(Nghệ thuật quảng cáo sách xưa và nay)
Với tất cả cái thân tình và sự sắc sảo phải có, một khách nước ngoài đã vui vẻ nhận xét về một số khách sạn ở ta: “Bây giờ những người ở đây rất muốn làm vừa lòng khách. Có điều, làm thế nào để khách vừa lòng thì họ không biết. Nhưng đấy không phải là cái trớ trêu độc quyền của ngành du lịch. Phải nói là tình trạng trớ trêu ấy ngự trị trong cả loạt khu vực hoạt động khác. Nhiều việc ta đã từng làm, song có một dạo coi là việc không đáng làm nên bỏ hẳn. Nay tính chuyện làm lại, nhưng hình như đã quên hết cả cách làm. Cứ lúng túng như thợ vụng mất kim, không sao xoay sở nổi để làm... cho coi được một chút.
Ví dụ như chuyện quảng cáo sách, ở đây chỉ nói riêng về quảng cáo cho các tác phẩm văn học. Suốt mấy chục năm (từ 1986 về trước), việc làm sách được bao cấp, xã hội luôn luôn đói sách nên không ai nghĩ tới chuyện quảng cáo cho sách làm gì. Thỉnh thoảng lắm, các nhà xuất bản mới cho in trên một vài tờ báo danh sách những sách mới. Sách mới của nhà xuất bản X... Sách mới của nhà xuất bản Y... Vậy mà người ta đã coi là đủ lắm rồi. Cũng chẳng cần thông báo chi cả, mà vẫn ùn ùn người đến xếp hàng cửa sau, chờ ký duyệt giấy giới thiệu để xin mua, thì việc gì phải lo quảng cáo cho thêm rách việc!
Khi không cần quảng cáo, không muốn quảng cáo, người ta cũng có ngay những lý do để chê bai nó. Rằng nó làm hại tới mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc. Rằng nó là công việc của những anh kiểu Xuân-tóc-đỏ, nói phét ăn tiền. Rằng nó gần như là bịp bợm. Mà bịp bợm thì... là chuyện dễ ợt, lúc nào làm chẳng kịp!
Những nhận xét ấy cũng có cái lý của nó. Trong cơ chế thị trường, quảng cáo nhiều khi tung hoành quá đáng khiến cho thật giả lẫn lộn, hay dở không phân biệt nổi. Những lời lẽ huênh hoang ở đây không bao giờ thiếu, muốn lấy bao nhiêu ví dụ cũng được. Có điều, không phải tất cả quảng cáo xưa nay là như vậy. Do chỗ dễ dàng bị tai tiếng, nên công việc này thật ra lại có vẻ nghiêm túc cao sang riêng cho nó! May thay là từ đầu thế kỷ này, nhiều nhà xuất bản ở ta đã tung ra những quảng cáo đáng được chúng ta khâm phục. Được đăng rải rác trên những Phong Hoá, Ngày Nay, Thanh Nghị, Tri Tân, Trung Bắc chủ nhật..., những quảng cáo dưới đây có liên quan đến những tác phẩm mà ngày nay, chúng ta còn đang in lại, đang thích đọc, nên có thể nói những quảng cáo này đã được thời gian kiểm nghiệm.
- Quảng cáo Giấc mộng con I và II của Tản Đà: “Một thiên tiểu thuyết rất diễm lệ... Tả hai giấc chiêm bao chơi khắp thế giới, lên đến cả thiên đường. Rồi nhiều công phu khảo cứu, rất nhiều điển cố văn chương. Lời văn đẹp đẽ du dương như cung đàn nhịp phách”.
- Quảng cáo Hương cố nhân: “Tập thơ hay nhất của Nguyễn Bính. Mối tình cao quý giữa hai nhà thơ nổi tiếng hiện thời”.
- Quảng cáo “Ngõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp: “Một thế giới luộm thuộm nheo nhóc ồn ào kỳ dị, với bao tấn kịch, hoặc vô cùng bi ai, hoặc hào hùng quyết liệt”.
- Quảng cáo Nửa đêm: “ Nam Cao là một nhà văn chuyên tả phong tục thôn quê Việt Nam với một ngòi bút danh thép. Nếu các bạn muốn hiểu người dân quê Việt Nam một cách sâu sắc, nếu các bạn muốn có những kiến thức rất thực về thôn quê Việt Nam, nói tóm lại nếu các bạn muốn hiểu đồng bào một cách chu đáo, các bạn đều nên có cuốn Nửa đêm của Nam Cao.”
Quảng cáo Quê người của Tô Hoài: “Dưới ngòi bút tác giả, tất cả cái xã hội lố lỉnh đáng thương ở nơi bờ tre đồng lúa được phác hoạ rất tinh tế, cặn kẽ”.
- Quảng cáo Tuỳ bút: “Đã đọc Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, ta nên đọc cuốn Tuỳ bút của ông để ta cũng biết sống một cách chăm chỉ, có thi vị, thấy cái đẹp ở khắp các việc, người và cảnh ở chung quanh ta” v.v... và v.v....
Những ai muốn ghét bỏ quảng cáo, đọc một số đoạn “văn bia” nói trên, chắc đã mang máng cảm thấy không nên thành kiến, vì thành kiến là vô lý. Trong đa số trường hợp (với Nửa đêm, Ngõ hẻm, Quê người...), quảng cáo đã làm được công việc tối thiểu là tóm tắt chính xác nội dung và phần nào phác hoạ cho thấy các yếu tố làm nên phong cách ngòi bút đã viết nên quyển sách. Nếu mấy câu viết về Hương cố nhân của Nguyễn Bính nên được coi là một thứ tài liệu văn học sử, thì những dòng quảng cáo cho Tuỳ bút thật đã chỉ ra được cốt cách Nguyễn Tuân, nó là hiệu quả mà giờ đây, phải nhiều bài phê bình dài dài mới làm nổi. Từ khoảng 1987 tới nay, sách ra càng nhiều, yêu cầu cạnh tranh càng lớn, thì người ta càng hay nghĩ tới quảng cáo. Tội tổ tông truyền của quảng cáo đã được xoá bỏ, không ai bĩu môi chê bai quảng cáo nữa.
Nhưng làm thế nào để quảng cáo thì không phải dễ. Bằng chứng là tất cả những cuốn sách được thừa nhận là nhỉnh hơn cả trong mấy năm gần đây chưa có cuốn nào ra đời với một lời quảng cáo thật đích đáng. Trên các phương tiện truyền thông, thỉnh thoảng người ta có nghe nhắc tới cuốn sách này cuốn sách khác, thì trong đa số trường hợp là liên quan đến sách thương mại, lời rao hàng đặc giọng chợ búa, nên khó lòng nói là những quảng cáo nghiêm chỉnh. Một lời quảng cáo trên báo thường dễ bị người ta kiểm tra lại (có phải vì thế mà những lời rao hàng lộ liễu không mấy khi thấy xuất hiện trên mặt báo chăng?). Nhưng chính bởi vậy báo chí vẫn là địa bàn rộng rãi để những người yêu văn học và giỏi quảng cáo thi thố tài năng. Nếu bạn là một người còn “nghiền” sự đọc sách, tôi cầu chúa cho bạn có được một tờ báo tin cậy, ở đó, mỗi cuốn sách quan trọng (cả sách trong nước lẫn sách dịch) đều được báo nhắc tới trong vài dòng quảng cáo được viết công phu. Đó vẫn chỉ là những nhận xét ngắn gọn, nhưng về sau bạn thường phải nhớ lại vì nó đã tìm ra những lời lẽ xác đáng để nói về quyển sách mà bạn đã đọc. Những lời rao hàng sáng giá ấy, tự chúng đã là những người môi giới đầu tiên. Và là một bộ phận của công việc xuất bản trong mỗi thời đại.
Trong chuyện cũ văn chương
Friday, February 26, 2010
Wednesday, February 24, 2010
Thơ viết để đọc chớ không để nói
Phỏng vấn 23/02/2010
Giới văn học hiện nay quá tự tin, quá cuồng nhiệt, họ hăng hái quá, thơ không còn là thơ nữa. Và chính lễ hội hóa các hoạt động văn hóa làm hỏng tất cả.
Tôi chủ trương thơ là sự tiếp nhận đơn độc. Dù thế giới có hướng thơ diễn đàn, thơ quảng trường để đọc cho công chúng nhưng theo tôi đây không phải là hướng lớn, không thể phát triển lâu bền, còn Việt Nam xu hướng này hiện quá phát triển. Có lẽ nên chấp nhận xu hướng thơ quảng trường nhưng cũng nên chấp nhận có người từ chối xu hướng thơ này.
Theo tâm lý học đám đông thì trong đám đông cá nhân bị đánh mất mình, cuốn theo xu hướng chung. Tôi quan niệm thơ là chỗ trở về với chính tâm tình người ta, những điều người ta chưa biết, là chỗ đến với cảm xúc cá nhân con người. Tôi không tán thành thơ lễ hội. Đó cũng là lý do tôi rất ngán thơ đương thời hay như các bác lớn đi nói chuyện thơ…, tôi quan niệm viết thì để cho người ta đọc chứ không cần phải nói. Tôi chỉ đọc thơ trên mặt giấy, khi nghe người khác đọc không khí thơ bị cuốn đi, hay hay dở khó phân biệt. Nhiều người đến ngày thơ để đến xem người ngâm đọc chứ không phải đến vì thơ. Chính không khí đám đông làm lập lờ đánh lận con đen, nếu người ngâm thơ hay thì bài dở cũng thành bài hay.
Các bạn trẻ quan niệm thơ như uống rượu. Có bạn vừa khoe “Tôi làm bài thơ này trong lúc tưng tửng”. Khi nói như vậy, nhà thơ ấy nghĩ bài thơ chắc đặc biệt lắm nhưng đó có thể là bài thơ chẳng hay ho gì. Hoàn cảnh không làm bài thơ có giá trị, người tư duy sâu sắc thì bài thơ mới có giá trị. Thơ ca hiện nay quá đề cao bột phát, ngẫu hứng, thiếu tìm tòi về kỹ thuật. Các nhà thơ để tâm, để thời gian làm thơ thì ít mà để tâm đến quảng bá, bán thơ nhiều hơn. Thơ hay tự thân nó sẽ đến với người đọc thôi! Nhiều khi cái mọi người thấy hay thật ra không hay đâu!
QUỲNH TRANG ghi
pháp luật
Giới văn học hiện nay quá tự tin, quá cuồng nhiệt, họ hăng hái quá, thơ không còn là thơ nữa. Và chính lễ hội hóa các hoạt động văn hóa làm hỏng tất cả.
Tôi chủ trương thơ là sự tiếp nhận đơn độc. Dù thế giới có hướng thơ diễn đàn, thơ quảng trường để đọc cho công chúng nhưng theo tôi đây không phải là hướng lớn, không thể phát triển lâu bền, còn Việt Nam xu hướng này hiện quá phát triển. Có lẽ nên chấp nhận xu hướng thơ quảng trường nhưng cũng nên chấp nhận có người từ chối xu hướng thơ này.
Theo tâm lý học đám đông thì trong đám đông cá nhân bị đánh mất mình, cuốn theo xu hướng chung. Tôi quan niệm thơ là chỗ trở về với chính tâm tình người ta, những điều người ta chưa biết, là chỗ đến với cảm xúc cá nhân con người. Tôi không tán thành thơ lễ hội. Đó cũng là lý do tôi rất ngán thơ đương thời hay như các bác lớn đi nói chuyện thơ…, tôi quan niệm viết thì để cho người ta đọc chứ không cần phải nói. Tôi chỉ đọc thơ trên mặt giấy, khi nghe người khác đọc không khí thơ bị cuốn đi, hay hay dở khó phân biệt. Nhiều người đến ngày thơ để đến xem người ngâm đọc chứ không phải đến vì thơ. Chính không khí đám đông làm lập lờ đánh lận con đen, nếu người ngâm thơ hay thì bài dở cũng thành bài hay.
Các bạn trẻ quan niệm thơ như uống rượu. Có bạn vừa khoe “Tôi làm bài thơ này trong lúc tưng tửng”. Khi nói như vậy, nhà thơ ấy nghĩ bài thơ chắc đặc biệt lắm nhưng đó có thể là bài thơ chẳng hay ho gì. Hoàn cảnh không làm bài thơ có giá trị, người tư duy sâu sắc thì bài thơ mới có giá trị. Thơ ca hiện nay quá đề cao bột phát, ngẫu hứng, thiếu tìm tòi về kỹ thuật. Các nhà thơ để tâm, để thời gian làm thơ thì ít mà để tâm đến quảng bá, bán thơ nhiều hơn. Thơ hay tự thân nó sẽ đến với người đọc thôi! Nhiều khi cái mọi người thấy hay thật ra không hay đâu!
QUỲNH TRANG ghi
pháp luật
Thursday, February 18, 2010
Chuyện lan man từ những chiếc xe máy
18/2/2010
Chùm bài Tết Canh Dần (2)
Có những lúc trong đầu óc người ta nẩy sinh ra một
vài ý nghĩ chính mình cũng không ngờ, lại thấy như là
kỳ cục, không hiểu sao nó lại tìm tới mình để rồi
mọc rễ trong đầu, muốn gạt đi cũng không nổi. Thuộc
loại cái “ý nghĩ khi khỉ” đó – chữ của Nguyễn Công
Hoan – xuất hiện nơi đầu óc tôi ngay trong những năm
chiến tranh là một chút khó chịu với chiếc xe đạp.
Hồi đó Hà Nội nghèo lắm, nhìn ra đường chỉ thấy xe
đạp, và cái món tự hành xa này lúc đó cũng còn
ít, mỗi con phố hẹp Hà Nội lưa thưa vài chiếc.
Với một thanh niên mới vào đời như một số bạn bè
tôi lúc đó, việc mua được một chiếc xe là một sự
kiện lớn. Tôi như biết bay trong con ngựa sắt của mình.
Vậy
mà đôi lúc, tự nhiên thấy nó kỳ cục, ý tưởng sao mà
lạ vậy …
Cho đến
lần tôi được đọc truyện ngắn Người trong bao
của nhà văn Nga A.Tchekhov. Trong truyện có cái cảnh hai người
giáo viên, một nam một nữ, mặt đỏ gay, cưỡi xe đạp
phóng qua một ngọn đồi vùng quê, lại còn trò chuyện
với nhau ầm ỹ. Trong con mắt nhân vật chính Belikov, cái
cảnh ấy kỳ quái tới mức không thể tưởng tượng nổi.
Hắn bảo với một người khác:” Cái gì lạ thế?
Hay là tôi lóa mắt? Chẳng lẽ giáo viên trung học và đàn
bà con gái lại có thể cưỡi xe đạp sao tiện? “
À
ra thế, không phải riêng mình mà hóa ra nhiều người đã
thấy buồn cười khi nhìn vào một xã hội mỗi người
nhông nhông một chiếc xe đạp, tôi tự nhủ. Chẳng qua
không còn có cách nào nên đành chịu vậy!
Thì
bây giờ lại đến xe gắn máy !
Vài
chục năm gần đây, cái phương tiện này đã dính vào con
người xứ mình. Sự có mặt của nó gây nên một khí hậu
sống. Có lúc tôi muốn gọi nước mình là “xe máy quốc
“.
Nhìn vào nhiều gia đình Hà Nội thấy nó chình ình ngay
đầu giường. Mở mắt ra là thấy có tiếng xe rú ga trong
ngõ. Mỗi buổi sớm có dịp nhìn lên cầu Chương Dương,
tôi phát ngán vì lớp lớp xe ken đặc và khói xả khét
lẹt.
Và đáng sợ nhất là những nét mặt người
ngồi xe, người nào mặt mũi cũng hằm hằm khó chịu, con
mắt chăm chăm tìm chỗ hở để luồn lách đi tới.
Nhiều lần chứng kiến một đám thanh niên châu đầu xe
máy tán chuyện giữa đường, tôi cảm thấy như các chiến
binh thời xưa mỗi người một ngựa sẵn sàng ra roi phi
thẳng vào vùng chiến địa.
-- Ngồi lên xe tự nhiên là cái ngông nghênh trong
con người mình nổi dậy, muốn vượt lên thật nhanh, muốn
cả thiên hạ phải nhìn theo khâm phục. Khoái lắm chứ
!
Một thanh niên đã giải thích cho tôi như vậy. Nó là tâm
sự của cả mấy thế hệ từ chỗ chỉ có cái xe đạp
kẽo kẹt, nay có trong tay một phương tiện cơ giới sản
xuất từ các nước phát triển. Ta có ảo tưởng là ta
đã trở thành con người hiện đại.
Có biết đâu tình trạng cả triệu chiếc xe cùng rồ
máy bóp còi chen lấn chỉ tố cáo một tình trạng xã hội
cổ lỗ, manh mún, mới dừng lại nửa vời trên đường
hiện đại.
Những ngày Hà Nội mưa rầm rả rích, trời đất tôi tối
mờ mờ, từ sở trở về, nhìn hàng xe ken chặt các con
phố hẹp trong tiếng loa phường văng vẳng, người hay mủi
lòng cảm thấy một không khí thực sự trung cổ.
Thêm một chuyện nữa khiến tôi càng không dứt bỏ nổi
sự khó chịu nói trên. Mấy chuyến du lịch bụi cho tôi
tận mắt thấy bên Trung quốc, sự lưu thông xe gắn máy
ở các thành phố lớn hạn chế đến mức tối thiểu.
Họ bảo loại xe này chỉ làm loạn thành phố. Làm ăn kinh
tế ở họ rộn rã nhưng trong trật tự. Ai cần dùng phương
tiện cơ giới, xin mời đi xe bus. Ai thích riêng tư,
trước khi sắm cái ô tô của mình, hãy cứ bằng lòng với
cái xe đạp. Các đường phố vận hành như một cỗ máy
khổng lồ. Con người hiện ra với vẻ đẹp của sự bình
thản tự tin.
Làm
sao để có ngày dân ta thoát khỏi chiếc xe gắn máy
bây giờ ? Một câu hỏi như thế đến với tôi từ mấy
năm nay và càng ngày càng cảm thấy không có lời giải
đáp.
Thoát khỏi xe máy với nghĩa tổ chức lại mối quan hệ
giữa người với người trong xã hội. Để sự giao lưu
thông thoáng. Mà cũng để mang lại những quân bình trong
tâm lý con người. Mỗi cá nhân sẽ không loay hoay cạnh
tranh với người đi bên cạnh mình. Ta biết phối hợp với
người khác để làm việc. Và cả xã hội sẽ nhịp nhàng
vận động về phía trước .
Vừa nghĩ tới, đã thấy xa xôi lắm, cái sự giải thoát
đó! Nỗi buồn phiền ngán ngẩm với ngày hôm nay lặp đi
lặp lại hóa nhàm, sự sùng bái hiện tại đang là phương
thuốc làm dịu lòng người, ai hơi đâu mà trăn trở về
cái chuỵện vặt là chiếc xe gắn máy?
Trong
lúc nghĩ ngợi lẩn mẩn nhìn sang Trung Hoa, tâm trí tôi
lại còn nẩy ra một câu hỏi khác:
--
Cũng xuất phát từ những thành phố ken đặc xe đạp như
ta, sao họ lại sớm có cái quyết định thông minh như vậy?
May quá
lần này tôi không bí nữa. Câu trả lời cho tôi đã nằm
sẵn trong cuốn 100 danh nhân có
ảnh hưởng đến lịch sử Trung quốc (
Nguyễn Văn Dương dịch, 2002)
phần viết về Triệu Ung.
Ông này là vua một nước nhỏ thời Chiến quốc, chủ trương
nhiều cải cách, trong đó có lối ăn mặc.
Nguyên là trước đó, dân Triệu cũng như dân Hoa
Hạ nói chung sống theo một nhịp thong thả chậm chạp.
Họ mặc lối cổ, áo dài tay, thân rộng thùng thình và
đề lên thành lễ nghi. Ăn mặc như thế để cưỡi ngựa
bắn cung thật hết sức bất tiện. Trong khi đó quân Hồ
-- một dân tộc thiểu số phía bắc—quần chẽn, áo ngắn,
ôm chặt lấy người. Y phục gọn gàng, nên có trở nên
thiện chiến cũng không phải lạ.
Sau khi khảo sát kỹ càng, Triệu Ung buộc từ người lính
ngoài chiến trường tới văn võ bá quan trong triều, phải
thay đổi phục trang ăn mặc theo kiểu người Hồ.
Nên biết là trong trường hợp này, người cải cách chịu
áp lực lớn từ chung quanh. Có người nói “Mặc y phục
phương xa, làm mất nền giáo hóa cổ, làm thay đổi đạo
lý”. Theo họ, phong tục xưa đã vậy, nay không có quyền
thay đổi. Triệu Ung đáp lại: “ Vì lợi ích của đất
nước, bất tất phải theo phép xưa”. Và trong bàn
tay nhào nặn của ông, nước Triệu trở nên một xứ sở
khác.
Mẩu chuyện trên thường trở đi trở lại trong
tâm trí tôi bởi lẽ nó cho thấy sự đồng
bộ của đời sống. Một thời đại thường
được đánh dấu bằng những tư tưởng mà người
ta phát biểu, bằng những phát minh sáng kiến lớn lao. Nhưng
chính những chuyện tưởng là nhỏ nhặt như ăn mặc
đi lại, cùng là nhu cầu thay đổi tìm ra cái tối ưu trong
những phương thức sinh hoạt, … cũng là một thứ chỉ
số nó cho thấy người ta đang ở chặng đường nào của
lịch sử.
Danh
nhân một nước thường được hiểu là các nhà hoạt động
chính trị quân sự, các nhà triết học, nhà tư tưởng,
văn gia, thi gia… Nhưng trong cuốn 100 danh nhân
có ảnh hưởng đến lịch sử
Trung quốc nói ở đây, bên cạnh những cái tên như
Tần Thủy Hoàng, Khang Hy, Càn Long, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lỗ
Tấn… tôi đọc thấy có một vài trường hợp lạ như
Công Thâu Ban, tổ sư nghề mộc và nghề xây dựng,
hoặc Hoàng Đạo Bà là người có công cách tân hệ thống
công cụ dệt vải, nâng cao kỹ thuật dệt.
Và tôi đọc thấy trường hợp Triệu Ung. Các nhà sử học
sau này ghi tên ông vào lịch sử như một người mang
lại biến đổi đánh dấu một thời đại, do đó đáng
gọi là vĩ nhân.
Tôi
không ghi được xuất sứ, nhưng nhớ có một bài
báo đã viết rằng một trong những phát minh lớn nhất
của nhân lọai hiện đại là phát minh ra cái hố xí tự
hoại.
Người
Trung Hoa cũng có lối nghĩ thiết thực tương tự.
Còn
ở ta thì sao? Các đầu óc ưu tú của nước ta thường
chỉ tập trung vào đánh giặc và làm thơ. Từ xưa đến
nay, bao thời đã vậy. Nói một chuyện nhỏ: có lẽ trừ
vài nghề đặc biệt như nghề dệt, còn ở các làng thủ
công Việt Nam, người ta thường bày ngay đồ nghề trên
nền nhà, và ngồi trên những chiếc ghế lè tè sát mặt
đất mà hành nghề. Bao nhiêu nước chảy qua cầu, chưa
thấy ai nghĩ chuyện thay đổi.
Đã in TBKTSG
số tết Canh Dần
Monday, February 15, 2010
Khi Hà Nội trở thành chính mình
Tạp bút 14/2/2010
Chị Đàm một người tôi quen từng qua Pháp có lần bảo với tôi rằng vào những ngày thật vắng, Hà Nội còn đẹp hơn cả Paris nữa. Tôi chưa đến kinh thành nước Pháp nên không dám cãi lại, dù nghĩ bụng nói thế là cực đoan, sao mà Hà Nội có thể so với Paris được, chỉ đoán chẳng qua đấy là một cách để chị bạn nói rằng Hà Nội rất đẹp.
Nhưng hôm nay, một sáng mùng một mưa phùn, dạo quanh phố phường Hà Nội từ bẩy tới chín giờ sáng, tôi nhận ra một vẻ đẹp riêng của cái thành phố mà mặc dù sinh ở đây và gần như liên tục ở đây sáu chục năm nay, đây là lần đầu tôi mới cảm thấy-- một vẻ đẹp mà xét về độ chín và tính độc đáo thì chắc không thua kém mọi vẻ đẹp khác.
Quay trở về nhà sau hai tiếng lang thang trên phố cũ, tôi nói với mọi người trong gia đình như là tôi vừa được bay từ nước nào về thủ đô, và niềm vui này đủ nuôi tôi sống, với hy vọng là ngày đầu năm sau, lại làm một chuyến đạp xe đạp lang thang tương tự.
Hà Nội của tôi vốn mang dáng dấp một phố chợ phóng to. Khác với vẻ đẹp của tranh tre nứa lá các làng quê, đây là vẻ đẹp của phố phường gạch ngói hẳn hoi. Một vẻ đẹp cũ càng nghèo khổ, -- của một loại đô thị dang dở chưa thành hình thì đã già, tất nhiên rồi --, nhưng vẫn là cái héo hon tàn tạ của một thành phố, thứ xưa nay hiếm trên đất Việt.
Cuộc phiêu lưu của tôi sáng nay bắt đầu từ khu vực chung quanh chợ Đồng Xuân. Mấy phố lâu nay người ta quanh năm tràn ra đường để buôn bán, nay trước mắt tôi, không gian công cộng mới được trả lại vẻ mặt thật của nó. Các vỉa hè có được cái đặc tính mà ta tưởng từ lâu đã đánh mất, một vẻ rộng rãi đến thoáng đãng. Lại có cả những căn nhà vắng vẻ nữa, toàn những thứ không thể tưởng là lại có ở thành phố thời hậu chiến.
Lâu nay tôi vẫn bị ám ảnh bởi ý nghĩ giờ đây với những người như mình, Hà Nội đã bị đánh mất, cảm giác bắt nguồn từ chỗ phố xá lúc nào cũng xúm xít những người là người, người che mất nhà, người che mất tường, người che mất cửa...
Nay tất cả còn đủ. Hóa ra có một Hàng Khoai Hàng Chiếu Hàng Mã Hàng Cân Hàng Bồ Hàng Thíếc thật, chứ không phải những con phố ồn ào mà mọi khi tôi chỉ tìm cách, nếu có thể, thì lướt xe vượt qua thật nhanh.
Phố xá lúc này là nhà và cửa. Những cái nhà ken chặt cạnh nhau. Tôi ước ao có ai làm một bộ ảnh về những khung cửa Hà Nội hiện nay. Lác đác vẫn còn một vài nhà có cửa bức bàn, kiểu cửa gồm nhiều tấm gỗ dài xếp nối tiếp. Các loại cửa sắt thì nhiều hơn mặc dù thật ra gồm đủ các loại, giống nhau ở lớp sơn tróc màu trắng màu nâu nhòe nhoẹt.
Cũng như con người, nhà trên phố Hà Nội chỉ thỉnh thoảng lắm mới nhận được hai cái giống nhau, còn phần lớn mỗi nhà mỗi kiểu, chỗ chung của chúng là cái vẻ loang lổ của tường, cái cũ kỹ và chắp vá của vật liệu.
Những ngày thường đi lại trên phố, người ta chỉ cắm mặt xuống đất. Chỉ trong một ngày Hà Nội vắng như hôm nay , tôi mới có dịp nhìn lên phần Hà Nội trên cao, nơi có khi là ngói, có khi là tôn, có khi là ni-lông vải bạt, nhưng gọi chung là mái.
Bên cạnh những căn nhà phong sương, những mái phố tạm bợ, so với Hà Nội trong trí nhớ của tôi, thì Hà Nội hôm nay hơn hẳn ở số lượng kha khá những khách sạn mi-ni, kiểu khách sạn gia đình, vừa mới xây. Trước một khách sạn như thế, một người đàn bà ngoại quốc ngồi cạnh đứa con, vẻ mặt đứa bé lộ vẻ ngơ ngác. Ở một căn nhà sáng sủa khác, mấy người đàn ông da trắng đang chuyện trò rôm rả trước quầy tiếp tân.
Có cảm tưởng họ yêu Hà Nội hơn cả nhiều người chúng ta, họ biết đây là lúc Hà Nội đẹp nhất, họ đã đi hàng vạn cây số để tới chiêm ngưỡng nó trong lúc này. Trước một Hà Nội yên lặng run rẩy trong bộ khung nhà già lão, như không thể già thêm được nữa, họ hiểu đang được ngắm chân bản diện mục của thành phố .
Hơn ba chục năm nay, tôi mới có dịp sống lại cái cảm giác của Hà Nội những năm sơ tán. Trên cái xe đạp cà khổ, tôi đạp thật chậm mà không cảm thấy làm phiền mọi người. Trước một ngôi nhà hay một dãy phố vừa phát hiện, tôi tha hồ nhìn ngang nhìn ngửa, có lúc đi đến đầu phố lại quay ngoắt về đi dọc phố một lần nữa.
Lượn đi lượn lại mấy đoạn Bát Đàn, Lãn Ông, Thuốc Bắc, Hàng Phèn, tôi nhận ra rằng mạn mấy phố này có rất nhiều cây si hay cây đa trổ rễ lùm lòa. Có lúc đang đi ngước đầu lên khoảng không trước mặt, tôi gặp hai thân bàng bên đường xòe ra giao nhau.
Nhiều lần tôi dừng lại bên một cây lạ bên đường mà đến bây giờ vẫn không biết cây gì, chỉ biết nhìn mãi không chán. Ngày thường khuất lấp giữa người, nay cả cây với nhà mới hiện ra trong cái thế tôn nhau để cùng làm nên một vẻ đẹp.
Có cảm tưởng cái còn lại ở Hà Nội hôm nay luôn luôn là những gì vượt qua thách thức, tự mình biết mình, tự vui với mình, bất chấp mọi sự vô cảm của hoàn cảnh và bởi thế mà đẹp .
Dẫu sao cũng phải dành một ít phút cho Bờ Hồ. Từ trên phố xá tôi đã gặp nhiều phóng viên đi chụp hình, đến đây họ càng đông. Nơi tập trung nhiều tay săn ảnh nhất phải kể là bên cây lộc vừng.
Một người đi qua, may quá lại là một ông già áo ba-đờ-suy tầu tầu cu cũ. Như là từ ngóc ngách một căn nhà tối tăm nào bước thẳng ra đây, ông cụ trở thành khách mời hợp thời nhất, để thêm phần hồn cốt cho những bức ảnh về Hà Nội đang được hoài thai.
Chỉ tiếc cái ô ông cụ cầm là một cái ô vải ca-rô đỏ. Nhưng lấy đâu ra một cái ô đen kiểu của các ông lý ông xã bây giờ?
Sáng mùng một. Những luống hoa hoang dã mà cọc cạch, những giá đặt chậu hoa đơn sơ xấu xí và cả bãi cỏ chỗ gần Tháp Bút bị xéo nát, dư âm của buổi tối giao thừa hôm trước, vẫn bầy cả ra đấy… Tuy nhiên tất cả những cái đó không làm cho người ta hết nao lòng khi dạo qua trên con đường ven hồ.
Đi vào mấy phố Cầu Gỗ, ngược lên Hàng Bạc Đào Duy Từ, cảm tưởng rõ nhất của tôi là không thấy có cây cối nữa, chỉ có nhà cửa và những cách tổ chức không gian sống mang dư vị phong cách người Hoa, từ các sạp hàng tới các ngôi đền ngôi chùa lắt nhắt chật hẹp. Kỷ niệm về những rạp hát, Kim Chung Kim Phụng Lạc Việt, cùng với hình ảnh phố xá của những cuộc chơi đêm trở dậy. Bao giờ nơi đây buổi sáng chẳng bắt đầu muộn, cứ gì buổi sớm đầu năm.
Mưa bụi vẫn đang rắc đều trên phố xá. Nhiều nhà cửa giả còn đóng im ỉm. Loáng thoáng vẫn cảm thấy dấu vết cảnh chen chúc của giao thừa đêm trước. Nếu ở trên cầu Long Biên, đó là mấy mẩu chai vỡ, dấu vết của một đám say, thì ở đây, đầu một ngã tư, một quầy hàng ăn hôm trước bán muộn, đến giờ, trên mấy tấm ghế ghép tạm, chủ quán còn cuộn tròn trong chăn.
Không gì cần mẫn bằng việc dân mình lo ăn. Thay thế cho ca đêm là ca sáng. Ngay lúc vắng vẻ nhất này, các loại hàng ăn bún riêu bún ốc đã bắt đầu nổi lửa, hứa hẹn tạo nên sự nhộn nhịp ở một vài ngã tư.
Cửa chùa Cầu Đông 38 hàng Đường rộng mở, trong số mấy người đi lễ chùa sớm, tôi nhận ra có cả những thanh niên mười tám đôi mươi.
Khi nào thì Hà Nội trở thành mình nhất ? Theo tôi hiểu, đó là những khi Hà Nội đồng nghĩa với phố với cây với nhà, tự phố tự cây đã có linh hồn, còn những con người thật chỉ đóng vai trò điểm xuyết, chẳng hạn như trong các bức tranh của Bùi Xuân Phái.
Buổi sáng mùng một vắng vẻ hôm nay, tôi đã bắt gặp một thành phố như thế.
14-2-10
Sunday, February 14, 2010
Cần cả những tiếng cười thầm
TTC Xuân - Thời của
chúng ta là thời của những liều thuốc mạnh! Tôi đã phân vân mãi khi đặt
cho bài viết của mình một cái tên... hiền hiền như trên. Nhưng xin bạn
đọc lượng thứ. Cười hả hê, cười tung tóe, cười ngặt nghẽo,...
việc ghi
nhận giá trị của những tiếng cười hết cỡ ấy đã được nhiều bạn khác làm
tốt hơn tôi. Tôi chỉ muốn nói thêm rằng có những lúc, những tiếng cười
không “khủng”, không quá cỡ, không gây sốc, lại mang tới cho cuộc sống
người ta một ít dư vị lạ lùng.
Khi in
lại “Số đỏ”, báo Văn Nghệ ở Hà Nội năm 1956 từng
gọi cuốn sách này của Vũ Trọng Phụng là một tiểu thuyết cười dài. Quả
thật khi nghe Xuân đọc những câu rao thuốc mà lại khiến cho cô Tuyết cảm
động và gọi Xuân là một thi nhân; khi nghe ông Phán bảo mọi người hãy
chào ông là ông chồng mọc sừng..., ta không nén nổi tiếng cười.
Nhưng
hãy đọc lại đoạn Văn Minh báo với Xuân cái việc định gả em gái là Tuyết
cho Xuân. Những tưởng đang trong cảnh long đong kiếm sống, nay có người
chìa ra mời mọc, chẳng khác chết đuối vớ được cọc, Xuân phải túm ngay
lấy cơ hội. Bằng lô-gíc của con người Việt
đoán tay tổ trong nghề khai thác cơ hội này sẽ lợi dụng sự may mắn ngẫu
nhiên rơi vào đầu mình để mặc cả tiếp và... phất tiếp. Đằng này không,
Xuân lập tức trả lời là mình không dám nhận. Và trước mặt ông anh vợ
tương lai, chàng Xuân của chúng ta nói thẳng rằng mình “Không cha
không mẹ, lêu lổng từ bé, nhặt ban quần, bán phá sa, đã làm nhiều nghề
hèn”.
Không
biết các bạn có cười không? Riêng tôi khi đọc đoạn đó không khỏi cảm ơn
Vũ Trọng Phụng vì đã cho mình được cười. Một thứ cười nhẹ nhàng kèm theo
những ý nghĩ thoáng qua:
“Cậu này
được!”.
“Hóa ra hắn vẫn còn dành cho mình
nhiều bất ngờ”.
“Lạ chưa, cái tay quỷ này cũng biết mình biết người
gớm!”.
Tôi cảm
thấy không chỉ hiểu thêm về Xuân tóc đỏ mà còn hiểu thêm một mặt mạnh
của con người Việt
hiện đại, khi họ tiếp xúc với văn minh phương Tây. Ở họ, một quá trình
tự nhận thức đã khởi động.
Sự tỉnh
táo của Xuân lúc này có thể sánh ngang với Chí Phèo khi Chí cãi lại Bá
Kiến “Không được! Ai cho tao lương thiện... Tao không thể là người
lương thiện nữa. Biết không!”.
Tiếng
cười bật ra để đánh dấu một quá trình tâm lý đã đến hồi thu được kết
quả. Các sách lý luận mỹ học gọi đó là hiệu ứng “Ơ-rê–ca!”, hiệu
ứng nhận thức của tiếng cười .
Thông
thường người ta chỉ nhấn mạnh vai trò của tiếng cười trong việc quất vào
những thói xấu và sự chưa hoàn thiện của con người.
Nhưng
không nên bỏ qua những hiệu ứng khác. Người ta nhận thấy hài hước bắt
đầu ở việc nhận ra sự không tương xứng nào đó. Thật tự nhiên là tiếng
cười cất lên khi thấy một em nhỏ đáng lẽ ở tuổi hồn nhiên thì lại có vẻ
đạo mạo. Nhưng người ta cũng dễ cười khi thấy các cụ già khóc thút thít
như trẻ nhỏ.
Cái mà
người ta chờ đợi đáng lẽ thế này lại hiện ra thế khác, tiếng cười bắt
nguồn từ đấy. Những tiếng cười giúp cho người ta thêm hiểu đồng loại của
mình. Những tiếng cười của trí tuệ. Đôi khi là cười để khỏi khóc, hoặc
cười trong tiếng khóc. Bây giờ thì bạn hiểu sao tôi lại chúc cho bạn có
thêm những tiếng cười thầm trong cuộc đời đa đoan rắc rối này rồi!
Thursday, February 11, 2010
Đúc Tết lại...
Chùm bài Tết Canh Dần (1) TỪ 1946 XUÂN DIỆU
ĐÃ ĐỀ NGHỊ PHẢI HIỆN ĐẠI HÓA TẾT
12/2/2010
Lúc thân tình, một người bạn nước ngoài có lần nói thẳng với bọn tôi là cưới
xin ở các anh sao mà kỳ thế, mỗi người đến dự nộp một phong bì, tiền đặt trong
phong bì thay đổi theo thời giá thị trường. Và nói chung là không khí thường ồn
mà nhạt, thiếu sự thân tình tự nhiên, lại còn rơi vào xa hoa nữa, lễ cưới được
làm để phô phang giàu có, hơn là vì chuyện tình yêu của đôi cô dâu chú rể.
Tôi nghe giật
mình, không phải chỉ vì người nước ngoài người ta hiểu mình rõ quá, mà vì một cớ
khác. Hóa ra bộ mặt của một phong tục trong thực tế mỗi thời mỗi đổi, và yếu tố
làm cho người ta ngán một phong tục không phải là do nó được lưu truyền, mà là ở
cách thực hiện nó. Nhiều khi chính cái dấu ấn thời đại đã gây phản cảm.
Ví như chuyện Tết nhất. Đã là người Việt, ai chẳng nói đến ngày Tết với cả
tấm tình rung động. Vậy mà Nguyễn Công Hoan có lần bảo tết gieo rắc Cái nạn
mừng tuổi ( tên một truyện ngắn) ,Tú Mỡ thì có bài thơ Ghét Tết. Mới
nghe thấy kỳ cục, song đọc vào mới hiểu các ông ấy vẫn là những người có lý.
Nguyễn Công Hoan ghét chuyện thăm nhau đầu năm vì lúc đó con người ta rơi vào
giả tạo, cư xử kiểu đối phó cho phải phép. Còn Tú Mỡ thì ca thán:
Tiêu pha thực tốn tiền
Chè chén cứ liên
miên
Hết Tết đâm lo nợ
Điên!
Mồng một đi mừng
tuổi
Chúc nhau nghe inh ỏi
Toàn câu sáo rác tai
Thối!
Nhưng những
nhận xét loại đó cứ lọt thỏm đi, chẳng mấy ai nhớ và có nhớ cũng chẳng để làm
theo.
Nhắc
lại đây để cùng nghĩ thêm về phong tục.
Cách cưới xin đang phổ biến vốn mang đậm dấu vết một thời làng xã xa xưa. Thời ấy,
nghèo đói quá, mỗi nhà không đủ tiền lo cho con, nên đành làm lối chơi họ, hôm
nay tôi góp cho nhà anh, sau anh góp cho nhà tôi. Góp trước trả sau cũng có, mà
trả trước đòi sau cũng có.
Các phong
tục vốn gốc nông thôn.
Khi
lên đô thị làm ăn, người ta vẫn mang theo nó. Nhất là sau một thời chiến tranh
mà chiến thắng có được nhờ những nỗ lực to lớn của nông thôn và nông dân, người
ta càng thích quay về với truyền thống.
Thành thử ở đây có chuyện lạ. Là nếu nhìn lại lịch sử cả trăm
năm qua sẽ nhận ra phong tục được đón nhận theo đồ thị hình sin, lúc lên lúc xuống.
Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, một nhà thâm nho như Phan Kế Bính trong việc
miêu tả các phong tục thường không bao giờ quên nhấn mạnh những mặt cổ hủ của
nó.
Tinh thần chung của văn học tiền chiến là đề nghị cộng đồng phải thay đổi cách
sống.
Ngay sau khi ra mắt tạp chí Tiên Phong (1945) cơ quan của Hội Văn hóa cứu
quốc luôn có bài về đời sống mới, nhiều vấn đề phong tục được đặt lại. Cho đến
những năm sáu mươi bảy mươi của thế kỷ trước, các đám cưới cũng như Tết nhất ở
Hà Nội của chúng tôi đơn giản mà vẫn thiêng liêng ấm cúng.
Từ
hồi bước sang thời thị trường, không phải không có những đám cưới được tổ chức
theo lối Tây, nhưng có điều thú vị là tân cổ giao duyên, người ta cứ mặc
váy trắng ra chụp ảnh ở các công viên để rồi ở cửa đại sảnh dẫn vào bàn tiệc
không quên đặt hòm chờ phong bì. Và Tết thì thi nhau linh đình, giá có nhắc
chuyện tiết kiệm liền bị coi là cổ lỗ, lạc lõng.
Tạm
gọi đây là một thứ trò chơi, trò “nhân danh phong tục”. Lấy cớ ai cũng làm vậy,
người ta một chiều xem việc theo sát phong tục là điều tự hào, lâu lâu lại tìm
ra vài khía cạnh mới để lăng-xê mốt, coi như mình trở về nguồn sâu sắc lắm.
Đang ở trong tình trạng nước đôi vừa thèm vừa sợ, vừa muốn thay đổi vừa không
biết thay đổi như thế nào, âu là cứ lối cũ mà làm – quan hệ của chúng ta với
phong tục tập quán xưa đang ở trong cái thế như vậy.
Người
ta chỉ quên một điều: Sự tôn trọng phong tục trên nguyên tắc không đồng nghĩa với
việc thực hiện mọi điều khoản của nó. Ngược lại, cần làm cho nó trở nên phù hợp
với cuộc sống hiện đại, khiến cho người ta thực hiện nó một cách hứng
thú. Thế nhưng, thiếu sự hướng dẫn của trí tuệ và sự trưởng hành của trình độ sống,
cái mới không dễ tìm thấy chiến thắng.
Hàng
chục năm nay, bao người suy nghĩ về cách tổ chức Tết mà vẫn
chưa tìm ra được công thức thích hợp.
Dẫu
sao, nhắc lại cái yêu cầu phải thay đổi chắc không bao giờ thừa.
Trên báo Tiên Phong, -- tờ báo mà trên kia tôi đã nhắc- đầu 1946, Xuân
Diệu có bàiTết độc lập thứ nhất và tết trung cổ cuối cùng.
Ông bảo cách
đón Tết cho thấy dân ta lười quá. Các cửa hàng không chịu mở. Chẳng ai muốn làm
gì, ngoài chuyện vui chơi. Đã thế, nó lại kéo dài quá. Sau khi kêu lên “Chúng ta chưa phải
là những người lớn hay sao? Chúng ta còn muốn là trẻ con hay sao ?“, tác giả đề nghị “ chúng ta[ hãy ] bỏ
cái tâm hồn Trung cổ, và quả quyết cải cách cái Tết thân yêu của chúng ta, rút
nó lại đúc nó thành hai ngày vui vẻ tin tưởng đầy đủ “.
Bài viết kết thúc
bằng một câu in đậm:
“Đúc Tết lại, tức là
làm cho Tết mạnh thêm, mà kéo Tết dài, tức là giết Tết”.
Lời
lẽ hơi bốc, rõ ra khẩu khí của một thời hào hứng, chưa biết đến chỗ khó trong lịch
sử và lòng người. Nhưng tinh thần trong cái câu trên đây của Xuân Diệu là tinh
thần cách mạng.
Không biết có ai nghĩ như tôi rằng chính ra Xuân Diệu viết cho chúng ta hôm
nay?
Đã in dưới đầu đề Đúc Tết lại
trên báo Đại biểu nhân dân
Số Tết Canh Dần
Wednesday, February 10, 2010
Một dịp trở về với dĩ vãng
Đêm
30 Tết Tân Hợi (1971), về công tác ở một đơn vị bộ
đội và đón giao thừa giữa rừng, tôi chỉ còn tìm
thấy niềm an ủi ở một bếp lửa. Từ khoảng mười giờ
đêm trở đi, không biết làm gì mà cũng không thể ngủ
nổi, tôi và mấy anh lính Hà Nội nghĩ ra cách giết thời
gian là ngồi đun nước.
Nghĩa là đun đầy một cặp lồng
cho sôi lên sùng sục, rồi đổ đi. Lại một cặp lồng
khác. Cố nhiên chẳng để làm gì, nhưng bù lại, tôi thấy
vui vui. Và có điều lạ là nhiều năm sau, sống những cái
tết bình thường khác bên gia đình, vợ con, tôi vẫn nhớ
Tết năm 1971 ấy như một thời khắc đẹp trong đời mình.
Có
lẽ là trong sự đơn sơ của tình thế,
tôi như được đối mặt với những gì thuộc
về tinh túy của dĩ vãng: vẻ bao la huyền bí
của thiên nhiên. Và một bếp lửa, nó là dấu
hiệu đẹp nhất của sự có mặt của con người
trên mặt đất. "Đưa người ta trở về
sống trọn vẹn trong cái trong trắng tinh khôi của dĩ vãng"
- phải chăng có thể xem đấy là một trong những định
nghĩa đơn giản nhất về Tết mà ngày nay đã bị quên
lãng?
Nông
thôn và Tết
Do
tính chất ước lệ của nó, văn chương cổ
điển Việt Nam không có điều kiện mô tả trực tiếp
những nét đẹp của sinh hoạt dân tộc. Phải đợi đến
thế kỷ XX, dưới ảnh hưởng của văn hóa phương Tây,
ngòi bút các nhà văn mới hướng vào việc tả thực và
trong văn thơ người ta bắt đầu thấy hiện lên những
bức tranh của đời sống, trong đó có cảnh Tết. Nhưng,
từ rất sớm, đã thấy bộc lộ một xu hướng, ấy là
những cảnh Tết đầm ấm nhất, tươi đẹp nhất, thường
khi là Tết ở nông thôn (như trong thơ Nguyễn Bính, thơ
Đoàn Văn Cừ). Còn Tết thành thị lại mang sắc thái bẽ
bàng, trớ trêu (trong một số truyện ngắn của Nguyễn
Công Hoan, Thạch Lam, hoặc trong tùy bút Một chuyến
đi của Nguyễn Tuân). Tại sao lại có tình trạng đó?
Tôi có suy nghĩ và thấy Tết là một cách sống lại dĩ
vãng. Mà trong đời sống một dân tộc, nông thôn bao giờ
cũng mang rõ dấu vết của dĩ vãng hơn cả. Nói cách khác,
Tết tự trong bản chất của nó, là gắn với nông thôn.
Nó xuất phát từ nông thôn và chỉ hiện ra với đầy đủ
vẻ đẹp trong môi trường nông thôn. Thí dụ như câu chuyện
chung quanh cái bánh chưng. Thời buổi đói kém qua đi, mấy
ai bây giờ nhớ tới bánh chưng với vẻ thèm thuồng tối
thiểu. Chính các cụ xưa cũng đã khái quát: "Dửng
dừng dưng như bánh chưng ngày Tết". Nghĩ lại thì
hóa ra cái thú bánh chưng không phải ở chuyện ăn, mà là
chuyện chuẩn bị. Đãi đỗ, vo gạo, rồi rửa lá. Nhất
là gói thì càng vui. Còn cái thú của việc ngồi canh bánh
chưng thì đã được Nguyễn Bính nhắc tới từ hơn sáu
chục năm trước.
Trời
đen
như thể tối ba mươi
Diễm
trốn nhà
sang để gặp tôi
Hai
chúng tôi ngồi trên
đệm rạ
Lắng
nghe nồi bánh rộn ràng
sôi.
Nên
đón Tết như thế nào?
Trong
trường kỳ lịch sử, với tư cách một lễ
hội đặc biệt, cố nhiên Tết còn được
người xưa giải thích theo những cách khác nhau. Tết
để tưởng nhớ công ơn tổ tiên. Tết để
có dịp gia đình sum họp. Đến ngày nay, dịp đầu
năm này tiếp tục khoác thêm nhiều ý nghĩa mới:
tết, ấy là dịp tổng kết mừng công. Là thời gian nghỉ
ngơi trước khi bước vào một chu kỳ công việc mới v.v...
Thế
nhưng, căn cứ vào cách tổ chức Tết từ cổ
các cụ truyền lại và lắng nghe tâm trí mình
mỗi dịp Tết đến, thì phải nói ở đây
nhu cầu trở về với quá khứ vẫn là cái cảm giác
bao trùm. Và nét tâm lý ấy di truyền từ thế hệ nọ sang
thế hệ kia, đến mức chỉ mơ hồ cảm thấy những dấu
hiệu của nó, lòng dạ chúng ta đã xốn xang.
Khốn
nỗi, xã hội ngày mỗi trở nên hiện đại,
có nghĩa là càng ngày, niềm khao khát trở lại
ngày xưa càng khó thực hiện. Trước 1945, ở Hà Nội, nhiều
gia đình có cái lệ là Tết đến đóng cửa, giao cho bọn
thằng nhỏ trông nhà, để mọi người cùng kéo về quê
ăn Tết. Ngày nay, những chuyến đi thú vị ấy trở nên
quá diệu vợi, không mấy ai dám tính chuyện rắc rối ấy
nữa. Và để bù vào cái khoảng trống vắng vừa mở ra,
một số người xoay ra tổ chức Tết thật linh đình. Tết
trở thành một thời điểm thuận tiện, tiến hành các
thủ tục ngoại giao, biếu sếp cái này, thết đãi bạn
cũ món kia; Tết đóng vai trò một sàn diễn lý tưởng để
người ta khoe giàu, khoe của. Nói chung, vừa là tết trưng
diện, vừa là tết hưởng thụ.
Nói
những chuyện này để thấy hóa ra có được một
cái Tết như ta vẫn thầm mong đợi, quả là
chuyện khó, trong mỗi đời người họa chăng chỉ
có một hai cái Tết mà mãi về sau ta còn thấy nhớ.
Để những cái Tết ấy đến sớm và còn tiếp tục đến,
ta hãy tự chuẩn bị bằng cách bảo nhỏ với nhau, một
là từ bỏ hẳn ý tưởng coi Tết là một dịp đua đả
bon chen, khoe khoang tị nạnh và hai là trong khi thực hiện
những tập tục xưa với lòng thành kính, hãy cố gắng
mang vào đấy những suy nghĩ riêng, tức không dừng lại
ở những cách giải thích sẵn có mà tự lắng nghe để
tìm ra ở Tết những ý vị mới.
Chắc
chắn nhờ thế, dịp Tết sẽ bớt nhàm chán, và
ra giêng người ta sẽ không phải nghĩ về nó với một
sự than tiếc ngẩn ngơ rằng vừa trải qua một chuỗi ngày
dông dài vô bổ.
Đã
in Nhân nào quả ấy, 2003
Monday, February 8, 2010
Thế nào là một cành đào đẹp?
Phiếm luận 9/2/2010
Mấy câu hỏi nhỏ
Các điệu hát văn, các bài quan họ... xưa nay vẫn
thường được xem như những tinh hoa của nền âm nhạc truyền thống ở Việt
Nam. Và vào những ngày Tết thế nào cũng chiếm trọn vài ba chương trình
truyền hình. Theo dõi các chương trình này trong một số năm, tôi nhận
thấy có một nơi thích được người ta dùng làm nền cho các buổi diễn dân
ca ấy là khu văn Văn Miếu Hà Nội, ở đấy, ngay trước đền thờ Đức Khổng
Tử, có một cái sân khá rộng, có thể trải chiếu rồi bày biện đủ thứ.
Kể
ra làm thế cũng nhất cử lưỡng tiện, vừa giới thiệu thêm được Văn Miếu,
vừa tạo không khí cho nơi biểu diễn ca nhạc cổ - tôi hiểu ý của những
người bố trí chương trình là vậy. Quá lên một chút, có thể coi đây là
một sáng tạo trong dàn dựng.
Song
cũng đã đôi lúc, trong tôi nảy ra một vài câu hỏi nhỏ: Liệu có thể coi
sân Văn Miếu tương tự như bất cứ sân đình nào để rồi lấy làm nền cho các
chương trình biểu diễn dân ca, bất chấp nội dung âm nhạc ở đó ra sao?
Nếu đây là những bài dân ca ngả sang giọng tình tứ lơi lả, và người biểu
diễn phải vận khăn xanh váy tím để tạo không khí, thì có hợp cách? Mang
hai cái đẹp khác dòng khác mạch nhau (một bên tôn nghiêm kính cẩn, bên
kia khoáng đạt buông thả) để cạnh nhau như vậy, liệu đã ổn về mặt mỹ
cảm, nhất là lại làm cái đó trong những ngày tết truyền thống của dân
tộc.
Một trường hợp trôi nổi
Nếu với tình trạng vừa nêu ở trên
trong bụng còn đang phấp phỏng, chưa biết thế nào là phải, thì với câu
chuyện sau đây, không còn nghi ngờ gì nữa, sự "phạm quy" theo tôi là rõ
rệt: ý tôi muốn nói tới mấy cây đào mang bán khắp phố phường Hà Nội
trong dịp Tết.
Những ai Tết đến vẫn đi mua đào hẳn nhận ra hai vẻ đẹp
được coi là phổ biến đôi mươi năm nay.
Một là những cành đào tròn,
nhiều nụ và hoa, lúc nở hết phải nói cứ trạt những hoa là hoa.
Hai là
những cành và cây tự nhận là đào thế, cành không thẳng mà từ gốc lên
uốn cong một hai vòng, người bán khéo tán bảo đó là thế rồng.
Thời
gian gần đây, hai vẻ đẹp này dường như được số đông người mua hàng công
nhận, nó là một nhân tố phải tính tới để người ta định giá và mặc cả với
nhau.
Trong khi ấy, theo chỗ tôi nhớ mấy chục năm trước (tạm tính từ
1960 trở về trước) cách chọn đào của người Hà Nội có khác.
Loại cành
đào nở đều tròn xoe, có người nói nôm na là hình cái nơm, hồi ấy đã bán
khá nhiều nhưng chính do cái sự quá hoàn mỹ của nó, người kỹ tính không
chuộng lắm, cho là chỉ thích hợp với hạng giàu xổi.
Còn đào thế lúc
ấy được hiểu là những cành có dáng lạ, bất ngờ, gợi cảm tưởng vững chãi
trong giá rét, và chắc chắn là một sự tự nhiên bột phát chứ không do một
bàn tay khéo léo nào uốn mãi mà thành. Trong khi có vẻ phớt lờ vẻ cân
xứng hòa hợp theo con mắt thường, thực tế là những cành đào thế ấy lại
có vẻ cân xứng riêng, độc đáo. Và hoa cũng không cần nhiều, chỉ lưa thưa
ít bông thôi, nhưng bông nào ra bông ấy, tươi, bền. Loại đào có thế đẹp
như vậy khá hiếm, có khi đi cả chợ mới gặp một cành. Nhưng thà không
mua thì thôi, chứ không ai chấp nhận cành đào uốn theo kiểu con giun là
đào thế, và người trồng đào có nghề cũng không uốn đào theo kiểu ấy để
bán.
Nhân khi cùng bàn bạc về đào bây giờ, một người bạn tôi vốn dân
bạo mồm nói rằng có vẻ như người thời nay dễ dãi xô bồ trong việc chơi
cây cảnh. Vẻ đẹp cổ điển, vẻ đẹp chân chính mất đi, thay vào đấy là
những vẻ đẹp giả tạo cố ý uốn éo chiều nịnh con người.
Nếu cho rằng
nói thế là quá cực đoan thì qua đây, ít ra cũng phải công nhận rằng, đối
với nhiều phong tục xưa, chúng ta mới hiểu một cách đại khái. Nghĩa là
chỉ mang máng biết là hình như ông cha làm vậy, rồi mỗi người trong mỗi
gia đình tùy theo trí nhớ mà làm. Từ mấy bài khấn trong đêm giao thừa,
những đôi câu đối bày bên bàn thờ gia tiên, cho tới chúc tụng mừng tuổi,
treo một vài bức tranh có giá trị trên tường, chọn nơi biểu diễn ca
nhạc... hầu như rất nhiều việc đang trong tình trạng tự phát, giống như
chuyện mấy cành đào uốn theo hình con giun được gọi là đào thế. Tình
trạng này rồi sẽ trôi nổi đến đâu thật khó đoán trước.
Sự cần thiết
của chuẩn mực.
Là những thói quen chi phối cách cư xử của cả cộng
đồng, các tập tục (bao gồm cả các nghi thức trang trọng) bao giờ cũng
được xếp vào lĩnh vực văn hóa và mỗi khi có dịp thực hiện một tập tục
nào đó, mỗi chúng ta thường tự cảm thấy mình đã làm được một việc tử tế
là trở lại với cội nguồn của dân tộc.
Thật ra, mỗi tập tục chỉ có ý
nghĩa văn hóa, khi nó làm toát ra cái xu thế riêng mà nền văn hóa theo
đuổi. Nói như O. Spengler "Văn hóa là khuynh hướng tinh thần của một dân
tộc đã hoàn tất một ý tưởng riêng nào đó về thế giới, và cái khuynh
hướng tinh thần xét như một ý niệm nhất trí ấy đã xâm nhập vào tất cả
hoạt động của họ, như nghệ thuật, tôn giáo, chính trị".
Vậy nên, điều
quan trọng là chúng ta phải cố để hiểu đúng ý nghĩa tập tục, và trong
chừng mực có thể, tái hiện các tập tục ấy với cái tâm thế cũng như độ
thuần thục mà người xưa yêu cầu. Ngược lại, một tấn bi hài kịch sẽ xảy
ra khi người ta quá tin vào thiện chí và quyết tâm, rồi ồn ào đi vào văn
hóa cổ theo cách tùy nghi của con người hiện đại.
Lâu nay, dư luận
đã nói nhiều tới những bất cập trong việc tổ chức một số hội hè và người
tham dự hội hè.
Song ngay cả với Tết Nguyên đán, cũng có trình trạng
tương tự.
Để bắt kịp tâm lý thích trở về nguồn, mấy năm gần đây đã
có nhiều sách vở nghiên cứu và kể chuyện Tết được in ra.
Chỉ đáng
tiếc là những tài liệu kỹ lưỡng và chính xác, nhất là những tài liệu gọi
đúng được cái tinh thần chính của Tết Việt Nam thì vẫn chưa thấy.
Lại
có một điều ai cũng biết là bước sang thời hiện đại, không phải tất cả
những nghi thức cũ đều thích hợp. Có những cái mê tín lạc hậu, cần lược
bỏ. Có những cái rườm rà, ngày nay không thể thực hiện. Ở đây có thể
quan sát thấy cả hai hướng phát triển quá đà: có một hồi, ở một số người
nảy sinh những ý tưởng cải cách Tết, làm cho Tết trở nên thật giản
tiện, và họ đã đi đến chỗ tước bỏ cả một số tập tục tốt đẹp vốn được coi
là thiêng liêng. Nhưng rồi sang thời kinh tế thị trường giống như một
sự "ăn trả bữa", các tập tục cũ lại trở về một cách ồ ạt, kể cả những
tập tục không hợp thời (kiêng kỵ, bói toán, đốt vàng mã). Rút cục, tình
trạng tùy tiện đã có, lại thêm trầm trọng.
Cái đẹp khó nắm bắt
Nhưng
hãy trở lại với mấy cành đào ngày Tết.
Trong một nền văn hóa dân
tộc, ý niệm về vẻ đẹp bao giờ cũng là một bộ phận hữu cơ, lại là một cái
gì tinh tế, không rõ mày mặt mà toát ra ở bất cứ chỗ nào có thể. Trong
trường kỳ lịch sử, ông cha ta đã hình thành cho mình một mỹ cảm riêng.
Cái mỹ cảm ấy có mặt qua những tác phẩm nghệ thuật, khi người ta xây một
ngôi chùa, soạn một tập thơ, nhấn nhá một nốt nhạc. Nhưng cái mỹ cảm ấy
cũng bộc lộ ngay trong đời sống bình thường từ cách ăn mặc, chọn chỗ ở
chọn kiểu nhà, cho tới bày một mâm thức ăn và cắm một bình hoa, và nói
chung là trong mọi công việc hàng ngày chúng ta vẫn làm. Do vậy, ngày
nay trong khi trở lại với những tập tục của cha ông, một sự nhắc nhở
nhau rằng phải cẩn trọng là không bao giờ thừa. Nếu như theo mỹ cảm của
phương Đông, cái đẹp bao giờ cũng gần với tự nhiên, con người muốn làm
toát ra cái hài hòa thầm kín của sự vật, và lo bộc lộ cho được cái vô
hình đang khoe mình trong cái hữu hình v.v... thì cách làm của chúng ta
trong những dịp Tết không thể thô thiển, nhất là không thể tô vẽ giả tạo
và để mọi thứ phô bày quá lộ liễu như đang thấy.
Đã
in Nhân nào quả ấy, 2003
Sunday, February 7, 2010
Sao không ăn tết khác đi?
Phiếm luận 8/2/2010
Tôi cho rằng có sự lãng phí thời gian và tiền bạc trong
việc ăn tết, chơi tết. Không chỉ là sự lãng phí qui ra tiền hay ra thời
gian cụ thể, nó còn là sự lãng phí mang tính xã hội, thể hiện sự lúng
túng của chúng ta. Lúng túng trong việc làm ra một cái tết cũng như lúng
túng trong việc tổ chức đời sống xã hội. Chúng ta có tâm lý dựa vào tết
để “xả láng”. Và rồi cuối cùng tất cả đều mệt mỏi. Tại sao chúng ta
không thử ăn tết khác đi?
Tết đến chính là cơ hội để mỗi người được nghỉ ngơi sau
quãng thời gian lao động cực nhọc, là dịp để làm những việc mà mình muốn
nhưng không có thời gian để làm: đọc hết những cuốn sách đã mua rồi để
đó, dành thời gian nói chuyện với những người thân trong gia đình, đi
đến nơi mình mơ ước được đi cùng với người thân mà chưa có dịp...
Còn về mặt tổ chức xã hội, hãy hướng đến những người
không có tết: những người làm dịch vụ công cộng, các bác sĩ, công nhân
điện trực tết, hay những người nghèo mà ngày tết chỉ là ngày họ thêm tủi
về cái nghèo của mình...
Rất nhiều điều tưởng muôn đời là vậy nhưng thật ra vẫn
có thể làm khác đi được. Tập quán là do con người tạo ra thì cũng chính
con người sẽ thay đổi nó. Nếu sống thật tốt, thật hết mình, nếu lao
động, đổ mồ hôi, nếu yêu nhau tử tế, nếu tạo cho mình niềm vui trong
suốt 365 ngày trong năm thì những ngày tết thật sự bạn sẽ thấy vui, mà
không nhất thiết cứ phải “ăn chơi” theo cái cách lâu nay bạn tưởng như
thế mới là hưởng tết.
THU HÀ ghi
Wednesday, February 3, 2010
Bệnh của chữ, bệnh của người
Cái gì cũng quan trọng
Đi bộ dọc khu vực 36 phố phường Hà Nội,
người ta có dịp gặp nhiều đền miếu nhỏ nổi bật lên mấy chữ Hán những là tối
linh từ (đền thiêng liêng bậc nhất ) với lại thượng đẳng từ (
đền miếu loại cao cấp ). “ Anh có thể không biết tôi là ai, nhưng đừng có quên
tôi là loại siêu lắm, ghê gớm lắm “ -- đại khái, sau những dòng trên, người ta
ngầm đọc ra một lời dặn dò thiết thực như vậy.
Thói quen quan trọng hoá ấy của người xưa vẫn được người nay tiếp tục một
cách hồn nhiên. Ngôn ngữ vốn là công cụ vừa rẻ vừa tiện lợi. Như trong giới viết
văn mà tôi có dịp quen biết. Một cây bút loại loàng xoàng, mới viết được vài chục
truyện ngắn và có bao nhiêu thì mang in hết. Song cái láu cá của anh bạn tôi là
ở chỗ khi chạy chọt để in như vậy, anh không quên đặt cho cuốn sách cái tên khá
kêu Nguyễn Văn A. Tác phẩm chọn lọc. Nhưng đâu có phải chỉ riêng anh, vô
khối người đời thích những chữ to hơn người như vậy. Quản lý một cơ quan vài chục
người mà cũng tự xưng là lãnh đạo. Hơi một tí thì quyết tâm, việc bắt buộc phải
làm thì kêu phấn đấu, đưa ra vài lời phán chung chung gọi là định hướng chỉ đạo,--
người ta hình như đều tưởng rằng phải quan trọng hóa như vậy, thiên hạ mới sợ;
và suốt ngày nói lảm nhảm đủ thứ mà người ta không hiểu.
Mọi chuỵên
đều là trò đùa
Có
một cách nói chỉ mới nảy sinh vài chục năm nay song được mọi người bình thường
đón nhận khá hào hứng, đó là khi nói về những cái hay cái tử tế, người nói thường
kèm thêm hai chữ hơi bị ở đằng trước, cái áo này hơi bị vừa, cái nhà kia
hơi bị nổi trong khung cảnh, em hơi bị đẹp anh hơi bị buồn ( thơ
Nguyễn Duy ). Thử phân tích kỹ một chút : chữ bị trong tiếng Việt vốn chỉ
cái điều thụ động, không thích làm không thích nhận, hoặc đơn giản là cái gì
kém hỏng lạc điệu. Nay nó lại được dùng cho những phẩm chất tích cực. Một quá
trình tâm lý nào đã xảy ra ở đây? Tôi muốn đẩy cho ý nghĩ lan man một chút, đi
tới cùng trên cái hướng mà nhiều người đã dừng. Phải chăng nay là lúc sự
đời nhuế nhóa, nhiều sự việc đến với chúng ta trong cái vẻ không thuần nhất, bảo
là vui cũng được, bảo là buồn cũng được? Cái tốt đẹp lại mang trong nó mầm tai
họa? Cái xấu xí hóa ra lại ở với mình lâu dài? Trong đùa cợt ở đây có cả sự ê
chề của kẻ bị lừa quá nhiều nên thiếu niềm tin lẫn nhận thức sâu xa về cuộc đời
hỗn lọan, suy đến cùng là một cái gì giống như cảm giác về thế giới lộn ngược,
và người ta phải đùa để xả hơi, phong cách đùa bỡn trở thành ngôn ngữ chủ yếu của
đời sống?
Hai
thái độ
Quan trọng hóa vấn đề là bệnh của những kẻ nghèo nàn sáo rỗng. Nghe họ nói, thấy
thương cho tiếng Việt, sao những “xác chết đông cứng “ trong ngôn ngữ đáng lẽ bị
loại thải cứ được lưu truyền dai dẳng? Đời sống rút lại là làm sao để vượt lên
sự nhàm chán!
Với đám người cái gì cũng coi là trò đùa thì khác. Phải nói thật là trước những
ca trọng bệnh, tôi thường phải cố ý lảng tránh, vì ghê sợ sức lôi cuốn của họ.
Sau khi nghe những đấng bậc miệng sắc như dao ấy trở về, đối diện với mình,
trong tôi thức dậy bao nhiêu buông thả liều lĩnh, ít nhất tôi cũng sinh ra dễ
dãi với mình, tự cho phép mình “ thế nào cũng được, đến đâu thì đến”. Không!
Tôi muốn giữ mãi trong tôi cảm giác thiêng liêng với ngôn ngữ, vì biết đó là khởi
đầu của cảm giác thiêng liêng với đời sống.
Đi bộ dọc khu vực 36 phố phường Hà Nội,
người ta có dịp gặp nhiều đền miếu nhỏ nổi bật lên mấy chữ Hán những là tối
linh từ (đền thiêng liêng bậc nhất ) với lại thượng đẳng từ (
đền miếu loại cao cấp ). “ Anh có thể không biết tôi là ai, nhưng đừng có quên
tôi là loại siêu lắm, ghê gớm lắm “ -- đại khái, sau những dòng trên, người ta
ngầm đọc ra một lời dặn dò thiết thực như vậy.
Thói quen quan trọng hoá ấy của người xưa vẫn được người nay tiếp tục một
cách hồn nhiên. Ngôn ngữ vốn là công cụ vừa rẻ vừa tiện lợi. Như trong giới viết
văn mà tôi có dịp quen biết. Một cây bút loại loàng xoàng, mới viết được vài chục
truyện ngắn và có bao nhiêu thì mang in hết. Song cái láu cá của anh bạn tôi là
ở chỗ khi chạy chọt để in như vậy, anh không quên đặt cho cuốn sách cái tên khá
kêu Nguyễn Văn A. Tác phẩm chọn lọc. Nhưng đâu có phải chỉ riêng anh, vô
khối người đời thích những chữ to hơn người như vậy. Quản lý một cơ quan vài chục
người mà cũng tự xưng là lãnh đạo. Hơi một tí thì quyết tâm, việc bắt buộc phải
làm thì kêu phấn đấu, đưa ra vài lời phán chung chung gọi là định hướng chỉ đạo,--
người ta hình như đều tưởng rằng phải quan trọng hóa như vậy, thiên hạ mới sợ;
và suốt ngày nói lảm nhảm đủ thứ mà người ta không hiểu.
Mọi chuỵên
đều là trò đùa
Có
một cách nói chỉ mới nảy sinh vài chục năm nay song được mọi người bình thường
đón nhận khá hào hứng, đó là khi nói về những cái hay cái tử tế, người nói thường
kèm thêm hai chữ hơi bị ở đằng trước, cái áo này hơi bị vừa, cái nhà kia
hơi bị nổi trong khung cảnh, em hơi bị đẹp anh hơi bị buồn ( thơ
Nguyễn Duy ). Thử phân tích kỹ một chút : chữ bị trong tiếng Việt vốn chỉ
cái điều thụ động, không thích làm không thích nhận, hoặc đơn giản là cái gì
kém hỏng lạc điệu. Nay nó lại được dùng cho những phẩm chất tích cực. Một quá
trình tâm lý nào đã xảy ra ở đây? Tôi muốn đẩy cho ý nghĩ lan man một chút, đi
tới cùng trên cái hướng mà nhiều người đã dừng. Phải chăng nay là lúc sự
đời nhuế nhóa, nhiều sự việc đến với chúng ta trong cái vẻ không thuần nhất, bảo
là vui cũng được, bảo là buồn cũng được? Cái tốt đẹp lại mang trong nó mầm tai
họa? Cái xấu xí hóa ra lại ở với mình lâu dài? Trong đùa cợt ở đây có cả sự ê
chề của kẻ bị lừa quá nhiều nên thiếu niềm tin lẫn nhận thức sâu xa về cuộc đời
hỗn lọan, suy đến cùng là một cái gì giống như cảm giác về thế giới lộn ngược,
và người ta phải đùa để xả hơi, phong cách đùa bỡn trở thành ngôn ngữ chủ yếu của
đời sống?
Hai
thái độ
Quan trọng hóa vấn đề là bệnh của những kẻ nghèo nàn sáo rỗng. Nghe họ nói, thấy
thương cho tiếng Việt, sao những “xác chết đông cứng “ trong ngôn ngữ đáng lẽ bị
loại thải cứ được lưu truyền dai dẳng? Đời sống rút lại là làm sao để vượt lên
sự nhàm chán!
Với đám người cái gì cũng coi là trò đùa thì khác. Phải nói thật là trước những
ca trọng bệnh, tôi thường phải cố ý lảng tránh, vì ghê sợ sức lôi cuốn của họ.
Sau khi nghe những đấng bậc miệng sắc như dao ấy trở về, đối diện với mình,
trong tôi thức dậy bao nhiêu buông thả liều lĩnh, ít nhất tôi cũng sinh ra dễ
dãi với mình, tự cho phép mình “ thế nào cũng được, đến đâu thì đến”. Không!
Tôi muốn giữ mãi trong tôi cảm giác thiêng liêng với ngôn ngữ, vì biết đó là khởi
đầu của cảm giác thiêng liêng với đời sống.
Subscribe to:
Comments (Atom)



