Saturday, January 30, 2010

Không đói cũng ăn vụng không túng cũng làm càn

Đói ăn vụng túng làm càn là một trong những câu tục ngữ cửa miệng của người mình. Đời sống khó khăn xui người ta làm liều, bất chấp lương tri và những luật lệ thông thường. Không còn phải trái, nên hay không nên, chỉ có cuồng vọng chỉ có ý thích. Bởi lẽ tiểu xảo tiểu trí, nên trong lịch sử xã hội không có những đám lục lâm cỡ lớn. Song cướp vặt thì lại quá phổ biến. Đã hình thành cả một lối sống mà người xưa đã dùng bốn chữ “ vô sở bất chí “ để gọi. Vô sở bất chí tức là không việc gì không dám làm !

Ghi lại những ký ức từ con người và phong vị của xứ sở, ngoài nếp sống nghiêm cẩn và những trò chơi tao nhã như thả thơ đánh thơ,như chén trà bên sương sớm… Nguyễn Tuân còn xếp vào Vang bóng một thời truyện Ném bút chì. Có lúc, truyện được gọi bằng một cái tên đẹp : Một bọn bất đắc chí, nhưng bóc đi cái phần lãng mạn thì nội dung của nó là tả sinh hoạt của một bọn cướp.

Làng Vũ Đại mà Nam Cao tả nhiều truyện ngắn cũng có cướp, nạn cướp vùng đồng chiêm trũng hoành hành như một thế lực ngang ngược. Ngược lại những cảnh cướp vặt trong ở vùng ngoại ô Tô Hoài khá thê thảm. Nhân vật Thoại trong Quê người, ngày tết đi bắt những con chó sợ pháo, bị người ta đánh cho một trận nhừ tử, phải bỏ làng mà đi.

Sách Luận ngữ từng cho rằng việc người ta không làm bậy trong cảnh nghèo còn khó hơn là không hư khi giàu sang( Bần nhi vô oán,nan; phú nhi vô kiêu, dị -- Hiến vấn , đoạn 11).

Cái điều mà Khổng tử xưa từng lo quả không thừa. Đây là một đoạn đối thoại trong Bơ vơ Nguyễn Công Hoan viết 1936:

-- Tại sao mày phải đi ăn cướp ? Sao không kiếm nghề lương thiện mà làm ăn?

Chúa Cụt mỉm cười :

-- Bẩm tại con đói (…) Đời không cho con được ăn ở hiền lành, nên bất đắc dĩ con mới phải ăn cướp .

- Mày nói lạ.

-- Bẩm thật con đi ở mà người ta không nuôi, con làm gì người ta cũng không cho làm, gia đình nào cũng hắt hủi con. Người đời đã chẳng tử tế với con, tất con phải là kẻ thù của họ. Để có những thứ cần để sống, con chỉ còn cách bắt buộc ấy.

Xã hội hiện đại mở ra cho con người bao khát vọng tốt đẹp nhưng lại không mang lại cho họ khả năng đạt tới cái lý tưởng đó. Trong triết học phương tây, có một ý niệm gọi là chủ nghĩa hư vô. Người ta cảm thấy Chúa đã chết và người ta có thể làm bất cứ việc gì !

Trong sự càn rỡ của người mình có thoáng qua một chút hư vô như vậy. Cũng liều bán váy chơi xuân, câu thơ Tú Xương mang dáng vẻ một sự thách thức sang trọng.

Nhiều truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có nhân vật tướng cướp. Họ được hình thành như một bộ phận của xã hội. Theo cách miêu tả của nhà văn trong Cánh buồm nâu thuở ấy, chất thơ của cuộc sống tồn tại ngay trong hành động của đám người đứng ngoài luật pháp này.

Nhưng đó là trong những hoàn cảnh lý tưởng. Sự thực là ở ta, sự càn rỡ thường khi hiện ra tầm thường hơn, thấp hèn hơn.

Khi sang Nga, lúc đầu tôi rất ngạc nhiên thấy cảnh dân đi câu mà nếu chỉ câu được cá bé ( dưới mức cân nặng nào đó ), người ta buộc phải thả . Sau biết rằng ở nhiều nước có luật lệ như vậy.

Ở Việt Nam thì khác. Cả những con tôm con như cách nói dân gian “ mới bỏ vú mẹ” cũng không được tha. Cá không chỉ bị đánh bằng lưới mà còn bằng mìn, bằng điện, những hành động phải được mệnh danh là tàn sát thiên nhiên.

Đầu thế kỷ 20, một người Pháp Roland Meyer kể rằng trên đất Lào có những người Việt trong cơn điên cuồng kiếm sống, đào cả đình chùa của người ta lấy gạch bán từng thước khối. Ông ta gọi đây là “một mớ cặn bã của nhân loại “.

Nhà văn Lê Thanh khi lại chuyện này trên Tri tân số ra 22-4-1942 tỏ ý rất đau đớn. Chúng ta ngày nay cũng vậy.

Nhưng những ai có gia đình quen đang sống ở nhiều nước phương Tây hẳn nghe đồn về những quái chiêu của dân ta khi sang nước người.Trồng cần sa trong nhà. Mò san hô. Tất cả những gì bị cấm thì có người Việt dám làm.

Khi mới hình thành , sự liều lĩnh càn rỡ được ngụy tạo bởi một cảm giác tự do và cách khẳng định quyền được tồn tại . Người ta cần nó để vượt thoát khỏi tình thế quẫn bách.

Về sau một thói quen hình thành, con người coi việc xấu là tự nhiên, không đói cũng ăn vụng không túng cũng làm càn.

Về sau , chỉ cần thấy mình không được sung sướng như người khác,  tận hưởng nhiều ttiện nghi như người khác chỉ cần muốn trêu ngươi thiên hạ muốn nổi trội hơn đồng loại muốn kiếm chác muốn làm trò muốn vấy bẩn vào ai đó là người ta cảm thấy có đủ lý do để càn rỡ rồi .

Báo TT&VH số 6-10-07 có bài nói về nạn đào trộm trống đồng ở Đắk Lắc. Một thôn có tới 30 trống bị đào trộm. Người ta sử dụng cả máy dò kim loại. Nếu biết thêm rằng khi một trống đồng được đào lên tức là cả không gian văn hóa chung quanh phá vỡ , sẽ thấy cách nói của người Pháp ở trên không phải là quá đáng.

Tham nhũng. Ăn cắp, cướp giật. Lấn chiếm đất công. Bán hàng giả. Những vụ đua xe trái phép. Những đám học sinh công khai mang phao vào phòng thi. Cái càn rỡ hiện nay có bao nhiêu bộ mặt . Nó len lỏi trong hành động của những con người bình thường, khi họ dễ dãi buông thả cho bản năng thấp kém của chính mình.



TT&VH 20-10-07


Monday, January 25, 2010

Giả dối lừa lọc

Khi khái quát tính dân tộc của người Trung quốc,trong cuốn Ẩm băng thất văn tập (1904), nhà tư tưởng cận đại Lương Khải Siêu đã nhấn mạnh nhiều nhược điểm như thiếu tư tưởng độc lập, thiếu ý thức công cộng hoặc thói quen làm đầy tớ, chỉ biết chăm sóc lợi riêng. Ông còn cho rằng đồng bào mình thường võ đoán giả dối, đã ngu muội nhút nhát song lại thích lừa đảo.



Tôi đọc trích dẫn trên từ cuốn Tìm hiểu văn hóa ngườjavascript:void(0)i Trung quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc của Kim Văn Học ( bản dịch tiếng Việt của NXB Văn hóa Thông tin 2004). Ông này là một giáo sư người Trung Hoa, dạy học ở Nhật. Trong những cuốn sách sưu tầm tài liệu về dân tộc tính của người Trung quốc, in ra ở các nhà xuất bản ở Bắc Kinh Thượng Hải, cũng thường thấy trích dẫn ông.

Bệnh lừa đảo được bản thân Kim Văn Học đưa lên thành thói xấu số một trong cuốn sách mang tên Chí hướng phản văn hóa của người Trung quốc ( cuốn này in cả ở Hàn Quốc và Nhật Bản).

Cũng nói tới căn bệnh nan y này, ngoài những trí thức trong nước, Kim Văn Học còn dẫn ra ý kiến tương tự của người nước ngoài như A. H. Smith, hoặc M. Weber -- nhà xã hội học cỡ số một thế giới. Dù chưa tới Trung quốc bao giờ , M.Weber cũng nói một cách quyết đoán:” Người Trung quốc là một dân tộc không thành thật nhất trên thế giới “

Tôi dẫn ra những dẫn chứng trên để cùng hiểu là chúng ta không việc gì phải khó chịu khi nghe nói rằng thói giả dối đổ bóng lên mọi mối quan hệ giữa người với người trong xã hội VN.

Gỉa dối,điêu toa,phỉnh phờ,bịa đặt, lường gạt, bố vờ, điêu xảo,gian lận,lừa lọc, bịp bợm, xạo,xảo trá, man trá, trí trá … những từ ngữ đó đã miêu tả đầy đủ mọi cung bậc của một căn bệnh vốn có sức lây lan rất nhanh và hàng ngày trình ra muôn vàn bộ mặt kỳ lạ trong cuộc sống quanh ta.



Nhân vật Cuội trong Thằng Cuội ngồi gốc cấy đa mở đầu cho hàng loạt nhân vật lang thang trong văn học dân gian. Điều đáng nói là ở đây đã gặp sự có mặt thường xuyên của dối trá. Cuội nói dối như một thói quen bẩm sinh. Bố mẹ mất sớm, phải ở với cậu mợ,Cuội thực thi cách sống dối trá ngay trong gia đình. Sự lừa lọc cứ thế đi từ hồn nhiên sang mục đích vụ lợi, cuối cùng biến thành tội ác (dẫn đến cái chết cả cậu lẫn mợ )

E. Nordemann người Pháp đã ghi lại câu chuyện về Cuội như thế trong sách Quảng tập viêm văn, một thứ văn tuyển đầu tiên của văn học VN in ra từ 1898 ( bản dịch tiếng Việt 2006 ). Trong phần Từ vựng về văn hóa VN, ông nói rõ sự bóc lột qúa đáng của nhà nước và tình trạng rối loạn của xã hội đã là những nguyên nhân dẫn đến một số thói xấu thường trực. Theo lời ông, chúng in dấu vào đặc tính của dòng giống. Mà một khuynh hướng có tính bản năng về nói dối, về giấu giếm và cả ăn cắp, là những thói xấu được Nordemann nêu lên đầu tiên.

Chiến tranh cho phép người ta phải dùng mọi biện pháp để chiến thắng kẻ thù, lúc này không gian dối là chết. Tuy nhiên sau chiến tranh con người ta cũng mang sự gian dối đó vào học hành thi cử buôn bán,làm hàng xuất khẩu và nói chung là mọi quan hệ với bè bạn đồng nghiệp gia đình v..v.. 



Trong một bài viết in trên báo Văn Nghệ số ra 10-1- 2004, một nhà báo Mỹ là Lady Borton kể rằng lúc đầu đến VN, bà có phần bị choáng ngợp trước một xã hội lành mạnh,mọi người rất ham đọc sách, rõ ra một xã hội có giáo dục. Còn giờ đây, bà được chứng kiến muôn điều tồi tệ. Một lần, tại một trong những trường đại học nổi tiếng nhất Hà Nội, bà dự buổi kiểm tra ở một lớp tiếng Pháp. Mọi sinh viên còn rất trẻ,người nào cũng lanh lợi. Thế mà lúc làm bài thi, chỉ thấy họ trổ ra mọi mánh lới man trá.Trong một giờ bà đã nhìn thấy những mánh lới nhiều hơn cả quãng đời trước đó của bà cộng lại, Lady Borton xem đây như một điều khủng khiếp.

Và khủng khiếp hơn, nhà báo Mỹ ghi tiếp, là hôm đó có một ông thày tiếng Pháp trông lớp, ông ta ngồi đó suốt thời gian thi và chẳng nói gì. Cảm thấy không thể hiểu được nữa, Lady Borton chỉ có cách đạp vội xe về văn phòng, mặt mũi nhợt nhạt.

Vậy ta có thể bảo đặc tính lớn nhất của sự gian dối ở người Việt là tình trạng phổ biến của nó ? Có lẽ đành phải nói vậy !

Còn như lý do khiến cho sự gian dối đó kéo dài, một phần là vì người ta thường nương nhẹ với mình và luôn luôn tìm ra lý do để biện hộ.




Câu chuyên Trí khôn của ta đây là một trong những truyện dân gian phổ biến được đưa vào Quốc văn giáo khoa thư, dạy cho học sinh lớp dự bị,thời Pháp thuộc. Nhưng ta hãy để ý chính là ở đây con người đã nói dối con cọp để tự chứng tỏ sự khôn ngoan của mình. Trí khôn được định nghĩa không phải là sự hiểu biết, sự đào sâu suy nghĩ, mà là sự gian dối.

Trong một lần nói về thói hư tật xấu của người đương thời, Nguyễn Trường Tộ than thở “ thế giới chưa có nước nào như xứ mình”. Cố nhiên chỉ nên hiểu câu nói này theo nghĩa tương đối : bệnh ta nặng hơn bệnh thiên hạ .


theoTT & VH 1/9/07

Sunday, January 17, 2010

Khen thưởng cũng phải trở thành văn hóa




Theo dõi những đợt thể thao Việt Nam thi đấu với nước ngoài, tôi thường buồn vui lẫn lộn. Mừng vì thấy mình có dịp cọ xát học hỏi. Nhưng buồn vì nhiều lẽ.

Buồn một phần vì trình độ của mình còn quá non so với khu vực và quốc tế. Mà còn buồn vì người mình đang bị tâm lý ăn thua chi phối và cái cách mình động viên nhau để đạt được ít thành tựu nhiều khi nó tầm thường thô thiển quá.

Nói cụ thể là đáng lẽ trước khi thi đấu phải lo đầu tư chuẩn bị kỹ lưỡng và đánh giá đúng thực chất của mình, thì với nhiều người, điều quan trọng nhất lại là chạy giải thưởng để tạo ra một cú đột phá. Họ ngầm bảo: cứ treo giải thật cao, rồi việc gì cũng làm được.

Trong một cách nghĩ như vậy, thấy có sự nông nổi, dễ dãi. Nhất là thấy có sự cầu may, thiếu tự tin, tự đặt cho mình những yêu cầu quá cao để rồi làm khổ mình, khi thất bại lại giãy giụa đau đớn. Riêng với những vận động viên thể thao thì đã nảy sinh tâm lý vòi vĩnh, mặc cả.

Một hoạt động lành mạnh như thể thao, với nhiều người trở thành một cú làm ăn, một vụ đánh quả, chứ không phải nơi rèn luyện tài năng và ý chí.

Chẳng những thể thao lo thưởng mà ở đâu cũng thấy có chuyện giải thưởng. Đố vui. Mua hàng. Chọn bài hát. Đoán người trúng giải… Cứ muốn thu hút người ta vào một việc gì đó cho thật đông vui là thấy bày ra giải thưởng. Và tôi cảm tưởng lúc nào một bộ phận xã hội cũng như trong cuộc đỏ đen cờ bạc. Lúc nào cũng chen chúc ồn ào, cũng í ới giục giã nhau đi thi cho mau, may ra được thưởng, không thi ngay chỉ có thiệt.

Lại còn nhiều đợt học tập tìm hiểu về vấn đề gì đó mà các địa phương và các đoàn thể vẫn làm nữa chứ! Làm ăn nghiêm túc thì dễ khô khan; phải thêm một tí giải thưởng vào như một chất xúc tác để cho hoạt động này thêm hấp dẫn - ban đầu người ta chỉ nghĩ đơn giản vậy. Nhưng rồi cứ đà ấy mà kéo, rút cục trước mắt chúng ta việc nghiêm túc biến thành một trò câu khách. Người ta thi, người ta làm việc, người ta bỏ ra bao nhiêu thời giờ, thậm chí người ta mưu mẹo kiếm chác nữa, tất cả chỉ vì giải thưởng.

Hàng ngày xem ti vi luôn thấy có chuyện các đơn vị, các ngành mừng công kỷ niệm. Rồi nhân dịp sáu tháng đầu năm, nhân dịp cuối năm, các cơ quan bước vào tổng kết. Không rõ trong thực tế, những buổi tổng này có rút ra được kết luận nào sâu sắc không, nhưng xem cách đưa tin trên mặt báo và các phương tiện truyền thanh truyền hình, thì thấy nhiều khi nó được làm theo lối chiếu lệ.

Ở đó người ta nói với nhau quá nhiều những lời sáo rỗng. Và ở đó, đang hình thành một lối đánh giá nhau xem xét nhau hòa cả làng, giản đơn, dễ dãi. Ý tôi muốn nói tới cái lối lôi nhau ra thưởng một cách… vô tội vạ. Thưởng tràn lan. Thưởng theo niên hạn. Cứ ai không có khuyết điểm gì lớn, là được thưởng. Tôi tin là mình không nói gì quá khi cho rằng lối thưởng như thế là một cách xúc phạm đối với những người làm việc tốt, họ nghĩ rằng có ai biết cho công lao đóng góp của mình đâu, cá mè một lứa cả, thế thì từ nay về sau, không tội gì phải cố cho thêm nhọc xác!

Thưởng nhau đại trà như thế chỉ là làm hỏng nhau thêm, cái hại này ai cũng thấy vậy mà cũng cứ nhắm mắt để mở rộng phong trào phát thưởng và lĩnh thưởng.

Một nhà nghiên cứu lịch sử trung đại kể với tôi rằng các vua triều Nguyễn có lối ban thưởng rất tế nhị. Thưởng cho một viên quan, chỉ báo cho ông ta biết rồi bảo cứ về, sẽ cho lính mang tới nhà. Tại sao? Vì trước triều đình như thế là đã bố cáo cho mọi người thấy là ông ta có công lao rồi. Còn không làm công khai, vì biết thông thường ở những xã hội còn kém phát triển như xã hội ta, con người khi nhận phần thưởng thường bộc lộ những mặt không mấy dễ thương, ví dụ như quá hý hửng đến mức gần như là hèn hạ. Vua hiểu triều thần, không muốn cái phần xấu xí trong người bầy tôi tài năng của mình có dịp bộc lộ, nên tránh cho ông ta trước. Bồi dưỡng nhân tài lâu dài mới là một mục đích sâu xa của ban thưởng.

Tự nhiên có lần đọc báo thấy những người tổ chức một cuộc thi nghệ thuật than thở rằng cái khó nhất của họ là tìm ra những ban giám khảo công bằng và làm việc hiệu quả, có sức thuyết phục với công chúng. Tôi đọc và cứ nhớ mãi: cuối cùng vấn đề là vậy - khen thưởng không chỉ quan hệ với số đông. Mà trước tiên nó cho thấy năng lực và tầm vóc thực sự của những người chủ trì hoạt động một ngành nào đó. Những người này định ra những chuẩn mực như thế nào, hiểu biết về ngành mình đến đâu? Có hiểu lao động của người dưới quyền và muốn trình độ họ ngày một nâng cao? Tức ở đây là chuyện tổ chức và định hướng công việc. Và đằng sau đó là quan niệm của nhà lãnh đạo về con người, cùng những cách tác động để kích thích con người.

Gọi nó là một thứ văn hóa khen thưởng mới đúng, thứ văn hóa rất cần thiết cho những người có quyền.


thesaigontimes


Wednesday, January 13, 2010

Những dư âm của Thời Xa Vắng




Khi cúm gà còn đang là câu chuyện dai dẳng điểm qua trong các bản tin hàng ngày thì chung quanh cái nạn dịch này đã nảy sinh những chuyện đáng gọi là bi hài. Có lần thấy TV quay được cảnh người ta băm những con gà bị bệnh cho gà còn sống ăn, đã ghê cả người.
Lần khác, lại tin gà ở Trung quốc bị cúm giá rẻ chỉ có năm ngàn một cân được mang về trà trộn với gà nội địa vốn đã lên đến bốn năm chục ngàn một cân, bán rộng rãi ở Hà Nội. Có vụ dân xông vào cướp gà bị thiêu huỷ đến mức người thi hành công vụ bảo nhau, từ nay phải có công an bảo vệ khi hành sự.
-- Một tờ báo đưa tin tuyến đường mới mở từ đường Hoàng Quốc Việt đi Cầu Giấy men sông Tô Lịch chi phí 54 tỉ bị chặn vì một ngôi nhà. Cả dự án dừng lại hàng nửa năm, phế thải đổ ngập cả đường nhựa, tuyến đường nhiều chỗ thành một bãi rác.
-- Còn đây một tin cũ, liên quan đến dân ở Thạch Bàn ( vốn thuộc ngoại thành, nay đã thuộc về quận Long Biên ). Hàng ngày xe tải chở cát làm cầu Vĩnh Tuy đi qua vùng này làm bụi bậm bẩn thỉu và hỏng hết nhà cửa. Người dân kiến nghị mãi không được, liền phản đối bằng cách mang giường ghế chặn không cho xe qua lại. Bên cần vận chuyển cát không chịu, cho quân đổ cả thuốc trừ sâu trước nhà người ta để ngăn đe. Điều qua tiếng lại mãi nay đã được giải quyết, song yên hẳn chưa thì không ai dám chắc.
Đặt những tin này cạnh nhau, thấy gợi lên đủ cảm giác lẫn lộn, vừa bực bội, vừa xót xa. Các cơ quan làm ăn đã vô trách nhiệm mà dân cũng hư quá đi. Cả hai đều là cách sống của thời hỗn mang quân hồi vô phèng, chả ai bảo được ai.
Lại có những tin nghe tưởng như không đâu, mà khi điểm lại trong đầu vẫn thấy rờn rợn: Ở một góc rất nhỏ trên báo, thấy có tin ở một tỉnh nọ, có những em bé vị thành niên chót dại chửa đẻ, và người ta đã dùng que để chọc cho những thai nhi bất hợp pháp đó “rụng” ra mới thôi. Chuyện nghe rùng rợn như hồi trung cổ, và có thể nói là hiếm hoi, không phổ biến ! Thế nhưng nhẹ hơn một chút chỉ gần đến mức như vậy thì nhiều lắm. Một anh bạn tôi kể là ở vùng quê gần Hà Nội, đến nhiều nhà thấy có cảnh những đứa trẻ mười lăm mười bảy bị xích vào bên cổng, tới bữa bố mẹ mang cơm cho ăn. Thì ra đó là những đứa trẻ nghiện. Người kể lưu ý thêm là chỗ bị xích thường được đặt ngay chỗ đi vệ sinh để khi cần chúng khỏi gào lên đòi giải quyết …
Những chuyện bé nhỏ lặt vặt ấy tưởng là nó đã xa lăm lắm mà nó vẫn ở ngay bên cạnh ta. Như những con đường khói xe đen đặc mà hàng ngày ta phải chen chúc để đi làm. Như những vỉa hè đen ngòm nước cống mà ta vẫn phải ngồi ăn sáng ngay bên cạnh.
Đây nữa, một câu chuyện liên quan đến giới văn nghệ của tôi, cũng tưởng không đâu vào đâu nhưng trong đầu vẫn cứ thấy vương vướng. Đơn giản lắm, anh em bên điện ảnh kể rằng làm phim nhiều khi phải dùng đến ô tô. Mà ô tô nào thì cũng có biển số, ghi nhận rằng nó đăng ký ở một tỉnh nào đó. Điều khốn khổ là ở chỗ cứ đưa xe nào lên phim, mà có chuyện gì không hay một chút, thì lập tức ít hôm sau nhận được công văn biện bác rằng tỉnh tôi không có những xe làm chuyện đó, đề nghị không dùng loại xe như vừa qua, để tỉnh tôi khỏi mang tiếng. Chao ôi, bây giờ mà chúng ta còn quan niệm về phim ảnh như thế ư ? Lần này thì đích thực là những dư âm của thời xa vắng, chứ còn gì nữa ?! Không khí xa vắng ôm trùm, đâu mà chẳng gặp.






Những chấn thương tâm lý hiện đại







Tuesday, January 5, 2010

Vươn ra thế giới để trở lại phục vụ dân tộc mình tốt hơn!


Tìm hiểu về Việt Nam là nguyện vọng tự
nhiên của bạn bè quốc tế.
Không nên chỉ đặt vấn đề tự
giới thiệu. Mà trước tiên
nên hiểu rằng văn học Việt Nam chưa
được thế giới quan tâm, lý do chính là chúng ta chưa có
những tác phẩm đạt tới cái mà họ quan tâm, hơn thế
nữa
cần cho người ta
buộc người ta phải tìm, phải chú
ý, phải dịch. Khôn ngoan nhất là
hãy lắng nghe tiếng nói chân thành của chính họ. Chỉ
tinh thần đối thoại  mới làm nên khả
năng tiếp xúc lâu dài.  



 Đọc thêm:  Bao giờ VN có giải Nobel văn chương - Nhờ hội nhập,một cuốn sách hay đã trở lại với bạn đọc





Quảng bá mình và đóng
góp cho cái chung  



Ông
đón nhận thông tin về Hội nghị
quốc tế quảng bá văn học Việt Nam thế
nào?  




Rất 
phấn khởi! Bản thân tôi thường tha thiết với vấn đề
hội nhập văn học. Đã là người cầm bút ai mà chả có
mong mỏi có lúc được thấy tác phẩm của mình xuất hiện
dưới một ngôn ngữ khác. Một dấu hiệu làm nên tầm
cỡ của một nhà văn là khả năng họ đến với người
đọc ở những xứ sở xa lạ. Vậy đây là một bước
đi tự nhiên, nền văn học nào tác giả  nào cũng cần
tính tới.




   
Lâu nay ta đã dịch nước ngoài khá nhiều. Nhìn lâu dài 
thì việc đưa các tác phẩm văn học Việt Nam giới thiệu
với bạn bè quốc tế là cách chúng ta, trong chừng mực
nào đó, trả nợ, đóng góp ngược lại cho nhân loại.
Một hội nghị như thế này là để đi dần tới mục tiêu
đó. Đặt tác phẩm của mình trong con mắt phán đoán đánh
giá của bè bạn còn là cơ hội tốt nhất để hiểu thêm
văn học mình, chỗ còn xa cách của văn học mình so với
thế giới,  rồi tìm dần cách nâng mình lên thỏa mãn
cả mình mà cũng là thỏa mãn đòi hỏi của họ. Vươn
ra thế giới để trở lại phục vụ dân tộc mình tốt
hơn. Đây có thể là con đường vòng, nhưng trong tình hình
hiện nay,  không có con đường nào khác.




     
Trong kinh tế, ta đang lo làm hàng xuất khẩu. Để có ngoại
tệ. Để quốc gia giàu có hơn. Song không nên quên một
tác động nữa: việc này giúp cho trình độ sản xuất
của mình ngày một hoàn thiện, và trình độ bộ phận
làm hàng phục vụ nhu cầu trong nước cũng vì thế mà được
nâng lên một bước.  Một quá trình tương tự cũng
sẽ xảy ra trong văn hóa.   




Bước
đường đã qua  




Thực tế,
không phải bây giờ chúng ta mới đặt vấn 
đề quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài?




     Ngược
lại lịch sử, sẽ thấy từ sau 1945, chúng ta đã lo tới
chuyện quảng bá đối ngoại khá sớm. Tôi xin phép không
nhắc lại những thành tích nhiều người đã nêu, mà chỉ
muốn nhắc một ít kỷ niệm riêng. Một người sớm hiểu
vai trò của việc quảng bá này là Nguyễn Đình Thi. Ngay
từ 1950, tại Đại hội Liên hoan thanh niên, sinh viên thế
giới, ông Thi đã dịch bài thơ Thăm lúa của Trần
Hữu Thung để giới thiệu với bạn bè quốc tế. Bản
thân ông khoảng 1967  từng vui vẻ khoe với anh em viết
trẻ chúng tôi lúc đó rằng tiểu thuyết Mặt trận trên
cao
của ông  được dịch sang tiếng Pháp, xem đó
là cái đích mà lứa sau cũng có ngày phải đạt tới. Xuân
Diệu mỗi khi nói về nghề, rất tự hào lưu ý chúng tôi
là trong 100 bài thơ tình thế giới có bài Thơ
Duyên
của mình.




  
Tuy vậy, phải nhận lâu nay việc quảng bá tác phẩm văn
học Việt Nam tới độc giả nước ngoài không được đặt
ra đúng với quy mô, tầm vóc của nó, thậm chí có lúc
chúng ta còn e dè bảo nhau lảng tránh. Năm 1995, tại một
hội nghị văn học, tôi có tham luận, đặt vấn đề chúng
ta phải hội nhập để tránh tụt hậu, phải hướng tới
bạn đọc nước ngoài, tính xem họ cần cái gì, ta cần
viết sao để họ nghe được hiểu được, muốn chia sẻ
thêm với chúng ta. Lúc đó vấn đề hội nhập chưa đặt
ra, nên nhiều người không đồng tình với tôi, cho rằng
chỉ cần viết cho chúng ta thôi, không viết vì ai cả. Rồi
mọi chuyện cũng cho qua, cho tới hôm nay.




       
Có thể cắt nghĩa sự lảng tránh
đó như thế nào?




      
Vì có một thời gian dài chúng ta yên lòng trong
thế tự cô lập.




      
Tình hình giao lưu trao đổi văn hóa trong xã hội hiện đại
rất nhộn nhịp, thậm chí có những nước, phần văn học
dịch át cả phần tự sáng tác. Họ chỉ lấy tiêu chuẩn
văn học làm trọng, cái gì họ chưa làm được thì lấy
của người khác, một khi nó đã tồn tại dưới dạng
ngôn ngữ nước họ, thì tức là đã trở thành gia sản
của họ, và các dịch giả ở các nước ấy nghiễm nhiên
là những nhà văn sang trọng chứ không phải một thứ “con
nuôi” của nền văn học như ở ta. 




     
Chúng ta  bị chi phối bởi một quan niệm gần như ngược
hẳn lại. Gọi là dịch nhiều , nhưng thật ra chưa phải
đã chọn được những cái đáng dịch nhất. Đáng sợ
hơn là tình hình dịch theo lối đua đòi, thấy người ta
đồn đại thì dịch; cái dở của thiên hạ thì dịch ào
ào, cái hạng nhất của họ chỉ dịch nhỏ giọt hơn nữa
dịch sai, không hiểu cũng cớ dịch bừa. Nhất là không
biết học hỏi những cái đã dịch đó để nâng cao trình
độ sáng tác trong nước.




      
Xuất phát từ nhu cầu phục vụ xã hội những năm chiến
tranh và hậu chiến, ta chỉ lo viết cho ta theo những tiêu
chuẩn riêng ta. Đến lúc thấy cần ra với thế giới thì
đã quá muộn. So với thế giới quá chênh.  Lúc này
có muốn họ dịch, họ cũng không dịch.




     
Do viết kém mà thiếu giao lưu, do thiếu giao lưu nên
viết kém, cứ cái vòng tròn quanh quẩn đó mà kéo. Cũng
do sự thiếu giao lưu mà ở nhiều  người nẩy sinh
tâm lý co lại, tự minh bằng lòng với mình, mẹ hát con
khen hay. Thậm chí có người tuyên bố rằng ta chỉ cần
ta chứ không cần đến ai khác.




      
Việc quảng bá ra thế giới
đã có mang lại lợi ích cụ
thể
?




     
Tôi chỉ nêu một ví dụ. Cùng với truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là
một trong những hiện tượng văn học quan trọng nhất của
văn học ta thời hậu chiến. Vậy mà một thời gian dài,
tác phẩm này bị rẻ rúng ghẻ lạnh. May mà nhờ có bạn
bè nước ngoài người ta tìm đọc, người ta đòi hỏi,
rồi dư luận trong nước mới tìm lại đứa con lưu lạc.
Qua đây thấy nhờ ra với thế giới mà chúng ta sẽ hiểu
thêm chính chúng ta hơn.       



Mạnh về 
dân tộc, yếu về nhân loại


   
ý kiến cho rằng sở dĩ  văn học VN không
đến với bạn đọc nước ngoài vì
tiếng Việt quá khó,  ta không  tìm
được người dịch giỏi.



   
Theo tôi không hẳn vậy. Hiện ngành nghiên cứu về tiếng
Việt ở ta chưa tốt, chưa  giúp bạn bè có thêm công
cụ giao tiếp. Nhưng cái đó không phải là lý do chính.
Tôi có một kinh nghiệm là khi viết, có một từ nào không
hiểu, thường là đi tra các từ điển Việt - Hán, Việt
– Pháp, lại thấy có hiệu quả hơn là tra từ điển Việt
– Việt. Nghĩa là theo sự hiểu biết của tôi, hiện có
nhiều người nước ngoài còn hiểu sâu tiếng Việt hơn
cả cá nhân nhiều người chúng ta.




      
Khi cảm thấy người nước ngoài đối xử lạnh nhạt với
tác phẩm của mình—do đó không dịch --, lại có nhà
văn e sợ rằng do mình viết cao sâu quá tinh tế quá, họ
không hiểu nổi. Thực tế ngược lại. Để tôi kể bạn
nghe một chuyện thế này. Khoảng 1986-89 sang Moskva giữ
chân biên tập sách ở nhà xuất bản Raduga, tôi thường
phải làm việc với các đồng nghiệp người Nga, trong đó
có nhiều người rất giỏi tiếng Việt. Năm đó, tờ báo
Việt Nam X. cũng có đại diện ở Nga,  lo việc
in báo mình ra tiếng Nga để quảng bá. Biên tập viên tờ
này nhờ tôi liên hệ với ông bạn người Moskva, nhờ dịch
hộ bài vở các số từ Việt sang Nga, hứa là công xá
khá cao. Anh bạn của tôi từ chối. Đại ý anh bảo chính
các bạn viết tiếng Việt thường quá cẩu thả, tôi nhận
dịch ra tiếng Nga rất mất thì giờ, mà lại còn phải
chỉnh sửa, cho nó nghe được, chứ cứ để như nguyên
bản thì bạn đọc Nga họ “chửi” tôi chết . Tiên
trách kỷ hậu trách nhân
, tôi nghĩ rằng khi ta chưa dược
dịch, thì ta hãy tự trách ta đã.




     
Lại có nhiều người  nói chúng ta
chưa chịu
làm mạnh khâu tự
giới thiệu? Ông nghĩ sao về
vấn đề này.




    
  Phải biết chi mạnh…Và ở chỗ riêng tư, các anh
các chị ấy bảo nhau rằng phải khôn ranh một chút, chịu
khó mời mọc người ta một chút, thì may ra mới có hiệu
quả. Một bạn đọc bình thường cũng có thể thấy ngay
là không phải vậy. Lâu nay nhiều tác giả lớn của nước
ngoài trở thành bạn bầu của mỗi chúng ta, lý do có phải 
là tại họ khéo lấy lòng ta đâu, chẳng qua là vì họ
viết về những vấn đề mà ta quan tâm. Nếu có gì cần
học thì ta hãy lo học ở chỗ đó. Và nên nhớ là văn
học rất sòng phẳng không thứ ranh vặt nào hoặc sự khôn
khéo  nào kéo lại được.  




  
Tóm lại đâu là nguyên nhân khiến cho
đến nay, văn học Việt Nam vẫn chưa 
được thế giới chú  ý?  




 Có lần
tôi đọc một bài viết về văn học Ấn Độ,  thấy
họ nói  sau khi giành được độc lập, một thời gian
dài đó vẫn chỉ là nền văn học viết cho chính mình chứ
chưa phải là nền văn học hướng ra thế giới.
Văn
học Việt Nam cũng thế, vẫn còn mang tính bản địa, những
thứ ta viết giống như là thứ hàng nội địa, chưa đạt
tầm cỡ quốc tế. Xu thế hiện nay buộc  chúng ta phải
vượt qua trình độ đơn sơ đó, biến thành cái có thể
sử dụng rộng rãi trên thế giới.




   
Trong văn học có khái niệm gọi là chất exotic, nghĩa
là chất lạ lùng kỳ cục, hương vị riêng của những
vùng đất xa xôi. Nhiều khi tác phẩm một nền văn học
này  hẫp dẫn người của nền văn học khác, ở cái
hương vị hương xa hoa lạ của nó. Có những nhà văn cố
ý khai thác chất exotic này để chèo kéo bạn đọc.
Theo quan điểm thực dụng, có thể bảo đó là một chiêu
thức khôn ngoan. Nhưng các tác giả lớn không nghĩ thế.
Sôlôkhốp từng viết trong lời tựa bản dịch cuốn
Sông đông êm đềm
ra tiếng Anh “Tôi hơi khó nghĩ về
sự kiện cuốn tiểu thuyết của tôi được đón nhận
như một tác phẩm “hương xa”, tôi sẽ lấy làm sung sướng
nếu đằng sau sự miêu tả đời sống của bọn Côdắc
vùng sông Đông vốn xa lạ với người Âu, độc giả sẽ
tìm ra những điều khác, nào là những biến hóa khổng
lồ diễn ra trong những thói quen, nào là đời sống và
tâm lý con người sau chiến tranh và sau cách mạng”.  




 
Có nghĩa văn học Việt Nam chưa ra
được nước ngoài là vì các tác phẩm chưa
đặt vấn đề nhân loại?  




  Nói
cho to tát ra thì là thế. Như nhà nghiên cứu Phan
Ngọc từng nhận xét: văn học ta mạnh về dân tộc mình
mà yếu về nhân loại chung... Ngoài ra còn những vấn đề
liên quan đến ngôn ngữ, kỹ thuật viết…. Chúng ta có
rất nhiều cái lệch pha với thế giới, không chỉ lạc
hậu mà còn lạc lõng. Có một người nước ngoài từng
nhận xét đọc truyện cười Việt Nam mà chả thấy buồn
cười gì cả. Họ đã nói thật.




     
Thành thử với người trong cuộc chúng ta, lo chuyện
ra với nước ngoài trước tiên là lo tìm ra cái ngôn ngữ
chung với thế giới để nói mà họ hiểu. Đây tôi dùng
ngôn ngữ
với nghĩa rộng là cái phương thức tư duy,
cách quan niệm về đời sống. Trong việc này, trước tiên
cần một sự thành tâm, một sự tỉnh táo.    



Lắng nghe, khơi gợi...
lời chê  


Với 
một hội nghị như thế này, theo
ông, cái cần nhất là gì?  



Tôi hoàn
toàn chia sẻ nguyện vọng của nhiều đồng nghiệp
là muốn nói, muốn giảng giải để giúp cho người ta hiểu
mình. Nhưng nếu biến đây trở thành một thứ hội nghị
mừng công báo công
của các nhà văn hôm nay trước
diễn đàn các bạn bè nước ngoài thì thật là không nên
một tí nào.




  Đứng
về quyền lợi chung của cả nền văn học, tôi cho trước
tiên chúng ta cần coi Hội nghị là một dịp kiểm điểm
lại công việc và hơn thế nữa bước đầu để tìm tới
một quan niệm đúng đắn về hoạt động hội nhập văn
học, bao gồm cả hai hướng ra và vào. Nếu quan niệm sai
thì có làm cả núi công việc cũng vô ích. Còn có quan niệm
đúng thì việc nọ gọi việc kia, dần dần ta sẽ tìm ra
sức lực sẵn có mà trước đó ta không ngờ tới.




    
Việc quan trọng nhất với những người dự hội nghị 
trước tiên theo tôi là …biết lắng nghe. Khách nước
ngoài nhiều, người Việt từ hải ngoại về nhiều. Với
những người đã dịch tác phẩm của Việt Nam, thì tìm
hiểu tại sao họ dịch? Sau khi dịch xong, đưa tác phẩm
của các nhà văn VN tới bạn đọc xứ người, họ gặp
những phản ứng gì ? Có những người chưa dịch, nhưng
hẳn đã nghiên cứu về văn học VN và trong đầu óc không
khỏi có sẵn những ý đồ, những suy nghĩ. Ta cần đón
ngay cả những suy nghĩ mới hé mở của họ . Với các nhà
xuất bản, nên tìm ở họ những gợi ý và kinh nghiệm
của họ trong việc khai thác các nền văn học khác. Đây
là những bước tối thiểu để đi tới một cách hiểu
mới về quá trình quảng bá văn học Việt Nam sau này. Cũng
trong quỹ thời gian ngắn ngủi ấy, một điều quan trọng
không kém là khơi gợi được cả những lời chê của các
bạn, từ đó gỡ rối dần những vấn đề của mình.  




Có 
vẻ như mọi việc không chỉ
gói gọn trong ngày một ngày hai là
xong...  




  Quá
trình này không những lâu dài mà còn rất khó khăn, ta không
quen làm, nó đòi hỏi một sự thành tâm thực sự, nhất
là đòi hỏi sự thay đổi trong chính tư duy của những
người trong cuộc và của cả xã hội. Hội nghị này là
dịp để những người viết tự nâng mình lên, hiểu thế
giới hơn, từ đó trở lại hiểu mình hơn, và dần dần
có được những sáng tác tốt hơn. Tiếp theo, để lo việc
quảng bá văn học theo đúng tầm vóc của nó, cần lo làm
sao có được cơ chế hoạt động thích hợp. Không chỉ
cần những người dịch giỏi theo cái nghĩa là những người
chuyển ngữ, mà còn cần cả một đội ngũ chuyên gia vừa
thông thạo tình hình văn học trong nước vừa hiểu sự
phát triển chung của thế giới và biết tạo ra giữa
ta
người những mối tiếp xúc thường trực. 




 Bài viết có sự cộng tác tích
cực của nhà báo  Nguyên Anh



Đã trích in trên Đại biểu nhân dân số ra 5-1-10

Bản trên đây là 
đầy đủ hơn.







Saturday, January 2, 2010

Chiếm lĩnh và làm giầu di sản




Nhu cầu và thành tựu

Bước sang giai đoạn lịch sử hiện đại, hầu như ở nước nào trên thế giới, việc tìm hiểu và khai thác lại di sản cũng được đặc cách lưu ý: Đây có lẽ là một trong những phương thức tốt nhất để một dân tộc tự khẳng định giữa những dân tộc khác.
Riêng ở Việt Nam, thế kỷ XX lại có vai trò của một thời điểm thức tỉnh, bởi vậy, việc trở lại với gia tài văn học cha ông có những lý do riêng để càng được đẩy lên mạnh mẽ. Thời Pháp thuộc, khi bắt tay vào việc xây dựng nền quốc văn mới tức là làm văn chương theo một cách thức chưa từng quen biết) các nhà nho thức thời cũng như các trí thức tân học chân chính lúc ấy cần có một điểm tựa về tâm lý: "xưa kia, ta cũng không kém gì các người...". Và thế là các cụ bảo nhau người sưu tầm ca dao tục ngữ (Nguyễn Văn Ngọc), người mô tả phong tục xưa (Phan Kế Bính), người bắt tay phiên âm và chú giải các tác phẩm cổ điển như Truyện Kiều (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim), người làm hợp tuyển (Trần Trung Viên với Văn đàn bảo giám). Đến khi đất nước độc lập rồi bước vào cuộc chiến tranh giải phóng hơn 30 năm, di sản lại càng được xem trọng, bởi trên nguyên tắc ai cũng hiểu đó là một trong những tài sản vô giá, chúng ta phải mang xương máu ra mà bảo vệ. Các bộ lịch sử văn học được viết và in ra đều đều. Từng hiện tượng riêng trong văn học được chú ý, kể từ sáng tác của cả một vương triều như Thơ văn Lý Trần tới những tác giả cụ thể (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát...). Khỏi phải nói là cho tới ngày nay, khi đất nước bước vào giai đoạn xây dựng trên tất cả các phương diện, thì nhu cầu đặt ra với việc khai thác di sản lại cao hơn bao giờ hết. Trước khi định làm bất cứ việc gì, ta phải tự hiểu về ta cái đã. Và cái "ta" ấy nằm ngay trong kho tàng văn hoá nói chung, văn học nói riêng. Thế là mọi thứ đã sưu tầm đều gắng mang ra công bố và những bộ sách lớn mang tính cách toàn tập hoặc tổng tập nối tiếp xuất hiện. Tạm làm một sự đối chiếu thô thiển: Từ mười thế kỷ nay, ông cha ta đã có sáng tác trên văn bản và lưu truyền qua các thời đại, song chưa bao giờ thấy có một quyển lịch sử văn học nào chính thức được biên soạn, lịch sử văn chương lúc ấy còn bị đặt lẫn vào các bộ thông sử. Ngay như công việc tuyển chọn thơ văn và hệ thống hoá chúng lại trong các tuyển tập, chắc chắn người xưa đã có lưu ý, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, đến nay cũng chỉ còn lại lác đác một vài bộ, cỡ như Việt Nam phong sử của Nguyễn Văn Mại hoặc Hoàng Việt thi văn tuyển của Bùi Huy Bích. Nhớ lại như vậy để thấy ngót một trăm năm qua, chúng ta đã làm được khá nhiều mặc dù công việc đáng ra phải làm còn lớn gấp bội.



Vận hội mới của một thể thơ cũ

Cái mới của thế kỷ XX trong việc tiếp cận di sản trước tiên là ở quan niệm. Khi đã có quan niệm đúng lại có cách làm phù hợp, người ta luôn luôn có được những phát hiện mới từ trong quá khứ, do đó, khiến cho di sản ngày một trở nên giàu có. Sau đây là một ví dụ:

Trong các công trình nghiên cứu hoặc các từ điển văn học, lục bát thường được xem như một thể thơ có nhịp điệu hài hòa kỳ lạ, rất hợp với cách thẩm âm và cách suy nghĩ của người Việt. Tóm lại, nói như bây giờ mọi người hay nói, đấy là một thể thơ "đậm đà bản sắc dân. tộc". Nhưng nhìn vào văn học suốt thời trung đại, có một thực tế không thể chối cãi là nó ít được sử dụng trong việc làm thơ. Ngay cả khi làm thơ nôm - chúng tôi nhấn mạnh đơn vị bài thơ, thì thể thơ được các nhà thơ cổ điển ưa chuộng vẫn là Đường luật (thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt), hoặc về sau là hát nói. Để văn học dân gian sang một bên thì thấy đây đó trong kho tàng văn thơ cổ có lạc vào vài bài lục bát, nhưng không phải là những bài thơ hay, chúng lại quá ít và thường tồn tại ở dạng truyền khẩu, không dám chắc là có thật (như bài Ngồi rồi muốn trách ông xanh - Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười... của Nguyễn Công Trứ). Chỉ có một khu vực mà thể thơ trên sáu dưới tám ấy được sử dụng một cách hào phóng đó là truyện nôm, ở đó nó đóng vai trò một thứ công cụ giúp cho câu chuyện vận hành nhịp nhàng và người nghe dễ nhớ. Kể ra mỗi truyện nôm thường cũng có những đoạn mang đậm chất thơ và nếu trích ra, chúng cũng có thể xứng đáng được gọi là một bài thơ hay (những đoạn Kiều dặn em, Kiều nhớ nhà... ). Nhưng trong ý định ban đầu của tác giả, chúng không tồn tại độc lập. Theo quan niệm chặt chẽ của người xưa về thơ, lục bát không dùng để làm thơ được vì nó quá tự do. Mãi tới Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, rồi tới Tú Xương nhất là tới Tản Đà, thì cái nhìn về lục bát mới thay đổi, có thể nói từ nay nó sẽ được xem ngang hàng với mọi thể thơ khác tức là có thể đáp ứng những nhu cầu khác nhau của các tác giả trong việc cấu tứ nên những bài thơ khúc chiết chặt chẽ, đúng nghĩa một tác phẩm độc lập. Từ sau Tản Đà gần như tất cả những nhà thơ quan trọng của thế kỷ XX (chỉ trừ một vài trường hợp đặc biệt như Hàn Mặc Tử) người ít người nhiều đều đã ghé qua để thử tài trong lục bát. Trong số này, có hai người để lại dấu ấn đáng kể nhất, một là Nguyễn Bính với thứ lục bát duyên dáng như ca dao, một nữa là Huy Cận với những bài lục bát hàm súc cô đọng như thơ Đường Có lẽ không có gì quá đáng, nếu nói rằng chỉ trong thế kỷ XX, cái thể thơ dân tộc ấy mới có dịp bộc lộ hết mọi tiềm năng diễn tả mà nó vốn có. Được giải phóng bởi những quan niệm mới mẻ, nó trở thành chính mình, nghĩa là một nhân tố hình thức mang đậm ý nghĩa nội dung mà ai cũng phải công nhận.



Tiềm năng vốn có và ảnh hưởng xa lạ

Những người có lưu tâm tới mỹ thuật đều biết sơn mài là một chất liệu độc đáo của hội họa Việt Nam, nó cho phép các họa sĩ tung hoành để phô bày cho hết quan niệm của người Việt về cái đẹp. Tưởng như sơn mài đã có từ bao đời nay, thì nó mới có được sự gắn bó với chúng ta như thế. Hoá ra ta nhầm. Cái sẵn có trong nghề làm đồ mỹ nghệ xưa chỉ là sơn ta. Còn việc đưa ngành nghệ thuật này từ chỗ trang trí đến vai trò một phương tiện biểu hiện độc đáo đa dạng, thì mới được khởi đầu từ những năm ba mươi (Tô Ngọc Vân đã viết kỹ về sự hình thành của sơn mài trong báo cáo tại Hội nghị văn hóa toàn quốc ở Việt Bắc, 1948).

Số phận của lục bát trong thơ so với sơn mài trong hội hoạ cũng có những nét tương tự. Cả hai đều là những khả năng trong quá khứ chưa được khai thác hợp lý, và nếu như lịch sử trì trệ, thời trung đại cứ kéo dài, thì cả hai - cũng như nhiều loại di sản khác - tiếp tức bị che lấp trong quên lãng.

Tức là tuy đóng vai trò làm chủ gia sản nhưng thuở xưa ông cha ta chưa biết hết là mình có những gì, đâu là những báu vật đáng kể cho con cháu kế thừa, phát huy. Và chỉ sang thế kỷ này, con người hiện đại mới dần dần có sự kiểm kê phân loại đầy đủ cũng như đánh giá đúng các giá trị đã hình thành trong quá khứ, và tìm cách để chúng trở thành những truyền thống sinh động. ở chỗ này, cần ghi nhận vai trò của các yếu tố xa lạ. Chính là trong khi tiếp xúc ngày càng rộng rãi và gần như không chịu sự chi phối của bất cứ mặc cảm nào như đã nói ở trong bài trước - các nhà văn nhà thơ thế kỷ XX mới càng cảm thấy nhu cầu trở về với dân tộc, và gắng làm rõ sự khác người của mình.

Khi các truyền thống bền chặt bên trong một dân tộc có dịp thức tỉnh thì đây cũng là lúc những sự ảnh hưởng tốt đẹp đến từ nước ngoài hoàn tất công việc đã được giao phó.