Monday, March 28, 2011

Nói nhiều, như một căn bệnh...

Hay là bây giờ mình lên tiếng xin tăng giá các loại cước điện thoại cố định cũng như di động...

Thú thật là chỉ mới nghĩ thế thôi chứ chưa dám mở miệng, tôi đã tự ách lại ngay được. Thậm chí đắn đo mãi mới dám viết rằng mình từng nghĩ vậy trên giấy. Bởi không cần nhạy cảm lắm, cũng thừa biết là trong con mắt mọi người, riêng việc cái thằng tôi có ý nghĩ như thế đã là một dấu hiệu điên rồ, nếu không nói là một trọng tội. Chắc rằng sẽ có ai đó sẵn sàng mách hộ nên đi khám tâm thần ở chỗ này chỗ nọ.



Mặc dầu vậy, tôi vẫn cứ viết ra đây với tất cả sự tỉnh táo của một người đang kiểm soát được ý nghĩ của mình. Lý do là như thế này: Thời buổi bây giờ chỉ có đồng tiền chế ngự được con người. Ví phỏng, trong muôn một, cái đề nghị điên rồ trên đây được chấp nhận, túi tiền những người đồng bệnh với tôi có bị vẹt đi thật - thì bù lại dần dần cũng có một cái lợi là đỡ đi cái tật nói nhiều đang trở thành một cách ứng xử phổ biến (và nên nói ngay là đã đến mức nặng nề, hoặc như thiên hạ thích nói, một căn bệnh trầm kha, đang hạ thấp cuộc sống chúng ta tới mức thảm hại).



Còn nhớ hồi chiến tranh, Hà Nội cái gì cũng thiếu, chẳng hạn hồi đó, ruột bút chì bi dùng xong, phải giữ để mang bơm lại, hoặc mang đến nộp cơ quan, để đổi cái mới. Vậy mà ngay từ những năm ấy, đã nghe nói rằng ở một số nước trên thế giới xuất hiện tình trạng khủng hoảng thừa, và nói chung một trong những tai vạ chủ yếu của con người hiện đại là họ có quá nhiều thứ để mà lựa chọn. Có điều, chỉ mươi năm nay thì cái cảm giác ngột ngạt của sự dư thừa kiểu nước mình mới thật lĩnh đủ. Ra đường nghĩa là len trong rừng xe. Đến các cơ quan hành chính, lúc nào cũng thấy đã có người xếp hàng. Vào cửa hàng ăn, bàn nào cũng ê hề những thức ăn gọi ra không dùng. Về nhà mở TV ra, hết chương trình đố vui mọi người đua nhau cười hô hố lại đến các loại phim hàng chợ của Tàu… Người sẵn… Của thừa… Và sự nói nhiều là nằm trong cái mạch tự nhiên ấy.

 


Nhân vật chính trong thiên truyện Tỏa nhị kiều của Xuân Diệu là hai cô gái "lặng lẽ và ngơ ngác; ấy là hai hột cơm", còn mấy người đàn ông khác cũng đều là những người "biết chung sống với sự buồn tẻ". Không chỉ riêng Tỏa nhị kiều, mà tôi cam đoan trong nhiều thiên truyện của Thạch Lam cũng như của Nam Cao hồi tiền chiến, con người ta nói ít lắm, chắc chắn là ít hơn thời bây giờ. Khi hình dung lại những năm còn nhỏ, tôi nhớ trong các gia đình mọi người thường lặng lẽ, ông bố chìm đắm trong lo toan về cuộc mưu sinh, bà mẹ thương chồng thương con cắn răng lam làm và trẻ con chỉ nghĩ đến việc nói chuyện với người lớn đã sung sướng. Chẳng phải gia đình tôi độc đáo khác đời, mà ở nhiều gia đình khác cũng vậy. Còn ngày nay bạn thử nghĩ lại xem, có phải khó khăn lắm chúng ta mới tìm thấy một người ít nói. Không những thanh niên huyên thiên bốc phét, trẻ con khóc rất dai, mà những người già cũng nói như cái cách duy nhất để tự khẳng định rằng họ còn sống. Người ta nói nhiều ở đủ các nơi: Trong các buổi họp. Trong các đám cãi nhau. Trong những dịp vui. Lại cả trong những dịp buồn (ví như các điếu văn hoặc các bài phát biểu khi có ai đó chết chẳng hạn).

Đôi lúc thử tách ra nhìn lại mình: tôi cũng đã nhập vào đội quân đa ngôn đa quá từ lúc nào không biết. Có việc phải nói với ai điều gì chưa nghĩ cho chín đã xổ ra ào ào. Cùng một ý, đáng nói một câu thì nói đến hai ba câu. Toàn những sự lắm ngoài ý muốn, nên mới bảo là bệnh.

 


Đã bao giờ bạn đang làm việc thì bị một người cùng phòng với mình làm khổ bằng cách tán róc với ai đó trên điện thoại chưa? Tôi, tôi cũng thường xuyên có cái khó chịu ấy. Cho đến một lần tôi chợt nảy ra ý nghĩ tự kiểm tra xem mình nói như thế nào. Chao ôi, tôi cũng nói dài không kém một ai. Tôi cũng thường có những chuyến buôn dưa lê vô tội vạ! Chắc chắn nhiều lần tôi đã làm phiền những người chung quanh mà không hay biết.

 


Bây giờ thì hẳn các bạn cũng thấy rằng cái ý tưởng nên tăng giá cước điện thoại của tôi không phải vô lý. Giống như là sars, bệnh nói nhiều chưa tìm được thuốc chữa. Vậy nên tôi mới thử nghĩ liều như trên, xin tăng cước điện thoại: Không chừng đó sẽ là cách duy nhất để những người như tôi khỏi bệnh. Cố nhiên nếu ai giúp tôi chữa bệnh nói nhiều mà khỏi tốn tiền, thì tôi cám ơn lắm lắm.



đã in trong Nhân nào quả ấy

Wednesday, March 23, 2011

Nhật ký 2011 ( tuần IX- XI)

1-3
       ĐẾN QUÁ MUỘN   


       Tạp chí Văn học nước ngoài ra được mười lăm năm, 180 số.  Nhìn vào mục lục thấy bao nhiêu thứ mà giá ngày xưa, trước 1975, trong cảnh bị bưng bít , thì dân viết văn đã vồ lấy để đọc. Nay thì không mấy người đọc. Cái mà xã hội hôm nay chuộng là những cái đàng điếm trước mắt. Theo sự quay cuồng của thị trường, người làm văn chương không còn đủ bình tĩnh để mà đón nhận những gì thật hạt những gì sâu xa những gì thực sự là bền vững trong cái trôi chảy của đời sống hiện đại. Những cuộc gặp gỡ muộn mằn chẳng có thể gây ra hiệu quả gì đáng kể.

      Tôi đã tính thử làm cái việc là lần hồi kể lại một ít kỷ niệm về sự thâm nhập của văn học thế giới vào đời sống văn học Hà Nội từ sau 1954 mà mãi không bắt đầu được. Dù viết gì, thì cũng chỉ nhắc một điều, lúc xã hội mở cửa thì một số chúng tôi không đủ sức để tiếp nhận những gì cần thiết nữa. Nền văn học này đã văng ra khỏi dòng chảy của cái mạch chung và từ ngoài nhìn vào hẳn thấy ngay cái tình thế lạc lõng của ta trên thế giới..
       
3-3   
       LAN RA THEO CHIỀU RỘNG
    Phát triển ở ta bây giờ là thế này: Thiếu cán bộ có trình độ đại học ư? Thì  cho phép thả cửa mở ra vài trăm trường. Nhưng trường không có thầy, thầy không biết dạy, cơ sở nửa đời nửa đoạn, tiên thiên bất túc. Bây giờ “chổng mông lên mà gào”, tranh nhau lôi kéo, miễn sao dụ được đám học sinh các trường trung học phổ thông vừa tháo khóan đỗ tốt nghiệp gần 100% mỗi năm vào để thu học phí cao.
      Bởi các trường là gì – phần lớn chỉ là những công ty những xí nghiệp lo kiếm ăn trên cái đói nghèo lạc hậu của VN.
      Từ chỗ chỉ có 900 ngàn bây giờ có tới 1,6 triệu SV.  Một mạng nước ngoài viết: mặc dù Việt Nam có tỷ lệ biết chữ rất cao-- 90% dân số-- nhưng các trường đại học của nước này lại đã bỏ phí hàng thập kỷ vào việc dẹp bỏ dạy dỗ kỹ năng cứng (hard skill, nghĩa là khả năng chuyên môn, sự thành thạo về chuyên môn ) mà ưu tiên khả năng ghi nhớ như vẹt và học các lý thuyết cổ lỗ.
   
 CÓ MÀ KHÔNG KHÔNG MÀ CÓ
     Sau chiến tranh, còn ai tha thiết phát triển hơn chúng ta. Vừa hiểu rằng đó là một nhu cầu thì lại cảm thấy ngay là không cách gì biến cái nhu cầu đó thành hiện thực.
      Có lẽ vì thế mà chúng ta thường kêu tướng lên vì đủ mọi điều vu vơ.      Sống nhiều với những khái niệm nhập khẩu, cứ tưởng rằng hiểu. Thích mơ đến những cái tốt đẹp, cứ đinh ninh rằng mình cũng có, rồi mình sẽ khá hơn, rồi mình sẽ bằng người. Thế nhưng càng ngày tôi càng cảm thấy rằng chúng ta đã đánh mất một cái gì rất lớn trong chiến tranh và cuộc mưu cầu hạnh phúc hôm nay biến thành một câu chuyện “ vay nợ để mà trụy lạc”, sự hiện đại hóa đến muộn chỉ sinh ra những kỳ dị.
     Sau đây là hình ảnh về cái kỳ dị đó, lấy từ một mẩu tin trên báo:
        Chuyện bắt đầu vào trước Tết Nguyên đán, một người dân ở Làng Trui, xã Ba Tiêu huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi  trong lúc ngồi uống rượu bỗng hứng chí “bật mí” rằng: Có lần nghe cha mình nói là quan tài chôn ông nội được làm bằng gỗ huỳnh đàn.
        Chẳng bao lâu sau, tin này lọt đến tai một trùm thu mua huỳnh đàn trong huyện. Ban đầu X từ chối thẳng thừng, nhưng sau nhiều lần nghe ông trùm gạ gẫm sẽ trả rất nhiều tiền để mua nên anh đã đồng ý, với điều kiện phải có một chiếc quan tài mới để thay vào; đồng thời mua trâu, rượu đến cúng thì mới chịu đào lên bán.
     Và từ đó, "cơn sốt" huỳnh đàn đã bị thồi bùng lên.


4-3
  ÂM U BÓNG TỐI
    Có lần đọc tin thấy HN có lễ hội đường phố. Xưa VN có loại hình này đâu, bây giờ thấy các nước bên Âu Mỹ người ta làm nên cũng bắt chước .
     Bắt chước, học đòi, hình như chúng ta bây giờ mới tập làm người ?
     Nhiều việc học đòi đã diễn ra trên phạm vi rộng, học mà không cần biết là có hợp với mình không. Cuộc sống mù lòa cuốn đi. Làm văn hóa hiện nay là kéo người ta đến những địa điểm công cộng làm vài trò múa hát rồi nhân đó bán hàng.
     Cho đến cả việc bầu chọn quốc hoa quốc tửu cũng vậy. Ai đó đã nói hụych  toẹt--  Cẩn thận! nếu không chúng ta sẽ trở nên lẩn thẩn.
 
      Nhớ mấy câu thơ về tình trạng nước đôi của đời sống, tôi đọc từ đâu đó :


    Trời hôm nay vừa mưa vừa nắng
    Mây hôm nay vừa trắng vừa đen
     Nước hôm nay vừa trong vừa đục
    Biển hôm nay vừa động vừa yên


  Còn đây, nhân việc thông báo rằng sông Hồng không chỉ ô nhiễm mà còn  có nguy cơ ngập mặn và cạn kiệt, một nhà khoa học lưu ý một điều đơn giản “  một con sông là một cơ thể sống, nó cần một lưu lượng nhất định để sinh tồn, để duy trì hệ sinh thái của mình. Chỉ mất đi một lượng nước nhất định cũng có nghĩa là con sông đó sẽ suy thoái và chết dần. “


9-3
NGOÀI TẦM KIỂM SOÁT  
 Luôn luôn đọc thấy những chuyện kỳ cục kiểu như thế này
  *  Trưởng thôn Đọi Nhất (xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam) ông Trần Kim Hạ cho hay: "Cả thôn chỉ có 800 nhân khẩu với khoảng 200 nóc nhà mà tính sơ sơ cũng đã hàng chục người bị điên. Đấy là số còn sống, chứ nếu tính cả những người đã vĩnh biệt cõi trần thì khá nhiều. Không biết làng tui ăn phải cái gì mà lụi bại dần mòn ghê gớm như vậy?".
  * Đinh tặc rải gần nửa tấn đinh, vật nhọn khắp thành phố HCM.Trong đó, riêng Đội xung kích chống rải đinh Q.Thủ Đức, từ tháng 9.2010 đến nay đã thu gom khoảng 260kg đinh và vật nhọn, gây nguy hiểm cho người đi đường. Còn Đội xung kích Q.9 thì thu gom được gần 100kg đinh và vật nhọn.


   * Trộm tiền tỷ để đi làm từ thiện. Sau khi cuỗm được gần 3 tỷ tại chùa Hàm Long ở TP Bắc Ninh, thủ phạm trích 100 triệu đồng đi ủng hộ cho một số tổ chức cùng người lang thang, cơ nhỡ. Số còn lại, anh ta mang đến trao trả lại nhà chùa.Tại phiên tòa, thủ phạm bật khóc và được các nhà sư chùa Hàm Long tha thiết xin giảm án.
      --  Hà Nội bò lê bò càng cứu cụ rùa Hồ Gươm  một bài báo nước ngoài có cái đầu đề như vậy.


11-3
   GHI CHÉP TỪ CÁC CHUYÊN KHẢO
VỀ XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
Theo A. Touraine, tính hiện đại có thắng ở lý trí hoá con người thì lại bại ở chủ thể hoá con người. Phải có chiến lược hiện đại hoá mang tính nhân văn.
Tự do là “biết được khả năng vùng vẫy đến đâu trong sợi dây tất yếu”
Sự giả dối là bạn song hành của hèn nhát và mặc cảm.
Kafka nói tới những tội lỗi mỗi cá nhân.Orwell nói tới sự lãng quên trong một xã hội phi cá nhân, nơi ký ức bị nhào nặn và xuyên tạc. Lịch sử trở thành một công cụ của quyền lực.
Con người nước đôi biết đưa nhận hối lộ là xấu, vẫn cứ làm. Lý do tất cả đều làm thế.
Tất cả đều giả vờ. Chúng tôi giả vờ làm việc, họ giả vờ trả lương. Họ giả vờ là đạo đức của giai cấp vô sản, là dân tộc. Chúng tôi giả vờ tin điều đó. Sự giả vờ đó được coi là thiêng liêng. Họ để cho bạn căm ghét nhưng bạn không được lật tẩy họ, bảo họ diễn; bạn phải diễn với họ.
Dân đen hạnh phúc trong ngu dốt và tự do
Không chọn tự do, họ chỉ cần bánh mì, không cần trí thức.


12-3
       NHANH &CHẬM
    Đọc một bài người Trung Quốc viết về Bắc Triều Tiên, thấy kể ở đó chỉ có một đường cao tốc, nhưng số lượng xe qua lại rất ít, trung bình khoảng 20 phút mới gặp một xe. Công cụ đi du lịch đường dài ở Bắc Triều Tiên chỉ có xe lửa. Theo diện tích Bắc Triều Tiên, đến bất kỳ nơi nào chỉ cần ngồi xe lửa một ngày là tới, nhưng ở đây tình hình xe lửa đến chậm giờ khiến người ta kinh ngạc, chậm một, hai ngày được coi là đúng giờ, chậm ba, năm ngày được coi là bình thường, chậm mười ngày cũng chẳng coi là việc kỳ lạ, cho nên muốn đi du lịch bằng xe lửa cần mang theo nửa tháng ăn đường.
        Nhiều người đọc đến đây hẳn cũng thấy tự an ủi. Dân mình chưa đến nỗi nào. So ra chúng ta đang quá năng động nữa kia!
          Thế nhưng sự trì trệ kia có thực là xa lạ với ta không? Tôi nhớ những  vạt cỏ hoang dại ngay giữa phố xá. Nhớ những bãi rác ven làng hoặc dọc theo những con đường mới mở. Những trạm khai thác vàng tạm bợ nơi con người chui rúc làm thuê cho bọn chủ thầu. Đi trên đoạn cầu Long Biên bên sông Hồng mạn Phúc Xá bao giờ cũng thấy thoang thoảng mùi thối và nhìn xuống thì nhiều cống rãnh dồn lại thành những vũng đất đen ngòm.
       Cuộc sống của chúng ta có những chỗ chẳng những trì trệ mà còn thoái hóa. So với Triều Tiên, liệu có đáng tự hào hơn?
       Lại có những cái nhanh khác, nhanh đến phát sợ. SGTT có bài Khi công bố đồng nghĩa với tận diệt  kể các loài cây cá quý hiếm như lan hải cảnh, thạch tùng răng cưa , cá rồng... vừa được các nhà nghiên cứu tìm thấy thì đã thấy có người thuê cướp về, phục vụ cho sinh hoạt của họ. Các cây thuốc ở Sapa cũng đã có lúc rơi vào tình trạng đó.
       Trước đây, đa dạng sinh học tương đối ổn định nhờ sự cân bằng giữa sự tiến hoá hình thành loài mới và sự tuyệt diệt loài cũ. Tuy vậy, con người đã làm tốc độ tuyệt chủng vượt xa nhiều lần tốc độ hình thành loài.


17-3
TIẾP TỤC CÂU CHUYỆN
VỀ “SỰ CÓ MẶT CỦA NHỮNG NGÀY XƯA”
     Hai nghĩa trang Trước 1945 Hà Nội có một nghĩa trang ở Hoàng Mai. Lịch triều tạp kỷ --- một bộ sử thế kỷ XVII XVIII của Ngô Cao Lãng -- cho biết nghĩa trang ở nam thành phố này vốn được hình thành từ 1723, rộng 14 mẫu để cùng với một nghĩa trang khác ở Dịch Vọng rộng 17 mẫu  được coi là nghĩa địa chuyên chôn cất những người nghèo khó vô thừa  nhận .
      Gần ba trăm năm đã trôi qua mà người sống và kẻ chết của đất Thăng Long xem ra vẫn được chốt đặt trong cái hình thế như vậy.  


        Và nạn cướp bóc. Cũng đọc lịch sử Đàng ngoài thời vua Lê chúa Trịnh thì thấy đặc trưng của cái thời ấy là nạn cướp bóc. Liên hệ hôm nay: nếu  thống kê sẽ thấy trên các trang tin tức xã hội chắc chắn bên cạnh những từ ăn nói, đi, phóng xe cãi nhau , ăn cắp... từ cướp  thuộc loại có tần xuất lặp đi lặp lại cao nhất



Báo Người lao động 18/03/2011 đăng bài Học sinh rủ nhau đi... cướp với đoạn mở đầu “ Không phải là phổ biến nhưng thông tin về học sinh rủ nhau đi… cướp cũng không còn hiếm hoi, cá biệt. Đáng báo động, chuyện đi cướp đối với các học sinh đang còn ngồi trên ghế nhà trường đã trở nên chuyên nghiệp, không phải vì bồng bột, ham vui, bị lôi kéo hay vô tình phạm tội.”
 20-3
      Từ cuối năm ngoái có tin là Thụy Điển đóng cửa ĐSQ và họ bảo là do họ bị hạn chế về kinh phí nên phải làm vậy?
       Nhưng có tin là họ vừa mới lập ĐSQ tại Campuchia. Vậy hư thực là thế nào ? Hay là họ rút chỉ vì họ đã ngán mình quá, thấy rằng có giúp mình cũng vô ích?
       Sau 1975 Thụy Điển là một trong những nước đến với mình sớm nhất. Ký ức về  họ gắn với tên tuổi Nhà máy giấy Bãi Bằng. Hồi ấy, dân cán bộ công chức Hà Nội đã rỉ tai nhau rằng các trong các kỹ sư ở nhà máy này có lưu truyền một nhận xét về người Việt :
       ” Một dân tộc không thể cộng tác “.
       “ Một dân tộc không thể sửa chữa” .
         Là người thích tìm hiểu và thu thập nhận xét về dân ta từ con mắt người nước ngoài, mấy chục năm nay tôi cứ nhớ mãi mà không biết hỏi ai xem chuyện này có đúng thế không?
     






Tuesday, March 15, 2011

Nghĩ lại về chính...sự nghĩ

Cổ nhân có câu "chớ có tham bát mà bỏ cả mâm". Dịch câu nói ấy ra ngôn ngữ hiện đại, tức là trong khi giải quyết mọi việc, ta phải từ bỏ lối nghĩ thực dụng chật hẹp, lối chạy theo thành tích "mì ăn liền", để hướng tới một cách nghĩ bao quát và sâu sắc hơn. Theo ý tôi đây là một trong những bài học đáng rút kinh nghiệm hơn cả, trước khi bước sang thế kỷ XXI.



Về mối quan hệ giữa làm và nghĩ

Có một câu nói cửa miệng - nhiều người trong chúng ta, kể cả các nhà trí thức, thường hay nhắc lại "nói thì dễ, làm mới khó".

Một số người khi bắt tay làm một việc gì đó, mà e rằng sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là khi đã làm cái việc cần làm và làm sai, làm hỏng, rồi để chặn họng những lời phê phán của chung quanh, bèn phản bác một cách khéo léo: "ờ nói thì dễ, làm mới khó".

Theo tôi hiểu chữ nói ở đây không chỉ là phát âm, dùng miệng cất lên thành lời để diễn đạt một ý tưởng nào đó, mà trong văn cảnh đã bao hàm cái ý nghĩ ngợi suy xét, tức vận dụng tư duy để giải quyết một nghi vấn (dân ta có câu: ăn có nhai nói có nghĩ). Vậy thực chất câu nói trên chính là: nghĩ thì dễ, làm mới khó.

Việc đề cao hành động ở đây, có lý do của nó. Trước nhiều công việc khó khăn hàng ngày, người ta chỉ gặp những người đứng ngoài lên mặt dạy khôn, hoặc bình luận lung tung chẳng dựa trên một sự nghiên cứu kỹ càng nào, cũng chẳng có sự xét đoán cụ thể (nói như các cụ xưa: toàn những lời tán thối, bàn quanh bàn quẩn nhạt nhẽo vô bổ, thậm chí nghe rác tai và làm rối ruột những người đang hành động). Trong trường hợp đó, quả thật mới thấy quý người có kiến giải dứt khoát lại quyết đoán và sớm bắt tay vào hành động.

Thế nhưng, bình tĩnh mà xét, thì rồi cuối cùng, cái mà người ta cần, không phải chỉ là một hành động, mà là hành động có hiệu quả cao, tức không chỉ cần người dám làm mà là người làm giỏi, làm đúng. Và muốn làm đúng, phải có trình độ hiểu biết, có sự nghiên cứu tường tận, tóm lại cần người nghĩ đúng. Sự nghĩ ngợi chỉ là dễ, khi nghĩ một cách nông nổi, qua quýt, rồi lấy sự lợi khẩu làm bùa mê, lừa mình, lừa người, gọi là nghĩ mà chẳng có nghĩ gì cả. Còn cái nghĩ có khả năng gỡ rối, giải quyết công việc một cách hợp lý, cái nghĩ đó đâu dễ và câu châm ngôn cần thiết trong lúc này, có lẽ phải là "làm đã khó, nhưng nghĩ còn khó hơn nữa".
Học nghĩ

Chữ nghĩ ở đây bao gồm cả sự tinh tường trong quan sát lẫn sự sâu rộng trong tầm nhìn, sự thông thoáng trong quan niệm, và sau hết sự nhạy cảm để lường trước mà tránh bớt đi những lỗi lầm đáng tiếc. Trong kho từ vựng của tiếng Việt, một phần sự đa dạng của suy nghĩ đã được mô tả: nghĩ sâu, nghĩ nông, nghĩ rộng, nghĩ hẹp, nghĩ chín và nghĩ chưa chín, nghĩ qua loa và nghĩ nát một điều gì đó. Cạn nghĩ thì chắc chắn là dở rồi, nhưng cả nghĩ chưa chắc đã là điều tốt, bởi sự nghĩ không chỉ được đo tính bằng thời gian hoặc sự khổ công mà cái chính là bằng hiệu quả, chất lượng. Có thể nói người đời hơn kém nhau ở khả năng nghĩ, tầm nghĩ và như vậy, nghĩ không phải là chuyện trời cho, ai cũng biết nghĩ, mà là một quá trình rèn luyện học hỏi, trau dồi, thể nghiệm liên tục. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà khoa học nhân văn đưa ra khái niệm homo sapiens (con người trí tuệ, con người có suy nghĩ) và xem đó là giai đoạn phát triển cao của nhân loại.

 
Vượt lên trên sự thiển cận và vụ lợi

Có một chiếc đồng hồ ở điện Versailles, Paris, được làm từ 1746 mà đến nay vẫn tiện dụng và hợp thời; đúng nửa đêm 31-12-1999, nó đã gióng chuông và chuyển con số 1 (đeo đuổi trên hai trăm năm) thành con số 2, kèm theo ba số không. Và, "theo tính toán hiện nay, chiếc đồng hồ này còn tiếp tục báo năm báo tháng báo giờ... nghiêm chỉnh thêm năm trăm năm nữa".

Sở dĩ người xưa làm được việc đó, vì họ luôn luôn hướng về một cái gì trường tồn. Duy cái điều có người liên hệ thêm "còn ngày nay, người ta chỉ chăm chăm xây dựng một tòa nhà dùng độ hai mươi năm rồi lại phá ra làm cái mới" thì cần dừng lại kỹ hơn một chút.

Nếu người ta nói ở đây là chung cho con người thế kỷ XX thì nói thế là đủ. Một đặc điểm của kiểu tư duy hiện đại là nhanh, hoạt, không tính quá xa, vì biết rằng mọi thứ nhanh chóng lạc hậu. Nhưng cái gì có thể trường tồn được, thì họ vẫn làm theo kiểu trường tồn. Chính việc sẵn sàng chấp nhận mọi thay đổi chứng tỏ sự tính xa của họ.

Riêng ở ta, phải nói thêm: trong tình trạng kém phát triển của khoa học và công nghệ một số người cũng thích nói tới hiện đại. Nhưng trong phần lớn trường hợp đó là một sự hiện đại học đòi méo mó, nó hiện ra thành cách nghĩ thiển cận và vụ lợi.

Không phải những người tuyên bố "hãy làm đi, đừng nghĩ ngợi gì nhiều" bác bỏ sự nghĩ hoàn toàn. Có điều ở đây, bộ máy suy nghĩ bị đặt trong tình trạng tự phát, người trong cuộc như tự cho phép mình "được đến đâu hay đến đấy" "không cần xem xét và đối chiếu với mục tiêu lâu dài rồi tính toán cho mệt óc, chỉ cần có những giải pháp tạm thời, cốt đạt được những kết quả rõ rệt ai cũng trông thấy là đủ". Bấy nhiêu yếu tố gộp lại làm nên sự hấp dẫn đặc biệt của lối suy nghĩ thiển cận, vụ lợi và người ta cứ tự nhiên mà sa vào đó lúc nào không biết.

Khốn nỗi, chung quanh ta, số người suy nghĩ kiểu ấy không phải là ít.

Là thiển cận những người bán hàng chỉ lo lừa khách lấy một lần "chém thật ngọt" mà không tính chuyện bận sau, người khách ấy có trở lại cửa hàng mình hay không. Là thiển cận, những vị "sếp" cơ quan chỉ lo chạy theo thành tích, không cần biết đến chất lượng công việc, và trong việc dùng người, chỉ thích những nhân viên dưới quyền khéo nịnh, dễ bảo, chứ không thích những người có chính kiến riêng. Từ chuyện một người dân đánh được một con chuột trong nhà liền vứt ngay ra đường cho xe kẹp, người bán rau quả còn dính thuốc sâu cho tới những trí thức đánh mất lòng tự trọng, khao khát chức quyền say mê theo đuổi học hàm học vị và sẵn sàng biến mình thành một thứ thầy cúng ê a nhắc lại những điều cũ rích, hoặc những nhà văn chỉ lo có thêm đầu sách để dọa thiên hạ, ngoài ra, sách in ra có không ai đọc cũng không cần biết... quả thật trong mọi phương diện cuộc sống, trong mọi ngành nghề, đâu đâu cũng có thể gặp những người thiển cận, chỉ đối chiếu công việc với những mục đích rất gần. Căn cứ để họ xác định cách sống chỉ là cái khu vực mà họ đang ngụp lặn, bon chen, chứ không có thế giới bao la và những thế kỷ dài dặc nào hết. Ngay cả khi họ tới đền chùa khấn khứa thì cũng chẳng phải họ đang trong tâm thế hướng thượng hoặc để tâm hồn vào một chốn cao siêu nào cả mà chỉ đơn giản là niềm tin rằng có thể tháng sau sẽ... có lộc! Người có kiến văn hạn chế thì dễ thiển cận đã đành. Nhưng cả những người có trình độ tạm gọi là cao, mà để cho cái lợi che mờ mắt, thì cũng rơi vào thiển cận một cách tự nhiên, và cái gọi là trình độ cao kia lại được sử dụng để bênh vực cho cái lối sống lối nghĩ tầm thường, người ta nhanh chóng rơi vào ngụy biện mà không hay biết!
 Đã in trong Nhân nào quả ấy

Thursday, March 10, 2011

Sự có mặt của những “ngày xưa”!

(TBKTSG) - Cái cảm tưởng ấy đến với tôi sớm nhất là hồi chống Mỹ, khi gần như cả Hà Nội bỏ đô thị để về nông thôn. Chả ai kêu ca gì, thậm chí nhiều người còn tự hào là được trở về với cái gì trong lành hồn nhiên của đời sống ông cha. Nhưng khách quan mà nói, đó là lúc cái nhịp sống chậm chạp tùy tiện của xã hội tiểu nông từ từ quay lại.




Trở lại quá khứ
Chiến tranh làm cho xã hội văng ra khỏi quỹ đạo của lịch sử, và có những khía cạnh trở về cái nếp sống tiền hiện đại, trước khi người Pháp sang. Rồi đến những ngày kinh tế thị trường này, “cuộc trở về” ấy lại tiếp tục, tiếp tục ngay trong cuộc sống đô thị. Mê tín dị đoan tha hồ nảy nở. Chính những thứ mà người dân Hà Nội sau năm 1954 đã bảo nhau từ bỏ thì ngày nay lại được khôi phục đầy đủ. Hôm qua thì bảo phải sống theo khoa học. Hôm nay thì bảo phải trở về với đời sống tâm linh, trở về với cha ông. Và mỗi ngày người ta lại tìm thêm những cái kỳ cục hơn, phiền phức hơn, lạc hậu hơn để buộc nhau làm theo.
Còn đây là chuyện an sinh xã hội. Tuổi Trẻ Online 8-11-2010 đưa tin: Có một nhóm người hành nghề xe ôm ở bến xe miền Tây chuyên dụ dỗ người tỉnh lẻ lên TPHCM tìm việc. Chúng thường trấn lột tiền bạc và đem “bán sống” nạn nhân cho những tay giang hồ làm công không lương. Nông thôn ngày nay cùng ngày 8-11 dẫn một ý kiến phát biểu trong Quốc hội: “Đừng để người dân ra đường là sợ”.
Cách chống lại cái ác bây giờ cũng phảng phất không khí thời Lục Vân Tiên. Người ta gọi họ là các hiệp sĩ trên đường phố - với nghĩa tâm huyết là chính, “kiến ngãi bất vi vô dõng giã” - chứ trong chuyện này không có cơ chế nào của nhà nước làm việc mang tính chuyên nghiệp cả.
Ngoài hai điểm, sự hỗn loạn trong đời sống tinh thần và cuộc sống bạo lực nói ở trên, điểm thứ ba đáng nói là về các mối quan hệ kinh tế.
Cơ quan nào cũng khép kín để trước hết dành riêng cho con em trong nghề. Tiêu chuẩn chuyên môn phiên phiến là được, chỉ cần lo cho nhau có chỗ biên chế.


Gặp lại hình ảnh hôm nay trong lịch sử
Với một số người như tôi, những xuất bản phẩm được ưa thích nhất trong dịp đại lễ Thăng Long không phải là mấy cuốn do các đồng nghiệp đương thời viết ra mà lại là mấy cuốn sách của các tác giả phương xa, tức thuộc dạng cho thấy “người Việt Nam trong mắt người nước ngoài”.
Tôi sung sướng vì mua được hai cuốn vượt trội, một là Tuyển tập tư liệu phương Tây do Nguyễn Thừa Hỷ chủ trì việc tuyển dịch, và hai là Một số tài liệu quý về Hà Nội của các tác giả Pháp do Lưu Đình Tuân sưu tầm và biên dịch.
Thăng Long, thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, qua tư liệu nước ngoài (Chu Xuân Giao chủ biên) về nội dung cũng gần như Tuyển tập tư liệu phương Tây nói trên nhưng không quá đồ sộ, lại có cách sắp xếp tư liệu theo từng chủ đề nên tiện sử dụng. Nhìn vào mục lục sẽ thấy có các mục nói về từng việc ăn ở đi lại của người Hà Nội xưa để rồi, nếu muốn, ta liên hệ với Hà Nội nay.
Chẳng hạn một chỗ giống nhau dễ thấy là thành phố thời nào cũng quá đông, quá lộn xộn. Theo A.de Rhodes, ở đó “mọi người va chạm nhau đến nỗi ai cũng cảm thấy mình bị chen lấn, và bị dừng lại ở tứ phía, và buộc phải mất rất nhiều thời gian mới đi được một quãng ngắn”. S.Baron nói cụ thể hơn, người ta chỉ “lách được 100 bước qua đám đông trong vòng nửa giờ”.
Còn đây là việc duy trì trật tự trên phố xá, dưới con mắt Dampier: “…Ở mỗi phố đều có các lính canh khỏe mạnh đứng gác để giữ yên lặng và ngăn cấm mọi sự mất trật tự. Những người lính canh được vũ trang bằng gậy gộc, đứng trong các điếm canh ở mỗi phố, khám xét người qua lại. Có cả những sợi dây thừng chăng ngang đường phố, cao đến ngực mọi người, cấm không cho ai qua lại, cho đến lúc họ được xét hỏi. Nếu họ liều lĩnh bước qua thì lập tức sẽ bị người lính canh dùng gậy phang mạnh”.
Hẳn người thời nay đọc đến đây sẽ nhớ lại những vụ cướp hoa anh đào, hoặc bê hoa ở chợ hoa bên hồ Hoàn Kiếm về nhà, nhớ những vụ đua xe và chống đua xe mỗi khi có sự kiện lớn thu hút sự chú ý của cả thành phố.
Nhưng việc gì phải nghĩ xa xôi thế! Chỉ cần ra phố cổ một lát, chúng ta sẽ thấy ngay sự hỗn độn và bắt gặp một cái gì như là tinh thần cuộc sống Kẻ Chợ hôm qua vẫn đang âm thầm ngự trị, cũng như có thể đánh giá ngay rằng cái tinh thần ấy đã được những trang sách của người nước ngoài mấy thế kỷ trước gọi ra chính xác đến mức nào!
Mấy trăm năm đã trôi qua, thử hỏi cái tinh thần chi phối cuộc sống Kẻ Chợ lúc ấy với hôm nay có khác nhau là bao?!

Tuesday, March 8, 2011

Tương tự như quấn lốp xe

Ngoài việc thông báo tình hình nắng nóng lũ lụt, các bản tin thời tiết còn hay nói tới nạn cháy rừng.
Với đám dân thành phố chúng tôi những lần chứng kiến các cảnh ấy quả thật thấy buồn. Đã buồn vì rừng bị cháy lại càng buồn vì những chậm trễ trong việc dẹp các đám cháy.


Tôi không biết rõ lắm, nhưng vẫn nhớ là ở các nước công nghiệp, người ta có nhiều phương tiện khá hữu hiệu. Đằng này ở mình thì sao ? Ngao ngán nhất là một lần trên màn ảnh thấy cái cảnh chữa cháy ở Kong Tum. Vòi rồng không có. Nước không có. Mấy ông bảo vệ tay chỉ có cành cây bẻ vội để xông vào với lửa. Thế thì còn kiềm với chế gì nữa !
Có một câu tục ngữ khuyên răn về việc sử dụng công cụ để giải quyết sự cố : “ Đừng dùng dao mổ trâu để cắt tiết gà ”.
Nó rất thích hợp trong nghề văn chương của tôi, nơi người ta hay thi nhau đao to búa lớn trong những cuộc tranh cãi lặt vặt.
Đằng này trong đời sống, tôi cảm thấy một tình hình ngược lại: luôn luôn chúng ta phải dùng dao cắt tiết gà để mổ trâu.
Việc sử dụng những công cụ chữa cháy trên những cánh rừng mênh mông như trên là ví dụ. Và cố nhiên là còn thấy ở nhiều lĩnh vực khác.
_Thứ nhất là câu chuyện ứng phó trước các bệnh dịch, từ cúm gia cầm tới lợn tai xanh. Cơn dịch bùng phát như những cơn bão. Báo chí đưa tin ở huyện nọ heo chết mang trôi sông, cả quãng sông dài ba chục ki lô mét ngập xác lợn. Lúc bấy giờ huyện tỉnh mới biết và phát thông báo có dịch. Còn biện pháp để chạy chữa thì nhỏ giọt.
_Thứ hai là tình hình lạm phát gần đây. Giá cả leo thang. Đến gói xôi bát phở ăn sáng giá cũng tăng, chứ đừng nói những thứ to lớn hơn. Mà cách kiềm chế xem ra cũng đơn sơ lắm.
Theo sự tường thuật của báo Tiếng nói Việt Nam số ra ngày 29-3-05, tại một cuộc hội thảo, một nhà nghiên cứu tài chính cho rằng chúng ta thường chỉ biết giải quyết ở tầm vi mô, như khi cái chăn rách đi vá từng lỗ thủng một, chứ chưa tính được xa hơn.
Nói chung chỉ thấy những cam kết duy ý chí, những quyết định hành chính, chứ các nhận thức ở tầm vĩ mô và các công cụ quan trọng kèm theo, thì chưa khởi động.
Bảo chẳng khác gì bẻ cây dập lửa cháy rừng, hoặc dùng dao cắt tiết gà để mổ trâu, e cũng không phải quá.
Khi bàn về cái sự kiềm chế lạm phát này, cũng ông tiến sĩ tài chính nói ở trên còn đưa ra một hình ảnh thú vị khác. Ông bảo cái cách ta xử lý nền kinh tế hiện nay là kiểu “ quấn lốp xe đạp “.
Chuyện này bây giờ các bạn trẻ ít người biết và đám người tuổi từ sáu mươi trở lên may ra mới nhớ, vậy tôi xin phép nhắc lại.
Hồi chiến tranh ngay ở Hà Nội chứ đừng nói nông thôn hay tỉnh lẻ, cái gì cũng thiếu. Ví dụ như bút bi, ngay dân viết lách chúng tôi cũng dùng theo định mức, sau khi dùng hết một lượt ruột, chúng tôi phải nộp cơ quan cái ruột rỗng, thì mới được nhận ruột mới.
Nếu dùng quá tốn, vượt mức cơ quan cung cấp thì phải ra phố bơm lấy. Có nhiều cửa hàng chuyên bơm mực như vậy.
Hoặc như cái chuyện lốp xe. Phương tiện đi lại hồi ấy chủ yếu là xe đạp, mà săm lốp rất khó kiếm. Lốp phân phối về cơ quan. Vài chục người mới được một chiếc. Công đoàn đứng ra tổ chức bình bầu hoặc rút thăm.
Khốn nỗi có phải lốp Sao Vàng lúc ấy cái nào cũng tốt như cái nào đâu. Nhận lốp về có thấy cái cong cái vênh cũng bấm bụng chịu.
Thế còn khi lốp xe quá hỏng, mà không được bình bầu, thì làm thế nào? Có hai cách. Một là ra các cửa hàng chữa xe đạp, nhờ các bác ấy đắp lại. Hai là – trong những lúc vội và chưa có tiền -- nhiều người phải có lối dùng những sợi dây cao su quấn chung quanh.
Lốp được đắp lại cố nhiên khá hơn. Còn quấn tạm thì khổ lắm.
Đi trên đường phẳng mà xe cứ giật giật như trên đường mấp mô. Tốc độ chậm một cách khó chịu.
Nhưng thôi quấn lại lốp đi tạm còn hơn lẽo đẽo đi bộ, -- không phải một người mà hầu như tất cả dân cán bộ èng èng cấp thấp ở Hà Nội lúc ấy đều tự nhủ như vậy.
Bây giờ bạn đọc hẳn đã có cách đánh giá của mình với cái hình ảnh mà vị chuyên gia tài chính kia đưa ra và từ đó hình dung cái khó của chúng ta trong việc chống lạm phát trên bề rộng.
Nói mãi chuyện buồn tôi muốn tiếp tục câu chuyện bằng một chi tiết vui vui, liên quan đến cháy rừng.
Lần ấy, một xã của huyện Tương Dương Nghệ An có rừng bị cháy. Xã mãi mới biết, và tổ chức cứu hộ cũng quá chậm. Huyện thì chỉ lo tin loang ra mang tiếng, dặn kỹ là đừng làm to chuyện.
Bốn ngày mới dập tắt. 130 héc – ta rừng bị mất đứt. Cụ già có lỗi ngồi hối hận. Đám thanh niên thì chỉ bàn nhau có đôi rắn chạy ra đường, chắc đã thành những cặp thịt chín vàng, giúp cho đám bợm rượu thêm khoái khẩu khi đánh chén.


Đã in Người đại biểu nhân dân  30-7 -07      

Thursday, March 3, 2011

Nhật ký 2011( tuần VII--VIII)

13-2

   Nhiều năm nay, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp được coi là đầu vị của các số báo tết. Năm nay thì không.
    Trước rằm tháng giêng, cùng với một độc giả SG vốn ngưỡng mộ Thiệp từ xa,  tôi đến thăm tác giả của Thương nhớ đồng quê, những mong chia sẻ cái cảm giác của người không đồng hành với cuộc sống văn học hôm nay, nhưng lại vĩnh viễn là người của cái thời đại lớn chưa biết bao giờ kết thúc này.
    Đến nay vẫn không ai vượt nổi Thiệp trong việc viết về con người VN cũng như nói chung là tình trạng phi nhân văn bi thảm của đất nước sau chiến tranh. Tôi nghĩ sức hút của Thiệp với độc giả nước ngoài là ở chỗ ấy.   



Nguyễn huy Thiệp&V-T-N
   Thiệp lại còn biết đặt cái hiện tại vào chiều sâu của thời gian, đặt cái sự vừa chết lặng vừa nhốn nháo hôm nay trong mòn mỏi của miền quê Bắc bộ nhiều đời ly loạn.
      Vào những ngày này, tin tức trên báo thấy đưa nhiều về các dạng cướp bóc. Tôi thường vừa đọc tin vừa mang máng nhớ lại những trang truyện Nguyễn Huy Thiệp, ở đó chất thơ của cuộc đời len lỏi như được gạn lọc từ cuộc sống đầy bạo lực trong quá khứ.
     Người bạn vừa từ SG ra nói rằng sao nhìn mặt đàn ông Hà Nội người nào cũng ác, đàn bà thì đầy khao khát và cả một thoáng dâm đãng. Tôi không tìm cách bác ngay được. Chỉ nghĩ lại gặp một nạn nhân nữa của Nguyễn Huy Thiệp rồi. Thiệp đã in dấu vào cách nghĩ của nhiều người. 


14-2
TẾT & RÁC
    Phần lớn các bài báo nói về Tết và lễ hội, đều có nói qua tới rác. Báo Tiền phong khái quát hơn, chụp nhiều ảnh để minh họa ngoại thành Hà Nội với bộn bề ngổn ngang những đống rác lớn.
      Nhìn những tấm ảnh, điều thấy gợn lên rõ nhất lại là thái độ thản nhiên của con người khi ném rác. Họ ghê sợ cái thứ họ và gia đình họ vừa thải ra đó, và sung sướng rằng mình thoát được nó. Hết nợ! Còn sống chết mặc bay, từ nay rác đã là của ai chứ không phải là của mình, bao nhiêu bẩn thỉu hôi thối phá hoại môi trường đã có thiên hạ cùng chịu.
     Cái gọi là ý thức của con người hiện nay được khơi gợi chỉ là không vứt rác bừa bãi mà phải” vứt vào nơi quy định”.
     Nhưng tôi tưởng nó còn bao hàm cả cái quan niệm về trách nhiệm của mình và thái độ khi xả rác mà tôi vừa ghi nhận.
     Xa hơn nữa, thử nghĩ lại cái chính là ở đâu?  Chúng ta có một cách sống vụng về luộm thuộm thô thiển, làm được một ít đồ tinh thì tốn không biết bao nhiêu đồ thải, tức sản xuất ra quá nhiều chất độn, bã, rác, để chúng quay lại đầu độc môi trường và chính ta.Trình độ trung cổ hôm qua cộng với những thói quen tiêu dùng hiện đại hôm nay hùa nhau lại làm cho con người quen với việc ngập giữa các loại rác rưởi và chỉ lo đối phó vặt.


18-2
NGƯỜI TẦU CÓ MẶT
     Tiếp tục cái ý lễ hội là đời sống thu nhỏ, tôi đọc được trên mạng một phát hiện: lễ hội đang có  dấu ấn Trung Hoa. Và dấu ấn  này  có mặt khăp nơi.
    Giờ đây ở những lễ hội người ta treo rất nhiều đèn lồng và dựng những đôi nghê - biểu tượng văn hóa phương Bắc mà gần như quên mất lá cờ Phướn và con chó đá canh đền của dân tộc Việt từ ngàn đời nay.
    Trên các sạp hàng quà tặng phục vụ khách thập phương tràn ngập các biểu tượng văn hóa nước ngoài: con Tỳ Hưu thu hút tài, lộc; tượng Quan Vân Trường múa trượng, Khổng Tử đọc sách, Gia Cát Lượng phe phẩy quạt nghĩ mưu... hay các đồ phong thủy...Vì lý do gì mà chúng ta chưa làm quà lưu niệm trên hình mẫu Hai Bà Trưng, Đức Thánh Trần, Lý Thường Kiệt... hay những biểu tượng văn hóa Việt Nam phong phú khác ?
      Phải chăng các nhà đầu tư của chúng ta có xu hướng làm những việc lớn hơn như xây chùa lớn nhất, ngọc Phật lớn nhất mà bỏ qua việc nhỏ như đồ lưu niệm?
       Sự nô dịch văn hóa thường bắt đầu từ cuộc xâm lăng của những tên lính tiền trạm - đó là các biểu tượng văn hóa, rất cụ thể và đời thường, nó lan tỏa từ từ, không rầm rộ nhưng bền bỉ và quyết liệt.
    Chẳng cứ lễ hội, nhìn kỹ thì cái gì của chúng ta chẳng mang dấu ấn người Tầu. Tách ra là chuyện khó. Gỡ ra cho thoát còn gì là thân. Mà cái khao khát được tách lại không bao giờ nguôi ngoai cả, thế mới khổ!
Tự hiểu mình hơn qua lễ hội

17/02/2011 10:17' AM

Ai đọc cổ tích Tấm Cám hẳn nhớ chi tiết mẹ con Cám ghét Tấm, ghen tị với Tấm muốn hành hạ Tấm. Biết Tấm thích đi hội làng, mẹ Cám trộn thóc lẫn với gạo bắt Tấm chọn xong mới được đi. Chi tiết đã quá quen thuộc nhưng chỉ hôm nay tôi mới hiểu. Sức lôi cuốn của lễ hội thật dai dẳng. Có một ma lực nào đó cứ lôi cuốn tôi mặc dù lý trí đã bảo tôi rằng không nên đi tìm ảo ảnh. Mỗi năm mỗi có thêm những lễ hội tổ chức kém, luộm thuộm cẩu thả, nó là tình trạng chung của các hoạt động công cộng hiện nay...


19-12
VĂN CHƯƠNG & LẼ HỘI
     Giá kể có thời gian, nên tìm xem lễ hội được nhắc tới như thế nào trong văn học tiền chiến.
     Lúc này đây, chỉ mới nhớ được Nguyễn Bính.



Đường vào chùa Hương


Chùa Hương xa lắm em ơi
 Đò giang cách trở chịu thôi cô mình
 Câu này anh nói thực tình
  Có đi thì phải cho anh mượn tiền
 Chùa Hương ví độ đường liền
 Anh xin điểm chỉ cả nghìn ngón tay
Để dành tấm áo mẹ may
 Để dành em ạ tới ngày đôi ta...
Về việc bẻ hoa lễ hội Tết Dương lịch

02/01/2009 01:17' PM

Điều này đã từng diễn ra ở Lễ hội Hoa anh đào tháng 4 Hà Nội cùng năm. Những người có văn hóa như bị nghẹn lại, bàng hoàng mà chỉ có thể tức giận run lên trong ý nghĩ:


 
Trong một số TT&VH gần đây, một nhà nghiên cứu nói tới sự bành trướng của tiểu thuyết ba xu.Thời tiền chiến cũng có một dòng như thế. Còn thơ Nguyễn Bính nói ở đây nói nôm na là thơ tán gái. Trước khi lưu truyền, bài thơ  có một địa chỉ cụ thể của nó.


   Tinh thần văn hóa HN hôm nay,  tôi ngờ là cái tinh thần của đám dân buôn bán thời tiền chiến phố cổ và sau này là Hà Nội vùng tạm chiếm. Một tí kinh doanh. Một tí mê tín. Một tí học đòi Tây Tầu. Và một tí lưu luyến những ảnh hình nông thôn chân quê mơ mộng.Lễ, Hội, và Tết

16/02/2007 07:53' PM

Lễ – Hội – Tết lấy tự nhiên, vũ trụ làm trục dọc, và nhân sinh làm trục ngang, hòa hợp cả với trời đất và con người. Và đương nhiên, trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, nhất là cuộc sống hiện đại ngày nay, có những lễ-hội-tết bị làm cho phai mờ đi, và cũng có những lễ-hội-tết được làm cho đậm nét hơn...
Nguyễn Bính sống một phần với đám độc giả đó.


20-2
 VĂN NGHỆ & ĐỜI SỐNG

     Nhân chuyện lạm phát,  thử ghi lại một lối chơi chữ không thuần thục tự nhiên lắm, nhưng vẫn là một cách nói buộc người ta phải chú ý:
       Giá như giá cả phá giá, mà có người phải trả giá, thì chắc chắn cái giá phải trả sẽ rất đáng giá, nếu không sẽ chẳng bao giờ có chuyện xuống giá, kết quả tất yếu là mất giá.


Trung Quốc của George Orwell?

    “ Giả thuyết tại Bắc Kinh là chính quyền cần can thiệp một cách chủ động hơn nữa để đối phó với nạn bất công. Nhưng vấn đề thật sự ở đây là các quan chức chính quyền đang có một vai trò thống trị quá lớn trong việc chỉ định kẻ thắng và người thua trong bất cứ khía cạnh nào của cuộc sống. Việc thiếu trách nhiệm, cùng với thói quen cố hữu là bênh vực gia đình và bạn bè, đã làm lớn thêm cái vòng tuần hoàn ác nghiệt, trong đó quyền thế tạo ra tiền bạc và tiền bạc mua được ảnh hưởng. Theo một thăm dò mới đây của YouGov và Học viện Legatum ở London, 93% doanh nhân Trung Quốc xem mối quan hệ với quan chức chính quyền như là yếu tố quan yếu cho sự thành công của doanh nghiệp.
      Trung Quốc ngày nay cũng giống như Trại Súc Vật của George Orwell, một số súc vật thì bình đẳng hơn những súc vật khác.”      
      Tôi chép lại đoạn này từ một bản tin để xác nhận cho mình một lần nữa rằng có lúc văn chương báo trước sự xuất hiện của các hiện tượng đời sống và có thể dùng các tình tiết trong văn chương để miêu tả đời sống.


CỦA NGƯỜI PHÚC TA
       Không phải người dân không biết là họ hư hỏng, họ đối với nhau tệ bạc, buôn bán theo lối bắt chẹt nhau.
        Nên khi nào muốn chứng tỏ được mình tử tế rộng rãi, người ta chộp ngay lấy, vênh vang vì nó, ra cái điều  mình vẫn sống “có trời có phật” cả đấy.
      Hàng ngày đi chợ, tôi nhận thấy các bà bán hàng ở Hà Nội tỏ vẻ xởi lởi hẳn lên khi cung cấp cho bọn tôi mấy cái túi ny lông.
       Có gì đâu, giá túi rất rẻ, và như vậy chỉ cần một chút chi phí nhỏ mà có ngay cái tiếng tốt. Còn như cái chuyện túi làm hỏng môi trường, người ta không cần biết. Nói cách khác, người ta lấy tài sản nhà nước để chi cho nhau thoải mái. Bảo là của người phúc ta là vậy.
        Nhiều ông cán bộ nhà nước bây giờ cũng thế. Cứ mang đại của nhà nước đi bố thí.


25-2
SỰ CÓ MẶT CỦA CÁC  NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
    Đang trong những ngày chuẩn bị bầu cử Quốc hội. Một vấn đề được nêu là không nên để các nhà hành pháp có mặt qúa nhiều trong cơ quan lập pháp. Trên Tuần VN 23-2, có bài Chủ tịch tỉnh không nên làm Đại biểu Quốc hội, sau đổi là Vừa đá bóng vừa thổi còi. Thấy toát ra một ý chính: phải có các nhà lập pháp để giám sát hoạt động của chính quyền.
      Trong một lần lang thang trong phòng sách Thư viện Khoa học xã hội, tôi tìm thấy cuốn Chế ước quyền lực nhà nước của Nguyễn Đăng Dung do Nhà xuất bản Đà Nẵng cho in 2008.
 Cả phần đầu cuốn sách được viết  với hai ý :
   - Một là sự cần thiết của nhà nước. Nói như Thomas Hobbes trong cuốn Leviathan,  cuộc sống mà không có nhà nước hiệu lực để duy trì trật tự  thì sẽ rất đơn độc, nghèo nàn, đồi bại,  tàn bạo và ngắn ngủi.
   - Hai là khi đã có quyền lực rồi thì sự lạm dụng quyền lực lại rất dễ dàng xảy ra. Bởi vậy phải có sự chế ước.
     Ở trang 55 cuốn sách, tôi đọc được một đoạn dẫn lại ý của Thomas Madison, người thường được mệnh danh là cha đẻ của Hiến pháp Hoa Kỳ, như sau:
      Bản thân chính quyền là gì nếu không phải là sự phản ánh rộng lớn nhất trong mọi phản ánh về bản chất con người.
     Nếu con người là những thiên thần thì sẽ không cần thiết phải có chính quyền.
     Nếu các thiên thần đóng vái trò cai quản thì sẽ không cần phải có sự kiểm soát với chính quyền dù từ bên ngoài hay bên trong.
     Trong việc tạo khuôn khổ cho một chính quyền do con người quản lý con người, điều khó khăn nhất là ở chỗ: trước hết, chính quyền phải có khả năng kiểm soát những người bị quản lý; kế tiếp, chính quyền phải có khả năng tự kiểm soát mình “.    
         Tác giả tập sách là một giáo sư khoa luật.
      Trong lúc những quyển tiểu thuyết xoàng xĩnh cũng được báo chí lăng xê thì những công trình nghiên cứu khoa học có thể trực tiếp tham gia vào các vấn đề đời sống như thế này chỉ được in ở một nhà xuất bản địa phương và gần như không hề được nhắc nhở trên mạng.


27-2
THỜI TA GIỐNG NHƯ THỜI NÀO TRONG QUÁ KHỨ?
Một cách tự phát mà xem ra rất hợp quy luật, các tài liệu lịch sử chính thống thường viết thời ta giống thời các vua Trần đánh quân Nguyên, thời Lê Thánh Tông xây nền thịnh trị, thời Tây Sơn mở đầu cho việc thu giang sơn về một mối. Nhiều người dân thường cũng nghĩ thế.
Tôi thì lại cho rằng thời ta giống với thế kỷ thời vua Lê chúa Trịnh các thế kỷ XVII XVIII hơn cả.  Đọc lại Đào Duy Anh, thấy phần này được ông viết rất kỹ. Hiện lên trên các trang sách là một xã hội phân liệt, các nhà nước Đàng Trong Đàng Ngoài đều quân sự hóa cao độ, sau này có làm kinh tế, mở ngoại thương giao thiệp gì với nước ngoài thì cũng theo tư duy của các người làm quân sự đó mà tiến hành.
  Ở cuối chương XXXV sách  Lịch sử VN từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX  Đào Duy Anh còn “ bỏ nhỏ” một nhận xét: “đây là thời thống nhất bị phá và biên cương bị lấn”
  Gần đây hơn, các tài liệu mà các giáo sĩ và thương nhân vào VN  thời kỳ này viết lại và vừa dược dịch in khá đầy đủ trong bộ sách Ngàn năm Văn hiến cho biết thêm:
Đây là thời mà người phương Tây vào VN nhiều hơn hết và họ đi khắp các xó xỉnh, tiếp kiến với đủ loại từ các quan chức hạng thấp cho tới tận các vị chúa. Nhờ thế con người VN xã hội VN nhìn dưới nhãn quan phương Tây có dịp hiện ra đầy đủ.
Các chúa Trịnh --tính ra đến chín đời tiếp nối—đã sáng tạo ra một hình thức chuyên chế đặc biệt kiểu VN. Chuyên chế bằng cách không đảm nhận vai trò người đứng đầu. Mà nhường cho vua Lê danh nghĩa thiên tử. Nhờ thế càng tự do hành động hơn.
Các giáo sĩ còn cho biết dòng họ Trịnh có nhiều người điên và người cuối cùng là Trịnh Bồng thì bỏ đi tu. 


  QUAY CUỒNG ĐI TÌM BẢN SẮC
 Cái cây đang thẳng đem uốn cho cong đi, hòn đá phẳng đem đẽo gọt cho hốc hác ra …những đồ đạc làm hợp khuôn phép thì biến đổi cho lệch lạc đi, xống áo dùng đã có phép tắc thì cải biến thêm bớt. Tất cả lễ tiết về giao tiếp thù tạc ăn uống cư xử đều bị sửa lại, mỗi ngày mỗi khác đua nhau chuộng lạ. Nếu có người nào không chịu thay đổi  thì lại hùa nhau chê cười.


     Trên đây là một nhận xét Phạm Đình Hổ viết trong Vũ trung tùy bút về văn hóa Kẻ Chợ thế kỷ XVIII. Nó nói với ta về một tình trạng có thực trong thời con người đang đi tìm mình. Trong quá trình này, không thể thiếu vai trò của việc tiếp nhận văn hóa nước ngoài. Nó là cần thiết. Nhưng chúng ta lại không biết làm. Trong khi nhận ra sự kém cỏi của bản địa và ngợp trước các thứ hương xa hoa lạ, đồng thời một tâm lý quay cuồng về bản sắc thức dậy trong con người, như một phương thức tự vệ. Cái còn lại là kỳ dị và bất lực.