Friday, December 28, 2012

Chuyện lan man từ những chiếc xe gắn máy




Có những
lúc trong đầu óc người ta nảy sinh ra một vài ý nghĩ hoang dại chính mình cũng
không ngờ, lại thấy như là kỳ cục, không hiểu sao nó lại tìm tới mình để rồi
mọc rễ trong đầu, muốn gạt đi cũng không nổi.



Thuộc loại cái “ý nghĩ khi khỉ” đó - chữ của Nguyễn Công Hoan - xuất hiện nơi
đầu óc tôi ngay trong những năm chiến tranh là một chút khó chịu với chiếc xe
đạp.

Hồi đó Hà Nội nghèo lắm, nhìn ra đường chỉ thấy xe đạp, và cái món “tự hành xa”
này lúc đó cũng còn ít, mỗi con phố hẹp Hà Nội lưa thưa vài chiếc.






Với những thanh niên mới vào đời như một số bạn bè tôi lúc đó, việc mua được
một chiếc xe là một sự kiện lớn. Tôi như biết bay trên con ngựa sắt của mình.



Vậy mà đôi lúc, tự nhiên thấy nó kỳ cục, ý tưởng sao mà lạ vậy...



Cho đến lần tôi được đọc truyện ngắn Người
trong bao
của nhà văn Nga A.Tchekhov. Trong truyện có cái cảnh hai người
giáo viên, một nam một nữ, mặt đỏ gay, cưỡi xe đạp phóng qua một ngọn đồi vùng
quê, lại còn trò chuyện với nhau ầm ĩ. Trong con mắt nhân vật chính Belikov,
cái cảnh ấy kỳ quái tới mức không thể tưởng tượng nổi. Hắn bảo với một người
khác: “Cái gì lạ thế? Hay là tôi lóa mắt? Chẳng lẽ giáo viên trung học và đàn
bà con gái lại có thể cưỡi xe đạp sao tiện?”.



À ra thế, không phải riêng mình mà hóa ra nhiều người đã thấy buồn cười khi
nhìn vào một xã hội mỗi người nhông nhông một chiếc xe đạp, tôi tự nhủ. Chẳng
qua không còn có cách nào nên đành chịu vậy!



Thì bây giờ lại đến xe gắn máy!



Vài chục năm gần đây, cái phương tiện này đã dính vào con người xứ mình. Sự có
mặt của nó gây nên một khí hậu sống. Có lúc tôi muốn gọi nước mình là “xe máy
quốc”.



Nhìn vào nhiều gia đình Hà Nội thấy nó chình ình ngay đầu giường. Mở mắt ra là
thấy có tiếng xe gắn máy rú ga trong ngõ. Mỗi buổi sớm có dịp nhìn lên cầu
Chương Dương, tôi phát ngán vì lớp lớp xe gắn máy ken đặc và khói xả khét lẹt.



Và đáng sợ nhất là những nét mặt người ngồi trên xe, người nào mặt mũi cũng hằm
hằm khó chịu, con mắt chăm chăm tìm chỗ hở để luồn lách đi tới.



Nhiều lần chứng kiến một đám thanh niên châu đầu xe gắn máy tán chuyện giữa
đường, tôi cảm thấy như các chiến binh thời xưa mỗi người một ngựa sẵn sàng ra
roi phi thẳng vào vùng chiến địa.



Ngồi lên xe là tự nhiên cái ngông nghênh trong con người mình nổi dậy, muốn
vượt lên thật nhanh, muốn cả thiên hạ phải nhìn theo khâm phục. Khoái lắm chứ!



Một thanh niên đã giải thích cho tôi như vậy. Nó là tâm sự của cả mấy thế hệ từ
chỗ chỉ có cái xe đạp kẽo kẹt, nay có trong tay một phương tiện cơ giới sản
xuất từ các nước phát triển.





 Ta có ảo tưởng là ta đã trở thành con người
hiện đại.

Có biết đâu tình trạng cả triệu chiếc xe cùng rồ máy bóp còi chen lấn chỉ tố
cáo một tình trạng xã hội cổ lỗ, manh mún, mới dừng lại nửa vời trên đường trở
thành xã hội hiện đại.



Những ngày Hà Nội mưa dầm rả rích, trời đất tôi tối mờ mờ, từ sở trở về, nhìn
hàng xe ken chặt các con phố hẹp trong tiếng loa phường văng vẳng, người hay
mủi lòng cảm thấy một không khí thực sự trung cổ.



Thêm một chuyện nữa khiến tôi càng không dứt bỏ nổi sự khó chịu nói trên. Mấy
chuyến du lịch bụi cho tôi tận mắt thấy bên Trung Quốc, sự lưu thông xe gắn máy
ở các thành phố lớn hạn chế đến mức tối thiểu. Họ bảo lắm xe gắn máy chỉ làm
loạn thành phố. Làm ăn kinh tế ở họ rộn rã nhưng trong trật tự. Ai cần dùng phương
tiện cơ giới, xin mời đi xe buýt. Ai thích riêng tư, trước khi sắm cái ô tô của
mình, hãy cứ bằng lòng với cái xe đạp. Các đường phố vận hành như một cỗ máy
khổng lồ. Con người hiện ra với vẻ đẹp của sự bình thản tự tin.



Làm sao để có ngày dân ta thoát khỏi chiếc xe gắn máy bây giờ? Một câu hỏi như
thế đến với tôi từ mấy năm nay và càng ngày càng cảm thấy không có lời giải
đáp. Thoát khỏi xe máy với nghĩa tổ chức lại mối quan hệ giữa người với người
trong xã hội. Để sự giao lưu thông thoáng. Mà cũng để mang lại những quân bình
trong tâm lý con người. Mỗi cá nhân sẽ không loay hoay cạnh tranh với người đi
bên cạnh mình. Ta biết phối hợp với người khác để làm việc. Và cả xã hội sẽ
nhịp nhàng vận động về phía trước.



Vừa nghĩ tới, đã thấy xa xôi lắm, cái sự giải thoát đó!


 Nỗi buồn phiền ngán ngẩm với ngày hôm nay lặp
đi lặp lại thực đã hóa nhàm.


Sự sùng bái hiện tại đang là phương
thuốc làm dịu lòng người, ai hơi đâu mà trăn trở về cái chuyện vặt là chiếc xe
gắn máy?



Trong lúc nghĩ ngợi lẩn mẩn nhìn sang các đô thị Trung Hoa (hoặc gần đây là
Miến Điện), tâm trí tôi lại còn nảy ra một câu hỏi khác:



Cũng xuất phát từ những thành phố ken đặc xe đạp như ta, sao họ lại sớm có cái
quyết định thông minh như vậy?



May quá lần này tôi không bí nữa. Câu trả lời cho tôi đã nằm sẵn trong cuốn 100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung
Quốc
(Nguyễn Văn Dương dịch, 2002) phần viết về Triệu Ung.



Ông này là vua một nước nhỏ thời Chiến quốc, chủ trương nhiều cải cách, trong
đó có lối ăn mặc.



Nguyên trước đó, dân Triệu cũng như dân Hoa Hạ nói chung sống theo một nhịp
thong thả chậm chạp. Họ mặc lối cổ, áo dài tay, thân rộng thùng thình và đề lên
thành lễ nghi. Ăn mặc như thế để cưỡi ngựa bắn cung thật hết sức bất tiện.
Trong khi đó quân Hồ - một dân tộc thiểu số phía Bắc - quần chẽn, áo ngắn, ôm
chặt lấy người. Y phục gọn gàng, nên thiện chiến cũng không phải lạ.



Sau khi khảo sát kỹ càng, Triệu Ung buộc từ người lính ngoài chiến trường tới
văn võ bá quan trong triều, phải thay đổi phục trang ăn mặc theo kiểu người Hồ.



Nên biết là trong trường hợp này, người cải cách chịu áp lực lớn từ chung
quanh. Có người nói: “Mặc y phục phương xa, làm mất nền giáo hóa cổ, làm thay
đổi đạo lý”.


Theo họ, phong tục xưa đã vậy, nay
không có quyền thay đổi.


Triệu Ung đáp lại: “Vì lợi ích của
đất nước, bất tất phải theo phép xưa”. Và trong bàn tay nhào nặn của ông, nước
Triệu trở nên một xứ sở khác.



Mẩu chuyện trên thường trở đi trở lại trong tâm trí tôi bởi lẽ nó cho thấy sự
đồng bộ của đời sống. Một thời đại thường được đánh dấu bằng những tư tưởng mà
người ta phát biểu, bằng những phát minh sáng kiến lớn lao. Nhưng chính những
chuyện tưởng là nhỏ nhặt như ăn mặc, đi lại, cùng là nhu cầu thay đổi tìm ra
cái tối ưu trong những phương thức sinh hoạt... cũng là một thứ chỉ số cho thấy
người ta đang ở chặng đường nào của lịch sử.



Danh nhân một nước thường được hiểu là các nhà hoạt động chính trị, quân sự,
các nhà triết học, nhà tư tưởng, văn gia, thi gia… Nhưng trong cuốn 100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung
Quốc
nói ở đây, bên cạnh những cái tên như Tần Thủy Hoàng, Khang Hy, Càn
Long, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lỗ Tấn… tôi đọc thấy có một vài trường hợp lạ như Công
Thâu Ban, thường gọi là Lỗ Ban, tổ sư nghề mộc và nghề xây dựng, hoặc Hoàng Đạo
Bà, là người có công cách tân hệ thống công cụ dệt vải, nâng cao kỹ thuật dệt.



Và tôi đọc thấy trường hợp Triệu Ung. Các nhà sử học sau này ghi tên ông vào
lịch sử như một người mang lại biến đổi đánh dấu một thời đại, do đó đáng gọi
là vĩ nhân.



Tôi không ghi được xuất xứ, nhưng nhớ có một bài báo đã viết rằng một trong
những phát minh lớn nhất của nhân loại hiện đại là phát minh ra cái hố xí tự
hoại.



Người Trung Hoa cũng có lối nghĩ thiết thực tương tự.



Còn ở ta thì sao? Các đầu óc ưu tú của nước ta thường chỉ tập trung vào đánh
giặc và làm thơ. Từ xưa đến nay, bao thời đã vậy. Nói một chuyện nhỏ: có lẽ trừ
vài nghề đặc biệt như nghề dệt, còn ở các làng thủ công Việt Nam, người ta
thường bày ngay đồ nghề trên nền nhà, và ngồi trên những chiếc ghế lè tè sát
mặt đất mà hành nghề. Bao nhiêu nước chảy qua cầu, chưa thấy ai nghĩ chuyện
thay đổi.









Đã in TBKTSG , in lại trong Những
chấn thương tâm lý hiện đại




Monday, December 24, 2012

Hà Nội 25 - 29/12/1972




25/12


     Trong nhiều năm nay, mùa hè đối với tôi là
mùa đi xa, là mùa của công việc, dự định. Còn mùa đông, mùa rét, một ngọn đèn dầu,
một trang giấy trắng, những điều phải làm, và chao ôi, mùa của ao ước về những
hạnh phúc gia đình, mùa của tình yêu và gợi ý về tình yêu. Vì tôi đang sống
trong một thành phố, tuy là trụ sở đầu
não chỉ huy của chiến tranh, song vẫn mang một nếp sống hòa bình. Chiến tranh tuy đã vào đến những chốn sâu xa của đời sống, song vẫn chưa phải là chạm tới cái cốt lõi cuối cùng




     Bây
giờ thì khác.


     Nhớ phần nhà chính ga Hàng Cỏ bị bom đánh
đúng mấy hôm trước. Người đứng xem, sau bốn ngày, còn đông. Những khẩu hiệu để
bên cạnh ga đỏ vàng một cách lạc lõng.


     Một khoảng trống nứt ra ở cái nơi mà hôm
qua nguyên lành. Ở đó, hôm qua, là một khung nhà. Hôm nay, đưa mắt nhìn lên,
không thấy cái khung nhà ấy nữa. Hôm nay, là những đường viên lởm chởm, của một
cái gì nứt ra, không thành hình gì cả.


     Nhớ
hôm đến khu tập thể ngõ Lý Thường Kiệt. Người đang bới đồ đạc, vôi bụi bám vào
mặt vào mày, như là vừa từ đống bom đi ra. Một dây chuyền chuyển gạch vừa hình
thành. Người ta mang vôi, đổ từ đống này sang đống kia. Một căn gác vặn vỏ đỗ đổ
dở dang. Một cặp trung niên từ đó đi ra. Người đàn bà ăn mặc kiểu Hà Nội lịch sự.
Người đàn ông áo bộ đội, mũ giải phóng, cầm cái gậy, như người ta thường nói,
chiếc gậy Trường Sơn. Họ đi từ căn gác hai đang vặn vỏ đỗ lần xuống.


      Tiếng mấy cô học trò cấp 3


      - Nhà cô Hằng đấy.


     - Hết rồi còn gì.


     - Cô bảo lúc đi chỉ người không.


     - 
Giờ đồ đạc mất hết. Khổ. Đúng , cô giáo có mang cái gì lành lặn đi đâu.


     - Thì cũng như chúng mình, toàn mang quần
áo rách.


      Buổi sáng hôm nay Thiên chúa giáng sinh.
Tôi xuống bệnh viện Bạch Mai. Dãy nhà lá bên kia đường tơi tả. Bên này viện,
căn nhà khoa tai mũi họng cũng sóng xoài. Mặt đường từ cửa trở vào còn đầy bùn
đất. Cái cửa sắt bị vặn vẹo, trở nên sắc nhọn. Tôi đứng áp vào cái cửa để nhìn.
Bên trong, nơi gian nhà đổ có mấy người đứng một cái chiếu úp trên một cái gì
đó. Lúc cái chiếu mở ra, thấy mấy cái áo quan. Mấy bát cơm đơm có ngọn, trên có
những nén hương. Nhưng mà áo quan người ta chưa kịp đóng. Một lúc sau, mới  thấy có người lấy búa ra, cầm búa gõ vào áo
quan. Nẹp những cái đinh cuối cùng vào đó.


       Tôi đứng ở cái cửa thường trực. Những
người đứng xem chỉ là số ít. Trong chốc lát, bao nhiêu người ra vào. Nhân viên
đến hỏi địa điểm sẽ sơ tán. Con nhân viên đến chờ cha mẹ. Những người bộ đội
đánh xe vào, một gã bộ đội nghênh ngênh đôi ủng.


      Một ô tô chở công nhân đến thu dọn (nhiều
người đã mặc áo mưa, mặc áo lao động, ngồi sắp hàng trên xe, vẻ mặt lộ rõ họ sắp
bắt tay vào một việc quan trọng lắm).


       Ở cái đất nước này, chết chóc nghe đã trở
thành bình thường. Những ngày từ sơ tán về Hà Nội lần này, tôi thấy nhiều vành
khăn tang, nhiều người khóc chồng khóc con, mắt khóc sưng lên đi trên đường. Mấy
trăm người? Mấy nghìn người cho vừa? Không thể quen được...





       Những nỗi khổ còn lại đổ lên vai những
người sống, trong buổi chiều lễ giáng sinh, tôi thấy ở khu vực An Dương là rõ
hơn cả. Những nhà sập không gì thay thế nổi. Nhưng ở bãi An Dương, đã thấy người
ta đi trốn. Làm nhà, làm hầm ở giữa bãi cát. Ghếch cái bếp ra bên cạnh. Những
xô nước đục ngầu. Một người mẹ còn trẻ giặt tã lót cho đứa con đầu lòng, phơi
ra ngay trên những cây dâu bãi dâu ngoài sông.


       Có một Hà Nội không phải phố xá, Hà Nội
dọc bờ sông. Hà Nội vốn là của lũ lụt nay hóa thành Hà Nội của giặc phá. Lần đầu
tiên, An Dương bị bom. Cả khu dân cư như đứa con nhà nghèo, bị lột trần ra, người
ngợm xám ngoét. Những mái nhà bật tung lên, cát thì hất lên mái nhà. Nhìn ra
bãi cát chỗ ngã ba sông, trước khi đổ ra bãi giữa, tôi thấy hình ảnh một Hà Nội
muốn lẫn đi trong cái bao la của thiên nhiên -- không phải thứ bao la hùng
tráng ta quen nghĩ mà là thứ bao la nặng nề mờ đục. Chiến đấu, súng cũng vùi
trong cát. Xe ô tô tải, xe xích tìm một chỗ cuộn trong cát. Vài tốp người bỏ
nhà khênh những tấm ván ra làm hầm tạm bợ. Trong buổi chiều mùa đông, đất trời ảm
đạm, cây dâu xanh trông tối sầm như những cây khô lẫn vào màu đất, màu nước bạc
cũng hóa tối xỉn. Thấy cuộc đời này vẫn chuyển động, vẫn sinh sôi, mà lại nặng
nề, chậm chạp, buồn tủi biến đi, song mãi không sao nhập vào được cõi vô tận.


      Tôi không cầm được nước mắt, khi thấy một
đứa bé đi theo mẹ ra hầm. Em bé gái độ 3 - 4 tuổi, cái áo đông xuân cũ của người
nhớn mặc trùm kín đít em cầm cái chổi lúa vừa đi, vừa nói với mẹ. “Con cầm chổi
đi, như là con ra trường làm vệ sinh, mẹ nhỉ.” Thế nghĩa là em còn nghĩ tới bao
nhiêu điều tốt đẹp. Em còn nghĩ đến ngày em đi học.


26/12


     Tối hôm qua, đi cùng với Tính trong một buổi
tối vắng người. Và tôi tưởng tôi có thể đi suốt cả tối, đi trong im lặng, đi
trong niềm vui duy nhất: có một người cùng đi với mình, thế là được rồi. Ngoài
ra thì tôi không muốn nói gì nữa, và cũng gần như không muốn nghe gì nữa. Hạnh
phúc, mất mát tất cả đều là có thật. Hy vọng ư? Nên lắm. Vô vọng ư? Tất nhiên
thôi. Cuộc đời là mong manh, là thay đổi, là bị vượt qua - tôi đã già đi, đã yếu
đi. Tôi đã cảm thấy bất lực trong mọi ý nghĩ. Nhưng rõ ràng, vẫn có đó, một đời
sống, một hy vọng, một cái gì thành nếp. Có những người đẹp, có những niềm vui
(những niềm vui trong sạch thật sự chứ không phải những niềm vui thật hèn)- những
ngôi nhà rêu phong - nó là những gì có thật. Còn con người, làm sao được? Nhưng
tất cả những gì còn lại, đã là minh chứng sự hiện hữu của con người. Và chúng
ta, những người sống, là sống cùng với tất cả những gì còn lại đó.





        Ban đầu, chúng tôi đi vào khu phố mạn
Quan Thánh, Hàng Bún.


        Hàng Bún vắng, tối, sự vắng vẻ đáng yêu mọi
ngày trở thành nỗi ghê sợ. Tất cả các nhà người đều đã bỏ đi hết. Tưởng nhiều
nhà là cái nhà hoang, xộc vào, ở trong sẽ có ma. Chúng tôi không vào, chỉ ngước
lên trời. Bầu trời Hà Nội trong các ngõ vắng bị khuôn giữa những đường thẳng, bầu
trời hình chữ nhật, hình vuông, một thứ bầu trời giữa các nhà 2 tầng, 3 tầng.
Đã có chỗ chúng tôi thấy những bầu trời qua các mái ngói bị lật tung ra. Bầu trời
thành từng ô, từng ô. Nó cũng bị xé rách.


       Đi vào phố Cửa Bắc, rồi chúng tôi đến gần
nhà máy điện. Ban ngày, đã thấy hai ống khói vặn vẹo. Ban đêm, người ta chứng
kiến một bộ mặt  của cái chết kinh khủng
hơn -- cái chết yên lặng. Cái nhà máy vốn ồn ào. Vắng những tiếng tuyếc bin mọi
khi, hôm nay nó như một nhà mồ. Tính bảo hình như nó phát ra cả hơi lạnh nữa.
Tính nhớ tới những cái bốt hồi kháng chiến chống Pháp. Đi qua đấy, mẹ bảo qua
đây phải im lặng không được ho. Không được khóc. Cái nhà máy điện ấm nhất thành
phố, nóng nhất thành phố, hôm nay như vậy. Không thấy cả người lính CANDVT đứng
gác mọi khi. Ở một vòm đá, như ở cái mũ chào mào thò ra, còn ánh sáng, không chừng
có ai còn ở trong đó.


     Chúng tôi đã đi quanh nhà máy. Trở lại phố
Hàng Bún, đi quành phố hàng Than. Đường phố Hà Nội mấy hôm nay sao trớ trêu, có
quãng điện sáng y mọi ngày. Có quãng ngọn đèn chỉ là một chấm đỏ y như những chấm
hương. Và cả phố là một cái áo quan thật dài. Những liên tưởng hơi tệ chăng?
Nhưng chưa bao giờ Hà Nội biết đến chiến tranh kinh khủng như vậy. Ở phố Hồng
Phúc đã thấy người ta đào hầm ngay bên hè, đất đắp cao lên, như một thứ hầm kiểu
riêng của thành phố. Nhìn xuống dưới hầm, một ngọn đèn dầu, mấy mặt người nhóa
nhòa bên trong. Tính bảo như Quảng Trị.


     Không hiểu sao, trong những ngày này, tôi
lại nghĩ nhiều đến tình nghĩa. Nghĩ đến các bạn đồng nghiệp. Muốn đến mọi người
để mà biết rằng họ không việc gì trong những ngày bom đạn vừa qua. Khi gặp
nhau  chúng tôi ngồi im lặng. Không biết
nói chuyện gì. Không dám cười, không dám đùa dỡn nói xấu nhau -- như mọi khi vẫn
làm. Chỉ ngồi đấy, nghĩ rằng có nhau. Có cái cuộc đời buồn bã này.


    Trên con đường Yên Phụ, một đôi nam nữ sóng
đôi bước chậm, điếu thuốc lá của người con trai đỏ lên trong đêm. Ở phố Hàng
Than chúng tôi thấy một đám cưới. 7g 30 tối, đám cưới đã không còn khách nữa.
Hai hàng ghế sạch bóng. Có lẽ chẳng có mấy khách, đèn sáng, trên tường tấm vải
đỏ dán chữ song hỉ thật trắng.


    Hạnh phúc? Chưa chắc. Nhưng vẫn là hạnh
phúc. Lúc này, người ta vẫn phải cưới nhau, vì cái hạnh phúc bao lâu nay chuẩn
bị, bây giờ đã chín muồi, cuộc sống của cả đất nước trì trệ, nhưng cuộc sống của
mỗi người vẫn là phải vận động, và đó là một bi kịch.





27/12


      Khi một người đứng đắn nhất cũng đã phải
kêu, thì không phải chuyện thường


      Hữu Mai:


      --  Năm
72, ông ấy bị bao nhiêu chuyện bất ngờ. Nixon qua Trung quốc, Liên Xô, nó làm
được như thế, là một thứ bất ngờ. Đánh vào Quảng Trị, dân không nổi dậy - bất
ngờ. Quân ngụy trụ vững - bất ngờ nữa. Cuối cùng, là việc nó đánh ra như thế
này. Trong một năm, bị bao nhiêu chuyện bổ chửng cả ra thế, hỏi còn nói gì được
nữa.


       Văn Thảo Nguyên kể ở trên một chuyến đò
qua sông Hồng, dân chửi loại các ông trên như Trần Duy Hưng:” Nó chỉ sướng cái
thân nó. Nó có hầm có hố cẩn thận rồi mà.”


      Một người cán bộ bực bội nói lại, cáu lắm,
tưởng có thể vứt người kia xuống sông.


      Đại
khái dân thắc mắc vậy mà người ta thì làm công tác tuyên truyền theo kiểu vậy.
Một lần, ông Cục phó của chúng tôi đến bảo: Nó đánh B52 thế này là mình càng có
dịp lập công. Còn trên đã dự kiến rồi, ta không chịu đi sơ tán, ta chết là tại
ta.


      Khốn khổ, lúc nào cũng nói là ta đã dự kiến
rồi. Y như một người bị đánh hộc máu mũi nói với thằng khốn nạn nó đánh mình biết
mà, biết mà, biết là mày sẽ đánh hộc máu mũi tao mà.


     Nhiều
cán bộ nói một cách vô liêm sỉ: Bây giờ nó chỉ còn có cách đánh Hà Nội là cùng
chứ gì? Cứ dương dương tự đắc về một thứ thế cùng mà mình bị nó dồn vào như vậy.


      Không ai nghĩ đến dân chết. Rất nhiều dân
chết.


      Anh
em loại cơ quan tôi như bọn thì còn khá hơn. Có người nhớ tới chiến tranh thế
giới thứ 2. Nhật hoàng vì thương dân mới quyết định đầu hàng.(Theo công bố
trong tuần đầu Mỹ đã ném xuống một khối lượng bom bằng 2 lần số thuốc nổ quả
bom ném ở Hirôsima)


      Lại xoay sang tình hình chiến sự. Đài bên
kia công bố họ đòi 5.000 quân kiểm soát. Ta chỉ cho có 250, lại không có điện
đài, phương tiện. Âm mưu là để giữ quyền tiếp tục khống chế miền Nam.


       - Ta nghĩ cạn lắm cơ. Nghĩ rằng mình có
quyền ràng buộc nó vào một hiệp nghị. Nghĩ rằng nó sẽ phải tôn trọng trong khi
thực tế, nếu cần lúc nào nó cũng xé toang những cái đó.


     - Bây giờ không thắng nổi nó lại còn tính
chuyện thắng nó trong tương lai!


     Và người ta mở rộng ra:


    - Phen này ta vào Sài Gòn xem không một vụ
chém giết kinh khủng chắc? Rồi đưa dân Sài Gòn đi, chiếm nhà, có khi lại còn
chiếm vợ con người ta nữa. Giá ký hiệp ước ngày 26/10 , mình không làm một cú
tràn xương máu ấy à.


     - Nghĩ cho cùng cách mạng mấy chục năm
nay, chỉ thấy phá chưa thấy xây gì. Hưng Yên, Nam Định, Phủ Lý ngày xưa lúc thị
xã nhỏ đẹp lắm... Phá thành phố, phá đình chùa, phá cả những nền nếp cũ.


       Mỗi ngày đài lại có những bình luận:


     - Tai họa Việt Nam cũng tựa tai họa của Ni
ca ra goa.


     - Kẻ thù của loài người là vô vọng.


     - Chiến tranh hiện nay: chiến tranh tùy
theo sự tức giận.


     - E. Kennedy: Người ta đã phải nghe quá
nhiều lý do đã trở thành nhàm tai từ cả hai phía, mưu chiến cũng như phản chiến.





28/12


     Tôi đang cùng mọi người ngồi trên khu sơ
tán Hương Ngải để nhớ lại:


     Tối 26/12,  bom dữ dội ném trúng khu Khâm Thiên. Nhà lá dạt
xuống.


     Tối 27, 
một B.52 rơi Bách Thảo.


      Tiếp tục họp được với nó, tưởng đã có thể
xong. Có một hồi đã có nhận định bây giờ sức mạnh của nó là không gì ngăn cản nổi.
Nhưng rồi lại miệng khôn trôn dại,  lại vẫn
ì ra, im, kệ. Thương nhất là dân. Hết đám này bới chưa xong, lại đến đám kia.


    Nhị Ca: Biết cách làm ăn của mình rồi. Ngay
thời thịnh trị, có mỗi cái máy mà toàn phu khuân tay, phu thì đói làm ăn ra gì,
chỉ thấy toàn khẩu hiệu.





       Mỗi ngày của người ở sơ tán bây giờ là
như thế này. Sáng đến gặp nhau, bàn nhau “Hôm qua nghe ghê quá, nhất là mạn Hà
Nội". Trưa ra đứng đường, chờ xem có ai Hà Nội lên, hỏi tin tức. Tối, 6-7
giờ,  ngồi nghe đài --nghe BBC mà tiếng
nhạc hiệu luôn luôn là niềm mong đợi đến mức ai đó có lúc buột miệng nói đùa là
thân yêu như quốc ca.


      Nguyễn Khải: nghe nói bây giờ mình lại có
lý luận về sức ép tối đa. Cố qua kỳ sức ép tối đa này, rồi mới tính được mọi
chuyện. Bây giờ mà nó lui, thì lại bảo nó không thể chịu đựng được đòn phòng thủ
của ta. Phương châm của ta là đánh tiêu diệt cơ mà.


      Nguyễn Minh Châu: Lúc cần thì ca ngợi Hà
Nội ghê lắm. Lúc này thì hy sinh cả Hà Nội cũng sẵn sàng.





      Trong những ngày đánh phá ác liệt chuyện
gia đình vẫn điểm xuyết vào, nhẹ nhàng mà xót xa.


       Ng Khải:


      --Lắm lúc nghĩ mình cũng thấy buồn cười.
Cả đời mình đóng vai một thứ nhà văn quân đội, cũng đi chiến trường, cũng được
tiếng là xông xáo. Thế mà động thấy xác chết, là tôi cứ sa sẩm mặt mày, cứ buồn
nôn thôi.


       Trong năm nay, có một chuyện nhiều lần
phiền muộn. Đứa con lớn xin đi bộ đội. Tôi đã phải nói rất trang trọng: "Bố
nhận là bố có lỗi, với con. Nhưng con ạ, sao con không lo tiếp tục học cho giỏi
đi ". "Con không muốn rèn luyện dưới mái trường XHCN nữa. Bây giờ là
lúc chiến tranh, con muốn rèn luyện ngoài chiến trường.”


      Nghĩa
là nó toàn dùng những chữ thật sáo cả. Thế nên mình cứ bấm bụng chịu, mình cũng
phải dùng những chữ sáo ngược lại. Khổ, ăn nói học theo văn chương ông Hồ
Phương cả. Cái loại này, đúng là đưa sang Trung quốc làm cách mạng văn hoá thì
đắt lắm đây.


     ... Bây giờ mà viết một quyển sách, nói bố
thì sợ chiến tranh con thì thích chiến tranh , toàn bộ hai bố con lý lẽ với
nhau, suy nghĩ khác nhau thế nào. Viết độ 150 trang thôi, ra hết vấn đề rồi còn
gì.


29/12


     Tối 28,  bom tiếp tục ném Nhật Tân, Chèm...


     Chiến
tranh đến như thế nào? Chiến tranh len vào mỗi cá nhân, ví dụ như tôi, thật ra
cũng không thiếu những phút hoảng loạn.


      Nhưng trước hết, chiến tranh là những dằn
vặt liên tiếp. Chiến tranh là những phút ngồi oán giận không biết gây ra từ nơi
nào, và sẽ kết thúc ở nơi nào.


       Trong chiến tranh, người ta sống bằng
gì? Sống bằng hy vọng rằng nó sẽ qua đi. Rồi lúc chán quá thì tự an ủi rằng chiến
tranh có thể mang lại cho mình những kinh nghiệm sống bổ ích. Cũng là một thứ
A.Q.

Thursday, December 20, 2012

Xuân Diệu, sống để mài sắt nên kim (tiếp theo)

Nhẫn nhịn như một cách sống





Trong một tiểu luận mang tên Những bước đường tư tưởng của tôi (1958), Xuân Diệu kể: ông là con một ông đồ nho nghèo, đã đỗ tú tài, từ nông thôn chuyển ra thành phố dạy học và khá giả dần lên. Một chi tiết có ý nghĩa quan trọng hơn: ông là con vợ bé. Điều oái oăm ở đây là cho tới lúc ông lớn lên, má ông vẫn ở với bà ngoại, còn Xuân Diệu cũng như người em trai là Tịnh Hà thì ở với đại gia đình, tức bố (mà ông gọi là thầy) và vợ cả của bố (mà ông gọi là mẹ). Bên ngoại cách bên nội độ vài cây số; lâu lâu, bà má tội nghiệp mới được phép đến thăm hai cậu con trai, mà cũng chỉ đứng ngoài cửa, chứ không vào nhà; rồi lại lâu lâu, hai cậu con trai lại trốn về thăm má, thăm ngoại, cho đỡ nhớ thương.

Như các nhà tâm lý học từng quả quyết, tính cách một con người được hình thành chủ yếu lúc ấu thơ, khoảng trước 5 tuổi, và ở đấy, những dữ kiện trong đời sống gia đình có ý nghĩa bao trùm. Tình thế “con vợ bé” nói trên đã nhào nặn nên một khuôn mặt tâm lý đặc biệt ở Xuân Diệu – ông dễ thương người, trong ông thường có những nỗi buồn vô cớ, hậu quả của những giây phút không biết làm gì và không tìm thấy tình cảm ở những người chung quanh. Luôn luôn cảm thấy cái bơ vơ của mình truớc thiên nhiên và trước cuộc đời, thường một con người như vậy hay mếch lòng, dễ bị tổn thương, nhưng lại cũng biết thông cảm với những đau khổ không đâu của người khác.


Trong văn học Trung Hoa cũng có một nhân vật nổi tiếng với những xúc động vẩn vơ không thể cắt nghĩa nổi và Xuân Diệu thường viện dẫn để nói về mình. Đó là Lâm Đại Ngọc trong Hồng lâu mộng. Người con gái này mồ côi, đơn độc trong tình cảm, lại yếu, nên càng mau nước mắt. Sự thương cảm cho mình, cho đời ở cô đã lên đến mức một căn bệnh. Có lần buồn quá, cô nhặt hoa mang vùi một đống, xong lại sụt sịt: Chôn hoa người khóc ngẩn ngơ – Đến khi ta chết, ai là người chôn?Những giây phút Lâm Đại Ngọc kiểu ấy Xuân Diệu không thiếu. Có những tình cảm chỉ ngẫu nhiên thoáng qua mà thi sĩ cứ thấy như là có duyên nợ riêng, chẳng hạn mấy lần, được chứng kiến bọn nhỏ tí khóc lần nào ông cũng như chôn vào ruột. Bởi nghịch cảnh đã dấy lên trong lòng ông một nỗi lo sợ, cảm thấy sự sống ở chính mình rất mong manh, không ghì chặt lấy, không chăm sóc giữ gìn, thì sẽ mất đi nhanh chóng. (Ông dã kể tỉ mỉ trong Những bước đường tư tưởng của tôi).


Theo sự quan sát của các nhà nghiên cứu văn học phương Tây, tâm thế thi sĩ có nhiều nét đồng nhất với tâm lý của loại người quá nhạy cảm và không tìm thấy chỗ đứng của mình trong xã hội. Đại khái đó là tâm lý kẻ ngụ cư, tâm lý kẻ lang thang, sống bên lề những xã hội ổn định, tâm lý những đứa con hoang, không được chiều chuộng và nâng đỡ về tinh thần. Một hình ảnh được sử dụng phổ biến ở phương Tây: mỗi thi sĩ là một gã Do Thái, từng người không có quê hương của mình và cả dân tộc không có Tổ quốc.


Cái tâm thế con vợ lẽ ở Xuân Diệu, cũng có nét tương tự: cảm giác bơ vơ và sự dễ thương người của ông gắn liền với tình thế như là không nơi bấu víu. Nhưng nét trội nhất trong tâm lý con vợ lẽ nó ảnh hưởng nhiều đến cách xử thế của Xuân Diệu có lẽ là sự nhẫn nhịn. “Qua sông nên phải luỵ đò – Tối trời nên phải luỵ cô bán dầu”. Vì tôi ở vào tình cảnh như thế, nên tôi phải chịu nước lép, chứ thực ra trong bụng, tôi thừa biết là tôi chẳng kém gì đời. Những ai đã sống qua cảnh con vợ lẽ nghĩa là ở vào một cái thế rất yếu trong đời hẳn dễ hiểu cái luỵ ấy, và Xuân Diệu càng rất hiểu. Hồi ký Tuổi trẻ Xuân Diệu (do Tịnh Hà ghi) và cuốn sách Đi hoangcủa Tịnh Hà cho biết: trong khi Tịnh Hà uất ức, phẫn nộ, đã phải bỏ cái đại gia đình kia để sống kiếp lang thang thì Xuân Diệu chọn con đường cắn răng cam chịu, ngoan ngoãn sống với thầy mẹ, dồn tất cả tâm sức vào việc học, vì biết rằng chỉ có học giỏi mình mới nên người, đền đáp xứng đáng công ơn má là người đã dứt ruột đẻ ra mình. Rồi ra sự nhẫn nhịn này sẽ còn đeo đẳng Xuân Diệu trong suốt cuộc đời. Bên trong cái con người ham sống, dám chường mặt ra mà đòi hỏi và cả xin xỏ cho được; bên trong cái con người tham lam vơ véo, lại tự ca tụng mình, tô chuông đúc tượng cho mình, tự coi tất cả những gì mình làm ra đều là ghê gớm, cao cả… thực ra lại có một con người khác, biết điều, an phận, sẵn sàng chịu nước lép, cốt sao được yên bề sống và viết.


Trong số các sự kiện chính của cuộc đời Xuân Diệu trước 1945, có một việc mà ai cũng biết, nhưng lại ít nhắc tới, là việc ông bỏ sáng tác, đi làm tham tá nhà đoan. Sau cái giai đoạn rực rỡ 1935-39, Tự Lực văn đoàn đã bắt đầu lép vế. Qua năm 1940, thì sinh khí của nhóm gần như suy giảm hẳn. Tuy nhiên, mấy người rời bỏ văn đàn đều là những người có chí khí, và việc họ giã từ sáng tác là để có thì giờ đi sâu hơn nữa vào lý tưởng của họ. Cả Nhất Linh và Hoàng Đạo đều bỏ văn chương để đi vào chính trị. Chỉ riêng có Xuân Diệu là vì sinh kế. Nói cho rõ hơn, giữa cuộc đời lam lũ của cánh cầm bút, và cảnh sống khá giả của một công chức cao cấp, Xuân Diệu thấy cái thứ hai hấp dẫn hơn, vì thế, mới đi làm tham tá, để tập trung tiền nuôi Huy Cận học đại học Canh nông, sau khi Huy Cận ra trường, lương cao, bổng hậu rồi, Xuân Diệu mới quay về tiếp tục sáng tác. Đối với Xuân Diệu thì không có chuyện đặt thơ văn là mục đích tối thượng. Sáng tác dẫu sao cũng là yếu tố thứ hai, mà đời sống mới là yếu tố thứ nhất.


Cũng như lòng yêu đời, sự nhẫn nhịn ở Xuân Diệu hiện ra muôn màu muôn vẻ. Nhất là khi động đến quyền lợi thì trước tiên bao giờ ông cũng nhẫn nhịn, để cầu sự thương hại ở người khác mà cũng là để giành bằng được quyền lợi của mình.Cánh biên tập chúng tôi còn nhiều kỷ niệm về chuyện này. Giả sử bỗng nhiên biết rằng chúng tôi đang làm một số báo đặc biệt, hoặc ra một đầu sách, kỷ niệm sự kiện nào đó, thì dù bận trăm công ngàn việc, Xuân Diệu vẫn tìm bằng được một bài viết có chút liên hệ nào đó gửi tới để góp mặt.


Đến với chúng tôi, Xuân Diệu tự nhiên khép nép biết điều, khác hẳn những ông lớn kiêu căng mà chúng tôi rất ngại – ông rủ rỉ hỏi han:


- Đã in ngay chưa các cậu?


- Đang làm anh ạ.


- Có đánh máy ngay không ?


- Còn phải chờ đủ tập chứ anh.


- Khéo để mình mang về, chép lấy một bản giữ lại, rồi sẽ gửi sau.


Với một bài góp chung đã thế, nữa là với một tập sách riêng đứng tên Xuân Diệu! Dù gặp một biên tập viên trẻ, ông cũng làm mọi cách lấy lòng. Và ông hay nài nỉ, mặc cả, muốn rằng sách mình in ra thật dày, thật chững chạc. Cái cách Xuân Diệu chăm sóc tác phẩm khiến bất cứ người bình thường nào cũng ái ngại. Nữa là chúng tôi, vốn học ông từ nhỏ, nể ông nhiều, không nhượng bộ sao được.


Bác Dương Thanh Huyên, một ký giả lớp trước có quen biết cả Nguyễn Tuân và Xuân Diệu hồi mới Cách mạng và trong kháng chiến chống Pháp, từng kể lại mấy mẩu chuyện vui vui. Có lần Thanh Huyên có dịp đi chợ Cầu Bố (Thanh Hoá) cùng với Xuân Diệu. Gặp một cửa hàng bán chiếc mũ cát bằng li-e thuần chất, Xuân Diệu khuyên Thanh Huyên mua. Và khi thấy Thanh Huyên còn dùng dằng, Xuân Diệu mắng yêu :


Cậu thi sĩ quá ! Với cái mũ này “toa” có thể đi hết cuộc kháng chiến.


Lời lẽ mỗi lần một khác nhưng tình thân là một: Xuân Diệu sợ chúng tôi say sưa quá, bốc đồng quá tử vì đạo, rồi không giữ được ngòi bút của mình. Hơn ai hết, ông hiểu về những lưỡi gươm Démocrites thường xuyên treo trên đầu người làm văn nghệ. Khi nói chuyện này giọng ông đột nhiên nhỏ hẳn đi khe khẽ thì thào. Rồi ông lắc đầu, ông lè lưỡi, ý bảo rằng sợ lắm, chính mình cũng sợ lắm, mà cỡ các cậu thì càng phải nên biết sợ ngay thì vừa, nên nhớ là sau có hối cũng không kịp!


Lại nói những chuyện xa xôi hơn một chút: Trong tâm trí của chúng tôi, Xuân Diệu là một trong những nhà thơ thông thái, nhà thơ của những kiến thức uyên bác. Từ 1946, ông đã có mặt trong đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam qua Pháp. Nhưng do chiến tranh kéo dài, mãi 1981, tức là 35 năm sau, trong khuôn khổ một số quan hệ được nối lại với nước Pháp, người ta mới lại thấy ông trở lại thăm cái xứ sở hoa lệ ấy. ở đó, như báo chí đưa tin, ông có dịp diễn giảng trước các sinh viên đại học Paris về ảnh hưởng văn hoá phương Tây trong văn học Việt Nam, và về những nhà thơ cổ điển Việt Nam có nhiều ảnh hưởng trong đời sống. Nghĩa là, ông đã diễn thuyết toàn những vấn đề cơ bản cả. Thuận miệng và rất hồn nhiên, tôi hỏi Xuân Diệu khi gặp ông đi Pháp trở về:


- Thế anh có dịp gặp Aragon hay những nhà thơ Pháp nổi tiếng, mà các anh vẫn nói với bọn này…


Câu trả lời của Xuân Diệu là hoàn toàn bất ngờ với tôi:


- Em ơi! Đâu người ta có gặp những người như mình. Xuân Diệu đến Pháp, chỉ để nói chuyện thơ với một số bạn Việt kiều và nhà chuyên môn thôi.


Bấy giờ tôi mới sững ra. Sự biết thân biết phận, thường trực ở một người như Xuân Diệu, như một thứ bản năng thứ hai.


Trong chừng mực nào đó, phải nhận sự nhẫn nhịn ở Xuân Diệu là một cái gì đáng quý. Nó không chỉ là khiêm tốn, là biết điều. Sâu sắc hơn thế, nó chứng tỏ một nhận thức chính xác về tình thế người làm văn nghệ ở một nước mà đời sống vật chất còn nhiều khốn khó. Nó giúp cho người nghệ sĩ tránh khỏi những hoang tưởng bốc đồng quá đáng, làm phiền mọi người và làm phiền chính mình. Có điều nhiều khi Xuân Diệu đã đẩy nó đi quá xa, biến thành một cách sống cầu an, chiều đời, tự hạ thấp nhu cầu nghệ thuật và chất lượng sáng tác của mình một cách đáng tiếc.


Ai cũng biết thơ Xuân Diệu sau 1945, có nhiều bài phải gọi là dở. Nó gò gẫm giả tạo. Nó chỉ chứng tỏ rằng người viết cố làm cho bằng được, chứ mất hết cả cái vẻ tự nhiên hồn hậu mà thơ hay đáng lẽ phải có. Tôi không trở lại với những ví dụ đầy rẫy trong thơ Xuân Diệu trong các tập Mẹ con, Riêng chung… in ra về sau, mà muốn trở lại một số bài thơ in ra từ 1946.


Trong đoàn dân tộc đi chân lính


Súng giữ liền tay, cày chẳng rảnh


áo trên vai rách lấy tay gò:


Bụng vẫn thiếu cơm mà phải tỉnh


Hỡi ôi! giành lấy sống cho nhau


Chẳng dám tin trời rèn lấy mệnh


Lâm li biết mấy hùng bao nhiêu


Tiếng thảm run hoà thành nhạc mạnh.


Khiên cưỡng! Nói lấy được! Ai cũng thấy thật không xứng đáng với tầm vóc con người đã viết những Nguyệt cầm, Thơ duyên, Lời kỹ nữ. Tuy nhiên để kéo lại, bài thơ lại nói được cái ý mà người viết và cả không ít người đọc lúc đó cần thiết: thơ phải gia nhập vào đời sống mới. Và bởi lẽ bài thơ lại đứng tên Xuân Diệu nên điều đó càng có ý nghĩa. Nó không còn là một bài thơ lẻ nữa. Nó là một thái độ. Bởi vậy, mới có chuyện bài thơ được in vào một tuyển tập mang tính cách tuyên ngôn Văn hoá và Cách mạng, và được đặt bên cạnh những bài viết sắc sảo khác.


Rồi ra, trường hợp như bài thơ trên sẽ còn trở đi trở lại nhiều lần với Xuân Diệu. ấy không còn là những sáng tác cụ thể nữa. Mà mỗi bài hoặc gần như mỗi bài, là một tuyên ngôn. Và việc sử dụng các bài thơ đó ở những vị trí trang trọng, mỗi lần một chút giúp vào việc hình thành ở Xuân Diệu cách hiểu mới về sự tồn tại. Từ nay mình đã thành nhân vật rồi. Cứ nín nhịn mà chịu đứng tên sau những bài thơ dở, thì rồi cuối cùng cũng vẫn có thể có một sự nghiệp. Với việc một tập thơ không mấy xuất sắc như Ngôi sao được giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955, Xuân Diệu càng có dịp củng cố cái triết lý nhẫn nhịn của mình, nhẫn nhịn trong sáng tác, ngoài ra, không tự ái, không xấu hổ, cứ nằn nì nài nẫm một hồi là chính anh em văn nghệ cũng sẽ thương, sẽ dành những phần thưởng xuất sắc cho mình. Sự nhẫn nhịn trong những trường hợp này gần như đồng nghĩa với tự đánh mất mình, biến con người vốn có của mình thành một con người khác.


Trong khi đó có bao nhiêu điều ông vốn dự định từ lâu mà không tìm ra thời giờ để viết.


Nhà thơ Tế Hanh, khi nghe tôi nói tới sự nhẫn nhịn biết điều của Xuân Diệu, cũng nhớ lại vài chuyện mà ông còn nhớ, và nếu không phải Xuân Diệu nói ra, thì tự ông, không dám tin là thật. Chẳng hạn, có lần Tế Hanh hỏi:


- Diệu ơi! Sao anh làm những Tặng làng Công, với Bà cụ mù loà, lục cục thế?


- Tế Hanh phải có lúc nghĩ tới những người trả lương cho mình nữa chứ!


Câu chuyện trên, có lẽ là xảy ra đã lâu, hồi Tế Hanh mới từ khu Năm ra, gặp Xuân Diệu từ Việt Bắc trở về Hà Nội, cả hai cùng làm báo Văn nghệ. Từ đó, mấy chục năm cùng sống trong giới, Tế Hanh càng hay bắt gặp ở tác giả Thơ thơ cái nét nhẫn nhịn nói trên. Đến mức có lần, bấy giờ đang còn những năm chống Mỹ thấy Tế Hanh có làm bài thơ về Phạm Thái, Xuân Diệu khen:


- Tế Hanh bạo nhỉ!


Thì ra, vốn cũng rất thích Phạm Thái, nhưng Xuân Diệu sẵn sàng “để ở bên lòng” không nói gì về tác giả Sơ kính tân trang, khi trong giới nghiên cứu và sáng tác văn học đương thời lưu hành một dư luận cho rằng Phạm Thái chống Tây Sơn và thơ thì lãng mạn!


ở trên chúng ta đã nhắc chuyện ông có thời gian bỏ giới sáng tác, đi làm nhà đoan.


Về sau, không bao giờ Xuân Diệu làm công việc từ bỏ dứt khoát như thế nhưng những cuộc từ bỏ nho nhỏ, thì ông làm khá thường xuyên. Ông phải né tránh, và phải làm cả những việc ông không muốn.


Năm ấy, nhà thơ trẻ C.K. mới xuất hiện, tuy là đang ở tuổi vị thành niên. Đi đâu cũng có người khen, nhưng lúc đầu, tôi nhớ là Xuân Diệu không khen. Với cách nói có phần nanh nọc của một người đàn bà nhà quê, ông bảo khen C.K. thì có khác gì ra đường mà kêu ầm lên rằng “các ông các bà ơi, con gái tôi mười ba tuổi mà đã có mang!”.


Có thể là Xuân Diệu đã nói đúng, đến nay không ai còn nhắc đến C.K. nữa. Nhưng vào khoảng thời gian đó, hình như mọi người đang cần khẳng định một tài năng trẻ, cần chứng tỏ chúng ta đang làm rất tốt việc bồi dưỡng các thế hệ kế cận. Mà sự khẳng định ấy phải ở miệng Xuân Diệu nói ra mới quý! Thế là có đơn đặt hàng và khi có người đặt hàng thì Xuân Diệu chấp nhận. ít lâu sau trên báo Văn nghệ, ngay trang một, thấy xuất hiện một bài khen thơ C. K. hết lời. Cái tài bình thơ vốn có tác giả Các nhà thơ cổ điển Việt Nam được Xuân Diệu vận dụng triệt để, cốt để mọi người cũng như chính ông tin rằng thơ C. K. rất hay. Xuân Diệu dám đánh mất mình trong chốc lát, để giữ lấy cái đại cục.






Cây hoàng lan cô đơn






So với hoàn cảnh nhà cửa ở Hà Nội, thì căn phòng riêng của Xuân Diệu ở đường Cột Cờ (nay là Điện Biên Phủ) phải nói là đã khá tươm tất. Căn phòng rộng đâu gần hai chục mét. Nhà thơ làm việc tại cái bàn kê sát cửa sổ. Gần đấy là bàn tiếp khách: một ấm pha trà nhỏ, vài cái chén loại cổ. Tôi nhớ mặc dù Xuân Diệu không hút thuốc, nhưng ông vẫn có một hộp thuốc lá, để thỉnh thoảng mời anh em hút chơi. Sự tiếp khách của Xuân Diệu chừng mực trân trọng lại luôn luôn có sự thân tình và câu chuyện không bao giờ rơi vào sáo rỗng. Nhưng được chiều vậy, mà mấy khi chúng tôi dám ngồi lâu, vì thật ra ngay từ lúc vào, chúng tôi đã bắt gặp Xuân Diệu đang làm dở việc gì đó, thành thử, sau những trao đổi cần thiết, khách khứa cũng tìm cách rút lui cho đúng lúc. Chỗ ở của Xuân Diệu không thể là cái nơi người ta đến lang chạ và dềnh dàng tán chuyện, như nhà một vài người khác. Nhiều khi, đi ngoài đường nhìn vào, chúng tôi vẫn bắt gặp Xuân Diệu với cái đầu lắc lắc đang miệt mài làm việc bên bàn. Vũ Quần Phương bình luận rất hay: Đầu lắc lắc, luôn luôn “đấm nhẹ vào trán kêu đau óc lắm, nhưng năm nào cũng có sách xuất bản”. Thế thì ai dám ngồi lâu được?


Nhưng nói đến chỗ ở, chỗ tiếp khách của Xuân Diệu tôi không chỉ nhớ tới căn phòng, mà còn một khung cảnh nữa, khá thú vị. Vào những ngày hè, đến chơi với nhà thơ, có lần tôi bắt gặp ông mặc quần áo cộc, khênh cái bàn trúc ra ngồi ngay lối đi. Ngồi đấy, tay phe phẩy cái quạt, mắt lim dim suy nghĩ, ông làm thơ, dịch thơ. Sự thư nhàn của một người vốn bận bịu, có cái nét duyên riêng của nó. Vào những ngày chớm thu, trời còn nóng, nhưng cây hoàng lan xế cổng đã toả bóng mát thật dễ chịu. Thơ Xuân Diệu từng nói tới cây hoàng lan ấy (bài thơ này tôi ghi theo bản chép tay trong sổ tác giả):


Hương chín hoàng lan thu tới đó


Lơ thơ trong chợ nhãn xong mùa


Năm nay em vắng không ăn nhãn


Anh một mình thôi, cũng chẳng mua.


Không hiểu làm sao, tôi cứ nghĩ vân vi mãi về cây hoàng lan cổng nhà Xuân Diệu. Quả thật, đó là một giống cây lớn cùng loại với những xà cừ, bàng, liễu, loại cây lưu niên mà người ta vẫn trồng để lấy bóng mát. Thân cao, xù xì, lá thưa và mỏng, nhiều khi hoàng lan lại có cái vẻ ngạo nghễ mà giống cây mọc cô độc thường có. Có điều, đó là thứ cây cho ta loại hoa mỏng mảnh, cánh tuy to và dày, nhưng bao giờ cũng rủ xuống yếu đuối, và hương thơm thì hơi hắc hắc. Một thứ hoa dành để cúng lễ, và theo tôi nhớ trước kia cũng là thứ hoa để những người con gái đang yêu dắt trong áo. Tự nhiên tâm trí thoáng qua những liên tưởng tới Xuân Diệu. Trong toàn bộ văn học, con người đang ngồi trước mặt tôi là một thân cây cổ thụ, mà vóc vạc, dáng hình cứ lừng lững, lừng lững tồn tại. Song trong đời sống hàng ngày nhất là khi nói chuyện riêng đó lại là con người của sự từ tốn, ý nhị: “Cành biếc run run chân ý nhi” “Lung linh ánh sáng bỗng rùng mình”. Những thoáng rung động tinh vi kiểu ấy đã đi vào cả trong cách sống hàng ngày của ông. Cộng với cuộc sống độc thân, kéo dài “mãn tính”, cuối cùng ở Xuân Diệu hình thành một cốt cách riêng, kết hợp cả sự chăm chỉ xốc vác, đôi khi như là hùng hục làm, làm bằng được, làm quần quật suốt ngày này tháng khác, với sự tinh tế, nhỏ nhẹ, cái sự chiều lòng mọi người! Vâng Xuân Diệu chính là một thứ cây hoàng lan cô đơn đổ bóng bên nhà ông đó.


Nếu như mọi người đàn ông đã “một nửa là đàn bà” thì cái phân số đàn bà trong người Xuân Diệu còn cao hơn một bậc nữa. Ai trong đời từng được tác giả Thơ thơquý trọng, đều biết nét tâm lý này của Xuân Diệu, những khi ông đến chơi nhà. Con người kiêu hãnh Xuân Diệu lúc đó, như biến đi đằng nào. Ông hoàn toàn nhỏ nhẹ, khiêm nhường, rón rén, chỉ sợ làm phiền người khác, nét mặt cứ ngẩn ra trước những gì khác lạ, và muốn làm mọi cách để vui lòng người bạn của mình. Mà thường trong những truờng hợp đó là Xuân Diệu mang cho, chứ đâu phải đến làm phiền! Thuở ông còn sống một số người chỉ biết Xuân Diệu hay đòi bằng được cái nọ cái kia, đòi đăng thêm một bài thơ, đòi tổ chức thêm một buổi nói chuyện. Có biết đâu, nhu cầu mang cho ở Xuân Diệu cũng rất lớn. Một chi tiết nhỏ trong muôn vàn chi tiết liên quan đến những cuộc nói chuyện thơ của Xuân Diệu: sau những lần phục vụ thơ ở Đội cây xanh thuộc công ti quản lý công viên Hà Nội, Xuân Diệu được anh chị em công nhân coi như một thành viên của đội. Cứ đến gần tết, trong đội có một quyền lợi nho nhỏ ấy là một số cây cỗi, đã đánh về rải rác trong năm, nay mang chia đều mỗi người một ít, chở về nấu bánh chưng là hợp nhất. Xuân Diệu cũng được một phần củi như mọi người. Và bao giờ Xuân Diệu cũng đến lấy, buộc bó cẩn thận, đèo sau xe đạp, mang về… tặng gia đình Hoàng Trung Thông.


Đàn bà trong cách thương mến, chiều chuộng mọi người, và Xuân Diệu cũng rất đàn bà trong cách cáu giận, bực mình. Ngồi họp với Xuân Diệu nhiều người chúng tôi thường để ý tới hai giai đoạn: Ban đầu Xuân Diệu lơ đãng nghe, ngơ ngác cười với một người lâu mới gặp, nhiều khi cúi đầu xuống như còn mải nghĩ về công việc đang làm dở dang. Nhưng chỉ cần có chuyện gì chạm đến điều Xuân Diệu tâm đắc, là lập tức ông như chồm dậy nói sa sả, nói hết gan ruột mình, cả miệng, mắt, đầu tóc, như cùng tham gia vào cuộc phát biểu. Và trong cái lúc bộc lộ hết mình này, cũng như khi đi nói chuyện, Xuân Diệu rất hay làm thêm động tác, lấy cái ngoắt tay, cái chẩu mỏ, để diễn tả ý tứ cần nói. Đôi khi chúng tôi nói vụng sau lưng: “Y như các mẹ nhà quê xắn váy quai cồng lên mà cãi nhau”. Cái tật nói dài, nói kỹ, nói bằng được, mà nhiều khi chúng ta bắt gặp trong thơ, và nhất là trong tiểu luận phê bình của Xuân Diệu, thực ra cũng bắt đầu từ lối nói dứt da dứt thịt, mà chúng ta thấy trong Xuân Diệu hàng ngày đó.


Ấy cáu giận thế, tham lam thế, nhưng tựu trung lại trong quan hệ với mọi người Xuân Diệu vẫn là một người khiêm cung, biết người biết mình và trung hậu thật thà khiến ai cũng quý. Sự biết điều ở ông là trên nét lớn và có bao hàm những trừ bì. Tham lam mà lại là biết điều. Vì biết mình chỉ có ít, không chịu phí phạm cái gì! Tự hào đấy, hãnh diện đấy, nhất là trước đám đông, nhưng trở về với người thân trong không khí của hậu trường, lại dễ dàng cười xoà. Tôi nhớ một lần, nói chuyện với Xuân Diệu về tình thế chung của văn học Việt Nam: Chúng ta còn nghèo, ngay trước cách mạng, thực tế một đất nước thuộc địa không khỏi ảnh hưởng đến sáng tác của cả một lớp nghệ sĩ rất tài năng. Xuân Diệu thấy cả. Và vừa như biện hộ, vừa như khẳng định chỗ yếu kém của mình, Xuân Diệu khoát tay, mượn một cách nói hơi có vẻ tục, để kết luận:


- Thì dân tộc cũng chỉ rặn ra được một lũ chúng mình !


Tính thiết thực là một thói quen thường có ở Xuân Diệu và cũng là một điều bạn bè đồng nghiệp có dịp đến nhà chơi, tiếp xúc với tác giả Thơ thơ trong cái không khí hàng ngày, nhớ kỹ hơn cả. Lùi về tận kháng chiến chống Pháp, Thanh Tịnh nhắc lại chuyện Xuân Diệu lục ba lô lấy cho mấy lạng muối, hoặc trước lúc chia tay, tặng cái nắp bút Parker nhặt được trên đường. Vũ Quần Phương hay kể chuyện Xuân Diệu dặn ăn kẹo phải ngậm đừng nhai, nhai là phí. Nguyễn Đăng Mạnh bắt đầu bài hồi ký bằng câu chuyện Xuân Diệu tặng mình một cuộn giấy báo chưa in, bảo rọc ra mà làm bản thảo dần. Trần Đăng Khoa kể là một bận Xuân Diệu hẹn đến chơi, nhưng đến hơi sớm một chút. Thế là Xuân Diệu đưa cho mấy tờ báo bảo đọc, rồi ông tranh thủ… ngủ. Ngủ đâu mười phút, đúng giờ lại dậy, làm việc, tiếp khách.


Trong số những ấn tượng về con người Xuân Diệu lúc về già, tôi nhớ đến cái dáng đẫy đà của ông. Ông béo cái thứ béo riêng của người ít lao động chân tay. Những túi thịt đầy không căng lên song trông vẫn ngồn ngộn. Da như trơn láng hơn, và cả người toát ra vẻ nồng nồng mà người ta thường cảm thấy ở những phụ nữ cả hơi. Ra đường, ông ăn mặc đúng mốt, mùa hè thì thường áo sơ mi cộc tay bỏ ngoài quần, cả người thơm tho lịch sự. Nhưng trở về nhà, bên bộ bàn ghế trúc cũ càng, ọp ẹp, là lại đánh bạn với cái quần đùi cũ lõng thõng dải rút, cái sơ mi hình như đã lấm tấm rách rạn vài chỗ. Xuân Diệu đã vào với bao nhiêu cảnh giàu sang phú quý, mà ông vẫn giữ nếp nghèo như xưa. Và ông có ý thức về điều ấy lắm. Khoảng đầu 1980 có lần, tôi hỏi Xuân Diệu “Sao anh không vào ở Sài Gòn?” thì được đáp lại rất hồn nhiên: “Ôi, vào đấy sao nổi, chỉ nghe tiếng băm thịt của nhà hàng xóm, mình đã không sống yên ổn rồi… Nghèo như chúng mình, chớ nên vào”.


Có lẽ bởi luôn luôn nghĩ rằng mình nghèo, nên Xuân Diệu càng chăm chỉ lam làm và trước tiên, càng tự hạ mình, cho phép mình vơ véo nhặt nhạnh, nó là đầu mối của cái tính đàn bà nơi ông mà chúng tôi bắt gặp.


Này là những ngọt ngào của Xuân Diệu khi cần lấy lòng ai đó cái đầu nghiêng nghiêng, con mắt đắm đuối Xuân Diệu tự hạ mình khác chi Người kỹ nữ.


Này là những lúc Xuân Diệu đi nói chuyện, làm đủ mọi thứ bộ tịch để thiên hạ vui lòng. Một giáo viên dạy văn sau nhiều lần đi nghe Xuân Diệu đăng đàn diễn thuyết, tâm sự: Mình dạy học có khi còn thay đổi bài giảng từ lớp nọ sang lớp kia. Cụ ấy thì không, cứ bài nói chuyện ấy, cụ ấy kéo, đúng đến chỗ ấy thì dừng lại cho người ta vỗ tay. Cứ thế mà làm.


Xuân Diệu đã trở thành một người lao động đơn giản theo nghĩa đen của từ này. Tô Hoài nhận xét: “Mình đã nghe nói vài lần mình biết. Chỉ loanh quanh một ít bài bản có sẵn, sau đó là thơ tình Xuân Diệu” (khi tác giả Thơ thơ mất, Tô Hoài viết bài kể chung quanh bài thơ Phia Khình Tô Hoài đã được nghe Xuân Diệu nói từ kháng chiến, sau sang Lào lại được nghe nói đến bài thơ ấy. Trong lời kể, có sự quý trọng, lại có sự đùa bỡn).


Cùng đi với Xuân Diệu về một nơi nào đó, sau những buổi nói chuyện, tôi chỉ thấy Xuân Diệu có hai thứ nữa sung sướng là ăn và ngủ. Ô, không thể tưởng tượng được là con người ấy dễ ngủ lắm! Ngày ba buổi nói chuyện, với ông không phải là quá. ở những chỗ ông chưa nói chuyện bao giờ, mà chỉ bố trí ngày có hai lần là ông giận. Và khi không có việc gì làm cho hết ngày, ông lăn ra ngủ, cái gối kê khá cao, ngủ ngáy đều đều, những lần thoáng thấy, bao giờ chúng tôi cũng cố tránh cho xa, vừa sợ kinh động đến người, vừa ngại thấy ông không sinh động, đẹp đẽ, như lúc ông thức. Không ai nói ra nhưng hầu như tất cả những người đi trong chuyến ấy gặp nhau ở ý nghĩ: tác giả Thơ thơ già rồi. ở Hà Nội ai có gia đình người ấy ngày tháng trôi đi đều đều và Xuân Diệu luôn luôn có mặt trên báo chí, cho nên ai cũng cảm thấy Xuân Diệu còn sung sức lắm. Nhưng cùng đi công tác với nhau, chúng tôi thấy Xuân Diệu thật già. Và chúng tôi chợt nhận ra một điều: từ lâu, Xuân Diệu không gây cho ai bất ngờ nữa. Còn Xuân Diệu cũng yên vị với những gì đời đã cho mình. Xuân Diệu biết là mình không thể khác.


Một trong những nét thấy rõ ở con người trong thơ Xuân Diệu lúc trẻ là ở cảm giác cô đơn không thể hoà nhập vào cuộc đời. Theo một thói quen cũ kỹ, lâu nay bao giờ người ta cũng coi đó là một chỗ đáng phê phán, có biết đâu rằng nhiều khi cảm giác cô đơn chính là mặt trái của nỗi khao khát sống, là bằng chứng trưởng thành của nhân cách. Xem thơ tình Xuân Diệu thì biết. Nếu những năm 50, 60 người ta còn bắt gặp những bài hăm hở, tha thiết đau xót, thèm muốn, bơ vơ (kiểu nhưPhượng mười năm, Hỏi), từ đó tạo nên cả một chùm thơ mang vị đắng như chính ông gọi, thì những năm 70, 80, thơ Xuân Diệu chỉ còn nói đến sự hoà hợp vốn là một cái gì ông không có, hoặc có một chút song ông đã đánh mất. Xuân Diệu đã nghèo đi, như chúng ta khi về già thường nghèo đi, song do quen dần nên ta không thấy mà chỉ thích ứng một cách tự nhiên. Điều này bắt đầu ngay từ cuộc sống hàng ngày. Thật vậy, mặc dù trước sau Xuân Diệu vẫn sống đơn độc, không có gia đình, nhưng những năm cuối đời, con người ông như chai đi, ông cảm thấy bằng lòng với hoàn cảnh, ông tạo ra đủ lý lẽ để bảo vệ cho cách sống ông buộc phải sống. Để chống trả thời gian, vượt lên thời gian, mà cũng là cách tốt nhất để chống lại băng giá của sự cô đơn Xuân Diệu đã làm việc quần quật. Đến thăm Xuân Diệu, so sánh cuộc sống của ông với cuộc sống những người bình thường, nhiều người cảm thấy thương xót vô hạn. Nhưng hoá ra chúng ta nhầm! Xuân Diệu không cần, không biết đến ai thương xót, ngược lại, ông cho rằng mình đã chọn được con đường tối ưu để sống và viết.


Thế có bao giờ Xuân Diệu “hố” ? Có bao giờ sự cô đơn  đi theo trong suốt cuộc đời đã tự bộc lộ như một nguyên nhân sâu xa dẫn ông tới những quá quắt bất cận nhân tình trong cư xử?


Có, cũng có một lần như vậy, và câu chuyện xảy ra một cách bột phát, như một trò chơi của tạo hoá,  tới mức một số người chúng tôi có tham gia vào, về sau có hối hận cũng không kịp!


Năm đó, đã là 1985, cái năm về sau sẽ được xem là năm cuối cùng trong cuộc đời Xuân Diệu, nhưng hình như cả ông, cả chúng tôi, đều không ai tính tới chuyện đó. Xảy ra việc làm tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1985, loại sách giống như một thứ “chiếu giữa làng” nên đã biến thành chỗ xếp hạng, cũng là chỗ mặc cả rất quyết liệt: Ai sẽ được vào, câu hỏi đó đặt ra với đông đảo mọi người chưa giải quyết xong, thì ai sẽ được lấy sáu bài, ai bốn bài, ai hai bài lại được đặt ra và câu hỏi này mới thật khó phân xử vì toàn động chạm tới các “đầu lĩnh” cỡ lớn trong giới! Theo chỗ tôi nhớ, thì mặc dù đã là người chủ trì làm nhiều tuyển tập văn thơ Việt Nam, từ hồi ở Việt Bắc (Tập văn Cách mạng và kháng chiến) cho tới sau hoà bình 1956 (Thơ Việt Nam 1945-56) và vinh quang nhất là Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960, song đến tập này (1945-85), Xuân Diệu không đứng ra làm nữa, mà người được giao chủ trì là nhà thơ Tế Hanh. Đứng về mặt số lượng bài đưa vào trong tập thì Xuân Diệu đã thuộc loại nhất, tức là được chọn sáu bài. Tuy nhiên, lúc xem cả tập thì Xuân Diệu vẫn không bằng lòng. Câu hỏi của ông nằm ở sự so sánh: tại sao Xuân Diệu sáu bài, mà loại như người này được những bốn bài, loại người kia được ba bài?!


Theo Xuân Diệu, hình như những người soạn tuyển tập đã quên mất rằng: chỉ sau Tố Hữu thôi, chứ ông đứng ở một thế cao vòi vọi, không một nhà thơ lớp sau nào dám so sánh.


Nói tới người nọ người kia, song lần ấy mũi nhọn công kích của Xuân Diệu tập trung dồn về Xuân Quỳnh, người phụ nữ được in bốn bài.


Từ hồi bắt đầu chống Mỹ, trong thơ Việt Nam, vấn đề thế hệ bắt đầu được đặt ra rõ rệt. Có lẽ là do một sự bén nhạy nào đó, nên Chế Lan Viên rất hiểu chuyện này. Đi đâu ông cũng đặt vấn đề là phải bồi dưỡng cho lực lượng trẻ, rồi họ sẽ thay thế chúng ta. Ngược lại, Xuân Diệu khá dè dặt. Mặc dù chính Xuân Diệu đã thanh minh rằng bởi yêu nên mới cho roi cho vọt, song ai cũng nghĩ ông cố chấp quá.


Thật ra giữa Xuân Diệu và Xuân Quỳnh không có gì xung đột.


Thậm chí, ở một phương diện nào đó mà xét, có thể bảo Xuân Quỳnh là người tiếp tục giọng thơ Xuân Diệu. Cũng tinh tế như thế, nhất là cũng ham sống, cũng nồng nhiệt như thế.


Nhưng những người giống nhau lại hay kỵ nhau. Trong nghề làm thơ, Xuân Quỳnh tìm tòi học nghề ở Chế Lan Viên chứ không ở Xuân Diệu. Ngược lại, Xuân Diệu thấy loại như Phạm Tiến Duật là lạ, chứ Xuân Quỳnh không lạ. Sự không bằng lòng nhau ngấm ngầm đã có từ lâu, đến lúc này mới có dịp bùng nổ.


Cậy tuổi già, Xuân Diệu đi khắp nơi rêu rao, cho là Xuân Quỳnh không đáng như thế, chẳng qua đây là một nhà thơ phụ nữ xinh đẹp, nên chài được mọi người (chữchài là của Xuân Diệu) khiến cho tuyển thơ chẳng còn thể thống gì nữa.


Xuân Quỳnh cũng chẳng phải người vừa. Thấy Xuân Diệu công khai nói mình ngay cả trong các buổi họp mà bản thân mình không dự, Xuân Quỳnh cho là bị xúc phạm, và nghĩ chuyện trả thù bằng cách viết thư thẳng cho Xuân Diệu.


Lịch sử đã biết tới nhiều ca “điên” của phụ nữ, câu chuyện tôi kể ở đây, chẳng qua là con sóng vỗ trong cái cốc nhỏ, nhưng nó không phải là không ghê gớm. Trong thư gửi Xuân Diệu, Xuân Quỳnh dùng tới những lời lẽ đáo để nhất, cốt có thể làm cho Xuân Diệu đau đến chết điếng đi, mà không sao cự lại nổi. Xuân Quỳnh nhắc đến quá khứ của Xuân Diệu. Xuân Quỳnh đặt câu hỏi về những thay đổi trong mấy chục năm cuối đời của Xuân Diệu và tự trả lời: Chẳng qua Xuân Diệu chỉ muốn xây dựng uy tín riêng cho mình. Chứ thực ra Xuân Diệu không tài cán gì, thơ Xuân Diệu đã hỏng hẳn rồi, mất hết sự sinh động và tự nhiên rồi.


Đi đến cùng trên con đường triệt hạ nhà thơ lớp trước đã nói xấu mình, chê bai làm nhục mình, Xuân Quỳnh nói tới tình trạng đơn độc của Xuân Diệu và cho rằng chỉ những người thất đức mới bị trời đày như vậy.


Bức thư như một mũi tên tẩm thuốc độc, chắc chắn làm cho Xuân Diệu giãy giụa trong đau đớn. Nhưng còn một việc nữa làm cho Xuân Diệu chết đi sống lại – tôi đoán thế – do một ác ý, mà nhiều bạn bè của Xuân Quỳnh, trong đó có người viết bài này, xúi bẩy Xuân Quỳnh làm: Đó là không chỉ gửi riêng lá thư cho Xuân Diệu, vì làm thế, có thể tạo cơ hội cho Xuân Diệu tránh đòn tức là giấu biệt thư đi không cho ai biết. Mà, muốn để Xuân Diệu thảm bại, Xuân Diệu gục ngã ngay trước mặt mọi người, Xuân Quỳnh sao lá thư này làm vài ba bản, gửi đi vài ba nơi cần thiết.


Không cần phải nói, cũng có thể đoán Xuân Diệu đã đau đớn như thế nào!


Câu chuyện xảy ra hè 1985, thì đến cuối năm đó, Xuân Diệu qua đời. Trong khi mọi người cuống quýt lo lắng cho đám tang, thì Xuân Quỳnh cảm thấy như mình có lỗi, và không biết làm gì để cứu chuộc. Khi có ai hỏi, Xuân Quỳnh chỉ phân bua là mình cũng rất biết ơn Xuân Diệu, mình không có ý hại ông. Mấy kẻ xúc xiểm chúng tôi, lúc này cũng cảm thấy hối hận vì vừa tham gia vào một trò chơi độc ác. Tuy nhiên những khi thật tỉnh táo nhìn lại câu chuyện Xuân Quỳnh – Xuân Diệu nói trên, chúng tôi hiểu ra một điều: nhà thơ của chúng tôi có lỗi trước tiên, mà cái lỗi đó, một phần bắt nguồn không phải ở tuổi già, mà là sự đơn độc của ông. Chúng tôi hàng ngày dù đôi khi cũng không giấu được sự tham lam và phải nhận là nhiều khi tham lam một cách vô lý, ngớ ngẩn, song cuộc sống gia đình luôn giúp cho chúng tôi tỉnh táo trở lại, nó mách bảo chúng tôi về một cuộc sống như nó vốn thế, vậy phải biết nhìn ra chung quanh, biết dừng lại đúng lúc cũng tức là biết rằng sống phải thông cảm, phải cận nhân tình, đừng có bao giờ quá đáng.


Đời riêng Xuân Diệu buồn hơn nhiều. Xuân Diệu không có được một gia đình bình thường. Cho nên trong quan hệ với mọi người Xuân Diệu đã phạm những sai lầm không thể tha thứ được, kể cả sai lầm với phụ nữ là những người mà trong thâm tâm ông yêu quý.


Trước sau, đó vẫn là cây hoàng lan cô đơn đang đổ bóng.









Đi din vi vĩnh cu


 Nhng năm cui đi Xuân Diu rt ni tiếng vi vic phê bình gii thiu thơ, nht là gii thiu các tác gi c đin. Nguyn Du và H Xuân Hương, Nguyn Khuyến và Tú Xương, Tn Đà Nguyn Khc Hiếu và á Nam Trn Tun Khi... hu như vi bt c nhà thơ đã  lit hng nào, ông cũng đu yêu mến và tìm được cách tiếp cn. 


Không mt ai đi vi ông là bí him, là khó gii thích, hoc hơn na, là không th gii thích ni.


 Trong
nh
ng bài phê bình và tiu lun mà cách viết đôi khi rơi vào dông dài và thông tc, nht là trong nhng bui nói chuyn lp đi lp li - cái ngh mà có người đã gi đùa là ngh thy cúng y, thì tránh sao cho khi lp li ? - ông làm được mt vic ln lao là ph cp hoá thơ, làm cho thơ tr nên d hiu và các nhà thơ ln tr nên như là ca mi nhà. 


Tuy
nhiên, cũng ch
ính trong nhng lúc y, Xuân Diu phô ra nhng nhược đim ln ca mình - s nói ly được, làm cho cái gì cũng tr nên d hiu, do đó đánh mt mt chút thiêng liêng ca văn hc. 


Do đi vi ai, làm cu ni cho bt c tác gi văn hc nào cũng được, nên Xuân Diu không thuc hn v ai,
không phát hi
n được ai đến cùng. Trong khi rt k lưỡng, rt thành thc vi nhng điu người yêu văn hc nào cũng có th nhn ra mt cách mơ h, thì Xuân Diu ngày càng ít đi nhng ch mà con mt phàm tc  không thy và ch ông mi thy.


 Nhng phát hin ca ông không my khi đt đến mc bt ng và làm người đc bàng hoàng ngơ ngn. 


Như người ta vn thường nói, đc người khác là đc chính mình. Hiu biết tc là sánh ngang.
Nh
ng tư tưởng sâu sc ch được phát hin khi người đc chúng cũng hoàn toàn có điu kin đ nghĩ ra chúng. 


ch này, s dng li ca Xuân Diu k cũng là điu d hiu. 


Vi nhng thiên tài đc đáo ca dân tc, như Nguyn Du, H Xuân Hương, dù Xuân Diu đã nói rt nhiu, song
mu
n lý gii được cái thn ca các v y, ông còn cn được nhiu người tiếp tc.


Không phi là Xuân Diu không biết v trí ca mình đâu. Đc nhng bài ông ging gii v các bc thy ngh nghip mà Xuân Diu đã viết, người ta luôn luôn bt gp mt ng ý:


- Tôi
không sao nói h
ết được cái vi diu mà cũng là cái cao c ca ngh thut! Các v y là nhng tay th bc 7, bc 8 kia đy! Vâng, đó là nhng người vào tt bc ngh nghip, trong
khi m
t người như tôi, ch thuc loi bc 4, bc 5. Vy thì các anh hãy nghe tôi nói đây, hi nhng tài năng lm chm bc 1, bc 2!


Du sao, so
v
i các nhà văn
nhà th
ơ đương thi Xuân Diu là người đã đến vi các tác gi c đin thành tâm nht, nhit tình nht.


Mà đây là mt vic làm hoàn toàn có ý thc.


Rt hiu tài năng phê bình mình - tài năng đng cm phân tích đánh giá cái hay cái đp - ông hướng nó vào mt ch có th tn ti lâu bn:


- Có che
tàn, t
ôi cũng che tàn cho my ông to, ch không làm dáng cho my anh tr ti toe.


Đi tượng so sánh ca Xuân Diu trong
tr
ường hp này là Chế Lan Viên.


Trên cương v trưởng Tiu ban thơ, tác gi Điêu tàn nhng năm y thường vn phi đng ra gii thiu anh em
tr
. Và có làm là có lm l. Mt đôi khi Chế Lan Viên đã đng ra phân tích sáng tác ca mt hai cây bút mà ch mt hai năm sau đã không ai nh! Xuân Diu không làm thế. Dù mang tiếng là cay nghit vi lp tr, ông cũng thây k. Cái đích mà ông khao khát chiếm lĩnh là nhng giá tr còn mãi trong đi. 


Vic tìm hiu gii thiu các tác gi c đin, vi tt c s khó khăn có th có ca nó, chng nào đó, vn bo đm cho Xuân Diu có điu kin đến vi cái đích đã đ ra. Vic ông st sng lao vào nó hết mình là kết qu ca c tình yêu ln mt s tính toán khá chính xác.


Đến đây, chúng ta li có dp đi din vi mt khao khát thường trc mà cũng
là m
t đng cơ chi phi toàn b con người Xuân Diu, nó như nhiên liu, to nên năng lượng cho mi hot đng ca cái c máy tinh vi trong con người tác gi Thơ thơ, đó là khao
kh
át vượt lên trên thi gian,
tr
thành vĩnh cu.


Là con người thiết tha vi s sng, ch s ba tic đi vui v kia mình không có mt, Xuân Diu có thích sng mãi trong đi, cũng là chuyn bình thường.


Hung chi, gn như sut cuc đi đơn đc, ông vng thiếu hn mt ít nim vui trn thế như trò chuyn vi v, chơi nghch vi con. S hướng v cái vĩnh cu qu tht là cái phao ln có th mang li l sng cho Xuân Diu, và chc chn ông đã tìm thy đó mt ngun ngh lc to ln.


Tuy
nhiên, v
n đ sng chết là c mt câu chuyn ln và trong cái ham mun ph biến là tr thành bt t, con người ta cũng t chng t nhân cách ca mình, trình đ hiu cuc sng ca mình.


 Nếu như đã không biết sng cái ngày hôm nay, thì làm sao người ta có th biết sng trong vĩnh vin?!


trên, chúng ta nói, do ham sng Xuân Diu rt s chết và ni s y ca Xuân Diu đôi khi b đy đi quá đà, đến ch quá qut. Nên mi ln nghe Xuân Diu lc đu le lưỡi, nghĩ đến cái chết, hc theo Trn Thanh Mi, tôi li không khi nh ti nhng bà già nhà quê, lúc chm già h cũng bo bo bm bm, tưởng như mình chết nay chết mai đến nơi ri và luôn chân luôn tay làm thêm, đ dành dm thêm my đng, nh lúc chết cn ti. 


Ri tôi li nh đến s bình tĩnh đi din cái chết ca my thi hào nhng người cùng quê hương Hà Tĩnh vi Xuân Diu.


 Nguyn Du khi m đau, không chu ung thuc, ch người nhà đến bo thy lnh chưa, lnh ri h, thế là nhm mt và không dn gì thêm.


 Hoc như Nguyn Công Tr, lúc biết mình chết bo người thân đt luôn cái nhà mình đang ri chôn mình dưới đng tro.


Nhng mu chuyn như thế, hn là Xuân Diu biết hết song vn c cái cách riêng ca mình mà nghĩ, cách riêng ca mình mà làm. Tht đúng như ai đó đã nói: “Cuc la chn ca mi người vi chính mình cho chính mình, to nên mt cái người ta gi là s phn.


Đu năm 1984, Tuyn tp Xuân Diu, tp I (thơ) ra đi trong s ch đi. Ai cũng mong tác gi s gn đc khơi trong to ra cho
m
ình mt khuôn mt kh ái. Nhưng không! Người tuyn quá tham, ly vào tuyn quá nhiu bài thơ d. Khi tôi hi Vũ Qun Phương, ti sao li thế, thì được Vũ Qun Phương cho biết c nhiên là Xuân Diu có tham gia vào công vic. Và khi có người bàn rng nên làm cho
tinh, th
ì Xuân Diu bác đi: “Các cu bun cười tht. Chưa phi lúc làm tuyn làm tiếc gì c. Ging như khi cháy nhà lúc này làm sao biết được cái gì hay vi cái d. Thy bài nào bn đc chưa biết hãy nht vào đy, sau này lch s đnh liu.


 đây, có c s biết điu chân thành ln s khôn ngoan hám li thô thin.


Đ công chăm lo dng to hình nh ca mình vi hu thế là mt vic mà không ít nhà thơ nhà văn ln nghĩ ti, song cái cách làm ca Xuân Diu trong
nhi
u trường hp tht đã là “làm ly được.


Vào nhng năm y, nhà phê bình Phan C Đ còn đang thao túng đi sng văn hc. Ông sm bt tay làm nhng cun sách mang tính cht tng kết, ging như mt th đúc bia tc tượng các nhà văn ln đương thi.


 Phan
C
Đ bo vi Xuân Diu:


- Anh tng sách tôi như mang tin gi nhà băng, không có đi đâu mà thit.


Câu nói
qu
đã đánh trúng tim đen Xuân Diu. Bi vy mc du trong
th
âm tâm không thích gì Phan Cự Đệ, ông vn biếu sách và ông gii thích cho mình  và cho chung quanh rằng  phi làm thế đến vi các sinh viên đi hc.


Thm chí đây đó còn có th nói trong vic tìm cách đưa mình vào vĩnh cu Xuân Diu có lúc đã đi sát ti cái ch như là... đo gt đi mình cho va vi lch s na. Ông sn sàng giu giiếm mt đôi điu, nếu điu y không có li cho tên tui ông, uy tín ông trong tương lai.


S thc dng ca Xuân Diu trong
vi
c này vn có t trước Cách mng. Chúng ta đã biết hi mi ra Hà Ni, ông đã vô cùng tha thiết vi vic tham
gia v
ào nhóm T Lc. Thế nhưng, khi
nh
óm này tan, thì tình nghĩa ca ông vi các bn cũ cũng cn luôn, ít ra là b ngoài ông làm
cho ng
ười ta hiu như vy. Trong
khi m
t người như Tú M nhiu năm sau còn nhc đến nhng k nim v Nht Linh,
Kh
ái Hưng thì Xuân Diu không bao gi đ đng đến nhng ngày làm vic  Phong
hoá, Ngày nay
.


Thơ thơ in ra ln đu (1938), bên cnh hai ch Xuân Diu, còn chua rõ trong T Lc văn đoàn. Đến khi in ra ln th hai, my ch trong T Lc văn đoàn đã b co hn.


T sau
1945, c
ái vic chia
tay v
i T Lc còn được làm mt cách ráo riết hơn na.


Nht ký kháng chiến ca Bùi Hin (1946-47) còn ghi rõ vào nhng năm y, thành Vinh, Bùi Hin có dp gp g đ mt văn ngh sĩ t Nguyn Tuân đến H Dzếnh. L mt điu, là va gp, Bùi Hin đã được nghe Xuân Diu phân bua: t 1940 v trước, khi mi đến vi văn đàn, Xuân Diu còn phi nương ta vào đám T Lc đ ly tiếng. Ch thc ra có tình nghĩa gì đâu(**).


Chúng ta
đ
u biết, so vi Hoài Thanh, Chế Lan Viên, là nhng người có lúc trit đ ph nhn Thơ mi, thì
Xuân Di
u có phn phi chăng hơn. Vi nhng đa con tinh thn đã dt rut đ ra, ông kiên trì bo v đến cùng. Khi làm Tuyn tp ca mình, ông đã ly li gn hết c Thơ thơ ln Gi hương cho gió.


 K ra, lúc đó phi coi là mt hành đng dũng cm.


 Nhưng đây là mt vài biu hin ca thái đ phi lch s khá thô thin Xuân Diu: Nếu khi
khai sinh, nhi
u bài thơ ca ông có li đ tng bên cnh như Đi thuyn tng Khái Hưng, Đây mùa thu ti tng Nht Linh, Vô biên tng Hoàng Đo thì trong
công trình mà
ông đích thân tham gia chun b là Tuyn tp Xuân Diu  trên va nói, nhng dây mơ r má đó, được ông xoá sch.


S liên lu vì nhng người bn cũ, trong các tài liu chính thc, chng hn, tiu s bn thân, đ đu Tuyn tp Xuân Diu (mà đc k thy đúng ging ông, tc do ông t tay viết ra), nhà thơ giu bit chuyn mình tng là mt thành viên ca T Lc.


Và có l chu s chi phi ca ông - nhng li năn n thiết tha - nên các tài liu nghiên cu v ông, các giáo trình đi hc viết v văn hc trước 1945,
ho
c trong T đin văn hc in ra 1984, chuyn này cũng được l đi hoàn toàn.


Đúng là Xuân Diu chưa kp viết hi ký. 


Nhưng giá có viết na, thì chc ông không đnh viết tiu s như ông có thc, mà s ch viết tiu s ca ông như nó nên có, như ông mun bn đc biết.


Có cm tưởng rng, t lúc phát hin ra cái công vic cui cùng ca mình trong đi, là tc li hình nh mình trong tương lai,
Xu
ân Diu như có mt cái đích. Ông băm b lao ti, và thy rng làm bao nhiêu cũng là không đ.


Nhưng không
ph
i không còn nhng con người khác trong Xuân Diu.


Trong s nhng k nim trò chuyn vi Xuân Diu, tôi nh mt ln đng vi ông my phút trước ca Hi Nhà văn, cui năm 1984. Theo ch trương ca nhà xut bn Tác phm mi (nơi tôi làm vic), tôi gi ý đ Xuân Diu viết hi ký v cuc đi mình. Nhưng ông t chi. Ông cho rng còn lâu mi đến lúc y, trước mt ông còn nhiu vic phi làm và cn làm ngay. Chúng tôi nói lan man sang mt ít chuyn khác, và có lúc, t nhiên tr li vi đ ngh viết hi ký ca mình, tôi but ming:


- Tưởng như Xuân Diu đã viết rt nhiu nhưng còn bao nhiêu ch, chính Xuân Diu chưa khai thác mình!


Ln đu tiên, tôi thy Xuân Diu có mt thoáng bun, mt chút gì như là chnh lòng. Chng l là như thế chăng, mt người đã chu viết như ông, li còn nhiu mng trng, nhiu ch chưa viết? Như thế chng là đáng bun đáng tiếc lm sao?


Nhưng tôi đoán rng vi Xuân Diu phút chnh lòng y li nhanh chóng quên đi, và ông li hn nhiên tr v vi cái phương hướng lâu nay ông đã theo đui.


Khi Xuân
Di
u còn sng, tôi biết rng gia ông vi Nguyn Tuân có nhiu s khác bit, nên hai “c không ưa nhau. Nhưng mun hay không mun, đy vn là hai đnh cao
trong v
ăn hc. T thu chưa v công tác Hi Nhà văn, qua báo chí, tôi đã thy nhiu chuyến đi do Hi t chc, có c Nguyn Tuân ln Xuân Diu trong mt đoàn. C ln đi tuyến la Qung Bình 1965, ln ln đi thăm Liên
Xô, cũng kho
ng cui năm đó. Có dp, tôi but ming hi Nguyn Tuân, và được c Nguyn tr li:


-  Thì
ghét c
a nào tri trao ca y.


Khong năm 1982, Xuân Diu va đi Pháp v, đang nói chuyn trên phòng hp, thì nhà ngang, Nguyn Tuân r tai tôi :


- Đang nói rng chuyến đi thành công lm,. Có nói thế bn sau người ta mi cho đi na!


y vy mà, khi Xuân Diu mt, tôi nh Nguyn Tuân đã tht lên mt câu t tn đáy lòng:


- Xuân Diu mt là mang c mt quãng đi ca tôi đi theo!


Quãng đi mà Nguyn Tuân nói đây, cũng là mt chng đường văn ngh Vit Nam.


Các ông đu là nhng người li vi lch s, dù đó không hn là cái lch s như các ông đã nghĩ.




 












(*) Trn Thanh Mi, Đi văn (II) 1940,
tr 47.



(**) Xem Cách
m
ng, kháng chiến và đi sng văn hc, Nxb. Tác
ph
m mi 1985,
t. I.




Đã in trong Cây bút đời người -2002