Saturday, July 31, 2010

Nguyễn Đình Nghi(1)

Nguyễn Đình Nghi , một ít tâm tình trí thức

Nhà đạo diễn này không chỉ là một con người của sân khấu mà còn là con người của tri thức nghệ thuật tổng hợp, người của văn hoá. Những ai có dịp trò chuyện với N-Đ-N hẳn không thể quên được một phong cách làm nghề nghiêm túc mà đầy chất trí tuệ ở ông.Trong khi chỉnh lý lại một ít ghi chép từ những điều đã được ông chia sẻ trong những năm cuối đời, chúng tôi luôn có cảm tưởng được sống lại với một  thời đại trong văn nghệ, thời của những thành quả chín đẹp một đi không trở lại. Ngày nay chúng ta đang sống trong một đời sống văn nghệ khác hẳn, với những con người khác hẳn. Nhưng chính vì như thế mà chúng tôi muốn chia sẻ với bạn đọc và các  đồng nghiệp những ghi chép dưới đây





 NHỮNG NGÀY HỌC NGHỀ Ở VIỆT BẮC

Tôi ham đọc sách là do ông bố tôi dạy. Theo Thế Lữ, đọc sách là một cái thú lớn nhất trên đời này (hơn cả tình yêu). Ham biết, cái gì ông ấy cũng muốn biết.

     “Người trẻ tuổi phải biết viết nhật ký, ở Pháp người bình thường cũng viết nhật ký, nó là nơi để người ta nói những điều cần  nói với mình.” – ông bảo vậy.
      Tôi viết nhật ký đều từ 1948-50.
     Ấn tượng mà Tự lực văn đoàn để lại trong xã hội hồi ấy là lớn lắm. Trong kháng chiến chống Pháp tôi biết  vinh quang của họ mờ dần. Qua ông bố, thấy  làm văn nghệ phải có gì nổi hẳn lên mới vinh quang. Còn  làm văn nghệ mà trung bình là khốn nạn.
     Gương học là Lưu Hữu Phước. Lưu Hữu Phước chủ trương đến 30 tuổi học thật rộng, từ 30 tuổi mới đi sâu.
     Đi trên đường, với Phan Khôi, nghe một câu chửi lạ,  hai bác cháu nhỏm dậy mà ghi. Ông bảo, đi cả thôi đường, được câu này cũng bõ.
     Anh có biết tại sao hồi làm Phong hóa, ông bố tôi viết truyện trinh thám không? Đơn giản lắm. Hồi ấy báo bắt đầu giảm số lượng phát hành, chính Nhất Linh nghĩ rằng phải viết trinh thám cho người ta đọc, và ông bố tôi là người có khả năng làm việc đó.
     Người làm báo phải phân biệt những gì mà mình thích, với những gì mà bạn đọc thích, người xem thích công chúng thích.
     Ông bố tôi kể: Lúc soạn các bài lai cảo tới báo, có những bài bố tôi đã loại ra, Nhất Linh còn lấy đăng lại. Sau kiểm tra lại thì thấy bạn đọc thích những bài được lấy lại đó thực.
     Hồi kháng chiến, có lần ông bố tôi đưa tôi một kịch bản và bảo hai bố con cùng làm. Tôi thấy kịch bản không hay nên từ chối.
     Ông bố tôi gọi một người khác cùng làm, và nhiều người xem thích lắm. Sau đó, ông tâm sự:
     - Cậu thấy Nghi chưa phải người làm sân khấu. Người làm sân khấu không chỉ dựng vở theo yêu thích của riêng mình, mà phải đứng về phía bạn đọc. Liệu bạn đọc có thích những cái này không? 
     Thế Lữ hay nói văn nghệ không phải chuyện lên đồng, sân khấu phải có nghề.
     
        Nguyễn Tuân, cái gì cũng biết, lại biết kể ; cũng việc ấy, mình cũng trông thấy, mà kể không hay, còn nếu qua miệng ông ấy kể lại, hay hơn hẳn.
      Đoàn Phú Tứ  từng nói với tôi cả buổi về vấn đề chơi sách đẹp. Cuốn Mấy vần thơ  Đỗ Văn trình bày, ví dụ, ông bảo -- sau mỗi trang soi lên, các chữ số không can vào nhau, là vứt đi luôn. Ông nói từ 7 giờ tối đến 10 giờ đêm.
       Ông nói cả tiếng đồng hồ về giấy dó, tự ông nhận là có một tình yêu sâu sắc với mực.
      Nhờ có các ông, lúc ấy, những người như tôi mới hiểu văn học dân gian. Kháng chiến là thời mà ý thức dân tộc mạnh. Giá trị dân tộc thật lộng lẫy mê người. Xem chèo, ông Thế Lữ, ông Kim Lân, há mồm ra thích, kinh ngạc, cười ha hả. Còn Hoài Thanh thì cắt nghĩa cho tôi  cái hay ấy nó bắt nguồn từ đâu.
     1951, mới bắt tay khai thác văn nghệ dân gian ;1952-53, tôi đi công tác về cơ sở, tổ chức những cuộc liên hoan. Khai thác ở 30 xã ở huyện Đoan Hùng. Tôi  từng dự múa trống cổ ở xã đạo Đoan Hùng.
      Nhớ một đêm tôi trên đường từ bến  đò Tuyên Quang về đơn vị. Đêm trăng, anh em ở đoàn, Phùng Thị Nhạn, cô Dần ra đón, cùng hát Trèo lên trên núi Thiên Thai. Con gái hát quan họ thấy hay lạ lùng.
       Ở tuồng, tiên phong đọc là tiên phuông, tràng đọc là trường; ở Quan họ cũng có hiện  tượng đó : anh chường ơi  - thay cho anh chàng ơi. Tại sao có sự biến cải đó, tôi không cắt nghĩa nổi.
        Ông Nguyễn Xuân Khoát chữa lời một bài hát của Đặng Đình Hưng, từ  ngăn sông xẻ núi thành ngăn sông chuyển núi. Âm xẻ bẹt, khó chịu; âm chuyển ấm hơn; nguyên âm đơn nguyên âm kép âm đầy hơn. Các cụ hồi ấy sẵn sàng hy sinh ý, để đạt đến cái đẹp thẩm âm.
         Lại có bài của Nguyễn Xuân Khoát Thằng Nhai thằng Nha, câu mở đầu Thằng Nha có cái bánh đa cái bánh to tướng bằng ba cái đình Thằng Nha đem tặng thương binh ca la pich, ca la pắc, ca la poong.
        Xuân Diệu phê bình không dân tộc. Tiếng Việt không có âm p, nên đổi thành: ca la kích,ca la cắc, ca la coong.
     Đào Vũ dịch: Thống khổ vô bờ. Theo  Xuân Diệu, phải chữa vô cùng hoặc  không  bờ.
     Xem có Việt Nam không, các ông đòi hỏi vậy, ý thức ấy quan trọng vô cùng, không chịu bắt chước, kể cả bắt chước Tàu. Nhớ cái câu Sương rơi đã ướt tàu cau -- Đồng bào bình nghị mau mau ta về. Câu dưới dở nhưng câu trên hay quá mà Việt Nam quá phải không.
      Xem Chị Tấm anh Điền, Hoàng Quốc Việt bảo chuyện địa chủ nông dân không phải bây giờ mới có.
     Hồi  ấy, Hội Văn Nghệ chỉ có sách Pháp.Tôi giữ  thư viện, tha hồ đọc.Từ 1948  có  sách mới, Trận giao chiến đầu tiên của A. Still, Những người cộng sản của Aragon
   Thế Lữ : Nghệ thuật sân khấu bắt đầu từ căng cánh gà cho  thẳng ( lúc ấy thường nối chiếu để căng mới thẳng ). Đến một đơn vị, ở một đỉnh dốc; sàn diễn làm lưng chừng núi, người xem ở dưới. Thế Lữ không chấp nhận, không diễn. Luôn cảm tưởng sân khấu diễn lộng lẫy. Tôi còn nhớ mãi lần đến một đơn vị. Mùa xuân, hàng hoa gạo ( hồi ấy đôi khi gọi là mộc miên) lừng lững.
     Hội có lớp học, song tôi được nghỉ vì sốt rét. Hai giờ một cơn,  đắp chăn mỏng, không trông thấy người. Việc thường xuyên là học. Học chữ Hán trong 4 tháng. Sách Bắc Kinh gửi sang. Có cả bạch thoại, văn ngôn. Ông Phan Khôi bảo Người Việt Nam không biết chữ Hán, mù chữ một nửa. Tôi hay tra từ điển tứ giác. Phan Khôi không tra được tứ giác.
       Những ngày sống bên các ông là hành trang để vào đời. Những con người mình kính phục dù nhiều nhược điểm ; nghĩ tới họ phải sống trong sáng, lành mạnh.
     Huy Du, Phạm Đình Sáu, Hoàng Vân, Đình Quang, Ngô Y Linh, Thái Ly, Nguyễn Vũ, Đoàn Long đi Trung quốc về, đều làm ăn tử tế.
     Nguyễn Tuân đánh dấu phẩy cực giỏi. Ông bảo từ thời Kháng chiến, đánh dấu phẩy kiểu khác. Tôi cũng thấy đúng.
     Nói chung ông Tô Hoài rất hóm, rất tháo vát, nhất là hồi  ở báo Cứu quốc với ông Nam Cao. Còn như việc viết. Có lần tôi mượn cuốn Những kẻ bất khuất của Gorbatov bằng tiếng Pháp, thấy ông đánh dấu vào đấy, đoạn này cho lên trên; đoạn này cho vào giữa. Thì ra, bố mày xào xáo, làm thành Lão đồng chí.  Có một hồi khai là của mình, sau mới nhận là phóng tác.
     Vì  lúc ấy các ông ấy cũng bí, ta phải thông cảm.
     Khi Tô Hoài viết Núi cứu quốc, Nguyễn Đình Thi có bài đọc sách, đã tả rất đúng Tô Hoài “Tác giả thú nhưng không yêu Việt Bắc’.
     Về  sau, thấy Tô Hoài viết được Truyện Tây Bắc, tôi rất phục.
     Nam Cao đáng quý lắm. Có lần Nam Cao bảo tôi:
     - Viết về nông dân như Tự lực văn đoàn cũng thơ mộng quá, mà như tôi cũng đen tối quá. Viết đúng có lẽ ở giữa.
        Có những người như Nguyễn Đình Thi, thời ấy thơ ông bị ghét cay ghét đắng. Ông Tố Hữu bảo: Đọc thơ anh Thi lúc buồn thấy thích, nhưng lúc bình thường, thấy căm thù.
     Nguyễn Huy Tưởng kể: Thằng Thi đi chiến dịch, lăn ra mà làm đào hầm, khiêng thương binh, đủ cả. Về mới có được cái Xung kích (cũng nhờ Thi nó rất khoẻ). Chứ có ông như ông Sanh đi chỉ chui hầm, về làm mấy bài thơ, đến tạp chí Văn nghệ không thèm đăng.
     Hoài Thanh là người thành tâm, như trong việc đòi hỏi thơ phải hoàn toàn thay đổi cho kịp với điều kiện mới thì quá cực đoan (đến bài Ngò cải đơm hoa của Lưu Trọng Lư cũng bị ông Hoài Thanh chê là cũng buồn cơ mà)
     Hoài Thanh là người mang từ Trung quốc về lối tự mình vỗ tay khi bên dưới vỗ tay - ý  để chứng tỏ mình hoan hô lại những người đã vỗ tay mình. 
     Nguyễn Huy Tưởng là người có công xây dựng Hội - là  thủ trưởng cơ quan Hội văn nghệ. Tôi làm chân  giúp việc cho ông Tưởng. Ông Tưởng viết cái gì đọc cho tôi nghe.
     Nói chung, các ông ấy rất thành tâm trong việc sống một cuộc sống mới. Cơ quan văn nghệ mà vẫn có bích báo, có lửa trại. Tôi đến, bảo ông Thi viết bài, ông ấy bao giờ cũng rất đúng hẹn.
     Ông Nguyễn Xuân Sanh cũng có cái ghê của ông ấy. Tôi giữ sách thư viện thấy mấy bài của Tây viết về Dương Bạch Mai, tôi kể cho mấy anh em trong cơ quan nghe, thế là ông Sanh không cho tôi đọc nữa. Hoặc như chúng tôi giữ thư viện, mỗi lần chạy, tôi cho người phải ưu tiên cho những cuốn của Sartre, của Camus, còn ông ấy, ông ấy toàn ưu tiên cho cuốn của Still với mấy bản dịch truyện ngắn xô viết ra tiếng Pháp. Khác nhau rõ.
     Ông Hoài Thanh thì khổ hạnh lắm. Sống cũng khổ hạnh. Toàn đi chân đất. Anh em phải phê bình là anh không chịu giữ sức khoẻ. Ở cơ quan ông ấy sửa chữa, đi dép; nhưng đi công tác, lại đi chân đất.
     Các ông cứ chê Nguyễn Đình Thi. Nhưng ông Tuân làm thì cũng thế thôi. Cũng lên gân lên cốt vậy thôi. Có lẽ bảo khiếp nhược thì đúng hơn.
         Hồi kháng chiến  thì nhiều ca dao linh tinh lắm
     - Bao giờ kháng chiến thành công
     Trở  về làng cũ thì  không còn nhà
     Ai về nhắn với Cha già
     Phen này con cháu thật là tay không
     Theo Đoàn Phú Tứ, đây là Tú Mỡ làm khi đốt nhà đi kháng chiến, nhưng không rõ có đúng không? Vả chăng chỉ là nói giấm nói giú với nhau, chứ ai nói công khai liền bị người khác phê bình ngay.
     Một cái gì như sự khiếp nhược của cả một thế hệ--Đó là hình ảnh lớp tiền chiến hồi chống Pháp.
     Hồi ấy, ông Tố Hữu uy tín không thể tưởng tượng được. Thử nghĩ, giữa đám trí thức ấy, có một anh cũng mặt trắng thư sinh như mình, đi tù đế quốc liên tục, tù lên tù xuống, mà vẫn làm thơ rất hay—ai mà không phục.
       Đảng mình hồi kháng chiến rất giỏi. Cứ cái gì  có lợi cho kháng chiến thì mấy cũng làm. Cái gì không có lợi cho kháng chiến thì mấy cũng không.
     Vì  thế, mới có chuyện đoàn kết trí thức lôi từ cả cụ Phan Khôi đi, đưa Ngô Tất Tố vào Đảng.
      Lại nói chuyện ông Hoài Thanh: ở Thanh Hoá, ông Đặng Thai Mai cho in quyển Quyền sống con người trong Truyện Kiều. Ông Hoài Thanh nói ngay: Không được. Bây giờ mà đưa Chinh Phụ Ngâm ra là không được. (Mà ông ấy nói đúng chứ. Lính mà đọc các của ấy thì chết)
     Cũng Hoài Thanh nói cái buồn nó ghê gớm lắm. Đến như đồng chí Tố Hữu gan vàng dạ sắt như thế, mà khi đi tù, còn có lúc buồn (Tiếng hát đi đày…)


                         MỘT VÀI VẤN ĐỀ  SÂN KHẤU
        Sân khấu, theo tôi, không có nhiệm vụ thay đổi hiện thực, hay giải mã con người như ai đó yêu cầu. Sân khấu chỉ tồn tại ở chỗ đời sống như thế nào, thì nó hiện ra thế ấy.
     Cái này có thể trông vào một ví dụ, cái phòng dành cho khán giả.
     Nếu ngoài đời, người tốt sợ người xấu, người có học sợ kẻ vô học, thì trong phòng khán giả, mọi chuyện cũng tương tự.
     Tại sao bây giờ mà diễn Hamlet, Macbet thì người ta lại kêu là cao quá, không ai xem? Thời Shakespeare cũng có bao nhiêu người thường xem, chứ đâu có phải chỉ quý tộc xem Macbet. Thế tại sao bây giờ Macbet vẫn khó đến vậy?
     Thật ra, có thể nghĩ đơn giản hơn. Năm 76, tôi dựng Con cáo và chùm nho được hoan nghênh lắm. Mà bây giờ thì không ai xem và kêu là cao, tại sao?
     Theo tôi, lý do là vì công chúng mỗi thời một khác. Hiện thời trong sân khấu, đang thiếu một thứ công chúng chọn lọc, công chúng ưu tú, nó giúp đám công chúng bình thường vượt lên và tiếp cận với những giá trị bền vững. 
     Nghệ  thuật Việt Nam không có cái chất kỹ thuật quá  đáng (hoá thành ba -- rốc, hay xuất quỷ nhập thần như nghệ thuật Tàu). Tôi học ở Trung quốc, một ông thày bảo các anh trẻ, các anh không có kỹ thuật. Trông đây - và đương ngồi trên sập, vỗ đánh bốp một cái vào đùi, đã ngồi xuống chiếu rồi. Nhưng như thế cũng chưa giỏi, võ đánh bốp một cái nữa, từ dưới chiếu lại ngồi trên ghế, vẫn xếp bằng tròn như cũ, mặt không biến sắc. Chung quanh vỗ tay rào rào. Ông xua tay cau mặt, vỗ tay làm gì. Phải để sức mà học. 
       A. Sokolov -- một nhà nghiên cứu người Nga chuyên về Việt nam-- hỏi đâu là thắng lợi của 50 năm sân khấu cách mạng? Và đâu là thất bại?
     Nguyễn  Đình Nghi trả lời:
     - Tại đại hội sân khấu vừa qua, tôi có một tham luận, mà tôi cho là chua xương nhất, tức được nhiều người khen, mà khó thực hiện.
     Xuất phát của tôi là ở các nền sân khấu trung bình trở lên, đều có répertoire tức là những vở diễn, nó bắt đầu được dựng ở nhà hát ấy, rồi nó cứ mọc rễ ở đấy, có thể lâu lâu nó được dựng lại nhưng nó cứ còn ở đó, và nói đến nhà hát đó, là phải nói đến vở diễn đó. Ở ta, trong 50 năm vừa qua, cũng có những vở đứng được trong ký ức khán giả đương thời. Đó là Chị Hoà, là Đại đội trưởng của tôi, là ba vở chèo của Tào Mạt. Nhưng không có nhà hát nào tồn tại với những vở của mình. Và bây giờ muốn xem những vở ấy, thì không biết xem ở đâu cả.
          Một nhà nghiên cứu ở phương Tây bảo:
     - Diễn kịch đó là phương Đông. Ở Phương Tây, chỉ có kịch bản và  về diễn thì một thời gian dài chạy theo nguyên tắc “ làm đúng như đời sống”.
      Nói cách khác cái được của Châu Âu nặng về phần viết. Một tác giả châu Âu có vài chục vở. Còn như cả một nền sân khấu trước chúng ta tồn tại 200 năm nay, đếm được 10 vở chói sáng.
     Cái mà châu Á ta được chính là cái diễn.
     Ngay ở phương Tây (ví dụ ở Pháp) người ta có nhấn mạnh tính sân khấu của một vở diễn, thì cũng là một thứ tính sân khấu rất gần đời sống. Ca trù, trên nền cô đầu là gì? Nó là đoá sen trong bùn. Bởi lẽ là một nghệ thuật như thế, tiếc thay, lại phải cứ phục vụ ở cái chuyện mua bán thân xác người phụ nữ.
     Cái gì là được của sân khấu 50 năm qua? Là nó  bảo tồn được tuồng và chèo ở cái thời điểm nó có thể chết vì không cải cách.
     Tại sao tôi không làm sân khấu truyền thống?
     Đặc tính của  sân khấu  dân tộc so với sân khấu mới :
     tập thể // cá thể hoá;
      lặp lại // độc đáo ;
     thành mô hình // không thành mô hình
     Tôi nghĩ về truyền thống:
     Một là tôi phá truyền thống tôi không đủ sức
      Hai là tôi đánh mất tôi. Một người như anh Tào Mạt, làm được nhiều lắm, nhưng vẫn chủ yếu là trên phương diện kịch bản. 
     Tôi thấy nước ngoài họ công bằng với ta, chứ không nói hão đâu.
     Như  bà Ba Lan Markoviwch, bà ấy kể:
     - Lúc đầu các anh cho tôi đi xem Câu chuyện Iếc kút, tôi tởm lợm quá.
     - Tôi tưởng cái đó là hay.
     - Kịch bản hay, nhưng cách diễn của các anh làm tôi tởm.
     Đến hôm đi xem Suý Vân tôi mới thấy được giải toả. Nó như gột sạch cái tởm lợm tôi bắt gặp, từ buổi xem Iếc kút. Không thể quên được, sau khi Suý Vân chết, lại xuất hiện anh hề. Nghĩ kỹ ở đây mới thấy cái đó không phải vô lý, nó chứng tỏ ở đây xã hội dửng dưng với những bất hạnh của một con người như thế nào?
     Vậy là họ nói thực lòng chứ gì.
      M. Marco xem Thị Màu cũng thích lắm, một sự tổng hợp  nhuần nhị. Họ bảo: Sân khấu truyền thống ta, xem rồi thì rất hiểu con người Việt Nam (còn xem kịch hiện đại, chẳng hiểu gì cả). Như chèo, không những thấy độc đáo, mà còn thấy nó là nghệ thuật.
     Nó chín trong cách của nó. Nó chứng tỏ con người dân tộc này không thể ngồi yên mà phải động đậy, phải thét lên, phải huy động sức lực để tồn tại nên hình ảnh của bản thân mình.( Còn  tuồng, họ chê là lắm lời).           
                    
                    MẤY ĐOẠN PHỎNG VẤN  ĐÃ IN CÁC BÁO  
     SÂN KHẤU LÀ NGHỀ PHẢI HỌC
                                               (Trả lời phỏng vấn Lê Thu Hạnh)
     Theo anh, muốn làm đạo diễn sân khấu cần phải làm gì?
     - Thứ nhất là năng khiếu, thứ hai là học.
     Lạ  nhỉ, tôi thấy nhiều người cứ làm đạo diễn ngon lành? Họ có cần học gì đâu!
     - Nghề này phải học, vì sân khấu là nghề  có kỹ thuật cơ bản( giống như âm nhạc, hội hoạ…) khối lượng kỹ thuật cơ bản ấy rất lớn. Chương trình học đạo diễn ở trường Đại học sân khấu kéo dài 5 năm. Mà học xong ở truờng mới chỉ là bắt đầu bước vào nghề.
     Tôi không tin có người không học mà lại thành đạo diễn.
     Tất nhiên, có thể không học ở trường. Cha tôi là người đạo diễn tự học. Nhưng cuối đời, cha tôi bảo: "Không được đi học, tự mầy mò học lấy, phải đi đường vòng, khó khăn vất vả, tốn vô cùng. Có những điều phải mất cả đời làm nghề mới hiểu ra, nhưng nếu được đi học thì có thể lập tức hiểu ngay từ đầu".
     Tác giả sân khấu có thể tự lựa chọn hoặc chỉ viết hài kịch, hoặc bi kịch, có thể  chỉ đi vào một loại đề tài, nhân vật, tóm lại là tự khoanh lấy cho mình một khu vực nhất định của đời sống. Đạo diễn thì phải làm các thể loại, đủ mọi đề tài, đủ thứ nhân vật, lại cả cổ kim Đông Tây nữa chứ. Thế mà đứng trước kịch bản, họ lại không được quyền lép vế đối với người biên kịch. Phải học kinh khủng, học mãn kiếp chưa xong.
     Anh chưa nói đến vai trò  năng khiếu?
     - Nghề này tất nhiên đòi hỏi năng khiếu. Vì  thiếu gì người đã học rồi mà vẫn không làm  đạo diễn được.
     Anh đã làm vở của nhiều tác giả, nhưng vẫn có  phong cách riêng. Đồng thời cách dàn dựng các vở  cũng không trùng lặp. Vì sao vậy?
     -Tôi cho rằng phong cách riêng là thứ không thể cố ý được. Tự nó sẽ có, nếu anh có bản lĩnh. Nhưng theo tôi, có phong cách riêng không khó bằng tránh đi trở lại một lối mòn, dù là lối mòn của chính mình.
     Tôi nghĩ kịch bản văn học bao giờ cũng là cơ sở là tiền đề của vở diễn. Người đạo diễn không thể tồn tại độc lập với tác giả. Và theo tôi cách tốt nhất để tránh sự trùng lặp lại mình, là luôn luôn tôn trọng kịch bản -- mặc dù điều này mới nghe có vẻ như một nghịch lý. Đừng bao giờ áp đặt tính cách riêng, sở thích riêng, kiểu cách riêng của mình vào kịch bản văn học. Hãy tôn trọng những đặc điểm khác nhau của các tác giả và tác phẩm khác nhau, hãy tìm đến với tác phẩm theo con đường riêng phù hợp nhất.
     Mỗi tác phẩm đòi hỏi một cách tiếp cận riêng, điều đó tạo ra sự đa dạng của công việc đạo diễn.
     Vừa phải có dấu ấn tiêng của mình ở vở diễn, vừa phải tôn trọng kịch bản, tôi sợ rằng khó
     - Dàn kịch có bao giờ là dễ đâu! Có thể ví mỗi tác phẩm như một ngôi nhà đóng kín. Cần tìm ra những cách khác nhau để mở cửa những ngôi nhà khác nhau. Sẽ dễ dàng biết bao - và cũng đơn điệu biết bao - nếu anh vào tất cả mọi ngôi nhà chỉ bằng một một cách phá cửa.
     Người ta bảo trong nghệ thuật cần phải  độc đáo, phải "khác người". Anh không giống các đạo diễn khác. Anh đã làm thế nào?
     - Trước hết, tôi cố gắng hiểu thấu tác giả, và từ đó đi tới "cắt nghĩa" tác giả một cách không giống người khác. Khi đã phát hiện được những điều bất ngờ của kịch bản, thế là tôi yên tâm.
     Tôi mới chỉ thấy anh nhấn mạnh đến "biết", "hiểu", "cắt nghĩa". Thế còn vai trò của cảm hứng?
     - Tôi làm việc như thế này: tìm hiểu kịch bản thật kỹ, chuẩn bị chu đáo những việc mà nghề đạo diễn đòi hỏi, rồi sau đó, khi lên sàn tập thì quên hết đi, để làm việc hầu như chỉ theo những điều lúc đó mới xảy ra, một cách "tự phát". Tôi không quen dừng lại để "lý sự" với diễn viên hoặc tự "lý sự" với mình trên sàn tập. Thế là "cảm hứng" đấy chứ gì! Thật ra điều này chẳng có gì mới lạ. Trước đây gần một thế kỷ, Stanislavski đã từng nói: "Cần có 90% lao động ý thức để đạt tới 10% sáng tạo vô thức (tiềm thức)".
     Nhân nói về "hứng", cũng cần chú ý: nghệ thuật sân khấu đòi hỏi hứng, nhưng lại đòi phải có hứng đúng giờ. 7h30 mở màn, anh không thể nói: tôi chưa có hứng, xin chờ đến 8h hãy mở màn!
     Hàng ngày anh đọc gì ?
     - Tôi cố gắng đọc những gì không liên quan đến văn học nghệ thuật trong và ngoài nước, từ tác phẩm đến phê bình lý luận. Về sân khấu, tôi cố gắng không lạc hậu so với tình hình sân khấu nước nhà và làm sao "cập nhật" với các vấn đề của sân khấu thế giới.



     NGHỀ  VÀ NGHIỆP
                                             (Trả lời phỏng vấn Vương Trí Nhàn) 
      Có bao giờ anh cảm thấy rằng mình có một cái nghề quá độc đáo, đến mức
       …  Đến mức nhiều người đi xem một vở diễn vẫn không biết cần có một đạo diễn chịu trách nhiệm về toàn vở. Và trước các tấm panô quảng cáo vở, vẫn có người đoán rằng chữ đạo diễn là do viết nhầm từ chữ đào điên, rồi than phiền bên cạnh tác giả, vở nào cũng có một nhân vật đào điên như vậy. Vâng, những chuyện ấy bọn tôi biết cả! Nhưng thú thực, cũng chăng nên lấy đó làm điều… Trên đời này thiếu gì những nghề kỳ cục mà người ngoài cuộc không thể hiểu nổi.
     Nếu cần giúp người khác hình dung ra nghề đạo diễn, anh thường so sánh nó với nghề nào? Nó có gì gần với các công việc của các huấn luyện viên bóng đá ?
     Giữa việc chỉ đạo một đội bóng với việc hình thành một vở diễn kể cũng nhiều chỗ giống nhau thật. Nhưng tôi hay nghĩ mình giống như một chỉ huy quân sự: Cũng phải có kế hoạch tác chiến, phải có tư duy chiến thuật, đủ thứ. Dù đã được suy tính kỹ lưỡng từ trước, một vở diễn cũng như một trận đánh vẫn có những chỗ biến hoá khôn lường…
      Vậy chỉ với các anh, sân khấu mới bắt đầu hoạt động
     Không hẳn thế. Sân khấu là đóng góp chung của nhiều nguời thuộc nhiều ngành nghề. Nhưng đúng là chúng tôi, các đạo diễn có trách nhiệm phối hợp các cố gắng đó lại. Hiện nay, sân khấu ta đang xuống cấp, diễn viên không chú ý gì đến khán giả, mà khán giả thì đến rạp với tâm lý "mất tiền mua mâm phải đâm cho thủng?", nghĩ ra đủ thứ để hành hạ diễn viên, chế nhạo những người làm sân khấu nói chung. Việc đó làm cho bọn tôi buồn lắm!
     Như thường nói, các đạo diễn phải tạo được cho mình khuôn mặt riêng, phong cách riêng?
      Cũng như mọi nghề khác, trong nghề tôi có hai loại đáng để ý. 1) Những người làng nhàng, vở được anh ta dàn thường sạch sẽ, tròn trặn dễ chấp nhận, nhưng không có gì thật nổi và 2) Những người có bản sắc rõ rệt, có cả thành công, có cả thất bại, thậm chí thất bại rất đau đớn, nhưng bao giờ cũng mang tính cách riêng của mình vào công việc, tạo ra những vở diễn khác hẳn vở trong tay người khác.
      Ví dụ như ai?
      Như các anh Xuân Đàm, Vũ Minh. Đấy là những người rất có cá tính, với cái hay cái dở của từng cá tính.
      Công chúng còn biết quá ít về họ.
      Thì đấy lại là một đặc điểm của cái nghề mà chúng tôi đã chọn. Dường như người ngoài cuộc khó thấy được chân dung người làm nghề. Ý đồ của đạo diễn chan hoà trong toàn vở nhưng không cách gì cố định nó được. Nó mong manh dễ biến mất lắm. Công phu theo đuổi vài tháng một vở, rồi chỉ trông thấy thành quả của mình trong độ gần chục buổi diễn đầu tiên.
     Có vở còn được quay thành phim.
      Đó là phim chứ không còn là vở diễn nữa.
      Nghe anh kể mà thấy nản quá!
      Để tôi kể anh nghe một chuyện. Có lần tôi, Nguyễn Khải, Trần Quốc Vượng đã ngồi với nhau. Tôi kêu chán trước. Rồi ông Khải kêu nghề văn học. Ông Trần Quốc Vượng thì bảo không hiểu sao mình lại đi làm sử, đáng lý trước kia ông làm khoa học tự nhiên cơ. Hoá ra đây không chỉ là tâm sự riêng của tôi, mà ai cũng vậy.
      Nghe anh em kể là cả giám đốc nhà hát, cả chân cục trưởng cục phó anh đều từ chối?
      Nói từ chối e mang tiếng cao đạo. Phải nói tôi thấy mình không hợp với các công việc đó thì đúng hơn. Cũng biết rằng khi có quyền, có chức ngoài lương ra, còn có thể nhận được đủ loại bổng lộc không ghi thành văn bản. Và nữa, khi có quyền thì vai vế trong nghề tự nhiên được nâng hẳn lên một bậc.
      Nhiều người cứ kêu mình không muốn làm, nhưng cấp trên với anh em ép quá nên phải nhận làm (?!).
      Tôi cho rằng khi đã có lý do chính đáng để từ chối thì không ai nỡ ép anh. Chỉ sợ lòng anh không sáng, con rô cũng tiếc con diếc cũng muốn, phụ trách thì không có khả năng, công việc cứ bấn tinh bấn mù cả lên, mà nghề thì cũng cảm thấy xa dần…
      Còn riêng anh thì sẽ ở lại với nghề mãi mãi, dù đôi khi rất buồn, rất chán?
       Trong câu chuyện mà tôi vừa kể, bên cạnh Trần Quốc Vượng, Nguyễn Khải và tôi, còn có Nguyễn Minh Châu. Nghe bọn tôi nói một lúc, Châu bĩu môi tỏ ý không tin: "Thôi thôi đừng nói nữa, rác  tai lắm. Các anh còn than phiền về nghề nghĩa là các anh còn tha thiết với nó. Lúc các anh chửi nó mạnh nhất là lúc các anh xót nó nhất". Nghe Châu nói mọi người  đều ngớ cả ra, thấy phải.  Vâng! Chẳng gì chúng tôi cũng đã sống với nghề này gần trọn cuộc đời. Vậy nên, một lúc nào đó, giá có ai trong chúng tôi có dằn dỗi nói rằng chán lắm rồi thì các bạn cũng chớ nên tin, nay chán nhưng mai người đó lại sẽ bắt tay làm nghề hăm hở hơn bao giờ hết. 
   
  TỪ  TIẾP XÚC VỚI NGƯỜI MÀ  HIỂU THÊM MÌNH
                                                                                  (Trả lời phỏng vấn Vương Trí Nhàn)
      Xin anh cho biết một ít suy nghĩ có liên quan đến một câu chuyện đang được bàn luận sôi nổi là hội nhập văn hoá.
      Đầu năm 1954, tôi được cử đi học sân khấu ở Bắc Kinh, nhưng lại không muốn đi. Lúc đó, tôi viện ra cái lý như thế này: Sân khấu là chuyện sáng tạo nghệ thuật. Mà nghệ thuật thì phải  bám vào đời sống dân tộc. Bố tôi, không bằng lòng. Ông bảo, Nghi nói thế là không đúng. Sân khấu yêu cầu những kỹ thuật cơ bản. Phải có kỹ thuật đã, rồi mới nói dân tộc được. Nếu anh đã có chất dân tộc trong người, thì học ai cũng được, học ai rồi cũng vẫn là chính mình. Nghe ông cụ nói vậy, tôi yên tâm đi học và trở thành người làm nghề đến hôm nay. Chưa ai bảo tôi, vì có đi học Trung quốc, sau đó, học cả ở Nga, ở Đức,.. mà xa dân tộc cả.
     Tôi cũng nghĩ như ai đó đã nói, hội nhập là  lẽ đương nhiên, là chuyện không thể bàn cãi. Một đồng nghiệp của tôi ở Trung quốc tổng kết: chân đứng vững trên mảnh đất Trung quốc, nhưng mắt phải nhìn ra thế giới.
      Nghĩa là theo anh, quá trình hội nhập xảy ra ở mọi nước?
      - Đúng thế, không trừ một nước nào cả. Anh thử nhìn xem, đây là cuốn Từ điển bách khoa về sân khấu, do nhà Bordas cho in năm 1991. Ở mục Sân khấu hiện đại Nhật trang 449 từ điển này viết là có hai  yêu cầu đặt ra với các văn bản kịch:
     1. Nó phải có khả năng nêu ra những vấn  đề của xã hội Nhật hiện đại.
     2. Nó phải chịu được sự thử thách của chuyển ngữ, tức vượt qua đuợc cửa ải dịch.
     Ý người ta muốn nói kịch bản hay thì không phải người Nhật thấy hay mà khi dịch ra nước ngoài, người Nga, người Mỹ, người Nam Phi, người Trung Quốc…. cũng đều phải công nhận là hay. Đây cũng là kinh nghiệm của riêng tôi. Sở dĩ Hồn Trương Ba da hàng thịt (kịch bản của Lưu Quang Vũ) do tôi dàn dựng mang diễn ở một số nước họ chịu, không chỉ vì họ thấy độc đáo mà còn vì họ nhận ra ở đấy có những vấn đề của họ. Chèo của ta, họ chấp nhận, không chỉ vì họ nhận ra ở đó, một nghệ thuật thuần chất Việt Nam. Mà trước tiên vì nó chín, nó có tính phổ quát, nó là nghệ thuật. Nhìn rộng ra, ở cả một ngành như âm nhạc, họ chỉ coi là âm nhạc của chúng ta trưởng thành, khi bên cạnh ca trù, quan họ, ta có Đặng Thái Sơn nghĩ là đáp ứng được những cái chuẩn của thế giới.
      Những người phản đối và chế giễu hội nhập thường nêu ra cái ý trước tiên phải giữ gìn bản sắc dân tộc của văn hoá, không được lai căng mất gốc. Người ủng hộ hội nhập thì cãi lại: chính trong quá trình hội nhập, ta mới hiểu ta, nghĩa là mới nhận chân được bản sắc của mình. Anh đứng về phía nào trong cuộc tranh luận này?
      Cố nhiên là đứng về loại ý kiến thứ hai. Đây là một chuyện nhỏ ở giới sân khấu chúng tôi. Khi mới tiếp thu thể hệ Stanislavsky, nhiều anh em làm công tác sân khấu thấy ngay là ở chèo tuồng của ta, đã có chất "Stani". Đến khi đọc sang Brecht, ta lại thấy sân khấu truyền thống của ta - rất gần sân khấu gián cách. Cãi nhau mãi, rồi đến lúc bình tĩnh nhìn lại, hoá ra ta không phải cả hai cái đó, ta là cái gì riêng ta mới có. Song nhờ có đọc Stanislavsky cũng như Brecht, ta mới hiểu về chính ta như vậy! Lưu ý thêm ở đây một sự thực, đừng tưởng cứ là người Việt Nam tlà hiểu ngay hiểu thấu đáo nghệ thuật Việt Nam đâu. Ở đây không thể bỏ qua kinh nghiệm nghệ thuật của thế giới. Tư thế đứng ngoài, đôi khi người ta thấy mình rõ hơn là mình thấy mình.
      Trong vấn đề hội nhập, qua công việc đã làm, anh rút cho mình những nhận xét, những kinh nghiệm như thế nào?
      Tôi vừa cho in một bài viết khá dài, trên tạp chí Sân khấu (cơ quan của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam) các số 7 và 8, 1995. Bài viết mang tên Trên đường tìm về truyền thống :"Sự tồn tại của một nền văn hoá không chỉ có ý nghĩa bản địa mà còn có ý nghĩa đóng góp vào kho tàng văn hoá chung của các dân tộc. Với nghệ thuật sân khấu truyền thống độc đáo, chúng ta đã đóng góp xứng đáng vào nền sân khấu chung của loài người. Nhưng nhiệm vụ ấy chỉ đầy đủ, nếu bên cạnh sân khấu truyền thống có sân khấu hiện đại.”
     “Sân khấu hiện đại của ta không những chỉ sáng tạo cho mình sự độc đáo Việt Nam mà còn vươn lên sánh ngang được với nền sân khấu hiện đại tiên tiến của thế giới"- tôi đã xuất phát từ nguyên tắc đó để tìm hiểu hướng đi của kịch nói riêng, sân khấu nói chung. Nhìn vào sân khấu Trung quốc từ sau 1949, tôi nhận ra: "qua sự hiểu biết, học hỏi thế hệ Stanislavsky, ngành sân khấu Trung quốc càng thêm hiểu biết sâu hơn về chính bản thân sân khấu dân tộc mình", và đấy chính là một ví dụ đầy thuyết phục về cái sự "từ tiếp xúc với người mà thêm hiểu mình".
     Trong bài viết tôi còn nói học hỏi truyền thống là đúng, nhưng làm thế không phải chỉ vì truyền thống, không phải chỉ để cho có tính dân tộc. Và nếu tìm về truyền thống mà thua kém học theo nguyên mẫu Âu châu, thì sự tìm tòi thử thách là vô nghĩa. Tóm lại bao giờ tôi cũng chủ trương vừa phải dựa vào kinh nghiệm ông cha, vừa phải học hỏi thêm ở các nền sân khấu lớn trên thế giới, nghĩa là phải hội nhập, song tất cả phải được làm một cách sáng tạo. Phải lấy hiệu quả để đánh giá công việc.

Tuesday, July 27, 2010

Ghi chép hàng ngày (8)

20-7

ĐỂ LẠI GÌ CHO CON CHÁU?

Mua cuốn Tìm hiểu môi trường của hai tác giả Mỹ Eldon D. Enger – Bradley F. Smith. Ghi được cái ý, từ khoảng những năm 1910-1920, tổng thống Mỹ Teddy Roosevelt đã tuyên bố là ngoại trừ việc bảo vệ đất nước trong thời chiến thì không gì bằng để lại đất đai cho con cháu ta, thậm chí phải là phần đất tốt hơn dành cho chúng ta .


21-7

QUANH CHUYỆN THIẾU ĐIỆN

-- Tiếp tục ý Cái đúng hôm qua nay không đúng nữa.
Người ta hay lý sự “không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng”. Cái thiếu đáng sợ chứ ! Ví dụ do thiếu điện, con người hiện nay sinh ra tâm lý không thấy cần tiết kiệm. Lúc có điện dùng bừa dùng bãi, cho bõ tức mà cũng là cho hết cái xuất mình đã được hưởng.
Trước đây chỉ hay nói sự giầu có làm hư con người. Nay hóa ra ngược lại, sự thiếu thốn cũng làm tha hóa họ, tác hại còn ghê gớm hơn.


-- Ngày trước thiếu điện thì bó tay. Nay đã có cái thay thế tạm thời: máy phát điện. Chưa đến mức mỗi nhà một máy, nhưng dễ phát triển.
Người Việt làm kinh tế, lo cho cái chung thì vụng, nhưng lo riêng thì giỏi.
Việc sử dụng chiếc máy phát điện cho từng gia đình giống như việc sử dụng xe máy. Tức là manh mún lụn vụn không ra hệ thống. Ta đang chuyển đổi thành kinh tế công nghiệp theo cái phương thức kinh tế tiểu nông. Làm gì cũng không ra thoát tâm lý tiểu nông .


22-7

NGƯỜI VIỆT DÔNG DÀI UỂ OẢI

Nhân đọc Chuyến đi Băc kỳ năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký, đoạn phong tục có câu tả Hà Nội” Chốn thiềng thị thì công thương tụ, có lộn Ngô Khách. Đàn ông con trai hay ngồi quán ngồi lều trà rượu ăn chơi, còn việc cày cấy thì nhờ đàn bà con gái làm.
Liên hệ tới ba truyện ngắn Thạch Lam.
Trong Cô hàng xén mọi việc trong nhà cô Tâm lúc chưa lấy chồng đều do mẹ cô lo liệu, bố cô chỉ đi chơi các nhà xa gần có khi vài ngày liền mới về .
Trong Người bạn trẻ, cảnh nhà anh Bào “bà mẹ tráng bánh và thổi xôi để bán’ . Còn “ thầy anh ta, ông có vẻ nghiêm nghị lắm, và hình như lúc nào cũng ung dung không làm gì”.
Trong Hai lần chết.Cha Dung chẳng làm gì cả. Từ xưa đến nay vẫn thế. Hình như ông ta sinh ra đời là chỉ để ngồi ở nhà cho lúc nào cũng có người và để những ngày giỗ tết trong họ, khăn áo chỉnh tề đi ăn cỗ mà thôi. Không ai thấy ông ta làm việc gì, mà cũng không ai nghĩ đến sự ông ta phải làm một việc gì đó”.
Xưa là thế còn thời nay?
” Đi dọc các con đường và ngõ ngách của quán nhậu ở Hà Nội, bạn sẽ thấy cánh đàn ông chuyện trò rôm rả không thua gì các phiên chợ buổi sáng của các bà. Họ nói chuyện đùa, chuyện tếu, chuyện phiếm, chuyện mặn chuyện lạt một cách say sưa và tự nhiên như thể chỉ có đàn ông là công dân danh dự trên quả đất này. Sau vài tuần bia và rượu, cánh đàn ông không hề trở nên đáng yêu hơn với gương mặt đỏ kè, giọng nói lè nhè hoặc the thé. Rồi họ chuyển sang chuyện chính trị, chuyện đấu đá ở cơ quan, hoặc bắt đầu lên giọng triết lý về các vụ scandal nóng nhất. “
Đây là một đoạn tả Hà Nôi của Drew Taylor, được giới thiệu trên nhiều mạng . Bài viết có cái tên là Ngộ quá ta!


25-7

THÊM SÁCH SỬ NHƯ HIỆN NAY

THÌ CHỈ LÀM CHO NGƯỜI TA GHÉT SỬ

Dường như những lời kêu ca về việc coi rẻ môn sử cũng có tác động, nhiều loại sách sử mang tính cách gọi là phổ thông kiến thức được biên soạn. Nhưng nhìn vào chỉ thấy những cuốn viết cẩu thả và nhất là quan niệm về sử trong đó đơn sơ cổ lỗ, so với sách giáo khoa phổ thông còn kém một bậc. Mà sử học trong nhà trường thế nào thì chắc chúng ta đều biết.
Người ta vẫn quen nghĩ rằng phục vụ đại chúng nghĩa là in ra thật nhiều những cuốn sách giá rẻ, tức một cách cao đan hoàn tán những kiến thức cũ rích và do đó vô hại, thế thôi.
Một hướng phổ biến sử khác là làm sách sử cho thiếu nhi. Biến thành truyện tranh. Giấy trắng, in đẹp.
Tôi cũng không tin là nó làm cho giới trẻ yêu sử hơn.
Đã mấy lần tôi có nói với một vài phóng viên đến phỏng vấn rằng loại sách “ thần đồng đất Việt” chỉ gây hiểu sai về dân tộc. Họ bảo anh ơi loại sách đó được yêu thích lắm.
Cố nhiên chả ai buồn đưa ý kiến của tôi lên mặt báo. Nghĩa là tôi sai?
Nhưng sao vẫn thấy cách làm sử như thế trước sau chỉ làm cho bạn đọc ở các lứa tuổi chán sử.
Và căn bản là lịch sử sẽ không giúp gì cho họ trong đời sống nếu không muốn nói giữ họ trong ảo tưởng, làm khó cho họ trong hội nhập quốc tế.
Nhưng nếu có ai hỏi phải bắt đầu làm sử lại bây giờ thì tôi cũng đành chịu.
Ta thường nói ta học nhiều ở văn hóa Trung Hoa. Nhưng từ các cụ xưa đã chỉ lo học thơ phú. Còn sử thì không học được và cũng không chịu học. Lại càng không muốn biết rằng Trung Hoa có một nền sử học mà phương Tây cũng phải kính phục.
Trong cuốn Lịch sử nhìn từ quan điểm sinh thái học, tác giả Nhật Tadao Umesao có kể rằng, ở các quốc gia Đông Nam Á, tư duy lịch sử và nói chung là khoa nghiên cứu truyền thống của mỗi nước ít phát triển.
Ở chỗ này thì Việt Nam lại trở về với đại gia đình Đông Nam Á.
Chỉ có điều khác, ví dụ như ở Miến Điện, hiện nay, theo Tadao Umesao, môn lịch sử Miến Điện được dạy bằng sách giáo khoa do người Anh soạn.
Ta thì không làm thế. Ta cũng dựa vào tài liệu nước ngoài nhưng chỉ lấy phần nào người ta khen mình, còn những nhận xét nghiêm túc khác thì gạt bỏ thẳng thừng. Và ta làm ra thứ sử như hiện nay.

Tuesday, July 20, 2010

Ghi chép hàng ngày (7)

14-7

HAI XU BÚN RIÊU…HAY LÀ SỰ KHỐN CÙNG CỦA NẠN ĐẠO VĂN HIỆN NAY

Nguyễn Công Hoan từng có truyện ngắn Thằng ăn cắp viết năm 1932. Nỗi khốn khổ của kẻ cùng đường. Sự trơ tráo của kẻ phạm tội. Cái gọi là tình trạng nhân thế hiện ra trong truyện này cũng như trong Nguyễn Công Hoan nói chung cực kỳ nhếch nhác. Mọi chi tiết trong truyện đều khá thú vị. Nhưng tôi còn thấy truyện hay ở hai khía cạnh vặt khác.


Một là cái sự bù lu bù loa của người mất cắp.
Và thứ hai là cái thứ mà người ta ăn cắp. Hãy đọc lại trăm chữ cuối truyện, nhất là mấy câu cuối cùng:
-- Nó lấy gì của bà?
-- Các ông đưa nó lên Cẩm ( đồn cảnh sát –VTN) … hộ tôi
-- Bà mất gì?
Bà ấy cố trả lời, nói rời rạc như người sắp tắt thở:
-- Nó ăn của tôi…hai xu…bún riêu… rồi nó quỵt … nó chạy.
Tôi tìm thấy ở đây một sự phóng chiếu của … nạn đạo văn hiện thời.
Không ai nói những Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, hoặc Nguyễn Tuân,Tú Mỡ, Vũ Trọng Phụng … bị đạo văn bao giờ. Lý do là bởi những thứ các vị ấy viết ra đều in đậm cốt cách ngòi bút tác giả. Ai lấy là lộ liền.
Còn nhìn vào những thứ mà người ta thó của nhau và bị gọi tên chỉ mặt hôm nay. May lắm chỉ là những ý tưởng thuộc loại trung bình và được diễn tả không rõ sắc thái cá nhân. Và còn ít người biết, nên mới dễ tạo cơ may cho người làm cái việc “ đạo” khỉ gió đó.
Nhìn rộng ra có thể bảo nó là sản phẩm của một nền văn chương hoặc nền giáo dục còn đầy bóng tối, một thứ đời sống tinh thần tỉnh lẻ, phố huyện, gà què ăn quẩn cối xay và chưa họp chợ đã họp kẻ cắp.




15-7

ĐÂU LÀ SỰ ĐẠO VĂN TỞM LỢM NHẤT?

Nói dối trong xã hội hiện đại đã đến mức tinh vi đến mức nhiều khi nó rất giống như nói thật. Juan Carlos Onette, một nhà văn Mỹ la tinh hiện đại, hiện sống ở Madrit, Tây Ban Nha từng nói “Có nhiều cách nói dối, nhưng cách tởm lợm nhất là nói ra đủ thứ chi tiết về sự việc – tức nói toàn bộ sự thật -- mà chỉ che giấu cái hồn của sự việc”.
Bắt chước tác giả trên, tôi cũng muốn nói có hai thứ thứ đạo văn. Ở một đầu là tình trạng chép từng câu thô thiển. Còn đầu kia là lối đọc của người ta xong, viết lại khác đi một chút. Câu văn chữ nghĩa của mình, không ai bắt bẻ được. Nhưng tinh thần là lấy của người khác, thực chất vẫn là đi ăn cắp. Nói như Juan Carlos Onette, đó mới là thứ đạo văn tởm lợm nhất.
Tôi tự hỏi, thế cách dạy và cho học sinh thi văn hiện nay—làm bài theo nội dung thầy cô giảng trên lớp, chấm theo đáp án đến từng điểm a, b,… có phải là tiền đề để tạo ra thứ đạo văn thứ hai này không ?


17-7

HY VỌNG LÀ TỪ PHƯƠNG BẮC

Phim Lý Công Uẩn cuối cùng được mang sang Trung quốc để làm. Tuy có vài thắc mắc, nhưng ở chỗ riêng tư, người ta đều bảo nhau, không chừng thế mà hay, chắc chắn cũng còn có một phim coi được. Chứ để cho dân mình tự làm lấy thì công toi luôn.
Trong mỹ thuật VN có một thứ đồ sứ gọi là men lam Huế, do các chúa Nguyễn đặt hàng người Tầu thời ấy làm và chở sang VN để vua dùng và khi cần làm việc đối ngoại.
Nay ta lại học cha ông xưa thôi!
Tây còn có chỗ không hiểu ta, chứ người Tầu đi guốc trong bụng ta là cái chắc, họ hiểu ta, đóng vai ta giỏi hơn chính ta nữa.
Báo chí chẳng đang nói tới chuyện nhân phong trào người Việt dùng hàng Việt, lật ra khối thư hàng nội bán ở các chợ, khối thứ đề là Việt Nam sản xuất nhưng lại do Tầu làm là gì.
Đấy là chúng ta chưa nói tới những phát ngôn, những tư tưởng, những thành tựu tinh thần. Ai biết được chỗ nào ma ăn cỗ.
Rất chân thành, cụ Đặng Thai Mai hồi trước đã đặt cho một bài viết cái đầu đề khái quát: Ánh sáng là từ phương Bắc.
Nhân câu chuyện phim Lý Công Uẩn, thì còn có thể dịch câu nói trên của Đặng Thai Mai thành Hy vọng là từ phương Bắc.


19-7

CÓ MỘT HÀ NỘI NỔI TIẾNG , THẾ LÀ ĐƯỢC RỒI

Trông vào cảnh HN chỉnh trang, thấy hóa ra lâu nay chúng ta có một thành phố quá ư rách nát.
Nhớ có lần ai đó chê chỉnh trang làm mất cái duyên HN, thì một ông phụ trách hỏi lại:
-- Thế các anh thử chỉ cho chúng tôi biết cái duyên cũ của HN là gì nào?
Cũng không ai trả lời được.
Hóa ra cái HN mà chúng ta sống một đằng và HN trong đầu óc mọi người thì lại khác, mỗi người hình dung ra một HN của mình và yêu riêng cái đó, thế là được rồi.
Báo Tuổi trẻ cuối tuần số ra 11-7 có nói tới một hiện tượng tâm lý ở thanh thiếu niên nhiều nước “ Bây giờ vô danh tiểu tốt còn tồi tệ hơn là nghèo khó”.
Ồ, nếu đúng vậy thì mỗi người thủ đô chúng tôi, cả già lẫn trẻ, đều là người rất hiện đại. Miễn Hà Nội chúng tôi nổi tiếng! Còn nghèo nàn nhếch nhác, xin quên ngay cho, đếm xỉa tới làm gì!


Thursday, July 15, 2010

Cái đúng hôm qua nay không đúng nữa!

(TBKTSG) - Ông Tú, nhân vật chính trong truyện ngắn Một thời gió bụi (1991), của Nguyễn Khải là một cán bộ vốn sống ở thành phố, khi nhận sổ hưu, liền có ý định về sống hẳn ở quê. Song chỉ về quê thăm thú ít ngày, ông đã phải bật ra, quay trở lại với vợ con ở thành phố, làm chân phụ việc bán hàng cho vợ.



Tại sao? Theo cách miêu tả của tác giả, nhân vật tưởng đã rất từng trải ở đây đã thực sự bị sốc trước tình trạng xảy ra trên quê hương. Con người gian giảo lừa lọc. Niềm tin và sự bình thản trong tâm tư không còn. Mối quan hệ thuần hậu giữa người với người đã bị biến dạng.


Chữ lợi làm mờ cả mắt. Người ta sẵn sàng làm bất cứ việc gì, kể cả đào trộm một ngôi mộ cổ của một bà thứ phi của chúa Trịnh Doanh, bẻ đầu bà ta, để kiếm vàng. Ấn tượng còn lại ở ông Tú là “một cái làng, một vùng quê không còn quá khứ, không còn lịch sử ”. Quay trở lại với gia đình nơi đô thị, ông nghe một đứa con hỏi : “Về quê có vui không?”, đành đáp: “Cuộc sống gay gắt lắm”. Lại khi nghe hỏi: “Vùng ấy phong cảnh đẹp lắm hả bố”, ông chỉ còn cách trả lời: “Bây giờ thì trần trụi tan hoang cả” (xem Tuyển tập Nguyễn Khải ba tập, tập III, NXB Văn học 1996, các trang 269 và 280).


Nguyễn Khải từng có nhiều thiên truyện viết về nông thôn miền Bắc những năm 60-70 thế kỷ trước, trong đó có truyện Tầm nhìn xa chế giễu ông Tuy Kiền, phó chủ nhiệm hợp tác chuyên xoay xở kiếm lợi. Văn xuôi Nguyễn Khải hồi ấy cho thấy một nông thôn hài hòa mà sôi động, con người đầy khao khát song rất tự chủ, và luôn tự chứng tỏ là có thể đứng vững trước bất cứ thay đổi nào của thời cuộc.


Nay với Một thời gió bụi, tác giả vẫn sắc sảo như xưa, nhưng lại hai lần đáng ca ngợi vì là một sắc sảo phát hiện ra những gì ngược với niềm tin của mình hồi trẻ. Trong phút xuất thần của ngòi bút, Nguyễn Khải thật đã dự cảm chính xác sự băng hoại của nông thôn cổ điển trước công cuộc hiện đại hóa tự phát có pha một chút dã man hôm nay.


Thứ nữa, điều quan trọng không kém, nhà văn còn gọi ra được một lối phản ứng trước hoàn cảnh đang chi phối nhiều người chúng ta. Đó là một cái nhìn tĩnh, một nếp nghĩ trì trệ, chỉ biết mơ màng với những giáo điều cũ kỹ, lúc chạm vào thực tế thì sợ hãi lảng tránh. Trong khi vẽ ra một bức tranh thực tế xa lạ hẳn với thói quen cảm nhận của số đông, tác giả như thoáng có một chút chế giễu cái sự lãng mạn quá lâu của mọi người, và thầm đề nghị rằng mọi suy nghĩ về nông thôn phải thay đổi.


Cần nhấn mạnh cái khía cạnh thứ hai này của tác phẩm vì thời gian gần đây - ngót nghét hai chục năm sau khi Một thời gió bụi ra đời - dường như vẫn đang có một lối nhìn, một mạch suy nghĩ cảm xúc ngự trị trong xã hội, chảy ngầm trong những câu chuyện và len lỏi trong tâm tư mỗi cá nhân lúc họ cô đơn. Đó là niềm lưu luyến khôn nguôi với nông thôn thời quá khứ, là việc lý tưởng hóa mối quan hệ giữa người với người hôm qua, tiếp đó lẽ tự nhiên là tiếng thở dài than vãn vì một cái gì tốt đẹp vừa bị đánh mất, và niềm ao ước thầm kín, giá kể đồng hồ có thể quay ngược, giá kể có thể trở về với những ngày xưa thân ái, tình làng nghĩa xóm, rau cháo có nhau, nghèo khổ nhưng mà đầm ấm.


Con người vốn yếu đuối. Trước những thay đổi quá chừng đột ngột, lại ngả sang dữ dằn ghê gớm của công cuộc hiện đại hóa ít nhiều phi nhân văn hiện nay, cái sự co lại trong hành động, sự mệt mỏi trong tâm tư là điều dễ hiểu. Nhưng tôi tưởng đây chính là lúc chúng ta cần một ít lý trí sáng suốt. Quay về làm sao nổi. Đúng là không thể làm giàu bằng bất cứ cách nào. Nhưng cũng không thể nghèo mãi như cũ. Chỉ có dấn bước đi tới với nghĩa nhìn thẳng vào thực tế, nhận ra những quy luật chi phối sự vận động của xã hội, người ta mới có cơ tìm ra cách ứng xử hợp lý nhất.


Trong việc này, số lượng những tác phẩm văn chương có cái nhìn tỉnh táo như của Nguyễn Khải còn ít, mà - thường tình thay mà cũng đáng tiếc thay - là lối nhìn nhận ngược lại.


Trong một bài phiếm luận, một nhà văn gần đây có tâm sự rằng thuở nhỏ sống với một bà mẹ rất tình cảm và nay mỗi lúc khó khăn trong cuộc đời, tác giả lại tìm thấy sự chỉ bảo nâng đỡ trong những lời mẹ dặn.


Để sang một bên những trường hợp cụ thể, tôi chỉ nghĩ rằng nếu tính đại trà thì nay là lúc con người gặp phải những khó khăn mà các thế hệ trước chưa bao giờ gặp phải. Vậy nên kinh nghiệm sống và suy nghĩ của lớp người đi trước không đủ nữa.


Trong cái việc tự mình cứu mình, có bao hàm cả cái việc chủ động tìm tòi để bứt phá khỏi cái vòng vây của những tư tưởng cũ. Những tư tưởng ấy vốn trước kia đã đúng, lại gắn liền với kỷ niệm của tuổi ấu thơ chúng ta, nên dễ lan truyền và làm tổ trong chúng ta. Dứt bỏ là chuyện đau đớn. Nhưng làm sao khác được! Đi tìm cho được những cái mình cần, đó là trách nhiệm mà cũng là số phận của con người hiện đại
thesaigontimes. Thứ Năm, 15/7/2010

Wednesday, July 14, 2010

Ghi chép hàng ngày (6)

6-7

NÓI THÊM VỀ NGUYỄN TUÂN

Nhân 100 năm ngày sinh Nguyễn Tuân ghi thêm mấy ý

Nên chú ý đến một bài thơ Đường , Ng Tuân đặt ở đầu cuốn Chiếc lư đồng mắt cua



KHIỂN HOÀI

Đỗ Mục

Lạc phách giang hồ túy tửu hành

Sở yêu tiêm tế chưởng trung khinh

Thập niên nhất giác Dương châu mộng

Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh



Sau mấy hàng chữ vuông ( không phiên âm ) viết theo lối sổ dọc từ trên xuống, Nguyễn Tuân cho in ở CLĐMC bản dịch của thân sinh ông, cụ Tú Hải Văn

Lang thang gánh gánh rượu đầy

Lưng ong gái Sở lóng tay dịu dàng

Mười năm tỉnh mộng châu Dương

Hời thêm được tiếng phũ phàng lầu xanh



Còn trong các bản dịch Thơ Đường hiện nay, có người – xin lỗi tôi không có trong tay cuốn Thơ Đường do Nam Trân chủ biên, mà chỉ có bản chép tay quên ghi tên người dịch—đã dịch thành tứ tuyệt như sau:

Đeo đẳng giang hồ rượu nách lưng

Trên tay bao bận gái lưng ong

Mười năm giấc mộng Dương Châu tỉnh

Còn giữa lầu xanh tiếng phụ lòng



Đây là một trong những bài thơ “độc” của Đỗ Mục, nên chỉ có trong bản gốc Đường thi tam bách thủ. Còn nhiều bản thơ Đường các nhà nghiên cứu Trung quốc biên sọan sau 1976 dành cho công chúng rộng rãi và cho học sinh sinh viên thường không chọn.

Bài thơ này là một chìa khóa để hiểu Nguyễn Tuân. Vì lâu nay có một chủ đề trở đi trở lại rất đậm trong các tập tùy bút viết trước 1945 mà các nhà nghiên cứu lại lảng tránh, là chủ đề trụy lạc, hư vô. Những cuộc đời kỹ nữ. Những câu chuyện dài dài bên Ngọn đèn dầu lạc. Lưu ý cái gọi là trụy lạc hồi ấy không có gì chung với các tệ nạn xã hội hiện nay, ở Nguyễn Tuân nó cao sang quý phái và có ý nghĩa nhân sinh hơn.



***

Lúc nào đó, sẽ viết về những ngày buồn của một nhà văn. Như với Ng Tuân, tôi sẽ viết về quãng 1960 cho tới 1972, mười hai năm liền, Nguyễn không có một cuốn sách nào được in…



***

Lúc nào đó sẽ viết những chuyện liên quan tới Ng Tuân và sách, sách trong đời ông, cách đọc của ông.

Ở ta không có lối làm tượng nhà văn đặt ở nơi công cộng. Với nhiều người một bức tượng Ng.Tuân chắc phải kèm theo cái tẩu thuốc hoặc cây can. Tôi thì tôi lại muốn đề nghị phải tạc ông nách cắp một cuốn sách.



11-7

NHỮNG CÁI NHÌN TỪ BÊN NGOÀI

Bây giờ thì người ta không úp mở nữa, nhiều người nước ngoài đến VN bắt đầu nói thẳng, đúng hơn là báo chí ta bắt đầu đăng những ý kiến họ chê mình chẳng ra sao. Một nhà nghiên cứu về vịnh biển kêu lên sao các bãi biển VN bẩn thế, đến một lần đã phát khiếp thì ai dám trở lại. Đại diện một cơ quan văn hóa nước ngoài nói rằng các anh hãy làm cho Hà Nội đỡ bẩn đi thì vẻ đẹp lịch sử của nó với đến được với người nước ngoài chứ.

Tôi từng ước có một trang mạng nào đó, đưa lên tất cả tài liệu người nước ngoài viết về mọi phương diện của con người và xã hội VN, hôm qua và hôm nay. Bữa nọ đọc Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, qua thư tich và văn bia, thấy lời tâu của quan chức lo quan hệ với nhà Mạc là Mao Bá Ôn tâu lên vua Minh như sau:

Hạ thần xét về nước Nam, từ thời Hán thời Tấn đến nay, tuy xưng là nội phụ, nhưng vì thói tục di liêu khí độc lam chướng không thích nghi với Trung quốc. Vả lại nước ấy cứ vài năm một lần loạn lạc, mà đã loạn lạc thì kéo bè kết đảng, đánh giết lẫn nhau, phải qua mấy năm mới yên. Ngày trước Trương Phụ dùng hơn mười vạn quân đánh dẹp mà cũng chỉ đặt được quận huyện trong mấy năm. Sau đó chúng liên tiếp làm phản và rút cuộc lại trở về man di. Đó là một chứng nghiệm rất rõ ràng. Nay cân nhắc sự lợi hại thiệt hơn thời trước, thấy không gì bằng cứ để nước ấy là ngoại bang mà không nhập vào Trung quốc và chỉ nên dùng người di trị người di. Thế mới ổn thỏa và tiện lợi( sđd , tr 58 ).





12-7

TIẾP TỤC NÓI VỀ RÁC

Chùa Hương nguy cơ suy tàn vì rác là tên một bài viết trên Tiền Phong 11-7. Cảm giác toát ra là một sự bất lực .

Chúng ta cũng bắt đầu biết là chúng ta ăn ở có tội với cha ông , với thiên nhiên.

Nhưng guồng máy đã quay rồi, không những không ai bỏ được việc trục lợi, mà cũng không ai bỏ được việc đi cầu cúng theo một cách dân gian như hiện nay.

Sở dĩ tôi nói vậy vì có một đề xuất, tất cả người đi hội sẽ phải chịu trách nhiệm về thứ rác mình xả ra trên đường, ai mang vào cái gì thì phải mang ra bằng hết.

Nghe hợp lý quá. Nhưng ở xứ sở này làm sao buộc nhau thế được. Hình như tất cả chúng ta đều đang sống với lời nguyền, được đến với danh lam thắng cảnh là quyền của tôi, còn tương lai nó ra sao là chuyện của người khác, đừng nói với tôi thêm rác tai. Có chết thì cả làng cả nước cùng chết.

Chủ đề bất lực thường bị lảng tránh trong mọi câu chuyện vì nó đã là số phận của chúng ta rồi, nói ra thêm cho đau lòng.

Đọc một vài tài liệu sinh học, tôi thấy người ta mô tả giữa những sinh vật có cấu trúc thấp và sinh vật có cấu trúc cao khác nhau nhiều trong việc bài tiết. Loại thứ nhất do ăn uống dễ dãi nên có tỷ lệ thải ra so với thực phẩm ăn vào khá cao. Và ở loại này thường có đặc điểm là bài tiết ngay cạnh nơi sinh sống của mình.

Tuesday, July 6, 2010

NGUYỄN TUÂN.



NGUYỄN TUÂN.



BA BÀI VIẾT NGẮN

& MỘT PHÁC THẢO CHÂN DUNG.




Nhân kỷ niệm một trăm năm ngày sinh Nguyễn Tuân ( 10-7-1910—10-7--2010), chúng tôi xin kính trình bạn đọc ba bài viết ngắn và một phác thảo chân dung nhà văn. Các bài viết khác về Nguyễn Tuân, đã in rải rác trong các tập sách và tập hợp lại trong thư mục Nguyễn Tuân ở trang bên.





HUYỀN THOẠI MỘT THỜI



Theo kiểu Hemingway

Cùng với sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, sự tiếp nhận văn chương của con người thời nay so với người xưa có thêm những phương tiện mới: nếu muốn , họ có thể đồng thời vừa đọc sách một nhà văn, vừa biết rất rõ về nhà văn ấy. Con người tác giả không còn là một yếu tố trung tính và càng không được thông tin càng tốt. Ngược lại, con người tác giả cũng phải tham gia vào quá trình chinh phục bạn đọc. Ví như Hemingway chẳng hạn. Sinh thời, ông là một cá nhân được gần như cả xã hội để ý theo dõi. Những cá tính kỳ lạ của ông, khả năng cô độc, khả năng dai dẳng ngồi xem đấu bò, đi săn, đi câu giữa đại dương v.v… những cái đó được người ta săn tìm truyền tụng đồn thổi bàn tán, không kém gì tác phẩm của ông. Có người bảo rằng Hemingway không vô tư trong việc này. Dường như ông cố ý trình ra trước xã hội một con người nhà văn như ông muốn. Ông hiểu rằng những giai thoại kia giúp cho ông đến với độc giả thêm nhanh chóng, thuận lợi.

Khỏi phải nói, ai cũng biết việc tự giới thiệu như thế không phù hợp với thói quen của các nhà văn lẫn bạn đọc ở Việt Nam. Chúng ta thường bảo nhau rằng phương tiện tốt nhất và gần như duy nhất để nhà văn đến với bạn đọc là tác phẩm. Trong khi cuốn truyện, bài thơ làm việc, con người nhà văn càng không dây dưa vào đấy càng tốt.

Ấy thế nhưng trong Văn học Việt Nam hiện đại cũng đã có một nhà văn dựng tạo sự nghiệp của mình theo kiểu Hemingway nói trên. Trong khoảng gần năm chục năm cầm bút ông đã tạo nên quanh mình cả núi giai thoại, chính những giai thoại nửa thật nửa bịa đó là một chất dẫn truyền rất tốt để tác phẩm của ông có thêm cái lung linh mà người đọc phải cố tìm biết.

Nhà văn đó là Nguyễn Tuân.



Thích ứng theo hoàn cảnh

Theo một số nhà văn đương thời kể lại thì trước Cách mạng , ngay từ khi chưa viết Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân đã nổi tiếng trong giới làm văn làm báo như một người chơi ngông, tiêu tiền như rác, hết sức khinh bạc nói chung là có những cách ứng xử vượt lên mọi quy cách thông thường.

Không có gì lạ khi thấy trong văn xuôi, những khía cạnh đó của con người chàng Nguyễn vẫn được giữ nguyên, thậm chí được tô đậm lên ít chút. Nhà văn công khai lấy chuyện riêng của mình ra để viết. Đôi khi ông có đội cho nhân vật một cái tên họ khác đi thì cũng chỉ là một sự thay hình đổi lốt sơ sài, lộ liễu. Sự tò mò không bớt đi mà chỉ càng được khơi thêm mạnh mẽ. Đọc ông, trong tâm trí bạn đọc luôn luôn dậy lên những thắc mắc, không biết giữa ông với những Bạch, Nguyễn, những kẻ xưng tôi trong các tùy bút, có mối quan hệ như thế nào. Vậy là sự tiếp xúc của ông với bạn đọc đã hình thành. Nó làm cho người ta cứ phải nấn ná giữa các trang sách để từ đó, khi đã đọc Nguyễn Tuân một cách kỹ lưỡng, sẽ bắt gặp một con người nữa, con người tha thiết với đời mà cũng là con người nhân hậu, tự trọng, hết lòng cùng nghề nghiệp, biết gắn bó với vẻ đẹp trong truyền thống nghệ thuật của ông cha bằng một óc thẩm mỹ độc đáo. Cái tầng thứ hai này, cố nhiên, sẽ là lý do để người ta yêu thích ông lâu dài. Nhưng nếu không có cái tầng thứ nhất với cả những trò chơi trội độc đáo của chàng Nguyễn thì không chắc ngay từ đầu tác phẩm của ông có được sức cuốn hút như nó đã có. Xét về tác dụng, huyền thoại mà ông góp phần tạo ra không thừa, mà như nghề y cổ truyền, nó là một thứ thang để “dẫn” thuốc cho con người.



So với quãng đời trước Cách mạng, thì từ sau 1945, cuộc sống riêng của tác giả diễn ra theo một phương hướng khác hẳn. Cũng như tất cả các đồng nghiệp khác, nhà văn Nguyễn Tuân từ đó có thêm một tư cách mới: tư cách chiến sĩ. Con đường để ông đến với bạn đọc thường khi là con đường thẳng, không khuất khúc như xưa. Nhưng đó là trên đại thể. Nhìn kỹ thì thấy, cách tồn tại của Nguyễn Tuân trong văn học vẫn có chút gì khác thường và trong việc đưa tác phẩm của ông đến với bạn đọc, con người ông vẫn có một vai trò như không hề thấy ở các nhà văn cùng thời. Hãy chỉ nói tới một thời điểm rõ nhất: 20 năm cuối đời ông. Lúc này, tên tuổi Nguyễn Tuân vẫn được nhiều người truyền tụng. Đại khái, người ta hay rỉ tai nhau rằng đấy là một ngòi bút ngang bướng, sẵn sàng nói ra những câu chướng tai, thích tự do cá nhân. và giữa thời chiến mà còn khư khư giữ lấy nhiều nếp sinh hoạt cầu kỳ, xa lạ. Không chỉ những người trong giới văn chương mà cả những người thuộc các tầng lớp xã hội khác không liên quan lắm với văn chương, cũng biết về ông như vậy. Và người ta lại tìm đọc ông để vừa thưởng thức văn tài, vừa cảnh giác dò tìm những chỗ ngang ngạnh của ngòi bút. Thế là một lần nữa, Nguyễn Tuân lại “ghi điểm”. Xét trên một phương diện nào đó thì sự tò mò mà ông gợi ra (trong đó cái sai xen lẫn cái đúng) đã giúp rất nhiều vào việc phổ biến những bài ký viết về phi công Mỹ và nhiều loại đề tài khác mà Nguyễn Tuân cho in những năm cuối đời. Nhờ vậy, điều ông viết ra (tội ác và sự kém cỏi của địch, thế mạnh, thế tất thắng của ta) – những cái đó lại đến với người đọc sâu sắc hơn. Nếu không ngại dùng chữ huyền thoại thì có thể bảo là cho đến lúc nhắm mắt, Nguyễn Tuân luôn luôn tạo được huyền thoại về mình, huyền thoại ấy lần này giúp ông làm tròn sứ mệnh một chiến sĩ, một cán bộ viết văn mà ông đã tự nguyện mang tất cả tài năng và tâm huyết để thực hiện. Từ chỗ là một ngòi bút cô độc (như hai câu thơ cổ ông dùng làm đề từ cho bài ký Sông Đà: Chúng thủy giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu – mọi con sông đều chảy ra biển đông, chỉ riêng sông Đà chảy ngược lên phía bắc), ông đã trở thành một nhà văn của mọi người như những câu được viết trong sổ tang ông ngày ông nằm xuống ba năm về trước.



Vang bóng một thời

Tìm hiểu cuộc đời Nguyễn Tuân chắc nhiều người không thể quên một chi tiết: ngay từ khi chưa đầy 30 tuổi, người tài tử ấy đã mấy phen ngồi uống rượu ngang ngửa với ông thần ngông Tản Đà. Vậy là sự già dặn đến với ông ngay từ lúc trẻ. Chắc chắn, sự già dặn ấy đã giúp ông có được cái định hướng độc đáo trong việc tổ chức đời sống của mình mà việc tạo huyền thoại, sống trong huyền thoại nói trên, là một ví dụ.

Nay thì cùng với Nguyễn, tất cả đã trở thành quá khứ. Trong khi những đứa con tinh thần thật sự của tác giả, những Một chuyến đi, Chiếc lư đồng mắt cua, Chùa đàn, Sông Đà, Chuyện nghề v.v… dần dần trở lại đúng các vị trí mà chúng phải có, thì những huyền thoại không còn giữ được vẻ thiêng liêng kỳ thú ngày nào. Đến với hiện tượng Nguyễn Tuân giờ đây, trong lòng không khỏi thoáng qua cảm tưởng thanh vắng y như đến chùa nhưng ngày hội đã hết, chỉ còn gác chuông, mái ngói và những pho tượng trầm tư. Ai người mau xúc động thấy thế lại còn muốn ngả sang vẻ ngậm ngùi nữa! Họ quên mất rằng khi đặt tên cho tác phẩm đầu tay của mình là Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân đã tự chứng tỏ ông là người có một quan niệm chắc chắn về thời gian: thời gian làm nên những giới hạn cho mỗi đời người, song những ai sống hết lòng với cái thời của mình, người đó coi như đã tìm được cách để đến với vĩnh viễn.

1990







NGUYỄN TUÂN VÀ SỰ ĐỘC ĐÁO TRONG VĂN CHƯƠNG

Ở bất cứ phương diện nào của nghệ thuật ngôn từ, ông cũng khéo léo đặt cái dấu ấn riêng của mình. Trước thứ văn bản “trộn không lẫn” ấy, các loại văn chương không dấu ấn riêng như một thứ gì hạng nhì, hạng ba.



Bước đầu: từ bỏ

Lúc mới viết, Nguyễn Tuân cho “trình làng” một thứ văn chương nhang nhác như “xã hội ba đào ký” của Nguyễn Công Hoan, tức là đi vào khắc hoạ những nét kỳ cục buồn cười của chung quanh. Nhưng rồi đặt vào hoàn cảnh thị trường văn chương đang hình thành, ông cảm thấy không ổn. Phải tìm ra được “mặt hàng riêng” của mình. Có vẻ như ở đây người ta phải dám chơi một tiếng bạc “được ăn cả ngã về không”. Và Nguyễn Tuan đã chấp nhận. Cái cách viết mới le lói hình thành qua vài bài in trên Đông Dương tạp chí của Nguyễn Giang bị ông từ bỏ. Một cuộc phiêu lưu bắt đầu, Nguyễn Tuân “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” đi vào con đường độc đạo chưa ai đặt chân.



Lấy bản thân làm tài liệu

Mọi người dễ nhận ra khi đọc Nguyễn Tuân là ông chỉ viết về chính những gì ông đã sống. Trong khi ở một số người cầm bút đương thời có hiện tượng “sống một đằng viết một nẻo” thì ông mang chuỗi ngày quý báu của mình đang thể nghiệm vào luôn các trang viết. Đọc những bài trong Tuỳ bút I, Tuỳ bút II, Nguyễn... người ta không những biết ông gia cảnh thế này, dòng dõi thế kia, mà còn được biết thói quen hút thuốc và đọc sách của ông, ý thích lang thang trên các đường phố Hà Nội của ông, thậm chí còn được biết ông làm thêm một cái nhà, hoặc đi dự một đám cưới ra sao.



Phải nói đây là cả một hướng đi bạo. Ngay ở phương Tây, từ thế kỷ XIX về trước, lối viết đi vào xây dựng hình ảnh bản thân đã bị lên án. Pascal từng bảo: “Cái tôi thật đáng ghét”. Đối chiếu với thói quen giao tiếp của người phương Đông thì cái cách nói về bản thân không biết mệt ấy lại càng khó coi. Nguyễn Tuân lại tình nguyện đi vào vùng cấm ấy có phải vì những ý nghĩ thường trực sau:

- Trong tất cả sự độc đáo trên đời, chỉ có sự độc đáo của mỗi cá nhân là bền vững nhất, chắc chắn nhất.

- Chỗ giống nhau của tất cả chúng ta là chẳng ai giống ai hết.

- Vậy cách tốt nhất trong giao tiếp là cứ hiện đúng như mình vốn có, biết đâu nhờ đó lại tạo nên sự đồng cảm.

Montaigne chắc không thể ngờ là cái câu ông viết trong Tiểu luận “Tôi chính là chất liệu cho sách của tôi” lại được một nhà văn nước Việt thực hiện một cách trọn vẹn.



Một chút quá đáng

Trên cái hướng lớn là khai thác bản thân, một động tác nữa được thực hiện để tạo nên vẻ độc đáo của văn chương Nguyễn Tuân, đó là ông luôn tìm cách tô đậm những gì khác người nơi mình. Trên các trang viết, con người tác giả thường hiện ra đầy thách thức. Ai kia quen sống theo khuôn khổ, hẳn không thể thích cách sống ngang tàng không chịu ràng buộc của ông. Trong sự chung sống, nếu như người đời thường trọng sự khoan hoà nhân ái, thì ông sẵn sàng “lượm những hòn đá thực to ném lung tung, bất kể là trúng đích hay trật sang bên cạnh” (Đôi tri kỷ gượng). Cho đến lời lẽ hàng ngày của Nguyễn, theo chính ông miêu tả, thường cũng “lủng ca lủng củng dấm dẳng cứ như đâm vào họng”. Những người có quen biết ông Nguyễn đều biết rằng, thực ra, ở đây tác giả có phần thậm xưng. Đọc kỹ văn của Nguyễn Tuân, người ta nhận ra ông không chỉ ích kỷ, mà còn biết lo cho mọi người; có lúc rất khinh bạc, nhưng có lúc lại đôn hậu biết điều. Nói chung, phải nhận đó là một con người khả ái, bởi ý thức phục thiện và những tinh tế trong đối xử. Nhưng Nguyễn Tuân lại cứ thuận miệng mà tố mình lên như vậy là vì ông muốn tạo ra cho trang viết một hiệu quả nghệ thuật cần thiết. Và sự hấp dẫn của văn ông là sự hấp dẫn của kẻ làm xiếc, kẻ đi trên bờ vực. Theo dõi lời lẽ, cử chỉ của kẻ thường tỏ ra khác đời ấy, người bình thường không khỏi nhiều phen kinh sợ, nhưng rồi ra, lại được thở phào nhẹ nhõm. Và lúc tới được với con người đích thực nơi ông, cũng là lúc người ta hết lời cảm phục.



Độc đáo để thành thực

“Lúc mới giao thiệp loàng xoàng với chung quanh, người ta đã không chịu được chàng rồi. Bây giờ Nguyễn lại làm sách để ghi lại những cái lố bịch mà sự chung đụng mỗi ngày càng vạch rõ thêm, người ta lại càng không thể tha thứ cho chàng được nữa” (Đôi tri kỷ gượng).

Trong lời tự nhận xét trên, Nguyễn Tuân đã nhìn thấy một sự thực: ở xứ sở này, sự độc đáo trong văn chương dường như là chuyện hai lần vô lễ, chung quanh không bao giờ chấp nhận. Câu hỏi đặt ra: tại sao ông Nguyễn vẫn xé rào mà đi và cuối cùng lại được kính trọng? Ở đây, câu trả lời có liên quan đến một vấn đề cơ bản của nghệ thuật.

Mỗi khi có dịp tiếp xúc với bạn đọc, một số cây bút hạng nhì hay tỏ ý phân trần: trong tác phẩm tôi viết, tôi không thêm thắt bịa đặt gì cả. Tôi chỉ ghi chép sự thực như nó vốn có. Ít ra, tôi đã biết điều, tôi đã khiêm tốn! Khốn khổ, nếu như sự thật trong nghệ thuật là cái chuyện bất cứ người trần mắt thịt nào cũng nhìn thấy, thì các tài năng làm gì còn có lý do mà tồn tại?! Không, cái gọi là sự thực khách quan ấy thường nhàm chán, vô bổ. Ngược lại, cái sự thực mà người ta mong tìm thấy ở tác phẩm văn chương bao giờ cũng mang màu sắc chủ quan của các nhà văn chân chính, nghĩa là chỉ nhà văn đó mới nhìn ra, mà những người khác không thể thấy. Nói gọn lại tức là: trong văn chương, người ta không độc đáo thì cũng không thể thành thực.

Không dễ bắt chước

Thấy Nguyễn Tuân “chơi lối độc tấu” được nhiều người mến mộ, không ít cây bút vỡ ra bài học về sự độc đáo và cũng có ý học theo, mà trước tiên là tô đậm cho cuộc sống và văn chương mình những vẻ khác đời. Có điều phần lớn những cây bút học đòi này thất bại: sự độc đáo trong văn chương ở họ, rút lại là một cái gì dang dở bất thành, cá tính hiện ra thành cá tật, đôi khi đọc chướng anh ách và đọc một lần là người ta sợ, không dám đọc tiếp.

Đến được sự độc đáo trong văn chương, Nguyễn Tuân dựa trên một căn bản văn hoá vững chắc; muốn học cách khai thác bản thân như Nguyễn Tuân, trước tiên phải có vốn liếng từng trải thâm hậu và bản năng làm người nhạy bén như ông Nguyễn - bằng không, tẩu hoả nhập ma là chuyện khó lòng tránh khỏi.

1994



SỰ BIẾN HOÁ CỦA CÁI ĐẸP

Nguyễn Tuân là người làm gì cũng có một sự dụng công và chăm chú khác thường. Mỗi khi cần nói về cái đẹp, ông lại càng tỏ ra trịnh trọng, như đang phải làm một công việc thiêng liêng. Ông đã bàn tới cái đẹp trong mọi hoàn cảnh có thể: Khi phác hoạ một bức tranh thiên nhiên; khi bàn về nghệ thuật; khi bắt gặp một kiểu nhân vật, một con người, một hình dáng, một cách cư xử. Hồi viết Vang bóng một thời, ngay trong những đoạn miêu tả một vài hành động thông thường như việc người này uống trà, người kia làm một cái đèn cho con chơi, thậm chí tả một đám cướp dở, ôn lại ít ngón nghề trước khi vào việc, ông cũng mỹ lệ hoá hành động của chúng, làm cho những hành động ấy hiện ra hấp dẫn kỳ lạ, như là do các nghệ sĩ thực hiện. Có vẻ như nếu trên đời này, có một ngôi đền dành để phụng thờ cái đẹp, thì Nguyễn Tuân chính là viên tư tế chuyên lo công việc đèn nhang cho người đến lễ. Rung cảm trước cái đẹp là dấu hiệu phải có ở một con người lịch lãm thạo đời. Hiểu biết về cái đẹp là niềm kiêu hãnh duy nhất mà người tài tử thèm muốn. Và mỗi giây phút bắt gặp cái đẹp là một đặc ân, một phút xuất thần của con người: Nhiều trang sách của Nguyễn Tuân trước 1945 được viết để nói với bạn đọc cái điều tâm huyết ấy. Từ sau 1945, trong hoàn cảnh đầy biến động của hai cuộc kháng chiến nối tiếp, nhà văn này vẫn tìm đủ mọi cách để nhắc tới vẻ đẹp. Hoặc ông tố cáo tội ác của những kẻ huỷ hoại thẩm mỹ, huỷ hoại nghệ thuật (như ở bài Xoè in trong Sông Đà). Hoặc ông lưu ý rằng chúng ta phải tạm thời hy sinh cái niềm vui ấy đi để làm những việc cần kíp (“ Trời hãy đừng đẹp nữa” - một câu trong bài Giữa hai xuân viết đầu kháng chiến chống Pháp). Và về sau thì ông lại để công săn tìm những vẻ đẹp mới mà trong thực tế hôm nay mới xuất hiện.




Đỏng đảnh, già dặn, quái gở

Cái đẹp vốn đa dạng như cuộc sống. Tuy nhiên, người đời vẫn gặp nhau ở một cách hiểu chung về nó, đại khái, trong cái vẻ đẹp phải có những nét hài hoà, mới và trẻ thì dễ đẹp; và theo truyền thống phương Đông, cái đẹp phải đi đôi với cái thiện. Nhưng đó là cách hiểu thông thường! Một người đến với văn chương độc đáo như Nguyễn Tuân không thể bằng lòng với cách hiểu đó mà phải đưa ra bằng được những quan niệm riêng. Ngay từ 1944, nhà phê bình tờ Tri Tân là Kiều Thanh Quế đã nhận xét: “Văn Nguyễn Tuân khi dí dỏm như cô gái làm nũng, khi lại đỏng đảnh như người đàn bà khó chiều”. Cái sự đỏng đảnh tai ngược mà Kiều Thanh Quế nói ở đây, cũng có thể dùng để nói về quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Tuân. Ông hay nói tới những vẻ đẹp già dặn. Trong văn của ông, người đàn bà đẹp thường là những người đứng tuổi, thạo đời, giỏi ngón ăn chơi, song lại có học, nhiều khi chơi chua và hay nói phũ, để rồi biết dừng lại đúng lúc, và tạo nên sự quyến rũ của riêng mình. Rộng ra mà nói, cái đẹp của Nguyễn Tuân thường có khuôn mặt của cái lạ, cái khác thường, nói chung đó là những cái đậm, gắt mà người đời cho là ra ngoài khuôn khổ. Sự đa dạng của vẻ đẹp mà ông đưa ra có thể thấy ngay ở những từ xác định mức độ, sắc thái của cái đẹp được miêu tả. Ngược với cái đẹp hiền hậu kiểu Thuý Vân (mà tác giả gọi là một vẻ đẹp “vững chãi và ngu dại”, ông thích cái đẹp sắc sảo của Thuý Kiều (Một lần đi thăm nhau). Đi xa hơn, ông nói tới cả cái đẹp tả tơi, cái đẹp hỗn độn (Chuyến xe tình), cái đẹp ngột ngột (Đôi tri kỷ gượng). Trong những thiên truyện được gọi chung là yêu ngôn, Nguyễn Tuân lại hay tả lại sự ám ảnh của những vẻ đẹp oan nghiệt, cái đẹp rờn rợn, khiến cho người ta vừa thích vừa sợ (như vẻ đẹp của nhân vật cô gái bán giấy bút trong truyện Khoa thi cuối cùng). Cái đẹp qua cách miêu tả của ngòi bút Nguyễn Tuân như vậy trở nên thoắt ẩn, thoắt hiện, biên giới của nó như mở rộng hơn, và hồn cốt của nó sẵn sàng nhập vào cả những sự vật mà trước kia người ta ít ngờ tới.



Đi xa nhất trong việc tiếp nhận

Cùng với Thạch Lam, Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn tiền chiến tự đặt cho mình là phát hiện bằng được cái đẹp vốn tản mát trong đời sống. Thế nhưng sau chỗ xuất phát chung ấy thì hai người lại đi theo hai con đường hoàn toàn khác nhau.

Nếu cái đẹp ở Thạch Lam mang sắc thái thuần hậu, thì đến Nguyễn Tuân nó đi gần tới sự bất cần đời, ngạo nghễ, phá cách (“ Một thằng ăn cắp đã trở nên đẹp đẽ vô cùng khi hắn cắt túi người ta rất gọn rất nhanh” - Chuyến xe tình). Sự xuất hiện một quan niệm cực đoan như thế trước tiên do sự phát triển nội tại của văn học. Từ những năm 30, đời sống tinh thần ở xứ sở có sự biến chuyển nhanh chóng, từ “xanh” đến “chín”, từ đơn sơ học lỏm đến lúc có tất cả cái rắc rối phức tạp mà một nền văn hoá làm theo mẫu hình phương Tây thường có. Thêm vào đấy phải tính tới môi trường lớn mà văn hoá Việt Nam lúc đó phụ thuộc. Nhìn lại văn chương những năm trước sau 1940, người ta không khỏi nhận ra những mảnh vỡ trong mỹ học của các trường phái suy đồi, siêu thực (nói chung là có màu sắc duy mỹ) - những trường phái này phát triển ở Pháp từ đầu thế kỷ XX, và theo sách báo in ra đều đều mà thấm dần vào xã hội Việt Nam. Trên cơ sở một quan niệm hiện đại về quyền tự do của con người, nếu Nguyễn Tuân cùng với một số văn nghệ sĩ khác có tiếp nhận chúng một cách dễ dàng thì cũng không phải là một điều khó hiểu! Cố nhiên, trong hoàn cảnh riêng của xã hội Việt Nam lúc ấy, những quan niệm hiện đại kia không được nhập cảng một cách trọn vẹn. Các nhà văn nhà thơ vốn có một nền học vấn vững chãi như Nguyễn Tuân, Vũ Hoàng Chương, hoặc bên hội hoạ như Nguyễn Đỗ Cung v.v... thường không quên đưa vào đây những yếu tố duy mỹ trong nghệ thuật phương Đông (Lão Tử, Trang Tử hoặc chất huyền hoặc trong Liêu Trai), mặt khác, tiếp nhận tinh thần phá cách trong văn hoá dân gian Việt Nam để làm nên những cốt cách riêng. Ở phương diện này, Nguyễn Tuân trong thời tiền chiến là một trong những người đi xa nhất.



Theo sự quy định của thời đại

Từ sau 1945 tuy vẫn để tâm săn tìm cái đẹp, song ngòi bút của Nguyễn Tuân lại được hướng dẫn bởi một mỹ cảm khác hẳn. Nếu hôm qua, ông hướng về cái đẹp theo cái cách lạnh lùng khinh bạc và nghiêng về phân tích nội tâm thì hôm nay, ông ngả sang bao quát ngoại giới. Có dịp đi nhiều biết rộng, ông thích thú khi nói tới cái đẹp bao la lộng lẫy (và đôi khi hung dữ nữa) của rừng và biển. Nếu hôm qua, ông cảm nhận một cách sâu sắc sự oái oăm “cái gì đẹp quá thì chóng tàn”, “cái gì đẹp quá thì ít khi được là thực”, thì ngày nay, cái đẹp ấy không yểu mệnh nữa mà trở nên chắc thiệt, lành mạnh. Để xác định vẻ đẹp tiêu biểu cho ngày hôm nay, có lần Nguyễn Tuân đã đặt hẳn bên cạnh nó mấy chữ mà có lẽ trước khia ông không ngờ tới: đẹp, bây giờ phải đồng thời lành, tốt, bổ (bài Cửa Tùng). Tại sao lại có sự chuyển biến kỳ lạ như vậy? Người ta chỉ có thể hiểu được điều đó khi đặt hai giai đoạn phát triển trong mỹ cảm của Nguyễn Tuân vào hai giai đoạn lịch sử mà ông đã sống. Thời đại cũ yêu cầu độc đáo thì ông độc đáo đến ngoa ngoắt, thời đại nay yêu cầu sự có ích, thì ông thông thoáng hơn bao giờ hết. Và nếu trước kia, ông viết chỉ để dành cho một thiểu số bạn đọc gần gũi với ông, thậm chí người nghe thì thích song không hẳn đồng tình với ông thì ngày nay ông thuộc về một lớp độc giả đông đảo hơn hẳn. Mỗi thời ông lại phát biểu tư tưởng thời đại theo một cách riêng, và đó là điều tạo nên cho văn chương ông sự hấp dẫn.

1995



NGUYỄN TUÂN, NGƯỜI NHẬP VAI

I

Hè phố Hà Nội vốn khá hẹp, chỉ có điều may là ở cái thành phố lấy xe đạp làm phương tiện giao thông chủ yếu này, người đi bộ có phần ít, phía các phố không phải phố buôn bán, vỉa hè thường vắng, bởi vậy, nếu không quá bận, đi bộ lại là cái thú, người ta có thể vừa đi vừa nghỉ, thoải mái.

Ở tuổi 76, nhà văn Nguyễn Tuân còn thích nhập vào hàng ngũ ít ỏi ấy của những người đi bộ trên đường Hà Nội. Mỗi buổi sáng, từ nhà mình bên phía Trần Hưng Đạo, ông làm một cuộc đi lại loanh quanh một số cơ quan quen thuộc: Hội Nhà văn, nhà xuất bản Tác Phẩm Mới, báo Văn Nghệ, nhà xuất bản Văn học... Những bước ông đi ung dung chậm rãi; quần áo ông nghiêm ngắn, chỉnh tề; toàn bộ con người ông trên hè phố gợi người ta nhớ một cuộc đời văn học khá thành đạt, tuy không “toà ngang dãy dọc” đồ sộ, nhưng tác phẩm viết ra thường có những đường nét riêng độc đáo. Người viết văn là một kẻ đi đường không bao giờ mệt mỏi - có lần Nguyễn Tuân đã so sánh vậy. Vả chăng, hình ảnh một cuộc hành trình ở đây không chỉ có nghĩa bóng, mà còn có thể hiểu theo nghĩa đen của nó. Trước khi có một tuổi già ung dung đi lại trên hè phố như thế, gót chân của con người từng trải ấy đã có dịp đặt trên hầu hết khắp mọi miền đất nước. Trước Cách mạng, ông từng là khách quen của các chuyến tàu xuyên Việt, cứ hứng lên là người lữ hành ấy xách va ly đi, và thích đi đâu là dừng lại ở đó: Thanh Hoá, Huế, Hội An v.v... Sau Cách mạng, những chuyến lên rừng xuống biển của Nguyễn Tuân càng dày hơn. Một lần nào đó, sau khi đặt chân lên một ngọn núi trong dãy Hoàng Liên Sơn, ông hóm hỉnh nói đùa với một nhà báo nước ngoài: “Giờ thì ngọn núi đã cao thêm một mét vì có tôi ở trên”. Một lần khác, ông đi tới Lũng Cú tột bắc. Một lần khác nữa, đi một chuyến dọc Cẩm Phả, Cô Tô, Vân Hải, một thứ huyện đảo “sáu trăm đảo dư”và ông đã xúc động kêu lên: “Chao ôi, thấy như mình vừa cầm hẳn vào bàn tay của hạnh phúc, một thứ hạnh phúc mà chỉ có Tổ quốc tươi đẹp mới ban nổi cho, và đã ban cho ta đúng vào lúc ấy”. Hào hứng, kỳ thú, có nhiều ấn tượng... không kể với riêng một chuyến nào, mà với mọi chuyến đi, Nguyễn Tuân đều có thể bằng lòng mà tự bảo vậy; về phần mình, những người đọc, chúng ta cũng có thể mượn luôn mấy chữ ấy để miêu tả cuộc đời của nhà văn, một cuộc đời đi dài suốt lịch sử văn học nửa thế kỷ qua.



II



Để nói về những kẻ sĩ không chịu sống trong khuôn phép, những trí thức có học mà không chịu ra làm quan, không để tâm vào hoạn lộ mà chỉ nhất định lấy cái tài của mình ra trình diện với đời, trong xã hội phong kiến, người ta đã có sẵn chữ tài tử, lãng tử. Thường đấy là những người có tư cách, không chịu cúi luồn, khinh bạc, ham chơi. Có điều, cách chơi của họ rất khác đời. Sự say sưa khi cầm trên tay quân bài lá bạc, hoặc chén rượu ngon, đối với họ, không phải là mục đích cuối cùng. Giữa một xã hội phong kiến cào bằng nhân cách, trói buộc người ta trong những quy ước tẻ nhạt, cách chơi của những bậc tài tử này là lối chơi của kẻ thạo đời, đã đọc đủ sách thánh hiền nhưng vẫn chán, đành lấy việc chơi đùa để khẳng định chỗ hơn người và cả khát vọng tự do của mình. Chỉ xét trong phạm vi thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người ta đã thấy nhiều nhà văn nhà thơ nổi tiếng ở nước ta trước đây là những người như thế nào. Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà. v.v... Cuộc chạy tiếp sức của những bậc tài tử này cuối cùng có thêm chàng Nguyễn. Sở dĩ Nguyễn Tuân có thể diễn tả thành thục người và cảnh Vang bóng một thời, bởi xét trên nhiều phương diện, ông vốn là một tài tử nhà nòi, đã sống thật chín, thật kỹ cái nếp sống phong kiến trái mùa kia, tức bản thân ông là một kiểu người vang bóng. Thận trọng và tinh tế, hay nghĩ về đời nhưng lại khinh bạc quay mặt đi vì biết không làm sao xoay chuyển được cuộc đời, ham tìm những cái dẹp tao nhã, sẵn sàng bạn bầu cùng một ánh trăng suông, một nhành hoa lạ... những đặc tính ấy của Nguyễn Tuân thật ra là một sự thừa kế có phần tự nguyện nhưng cũng có phần bất đắc dĩ từ nhiều bậc tiến bối. Ông sống trong những cung cách sống xưa một cách tự nhiên, cứ để cho nó tha hồ “hành” mình và tự nó ngấm vào mình lúc nào không biết. Vào cái thời mà Nguyễn Tuân lớn lên, những năm ba mười bốn mươi của thế kỷ này, loại người giữ được cái chất tài tử ấy đi dần đến chỗ tuyệt chủng, nhưng chính vì thế, còn rơi rớt lại ở người nào đó, nó càng bền chắc và nhiều khi phô ra của cái vẻ khá sặc sỡ.

Một lý do nữa khiến cho cái bản chất lãng tử kia ở Nguyễn Tuân ngày càng được ông giữ gìn là nó có một vai trò đặc biệt giúp ông lập nghiệp. Nó cần cho ông trong đời. Bởi vậy, ông phải để tâm chăm chút nó và ông đã làm điều này một cách có ý thức. Gắn bó với quá khứ trong khi lịch sử đang sôi nổi nhiều biến động, giữ lấy chất lãng tử tự do trong lòng một xã hội thực dụng - ở một đôi người, cách sống ấy nhiều khi đã gợi nên cảm tưởng về một cái gì trái khoáy, lạc lõng, y như cảnh “bức sốt nhưng mình vẫn áo bông” mà Tú Xương đã tự chế giễu. Nhưng Nguyễn Tuân không ở vào cái thế bị động đó, bởi ông có một nghề lạ, là nghề viết văn, viết báo. Quá trình chuyên môn hoá rất mạnh trong lòng xã hội tư sản không làm con người nền nã trong bộ y phục cổ này ngần ngại. Ngược lại, với sự hỗ trợ của sách vở và kiến thức, với sự hiểu biết sâu sắc về hoàn cảnh, ông có ngay sự thích ứng tối ưu. Nương theo tình thế để sống, lấy ngay sự gắn bó với quá khứ làm chỗ mạnh để chọi với đời, con người ông trở thành một thứ hàng cao giá mà xã hội lúc đó không phải là không có yêu cầu (dù chỉ là yêu cầu rất ít).

Nếu có một thứ nghề sống, nghề làm người như cách nói của nhà văn Ý Pavese ( ) thì Nguyễn Tuân trước đây quả thực đã là một tay nghề có hạng, với nghĩa tốt đẹp của chữ “có nghề” này.

Từ sau 1945, với chất thiên lương và tinh thần yêu nước sẵn có, Nguyễn Tuân lại nhanh chóng phục thiện, để đứng vào hàng ngũ Cách mạng. Con người chủ yếu ở ông, từ nay, là con người cán bộ, con người chiến sĩ, nghĩa là thành viên của một tập thể có kỷ luật, tập thể ấy phấn đấu cho một lý tưởng nhất định, nên mỗi thành viên trong đó phải làm tất cả để đóng góp cho sự nghiệp chung. Người ta đã lưu ý tới khá nhiều những rơi rớt của con người cũ ở Nguyễn Tuân. Nhưng phải công bằng mà nhận là những sở trường cũ, khi được ông khai thác chính xác, lại giúp cho công việc của ông rất nhiều. Như sự lịch lãm và những hiểu biết sâu rộng nhiều lĩnh vực đời sống, những yếu tố ấy đã là những võ khí tốt, khiến cho người chiến sĩ văn nghệ Nguyễn Tuân có được những chiến công phải nói là sáng chói. Sự độc đáo của Nguyễn Tuân bấy giờ lại trở nên đắc dụng. Đứng về tác dụng phục vụ mà xét, thì những bài viết về Hà Nội đánh Mỹ của ông thuộc vào loại mà trừ phi Nguyễn Tuân, không ai làm nổi. Ma toàn bộ sáng tác của tác giả Vang bóng một thời sau 1945 cũng cần được nhìn nhận theo một tinh thần như thế.



III



Dù thích hay không thích phong cách riêng của Nguyễn Tuân thì những người nghiên cứu văn chương ông thường vẫn nhấn mạnh đây là ngòi bút hết lòng với nghề và trải qua nhiều khổ hạnh trong việc rèn nghề. Vào cái thời mà các tài tử, lãng tử đã nói ở trên còn đang là bộ phận chủ yếu trong lực lượng sáng tác văn học, dĩ nhiên, ở ta chưa có các nhà văn chuyên nghiệp, người làm văn làm thơ lúc ấy không ai sống bằng ngòi bút, chẳng qua nhàn rỗi thì làm, nên việc rèn luyện tay nghề mới là một thú vui mà chưa phải là một bức bách không có không được. Từ đầu thế kỷ XX trở đi, số người sống trực tiếp bằng ngòi bút bắt đầu xuất hiện, song dẫu sao vẫn là nghề mới, lại được tiếng là nghề tự do, nên nhiều người đến với nghề còn tuỳ tiện, ỷ tài mà viết, viết không ai in thì bỏ tiền túi ra tự in, chán, ế hàng, thì cuốn gói, sang làm nghề khác; những người biết sống chết với nghề, vừa viết vừa tích luỹ để nâng cao tay nghề và nói chung có một quan niệm nghiêm chỉnh về nghề nghiệp, còn là rất ít.

Không những luôn luôn phải được tính tới trong đám ngoại lệ ít ỏi này, mà Nguyễn Tuân vẫn còn là một mẫu mực tiêu biểu của loại nhà văn chuyên nghiệp. Với ông, nghề văn có được ý nghĩa của một thứ nghề có căn có cốt; muốn làm nghề đó chỉ có năng khiếu và say mê không đủ, mà người ta còn phải khổ công học hành để tự làm giàu mãi lên, vì biết sự hoàn thiện của nghề là vô cùng vô tận. Chẳng hạn riêng về việc đọc. Nguyễn Tuân thường nói tới loại người có “dạ dày” sư tử, cái gì cũng ăn và cũng tiêu hoá sạch. Những người viết văn, theo ông, cũng phải có một thứ dạ dày như vậy. Ai cũng biết sức đọc của ông thật là đáng kể, ngày nào không đọc được một ít thường bứt rứt trong người. Ông đọc và ông tìm cách thu hút tất cả lên trang viết. Ây là chưa tính những phút cặm cụi trước trang giấy trắng viết, sửa chữa, thêm bớt, viết lại, cốt sao không thể viết hơn được nữa mới thôi. Có điều, khi đã có được sự hướng dẫn của một mỹ cảm tốt, sự khổ hạnh ở đây không bao giờ đồng nghĩa với lối hùng hục kéo cày của những ngòi bút bất tài, mà vẫn có chút gì đó vui vẻ thanh thoát và trong những trường hợp thành công, tác phẩm có cái tự nhiên như hoá công ban cho vậy. Một tinh thần làm nghề tận tuỵ đã ngưng kết cho trong nó toàn bộ bản lĩnh làm người mà một nhà văn như Nguyễn Tuân vốn có. ở chỗ này, chúng ta có thể liên hệ tới một nhận xét của nhà văn Xô viết L. Léonov

“Khi nói tới con người, tôi cho rằng nói luôn tới nghề nghiệp là một điều cần thiết. Tổng quát mà nói, tôi thích những người yêu tột độ một cái gì đó. Đối với tôi, việc đi sâu vào cách nhìn đời sống của họ thông qua nghề nghiệp mà họ gắn bó là một chuyện rất thú vị. Nghề nghiệp chính là sợi dây xã hội nối kết con người với thời đại”.

Chính Nguyễn Tuân cũng hiểu nghề nghiệp một cách sâu sắc và hướng cuộc đời mình vào chỗ gắn bó hết lòng với nghề như vậy. Sự liên hệ của ông với thời đại theo nghĩa thông thường vốn được tiếng là mỏng mảnh, sơ sài, nhưng nếu hiểu theo nghĩa mà Léonov nêu ở đây, đó lại là một sợi dây bền chắc. Sự ham đi, ham quan sát được nâng lên thành bệnh “xê dịch” ở ông, sự trăn trở trong việc dùng chữ đặt câu ở ông... tất cả những thói quen ấy có vẻ đẹp riêng và sự cần thiết không có không được. Nếu hiểu sự khinh bạc lộ liễu của Nguyễn Tuân trước Cách mạng chẳng qua cũng là một cách nhà văn mài sắc mình để làm nghề cho thật đắt, chúng ta sẽ không quá thành kiến với nó, và có thể hiểu tại sao nó lại tồn tại đồng thời với những phẩm chất ngược lại, như tinh thần phục thiện và một tấm lòng biết thông cảm. Chẳng phải từ sau Cách mạng, khi không còn thật cần thiết cho nghề nữa, thói quen khinh bạc đó ở ông đã được gột rửa rất nhiểu?!

Có đi có tới, có tìm có thấy, có gõ thì có mở cho, ở cái đầu cùng của sự hết lòng làm nghề, nhập thân với nghề, người ta còn bắt gặp những khi Nguyễn Tuân như mê đi trong ma lực của ngôn ngữ, ngòi bút như bị ốp đồng để rồi viết ra những áng văn rờn rợn một thứ chất kỳ quái. Trước Cách mạng, cộng với những bế tắc trong tìm tòi nghệ thuật, nhũng giây phút tự mê hoặc này đã làm nảy sinh trong ông những trang trang “yêu ngôn’, như Xác Ngọc Lam, Đới roi, Rượu bệnh và đỉnh cao là Chùa Đàn. Sau Cách mạng, với một liều lượng ít ỏi hơn, lại được sự kiểm soát của một lý trí tỉnh táo, những thoáng xuất thần ở ông thỉnh thoảng vẫn có, song thường dễ chấp nhận. Đó là, chẳng hạn, trong Sông Đà, những trang miêu tả ngọn núi Lai Châu, cuộc đời oan nghiệt của các cô xoè, hoặc khung cảnh con sông Đà chảy giữa đôi bờ tiền sử. Trong khi chờ đợi một sự nghiên cứu đầy đủ hơn về lối viết này của Nguyễn Tuân, điều chúng ta có thể nói ngay ở đây: thật ra, cách viết đó không phải một trường hợp hiếm hoi, một căn bệnh chỉ ông mới có. Trong nhiều sáng tác của các nhà văn hiện thực Đông Tây, người ta vẫn thấy các tác giả nói tới sự thăng hoa của nghề nghiệp; vào những phút xuất thần như vậy, sản phẩm mà người nghệ sĩ tạo ra là tiếng đàn có ma, những bức tranh lung linh như cảnh thật và những bài thơ thuộc loại “thi trung hữu quỉ” (chẳng hạn điều này đã được nói tới trong tiểu thuyết Kiệt tác vô hình của Balzac hay trong truyện ngắn Cây vĩ cầm của Rotsin của Tsékhov v.v...). Gần với chúng ta hơn, mới đây thôi, đầu 1986, nhà văn Nguyễn Khải cũng viết rất hay về hiện tượng kỳ lạ này:

Các cụ thường nói: nghề dạy nghề, làm mãi một nghề, làm cho say mê, cho tận tuỵ cho tới tột cùng thì rồi cũng có ngày đạt tới cái thần của nghề. Làm nghề gì cũng thế, đã đạt đến cái thần của nó tức là đã phá bỏ được mọi điều ràng buộc, là người tự do hoàn toàn vì không còn gì có thể ngăn trở giữa mình với cái đích. Viết như chơi như bời và văn chươg vẫn như mây như sóng, không còn thể loại, không còn chữ nghĩa, không còn cả mình với người, riêng với chung, to với nhỏ, cao với thấp, bi với hùng. Tất cả đã trở thành một, khêu gợi, lấp lánh, huyền ảo, mỗi lúc đọc mỗi khác, mỗi tuổi đọc mỗi khác, như chính nó đã là một hiện tượng tự nhiên mãi mãi tồn tại cùng với sự sống

Từ những nhận xét loại này, chúng ta dễ thông cảm hơn với những bột phát của ngòi bút Nguyễn Tuân và cũng trân trọng hơn với những tìm tòi chính đáng ở ông.

Cũng cần phải nói ngay là ở đoạn trích trên, Nguyễn Khải không chỉ nói riêng tới nghề văn, tuyệt đối hoá nó, mà bảo rằng ở bất cứ nghề nào cũng có thể có sự thăng hoa nếu đi tới tột cùng. Bản thân Nguyễn Tuân cũng nghĩ như vậy. Với mọi nghề ông đều đề ra yêu cầu rất cao, bởi theo ông, nghề nào cũng có chỗ thâm sâu đáng tự hào của nó. Một đầu sách nhất của ông mang tên Chuyện nghề in ra đầu 1986. Là người biên tập đầu cuốn, sau khi tập hợp bài vở cho tác giả, tôi đặt tạm cho nó một cái tên ước lệ là Nói chuyện nghề nghiệp. Theo thói quen hay vặn vẹo chữ nghĩa của mình, khi nhìn thấy bốn chữ đó, Nguyễn Tuân lấy bút gạch đi chữ Nói ở đầu, chữ nghiệp ở cuối, chỉ để lại hai chữ ở giữa. Cho nó gọn nhẹ, Nguyễn Tuân bảo vậy. Và ông nói thêm:

- Thỉnh thoảng đi với một cán bộ nào đó, mình mới hỏi: “Ông làm gì?”, “Thưa anh, tôi bên Thanh niên”, “Thưa anh, tôi bên Công đoàn”. Mình không hỏi gì nữa, chỉ nghĩ người kia đã lơ đãng không trả lời đúng vào câu hỏi mình, hay không có nghề, chắc lý do sau thì đúng hơn. Bởi chỉ những người không có tự hào gì về nghề nghiệp mớí lúc nào cũng chăm chắm nói về cái nơi làm việc của mình mà thực ra không biết mình sống ở đấy bằng nghề gì. Lo hành nghề cho lành nghề đã không xong, lại còn không nghề ngỗng rõ ràng, bảo đi làm gì cũng được, nghĩ cũng kỳ đấy chứ. Mà mình biết, hạng người đó vô khối. Nên ngay trong cái việc tưởng chỉ có cảm hứng như viết văn, cũng phải nhấn vào cái chữ nghề cho thiên hạ thấy!



IV



Tiến một bước nữa trong việc làm nghề, con người Nguyễn Tuân còn là con người trò chơi với ý nghĩa hiện đại của mấy chữ ấy.

Chúng hải giai đông tẩu

Đà giang độc bắc lưu.

Hai câu thơ chữ Hán ấy không chỉ đáng làm đề từ cho bài viết ở cuối tập Sông Đà mà lẽ ra, có thể dùng làm đề từ cho mọi sáng tác ký tên Nguyễn Tuân và cho toàn bộ cuộc đời con người đó nữa. Trong khi mọi con sông khác xuôi sang đông thì sông Đà một mình ngược lên hướng bắc, tinh thần của con sông ở đây là tinh thần đi ngược thói thường, sẵn sàng phiêu lưu tới những miền chưa ai biết, miễn sao đạt được những niềm vui lạ. Chơi là thế! Cũng như chơi là đặt ra quy tắc rồi lại tìm cách phá bỏ quy tắc; là kết hợp những cái tưởng như không thể kết hợp được với nhau: là cảm giác đóng kịch, cảm giác hội hè; là những hoạt động kèm theo nỗ lực, rồi từ nỗ lực mà sinh ra niềm vui và một nhận thức về cuộc sống. Khi bàn về Picasso, một nhà nghiên cứu xô- viết từng đưa ra một khái quát: “Con người nói chung, con người hiện đại nói riêng, không chỉ là homo sepiens (con người trí tuệ), homo faber (con người làm việc), mà còn là homo ludens (con người chơi nghịch). Và đây không chỉ là mặt yếu mà còn là sức mạnh tinh thần của hắn, sự đảm bảo cho tự do của hắn”. Một khái quát như thế, không chỉ đúng với Picasso mà còn đúng với nhiều nhân vật lớn trong nghệ thuật thế kỷ XX, như Charles Chaplin, Igor Stravinsky… Chúng tôi nghĩ rằng ít nhiều ở Nguyễn Tuân, cái chất con người trò chơi đó, cũng có. Viết chữ đẹp và giỏi cầm trống trong những khi đi hát ả đào, thạo về tranh, về tượng, biết nhiều về kỹ thuật sân khấu và kỹ thuật điện ảnh, ông sống nghiêm chỉnh mà lại như đang dễ dàng đùa bỡn với đời, đấy là một lẽ. Riêng trong việc viết lách, hầu như không bao giờ ông muốn đi theo cái nếp bình thường, mà cứ luôn luôn muốn tạo một ấn tượng khác lạ. ở chỗ người ta quen dùng chữ Hán, ông tìm bằng được một chữ nôm cùng nghĩa, để rồi những khi khác, người ta chỉ hạ những chữ thông thường, thì ông trương lên những chữ thật hiếm gặp, những chữ gốc Hán mà phải thuộc loại thông thái bặt thiệp lắm mới biết dùng. Ông không nghiêng hẳn về một lối viết nào, khi giản dị, thì giản dị không ai bằng mà khi cầu kỳ, thì cũng cầu kỳ không ai bằng. Thế thì bản sắc của ông ở đâu? Thưa, ở chính lối ham chơi kia, lối ham chơi như là sẵn sàng từ bỏ mình để đóng sang những vai khác, không phải là mình, càng lạ càng thú. Một ví dụ: Đọc văn cũng như tiếp xúc riêng với Nguyễn Tuân, người ta biết rằng ông ghét cay ghét đắng việc buôn bán và ông từng định nghĩa nghệ thuật là một công việc: “mà những con buôn quen sống với đổi chác hàng họ và buôn Tần bán Sở đều gọi là vô ích”. Nhưng thỉnh thoảng vai một người bán hàng vẫn len đến, mời gọi con người thích tìm những cảm giác lạ ấy. Lần đầu tiên đọc cái tít bài ký của Nguyễn Tuân trên một số báo Văn nghệ: Tôi bán năm cành hoa tết, tôi hơi ngờ ngợ, sau mới hiểu ra trò nghịch của ông già và tự cắt nghĩa được rằng tại sao, báo chí vẫn muồn mời ông viết ít dòng cho các số Tết. Có một lần, ông giải thích về một cái bìa mà ông đề nghị hoạ sĩ làm cho một cuốn sách:

- Cuốn sách chỉ có nhan đề là ký, ắt chữ ký phải đậm. Và trong hai chữ tên tác giả, mình muốn lèo thêm một sự nhấn mạnh nữa là cho chữ Tuân nó cũng đậm ra. Thế là nhìn vào bìa thật nhanh người ta thấy hai chữ Ký và Tuân, người ta đọc ký Tuân, ký Tuân như khi ra chợ, người ta hỏi mua ký thịt bò, ký đường vậy.

Ai đã quen đọc văn Nguyễn Tuân đều biết đấy là lối chơi chữ nhiều khi đã thành một cái tật ở tác giả. Tuy nhiên, khi nhà văn đã lấy tên tuổi mình ra mà đùa như thế này, thì có nghĩa con người trò chơi đã thành một thứ bản thể thứ hai nơi ông. Lại nhớ đến Nguyễn Công Trứ tương truyền về già còn thích bận áo lụa xanh, quần vải đỏ, đi đâu đủng đỉnh trên lưng con bò vàng. Lại nhớ Tú Xương với những lời ỡm ờ khi đi hát mất ô và lời tự giễu “ở phố hàng Nâu có phỗng sành- Mắt thời thao láo mặt thời xanh”. Lại nhớ Tản Đà, đề ở Khối tình con thứ nhất:

Chữ nghĩa Tây Tàu trót dở dang

Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng

...

Chẳng lề, chẳng lối, cũng văn chương

Còn non, còn nước, còn trăng gió

Còn có thơ ca bán phố phường.

Những người như thế, già từ khi còn ít tuổi, và cho đến già, cũng vãn còn một đứa trẻ con trong lòng, cho nên việc ham chơi đối với họ, cũng là sự thường. Trong một tài liệu viết về tâm lý học, tôi đọc được những nhận xét:

“Chơi là một cách để trẻ tự thích ứng, tự giáo dục”

“Trò chơi chính là một hình thức hoạt động tự do nhất và cũng là tự nhiên nhất của trẻ”.

“Trong trò chơi, trẻ có dịp phát biểu suy nghĩ của mình”.

“Trò chơi trước hết là một sự tự thực hiện; đứa trẻ không bộc lộ cái gì khác ngoài chính mình”.

...

Lẽ nào những nhận xét ấy không thể áp dụng cho “đám trẻ” kỳ lạ này, những nghệ sĩ lớn trong lịch sử nghệ thuật mà chúng ta hết lòng yêu và kính



V



Nếu như trong văn học sau 1945, có một nhà văn nào tạo ra chung quanh tên tuổi mình cả một huyền thoại,thì người đó chính là Nguyễn Tuân. Trong khoảng hơn hai chục năm cuối đời từng dòng chữ ông viết được soi ngắm và từng cử chỉ lời nói của ông được đồn đại rộng rãi. Luôn luôn những người trong giới văn học đã bàn về ông và đến hôm nay, những lời bàn ấy cũng chưa ngớt. Ghi lại những tiếng dội của cuộc đời và văn chương Nguyễn Tuân trong lòng người khác, tưởng cũng là một cách để hiểu con người ông cũng như không khí văn học một thời :

- Nguyễn Tuân rất độc đáo và tạo ra nhiều bất ngờ ngay trong cách sống hàng ngày. Người quen được người khác chiều và ít khi chiều ai, rồi quá đáng, rồi cực đoan, cái đó có cả. Nhưng sao vẫn có nhiều người ngưỡng mộ ông? Hình như ngoài chuyện tài năng người ta vẫn nhận ở con nguời đó có cái thực rất đáng trọng.

Còn như đến gần Nguyễn Tuân ấy ư ? Chuyện ấy đôi khi ngại thật. Trong người ông cùng lúc có cả sức hút lẫn sức đẩy người khác, mà đẩy cũng mạnh lắm.

- Phải công nhận là Nguyễn Tuân có cái sòng phẳng của ông, ông không giấu cái tật mê thanh, mê sắc hồi xưa, song những duyên nợ dềnh dàng ấy, nay cái gì thấy cần phải dẹp đi, là tự ông dẹp đi liền. Một chuyện như thế này, không phải tự mồm Nguyễn Tuân nói ra, thì ai mà biết được. Đầu tháng 10-1954, ông có chân trong bộ phận cán bộ về tiếp quản thủ đô. Địa điểm tập kết là Hạ Hồi, Hà Đông. Trong khi những anh em khác chờ xe ô tô thì Nguyễn Tuân mượn bằng được chiếc xe đạp của ông chủ nhà trọ để đạp về Hà Nội. Về đến Bờ Hồ ông đang đi quanh quẩn thì nghe có tiếng chào : “Kìa, ông đã về”. Thì ra một bà chủ cô đầu. Bà hẹn ông đến chơi. Nhưng từ bấy đến khi ông qua đời, cái hẹn ấy ông vẫn chưa trả.

- Người nặng căn như thế, mà khi đi theo cách mạng, chuyển cũng đã ghê đấy chứ. Bởi văn chương Nguyễn Tuân vốn ghi lại trung thực những gì mà ông đã sống, nên đọc Tuỳ bút kháng chiến đã có thể thấy ông đã đi sát mặt trận thế nào. Trong Giữa hai xuân, ông từng nói qua về cảm giác lần đầu cầm quả lựu đạn. Và đây, một đoạn trong Lửa sinh nhật: “Tôi ngóng giờ khai hoả. Nắm cơm chiều qua dắt theo thắt lưng, suốt một đêm hành quân giờ đã thiu. Nhưng thôi, cứ bỏ vào mồm. Tôi gối lên đàn kiến càng, cố nhắm mắt. Tai áp sát đất, càng nghe rõ tiếng dội của thuổng đào công sự”.

- Ngay đoạn sau này đi viết Sông Đà lại chả ghê à. Hồi ấy từ Quỳnh Nhai sang Than Uyên đâu đã có đường cái, ông phải xin hẳn một con ngựa và một dân quân, cứ theo đường mòn mà đi, ba ngày không gặp người đi ngược. Với hoàn cảnh bấy giờ, đi và viết Sông Đà phải nói là một chiến công.

- Kể đi thôi thì còn nhiều người khác đi bạo hơn ông, nhưng đây là việc đi của nhà văn, nó phải kèm vào việc viết. Sở dĩ Nguyễn Tuân viết được về Tây Bắc vì ông biết nhìn ra ở đấy vẻ đẹp. Ông xem Tây Bắc là một công trình nghệ thuật. Ngay viết về đường xá ông cũng lấy tiêu chuẩn một cái gì đang hình thành ra xét.

- Cũng trên phương diện nhìn nhận sự khổ hạnh ở Nguyễn Tuân, tôi thấy phải nói đây là một trong số ít nhà văn ở ta nhạy cảm về hình thức và có được cách hiểu toàn diện về bản chất cái đẹp trong hình thức nghệ thuật. Đọc văn Nguyễn Tuân luôn luôn cảm thấy hình thức đứng ra thách thức với nội dung, giữa hình thức với nội dung vừa sóng đôi nhau, vừa đuổi bắt nhau. Luôn luôn cảm thấy ông viết rất đặc biệt, mình không thể nào bắt chước nổi.

Nhưng nhiều khi Nguyễn Tuân cũng đi quá đà, dày vò chữ quá, không được tự nhiên như chính ông muốn. Cũng là cái tật như trong cuộc đời hàng ngày của ông.

- Lại nói chuyện con người Nguyễn Tuân ư ? Những ai từng được làm quen với sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội trước Cách mạng đều biết ông rất có duyên với nghề diễn kịch; dù ông chỉ đóng những vai phụ, nhưng thông thường, đó là những vai phụ khó quên. Từ chuyện sân khấu tôi muốn lên hệ sang chuyện đời. Hiểu nhập vai theo một nghĩa tốt đẹp, thì trong cuộc sống hàng ngày, Nguyễn Tuân cũng rất nhập vai, tức là đã định làm cái gì thì làm bằng được, làm đến cùng. Chẳn hạn như khi cần vận động quần chúng, người cán bộ ấy cũng giỏi lắm. Đã ai từng đi với ông Tuân trong một chuyến công tác xuống một đơn vị nào chưa? Chưa hả. Các anh có thể tưởng tượng được không, khi nói trước công chúng, đấy là một nhà thuyết giáo thực thụ. Thành thử, trong Nguyễn Tuân, bên cạnh một người lãng tử cuối mùa, một người làm nghề tự do rất cao tay nghề, như các anh đã nói, còn thấy có một chính uỷ nữa. Lưu ý tới điều đó, xem nó như một yếu tố chủ đạo, ta sẽ cắt nghĩa được Nguyễn Tuân sau Cách mạng.



VI



Ở trên, khi cần phác ra một ít nét đại thể về con người Nguyễn Tuân, chúng ta đã nhớ lại các hình ảnh mà ông thích thú: Nhà văn như kẻ đi đường không bao giờ mệt mỏi. Nhưng chữ đi ở Nguyễn Tuân vốn không chỉ bó hẹp vào sự di chuyển trong không gian mà có nghĩa rất rộng: “Ngay cả lúc anh đăm đăm ngồi trứoc trang giấy trắng lạnh phau giữa phòng văn, anh cũng vấn là một con người đang đi. Đi vào cái đêm làm việc của mình. Đi cho đến chỗ tận cùng của đêm mình” Cái dạng đi này của Nguyễn Tuân còn ít được nói tới, nhưng thật ra, chính nó lại là khía cạnh quan trọng bậc nhất trong con người Nguyễn Tuân mà những người yêu mến văn ông cần biết.

Nguyễn Vỹ, một nhà thơ có quen Nguyễn Tuân từ trước 1945, đã tả ông là một người sống cẩn thận, đủng đỉnh, cử chỉ nhỏ nhẹ, đàng hoàng, làm gì cũng đắn đo và có cái vẻ cặm cụi khác hẳn với những trò chơi ngông khinh bạc mà chúng ta vẫn nghe kể trong văn ông. Thói quen làm việc ấy vẫn còn lại ở Nguyễn Tuân cho đến cuối đời. Sau những chuyến đi rất dữ: đi dọc, đi ngang, đi lên, đi xuống, đường đi nước bước như kẻ bàn cờ trên sông hồ trăng nước.. nhà văn trở về căn buồng của mình, ở đó, ông đọc, ông ghi chép, ông lập hồ sơ cho những tài liệu cần thiết, nhất là ông suy nghĩ và làm công việc cuối cùng của nghề viết là cho tác phẩm hiện lên trên trang giấy. Nguyễn Tuân viết như thế nào? Theo lời kể của những người thân của nhà văn, thì ngồi đâu ông cũng viết được, không cần bàn. Nhưng tâm linh ông thì tôi tưởng, phải nói là một sự “nhập thiền” hoàn toàn, không thể khác được. Những ai đó có dịp đến thăm Nguyễn Tuân ở nhà riêng đều biết buồng văn

của ông là cả một kho chứa ở đó ngổn ngang sách vở cổ kim đông tây, từ những cuốn sử ký, địa dư, sách du ký, sách dạy nghề, in từ những năm nảo năm nào, tới những tờ báo về nghệ thuật hoa viên rồi những bản tin nhanh và tài liệu in rônêô nào đó nói về hoạt động của Việt Kiều ở nước ngoài mà bạn đọc xa gần mới gửi cho ông. Rồi tượng, an-bom và các loại sách kỷ niệm sau các chuyến đi nước ngoài. Rồi chính ông nữa, ấy là, ngoài những ấn bản in ra rải rác ở trong nước và nước ngoài nửa thế kỷ nay, còn không ít hình ảnh Nguyễn Tuân trong quá khứ, Nguyễn Tuân khi đóng phim, đóng kịch, Nguyễn Tuân trong ảnh của Trần Văn Lưu, Hoàng Kim Đáng, Nguyễn Tuân trong nét vẽ của những hoạ sĩ từng giao du với ông và đến thăm ông, những Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Trọng Kiệm, Nguyễn Trung v.v.. và v.v... Ngồi viết giữa một cảnh tượng văn hoá như thế, là cả một sự thách thức. Sự cặm cụi của Nguyễn Tuân, đúng hơn, sự đơn độc của ông lúc này mới có được cái ý nghĩa mà nó phải có: ông muốn đối mặt với tất cả. ông muốn thêm vào một cái gì xứng đáng với tinh hoa văn hoá đang vây bủa quanh ông và đã là một phần sự sống trong ông.

Giả kể có đoán khi viết, Nguyễn Tuân thường thắp lên mấy nén hương, chắc cũng chả ai nhạc nhiên!

Giữa một cuộc sống trần tục xô bồ, trước sau ông vẫn là một nhà văn xem trọng sự thiêng liêng nghề nghiệp và sống với nó thành kính thật sự.

Nhìn lại cả đời văn Nguyễn Tuân, chúng ta thấy gì ? Chúng ta nghĩ đến sự công bằng. Ai đối xử với nghề nghiệp ra sao, sẽ được nghề nghiệp đối xử lại như vậy. Cố nhiên, rộng hơn câu chuyện tác phẩm còn có câu chuyện về chính con người đã tạo ra các tác phẩm này nữa. Trong sự độc đáo của mình, cuộc đời Nguyễn Tuân có hấp dẫn chúng ta, nhưng suy cho cùng, đó không phải là lối nêu gương để chung quanh bắt chước. Không, Nguyễn Tuân không thể làm thế. Với tất cả cái hay cái dở, cái tài cái tật vốn có, lời kêu gọi của ông giản dị hơn: Mỗi người hãy sống đúng với bản sắc của mình.

Thật vậy, sau khi nói rằng sự làm người là nghiêm chỉnh, rằng chúng ta phải sống đúng sống tốt, như cái phần lương tri trong chúng ta vẫn yêu cầu, cuộc đời Nguyễn Tuân như còn muốn nhắn nhủ thêm một điều này nữa: muốn hay không muốn mỗi chúng ta đều là một thực thể đơn nhất, riêng biệt, không giống một ai khác và không ai thay thế nổi. Khi điều đó không phụ thuộc vào ý muốn của riêng ai mà là một cái gì tất yếu “ không thể sửa chữa” thì tại sao chúng ta không tạm bằng lòng với mình,yên tâm là mình, nó là điều để ta tự vệ tức tránh bớt được những dằn vặt vô ích, mà biết đâu đó chẳng phải là một cách giúp ta để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng đồng loại và do đó trở nên có ích hơn hết?

1985