Saturday, October 30, 2010

Ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa trong sự hình thành tiểu thuyết Việt Nam trước 1930

 Thời trung đại, văn học Việt Nam chưa có tiểu thuyết; sự hình thành tiểu thuyết theo nghĩa đúng đắn của khái niệm ấy chủ yếu diễn ra trong thế kỷ XX với những ảnh hưởng rõ rệt của văn hóa phương Tây, tiểu thuyết phương Tây. -- Đấy là nhận thức thường thấy ở nhiều người. Muốn rõ thêm người ta còn nói rằng ảnh hưởng mới mẻ này là khía cạnh làm nên sự khác biệt giữa văn học Việt Nam thời trung đại và thời hiện đại.
 Để bổ sung cho một nhận định một chiều như vậy, trong bài viết này chúng tôi muốn lưu ý: ảnh hưởng nước ngoài trong thời hiện đại còn bao hàm cả sự có mặt và tác động của tiểu thuyết Trung Quốc, hoặc nói theo một cách gọi vốn có trong lịch sử, là tiểu thuyết Tàu. Văn hóa Trung Hoa là môi giới giúp chúng ta làm quen; là khoang đệm; là điểm đến đầu tiên, trên con đường dài đến với văn hóa phương Tây (1). Từ đây có thể rút ra một số quy luật tiếp nhận văn hóa nước ngoài của người Việt, xem đó như một nhân tố thường xuyên tác động vào sự hình thành bản sắc Việt trong lịch sử.
 Từ 1939, Lưu Trọng Lư từng khái quát “Xưa kia chúng ta là những người Tàu, gần đây chúng ta là những người Tây, chưa có một lúc nào chúng ta là những người Việt Nam cả”. (2) Trong cái vẻ như là bốc đồng, như tiếng kêu buột miệng của một nghệ sĩ, câu nói vẫn có cái hạt nhân rất chính xác của nó. Quay sang tiểu thuyết, và trên tinh thần làm rõ hơn một nhận định, chúng tôi mạn phép đề nghị một công thức như sau: Xưa kia chúng ta định làm người Tàu mà dang dở không thành. Lúc học theo phương Tây, chúng ta là”những người Tây theo kiểu Tàu”. Mãi về sau cái chất phương Tây kia mới đậm nét hơn. Tới những năm ba mươi, đã có thể nói chúng ta chẳng phải Tàu mà chẳng phải Tây. Ta là Việt Nam. Nhưng cái chất Việt Nam này độc đáo không phải ở thành phần của nó mà là cái phương thức, cái cách các thành phần đó kết hợp lại.
 
 Chung quanh các tiểu thuyết ra đời
ở Sài Gòn Lục tỉnh cuối XIX đầu XX
 Văn xuôi cổ Việt Nam đã không phát triển mà văn xuôi dịch coi như không có. Lý do một phần là ở văn tự. Lý do lớn hơn là ở trình độ tư duy tự sự của người Việt (3).
 Thế nhưng từ khi người Pháp đặt chế độ cai trị, một xã hội mang tính cách tư bản hình thành, thì cái sự non nớt trì trệ ấy không thể tồn tại. Sự kiện còn ghi nhận được là việc chủ bút người Pháp của tờ Nông cổ mín đàm cho in bản dịch Tam quốc chí mới dịch ra tiếng Việt (1901). Để góp phần vào việc phổ biến chữ quốc ngữ, ý định ban đầu là thế. Rồi một việc ngoài ý định đã tới, kéo theo sự hoành hành quá đáng của tiểu thuyết Tàu.
 Người Trung quốc vốn có một quan niệm khá rộng rãi về hàng hóa, nói chung là về mọi sản phẩm mà họ định làm.Trong văn học, bên cạnh các sáng tác cấp cao – trước tiên là thơ --,có hẳn một một mảng văn chương thông thường gần đại chúng mà họ gọi là tục văn học, chủ yếu là tiểu thuyết. Ở những vùng đất Đông Nam Á, nơi mà người Tàu đến làm ăn sinh sống, loại văn học này càng nẩy nở, và lây sang cả bản địa. Một người nước ngoài đến Sài Gòn năm 1822 có kể là nhà cửa ở đây khá sơ sài, không có những nhà cao cửa rộng như bên Chợ Lớn (4). Sự chênh lệch đó chắc kéo dài suốt thế kỷ XIX và nó là tình trạng thấy ở cả kinh tế, thương mại, văn hóa, nghệ thuật. Theo Bằng Giang “nói một mình một chợ thì không đúng, nhưng truyện Tàu nổi lên trong cái bối cảnh văn học còn nghèo nàn ở thập kỷ đầu thế kỷ XX như một anh chàng khổng lồ”. (5)
Rồi Bằng Giang đưa ra con số. Từ 1904 đến 1910, trong khi sách dịch của Tàu in ra tới 46 bản thì không có một tiểu thuyết nào được viết bằng tiếng Việt (6). Từ sau 1910 thì tình hình thay đổi. Và khoảng 1924 đến 1930, con số so sánh là 29 và 183. (7)
 Chúng tôi chia sẻ với cách giải thích của Bằng Giang: đây là một phản ứng tự nhiên.Tại sao là người Việt Nam mà cứ dịch sách ca ngợi anh hùng của ai ở tận đâu đâu, trong lúc anh hùng của đất nước ta bị quên lãng? Người ta nghĩ vậy và người ta kéo nhau đi viết tiểu thuyết lấy đề tài là lịch sử Việt Nam. Nhưng nên bổ sung là nhìn chung các tiểu thuyết lúc ấy, đều viết theo lối Tàu. Cũng chương hồi. Cũng ân oán giang hồ. Cũng bốc đồng lịch sử. Thậm chí cả lối văn nữa, một chút sơn đông mãi võ, một chút cải lương sướt mướt, ta mô phỏng tuốt.
 Còn cái truyền thống của Thày Lazaro phiền, viết tiểu thuyết theo kiểu phương Tây, thì không được tiếp tục.Tác phẩm chỉ tồn tại như một hòn đảo trơ trụi.


Hà Nội ba mươi năm ấy
Tình hình ở Sài Gòn Nam Bộ nói trên cũng có nhiều nét lặp lại ở Hà Nội Hải Phòng đầu thế kỷ XX.
 Có nhiều lý do cụ thể để người ta dịch và đọc tiểu thuyết. Để học tiếng Việt; để tập tành trong nghề báo chí xuất bản; để cho ra một xã hội hiện đại; mà cũng là để mua vui... Nên nhớ là lúc ấy nghệ thuật nghe nhìn chưa có, và các phương tiện giải trí còn rất đơn sơ.
 Đọc lại mục lục các sách lưu chiểu, không phải là không thể kể ra một số tiểu thuyết lúc ấy được in theo kiểu phổ thông. Nhiều cuốn dựa theo một cuốn văn dịch. Về mặt chất lượng, chúng có vẻ những bán thành phẩm hơn là tiểu thuyết thực thụ. Nói thẳng ra rằng mình mô phỏng truyện nước ngoài lúc ấy không bị ai chê cười là đạo văn, ngược lại còn được khen là khéo biết học thiên hạ.
 Nhìn rộng ra cả đời sống văn học, một thời gian dài, bộ phận dịch lấn lướt bộ phận sáng tác, dịch là tất cả.
 Thể lệ cuộc thi thơ văn của Nam Phong 1-1918 có câu:”Tiểu thuyết phải (…) tự đặt ra, không được dịch hoặc bắt chước truyện Tàu hay truyện Tây”. (8)
 Nguyễn Công Hoan viết trong Đời viết văn của tôi: “Về văn chương, như trong Đông dương tạp chí, trừ văn vần là phần sáng tác, còn văn xuôi thì dịch từ sách Hán và sách Pháp ra, những mẩu hay về văn chương, về tư tưởng, những ngụ ngôn, kịch bản, truyện ngắn truyện dài. Truyện dài thì là những truyện ngôn tình, những truyện trinh thám …” (9). “Tập Kiếp hồng nhan (1923) là cuốn đầu tiên gồm toàn truyện sáng tác chứ không vừa soạn vừa dịch (như những sách ra trước của những người khác –VTN)” (10).
 Trong bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ, phần IV viết về văn học hiện đại, có một chương mang tên Sự thành hình của tiểu thuyết mới (11). Sau khi “thích danh” tiểu thuyết và “biện biệt” sự khác nhau giữa truyện nôm và tiểu thuyết, ông đi ngay vào Phong trào tiểu thuyết dịch. Rồi không cần rào đón, Phạm Thế Ngũ nói “phong trào này bắt đầu bằng tiểu thuyết Tàu trước”.
 Đây chính là sự thực cần làm rõ thêm.
 Về số lượng, theo Thanh Lãng, số truyện Tàu được dịch ra nhiều khiến cho người ta say mê đến nỗi các học giả đương thời phải lên tiếng cảnh cáo nhiều lần ở trên Đông Dương tạp chí (12).
 Tại sao lại có hiện tượng đó?
 Những ảnh hưởng Trung Hoa vốn âm thầm như những mạch nước ngầm, những con suối nhỏ ngày đêm xâm nhập đời sống văn hóa người Việt. Cuối thế kỷ XIX, nhiều quan chức Việt khi đi sứ Trung Hoa đã mang về những bộ tiểu thuyết, và các nhà nho của ta hồi đó thường tiếp nhận chay, các cụ không dịch mà truyền tay đọc thẳng từ nguyên bản. Nay nhân có việc dịch sách Tây—các sách học thuật-- thì tiểu thuyết Tàu như cái kho đã tích lũy sẵn chỉ cần mở ra là có hàng, sự dịch được khởi động tức thì. Nói cụ thể có nhà buôn đặt hàng là làm được ngay. Ngô Tất Tố đã mở đầu sự nghiệp của mình bằng việc dịch Cẩm Hương Đình (1923).
 Nếu có thể nói rằng nhờ tiếp xúc với văn hóa Pháp, ta bảo nhau đọc và viết tiểu thuyết -- thì cái mẫu cụ thể là tiểu thuyết Pháp, phải đợi một thời gian sau, chứ lúc này người ta chưa thể làm theo. Vì mỹ cảm xa lạ. Vì kỹ thuật viết ta không quen, không chừng là chưa thấy hay. Ngay dịch cũng không có người thạo tiếng. Những người học ở trường thông ngôn ra cung cấp cho bộ máy cai trị không đủ. Chỉ một Nguyễn Văn Vĩnh làm sao bao sân hết được. Một cách tự nhiên, người ta phải trông vào phương bắc quen thuộc.
 Từ văn học Tàu, một cách hiểu về tiểu thuyết dần dần hình thành. Viết theo kiểu Tàu là một bước đệm. Hơn thế nữa, nó là hướng đi duy nhất lúc ấy dễ mô phỏng, không cần có tay nghề lắm cũng học theo được.
 Trong mười mấy năm tồn tại của mình, Nam Phong đã cho in 50 truyện dịch, trong đó 26 truyện dịch từ Pháp văn, 24 truyện dịch từ Hán văn (13).
 Một nhà văn -- dịch giả mà các bộ văn học sử đã ghi nhận: Nguyễn Đỗ Mục. Ông nổi tiếng đến mức Thanh Lãng viết: “những truyện dịch ở Tàu của Nguyễn Đỗ Mục và ở Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh gây hẳn trong phong trào dân chúng một phong trào say mê đọc và viết tiểu thuyết... Truyện dịch của Nguyễn Đỗ Mục rồi đây sẽ gây hẳn một phong trào tiểu thuyết rầm rộ” (14).
 Một nhân tố nữa khiến người ta cảm thấy không khí Tàu bao trùm tiểu thuyết lúc này là ngôn ngữ. Nguyễn Công Hoan nhớ lại rằng văn tiểu thuyết thời bấy giờ là thứ văn biền ngẫu, nhiều câu rất bay bướm, không phải lúc cũng bay bướm. Nước Tàu vốn nhiều mặt hàng, chứ không phải chỉ có cái món nghiêm mặt giáo huấn, như một số người lầm tưởng.


 Ba loại tiểu thuyết thông dụng.
 Nhìn vào mối quan hệ văn học Việt Nam Trung Hoa từ thế kỷ XIX về trước, đã thấy hình thành một vài khuôn thước, nói nôm na là những vệt mòn: giữa thơ và văn thì người Việt lo học thơ nhiều hơn. Riêng trong văn, Trung quốc đã có nhiều loại, người Việt có máu mê sáng tác nhiều thế kỷ trước gần như không ai không biết những bộ tiểu thuyết chương hồi, tiểu thuyết dã sử... song không học theo được. Cái mà ta ảnh hưởng là tiểu thuyết tài tử giai nhân, từ đó làm ra thể truyện nôm.
 Bước sang những năm hai mươi, tình hình du nhập này cũng có những nét rất tế nhị, vừa do tình hình bên Trung quốc, vừa do cách tiếp nhận của Việt Nam.
 Theo các bộ sách nghiên cứu về văn học Trung quốc cận đại, ngay khi đặt vấn đề tiếp nhận phương Tây, các nhà duy tân, nhất là Lương Khải Siêu, đã nhấn mạnh tới vai trò giáo dục của tiểu thuyết, xem đó là một phương tiện cứu quốc. Và tiểu thuyết được hướng dẫn là phải đi vào các đề tài xã hội. Có điều loại này quá mới đối với Trung quốc nên hơi khó. Cũng có người viết, nhưng không thành công; phải mãi tới những năm ba mươi, thông qua nỗ lực của Ba Kim, Mao Thuẫn,Tiền Chung Thư, Thẩm Tùng Văn.., lối tiểu thuyết ấy mới được khẳng định. Còn trong thực tế, chiếm phần ưu thế trên văn đàn những năm hai mươi về trước là các loại tiểu thuyết vốn có từ truyền thống, nay kéo dài, được cải tiến đôi chút, như tiểu thuyết võ hiệp, hoặc tiểu thuyết uyên ương hồ điệp – “đó là một bước cải lương trong tiểu thuyết Trung quốc, do đã kết hợp được dinh dưỡng của văn học nước ngoài, kết hợp với truyền thống của văn học Trung quốc mà có” (15).
 Khi vào Việt Nam, những vang hưởng của các loại tiểu thuyết Trung Hoa trên bộc lộ thành ba loại chính:
 a/ nhánh võ hiệp- dã sử, rõ nhất là trường hợp Nguyễn Tử Siêu với các bộ Trần Nguyên chiến sử, Việt Thanh chiến sử, Vua Bố Cái, Lê Đại Hành.
 b/ thông dụng hơn, là những tiểu thuyết dựng lại những cảnh con người lưu lạc rồi ba chìm bảy nổi, mãi mới có dịp đoàn viên.Ở Trung quốc nó có nhiều cái tên khác nhau tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết hắc mạc (màn đen), tiểu thuyết khiển trách, và ở Việt Nam, tôi tạm gọi nó là tiểu thuyết trường đời --- tiền thân của tiểu thuyết hiện thực phê phán giai đoạn sau.
 Tác giả Việt Nam theo đuổi hướng viết này rõ nhất là Đặng Trần Phất với các tiểu thuyết Cuộc tang thương, Cành hoa điểm tuyết.
 Có một trường hợp, mặc dù gần đây tác phẩm không được in lại, nhưng đương thời có ảnh hưởng lớn là Kim Anh lệ sử, tác giả là Trọng Khiêm. Về nội dung, Kim Anh Lệ Sử gần với những Cảnh thu di hận, Giọt nước cành dương; trong nguyên bản bên cạnh tiêu đề, thấy có chua thêm ”tiểu thuyết về ẩn tình xã hội”.
 c/ Còn loại mà Phạm Quỳnh dùng lại thuật ngữ cổ điển là ngôn tình tiểu thuyết, thì có lẽ tương đương với thể uyên ương hồ điệp vừa nói ở trên, chúng tôi chưa có dịp đọc hết, song có cảm tưởng loại này không phát triển hoăc có thì bị xã hội cảnh cáo nói là con đường tà dâm không nên theo; để bù lại, nó lại có một kỳ tích mà hai loại trên không có. Đó là Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, cuốn sách gối đầu giường của lớp thanh niên trước 1930.


Trường hợp Tố TâmTuyết hồng lệ sử
 Trong việc đưa tiểu thuyết theo hướng Âu hóa, Tố Tâm (1925) là một cái mốc. Về mặt ngôn ngữ thể loại, người ta nói nhiều tới chất tây của bút pháp tiểu thuyết mà tác giả sử dụng. Hoàng Ngọc Phách đã rất thành tâm khi tự nhận rằng với Tố Tâm, ông muốn ”tạo ra một tác phẩm khác hẳn tiểu thuyết đã có”.
 Khác như thế nào? “Về hình thức chúng tôi xếp đặt theo những hình thức mới của Pháp, lối kể chuyện tả cảnh, theo văn chương Pháp cả.Về tinh thần, chúng tôi đem vào những tư tưởng mới, tâm lý nhân vật được phân tích theo phương pháp của các nhà tiểu thuyết đương thời” (16).
 Nhưng không phải ngẫu nhiên, đọc nó, người ta nhớ ngay tới một cuốn tiểu thuyết Tàu nổi tiếng, chắc là đã được truyền tay nhau đọc rất lâu trước khi bản dịch được công bố trên Nam Phong. Đó là Tuyết hồng lệ sử.
 Đây vốn là một cuốn tiểu thuyết Trung quốc, in trên Tiểu thuyết tùng báo, 1914; tác giả Từ Trẩm Á lấy tự truyện của mình để viết, ban đầu dùng lối kể thông thường và gọi là Ngọc lê hồn, sau cải biến thành một thứ tiểu thuyết nhật ký lấy tên là Tuyết hồng lệ sử. In ra lần đầu ở Thượng Hải (mảnh đất Trung quốc sớm tiếp xúc với Tây phương) và đến nay vẫn được coi là một cuốn có ảnh hưởng trong lịch sử phát triển tiểu thuyết Trung quốc (17). Nguyễn Hiến Lê cũng kể là đương thời ở Trung quốc, tên tuổi nó vang lên như sấm. (18).
 Riêng ở Việt Nam, Tuyết hồng lệ sử là cả một thời đại của sách dịch.Trong Theo dòng, Thạch Lam viết ”Ngày trước ta có rất ít tiểu thuyết, chỉ phỏng theo hay dịch của Tầu. Rồi chúng ta bắt chước viết tiểu thuyết, từ quyển Cành hoa điểm tuyết của Đặng Trần Phất đến quyển Tố Tâm của Hoàng Ngọc phách, qua những tiểu thuyết dịch của Từ Trẩm Á như Tuyết hồng lệ sửNgọc lê hồn; đó là thời kỳ tiểu thuyết bắt đầu nẩy nở trong văn chương ta”(19).
 Hồi tưởng lại hồi còn đi học, Xuân Diệu kể ra toàn những bài thơ buồn của Tản Đà, Đoàn Như Khuê; rồi ông tự thú:”Đồng thời, Tuyết Hồng lệ sử dịch của Từ Trẩm Á mê lịm tôi trong những điệu ca từ thật là réo rắt tất cả quyển sách là một cuộc nhặt hoa rơi chôn hoa rụng khóc hoa tàn”(20).
 Tới 1965, nó còn được tái bản ở Sài Gòn.
 Sự gần gũi giữa Tố Tâm Tuyết hồng lệ sử, theo Phạm Thế Ngũ, là ở mấy điểm: Cũng những nhân vật tài tử và lãng mạn. Cũng một mối tình éo le. Thực ra còn phải nói rõ hơn. Tình cảm Đạm Thủy và Tố Tâm cũng như Mộng Hà -- Lê Ảnh đều là tình rất chân thành, nhưng trong hoàn cảnh bấy giờ là cái gì vượt ra ngoài lẽ thường nên người trong cuộc sợ hãi lẩn tránh, mà tránh không nổi, kết cục đành đầu hàng. Cuối Tuyết hồng lệ sử, Lê Ảnh ho lao mà chết. Cuối Tố Tâm, nhân vật chính cũng có cái chết tương tự.
“Cái điệu sầu của thời đại”đổ ra bi ai trong những trang Tuyết hồng lệ sử, mà Tố Tâm ra sau chính như một tiếng họa”(21)
 Thanh Lãng trích dẫn mấy câu nhật ký Tố Tâm viết trước khi chết để rồi cảm khái”Thực là câu văn đúng hệt như trong Tuyết Hồng lệ sử!”(22)
 Nguyễn Vy Khanh, một nhà nghiên cứu hiện sống ở hải ngoại, trong một bài viết về tiểu thuyết, khi dừng lại ở đầu thế kỷ XX cũng viết”…bắt đầu xuất hiện những tiểu thuyết luân lý ái tình như Cành hoa điểm tuyết (1921), Cuộc tang thương (1923) của Đặng Trần Phất, Kim Anh lệ sử (1924) của Trọng Khiêm và Tuyết hồng lệ sử của Từ Trẩm Á, do Mai Khê dịch; sau đó đến biến cố Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách ra mắt độc giả thanh niên tân học mà nội dung hình thức đã bị ảnh hưởng rõ rệt của Tuyết hồng lệ sử (VTN nhấn mạnh), cộng với cái lãng mạn thế kỷ XIX của Pháp nơi tác giả là một người tân học”(23)
 Tại một cuộc hội thảo về văn học so sánh 2001, Đặng Anh Đào ghi nhận:

“Ở Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, ta tìm thấy cả Từ Trẩm Á, lẫn Bernadin de Saint Pierre”.(24)
 Tại sao lại có sự tiếp nhận đó? Cái lý sâu xa về phương diện tâm lý xã hội, là không khí thời đại. Nói như Phạm Thế Ngũ, lúc ấy những người giàu tình cảm không khỏi thấy sự trống rỗng ghê gớm trong lòng. Buồn nước mất, buồn nền nếp cũ đổ rơi, giá trị cũ suy tàn. Buồn thất thời thất thế, buồn trơ trọi bơ vơ. Cái buồn ấy từ bậc thức giả lan ra khắp xã hội. Người ta muốn quên, muốn được an ủi.
 Lâu nay nhiều người chỉ thấy Tố Tâm gần với Tuyết hồng lệ sử là ở hơi văn, là ở nguồn cảm thương toát ra qua câu chữ, là ở cách hình dung về cuộc đời, cái điệu tâm hồn của một thời đại dang dở, cái đó đã đành. Song, cần nói thêm rằng cuốn truyện Tàu kia sở dĩ được học theo một cách tự nhiên và nhuần nhuyễn như vậy bởi nó gần như là một mẫu mực về phương diện thể loại. Khi nói về tiểu thuyết uyên ương hồ điệp, các tài liệu nghiên cứu như Đại cương lịch sử văn hóa Trung quốc, Khái yếu lịch sử văn học Trung quốc đều ghi nhận loại này tuy là tiếp tục dòng tiểu thuyết tài tử giai nhân thời Minh Thanh, song đã có cộng thêm những ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, cụ thể là chủ nghĩa tình cảm trong văn học Đức Pháp (loại như Nỗi đau khổ của chàng tuổi trẻ Werther của W. Goethe). Nó cung cấp giải pháp tạm thời cho nhu cầu thay đổi tiểu thuyết, và chuẩn bị cho sự triệt để hơn về sau.Chính ở chỗ này, nó đáp ứng khá tốt cái điều mà những người viết văn Việt Nam như Hoàng Ngọc Phách muốn tìm. Cho nên, trong khi tâm trí đang để cả ở phía trời Tây, ông lại đã đến với nó một cách tự nhiên. Hình như với nhiều người chúng ta, và trên tất cả các lĩnh vực, cái gì cũng đã có ở bên Tầu, kể cả việc học theo phương Tây, và chỉ cần người ta nhanh mắt nhanh tay đưa về là thành công. Gặp phút xuất thần làm được thứ tuyệt phẩm (như Tố Tâm trong văn chương) thì không gì bằng rồi, còn nếu như trong khi làm vội, chất lượng có sút giảm, thì với người trong nước cũng còn là mới mẻ chán!


Nhận xét tổng hợp
 Chúng tôi đã có lần thử nêu vài đặc điểm của quá trình văn hóa Việt tiếp nhận văn hóa nước ngoài, chi phối cả trong thời trung đại lẫn thời hiện đại: Không có bài bản hợp lý, thấy người ta làm thì bắt chước theo; gặp đâu hay đấy; thường khi cái ảnh hưởng sâu sắc này nằm ngoài sự kiểm soát của lý trí người viết, tức là tiện thì dùng, tiếp nhận đấy mà vẫn tưởng là mình chẳng tiếp nhận gì cả (25).
 Đối với văn chương đầu thế kỷ XX, điều này vẫn có khía cạnh đúng. Sự xuất hiện của hàng loạt tiểu thuyết cũng như của Tố Tâm xác nhận tính chất tự phát của một quá trình.
 Nhưng hãy chú ý một điều: hầu như đương thời, các cuốn tiểu thuyết in ra đều có kèm theo vài lời bàn của tác giả về thể loại. Còn xét chung cả văn giới, sự có mặt của một cuốn sách như Khảo về tiểu thuyết (1921) của Phạm Quỳnh là cả một sự kiện mới mẻ.
 Sự học hỏi trong nghề viết cụ thể như vậy là được mở đầu bằng tiếp nhận tư duy tiểu thuyết. Thay cho lối mò mẫm mạnh ai nấy làm như thời trung cổ, khi nghề cầm bút còn mang nhiều chất một thứ nghề thủ công, giờ đây lý tính bắt đầu có mặt. Sự sáng tác đã được xã hội hóa, người viết, người dịch,người nghiên cứu, người phê bình, chia nhau mà làm, hào hứng tin cậy.
 Đây là cách làm chỉ thấy ở văn hóa phương Tây.
 Rồi sự học hỏi sẽ nên công. Từ sau 1932, chúng ta có một nền tiểu thuyết gần với phương Tây của thế kỷ XIX. Trong sự khác nhau rõ rệt -- văn của Thạch Lam, Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao,Nguyên Hồng …vẫn gợi nhớ A. Daudet, G.Maupassant hơn là bất cứ một nhà văn Trung Hoa hiện đại nào (26).
 Còn trong thời kỳ mới hình thành tiểu thuyết,thì sự tiếp nhận này chưa thể nhuần nhụy hiệu quả. Cái thấy rõ hơn là ảnh hưởng tới từ phương bắc.
 Điều đáng nói là chúng ta thường hay lảng tránh thứ ảnh hưởng này.
 Đây là công thức phổ biến được sử dụng khi nói về quan hệ văn hóa Việt Nam Trung Hoa, hầu như trên tất cả các lĩnh vực:
 a/ Tối đa:”văn hóa ta chẳng kém gì văn hóa Tàu,chỉ kẻ bắc kẻ nam phân biệt”.
 b/ Nếu không được thì cố giữ lấy cái tối thiểu:”tất tần tật mọi thứ, ta tự nghĩ lấy hết, chẳng học họ gì cả”.
 c/ Riêng từ đầu thế kỷ XX tới nay:”có học thì học hẳn vào phương Tây chứ Tầu thời nay cổ rồi”.
 Mấy phương sách trên đã đắp đổi cho nhau, tùy tình hình mà áp dụng.
 Suốt trường kỳ lịch sử, người Tầu thao túng nền kinh tế đô thị từ các phủ huyện tới Hà Nội Hải Phòng và Sài Gòn lục tỉnh. Nhưng các sách nghiên cứu về kinh tế thường lờ đi không nói hoặc có nói chỉ dăm dòng chiếu lệ. Cứ tưởng không nói tới tức là sự vật không tồn tại.
 Một bộ phận văn hoá mà nước nào người ta cũng coi trọng là văn hóa hành chính, văn hóa cầm quyền. Các nhân vật lịch sử có đóng góp vào việc canh tân đất nước như Lê Thánh Tông Minh Mạng trước khi bắt tay vào việc đều cử người hoặc sang Tàu xin sách. Không chỉ luật Gia Long”đồ”theo luật nhà Thanh, mà luật Hồng Đức cũng là được biên soạn theo luật nhà Đường; nhưng những ai có trách nhiệm được biết điều này đều chỉ thì thào với nhau chứ không nói với người khác.
 Thì trong tiểu thuyết --- cái việc học Tầu để nghĩ, học Tầu để làm, là một bước đệm trên đường đến với tư duy tiểu thuyết phương Tây, có bị lảng tránh, cũng là dễ hiểu. Trung Hoa vẫn là cái cửa chính để văn hóa Việt Nam ra với thế giới, mà ta vừa sử dụng thoải mái, vừa dễ xí xóa coi như không có.
 Xét tổng quát, văn hóa Tầu là cái ta học theo khi còn quá non nớt; là yếu tố kích thích khiến ta cố vươn tới khi có thể. Rồi là cái mà ta phải giã từ, khi đã trưởng thành -- cái thời điểm vàng son của sự trưởng thành ấy gói gọn trong khoảng 1932 -45.
 Nhưng liệu có giã từ được không khi, mặc cho hoàn cảnh lịch sử thay đổi, các yếu tố của nền văn hóa láng giềng kia luôn luôn như đầu tướng giặc Phạm Nhan, chặt đầu này lại mọc đầu khác?
 Tiểu thuyết là một trong những câu trả lời quá rõ ràng.
 Điều cần nói thêm là do tiếp nhận văn hóa nước ngoài theo kiểu thiếu sòng phẳng này, nên ở ta sự tiến triển nghệ thuật thường dang dở, bản sắc không sao xác lập được rõ nét, mà lâu dần rồi cái sự mờ nhạt kia lại trở thành một bản sắc ổn định./.




Chú thích


(1) Không phải là không có người xác định rằng bên cạnh ảnh hưởng phương Tây thì ảnh hưởng Trung Hoa trong thế kỷ XX cũng rất lớn. Nhà nghiên cứu Phương Lựu, trong bài viết”Quan niệm văn học của Lương Khải Siêu”, in trong Tân thư và xã hội Việt nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (tr 128) cho rằng”Do nhiều nguyên nhân về lịch sử địa lý và văn hóa, mối liên hệ về quan niệm văn học giữa Việt Nam và Trung Hoa là liền mạch một cách tất yếu. Nhưng dường như giới nghiên cứu mới chú ý các mối liên hệ thời cổ trung và hiện đại. Đã đến lúc phải chú ý thêm mối liên hệ ấy trong thời cận đại”. Ý kiến này của Phương Lựu không được ai để ý và bản thân ông, theo chỗ chúng tôi đọc được cũng không tiếp tục.
 (2) Lưu Trọng Lư (1939)”Một nền văn chương Việt Nam”,tạp chí Tao Đàn số 2 ra tháng 3-1939, bản in lại năm 1998, tập I, tr 119
(3)Vương Trí Nhàn (2004)”Vài nét về tư duy tự sự của người Việt”sách Tự sự học một số vấn đề lý luận và lịch sử, NXB Đại học Sư phạm 2004, tr 156-170
(4)Người nước ngoài đây là John Crawfurd, trưởng phái đoàn mà năm 1822, toàn quyền Anh ở Bengale gửi qua Thái Lan và Việt Nam để thương thuyết.”Theo John Crawfurd ghi trong nhật ký, thành phố này hồi đó gồm hai thị trấn, cái bây giờ gọi là Chợ Lớn thì hồi đó gọi là Sài Gòn, cái bây giờ gọi là Sài Gòn thì hồi đó gọi là Bến Nghé (…) Nhà cửa của thương gia Trung Hoa trông đồ sộ hơn nhà cửa của người Việt nhiều. Đang khi John Crawfurd đi thơ thẩn trong thành phố, ba gia đình Trung Hoa loại khá giả nhất đã ra cửa mời ông vào chơi. Bên trong những ngôi nhà của họ trông thật rộng rãi đồ đạc rất nhiều và tiện nghi cũng đầy đủ”. Trên đây là lời lược thuật của Patrick J. Honey giáo sư sử học người Anh chuyên về Việt Nam. Dẫn theo Patrick J. Honey, Trương Ngọc Phú chú giải”Việt Nam vào thế kỷ XIX qua hồi ức của John White, John Crawfurd, George Gibson”; tập san Nghiên cứu Huế, do Trung Tâm nghiên cứu Huế xuất bản, tập I. 1999, tr. 216
(5,6,7) Bằng Giang (1992) Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865—1930 NXB Trẻ,TP HCM 1992 các trang 246, 245, 255
(8) Dẫn theo Phong Lê (2006)”Văn học trong đời sống báo chí -- xuất bản từ nửa sau thế kỷ XIX, đến nửa đầu thế kỷ XX”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 8-2006
 (9,10) Nguyễn Công Hoan (1971) Đời viết văn của tôi Nxb Văn học các tr. 57, tr 81
(11) Phạm Thế Ngũ (1965) Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, ba tập, tập III,S. Quốc học tùng thư, tr. 318
(12) Thanh Lãng (không rõ năm) Bảng lược đồ văn học Việt nam, quyển hạ (1862-1945) NXB Trình Bày, Sài Gòn,tr 450
(13) Nguyễn Khắc Xuyên (2002) Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong, NXB Thuận Hóa, TT Văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, tr. 385-386
(14)Thanh Lãng Sđd, tr 526
(15) Vương Văn Anh (chủ biên), Phạm Công Đạt dịch (2005) Văn học hiện đại Trung quốc nhìn từ Thượng Hải NXB Văn học, tr. 173
(16) Theo Lê Thanh – Cuộc phỏng vấn các nhà văn, Hà Nội 1943. Một phần cuộc phỏng vấn này được trích trong Vương Trí Nhàn (biên soạn) Khảo về tiểu thuyết NXB Hội nhà văn 1996, tr 51
(17) Nhiều bộ lịch sử văn học, nhiều tập từ điển văn học, được xuất bản ở Trung quốc mức độ nặng nhẹ khác nhau đều có nói tới Tuyết hồng lệ sử. Mạng book.ndcnc.gov.cn/ DLib/product.asp? DocID = 9695 - 9k cho rằng tác phẩm “có một địa vị trọng yếu trong sự phát triển hình thức tiểu thuyết” .
(18) Nguyễn Hiến Lê (1969) Văn học Trung quốc hiện đại Tác giả tự xuất bản S. 1967, tr 134
(19) Thạch Lam (1938)”Vài ý kiến về tiểu thuyết” xem  Vương Trí Nhàn Khảo về tiểu thuyết, sđd, tr 72
(20) Xuân Diệu (2001) Toàn tập sáu tập, tập III, NXB Văn học, tr.176
(21) Phạm Thế Ngũ sđd, tr 359
(22) Thanh Lãng sđd tr 526
(23)Xemhttp://www.hobieuchanh.com/pages/baiviet/NguyenVyKhanh/NVK_thekytieuthuyet01.htm
(24) Đặng Anh Đào Văn học so sánh, lý luận và ứng dụng, NXB Khoa học xã hội 2001, (tr397)
(25)Vương Trí Nhàn”Quá trình du nhập của một thể tài ‘“Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết”, in trong Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho tới 1945, NXB Đại học quốc gia Hà Nội,2005
(26) Trong bài này, chúng tôi xét tiểu thuyết theo nghĩa hẹp, tiểu thuyết khác với truyện ngắn. Còn như, nếu hiểu tư duy truyện ngắn cũng là một bộ phận của tư duy tiểu thuyết rồi nhìn vào đời sống văn học thì thấy: những năm đầu thế kỷ XX cũng là thời kỳ ra đời của một số truyện ngắn viết theo bút pháp Tây phương của Phạm Duy Tốn, mà nổi nhất là Sống chết mặc bay (1918). Tức là trong lúc này một kiểu ảnh hưởng khác hẳn đã hình thành, không thông qua con đường của văn hóa Trung Hoa. Sự Âu hóa theo hướng mà Phạm Duy Tốn mở ra khá toàn diện: Một là ở nội dung trực tiếp đi vào các vấn đề xã hội. Hai là cái điệu tâm hồn con người không sướt mướt sầu thảm tìm cách lảng tránh thực tế. Ba là lối văn gọn gàng linh hoạt. Cái mới của văn xuôi thế kỷ XX được chuẩn bị từ Sống chết mặc bay sau này sẽ được hoàn thiện với các sáng tác của các nhà văn sau 1930. Nhưng đây là một hướng nghiên cứu tiểu thuyết mà trong bài này chúng tôi chưa có điều kiện theo đuổi.




In lần đầu trên Talawas
31-10-2006

Wednesday, October 27, 2010

Ghi chép hàng ngày ( 13)

11-10

NHỮNG SẮC THÁI KHÁC NHAU CỦA CÁI ĐẸP

Một trong những câu nói về Hà Nội hay nhất độc đáo nhất trong dịp Ngàn năm Thăng Long thuộc về nhà văn Nguyên Ngọc. Ông bảo: Hà Nội của ta đẹp thật, đẹp khủng khiếp, đẹp đến mức người ta đã phá nó ghê gớm, phá nó riết ráo thế mà nó vẫn còn đẹp như vậy.



Sở dĩ nhiều người thích vì theo tôi câu nói thỏa mãn cả tình yêu của chúng ta với Hà Nội lẫn cảm giác đau đớn rằng nó bị phá hoại, tự chúng ta đã phá nó một cách tàn bạo.

Nhưng nói Hà Nội đẹp có lẽ còn chung chung quá. Đẹp như thế nào, chúng ta còn phải tìm cách nói rõ.



12-10

QUẢNG CÁO TRÊN TV

Mấy năm trước, tôi nhớ vào trước bản tin thời tiết, thường có cảnh quảng cáo sữa, một em bé đi đâu về chạy sầm sầm vào nhà, mở tung tủ lạnh lấy ra que kem, rồi thè lưỡi ra trước mặt ống kính.

Tôi hay nói với người trong gia đình ngày xưa trẻ mà như thế thì chết đòn với các cụ. Có thèm ăn thèm uống đến mấy cũng không thô bỉ như thế được. Mà lại nhơn nhơn ra nữa chứ. Đưa lên TV để trẻ em nhà nào cũng xem trong bữa cơm chiều liệu có nên không?



Còn đây là quảng cáo điện thoại di động: một nhóm công chức trẻ mặt mũi cực kỳ sáng sủa nhưng trong giờ làm việc chỉ chơi bời nhẩy nhót, đến lúc sếp gọi mới cuống cuồng chạy đi lấy dữ liệu.

Xin nhắc lại người thanh niên ở đây mặt mũi rất thông minh, cái nhìn thẳng đầy tự tin rõ ra người có học hành. Nhưng cảm tình của tôi với anh ta bay biến hẳn khi anh ta vênh mặt sung sướng gặp ai cũng khoe vì có được chiếc điện thoại di động hiện đại.



Thời HN còn xe điện, tôi nhớ có những người bán kem trên tàu và những người quảng cáo lơ tẩy hồng hoặc kim băng, đá lửa…Họ có lối nói thế nào đó mà làm cho người ta dù biết là mình bị lừa, vẫn cứ cuống cuồng đi tìm hàng lạ.

Cách nói của những người quảng cáo trên TV hôm nay thường cũng vậy. Cả nước lúc nào cũng như đang ngồi trên toa xe điện ngày cũ.



16-10

NGƯỜI TẦU TRONG

CÁC CÔNG VIỆC TRIỀU CHÍNH Ở NƯỚC VN PHONG KIẾN

Trong các bộ Đại việt sử ký toàn thư, Đại việt sử ký tiền biên đều có ghi, thừa tướng của Lê Đại Hành một thời chính là Hồng Hiến, một người phương Bắc tức người Trung Quốc. Ông này, theo Toàn thư ( I, tr. 223) thông hiểu kinh sử, thường theo vua đi đánh giặc, làm quân sư, khuyên vua lên ngôi, mưu bàn việc nước, có công lớn vua tin dùng như người tâm phúc.

Thời Trần Dụ Tông (1341 1369) có dùng một viên thầy thuốc là Trâu Canh. Cha Canh là Tôn từng theo quân Nguyên vào VN, đến khi quân Nguyên đi thì ở lại, theo Tiền biên, thâm nhập vào hàng ngũ cầm quyền ” nhân đó dùng thuốc chữa cho các vương hầu trong nước đa số là hiệu nghiệm”.

Canh có lần đã mách vua một phép lạ chữa bệnh, được ưu ái ngày đêm ở luôn trong cung cấm. Các sách đều ghi lúc trò chuyện với vua, Canh thường dùng những câu kỳ quặc nghĩ những kế xảo quyệt để mê hoặc.

Theo Tiền biên, từng được phong là Phục hầu Tuyên Huy viện đại sứ kiêm Đại y sứ.



Đến thời Nguyễn , thì khá nhiều quan lại vốn người Minh sang VN một vài đời, nhập quốc tịch VN. Phan Thanh Giản là một ví dụ .



19-10

CHIÊM THÀNH DỊCH NGỮ

Đến bây giờ tôi mới có dịp đọc các báo cáo trong Hội thảo Việt Nam học lần thứ III tổ chức tại TPHCM cuối 2008. Một báo cáo loại đó là của Lưu Chí Cường , Đại học Bắc Kinh.

Ông này cho biết giới nghiên cứu TQ vừa phát hiện thấy một cuốn từ điển Chăm—Hán đơn sơ mang tên Chiêm Thành dịch ngữ, làm từ đời Minh (1368-1644).

Người Hoa thời ấy đi tới đâu ở Đông Nam Á thường cũng lo tìm hiểu ngôn ngữ người bản xứ. Việc đào tạo thông sự (interpreter) và chuyển dịch giữa chữ Hán và ngôn ngữ địa phương được xem như một việc không thể thiếu khi xâm nhập vào các vùng đất mới.

Với Việt Nam, họ đã có làm một cuốn An Nam dịch ngữ. Cuốn này có thể là bằng chứng tốt cho những ai muốn tìm hiểu quan hệ Trung Việt thời ấy, cũng như tìm hiểu một trạng thái lịch sử của tiếng Việt .



Trong một bài báo viết về việc Ấn độ trong việc chống lại xu thế bành trướng của Trung quốc, người ta tỏ ý lo, TQ có nhiều chuyên gia rất giỏi về Ấn độ, trong khi việc triển khai nghiên cứu TQ của Ấn độ khá chậm và lực lượng thì quá mỏng.



Lang thang trong kho báo bày sẵn thư viện thấy có một tạp chí của Bộ ngoại giao mang tên Nghiên cứu quốc tế. Số ra 6-2010 của tạp chí này đưa tin hiện Bộ có cả một nhóm chuyên nghiên cứu về đề tài Sống chung với nước láng giềng lớn hơn, thực tiễn và chính sách . Có một bài của Nguyễn Vũ Tùng , có thể đọc lại ở địa chỉ sau:

http://www.dav.edu.vn/nr040730095659/nr040730100743/nr100819150732/dt100819150734



Trong một số khác của tạp chí, ở chuyên mục này, tôi đọc thấy một bài nghiên cứu về cách tồn tại của Phần Lan bên cạnh nước Nga của Lenin, Stalin.



20-10

VINH QUANG CỦA NGHỀ DỊCH

Đang có chủ trương xét tặng giải thưởng HCM và giải nhà nước. Tôi chỉ chú ý, không có giải cho những người dịch.

Còn nhớ, ở Liên xô trước đây có những nhân vật như Nikolai M. Liubimov ( sinh 1912). Ông này từng dịch nhiều tác phẩm cổ điển của phương Tây sang tiếng Nga, và nhờ thế được giải thưởng nhà nước Liên xô 1972. Ông cũng có tên trong Bộ Đại bách khoa toàn thư Liên xô 30 tập, đứng ngang hàng với các nhà hoạt động văn hóa tầm cỡ khác.

Một tác phẩm lớn của Pháp được Liubimov dịch là bộ Gargantua Pantagrue của F. Rabelais.

Nhớ khoảng 1972-1973, Nguyễn Khải đọc ở đâu đó về kể là dân Pháp cho rằng có hai người Nga được coi là rất hiểu Rabelais. Một là M.M. Bakhtin, ông đã “dạy” cho con người hiện đại đọc nhà văn này như thế nào ( ý nói tới cuốn Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian trung thế kỷ và phục hưng ). Hai là Liubimov. Có người nói đùa, giá kể bản tiếng Nga Gargantua Pantagrue của Liubimov được dịch ngược lại ra tiếng Pháp , chắc sẽ giúp người Pháp hiểu và yêu Rabelais hơn.



21-10

Đọc tin trên Đại đoàn kết

Công ty khoá Minh Khai (Hà Nội) “làm giả thương hiệu của chính mình”, nhập hàng Trung Quốc về rồi lén lút gắn thương hiệu mình vào.

95% hàng may mặc tại thị trường Trà Vinh là hàng Trung Quốc, trong đó 50% là hàng Trung Quốc dán nhãn mác Việt Nam.

“Ty tỷ” các loại mặt hàng khác nhau hiện có trên thị trường Việt Nam, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền biển, đều mang “quốc tịch” hàng hoá made in China .

Cả những món đồ thực phẩm khô như ô mai, mứt hoa quả, khô lóc, khô nai... đã có thương hiệu truyền thống và hình thành từ những làng nghề vài trăm năm tuổi trở lên, bây giờ đều gần như bị “Trung Quốc hoá” ( bị TQ cướp mất nghề thì đúng hơn—VTN )

Tại sao người ta vẫn dùng? Tham rẻ thì đã đành, bài báo cắt nghĩa tiếp, nhưng điều này còn chứng tỏ người tiêu dùng Việt Nam mất lòng tin vào ngay sản phẩm của đất nước mình.

Với tôi, cái chính cần nhìn vào đám người tổ chức nhập hàng Tầu về rồi dán nhãn VN kia. Họ cho thấy nhiều người mình hiện đã đánh mất một cái gì rất lớn, đánh mất lòng tự trọng và một suy nghĩ nghiêm chỉnh về đời sống. Đánh mất cả thói quen làm việc bình thường lẫn khả năng kiếm sống một cách lương thiện.

Người ta sẵn sàng làm mọi việc dù đã biết đó là việc xấu, chỉ cần to mồm lấp liếm nói ngược lại là yên tâm cứ thế tiếp tục.



MỨC ĐỘ CỦA TAI HỌA

Một đại diện của Hồng thập tự quốc tế nhận xét về tình hình lũ lụt miền Trung: “Tôi cho rằng thách thức đối với miền Trung Việt Nam đó vừa là mức độ ảnh hưởng trở nên ngày một nghiêm trọng hơn và đồng thời vừa là tình trạng không biết trước điều gì sẽ xảy ra cũng gia tăng.”



22-10

VỀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG NGHỆ THUẬT

ĐƯỢC DÁN NHÃN QUỐC TẾ

Một ám ảnh của người làm nghệ thuật thời nay là muốn đưa mình gia nhập các sinh hoạt quốc tế. Chỉ có điều ham muốn không đi liền với khả năng thực hiện, chúng ta đã xa rời thế giới lâu ngày và hiện đang ở vào trình độ thấp quá, tới mức những ao ước quay trở lại chỉ là câu chuyện hài hước và nhiều khi là kệch cỡm.

Một khách mời có cỡ tại Liên hoan phim quốc tế Hà Nội lần thứ nhất khuyên ta phải có cái gì của mình thì mới mời được người khác tới, không một liên hoan phim quốc tế nào chỉ sống bằng phim của các vị khách.

Sự hào phóng thương hại không bao giờ kéo dài. Chủ thế nào, khách như thế.



23-10

CÂU THƠ NÀO ĐÚNG CHỮ NÀO ĐÚNG

Dưới đây là bài thơ của Chế Lan Viên làm khi tạm biệt người vợ đầu, chưa đăng ở báo nào, những năm chiến tranh tôi biết là do Lưu Quang Vũ đọc



Đến chỗ đông người anh biệt em

Thôi đừng ngoái lại để anh nhìn

Mày ai trăng mới in ngần thật

Dao khía lòng anh trăng của em



Tôi đã ghi lại trong một bài báo có in vào tập Chuyện cũ văn chương ( 2001)



Giờ đây lại thấy trên báo chép thành :

Đến chỗ đông người anh biệt em

Quay đi thôi chớ để anh nhìn

Mày em trăng mới in ngần thật

Cắt đứt lòng anh trăng của em



24-10

Kỳ này thật đã đầy là các tài liệu viết về Linda Lê. Tôi sẽ phải đọc các bài viết của nhà văn này một cách từ từ vì ở nhiều bài, gần như phải dừng lại ở từng câu một. Hàm súc và cô đọng quá.

Nhưng có những chi tiết trong tiểu sử chỉ cần nhớ tới là thấy thú vị : Từ 26 tuổi, 1989, trước khi viết văn, cô đã từng làm ở nhà xuất bản Hachette ở đó đã viết rất nhiều những lời dẫn của nhà xuất bản cho hàng loạt tác phẩm nổi tiếng . Tới năm 1999 thì những bài viết này được tập hợp trong một cuốn sách mang tên Tu écriras sur le bonheur (Mi sẽ viết về hạnh phúc) sau đó còn được tái bản.

Có nghĩa là trước khi viết văn, -- nói theo ngôn ngữ của văn học VN hiện nay—nhà văn này đã viết phê bình và từ sách vở mà cô tìm thấy gợi ý về sáng tác.

Có người viết rằng tác giả này có thể đi từ Havre, nơi trú ẩn đầu tiên của cô ở Pháp có hình bóng J. Sartre, làm bài văn luận đầu tay về chủ đề bánh Madeleine của M. Proust, rồi đến đường de l'Odéon để thăm E.M.Cioran và không hề quên lời khuyên của F. Kafka...



Nên chú ý thêm là không chỉ sống với văn học đương đại, tác giả này cũng đã đi tới cùng trên con đường tìm hiểu văn học cổ điển

Tôi đắm mình trong những tác phẩm cổ điển của đất nước hình lục lăng, trong nghiên cứu những người viết Từ điển bách khoa toàn thư thế kỷ Ánh sáng. Tôi ngập trong thơ của Victor Hugo, của Verlaine, Rimbaud. Tôi thấy gần gũi với những vở kịch của Racine. Tôi đam mê "Xưng tội" của Rousseau, những cuộc lao dốc xuống địa ngục của Nerval, cách mạng văn học được những nhà siêu thực khởi xướng, những giáo hoàng của tiểu thuyết mới.



Không biết bao giờ, loại nhà văn đơn độc như Linda Lê mới xuất hiện ở xứ ta. Hôm nay đây ai định đi theo con đường đó thì liền bị lôi về cuộc sống “đội ngũ’ thực chất là một cuộc sống bày đàn. Làm gì có ai đủ bình tâm mà ngồi đọc như nhà văn ấy? Và nếu có định đọc chăng nữa thì lấy đâu ra vốn văn hóa vốn ngôn ngữ vốn tâm lý để chung sống với cả thế giới hôm qua lẫn thế giới hôm nay như thế?

Thursday, October 14, 2010

Để hiểu thêm TỐ HỮU

Trước mắt tôi là sưu tập Văn Nghệ số 40 ra 3-1953. Lúc này cơ quan Hội văn nghệ đang đóng ở rừng Việt Bắc. Nhân cái chết của Stalin, tạp chí của Hội ra một số đặc biệt, không chỉ Tố Hữu mà nhiều tác giả khác có bài liên quan tới sự kiện này.





Về thơ

Chế Lan Viên có Stalin không chết, mở đầu bằng mấy câu

Stalin mất rồi

Đồng chí Stalin đã mất!

Thế giới không cha nặng tiếng thở dài



Ở đoạn dưới

Mẹ hiền ta ơi

Em bé ta ơi

Đồng chí Stalin không bao giờ chết



Triệu triệu mẹ già em dại

Đều là súng Stalin để lại ( VTN gạch dưới)*

Giữ lấy hòa bình thế giới

Tiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời



Các bài tiếp theo:

Trước bài Đời đời nhớ Ông của Tố Hữu là bài Nhớ đồng chí Sta lin của Huy Cận

Tiếp đó các bài của Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn.

Xuân Diệu có bài Thương tiếc Đại nguyên soái Stalin:

Nghe tin mất mới thấy lòng quyến luyến

Từ bao lâu yêu Người tận tủy xương

Tiếng khóc đây là tất cả can trường

Thấy Người thật là bát cơm miếng bánh

Người gắn với chúng con trong vận mệnh



Về phần văn xuôi.

Phan Khôi có bài Một vị học giả mác-xít thiên tài. Trước khi viết kỹ về cuốn Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngôn ngữ, Phan Khôi có đoạn dạo đầu ngắn:



Đối với cái chết của Đại nguyên soái Stalin, vấn đề đề ra trước mắt những người đang sống là: Chúng ta phải học tập Stalin, học tập đạo đức cách mạng và trí tuệ của ông, được cả càng hay, không thì được phần nào cũng hay phần ấy, đó là một đảm bảo vững chắc cho cuộc thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của Chủ nghĩa tân dân chủ.

Lê Đạt thì xuất hiện như một phóng viên, ghi lại không khí một nhà máy trong rừng khi nghe tin Stalin mất. Bài viết khoảng 3.000 chữ này kể chuyện cái chết của Stalin đã gợi lên niềm xúc động to lớn, từ đó đánh thức tinh thần lao động sáng tạo của cả một tập thể công nhân gang thép.



Xin phép mở một dấu ngoặc.

Ngoài các bài Liễu, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Tế Hanh còn có bài thơ ngắn sau đây, viết trong đợt thăm Trung quốc 1962. Tôi vẫn thường nhẩm lại mỗi khi nhớ tới đời sống tinh thần của chúng tôi những năm 1965 về trước.

Hồ Nam xe chạy không dừng bước

Dãy núi cao liền dãy núi cao

Quê hương lãnh tụ mây thêu nắng

Thấy mặt trời lên nhớ bác Mao

Tôi muốn thầm nói với Tế Hanh: Anh không việc gì phải xấu hổ cả. Hồi ấy, bao nhiêu người nghĩ thế, chứ đâu phải riêng anh!



Trở lại chuyện Tố Hữu.

Nếu có ai hỏi tôi thích bài nào của Tố Hữu nhất, tôi sẽ nói rằng đó là cụm mấy bài ông làm hồi đi tù, in trong phần Xiềng xích của tập Từ ấy.

Bài Nhớ đồng

Gì sâu bằng những trưa thương nhớ

Hiu quạnh bên trong một tiếng hò

Bài Tiếng hát đi đầy

Hỡi những anh đầu đi trước đó

Biết chăng còn lắm bạn đi đầy

Những bài thơ này có cái giọng mà sau này không bao giờ Tố Hữu có nữa. Nhà thơ bơ vơ trong cảnh đơn độc ở núi rừng. Phải làm thơ, phải lấy thơ để tự khẳng định, thơ cất lên không để cho ai mà trước tiên để cho mình .

Những bài thơ viết khi người ta không biết mình sẽ sống hay chết như thế này,

tôi còn gặp một lần nữa trong thơ VN về sau, đó là tập Ánh sáng và phù sa.

Khi soạn tập thơ (1960), Chế Lan Viên chưa chuyển sang giai đoạn lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa , như Xuân Sách sẽ viết .



Sinh thời, Tố Hữu hay nói, đại ý hãy coi ông là nhà cách mạng, sau đó mới là nhà thơ.

Như thế tức là ông cũng đã biết chỗ đứng của mình trong lịch sử.

Có điều không phải luôn luôn người ta làm được đúng như những điều người ta tự xác định.

Là một người hết sức nhạy cảm và sẵn có cả chất mệ của quê hương, ông thừa biết nhiều khi dân văn nghệ ca ngợi thơ ông vì ông là quan chức phụ trách người ta, nắm sinh mệnh của người ta.

Song nếu đủ sáng suốt để từ chối những lời nịnh bợ thường trực thì ông đã không còn là ông nữa.

Lẽ đời là vậy, lúc được được quá cái đáng được, thì lúc mất cũng mất quá cái đáng mất.

Nhưng về phần chúng ta, mỗi lần đả động đến ông, tôi nghĩ nên phân biệt đang nói về ông như một quan chức cao cấp hay nói về ông như một nhà thơ.



Khoảng năm 1973, Hà Nội có một triển lãm điêu khắc với ngôn ngữ khá hiện đại của Nguyễn Hải và Lê Công Thành. Chính Tố Hữu cũng rất thích -- sang Hội nhà văn nghe ngóng về, Nguyễn Khải báo cho tôi biết tin vui đó. Nhưng rồi hóa ra chúng tôi mừng hụt. Mấy vị to hơn tới xem cho là không được. Và người ta lại thấy Tố Hữu cho truyền đi nhận định không thể tìm tòi kiểu ấy, mà hãy trở lại với thứ điêu khắc mô phỏng đời thường, kiểu Trần Văn Lắm!

Tức là cũng như chúng ta, Tố Hữu cũng có lúc phải làm ngược điều mình nghĩ.

Trước đó năm 1965, Nguyễn Thành Long bị nạn với bút ký Cái gốc. Bài ký cũng chẳng có chuyện gì đen tối lắm, chỉ tả phụ nữ trong chiến tranh quá nhếch nhác, nên bị Đảng đoàn Hội phụ nữ kêu.Theo chỗ tôi nhớ, lúc đầu Nguyễn Thành Long rất tự tin, vì Tố Hữu đã nhắn xuống tỏ ý bênh, “họ có Đảng đoàn thì mình cũng có Đảng đoàn chứ “( ý nói Đảng đoàn phụ nữ và Đảng đoàn văn nghệ-- hai cấp tương đương nhau ). Thế nhưng bên phụ nữ kiện lên trên và cuối cùng văn nghệ thua, Cái gốc chung số phận với Tình rừng.



Nguyễn Khải kể khoảng năm 1963, có lần được dự một cuộc họp cùng bí thư tỉnh ủy các tỉnh đồng bằng do Tố Hữu chủ trì, chắc là bàn về công tác tuyên huấn. Trong lúc nghe mọi người thảo luận, bỗng Nguyễn Khải thấy Tố Hữu đang đi quanh thì dừng lại, ghé vào tai mình nói nhỏ:

-- Chăc nhà văn nhìn cảnh này như một trò hề?!

Rồi ông lảng ngay, lên bàn chủ tịch, tiếp tục lo nốt các việc đang làm dở.



Cái lạ của các nhà văn sau 1945 là khi tính viết con người thời nay, chỉ hay viết về nhân vật quần chúng công nông. Còn những người kéo quần chúng đi, vẽ ra cái mẫu điển hình để quần chúng sống theo và nói chung chỉ có vai trò đơn giản là…lèo lái toàn bộ đời sống – những nhân vật quan chức nhân vật cán bộ kiểu ấy lại chả ai viết bao giờ.



Tôi đã phác qua một vài nét về Tố Hữu hồi ở Việt Bắc trong ghi chép về Nguyễn Đình Nghi.

Nhị Ca kể với tôi cái tình tiết sau đây: trong rừng, cạnh cơ quan, thường có những quán cà phê, anh em hay ra đấy đấu láo. Đang vui thì Tố Hữu đến. Thế là mọi người không ai bảo ai rút lui hết. Chỉ còn một người bao giờ cũng ngồi với Tố Hữu đến cùng. Là Hoài Thanh.

Cái công của Tố Hữu hồi ấy là giữ cho được anh em đi theo kháng chiến đến cùng không để họ trở về thành.



Những năm chiến tranh, thỉnh thoảng một số anh em viết trẻ chúng tôi cũng được gọi đi nghe Tố Hữu nói chuyện. Có một câu ông nói khiến tôi nhớ nhất và phải nói thực sợ nhất, đó là cái ý ông bảo sang nước ngoài thấy đời sống họ lạnh lùng lắm, về nước thấy đồng bào mình sống với nhau, ấm cúng hơn hẳn.

Ông cũng thường nói là nổi tiếng ở nước ngoài thì dễ, nổi tiếng ở trong nước mới khó .

Lại có lần khuyến khích lớp trẻ, ông bảo phải biết đấu tranh cho chân lý, khi cần phải cắn xé(!). May mà bọn tôi đã nghe nhiều về tính đồng bóng của ông, nên chẳng mấy cảm động, nhớ đâu hình như chính Xuân Quỳnh bảo rằng có mà ông cho ghè gẫy răng.



Tố Hữu quản cán bộ cấp dưới thế nào? Nguyễn Khải nhận xét có vẻ như càng những người bất tài và có khuyết điểm ông lại càng thích dùng. Những ông A ông B từng bị Tố Hữu mắng như tát nước vào mặt lại rất vững vàng trong vị trí của mình. Vì ông thừa biết loại đó bảo thế nào họ cũng phải nghe.

Bảo Định Giang, người phụ trách Hội liên hiệp những năm ấy thường kể với mọi người ông Lành dọa sẽ lấy đầu nếu BĐG để một vài văn nghệ sĩ tiêu biểu lơ mơ ở Hà Nội rồi dính bom đạn.



Một lần, khoảng những năm trước 1980, tôi ngồi với Nguyễn Khải, Xuân Sách, cùng giở một số báo Tết. Khi ấy Tố Hữu đã đi phụ trách kinh tế, nhưng các số báo tết vẫn có bài của ông. Nguyễn Khải sát hạch tôi:

-- Thằng Nhàn hãy thử bình một câu xem nào.

Tôi lúc đầu cũng chỉ biết nói như mọi người:

-- Thế là được một nhà kinh tế mà mất một nhà thơ.

Nguyễn Khải gạt phắt đi:

-- Không được.

Trong cơn bí, tôi phụt ra một ý mà trước đó tôi không hề nghĩ:

-- Người làm ra những bài thơ như thế này thì chắc làm kinh tế cũng không ra gì!

Bấy giờ Nguyễn Khải mới cười, bảo ra tôi cũng bắt đầu biết rồi đấy.



Kim Lân có lần rủ rỉ bảo tôi chính Tố Hữu đã kể với tác giả Vợ nhặt rằng hồi nhỏ ông mắc bệnh mộng du. Có lần chui lên cả bàn thờ họ mà làm một giấc ngủ trưa



Tố Hữu & một nền văn nghệ phục vụ cách mạng

Bài viết trên Thể thao& văn hóa,

ngày Tố Hữu mất



Trước nay đã vậy mà vào dịp Tố Hữu qua đời cũng vậy, tác giả Từ ấy thường được biết tới như một tiếng thơ hùng tráng, nhà thơ mang tiếng nói của cách mạng, người mà sinh thời, mọi sáng tác được truyền tụng rộng rãi đến mức chưa một nhà thơ nào trong lịch sử dân tộc biết tới.
Nhưng trên cái nền rộng rãi của lịch sử đất nước nửa cuối thế kỷ XX, Tố Hữu còn nổi bật trong một vai trò lớn lao khác: ông chính là một thứ tổng công trình sư đảm nhiệm vai trò thiết kế, một thứ tổng đạo diễn, suốt đời gắn bó với mọi hoạt động của nền văn nghệ mới.


Hà Nội đầu 1946. Cách mạng thành công đã được mấy tháng, nhưng nhiều văn nghệ sĩ còn đứng ngoài, một người như Nguyễn Tuân sau này cũng kể là ông còn “ ngủng ngoẳng chưa thật sự muốn theo Việt Minh “. Một lần, nghe Hoài Thanh nói rằng có một nhà thơ cách mạng muốn gặp, ông “ nắn gân “ bằng cách hẹn ngay ở Thuỷ Tạ Bờ Hồ ( lúc bấy giờ là một nơi ăn chơi phức tạp ! ). Nhưng nhà thơ kém Nguyễn Tuân đúng chục tuổi kia không ngán, mà vẫn tới, thuyết phục Nguyễn Tuân tham gia đoàn văn nghệ sĩ đi mặt trận. Nhà thơ đó là Tố Hữu.
Hạ Hoà, Phú Thọ, mùa đông 1948. Hội văn nghệ Việt Nam đã được thành lập, song còn lúng túng trong phương hướng sáng tác, nói theo chữ của Xuân Diệu là các ông còn “ mơ màng tìm kiếm những sáng choang bóng lộn thơm phức tận đâu đâu...” Một lần, trên mặt trận đưa về một bài thơ là bài Viếng bạn của Hoàng Lộc. Đọc xong, Xuân Diệu phát biểu thành thật “ Chẳng thấy hay”. Lúc ấy có một nhà thơ khác “đã rất bầu bạn làm trạng sư cho bài thơ “. Theo chính lời kể của Xuân Diệu, “ anh chăm chăm bình lại từng đoạn một, giúp tôi cảm xúc cái tình cảm của bài thơ đặng cho tôi thành bà con rồi ruột thịt của nó. Từ đêm hôm ấy, tôi vỡ lẽ ra dần, dần dần chuyển cách thức ăn nếm của mình “. Nhà thơ đó cũng là Tố Hữu.
Hai mẩu chuyện trên đây đã tóm tắt khá đầy đủ hai phương diện còn ít được nói tới trong đóng góp của Tố Hữu đối với lịch sử văn học. Đó là, một mặt tập hợp đội ngũ sáng tác, tổ chức họ thành một binh đoàn hùng mạnh trong lực lượng cách mạng; mặt khác, dần dần từng chút một, làm thay đổi cả cách hiểu cũ về văn học, hình thành nên một cảm quan văn chương mới và thông qua các phương tiện truyền thông, nhất là thông qua hệ thống nhà trường được phổ cập rộng rãi, nhân rộng mãi nó ra, biến nó thành cảm quan của thời đại.
Những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp phát hiện cho người ta thấy hình ảnh một Tố Hữu như là một nhà cách mạng bẩm sinh : ông dám bắt đầu một công việc từ chỗ gần như chỉ có hai bàn tay trắng.Thành công của ông giữa núi rừng Việt Bắc là thu hút được những tên tuổi nổi tiếng (từng được xem như niềm tự hào của kháng chiến ) từ Ngô Tất Tố tới Phan Khôi, từ Nguyễn Tuân tới Thế Lữ, từ Hoài Thanh tới Đoàn Phú Tứ... trong một tổ chức gọn gàng là Hội văn nghệ, quản lý họ, lôi cuốn họ vào công việc, cùng với họ ra báo dịch sách và đưa họ đi tham gia các chiến dịch cho đến ngày theo chân các đoàn quân về giải phóng thủ đô 10 / 1954.
Mặc dù về sau còn được giao phó nhiều trọng trách khác trên các lĩnh vực tư tưởng và có khi cả kinh tế, song không bao giờ Tố Hữu rời bỏ công tác văn nghệ, mảnh đất đã giúp ông xây dựng sự nghiệp chính trị. Với ông những câu “ văn nghệ phục vụ chính trị “ hoặc “ văn nghệ cũng là một mặt trận “ không chỉ là khẩu hiệu mà là quan niệm có thể và cần phải được hiện thực hoá hàng ngày.
Sau kháng chiến chống Pháp, ông kiên định trong việc chỉ đạo từ vụ Nhân văn giai phẩm tới các cuộc chống xét lại cũng như giáo điều trước chiến tranh, để rồi tiếp tục huy động một cách rất thành công sự đóng góp của giới văn nghệ trong những năm chống Mỹ.
Tình thương mến, tình nghĩa, thuỷ chung... là những điều thường được ông nhắc lại nhiều hơn cả khi tiếp xúc với những con người làm việc trên lĩnh vực nhạy cảm này. Ông hiểu rất rõ chỗ mạnh chỗ yếu của họ. Khi nâng niu trân trọng lúc yêu cầu se sắt gắt gao, ông biết cách làm cho mỗi người trong họ có được kết quả cụ thể trong công việc.
Với sự nhạy cảm tuyệt vời của một nghệ sĩ, ông hình thành được một đội ngũ những người cộng sự trung thành, từ Nguyễn Đình Thi tới Chế Lan Viên, từ Hà Xuân Trường tới Bảo Định Giang... và nhờ thế có tiếng nói quyết định trong các vấn đề trọng yếu của văn nghệ ngay cả khi đã quá bận bịu vì những công việc to lớn khác.
Tinh thần cách mạng, tinh thần sáng nghiệp sử ( khai phá một con đường đi mới dám làm những việc xưa nay chưa ai từng làm ) cũng được Tố Hữu quán xuyến trong khâu xây dựng một quan niệm mới về văn nghệ. Cách mạng cần động viên tinh thần chiến đấu của công nhân nông dân ? Thì ông lo đào tạo những người sáng tác xuất thân từ công nông và nhất là lo có những tác phẩm giản dị, tự nhiên mà công nông có thể hiểu được. Những chuẩn mực của nền văn nghệ cũ tỏ ra không thích hợp với yêu cầu cấp bách của cách mạng ? Thì chúng phải bị gạt bỏ để thay thế bằng những chuẩn mực mới. Điểm xuất phát của những chuẩn mực vừa hình thành này là dễ làm nhiều người có thể làm, dễ hiểu và không ai có thể hiểu sai, bởi đây là một nền văn nghệ thuộc về nhân dân lao động.
Câu chuyện về thị hiếu về cái gout mà trên đây Xuân Diệu đã kể nhân bài thơ Viếng bạn của Hoàng Lộc mang một tinh thần như vậy. Có thể nói Tố Hữu đã làm những việc này với một niềm tin kỳ lạ. Ông không truy tìm những công việc có ý nghĩa lý luận thuần tuý. Những đúc kết của ông là đơn giản thiết thực dễ kiểm tra dễ theo dõi xem nó đã được quán triệt đến đâu, do đó nhanh chóng đi vào thực tiễn.
Những chuẩn mực mới này cố nhiên cũng là điều được Tố Hữu theo đuổi trong sáng tác thơ ( một việc mà gần như không bao giờ ông có điều kiện dành toàn bộ công sức song cũng không bao giờ xao nhãng ). Ở đây có thể nói tới một sự gặp gỡ tự nhiên giữa kiểu tài năng thơ ở ông và những gì ông tin theo và muốn mọi người cùng tin theo.
(Tôi vẫn nhớ một ý của Lê Đình Kỵ đánh giá Ba mươi năm đời ta có Đảng: Đó là một kiệt tác của thể diễn ca)*
Một điều có thể chắc chắn, chẳng những thơ Tố Hữu mãi mãi là bằng chứng của một thời đại trong văn nghệ mà cái cơ chế văn nghệ do ông thiết kế còn tồn tại dai dẳng và những tư tưởng lý luận của ông còn tiếp tục chi phối đời sống văn nghệ trong những năm sau khi ông đã qua đời. Chúng ta có thể chán nó, chê trách nó, muốn thoát khỏi nó, nhưng không thể phủ nhận là đã có nó, nó có lúc là một bộ phận trong gia tài tinh thần của mỗi người làm văn chương nghệ thuật thời nay.
Theo nghĩa ấy, tất cả chúng tôi không ít thì nhiều đều là trong bàn tay nhào nặn của Tố Hữu. Và đến lượt mình, chính ông cũng chỉ là một công cụ của lịch sử.*


Viết lần đầu 12-2002
 *Những doạn nhấn mạnh mới bổ sung 4-10-2010




HAI BÀI THƠ TỐ HỮU



Sau đây là hai bài thơ Tố Hữu viết về Triều Tiên, bọn học sinh cấp II ( trung học cơ sở ) chúng tôi được học trong chương trình chính khóa mấy năm 1956-57 ở Hà Nội, nhưng lại không thấy in trong các tập thơ của tác giả. Tôi ghi theo trí nhớ, nên có thể có khiếm khuyết, mong được lượng thứ.





Em bé Triều Tiên

Em bé Triều Tiên ơi

Mẹ của em đâu rồi ?



Có ai đây mà hỏi

Giặc bốn bề lửa khói



Mẹ của em đấy ư ?

Cái thân trắng lắc lư

Đầu dây treo lủng lẳng



Cha của em đấy ư?

Cái đầu lâu rũ tóc

Máu chảy dài thân cọc



Không, không phải em ơi

Mẹ của em đây rồi

Mẹ em đây

Người dân công tải đạn

Mẹ em đây người nữ cứu thương



Cha em đây giữa chiến trường

Mặt đen khói đạn chặn đường giặc lui.



Anh Chí nguyện

Con Bác Mao đã đến

Anh đã đến

Với cha em giết hết loài man rợ

Cho mẹ em xây lại tổ mềm

Cho em sướng cho em ca múa

Trên đồng hoa bãi lúa

Nhịp sống vui muôn thuở của Triều Tiên



Bé em ơi, giữa súng rền

Ngày mai tươi mát hát trên đất Triều!



Việt Nam – Triều Tiên

Việt Nam với Triều Tiên

Ta là hai anh em

Sinh đôi cùng một mẹ

Thương nhau từ thuở bé

Nay đều khỏe lớn lên



Việt Nam với Triều Tiên

Ta thành hai đồng chí

Ta thành hai anh hùng

Ta thành hai chiến lũy

Cùng bảo vệ hòa bình

Kim Nhật Thành—Hồ Chí Minh

Hai chúng ta là một

Qua Trung Hoa ta như liền khúc ruột

Với Liên xô ta chung một mái nhà



Bây giờ ta đến thăm ta

Nhìn nhau khóe mắt mầu da thân tình



Cây thông xanh Triều Tiên cháy xém

Thương cây tre Việt Nam giặc chém

Cây thông xanh nhựa chẩy ròng ròng

Thương cây tre đứt ruột đứt lòng



Nhưng chúng ta quyết không khuất phục

Chúng ta không một lúc cúi đầu



Chúng ta chiến đấu bên nhau

Tâm giao một tổ trước sau một đường



Ta quyết giữ quê hương Triều Việt

Cho chúng ta cho cả loài người

Quang vinh Việt Bắc Tháp Mười

Quang vinh Trường Bạch đỉnh đồi Thượng Cam



Triều Tiên với Việt Nam anh dũng

Đất nước ta dù im tiếng súng

Đường bạn còn đi tới Tế Châu

Đường chúng tôi còn tới Cà Mâu

Ta lại bước bên nhau lại bước

Như giông tố không thể nào ngăn được.



Bây giờ ta với ta đây

Triều Tiên với Việt Nam anh dũng

Hôm nay hãy hôn đôi bàn tay

Hôm nay hãy hôn đôi nòng súng

Giữ hòa bình Tổ quốc chúng ta

Và ngàn năm Triều Việt một nhà.

Tuesday, October 12, 2010

Ghi chép hàng ngày (12 )

1-10

Một tờ báo nước ngoài nói VN chi trả cho giáo dục nhiều hơn các nước láng giềng.

Đã tính đóng góp của dân chưa? Nếu tính cho đủ, thì người ta kết luận ra sao?

Tôi hay nói với các gia đình quen, cố mà cho con đi du học.

Đi thế, đắt lại hóa rẻ.



( Cố nhiên không phải cố với bất cứ giá nào. Nếu con không có khả năng hội nhập, thì đi đâu cũng cứ bật về, mà lại hư thêm.)

Cái gì ở VN cũng thế -- chúng ta chỉ biết làm ra những sản phẩm kém bằng một chi phí lớn hơn nhiều so với cách làm của các nước khác.

Các ngành nông lâm ngư của một số đại học các tỉnh không có người nộp đơn theo học.



Báo Thanh niên có bài nói về rác nhập từ nước ngoài.

Chắc nhiều người nghĩ như tôi -- kiểu nhập rác hiện nay là tột cùng của sự tha hóa của con người Việt Nam.

Vì lợi riêng, cả người đứng ra nhập và người cho phép nhập, dám làm cái việc mà ngàn đời con người trên mảnh đất này còn nguyền rủa.

Thế nhưng thử nghĩ lại:

Hãy nghĩ đến những người cho nhập tràn lan phim ảnh khiêu dâm và trò chơi bạo lực.

Hoặc nghĩ tới ngành giáo dục.

Hàng mấy trăm trường đại học bất thành nhân dạng mở ồ ạt ở các tỉnh.

Theo tin ĐĐK, chuẩn để học sinh vào các trường sư phạm ngày càng thấp.

Toàn ngành ngày một xuống cấp. Cả về tư cách làm người lẫn việc nắm chắc kiến thức, học sinh phổ thông cũng như sinh viên ra trường ngày một kém.

Vậy thì chúng ta đang gửi vào tương lai những người như thế nào đây ?

Cả ngành là một guồng máy khổng lồ, một quốc gia đâu có đến hơn hai chục triệu sinh mạng, chẳng ai kiểm soát nổi, người ta rất dễ ngụy biện về thành tích do người ta đã làm, các bậc phụ huynh thì không đủ trình độ để cãi lại người đã dạy dỗ con em mình.

Nhưng thử đứng ở một vị trí khách quan mà nhìn nhận. Thử so sánh với nền giáo dục trong các thời trước. Thử nhìn ra thế giới.

Tạm để sang một bên những cố gắng lẻ loi, mà xét đại trà, tôi có cảm tưởng nhiều người có lúc trong đầu cũng thoáng qua cái ý nghĩ như tôi lúc này. Là trong việc làm hỏng tương lai, cái tội của ngành giáo dục hôm nay cũng chẳng kém gì những người cho nhập trò chơi bạo lực và những người nhập rác nói trên!



Hôm nay là ngày Thế giới phi bạo lực. Ông Tổng thư ký Liên hiệp quốc khi phát biểu dẫn một câu của Gandhi—sức mạnh thế giới là phi bạo lực.



2-10

Lướt qua các chương trình văn nghệ Hà Nội. HN đã quá lai căng. HN không tìm thấy mình. Và chúng ta đang tự lừa mình bằng một thứ tạp pí lù mà ta không biết.



4-10

Đọc bài tường thuật hội thảo về kiến trúc HN. Tôi muốn mạnh dạn mà nói rằng cái mà ta làm cho Hà Nội mấy chục năm nay về căn bản, chỉ là một thứ kiến trúc nông thôn hoặc là kiến trúc đô thị tủn mủn thời phong kiến được nhân lên bằng các yếu tố hiện đại. Không chỉ là xấu xí tùy tiện nhếch nhác kỳ dị …mà là lạc hậu cả một thang bậc tư duy về lịch sử phát triển xã hội.



5-10

Lũ lụt. Có tin hàng vạn học sinh các tỉnh miền Trung nghỉ học vì lũ lụt.

Người dân méo mặt nhận quà của cấp trên gửi tặng. Chú thích ảnh” lá lành … hành lá rách”.

Lũ lụt trong dịp đại lễ chỉ làm tăng thêm cái tình thế trớ trêu đã sẵn có trong tình hình hiện nay.

Một bên là cuộc sống xa hoa trụy lạc hoang phí ngày một gắt lên chói lên ở các đô thị.

Một bên là cảnh lạc hậu nghèo nàn, một sự xác xơ tàn lụi của các vùng nông thôn nghèo và các vùng sâu vùng xa.

Sực nhớ tới một bài thơ của Văn Cao viết đầu 1945 và từng in trên tạp chí Tiên Phong của Hội Văn hóa Cứu quốc mang tên Chiếc xe xác đi qua phường dạ lạc.

Ở một đoạn giữa bài thơ, tác giả viết:

Ta về gác, gió cài then, cửa rú

Trên đường tối gió khỏa thân khiêu vũ

Kèn nhịp xa điệu múa vô luân

Run rẩy giao duyên khúc nhạc trầm trầm

Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc

Kiếp người tang tóc

Loạn lạc đòi nơi xương chất lên xương

Một nửa kêu than ma đói sa trường

Còn một nửa lang thang tìm khóai lạc



6-10

Bài viết Một Nghìn Năm Thăng Long - Hà Nội, Nhìn Lại Giá Trị Tác Phẩm" Thiên Đô Chiếu" Của Thái Tổ Lý Công Uẩn của Nguyễn Phạm Hùng Đại học Quốc gia Hà Nội, có cái ý rất hay, bài chiếu tuyên bố quan điểm thay đổi đường lối chính trị của cả vương triều Lý, chuyển chế độ chính trị từ "vũ trị" sang "văn trị".

Tác giả lưu ý không khí nội chiến bao trùm các triều Ngô, Đinh, Lê với nghĩa tranh giành quyền bính của các tù trưởng, các thủ lĩnh.

Các vương triều đó thực chất là các thể chế quân sự. Các bậc đế vương và người đương thời thường tôn vinh sức mạnh vũ trang, sức mạnh cơ bắp hơn là sức mạnh kinh tế, văn hoá và trí thức.

Ngô Vương Quyền gắn với hình ảnh "tay nâng đỉnh", "thong thả như cọp, có trí dũng, sức có thể cầm vạc giơ lên". Đinh Tiên Hoàng gắn với hình ảnh viên tướng bách chiến bách thắng, Vạn Thắng Vương. Họ đều xuất thân từ trận mạc nổi tiếng có tài quân sự rồi mới làm vua.

Hoa Lư là thành lũy, kinh đô quân sự của nhà nước "vũ trị" chứ không phải là kinh đô văn hoá – chính trị của nhà nước "văn trị".

Rồi tác giả chỉ rõ trong hòan cảnh ấy, Lý Công Uẩn hiện ra với sắc thái khác hẳn.



Tôi muốn mượn cái ý của ông Hùng về các thời Ngô, Đinh, Lê để đưa lên thành một khái quát: thật ra cho đến cuối thế kỷ XIX, xã hội VN vẫn giống như một đạo quân hơn là một xã hội theo nghĩa tối thiểu của khái niệm này mà các nhà lịch sử vẫn thường sử dụng.



Bữa nọ đọc Nghiên cứu Huế tập 7, đã nhặt được cái ý “ biến dân thành lính” là một chính sách lớn chi phối việc tổ chức quốc gia mà các chúa Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài trong hai thế kỷ XVII—XVIII cùng theo đuổi.

Hà Nội thời Gia Long vẫn do các võ quan cai trị, lúc đó nó còn gọi là Bắc thành đứng ngang với Gia Định thành, mãi sau này Minh Mạng mới cho lập tỉnh Hà Nội.

Nhưng có nhân vật “ văn trị” nào được nhắc tới trong lịch sử HN thế kỷ XIX đâu?!



Vào dịp nghìn năm Thăng Long này, người ta chỉ nhắc tới HN thanh lịch và HN hào hùng chiến đấu.

Chưa ai nghĩ tới chuyện viết một lịch sử làm ăn buôn bán, lịch sử kiến thiết xây dựng HN ?



7-10

Em ơi Hà Nội bụi.

Tôi muốn kêu lên như thế trong mấy ngày đầu thu đầy cảm xúc này.

Mùa thu là mùa của gió.

Gió cho người ta cảm giác rằng cuộc đời không phải tù túng như người ta đang sống đâu, còn có những phương trời khác, những không gian khác.

Bụi làm mất đi quà tặng thiên nhiên tuyệt vời ấy.

Nhớ thơ Huy Cận, bài Chín

Thu tới ngoài kia

Nghe nhân thơm trong trái nặng

Nghe nhựa ấm trong cành thưa

Nghe run rẩy tiếng gió ru lúa chín

Xôn xao cuống lá rụng thay mùa



Nhớ những trang Nguyễn Tuân tả gió trong Thiếu quê hương.



Tập sách thu góp cả đời thơ Lưu Quang Vũ có cái tên Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi. Chịu khó nhặt sẽ được nhiều câu viết về gió rất đáng nhớ. Nhất là trong các bài thơ tình.

Bài Phút em đến

Dù nơi đâu anh cũng là của em

Đợi nhau trong mưa, tìm nhau trong gió

Bài Quả dưa vàng, viết trong xưởng họa Nguyễn Thị Hiền

Mùa hạ đầu tiên chiến tranh chấm dứt

Bụi trắng đường, gió lộng mặt hồ xa

Đây là hai câu thơ viết khi Vũ còn đối với Xuân Quỳnh bằng một tình cảm ngập ngừng

Nơi đảo xa chỉ nước với trời

Nơi bãi cát em đi bao ngả gió

Còn đây là hai câu viết khi hai người sợ hãi mà vẫn cả quyết về với nhau

Mưa như bước chân những khát vọng vô hình

Trên một biển lá vàng đang nổi gió



9-10

Phố tôi nhiều nhà mới xây có kiểu rất lạ, khiến tôi mỗi lần đi qua không thể nhìn vào bên trong, sau đó rồi lại xấu hổ vì sao mình thô lỗ vậy…

Cuối cùng mới vỡ nhẽ, cái chính là xưa nay dân mình ăn ở vốn kín đáo, không ai mở tô hô cả bức tranh sinh hoạt của gia đình mình cho thiên hạ thấy. Phô phang là lối sống phổ biến của người thời nay.

Xưa nay còn khác nhau ở nhiều chuyện nữa.

Xưa có tiền trăm người ta mới tiêu tiền chục, không ai đi vay tiền mà làm nhà vay tiền mà ăn chơi như thời nay.

Xưa chính quyền thực dân luôn luôn đặt ra giới hạn cho việc rượu chè. Nay thì các tỉnh đua nhau mở nhà máy bia. Báo Tuổi trẻ 14-9 đưa lên trang đầu bài Ào ào nhập bia

Xưa huyện nào có đê vỡ thì tri huyện mặc nhiên là bị cách chức, chuyển đi xa. Nay đê đập có vỡ, chỉ thấy đưa tin địa phương đã trích quỹ công để úy lạo cho các gia đình khó khăn, ngoài ra, ai ở nguyên địa vị người ấy

Monday, October 4, 2010

Ghi chép hàng ngày(11)

 5-9
 XIN XỎ HAY LÀ SỰ TỘT CÙNG CỦA TRƠ TRÁO
Sao mà đi đâu cũng gặp những cảnh xin xỏ! Đến ông xe ôm chở tôi từ chợ về nữa, đã mặc cả là từng này tiền rồi, lúc tới nhà còn nài bác cho thêm, hình như ông ta nghĩ không được cũng chẳng mất gì, mà nhỡ được thì …hóa ra nước bọt làm ra tiền.

 Trong cuốn Nhân nào quả ấy, tôi đã có bài nói tới tình trạng vô lối của một số kẻ ăn mày thời nay. Nhân đây xin nhắc lại một áng văn chương gợi ý tôi viết. Đó  là bài Hịch đuổi kẻ ăn mày của Tản Đà.
 Người trong gia đình Tản Đà đến nay còn kể: Trong những lời ông dặn dò con cháu, có hai điều cấm, cấm không được làm quan và cấm đi ăn mày. 
Mở đầu bài hịch lạ lùng này, Tản Đà  dẫn lại một câu trong sách Mạnh Tử: “Sự cho người có khi làm hại sự ân huệ”. Rồi tác giả nói thêm “sự không đáng thương xót mà thương xót, đó là vô học”. Tiếp đó, trong phần chính văn, tác giả viết :
Hôm hôm mai mai
Bị bị bát bát
Quỷ đưa đường, ma dắt lối
quen ngõ thời vào
Nay được thịt, mai được xôi
thấy mùi đánh mãi
Cửa ô, xe điện
Rêu rao quạ vỡ chiều hôm
Đám hội, nhà chay
quấn quýt gà què gặm cối
Làm xấu hổ cho cả nước
Khéo bêu nhuốc cho loài người
Bảo mãi mỏi mồm
Trông càng nhớp mắt
Nào là
Người nhà, con vú
Thằng ở quân hầu
Truyền là bay đóng chặt cửa vào
Thây cha chúng nó.
...
 7-9
      Đọc một bài trên Bản tin tham khảo  của TTXVN,   thấy một nhà báo phương Tây nhắc lại câu của Ôn Gia Bảo nói ở Cambridge (TQ gọi là Đại học Kiếm Kiều): Chúng tôi là một quốc gia đang muốn học hỏi … Chúng tôi còn phải tiếp tục khám phá bản thân.
    Tháng trước đi đâu cũng thấy nói tới bài của Lưu Á Châu. Tôi nhớ một ý của ông tướng TQ này. Nhiều người TQ  thấy vụ 11/9 xẩy ra, ăn mừng. Không thể trẻ con thế được. Phải  tính chuyện chung sống với nước Mỹ. Phải hiểu nước Mỹ.


10-9
     Có hai cuốn sách ảnh khổ to, dạo này tôi hay mở ra xem, mỗi khi bí viết.
     Một là cuốn Chùa Việt Nam của các tác giả Hà Văn Tấn—Nguyễn Văn Kự-- Phạm Ngọc Long.
    Sách dày 536 trang với trên 1.000 bức ảnh. Các tác giả có nhã ý tặng tôi nhân sách được in lần thứ tư ở NXB Thế giới.
      Hơn chục năm trước, nhóm tác giả này đã cho tôi cuốn Đình Việt Nam, và tôi đã có hai bài viết ngắn về nó, một là Làm quen với chùa Việt Nam, hai là Qua đình ngả nón trông đình.
     Lần này tôi chưa thể viết gì về cuốn Chùa, trong bụng chỉ nghĩ:
    Những  ngôi chùa như chùa Bút Tháp, Tây Phương, đáng được xem như những kiệt tác trong kiến trúc dân tộc. Chúng tương đương với những Truyện Kiều, Nhị độ mai…
      Sao chúng ta không  nghiên cứu về chúng kỹ lưỡng ít ra như các tác phẩm văn chương?
 
     Một cuốn ảnh khác là  Khám phá các làng nghề quanh Hà Nội  của hai tác giả nước ngoài.
       Người ta có một lối chụp ảnh mà sao cũng cảnh làng nghề đấy, mình như bắt gặp một xứ sở khác.
       Và người ta có một lối viết sách  mà dù đã đọc đủ thứ sách của  các tác giả người Việt, thì mình cũng vẫn cứ phải đọc.
     Cố nhiên ngôn từ làm nền cho câu chuyện cũng được viết rất hay. Một đoạn nhặt ra ngẫu nhiên
     Tôi cũng rất ấn tượng với nhịp sống của các làng nghề này. Nằm cách không xa thủ đô nhộn nhịp, nhưng những ngôi làng này lại giữ được nhịp sống bình lặng, chậm rãi và đều đặn. Ở nhiều nơi khác, do nhu cầu việc làm, kiếm sống, làn sóng người nhập cư đổ về các thành phố lớn khiến dân số ở các làng quê giảm hẳn đi. Chính những làng nghề thủ công này đã góp phần giữ cho Hà Nội “sống sót” trong làn sóng nhập cư. Những người dân vẫn sinh sống ở làng, tiếp tục giữ nghề truyền thống, và tự hiện đại hoá cuộc sống của họ chứ không đổ xô ra thành phố.
       Tôi học được cách người ta ghi nhận một vùng đất: phải ghi được cái nhịp điệu của nó.
        Và tôi thấy tự tin hơn với những nhận xét về Hà Nội mà lâu nay vẫn ám ảnh trong đầu: Không khéo thì Hà Nội sẽ bị chết chìm bởi làn sóng dân nhập cư tự phát.


11-9
 CÁI HAY KHÔNG THEO, THEO CÁI DỞ 
  Nhân 65 năm ngành giáo dục, Tuổi trẻ  có bài viết kể là tháng 9-1945, khi lên báo cáo công việc với Chủ tịch Hồ Chí Minh,  Bộ trưởng GD lúc đó là Vũ Đình Hòe đã có nhiều ý kiến, trong đó có cái ý sau đây:
     Tôi nêu vấn đề cải cách giáo dục, đề nghị thay thế hẳn nền giáo dục vị học thuật (kiểu Pháp - đào tạo những bậc tài hoa) bằng nền giáo dục vị nhân sinh (kiểu Anh - Mỹ), đào tạo những nhà hành động, sớm phân chuyên ngành, phân từ rộng đến hẹp, sớm dạy nghề sát với yêu cầu xây dựng kinh tế và chú trọng dạy đạo làm người.
    Đọc mà thấy lạ quá. Ở miền Nam sau 1954, người ta mới làm được cái việc là thay đổi mô hình này, tức là từ đại học kiểu Pháp chuyển sang đại học kiểu Mỹ, từ đó đưa nền đại học trong nước nhập vào trào lưu hiện đại.
  Không ngờ là năm 1945, nhiều trí thức nước mình đã biết điều đó. Thế rồi kháng chiến. Thế rồi chúng ta có nền giáo dục đại học tạm bợ ở Việt Bắc. Sau 1954, nhân rộng ra cả miền Bắc. Sau 1975, thành mô hình của cả nước. Chẳng những không so được với Anh Mỹ mà so với Pháp xưa cũng thua xa. Như một đứa trẻ tiên thiên bất túc, có lớn mà chả bao giờ thành người. Như một đoàn tầu đã chật bánh rồi, không đổ, nhưng không bao giờ trở lại được con đường đáng lẽ phải đi.


12-9
     Có lệnh cấm đốt vàng mã nơi công cộng. Làng Đông Hồ lo. Một người dân bảo “ Hay là chính phủ giúp chúng tôi xuất khẩu vàng mã?”. Tôi đọc mà phì cười. Ra người ta hiểu về hội nhập với thế giới là thế đấy!


13-9
     Nhà văn Phùng Ký Tài (tác giả cuốn tiểu thuyết văn hóa Gót sen ba tấc )được cử làm  tham sự cho Quốc vụ viện TQ. Trannhuong.com đưa một tin ngắn mới đây (tháng 9-201010), ông bảo trách nhiệm chủ yếu của người trí thức là giáo dục  lãnh đạo.


15-9
     Đọc trên Bản tin tham khảo một bài về Ấn Độ. Họ biết TQ bành trướng, nhưng họ không chạy đua vũ trang. Có phải dễ mà TQ dám đánh họ đâu? Ừ thì cảnh giác, nhưng họ chỉ phát triển quân sự tới mức đủ làm cho TQ ”phải tính kỹ “ nếu muốn động đến họ. Trong các vấn đề quốc phòng, họ luôn luôn biết rằng trên thế giới này, còn có nước Mỹ.
      Còn họ lo làm kinh tế vì biết thời nay, đấy mới là cáí cần nhất để một dân tộc khiến cho dân tộc khác phải nể. Năng lực kinh tế nói ở đây là sự phát triển một cách có văn hóa, nên chắc chắn, ổn định.


16-9
    LẠI CHUYỆN RÁC
         Tin  VNexpress.  Chuyện về hai người nước ngoài. Một là Edward năm nay 65 tuổi, một người Mỹ da màu thường gọi là chàng "Đông ki sốt", ông hay dọn rác khu phố mình ở. Hai là Oshima Mitutere, vốn người Nhật quản lý Viện mẫu tóc Mano Mano. Ông này cũng thường cùng các nhân viên lo chung các hoạt động xã hội trong đó có dọn rác.
     Không những không chia sẻ với người ta, mà dân Việt mình quanh vùng cả hai người ở còn coi là sự kỳ cục, có người vứt rác thêm cho người ta lượm, rồi cha con vợ chồng cùng đứng xem và cười với nhau. 
     Đọc những tin loại này chỉ cảm thấy hình như người Việt, xã hội Việt hôm nay  ngày càng xa lạ và không hiểu được những gì bình thường. Cái tốt nhiều khi đâm ra lạc lõng.
     Lưu ý càng ngày rác càng  thành ra một ám ảnh trong xã hội. Báo Nông thôn ngày nay 9-9-10 đưa lên trang nhất dòng tít chữ to Cảng Hải Phòng thành bãi rác quốc tế.
     Một điều cũng chắc chắn là nếu nghe được,  chắc thấy trong câu chuyện của những người nước ngoài về VN, chữ rác chắc cũng xuất hiện với mức độ dày đặc. Rác vô cơ, rác hữu cơ. Rác là chất lỏng, rác là chất rắn. Rác ở dạng hình thể, rác ở dạng âm thanh ( tiếng ồn). Rác vật chất, rác tinh thần. Rác trong các văn bản nghiêm túc lẫn rác trong các bài làm của học sinh. Rác nội rác ngoại. Đủ kiểu!


22-9


     Một câu thơ Tagore do Trịnh Lữ dẫn trong một hội thảo:
Ta chạy như con hươu xạ chạy trong bóng tối của rừng,
 điên dại với hương thơm của chính mình…
Ta lạc lối và ta lang thang,
 tìm cái ta không thể có
và có cái ta chả kiếm tìm…


23-9
      Phan Cẩm Thượng trả lời phỏng vấn về làm phim Đường tới Thăng Long. Lúc làm việc với chuyên gia TQ về trang phục mới thấy người mình cẩu thả quá. Ở Trung Quốc từng thời người ta ăn mặc thế nào đều có lưu trữ cả. Ta thì không có gì chắc chắn.
      Cũng có một vài thứ, lấy cho họ xem. Họ bảo, à cái này ở Trung  quốc có sẵn, các anh lấy của chúng tôi thôi. Đây, xem sách đây.
      Chuyên gia VN bảo, cứ làm theo cách người Việt đã làm. Thì lại nẩy sinh vấn đề, những thứ của mình bất tiện quá. Phải làm như  cái của TQ xưa vốn có thì mới tiện sử dụng.


26-9
   Đến tham gia cuộc đối thoại trẻ ở VTV6.
   Có nhiều điều tôi còn phải nghĩ tiếp.
   Cảm tưởng còn lại, tôi chỉ thấy sao mà xa lạ với lớp trẻ hiện nay quá.
   Các bạn đó đang bị ám ảnh với câu hỏi Tôi là ai?.
   Câu hỏi đó, thú thực, về già tôi mới nghĩ.
   Còn lúc 20-25, tôi chỉ nghĩ cố học hỏi để có thể  có đóng góp cho xã hội.
   Tôi cũng đi tìm bản thân, nhưng câu hỏi thường đến trong đầu tôi là mình sẽ trở thành một người như thế nào?
    
      Sao mà thời nay các bạn trẻ thích đi thi thế.
     Cả xã hội sống bằng sự cầu may?
     Lớp trẻ hiện nay tự tin hơn hẳn chúng tôi.  Nhưng cái tự tin của họ nhiều khi quá viển vông và lẫn với cái vu vơ.     
    Chẳng hạn các nhà văn trẻ bây giờ toàn tìm học những người được Nobel.
     Tôi thì lúc trẻ, tôi lại chỉ lo học những người bình thường. Những năm 1970,  mới vào nghề,  tôi từng lo dịch linh tinh để học thêm về văn học nước ngoài. Có một chi tiết tôi cứ nhớ mãi. Một nhà thơ trẻ Bungari dịch xong Evgeni Oneguin liền cho vào tủ khóa lại và vứt cái chìa khóa  vào thùng rác. Anh ta lại để ba năm nữa dịch. Dịch xong lần thứ hai, mới phá cái tủ cũ ra, lấy hai bản dịch ra so sánh để tìm ra một bản tốt nhất. Cái ví dụ này cho tôi thấy dù thế nào người ta cũng phải tiến đến gần cái hoàn thiện trong nghệ thuật.


27-9

SÁCH CŨ SÁCH MỚI

     Một đoạn lấy từ blog Thích học tóan:

Yourcenar là một nhà văn nữ viết tiếng Pháp, có nhiều người hâm mộ, và cũng có nhiều người chê. Người ta chê bà viết văn theo phong cách “cứu hỏa”, có nghĩa là câu văn kêu boong boong như chuông. Nhưng thỉnh thoảng, bà viết được một câu hay tuyệt, tỉ như câu này :

Đọc sách không thích bằng đọc lại sách.

 Suy rộng ra

Gặp người không thích bằng gặp lại người.

   Từ kinh nghiệm của mình trong mấy năm về hưu, tôi cũng thấm thía điều này. Tôi muốn đọc lại nhiều tác phẩm cũ, trước đã từng đọc, để hiểu ra sự ngớ ngẩn của mình ngày xưa, và tiềm năng vô tận của những trang sách tuyệt vời mà mỗi tuổi người ta lại có thể tìm ra khía cạnh mới.

   Nhưng cũng phải nói thêm. Loại người như bà  Yourcenar nói ở đây hồi nhỏ đã được học hết những cái cơ bản, những kiệt tác, những gì mà mọi người ở xã hội có giáo dục bắt buộc phải biết.
   Còn chúng tôi, nhét đầy đầu óc của chúng tôi thời trẻ là những cái ngớ ngẩn(  chẳng hạn, có dịp tôi sẽ chép lại mấy bài học thuộc lòng mà tôi học trong các sách Văn tuyển in ở Hà Nội những năm tôi học cấp II, 1955 –1958)
    Năm ngóai, đọc một cuốn sách loại như cuốn Nhiệt đới buồn của Levi—Strauss mới dịch ra tiếng Việt, tôi tự nhủ giá kể biết đến nó sớm, có lẽ cả cách nghĩ của mình lúc trẻ cũng đã khác đi.
   Nên những ngày này, cái nhu cầu đọc sách mới vẫn rất lớn.
   Thậm chí chưa đọc chỉ liếc qua một chút, hớt lấy chút “ tinh  thần” của nó cũng đã quý lắm rồi.
    Một trong những người tuổi đã cao mà luôn lao tới cái mới là Nguyên Ngọc. Một bữa gặp ông, tôi than phiền nhiều sách mới in ra quá đọc không xuể. Và nhất là không hiểu nữa.
     Chẳng hạn như cuốn Nền đạo đưc Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản.
      Từ lâu đã nghe nói tới nó. Thấy bản dịch in ra ở NXB Tri thức thì lao đi mua liền. Nhưng về, đọc một ít trang rồi bỏ đấy. Lại nghe nói là ông Chu Hảo cho ra những quyển mới, đi lùng liền, rồi lại mang về xếp xó.
     Đây là câu Nguyên Ngọc bảo tôi hôm ấy:
-- Trước tiên hãy cố đọc lấy Lời giới thiệu của Trần Hữu Quang với Bùi Văn Nam Sơn để hiểu sơ sơ cái đã. Rồi khi nào có hứng đọc tiếp.
     Tôi thấy gợi ý thật hay, mà cái tối thiểu như thế cũng chưa làm được. Thảm cho bản thân quá!


28-9
   Trao đổi về di sản.  Có ai coi thường đâu? Cái chết của chúng ta chỉ là  tầm thường hóa di sản.
     Làm cho những cái tuyệt hảo như chùa Kim Liên hỏng. Và những thứ đền chùa loi thoi bé nhỏ cũng trở thành di sản, đến mức người ta phát chán.


     Tạp chí Nghiên cứu lịch sử tháng 4-5/2010 có bài đăng mấy số liền về  người Hoa và nền ngoại thương của chúa Nguyễn. Các nhà nghiên cứu cho biết  ở Hội An mấy thế kỷ phát triển ngoại thương đó, họ có vai trò lạ lắm.
     Họ là người buôn, người Việt chỉ là người gom hàng.
     Họ thao túng cả định hướng buôn bán của các hãng nước ngoài vào VN.
      Họ tham gia vào việc định giá các sản phẩm.


     Có những thương nhân người Hoa cho chúa vay những khoản tiền khổng lồ và qua đó thao túng bộ máy cầm quyền.


      Họ từ TQ vào Nam ra Bắc như đi chợ – một điều mà người Việt nói chung không được phép làm. Người Việt chỉ là người của một phía, Đàng trong hay Đàng ngoài.
      Nên có chúa đã dùng họ như lực lượng do thám, giúp chúa có tìm ra sách lược đối phó với đối phương. 


30-9
   Mấy chục năm nay tôi mới trở lại Văn Miếu. Đi loanh quanh. Dừng lại ở một số chỗ trước kia không để ý.
    Đến cái bản tiểu sử ở đây Khổng tử cũng viết sai. Ví dụ viết Các sách do môn đồ biên soạn ghi lại lời giảng và học thuyết của ông là tứ thư: Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh tử. Có thể nói Mạnh tử là tác phẩm của Nho giáo chứ sao lại nói là tác phẩm của Khổng tử được?
    Lại viết Nhân gồm có trung hiếu đễ thứ.  
     Có lẽ lúc viết vậy, người viết không nghĩ rằng mình đang đại diện cho hiểu biết về văn hóa phương Đông của cả một cộng đồng.
    Trong số khách đến tham quan Văn miếu sáng nay có một đoàn du lịch TQ. Tôi thấy khi đọc một số câu chữ trong các văn bản ở đây, một số trong họ cười to.