã hội học phải bắt tay khảo sát nhiều việc, từ định nghĩa về suy
thoái tha hóa đến những mô tả những biểu hiện của tình trạng đi xuống đó với
tất cả sự kỳ cục của nó. Phải tìm hiểu nguyên do của các biến đổi ấy, đặt nó
trong sự chi phối của hoàn cảnh. Và nhất là phải nói tới việc chống cự tuyệt
vọng của con người với nghĩa người ta không ai muốn hỏng đi xấu đi, nhưng trong
xã hội hiện đại, khả năng chống cự của người tức khả năng đề kháng và  miễn dịch của chúng ta đã bị
loại trừ.


   
  Nhưng việc đó cần có sự góp sức của nhiều
người. Trong phạm vi sức lực hạn hẹp của mình, thời gian qua tôi có viết được
một số phiếm luận dưới đây xin kính trình bạn đọc trong một loạt kỳ liên tiếp. 







  



 Bảy bước tới tha hóa






     Hồi nhỏ, cũng như một số bạn bè cùng tuổi,
tôi là đứa trẻ đãng trí, hay đánh mất những thứ lặt vặt: khi cái khăn mùi xoa,
cái mũ, khi quyển truyện hoặc cái bút chì. Thông thường bố mẹ ở nhà cho qua
không mắng mỏ gì đáng kể.


      Nhưng đâu một hai lần,
tôi nhớ không những bị đánh cho mấy roi cứ gọi là quắn đít, mà còn bị hỏi căn
hỏi vặn:


Mẹ đã nhắc con giữ cẩn
thân cơ mà.

Chạy nhảy thế nào mà đánh mất, kể lại xem nào.

Thử nhớ lại xem, con đánh rơi ở đâu? Con đã để ý đi tìm chưa?....


Đến bây giờ tôi cũng
không nhớ lần ấy đánh mất cái gì, chỉ đoán chắc là mấy thử đắt tiền lắm, chứ
không phải ba cái đồ vớ vẩn như mọi khi. Người ta chỉ phải suy nghĩ về sự mất
mát khi cái bị đánh mất được coi là quan trọng.


Liên hệ tới chuyện ngày nay:


Niềm thiết tha với cái
tốt cái đẹp vốn nằm trong tâm trí chúng ta từ thuở thiếu thời, khi đang còn cắp
sách đến trường.


Mấy chục năm nay, Nhà nước cách mạng cũng luôn luôn kêu gọi mỗi
thành viên của xã hội gắng trau dồi đạo đức. Câu nói của thầy Mạnh "Phú
quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất
” thường được
nhắc nhở vì trong một hình thức cũ, ló lại diễn tả tốt nhất nội dung chủ yếu
của đạo đức mới - sự vững vàng của nhân cách. Nhưng liệu có thể nói mỗi người
chúng ta đã làm được điều chúng ta mong mỏi?





Giả sử bây giờ, ra giữa
buổi họp, tôi bảo ông nọ bà kia là thoái hoá biến chất, mọi người sẽ cho tôi là
có hiềm khích gì đó với họ, nên mới ăn nói sỗ sàng như vậy. Nếu tôi lại mạnh mồm khái quát rằng nay là
lúc không ít người trong chúng ta đang hư hỏng đi, thì người ta sẽ
bảo tôi là liều lĩnh vô căn cứ, là không có cái nhìn toàn cục, không thấy
"mặt tốt là chủ yếu”
.


Nhưng nhiều lúc ngồi một
mình tỉnh táo, đối diện với lương tâm, hẳn nhiều người chúng ta phải công nhận
quanh mình số người hiền lành
thánh thiện ngày một ít, số khôn ranh kiếm chác ngày một nhiều thêm
.
Và tự ta nữa, nghiêm khắc mà nói, ta cũng đang sống không phải như ta mong
muốn. Ở đây không nói tới những tội lỗi đã thành danh mục quản lý của pháp
luật, mà chỉ nói tới những thói xấu nho nhỏ những thói xấu vẫn bị coi là không
đáng kể, và dễ bị bỏ qua: Xoay xỏa vụ lợi. Làm dở báo cáo hay qua loa vô
trách nhiệm. Khéo léo tô vẽ mình trước cấp trên.
Hùa theo đám đông, nói
cho đám đông vừa lòng, chứ không dám nói sự thật.. Có phải là không ít thì
nhiều, hàng ngày chúng ta đã để cho những thói xấu đó lộng hành?
So với con
người lý tưởng mà ta muốn noi theo, khi bước vào đời, thì thật ra ta đang xa
dần, thậm chí có những phẩm chất tốt mà ta có từ lúc còn trẻ và cứ tưởng giữ
được mãi, bây giờ đã bị đánh mất.


Nay không còn là lúc sợ
ai lục vấn mình như cậu bé năm xưa nữa. Nhưng có lẽ, với tư cách người có học,
sống nhiều bằng ý thức, cũng nên quan sát chính mình xem xem một quá trình tâm
lý như thế nào đã xảy ra, khi ta tự đánh mất một phần tốt đẹp ở con người mình
như vậy.





Dưới đây là một vài nhận
xét tôi rút ra từ kinh nghiệm bản thân và qua quan sát những người gần gũi
chung quanh:


1. Sự kiếm sống hàng ngày là một khái niệm lâu nay chúng ta hay lẩn tránh và nó chỉ tồn tại
như một giá trị ẩn, không được mang ra tính toán công khai. Nhưng phải nhận nó
vẫn là nhu cầu có thực, hàng ngày gây sức ép với mọi người. Có nhiều việc ta
biết là trái đạo lý song vẫn phải làm, chẳng qua chỉ là nhằm kiếm thêm ít tiền
bạc, để cùng với đồng lương còm cõi, duy trì sự sống của bản thân và gia đình.


2. Các thói xấu lấn lướt ta mỗi ngày một ít. Thời gian đầu ta thường vừa làm vừa tự nhủ: chỉ
chấp nhận đầu hàng lần này nữa thôi, sau sẽ không bao giờ tái diễn! Nhưng càng
về sau, sự dằn vặt càng thưa thớt đi. Đời sống hàng ngày mang lại bao nhiêu
căng thẳng mệt mỏi, khiến cho mỗi người chỉ có cách trượt theo thói quen và tránh
nhất là gây thêm cho mình những phiền phức.


3. Có một điều ta thường
viện ra để an ủi, ấy là khi thử đưa mắt quan sát thấy không phải chỉ có riêng
mình làm bậy, mà chung quanh, cả
những người có uy danh hơn, có trách nhiệm hơn, cũng đâu có giữ được lý tưởng

- "Hơi đâu gái goá lo việc triều đình" - đấy là lý lẽ của
những cái đinh ốc bé nhỏ.


4. Khái quát hơn, quả thật có nhiều việc thấy trái với lương tâm
ta vẫn cứ làm, vì xem ra chung quanh mình, mọi người đều hành động như vậy. Tức là trông cậy vào tính phổ biến của sự hư hỏng.


Mà cảm giác hùa theo đám đông ( ngày nay gọi là sống theo
tập thể)  ăn vào ta rất nặng. Ta sợ trở thành đơn độc lại càng sợ mang tiếng là
chơi trội, dám khác mọi người(!).


5. Người ta ai mà chẳng
vừa sống vừa trông trước trông sau xem cách sống của mình được đánh giá ra sao,
và được đền đáp ra sao. Đến lúc thấy bao nhiêu cố gắng của mình cũng vô ích,
những người tốt như mình thường thua thiệt, còn những kẻ xấu cứ được đủ thứ và
lại leo cao mãi lên thì đành ngán
ngầm buông xuôi
(Sau khi phát hiện điều này, một số sẽ dãy
dựa cốt vớt lại ít quyền lợi mà họ cho rằng họ đáng được hưởng. Từ ấy trở đi,
họ dám sống rất làn bạo).


6. Chắc chắn trong ta
không bao giờ chết hẳn con người lý tưởng, con người tha thiết với sự nghiệp
chung. Giả sử được xã hội dang tay dìu đỡ thì sau những lầm lỡ ban đầu, cũng dễ
tu tỉnh trở lại. Nhưng mọi chuyện quá ì ạch. Có vẻ như điều mà xã hội mong
đợi hơn cả ở các thành viên chỉ là những câu khẩu hiệu
chung chung.
Cái phần suy thoái trong ta chớp ngay
lấy cơ hội thuận lợi đó.
 


Nảy sinh tình trạng phân thân, sống
một đằng, nói một nẻo và bởi lẽ, trước mặt bàn dân thiên hạ, giữa thanh thiên
bạch nhật, ta vẫn luôn mồm nói điều tốt, nên càng yên tâm xoay xỏa kiếm chác
trong bóng tối.


7. Đến lúc nào đó, ta chợt nhận ra "rằng quen mất nết đi rồi",
có lẽ sẽ không bao giờ hoàn lương được
. Sự lo sợ có tới (lo sợ chứ không phải hối hận) và để hóa giải,
ta xoay sang cầu cúng,

xin xỏ, hối lộ thánh thần. Mê tín chính là mắt xích cuối cùng của sự tự làm
hỏng, nhờ cô mê tín, các khâu hoạt động khác có thể diễn ra một cách êm đẹp.
Đại khái giống như một thứ bảo hiểm!





Khi một đứa trẻ đánh mất
của quý gì đó, người ta phải căn vặn hỏi han xem quá trình đánh mất diễn ra như
thế nào bởi nghĩ rằng qua đó, giúp cho nó biết tự giữ gìn của cải và từ nay trở
đi không đánh mất nữa.


Quá trình tha hoá, quá
trình tự đánh mất mình ở chúng ta có chỗ khác. Ai cũng chỉ sống một lần trên
đời, cái gì mất đi thì vĩnh viễn không lấy lại được nữa.


Vậy cần gì phải mang bản thân ra mà tra
khảo cho thêm rách việc?


Có thể có một số người
đã nghĩ thế và họ có lý của họ. Nhưng trong bài báo này, tôi muốn để nghị một
cách nghĩ khác: ít ra chúng ta cũng nên sòng phẳng với nhau. Sự đánh giá chính
xác về bản thân nên được xem như một phần di sản của một lớp người đang sống để
lại cho các lớp kế tiếp, và nếu như nhờ thế một phần, mà những người sau ta
sống không giống ta, tức là ta đã trở nên hữu ích.





Đã in Nhân nào quả ấy 2004



















Thursday, March 14, 2013

Nghĩ mình công ít tội nhiều




     Chiến tranh cần đến sự có mặt của
người văn nghệ sĩ ngay ở chiến trường. Bởi vậy từ hồi ấy, giới văn nghệ chúng
tôi có thói quen tôn vinh những người làm nghề dám có mặt ngay bên cạnh người
lính để viết. Bất kể tác phẩm của họ chất lượng ra sao, riêng sự ra đời của
chúng đã được xem như những chiến công. Và chúng tôi dành cho cả người lẫn tác phẩm
loại đó đủ thứ ưu ái, kể cả những danh hiệu cùng những phần thưởng sang trọng. 






         Trong chiến tranh làm vậy là đúng. Nhưng trượt dài theo thói quen, chúng tôi kéo nó sang cả thời bình. Các sáng tác được bình giá nhiều khi không phải do chất lượng mà do người viết ra tác phẩm có vị trí ra sao trong giới. Từ đó tạo ra một sự hỗn loạn về giá trị. Cũng từ đó muốn hay không muốn trong tâm lý nhiều người làm nghề nảy sinh một xu hướng dễ dãi, không chịu khổ công lao động nghệ thuật mà chỉ cốt lo tao cho mình những uy tín hão. Có trường hợp cố bám vào những công trạng hôm qua để  hạch sách và đòi hỏi. Bề nào mà xét cũng phải nhận lúc này, đóng góp hôm qua đã trở thành vật cản níu kéo người ta lại.





       Khoảng 2007,  xảy ra vụ án dân gian gọi là quan chức “ăn đất” ở Đồ Sơn. Trong bản án sơ thẩm có một chi tiết gây bất bình: ông X. giám đốc Sở tài nguyên và môi trường thành phố ( một trong những người chủ mưu vụ này) được cấp ủy và ủy ban đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm. Lý do được gói gọn trong mấy chữ,  đại ý nói ông vốn là người có công trong hoạt động ở địa phương từ trước tới nay.
       Đã bao nhiêu lần tôi thấy cách tòa án các cấp giảm nhẹ tội cho những viên chức có lỗi theo lý do tương tự. Xét vì họ lớn lên trong một gia đình có truyền thống … Hoặc Xét vì vốn có nhiều đóng góp … rồi án nặng trở thành nhẹ -- tiêu phí của nhà nước và mang về cho vợ con có cả tiền  tỷ, lúc bị phanh phui, cũng dễ dàng được tha bổng.
     Về tình mà xét thì trong những trường hợp này không ai cãi được. Uống nước nhớ nguồn là đạo lý dân tộc.


     Nhưng có phải có ít công hôm qua rồi hôm nay muốn làm gì thì làm ?


    Đã rõ là trong trường hợp này, người ta đem công lao làm quân tẩy để vô hiệu hóa luật pháp, cố tình không đếm xỉa đến sự đổi thay trong hoàn cảnh, và lấy hiện tại làm vật hy sinh cho quá khứ.


     Người ta quên rằng trong ca dao cũng đã có những câu nhấn mạnh chữ lý, đặt chữ tình sau luật pháp:


-- Yêu em anh để trong lòng 


 Việc quan anh cứ phép công anh làm
    Cái khó ở đây bắt nguồn từ một lối ứng xử phổ biến của xã hội sau chiến tranh. Anh có công ư ? Trước mắt đất nước còn nghèo chưa tính hết đóng góp cho anh được. Thôi chỉ còn có ít chức vụ đi kèm với những quyền hành. Ở đấy anh có thể có đóng góp thêm, rồi “khéo làm thì no khéo co thì ấm “, anh liệu mà tìm cách tự bồi dưỡng(!).
     Nhưng như thế là gì nếu không phải là đẩy người có công hôm qua vào chỗ lộng quyền và cho người ta lý do để tự biện hộ cho mình, khi sa vào vũng bùn tội lỗi.
     Ca dao xưa:


 -  Ăn mày là ai ăn mày là ta


Đói cơm rách áo mới hóa ra ăn mày .


Hồi chống Mỹ, người ta cải biên:


-- Anh hùng là ai, anh hùng là ta


Căm hờn xâm lược tạo ra anh hùng


    Lúc này đây, tôi muốn sử dụng thêm cả bút pháp của Bút Tre để nhại thành:
   --  Tham nhùng ( nhũng ) là ai, tham nhùng là ta
   Cậy công cậy thế hóa ra tham nhùng


    Truyện Kiều  từng làm đau lòng bao người bởi cái kết cục thê thảm của Từ Hải. Trong cơn nhớ quê, Kiều khuyên Từ Hải ra hàng. Rồi Hồ Tôn Hiến phản bội và Từ chết giữa trận tiền. Chứng kiến cái chết của Từ, Kiều đau lòng tự trách mình rất nhiều.
 Theo dõi sự phát triển tính cách Kiều, có thể thấy  thấy đến đây nàng mới hiện ra như một tính cách trưởng thành và một con người sáng suốt hơn bao giờ hết.


       Lúc tỉnh táo nhất cũng là lúc nàng sòng phẳng tự đánh giá Nghĩ mình công ít, tội nhiều
      Mấy trăm năm đã qua mà nhiều người –  trong đó có cả  những người từng vào sinh ra tử và đang đóng vai quản lý xã hội thời nay --  không có nổi cái tự nhận thức sâu sắc đó của cô Kiều. Thì còn có chuyện gì để mà bàn với nhau được nữa!





Đã in trong Những chấn thương tâm lý hiện đại  2009

Trước đó đã in trên TBKTSG 3-5-2009.







Viết thêm 14-3-2013


      Bộ
máy quan chức ở ta hôm nay chủ yếu được hình thành từ những năm chiến tranh,
sang thời bình có thay đổi chút ít nhưng không bao nhiêu. Các thành viên bộ máy
vốn  không được đào tạo theo những chuẩn
mực hiện đại, lại mang sẵn tâm lý kẻ chiến thắng tưởng mình làm cái gì cũng được,
không chịu học hỏi. Theo cái mạch ấy trong cái guồng quay ấy, các hoạt động
kinh tế có khởi sắc chốc lát  song trước
sau đi vào bê trễ.  Tính chính danh của bộ
máy rút cục chỉ nhằm vào một điều, các thành viên của nó, hoặc cha anh họ
trong quá khứ  đã có đóng góp.
Cả trong
các bài vở rao giảng cho đám học trò thời nay, tư tưởng biết ơn vẫn được nhắc
đi nhắc lại theo kiểu áp đặt gây ra những phản cảm kéo dài.  Tình hình chỉ chứng tỏ cuộc chiến tranh chưa
tách khỏi chúng ta , và trên đường hiện đại hóa,  một nếp tư duy gọi là truyền thống, thực ra
là “đã hết thời hạn sử dụng” -- vẫn đang đóng vai trò chi phối. 

Monday, March 11, 2013

Những vấn đề của một xã hội hậu chiến nhìn qua mười ngày ở Vinh mùa xuân 1973



       Hòa bình đến với cả
nước sau 30-4-1975 là một hòa bình đồng nghĩa với chiến thắng. Cảm hứng “tìm
được một cái gì đấy bấy lâu thèm muốn”  lúc ấy lấn át tất cả.





      Nhưng hòa bình lập lại ở miền Bắc sau
Hiệp nghị Paris đầu 1973, mới thật là hòa bình với nghĩa thông thường của nó.
Hòa bình lúc này là chiến tranh được lộn trái lại, nó gợi ra bao sượng sùng bỡ
ngỡ, người ta run rẩy sống với mảnh đất dưới chân với cảm hứng kỳ lạ. Có một
cái gì hôm qua mất đi, chỉ còn sự đổ nát ở lại. Trong lao động khắc phục di lụy
của chiến tranh, người ta cảm thấy như lần đầu được sống.


     Đấy là điều tôi đã trải nghiệm khi
mà, với tư cách phóng viên của tạp chí Văn Nghệ quân đội, có
mặt ở Vinh trong  mùa xuân 1973. Đã có nhiều người ca ngợi Vinh anh hùng bất
khuất. Trong những trang nhật ký sau đây, tôi muốn ghi nhận Vinh trong cái vẻ
đời thường hậu chiến. Tạm gọi là những bức ảnh mà có khi ta đã quên lãng, nhưng
khi xem lại, bất cứ thế nào cũng thấy có một phần cuộc đời của mình
trong đó.


     Đoạn nhật ký này đã đưa lên mạng một vài
lần. Lần này (11-3-2013), trong cái mạch nhật ký chiến tranh 1972-75, tôi có
chỉnh lý lại và đặt thêm những đầu đề nhỏ, đặt trong
[] để làm rõ các ý tưởng đã
le lói trong tâm trí 40 năm trước.




                                             [ Một thực tế xa lạ ]


  18/2


  Vinh. Thành phố trông bằng
bặn… như một cánh đồng. Chỉ còn một ít cây cối lên xanh. Chỉ thấy ô tô đi. Chỉ
nghe tiếng còi bin bin. Đường đất, đường đá, những chiếc xe tải đi nước trong
vũng vỗ ràn rạt. Giữa một thành phố thế này, một dáng người đi bộ, một chiếc xe
đạp cứ lọt thỏm đi, để lộ ra vẻ heo hút.


     Một con đường cũ,  nhưng mất hết cả mặt đường, cả dấu vết vỉa hè.
Mất hết cả cột điện. Lại mất cả dãy phố hai bên. Dấu vết của con đường nơi đây,
chỉ còn là vệt bánh xe lăn. Cạnh con đường ấy, người ta rạch một con đường khác,
rải đá. Rồi lại một con đường nữa, bên ngoài con đường đá, hợp với con đường
ban đầu, thành hai đường song song, cho ô tô chạy theo hai chiều.


      Đó là đoạn đường từ
chùa Diệc đến nhà bách hoá tổng hợp – đường Quang Trung, mạch chính ở Vinh hôm
nay. Hai vạch đất màu nâu. Màu đá trắng, một số nơi cỏ đã lên xanh. Mấy cô TNXP
khơi cống bên đường, ủi đất, mắt hau háu nhìn người đi qua, một cô áo đỏ
trông rất rợ. Con đường chỉ có một khía cạnh đáng chú ý hơn mọi nơi: nó thẳng
thắn, nó rộng rãi. Nó gợi ra những việc người ta phải làm sau chiến tranh.


      Bom đạn đã đẩy lùi
những dây dưa vướng víu mà hồi trước trong hoà bình, chúng ta không bao giờ
vượt nổi. Vui hay đau xót?


     Những công dân đầu
tiên có mặt ở thành phố, là những người làm giao thông vận tải, và những người
xây dựng ở Vinh đây là những người thuộc công trường thị chính. Họ gỡ phá bom
trong những ngày hoà bình lần trước (sau thời kỳ 1964-68). Họ lại ở lại chữa
đường trong những ngày thành phố bị bom đạn. Chỗ ở của họ, nằm ngay trên đường
Phan Đình Phùng. Những gian nhà tầng lâu ngày, bị hơi bom phá làm rời rã vôi
vữa, mưa xối cho còn trơ lại gạch. Bên ngoài, những gian nhà dựng đại khái cho
có người ở, khói hun đen cả tường. Áo quần dăng mắc, một đứa trẻ thò đầu ra cửa
sổ, vỗ vỗ quân bài. Nhưng thử vào trong nhà xem. Những hàng chữ 307 hòm đạn -
92 ngòi nổ, những hàng chữ viết bằng than, bằng mực nguệch ngoạc. Gõ lên
mặt tường, có chỗ vữa rơi sùn sụt.


      Phía những bụi rậm
trước nhà có một tiếng nổ. Đoành. Bom chi
đó? — Bom bi — Sao biết bom bi ?– Nổ ít khói, tiếng nổ ngắn, bom bi chứ chi
?!
Rồi người ta lại thản nhiên làm việc. Ở đây, ngồi trong những ngôi nhà lung lay
— thản nhiên, nghe tiếng bom nổ — thản nhiên.


                        

                              [ Sự biến dạng triệt để.Tất cả không còn là mình ]


  20/2


   Đến ban
quản lý xây dựng.


     – Khi
ở xa, thấy địch đánh, đồng chí lo gì? Tôi hỏi một công nhân.


     – Nhà cửa không lo nữa. Nó đánh cho hết đi
cũng được. Nhưng chúng tôi lo mặt bằng thành phố, nó đánh vậy, đâm khó khắc
phục. Lo bom bi bom vướng khó làm việc về sau.


     Ngay trong những ngày
bom đạn, chúng tôi vẫn kiến thiết cơ bản. Trồng cây xanh — đo đạc để sửa đường.
Lên Nam Đàn bốn ngày, chỉ nghĩ mình là người xây dựng Vinh, mình lại đi. Không
ổn! Chúng tôi quay lại, vẫn đi đo đạc, kiến thiết.


    Những người dũng cảm
lúc này trông thất thểu, như những người tứ cố vô thân.


     Có đợt phà Bến Thủy
tắc 24 ngày, cháy toàn bộ phương tiện. Có lần bom đánh ở Hà Tĩnh từ bến phà về
núi, bom đào thành sông. Dân gánh toóc
rơm
ra, mấy ngày sau, đường mới nổi lên. Hồi ấy, không có đài, có người
sang báo ngừng bắn mới biết.


     Chỉ đạo làm thêm
những con đường mới. Bữa bom đạn nhiều, mồ mả dọn không kịp. Đường trung tâm
Cầu Thông bom, một người đèo xe qua, nẩy, ngã chết. Làm đường qua đập tràn cổng
Toà thị chính Vinh. Bom nổ sau nhà, thùng xăng cứ dựng lên.


     Phòng giao thông
chuyên môn ít. 30 chánh phó chủ tịch xã được chuyển ra. Không biết gì về cầu
đường, chẳng qua ở nhà có vướng với dân, nên được điều ra đây.


       Cái chính là ngay
bây giờ cần những người có kinh nghiệm xây dựng thành phố. Phải ưu tiên những
công trình kỹ thuật: điện, cống ngầm… nếu không, sau này phải lật lại.


      Tri (một kỹ sư) bảo
lần đầu tiên trở về, tôi thấy xa lạ. Y như một thành phố nào khác. Lý trí bảo
rằng đây là nơi mình sẽ đến, sẽ làm việc, sẽ trở nên một nơi thân yêu của mình.
Nhưng nhìn vẫn dửng dưng.


     Vinh bị phá huỷ gần
như hoàn toàn (Diện tích nhà còn lại 45.000m2. Diện tích cũ gấp 5 như vậy). Cái
thành phố méo mó, quằn quại, lùi xa, rồi lại cắn răng trụ vững, cắm những con
người của mình trụ trên những địa điểm cố định. Ví như phà, ví như cảng. Cái
thành phố của ý chí.


    Cũng như tất cả những
thành phố khác, Vinh là đất để cho nhiều người qua lại. Vinh luôn luôn có những
mặt người lạ. Vinh nhiều lái xe, nhiều bộ đội về phép, nhiều bộ đội an dưỡng.
Với người miền Bắc vào, đây là cái địa đầu của miền Trung. Nhưng những người
vượt những gian khổ sông nước, đường xá, từ trong ra, đến Vinh, có
thể thở phào, đã đến cửa ngõ của Hà Nội.





      Có dễ không có gì
tiêu biểu cho thành phố những ngày hoà bình đầu tiên bằng cái cảnh những ngôi
nhà nhiều tầng bị đổ sập. Mưa nắng xói mãi vào nền vôi cũ. Cửa kính cửa chớp bị
bật tung. Nhưng thay vào đó người ta quây phên, quây ny lông che cửa. Có ai nấu
nướng ngay trong nhà. Trước cửa ngôi nhà, một chiếc xe tải đậu, chờ lấy hàng.
Nhiều vệt xe tải từ lâu đã xiết trên mặt cỏ những vệt mòn, chỗ xe mới vào đỗ cỏ
nham nhở đôi chút.


     Câu chuyện của người
xây dựng :


    –Đất Vinh — đất cát.
Có hiện tượng cát chảy (dù chưa ghê lắm!) Nhưng tốt cho xây dựng. Nếu kết hợp
có đầm rung, càng hay. Mặt bằng không phải chỉ địa hình, mà còn là địa chất.
Những khó khăn do bom đạn là tạm thời.


                                 

                                           [  Hoang tàn  đồng nghĩa nhộn nhạo ]


21/2


     Đêm trên thành phố, một vài đoạn đường có
những loạt đèn mới mắc, nhưng nhiều chỗ khác tối om. Phía trước mung lung, bước
chân khấp khểnh, bóng đêm sáng tối, chỗ đậm chỗ nhạt.


     Buổi chiếu bóng đầu
tiên trong thành phố sau hoà bình. Thành phố của những người lạ, của những thanh
niên xung phong, những bộ đội. Trước cửa bãi chiếu bóng, người ùn tới, người
nhốn nháo. Vẫn thấy kinh sợ ô tô. Gần bãi chiếu bóng, nguyên là một nơi đỗ ô
tô. Ô tô dịch từng bước giữa những đám người. Ô tô loé sáng giữa những khoảng
tối. Ô tô rầm rì. Nhưng mà mọi người vẫn vui, vẫn xô đẩy nhau mà vui.


      Ở cái đất Vinh
này, cuộc sống lúc nào cũng bị những áp lực. Ngày trước, gió lào, cháy. Cây non
trồng, chăm tưới khó…. Lại chiến tranh. Đến cái cọc cắm vào hố bom, cũng phải
làm bằng xi măng. Sợ nó bị bật tung đi, rồi lúc nào đó, bom lại nổ.


     Thứ âm thanh nghe
giục giã, nghiến ngả trong những ngày này là tiếng xe. Xe xúc, xe ủi, cái xe
của những mặt bằng, cái xe của nền móng. Chữ của người cán bộ giao thông, cố để
làm nổi một con đường.


    Thoáng qua một chút thú
vị bệnh hoạn: bao giờ ở đây cũng được sục chân vào đất mới. Và tôi nhớ những
lần xe lùi lại lấy thế. Thường lúc đó cái xe lồng lộn như bước vào một cuộc
chiến đấu.





     Những cặp đối lập


    Chiến tranh/ hoà bình


    Anh bộ đội/ người kỹ
sư xây dựng


    Người đi qua thành
Vinh/ Người của thành Vinh lâu dài


    Người chiến sĩ nhìn về
Vinh: Một khâu trung chuyển, một chỗ nghỉ. Những kho hàng phủ bạt trông ngàn
ngạt trên đường.





     Nhà cửa ở Vinh (
lời kể của một kỹ sư)


     Sau mỗi trận bom,
chúng tôi đi xem lại một số khu vực, đếm từng cái nhà. Trong những năm 1968-72,
một số nhà được xây dựng bị đánh. Năm 72 làm thêm cửa hàng lương thực, bách
hoá, các ki ốt… khoảng 10 cái. Ở trung tâm giao thông, cho người ta ăn uống.
Rất có tác dụng (làm nhà âm!). Chưa tính xây dựng các công trình nổi, chỉ làm
công trình ngầm.


     Cũng có một vài nhà
cũ còn nguyên. Khi các cơ quan đi, họ gửi chúng tôi nhà cửa.Tỉnh giao cho chúng
tôi quản lý.Trong chiến tranh, 95% nhà trong thành phố được dùng làm kho. Một
số cho công nhân thị chính. Lúc ấy đã lập hội đồng xác nhận thực trạng nhà cửa.
Đi xác nhận nguy hiểm mà vẫn phải đi.


     Trên thành phố, hàng
nghìn dân viết đơn xin về. Vào một nhà dân, xem có đủ ở không, có an toàn
không. Chưa dám nghĩ nhà đẹp, nhà tiện nghi. Làm nhà tranh cho các nhà gạch một
tầng. Làm nhà gạch cho những nhà hai tầng. Chủ trương giá độ 150đ (4 người –
10m2)


    Biết tôi làm nhà cửa,
người ta quý hoá hỏi han. Mấy hôm đầu hoà bình, thăm dò  ngay về chỗ trú chân. "Chúng tôi chỉ cần về
dựng lên một túp lều, là có thể yên tâm.” Có gia đình chết 6,7 người, tình cảm
với quê hương vẫn rất tha thiết. Nhà cửa là tài sản lớn nhất của một đời người.





Câu chuyện của người kỹ sư ngành điện


     10g30 sáng
24/1/73 ký tắt, 6g 30 tối có điện. Trong chiến tranh, anh em bạn bè thường
vẫn bàn tương lai, lưới điện sẽ cho đi ngầm tất cả hay sao?(các nước dùng lưới
ngầm, chỉ có cốt thò lên, dùng hoa sen, đèn lồng, trang trí). Hai năm
tới, sẽ có 5km dùng lối điện này. Đường điện đôi.


     Đi trong thành phố tối, bao giờ cũng bực…
Ước mong khi về hưu, lưới điện sẽ rực rỡ ( ai đó  nói Praha sáng nhìn rõ cả kiến.)





    [ Kính phục nhưng không
yêu mến.
Chân dung người  quản lý tương lai—người chiến thắng ]


        Gần như trong đầu có hai thành phố:  Một Vinh hôm qua, thành phố gần 2 cái trạm
giao thông, thành phố một đầu là bến ô tô, một đầu là Bến Thuỷ.  Và một Vinh khác, đang xây dựng lại, thấp
thoáng những đường rải nhựa, vườn hoa, đài liệt sĩ.


      … Sao tôi chỉ yêu
được cái thành phố đang xây dựng. Còn như thành Vinh kia bẩn thỉu, bụi bậm. Và
thế này nữa, những người mà hôm qua đứng lại với bến phà, với bờ sông, sao hôm
nay nhênh nhang, ngơ ngẩn, luộm thuộm. Tôi gần như không thể ưng được cái gọi
là thành phố ấy dù con người ở đấy mãi mãi làm tôi kính phục.




24/2


     Mùa xuân. Mưa rất
nhẹ, nắng rất vừa, tất cả đều nâng niu sức sống, đều nuôi dậy những khao khát
sống. Vậy mà cớ sao tôi cứ buồn bã? Tôi sợ hãi những mùa xuân, vì ở tôi
lúc nào cũng đầy những khao khát rồi. Tôi đang muốn dẹp bớt đi. Tôi đang muốn
nén mình lại.


     Đất nước gồm những
con người lạ kỳ. Ở đây, nói thế nào cũng được. Nói rằng chúng ta rất anh hùng,
rất sáng suốt, rất khoa học, cũng được. Nhưng nói rằng chúng ta mê muội, dốt
nát, vất vưởng, kể cũng không sai. Một người cán bộ cấp tỉnh làm việc… cứ bay
như con chiền chiện. Ông ký giấy, giải quyết việc, rồi lại bỏ đấy, có người kéo
đi, rồi lại giải quyết việc. Tưởng như ông làm bừa đi, không còn nhớ gì cả. Mà
thực ra, là ông nhớ rất kỹ những điều ông nói. Hình như việc gì cũng đến tay
ông, cũng phải qua ông. Nhưng ông có thể bớt việc đi được không? Chắc được. Bởi
ông giải quyết tất cả theo lối phứa phựa cả nắm cả mớ. Người cứ chạy theo ông,
một lũ một lĩ… Hẳn là ông rất hách dịch, rất gia đình chủ nghĩa. Nhưng ông lại
hợp với thời đại. Những người như vậy, là hợp với thời đại này chăng?


    Nhàn: Những gì là đặc điểm chung của những người
ngồi ô tô đó?


    Long (một kỹ sư): Là họ bạo phổi, họ có tầm mắt
chiến lược, họ không sợ hy sinh những cái nhỏ, họ dám làm cho tới khi được
việc. Là cách họ nói, bao gồm cả sự thường xuyên nói dối nói dá. Đáng khen thì họ
chê. Đáng chê thì họ khen. Lấy nói  làm công việc , kể cả nói không cần nghĩ , nói
không hiểu điều mình vừa nói. Tôi đã thấy ông ấy phóng ô tô đến một nơi, cắt
ngang hội nghị, phát biểu những ý kiến hết sức quan trọng, rồi lại từ biệt bữa
cơm sang trọng mà người ta mời mọc, giữa chừng phóng xe về, nói là dự một cuộc
họp quan trọng hơn. Cuối cùng hóa ra chỉ là chuyện này: ông ta phóng xe về dự
một bữa thịt chó. Sự tình là như thế, thường xuyên như thế. Mỗi người tự hiểu mình
không còn là của chính mình nữa, mà đã thuộc về một cái gì rất chung ngoài tầm
kiểm soát. Cái gì cũng có ý nghiã  nên chẳng
có cái gì là có ý nghĩa nữa. Và công việc nhiều quá đến mức không làm cũng
chẳng chết ai. 


                                   


                                
[
Chiến tranh đã sản sinh ra một lớp trẻ thế nào ?]       


    25/2


 Một người lớn tuổi than
thở rằng cha mẹ bây giờ nói với con bằng lý bằng tình, và cả bằng nước mắt, mà
con vẫn cứ hư hỏng. Quá lời chăng?


     Nhưng sự thật là
thanh niên bây giờ làm tôi thất vọng. Như mấy cậu ở Vinh. Ngây ngô quá. Không
đủ phong độ một người cán bộ nhà nước. Thường đến một chỗ nào đó, là vâng vâng
dạ dạ, ngoài ra lơ mơ về công việc. Chỉ chơi. Chỉ dòm hành. Cái xe này khung
Đức hay Tiệp? Vành Việt Nam hay vành Trung quốc? Toàn những chuyện vậy. Hoặc
đến công tác ở một nơi, thì đi tán mấy o con gái. Không trọng được.


    Long bảo hay nhớ cái
tình thế nước đôi trong truyện Tuyết của Paustovski. Người con gái về
thăm mẹ chết, nhớ lại người mẹ mình. Bà vừa là hạnh phúc của đời cô, vừa là một
gánh nặng đối với cuộc sống của cô. Bây giờ, bà mất đi cô vừa thấy mất mát đi
một điều gì đó, vừa thấy nhẹ đi một phần trách nhiệm nào đó.


    Những bậc cha mẹ, có
lẽ thế, luôn luôn là một gánh nặng với con cái. Quá khứ là một thứ gánh nặng
với hiện tại, tuy nó cũng là tài sản của hiện tại.


    Như đối với tôi, cuộc
đời luôn luôn là một ông bố khó tính, không hề thông cảm cho tất cả những phức
tạp của tôi, tuy vẫn yêu tôi, thương tôi. Là một người chị tốt bụng nhưng cam
chịu. Là một bà dì không tình nghĩa, chỉ tìm cách hành hạ tôi.


     Truyện của Paustovski
chỉ thích hợp với hai hạng. Hạng trẻ thơ, đang cần khuyến khích mơ mộng. Hạng
người già, biết nhìn ra tất cả, nhưng cần nghỉ ngơi. Đối với thanh
niên, loại truyện đó không thích hợp.


                                        

                                           [ Tương lai mông lung ]


     25/2


     Sương
dâng từ 4 gìơ chiều, đến 5 giờ sáng. Sương phủ mông lung. Sương làm cho mặt
người mờ mịt. Mặt đất như biến đi dưới chân, tất cả nhẹ bỗng, chỉ còn có những
điểm sáng, chỉ còn tiếng nói.


      Sao ở cái thành phố của dân cách mạng này, mà
có lúc lại nhiều sương?  Trong tôi vụt
nẩy ra một câu hỏi kỳ cục. Nhưng sao tôi vẫn thấy  muốn tự hỏi như thế. Cuộc sống chiến tranh đồng nghĩa với nắng
gắt,  gió lộng, mùa hè ngột ngạt và mùa
đông rét đến thâm tím mày mặt. Sao trong cái cuộc sống ấy lại còn suơng, còn cỏ
non, còn mưa phùn? Cũng như trên dải đất Việt Nam này, lại còn những đêm trăng
đẹp, những con sông thơ mộng, những bài dân ca; và hôm nay là những ngày xuân,  trời đất không ra nắng, không ra gió, hơi lạnh
so với mùa hè, nhưng đã ấm rất nhiều so với mùa đông.


     Cái ấn tượng lớn nhất
của tôi về Vinh, cái mà tôi tìm thấy mình ở trong này, đó là tính chất đêm tối,
tính chất trung cổ, tính chất nửa vời. 


     Nói gọn lại đây là một đoạn trên con đường ra tiền tuyến. Cửa ngõ chiến
trường và cửa ngõ hậu phương. Nơi đây, biết bao nhiêu người đi qua, cái gì
người ta cũng mang vào, nhưng người ta không để lại. Nơi đây, vừa đủ một ngày
đường ô tô, một ngày một đêm tàu hoả để cho khách khứa từ Hà Nội vào từ Vĩnh
Linh ra. Nơi đây, có lúc cả thành phố chỉ còn là một cái bến ô tô rất lớn, và
những cụm kho, và một bến phà. Tất cả sống bám vào những linh hồn từ nơi khác
đến.


       Về mặt nào đó, cách hiểu về thành
phố như thế cũng là cách hiểu về cả đất nước. Những gì của ngày hôm nay nó
cứ như là nhất thời, tạm bợ. Quan trọng hơn là một cái gì lờ mờ đằng sau mà ta
gọi là ngày mai. Nhưng biết bao giờ ngày mai sẽ tới. Cái đích xa tưởng là mờ
mịt. Cái đích xa nuốt vào nó muôn ngàn cố gắng. Rồi sẽ đi đến đâu?


                                 

                                          [ Phải trở về quá khứ để
nghĩ lại tất cả
]


   27/2


      Mua vé về, chấm dứt đợt vào Vinh.


     Đi khỏi Hà Nội, cảm
thấy có một điều gì đưa tôi trở về bề sâu của đất nước khiến tôi bình tĩnh,–
thậm chí như tê dại đi –, mà lại  khiến  tôi có thể lặng lẽ mà sống. Nghe chuyện mọi người, thấy người nào cũng sâu sắc, cũng chân thành, cũng đáng suy xét ngẫm nghĩ. Mọi người đang sống sát mặt đất, sát cái thực tế của mình, có
đủ thói xấu và tính tốt.


     Nhưng rồi tôi nhớ lại
những ngày Hà Nội, để mà nhận ra điều này. Đúng là người ta phải sống ở Hà Nội,
phải ở Thủ đô. Để mình có thể hiểu những vấn đề chính trị lớn lao. Để có thể
sống với cái nhịp điệu gấp gáp hơn, hiểu điều đúng và điều sai trên cơ sở những nhận thức sâu sắc hơn. Để có thể tiếp xúc với cả những phát hiện khác ở một
cuộc đời khác ngoài xứ sở mình đất nước mình.


     Nhưng hỡi ôi, một là,
ở Hà Nội, tôi cũng chỉ biết được những điều đó bằng nghe lỏm và sự hiểu biết
rất nhiều phen lỗ mỗ. Hai là, để xứng đáng với một quan hệ rộng rãi như thế,
người ta phải có một cuộc sống tương đối ổn định, tương đối thoải mái. Người
ta phải phát huy được sự suy nghĩ. Phải có quyền hướng tới  những điều người
ta thấy đúng. Phải có những thể chế dân chủ và hiện đại. Phải có một xã hội để
cho người ta yên tâm hơn. Tôi biết tìm đâu những thứ đó?


      Bi kịch của chúng tôi hiện nay là sống rên
xiết trong những ngôi nhà bẩn thỉu. Chúng tôi luôn luôn bị đe doạ, bị nạt nộ. Người
ta muốn chúng tôi càng ít hiểu những vấn đề phức tạp càng tốt. Xe thì đi chậm
quá, người thì đông quá, nhiều người vô dụng quá. Những người chung quanh tôi
có một điều gì đó, cứ luẩn quẩn, kể cả những lời nói xấu những lời phủ nhận
cũng là luẩn quẩn, cũng là bắt nguồn từ một góc độ bé nhỏ, một nguyện vọng tầm
thường (cùng lắm thì mới là một nhận xét sắc sảo, ít khi là một nguyện vọng chân
chính, chưa nói đến một sự sống cao đẹp!)
Và thực là  mỗi người  cứ như là chưa đủ tư cách, chưa đủ hiểu biết,
chưa đủ khả năng thực hiện một điều gì cả. Mọi người quằn quại trong cái mớ bòng bong hay dở  sai đúng, mà không sao hiểu hết. 


      Vậy thì cuối cùng phải như thế nào? Những lý lẽ của cách
mạng hôm qua không đủ để thích hợp với những suy nghĩ trưởng thành, và những
cung cách công việc sống hôm nay. Nhưng chẳng lẽ lại chỉ có cách sống tự do vô
tổ chức, như những người ở phía bên kia.? Có thể, còn phải có một sự tìm tòi,
một cuộc xây dựng khác?




28/2


      Trên chuyến tầu trở
lại Hà Nội. Sàn tàu bẩn như bết đất. Người đi tàu nằm lăn ra đó mà ngủ trong
đêm. Và ban ngày họ mới như ma hiện lên, đi lại ăn uống. Sao mà tôi nhớ cái nhận xét nào đó về
người Việt Nam: người ta ăn rau ráu. Người ta nuốt mọi thứ rơi vào tay. Những
người đàn ông mang tiếng dạy đại học, mang tiếng trí thức đi Bắc về Nam, những
người ấy bây giờ cũng đi đất, nằm ngủ mồm sùi nước rãi. Người đàn bà cái áo
trắng ngả màu cháo lòng, ngồi vạch vú cho con bú trước đông đảo hành khách.
Không còn ra sao nữa, đứa trẻ tát vào má mẹ nó đôm đốp. Phía bên kia một người
đàn bà giọng khê nồng, nói toàn những lời điệu bộ. Một ông già Thừa Thiên khoe
con làm cách mạng, rất hồn nhiên. Mấy tay bộ đội đi B ra, nói cười hô hố, toàn
làm lộ bí mật. Hoặc là nghĩ sợ cái nơi vừa rời bỏ đó, nay mai không muốn vào.
Hoặc là gây gổ cãi nhau, tranh nhau chỗ… Cái xã hội này nhộn nhạo thế.


      Tàu Vinh- Hà Nội bao
giờ chẳng nhiều những người khu 4 đó. Và tôi miên man nghĩ những người gan lì
đó, làm cách mạng, nay lại học lấy thói bóng lọng của miền Bắc.Cũng như người
đồng bằng Bắc bộ lại phải chia sẻ cách sống cách làm việc thô lỗ căng
cứng của người vùng trong. Mới trên một khoảnh nhỏ một nước Việt Nam
này, đã đọc thấy những thứ đục khoét con người.


      Cách mạng. Phải hiểu
và cắt nghĩa tất cả các chuyện trên đời này. Chủ nghĩa Mác- Lênin đã mang vào
Việt Nam cái gì? Tại sao nó bắt rễ được ở Việt Nam v.v…


     Khu bốn như bãi chiến
trường. Khu bốn bị cày xới… Chỉ về đến vùng Hà Nội – Hà Đông giáp Hà Nội, tôi
mới cảm thấy một cái gì đó rất bình thản, rất nền nếp. Những làng xóm, những
ngả đường, cho đến một đám ruộng mới bừa, hàng mạ mới gieo, tất cả vào hàng vào
lối, tất cả không hề tạm bợ xáo trộn.





    Một người bạn làm nghề
kiến trúc nhận xét: Nhà cửa Nghệ An, Hà Tĩnh thực dụng hơn ở đâu hết, hơn nhà
đồng bằng Bắc bộ.





     Nhiều lần tôi  đứng bên ô cửa sổ một căn nhà hai tầng, nhìn
ra cuộc đời. Hôm nay cũng vậy. Một ngày đầy gió. Tôi nghĩ đến những khao khát
đang sôi lên ở mỗi người. Cách mạng đã hứa hẹn với người ta, làm cho người ta
sống trong những khao khát. Nhưng có phải đó cũng là thách thức đặt ra với một
số người  hoặc rộng ra với rất nhiều người ? Bởi họ là đám không đáng đánh thức cũng
bị đánh thức. Trở dậy họ không biết làm gì cả./.