Tuesday, July 31, 2012

Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo

Tôi xin hết lòng (truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan ) kể về một người đàn bà, thức nhiều đêm ròng để trông một cô gái ốm và lúc nào cũng xoen xoét  cái miệng tôi xin hết lòng vì cô. Có gì đâu chỉ vì bà ta quá mê bộ tóc của cô bé.  Sự việc lộ tẩy khi, lấy cớ giúp cho cái đầu cô bé khỏi vướng víu, trong lúc trông nom cô, bà ta đã đang tay cắt trộm mái tóc ấy.



      Một cái  ý ngầm toát lên qua thiên truyện: hoá ra ở đời này chẳng có ai tốt với ai cả !




      Nhưng đọcTôi xin hết lòng, giữa những ngày xã hội băng hoại, tôi muốn lưu ý một khía cạnh khác: trong trường hợp này, lời nói đã trở thành công cụ cho người ta  thực hiện ý đồ xấu  xa. Nó trở nên hàm hồ, tuỳ tiện, lăng nhăng, giả dối, một thứ sản phẩm của tình trạng“ lưỡi không xương nhiều đường lắt léo “  như các cụ xưa vẫn nói.


      Ý  nghĩ này thường trở lại trong đầu tôi khi hàng ngày chứng kiến cảnh người ta lừa nhau ở vác bến xe bến tàu. Thử đứng ở đầu cầu Chương Dương Hà Nội chẳng hạn. Những chiếc xe khách chở người các vùng quê về chưa kịp đỗ  đã có hàng loạt xe ôm chờ sẵn. Mỗi hành khách xuống xe lập tức trở thành con mồi để  đám xe ôm xô đến tỏ thiện ý muốn giúp đỡ. Lời nói bao giờ cũng ngọt xớt. Người ngoài nghe thấy mà rùng mình, sự thực là họ đang lừa nhau để  bên này bùi tai thì bên kia “chém”. Đại khái cũng giống như các chương trình khuyến mãi của các công ty bất chính quảng cáo trên ti-vi. Họ lấy ngay tiền người mua hàng để làm phần thưởng. Mỡ nó rán nó. Của người phúc ta. Nói ra rả hàng ngày mà không ai thấy chướng.


      Có  cái ác là nhiều khi biết người ta nói dối  đấy mà không sao vạch mặt ra được. Chẳng hạn nhiều khi có việc cần đến một cơ quan thì thấy đập vào mắt  tấm bảng viết nguệch ngoạc “ Cơ quan chúng tôi xin được phép nghỉ sáng nay để họp “. Cùng là cán bộ nhà nước cả, nên tôi cũng chẳng giận làm gì, mặc dầu biết tỏng là nhiều khi người ta chẳng họp hành gì cả, mà chỉ yết bảng thế, để kéo nhau đi chơi ( chẳng hạn sau tết đi lẽ bái mà gọi thác đi là  du xuân). Nhưng đau là đau ở khía cạnh khác: cái sự nói dối trắng trợn. Người ta coi thường và làm hỏng hết công việc của đám người đến quan hệ công tác, nhưng lại nhũn nhặn xin phép, ra cái điều tôn trọng chúng tôi, sợ chúng tôi lắm, phải được phép chúng tôi thì mới đuổi chúng tôi về hôm khác đến như vậy.


      Từ góc độ xã hội học mà xét, đây là một biểu hiện sự tha hoá ngôn từ, khi con người không còn làm chủ được công cụ giao tiếp này nữa và bản thân công cụ có một sự phát triển tự thân vô tổ chức ( tương tự như tình trạng tế bào trong ung thư), sớm muộn dẫn đến tình trạng nổi loạn.


     Bắt đầu là sự phát triển vô tội vạ của số  lượng. Tiếp đó là những biến dạng kỳ dị, khi sự không phù hợp giữa nội dung và phương thức biểu hiện ngày càng trở thành một thiên hướng không thể cứu vãn.


       Tương tự như tình trạng giao thông làm chậm tốc độ đi lại-- sự hỗn loạn trong ngôn ngữ cũng ngăn trở sự tiếp xúc giữa người ta với nhau và làm giảm GDP xã hội – nghĩ xa một chút  phải thấy như vậy.


     Nhưng ở đây ta hãy nói với nhau ít chuyện cụ thể.

     Một lần  lẩn mẩn tra từ điển tiếng Việt, tôi bắt gặp vài chục từ ghép đi liền với chữ nói, tạm ghi ra như sau:

     nói bóng nói gió, nói càn, nói cạnh nói khoé, nói chọc, nói chơi, nói chua,  nói cứng, nói dựa, nói dóc, nói dối,  nói điêu, nói gạt,  nói gần nói xa, nói gở,

      nói hớt, nói khoác, nói lảng, nói láo,  nói leo, nói lửng, nói mát, nói mép,  nói móc, nói mỉa, nói ngoa, nói ngang, nói nhăng nói cuội, nói như thánh phán, nói như vẹt, nói phách,


       nói phét,  nói quanh, nói quấy nói quá,  nói ra nói vào, nói suông, nói thách,  nói thánh nói tướng,  nói trạng, nói trống không, nói vơ, nói vụng, nói vuốt đuôi, nói xỏ …


       Trong số này, nếu đếm thử sẽ thấy trên chín chục phần trăm là những từ  mô tả sự nói với nghĩa xấu.

       Hoá ra sự tha hoá tiếng nói ở xã hội ta đã bắt đầu từ lâu lắm.


       Điều cần lưu ý thêm là đến nay trong thời hiện đại, khuynh hướng này ngày càng phổ biến. Cảm giác xấu về lời nói đè nặng lên tâm lý con người, bởi sự làm hàng giả len vào tất cả mọi lãnh vực và sự giả dối hứa hão thì  tìm đâu cũng ra ví dụ.


      Trên một tờ báo chuyên về văn hoá, một lần thấy có thư của một bạn  đọc than phiền vì những sự hứa hươu hứa vượn. Một bộ phim quảng cáo là phim kinh dị “made in Việt Nam “ và có tới 69 bài viết trên các báo lăng xê,  sẽ không bao giờ bấm máy. Một bộ phim khác  được giới thiệu là có đến hai diễn viên Hàn quốc tham gia  hoá ra … treo đầu dê, bán thịt chó,  bởi chẳng có công ty nào của Hàn quốc phối hợp cả. Đại khái như vậy.  Người ta cứ làm hàng giả hàng ngày. Sợ gì đâu, chưa có thứ thuế nào dành riêng cho kẻ hứa hão. Còn muốn tiếp tục giao rắc ảo tưởng ấy ư, hãy chi đậm thêm một chút cho “ những cái lưỡi”, thế là xong tuốt !








 Đã in trong  Những chấn thương tâm lý hiện đại, 2009                 

Nguyên bài này có tên là   Sự tha hoá của ngôn từ. Sở dĩ tôi đổi lại như trên vì tha hóa là một vấn nạn  lớn của xã hội hiện nay, với nhiều biểu hiện phức tạp khác, hiện nay chưa nghiên cứu được. 

Wednesday, July 25, 2012

Quảng Trị mùa hè 1972 (III)


Nhật ký chiến tranh





3/7 

Rời khỏi thị xã


Một trong những ngày mệt mỏi nhất của chuyến đi. Từ Quảng Trị sang phía Triệu Phong. Cùng đi với những người chạy loạn. Địch đổ Hải Lăng từ mấy hôm trước. Theo sự giải thích, ta để cho nó ra rộng mới đánh. Dân lại tản cư.



- Những bà cụ già áo dài hớt hải gánh chậu, gánh túi.


- Một ông khoảng 50, cái mũ phớt che nét mặt hùm hụp. Quần cộc, áo cộc. Khăn vắt vai. Bên nách, một hộp chè dang dở. Thất thểu.


- Một đứa trẻ bé 10 tuổi bế đứa độ 6 tuổi. Chân đứa được ẵm thò gần xuống đất. Nó cần chị bế vì có lẽ nó sốt, mặt đỏ rừ.


- Một đứa trẻ độ 7 tuổi, cái xắc du lịch 2 quai đeo vai, lại còn mủm mỉm nữa chứ.


- Rất nhiều ngưòi mẹ trẻ  -- ở đây, người ta lấy chồng, có con sớm. Một người nào đó có lẽ mới ở cữ chừng độ tháng nay, da trắng và xanh rớt. Những đứa trẻ lớn hơn được quảy vào trong thúng.


Những bữa cơm tạm bợ ngay cổng ngõ những nhà bên đường. Dọn ngay ra đất. Một chút thịt muối, một con lợn nào mới bị giết. Bọn trẻ con giành nhau một bi đông nước rồi đổ tung cả ra sàn.


Lũ trẻ vẫn cần đi ra đi vào, cần nghịch, cần ngủ. Và người ta lo cho nó nhiều hơn lo cho chính mình.







Một người dân nói nước nhà mà có yên, khéo chừng mỗi làng cũng còn được độ …một hai người.


-- Đánh nhau có phải như con bệnh, mỗi ngày thuốc thang giảm bớt. Đằng này, nó lại như là lửa đổ thêm dầu vào mãi.





Vào những nhà đồng bào ở đây, cứ như là lạc vào những gia đình Thái Lan về nước ở miền Bắc trước 1965. Những người phụ nữ một hai mặt con, mặc quần áo chật, bó, mà bẩn, dơ dáy. Những cô con gái quần hoa áo hoa, và thoáng thấy những cái quần trắng... Chợt nhớ những điều thuộc về đường nét chân quê. Sự tấn công của văn minh tây phương hiện đại, văn minh Mỹ, hình như đã công phá được cái phần cốt cách đã trì trệ, trong khi miền Bắc lại ...ngủ lì trên cái cốt cách đó.





Một người lính kể


Từng ở Triệu Ái, Ba Lòng, Cùa. Đi đâu cũng dễ. Dân Ba Lòng có một làng chuyên đi nhặt mua đồ hộp cũ của Mỹ, bán cho mình. Cần gì dặn họ. Thời gian hắn xúc quân, đồng bào báo trước cho mình.


Con nít giữ trâu 3g chiều hắn về làng xem có địch không. Không có địch thì thôi.    Nếu gia đình bảo có, hắn rấp cảnh lá báo trước cho mình.


(Làng này, 1967, đầu 1968, ta không vào, cho nên dân  làng còn tin mình tốt)


Sau địch hốt làng đi, ngay giữa mùa lúa. Vào Cùa.


Lần đầu vào, ông già rinh khẩu súng lên giường thờ, nhìn mãi: Mấy năm nay mới thấy khẩu súng cách mạng. Nhưng bận sau các chú đừng mang vào...


Làng giàu. Một bà già bảo nếu vào nhà, không ăn cơm, không mua được gì.


Có thời gian 3g30 chiều đã vào dân.Thường họ hỏi có vợ có con chưa. Để, do họ có con gái, họ gả cho. Thật hay đùa, nói cho vui lòng?


Dân bảo các chú về, tôi sợ. Thấy các chú bị thương, ưng ra coi, nhưng tôi không dám ra, vì hắn doạ con gái ra cắt tai. Tôi phải mượn đứa con nít tôi ẵm ra xem. Rồi đi khênh thương binh mấy bữa, tôi hết sợ.


Bộ đội vào, chưa mở chuồng gà bộ đội mở hộ, còn lính SG không bán gà thì hắn bắn. Hắn vào nhà, lấy rơm. Y như cảnh trong tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan hồi tiền chiến.


- Hai anh ơi.


- Không hai anh.


- Thế kêu chi?


- Kêu hai thày


- Các thày đun thì đun củi, đun rơm hết rơm cho bò ăn.


Trốn lính. Có người trốn 4 lần, mới bị bắt. Có người trốn 18 năm. Dân bảo tài. Tôi trốn ra đồng chứ đâu mà tài. Toàn vợ đưa cơm cả.


Ở đây, đồng bào ít biết nhà nhau, thôn này thôn kia không biết nhau.Thanh niên không dám làng này qua làng khác.


Dân ở ven thị xã, hỏi bến xe, không biết. Chỉ có những người buôn bán thì biết. Dân khen Mỹ tốt. Con nít ra nơi đóng quân Mỹ chơi. Bọn Mỹ đóng ở nhà nào, khi đi chào gia đình rồi  mới đi.





Nhìn người dân ở đây, tôi không khỏi nghĩ tới những cơ cực trong cuộc sống gọi là hậu phương ở nhà. Một gia đình khốn khó hơn ở quê Đông Hồ, nhà anh Bảo - một thứ khổ kinh niên, không phương cứu chữa. Mà đó là gia đình còn ít đóng góp vào cuộc chiến, không có người đi lính, không có ai chết, chỉ mòn mỏi cam chịu.


- Chúng ta sẽ khổ bao lâu nữa? Câu hỏi lúc này được chuyển thành Chúng ta còn đánh nhau bao lâu nữa?


Mấy hôm nay, đài báo lại nói nhiều đến cái gọi là những chiến sĩ vận tải trên mặt trận của mình. Tôi lờ mờ biết rằng đạo quân này có khi còn đông hơn đạo quân đánh nhau, đang lần mò như kiến tha mồi tiếp tế cho đạo quân đánh nhau.


 Và bao giờ cũng vẫn vậy, sau khi nghĩ về đạo quân khổng lồ đi đánh nhau, chúng ta nghĩ đến cả đạo quân chịu đựng sự đánh nhau - đó là nhân dân.





4/7


Một ngày ven sông Ba Lòng. Lính ở những xóm làng dân bỏ lâu ngày, nay biến thành một thứ trại. Nhà đổ, cỏ leo vào giữa nhà. Cây cối đổ ngã. Những quả bưởi bé tí cũng bị lính vặt.


Những người lái xe mới học lái về, còn tử tế. Những người lính vận tải trốn việc, ngủ có người gọi không trở dậy, dậy làm thì cãi nhau, vặc nhau. Đêm ngủ hầm hai người thành bốn. Nằm đâm chân vào nhau, không buông màn muỗi vo vo khá lâu mới ngủ nổi.





Người dân Quảng Trị quen hút thuốc, ngay cả lúc chạy loạn cũng hút thuốc. Cha dúi cho con nắm thuốc chưa thái. Bạn bè đưa nhau tờ lịch làm giấy. Chạy loạn ông bố vẫn mang theo cái kéo và đứa con buồn tình lại lôi ra cắt giấy. Tôi không khỏi phì cười khi trong số những thứ giấy mang ra làm giấy lộn có những tạp chí gọi là Tư tưởng, Đối diện, nói về những Sartre, Machado, Brecht...


Tôi chỉ yên tâm khi nghĩ rằng mình cũng đang cực khổ quá, mình cũng đang ở trong tình trạng chung của sự bất lực của cả một  dân tộc.





Những bữa cơm đầu đường, những buổi tối ngủ nhờ, những câu chuyện tầm phào, về đào hầm đào hào, giá một lon gạo, một  mớ rau....


Tôi vừa thích thú, vừa ngần ngại khi phải nghe chuyện những thường nhật ấy. Những tình cảm mạnh hơn chợt đến, khi nghe những chuyện lớn lao. Ta kéo địch ra thế này thế kia. Ta đã bố trí thế nọ. Tạm hy sinh, ráng chịu gian khổ, mọi việc sẽ thay đổi, tương lai thật rực rỡ. Nhưng sự cảm động không giữ được lâu. Nó thay đổi thất thường. Nhiều lúc thấy phấn chấn, chợt ứa nước mắt khóc. Liền sau đó lại thoáng qua nghi ngờ. Thậm chí sinh lòng căm ghét. Cảm thấy bị bịp. Cho đến lúc bắt gặp trong Một chút mặt trời trong nước giá  một câu đại ý:


- Có những chữ sáo, nhưng nội dung đều được diễn tả đúng với ý nghĩa của cái tiếng sáo rỗng ấy. Lỗi không ở chữ. Lỗi ở người ở việc.


   Quyển sách này của F.Sagan tôi nhặt lên từ một sàn nhà khi lang thang trên phố xá đổ nát.


5/7


Trong bom đạn, đôi lúc cứ định hỏi những người dân xem họ suy nghĩ gì về chính trị. Rất nhanh, rồi tôi lại nghĩ hỏi thế cũng là một sự ngớ ngẩn. Với đa số những người dân, lúc này là làm thế nào để sống, sống mà thoát khỏi cảnh đầy đọa.


Nhưng chính trị vẫn là vấn đề đặt ra ngay từ Hà Nội. Tự do, độc lập, hạnh phúc, thịnh vượng, quan hệ giữa văn minh vật chất và văn minh tinh thần, quan hệ giữa sung sướng, dễ chịu, của cải -- và niềm tin lẽ sống. Cả chủ nghĩa nữa.


Một gia đình bình thường ở đây, thu hoạch vài chục tạ thóc một năm. Giá mọi thứ rẻ. Vải cao nhất 170đ 1 m. Gạo 100đ 6 lon (66,66đ 1kg) Lương giáo sư trung học 250.000đồng.


Sự đổi mới làm những người đã đến cách đây mấy năm, giờ có dịp trở lại, thấy sửng sốt,– một tờ báo mới in đâu hai tháng trước còn ghi nhận xét của một phóng viên ngoại quốc như vậy. Về nông nghiệp, nông giang, máy nước, máy cày. Không còn địa chủ. Nhà nước đấu thầu, cho nông dân làm rẽ, thay đổi hàng năm (một sự kích thích sản xuất). Một hệ thống xa lộ loại tốt nhất Đông Nam Á.


Người ta không nghĩ đến sự chọn lựa nữa.





6/7 




Ở Đội Thuyền Mỹ Lộc


 Đêm nằm, nghe pháo, bom rất nhiều. Nhưng nghe đài, nhớ Hà Nội và gia đình. Báo chí, báo Nhân Dân nói nhiều tới sơ tán quá. Tức ngoài kia nó đánh khá căng thẳng. Thêm những khu phố nào của Hà Nội bị tàn phá, nhà máy điện -- trái tim của Hà Nội -- có còn không biết.


 Nếu không có điện nữa, thì Hà Nội buồn lắm, ví như mình ở nhà, chắc ít được rời sơ tán về Hà Nội. Bạn bè mỗi người một ngả, và người nào cũng cúi mặt xuống vì nỗi lo toan hàng ngày, hướng đi bế tắc.


... Bao giờ thì sinh hoạt lại có thể ổn định trở lại, tâm lý mọi người bình tĩnh trở lại? Con người tưởng hôm qua mình khổ đã đến kỳ cùng rồi, nhưng trông về phía trước, lại thấy chắc còn cực hơn, những khó khăn được dự kiến còn ghê gớm gấp bội.


 Kết thúc mọi sự lan man trong đầu óc buổi sáng hôm nay, chỉ còn ước là mình còn sống, để biết được tất cả những cái này sẽ đi đến đâu -- tội ác của kẻ địch, sự quằn quại của mỗi chúng ta, và ngôn từ của chúng ta -- càng ngày lời lẽ tuyên truyền trên đài TNVN càng trở nên phiêu lưu liều lĩnh hơn. Ngày mai, ngày mai của chúng ta ra sao?





Người chết sau một trận bom. Người chết nhiều quá. Sao lại như thế? Nhưng vẫn cứ thế, vừa định hỏi đã biết là chuyện buồn cười, ai lại đặt ra câu hỏi ấy lúc này. Con người của chúng ta thường quá, rẻ quá, cho nên giữa chết và sống, cũng không có gì khác biệt. Nhìn vào những người chết ta nhận ra cái giá của cuộc sống ta đang hưởng.


Nhớ có lần vào Quân y viện 5. Ở ngoài, tôi rất ghét thuốc, nhưng vào viện ít lâu sinh ra thèm thuốc, sùng bái thuốc, chỉ lo không được cấp những loại thuốc cần thiết. Với súng đạn cũng vậy. Hôm từ 4 Lý Nam Đế ra đi, trước khi lên xe, tôi đã xin phép ông Vũ Cao để khẩu súng lục ở nhà. Giờ đi trên đất này, lại thấy cần. May mà có cậu lính nó chỉ ngay cho một khẩu các-bin. Vui vẻ vác ngay. Ít nhất là để yên tâm rằng mình cũng đang như mọi người.


     (Ở nước tôi bây giờ, người ta dùng các thứ đồ quân dụng phổ biến đến nỗi nghĩ thêm ra nhiều cách để trang trí cho nó đẹp hơn, và quen hơn. Tôi, tôi không muốn như vậy.)





Bị thương, máu bắn vào người khác mới biết. Quần áo loang lổ như quần áo lính dù nhưng đây là loang lổ những máu. Máu rơi trên ba lô, ruồi vo ve tìm cái mùi tanh chỉ máu mới có – tưởng là ai chứ hóa ra chính máu mình vậy. Trong đầu cứ thấy vẳng lên những câu thơ có chữ máu:


 Máu đã chảy em ơi trong đó - máu Ba Lan và máu Hồng quân


 Máu Hồng quân, máu Trung Hoa- cùng là máu đổ cho ta đất này


 Máu người không phải nước lã.


Sau những ngày máu đổ này, hy vọng sẽ được thấy những gì? Còn khó lắm, bởi vì cuộc chiến tranh chẳng những tiêu phí của chúng ta những con người, sức lực của người sống và sinh mạng của người chết - nó còn tiêu phí những ước vọng, những chí khí.


Xem mà xem, trong chiến tranh, chúng ta mơ ước những cái lớn lao đâu đâu, nhưng cũng chính lúc đó, chúng ta trở nên thiết thực hơn, cụ thể hơn, có thể là hẹp hòi tầm thường hơn, ta đã hỏng đi bao nhiêu.


Chúng ta mất gì và được gì trong cuộc chiến tranh này? Câu hỏi ấy giờ nghe sang trọng quá. Giờ thì không ai có quyền cân nhắc nữa. Lúc này, cái phải tính là tìm ra sự lì lợm, sự bất cần, không lối thoát nào cũng cứ sống.





7/7


 Đi trên đường Quảng Trị bữa nọ, cả bọn  thấy một con bồ câu đậu trên mái tôn. Ứng b trưởng bảo bắn. Tôi bảo a trưởng Tác các - bin đây. Nhưng Tác lấy ngay AK, quỳ một chân, bắn rất đàng hoàng. Con chim dại quá, cứ đứng rỉa lông rỉa cánh. Thế là nó ngã lăn xuống đất, và tôi không đủ can đảm xem nó bị bắn vào đâu nữa, chỉ thấy một vệt máu đỏ loang ra trên cái màu lông trắng toát.


- Thương nó quá đi.


- Sao anh còn đưa các - bin cho em?


Tôi không còn biết nói thế nào nữa. Mình cũng thèm sự giết chóc ? Mình cũng khát máu? Và tôi cứ cảm thấy như vừa mắc tội!





Khi giải phóng Quảng Trị, bắt đầu lúa chín. Người ta đã gặt ngay sau khi  có tiếng súng. Một phần thì hồi đó cũng ít bom đạn. Bây giờ mọi người đứng trước một công việc khó khăn hơn, gieo cấy.


Hôm qua nhong nhóng ngồi nhà, tránh bom, và xua con cái vào hầm. Người nông dân Quảng Trị hôm nay lại buộc cái chạc ni lông vào cổ trâu, lại lấy ra những cái cối xay đã cũ, để xay giã.


Chiến tranh cũng đẻ ra nhiều cảnh hỗn loạn, người nọ đến ở nhà người kia. Cuộc sống tất cả mọi người như bị lắc tung cả lên. Và với bản tính cố tìm một chỗ ổn định của mình, người ta hiểu rằng cần sống nương tựa vào nhau, người ta tốt hơn, nhân hậu hơn vốn có.





14/7 

Về T70


 Có lệnh quay ra. Từ vương quốc của hoang dại, bọn tôi sẽ trở lại vương quốc của sự nhân tạo, cấy trồng. Những chán ngán trong gia đình, những lúng túng trong công việc, và sự không phương hướng trong tình cảm – sẽ lại đối mặt tất cả. Sau chuyến đi này liệu mình có khác được chút nào?


Lo đường ra. Nghe người ta nói đường ra mà sợ. Địch đánh liên miên. Ngoài kia, cách chỗ tôi đang ngồi viết không xa, những người dân Thanh Hoá, dân công đang ngồi bệt xuống đất nói chuyện. Thanh Hoá, cái tỉnh bè bè ra đó, người đông quá xá, người nào tiếng cũng bè bè, dáng dấp cũng bè bè. Đàn ông, có người 47- 48, thuộc loại đã đi từ cuộc kháng chiến lần trước, đi từ Điện Biên Phủ, và bây giờ họ lại đi lại. Bốc hàng, cáng thương, cấp dưỡng. Những cái quần bạc phếch, những cái áo vá. Trông đàn ông xứ Thanh không hiểu sao người nào cũng như từ cổ sơ trở về, đặc vẻ đàn bà, vơ véo đâu được một cái thắt lưng bộ đội, một cái mũ, tự lấy làm bằng lòng lắm rồi. Và họ đã sống như thế, ăn tết như thế.


Vì cái vẻ ốm o của họ, những cô con gái cứ gợi cảm giác sờ sợ, khiến tôi không dám nhìn lâu.


- Chỉ đàn bà có chồng mới không phải đi.


- Cho nên khối cô rình rập lấy chồng.


- Không đi ở nhà cũng khổ. Nó đánh chỗ đê phía bắc sông Mã rồi.


- Nghe bảo Hoằng Hoá vừa rồi vẫn hoàn thành nhiệm vụ.


- Nhưng mà mưa này mới gay.


- Thôi sống chết cũng phải làm. Nơi nào khó thì lại kêu gọi đảng viên đoàn viên. Hết loạt nọ đến loạt kia. Không chừng sinh viên cũng phải về làm ấy chứ.


- Nhà tôi cạnh chỗ bom nổ có độ sào ruộng.


- Quê ta ở cứ liền liền, nhà nọ cạnh nhà kia, không bằng từ đây đến chỗ cái ghế.


- Thôi, Bác đã bảo, càng gần thắng lợi càng nhiều gian nan.


Tiếng bom vẫn ầm ì như đã là một thuộc tính của bầu trời này, một thứ đỉa dai dẳng bám vào bầu trời, người ta cố dứt nó ra, không dứt nổi.


         Ở cái trạm của tôi, ngày bao nhiêu khách, quây quanh các máy điện thoại. Thông báo về tình hình trên đường. Gặp cấp trên, xin phương tiện, xin ý kiến. Việc nào cũng cập rập. Và mọi người đều có cái vẻ bồn chồn, y như có bao nhiêu sống chết phụ thuộc vào những cuộc đàm thoại đó.


Nhưng rồi ai nấy bình tĩnh trở lại. Không, không phải là bình tĩnh, mà là lì lợm, mặc mẹ mọi thứ.


Đi đâu cũng thấy lính tráng cũng như cán bộ ăn và mời nhau ăn. Vì một bữa ăn, một gói chè, một suất tiêu chuẩn đường sữa, người ta có thể đi vật nài quản lý hàng ngày trời. Bao nhiêu con người, bao nhiêu ngày tháng bỏ phí. Với những người vừa ở mặt trận ra, lúc này đây, không có gì chuyện quan trọng hơn ăn uống. Ấn tượng chung là một cái gì ườn ra, nhếch nhác, ngán ngẩm, vô cảm.


 Trì trệ đã thành một thứ khí hậu, ngay ở cái nới gần mặt trận này. Nhưng rồi tôi nghĩ -- kéo dài mãi ra ngoài kia cả Hà Nội của tôi, cả cái tạp chí VNQĐ của tôi, đâu đâu cũng cảm giác trì trệ ấy đè nặng, như những buổi chiều miền núi oi bức.


Cái sức mạnh của dân tộc bây giờ là ở sự chịu đựng. Một dân tộc như thế, rồi sẽ ra sao? Sự chịu đựng vô giới hạn, đến độ người nước ngoài chắc không sao hiểu nổi.


 Chỉ còn một thứ rành rọt kỳ lạ, mà, bất cứ lúc nào ở trạm này lắng nghe cũng thấy, đêm hôm nghe càng thấy: tiếng đài phát thanh. Tiếng đài vốn từ đâu vọng về, tức là một cái gì không thật -- cái đó đã đành. Có điều cái thứ không thật ấy lại nhắc đi nhắc lại, đều đều thành nhịp điệu đáng sợ, trở thành thật hơn mọi cái có thật khác. Đêm nằm, người ta dí cả đài vào bên tai tôi, mà tôi không dám kêu và không có quyền kêu. Tất cả mọi người chung quanh đều sống như vậy, tôi không có quyền sống khác. Đáng lý mình cũng phải tập ăn, tập ngủ tập chơi bài, tập lì lợm và chuẩn bị chen vào đội ngũ chiến thắng, tôi tự nhủ. Nhưng lại biết ngay từng ấy việc mình không làm được việc nào cả.





15/7


Gọi là đánh nhau, nhưng có lẽ ở nước nào cũng thế, người ta cầm súng bắn nhau không mấy, mà nhiều nhất, dai dẳng nhất và kinh khủng nhất là những ngày sống gần như chui rúc trong rừng, bên suối, những ngày ôm gối nhìn trời mưa, những ngày chờ đợi.


... Rồi rất lâu nữa, tôi phải xoay vào để hiểu. Cái giá trị của đời sống dân tộc lúc này là ở sự chịu đựng. Trong vật vã chấp nhận, không quên làm dáng, ra oai nhỏ nhen lặt vặt với nhau, để rồi lùi ra xa để nhìn, vẫn thấy vĩ đại. Chắc nhiều người như tôi bắt đầu thấy chán sự vĩ đại kiểu đó, ước ao những sự vĩ đại khác - những sự vĩ đại về phát minh, về sáng tạo chẳng hạn.


Nhưng mà thích hay không thích, giờ đây, mỗi người cũng hoàn toàn chịu sự chi phối của đặc tính cộng đồng, cũng triền miên trong sự chịu đựng và chấp nhận.


... Đêm qua, gần sáng thì trời mưa. Những người dân công ốm đau nằm võng tận ngoài rừng, lại lục tục chạy vào trú tạm ở các lán, các cô gái vừa ấm nồng vừa ướt át đó, run rẩy và lạnh buốt đi trong gió, co ro ngồi nằm nhờ. Một cô, lúc sắp sửa lại đồ đạc ba lô, ngán ngẩm thốt lên:


- Thôi, đã gọi chiến tranh là phải thế.


 Đúng quá còn gì! Nhưng chung quanh chỉ im lặng đồng tình chứ không ai nói tiếp, vì còn biết nói gì nữa. Không khí chung càng như chết lặng đi.


Có những câu nói kiểu ấy. Chúng vốn sâu sắc, nhưng vì nhắc lại nhiều lần, nên lại là một sự vô nghĩa. Ví dụ như hôm qua, nghe một cậu bảo “Nếu những  thứ đồ đạc của cải chiến tranh này chế ra cho mình dùng, thì đời sống mình nâng cao biết mấy”. Ừ, người nói câu ấy, vừa là thông minh thật, mà cũng là lơ mơ lạc lõng thật.


... Từ chuyện dân công, muốn nói nhiều hơn đến những người đàn bà trong chiến tranh. Có lúc nghĩ đáng ra đàn bà không nên có mặt ở nơi hòn tên mũi đạn như thế này. Nhưng rồi mọi xó rừng đâu cũng có họ. Mà nghĩ cho cùng,  không có đàn bà thì làm sao hiểu được cái tình cảnh mà chúng ta lâm vào, hiểu được cái phần nữ tính với nghĩa chấp nhận, thụ động -- nó là số phận chung của mọi người chúng ta trong cuộc chiến hôm nay.


.... Người ta nói rằng tất cả sẽ quen đi - trong chiến tranh. Nhưng tôi đã hỏi rất nhiều người rồi. Không ai quen được. Không ai thích được. Một bác sĩ bảo không thể nào thích y học quân sự hơn y học nhân dân... Và dân tộc nào mà thích được chiến tranh?!


Một cộng đồng đau khổ đến nỗi bất cứ sự thật nào nói ra cũng làm người khác đau lòng, người nọ sợ cho người kia, bởi trước hết sợ cho mình.


Một cộng đồng người nào cũng cô đơn, nhưng trước mặt nhau lại phải luôn luôn tỏ ra hồ hởi, lạc quan (cũng như miệng nói lo cho việc chung, nhưng người nào cũng phải lo cho việc của riêng mình).


 Một dân tộc như vậy, là một sản phẩm của chiến tranh.





... Bị chiến tranh đẩy tới, xâm nhập làm biến dạng cả mày mặt lẫn hồn cốt, -- rồi người ta sẽ sống trong thời bình thế nào, ví dụ như liệu có thể làm lại  cuộc sống bình thường sống theo những lề luật của thời bình, xây nhà xây cửa dạy con dạy cái, làm nên một nền văn nghệ của thời bình chẳng hạn? Nhiều lần tôi tự hỏi mà cũng nhiều lần không biết cách trả lời.





18/7


Nghe nói có thêm nhiều đơn vị vào tham chiến. Chiến trường bây giờ cả thảy đâu 6 sư đoàn, chưa kể những đơn vị phối thuộc. Mặt đất Quảng Trị đã nát tương ra vì những trận càn, những trận đánh nhau từ mấy năm trước, nay lại đang phải tự chứng tỏ một khả năng chịu đựng mới. Bao nhiêu là bom đạn dội xuống trên những ngả đường, dọc những con sông, con suối. Vậy mà bộ đội vẫn cứ ùn ùn kéo tới. Những người lính như một thứ nấm đất, một thứ con của đất, đội đất đội cỏ mà lên.


Những dòng người như có khả năng của những con sông, tự cuốn chảy rồi lại tự đầy lên, những vết thương của nó, đối với cái chỗ bị thương ấy, là dằng xé, vật vã, nhưng đối với toàn thể là một điều bé nhỏ không đáng kể - rồi tất cả sẽ vượt qua.


... Cuộc chiến tranh đã bùng nổ đến cái mức cao nhất của nó. Nhịp điệu nhìn bề ngoài thì còn chậm. Chưa thấy có những trận đánh lớn. Kẻ địch đang muốn ta đánh theo cách của chúng. Phi pháo nhiều quá. Lúc nào cũng nghe anh em kêu “Nếu không có máy bay thì...”


 Người của chúng ta rất đông, vào rất nhiều, nhưng còn gạo và đạn?


Một chuyến xe đi ra Hà Nội rồi lại vào, khi chưa có chiến tranh phá hoại đi mất 5-7 ngày, hiện nay đi mất 1,5 - 2 tháng.


 Một con số khác. Thương binh ra những ngày thường khoảng 120 người!


Có lẽ tôi quá nhạy bén với những khó khăn. Tôi hay thương cảm mà bi quan. Nhưng không hiểu sao, số phận không cho tôi được chứng kiến những phút hào hứng như khi người chiến sĩ vào thành phố giải phóng, những lớp quân đi tràn qua... Tôi chỉ toàn gặp những khung cảnh bi đát. Lính oằn mình ra chịu bom. Những người dân nhốn nháo chạy loạn. Ôi, cái đất nước của chinh chiến này, nét mặt đàn bà con trẻ người nào cũng xiêu vẹo cả đi. Sao tôi lại gặp toàn những cảnh đó? Không biết nay mai mọi chuyện thế nào. Nhưng bây giờ, tôi sợ cho cái ý nghĩ sau đây của mình. Cố gắng của cả nước, sau 4 năm dồn sức lại, lại không đạt đến cái điều mà tự mình đặt ra. Lại nửa chừng dang dở và dập nát như năm 1968? Đó sẽ là điều mà không ai muốn. Và tất cả sẽ cùng cúi mặt xuống, nói thật khẽ với nhau, hoặc không nói ra, nhưng đều tự hiểu ngầm, chắc cái điều chờ đợi không bao giờ đến. Chắc là lúc nào đó, nhiều người đã ngẩn người ra vì không từ bỏ nổi một ý nghĩ như vậy. Nhưng “đâm lao phải theo lao”. Không có cách nào khác. Không chừng sau khi bị kìm nén quá lâu, tới lúc không giữ nổi, chúng ta sẽ khóc oà lên, mình tự thương mình. Số phận dân tộc mình cay đắng là như vậy (cũng như số phận dân tộc Trung Hoa hiện nay là phải tự lột xác như vậy!). Ít ra, đó cũng là tâm trạng của một lớp trí thức, tự mình đóng góp sức lực thì không bao nhiêu, nhưng quả tim quá nhạy.





19/7


Trạm nằm ngay trên đường hành quân. Trong một ngày nghe dội về bao nhiêu diễn biến của chiến trường. Buổi trưa, những cậu lính trẻ cậu nào cậu ấy đen, béo lẳn cởi trần, hoặc chỉ mặc quần đùi áo lót, vác gạo qua, ngồi nghỉ, đấu hót léo nhéo một lúc. Cái nhìn lúc nào cũng như một sự thách thức, đấy, chúng tôi chỉ có thế.


Buổi chiều, lại một tốp lính hành quân qua. Cả ba lô đồ đạc. Giờ tôi mới hiểu tại sao cái ba lô của họ không lúc lắc, mà đằm mà áp vào vai. Nó đã nặng quá. Và nhìn tất cả những thứ chất trên ba lô, tôi không khỏi ngạc nhiên. Họ đã để bao nhiêu công phu, để làm việc đó. Lính mới cả, nhưng trông cậu nào chằng buộc cũng cẩn thận đến hết mức. Không thể khác được. Chỉ một ngày đi, người ta đã phải học được cách buộc ba lô và cách buộc nào cũng hợp lý, dù rằng không có cách nào làm nhẹ cho người ta được một chút.


Những sinh viên năm thứ nhất, năm thứ hai cả đây. Tốp lính chiều nay đều khoẻ mập. Một cậu ngồi cạnh mình, cái cổ và bộ ngực nở nang vẩn lên một tí ghét, nhẫy mồ hôi. Chân tay những ngón rất to mẩn một vài mụn ghẻ, và vì thế trông lại càng khoẻ. Cậu ta học năm thứ nhất thuỷ sản, nên vẻ còn ngờ nghệch. Cậu ta chỉ cho mình một loạt đồng đội những giáo viên cấp 3, những kỹ sư, người yếu hơn, và nghe chừng khôn ngoan hơn. Chỉ mới chặng nghỉ đầu tiên đã phải cho bớt các thứ dép nhựa tha từ Hà Nội vào. Một cậu chắc do phân công, mang theo một cái cáng lênh kênh. Lúc đến, trước hết, vứt đánh phịch cái cáng xuống, nghiêng ba lô sang hai bên, lắc lắc một hồi, mới ngả được ba lô ra. Suốt đợt nghỉ, cậu ta chỉ tìm cách đi gửi những người khác mấy cái bao gạo của mình. Đỡ tao tí. Cái cáng tao mang kềnh kệch thế này... Cho đến lúc đi, cậu ta cũng gửi không hết. Làm sao mà gửi nổi những của nặng nợ như vậy.





Ai đó kể:


Lính năm nay trẻ quá, nghe thấy có B52 là quấn lại, thủ trưởng ơi làm sao bây giờ. Một ông thủ trưởng phải lấy gậy quất anh em về hầm. Dập cả một cái gậy.


 Lính kể giá ai cũng như thủ trưởng của em, thì mình thắng từ lâu rồi. Đằng này các bạn ây chả ai tiến lên, em nhìn lại không thấy bạn nào cả.


Nghe cấp trên dặn để địch tới 15m mới bắn. Nhưng một cậu để gần tới, gần tới thì ngoảnh lại nhưng mà có người, không bắn được thủ trưởng ạ --“người” đây chính là địch.


 Lắm thằng nó (địch) còn bé hơn em cơ, thủ trưởng ạ. Chúng nó rát rát là...





Từ một cuốn sách nhặt được:


Âu châu không còn tư tưởng bằng những từ ngữ tự do nữa, nhưng bằng những từ ngữ định mệnh. Khi tôi bảo rằng mỗi người đều cảm thấy mạnh mẽ bàn tay của định mệnh là tôi có ý nói rằng họ cảm thấy - ít nhất là những lúc nào đó, và hầu như bao giờ cũng cảm thấy một cách thê thảm - rằng vũ trụ chẳng liên quan gì tới nó cả. Và khi con người hành động thì mới có cơ khống chế được định mệnh ( A. Malraux).

Monday, July 23, 2012

Quảng Trị mùa hè 1972 (II)



Nhật ký chiến tranh






16/6


Tôi ngồi dưới một bóng tre, gió thổi đến không thể ngủ được. Dưới chân tre là con suối. Những con bò đủng đỉnh xuống uống nước, một lũ trẻ lấy sỏi dưới lòng suối ném vào lũ bò, đuổi chúng lên. Chỉ nghe lũ trẻ nói chuyện, mới nhớ ra rằng chúng là người Quảng Trị. Một ông cụ mặc cái áo rằn ri, nhưng lại đội mũ giải phóng - ở đây, người ta là thế, mỗi người đều mang trong mình hình ảnh của đất nước.








Một người bạn tôi nói bọn trẻ con này cũng mang chất Việt Nam hóa.Tôi nghĩ hình như không phải là như thế. Nhưng nên nói thế nào thì tôi không biết.


Mấy hôm nay và mấy hôm tới chúng tôi đi lại trên đất Quảng Trị. Có mặt trên những con đường miền Tây, cả những nơi chưa có ai đặt chân tới. Một người lính bảo cứ theo bản đồ mà đi. Vừa đi vừa mở đường. Đến cả quê hương tôi, có lẽ tôi cũng không phải nghiên cứu phải thuộc như đất Quảng Trị đây, nhưng vẫn là phải đi thôi -- cậu lính đó kết luận.


Vượt quá lên những ngọn đồi miền Tây, đã có thể nhìn thấy núi. Dưới chân chúng tôi là con đường mòn. Hai bên đường, những vạt cỏ gianh lì lợm và cần mẫn sống. Cúi thấp xuống, cả vạt đồi, như oằn lưng chịu đựng, những ngọn đồi như chết đi không còn sức sống nữa, nhưng từng cây vẫn rạt rào lên trong gió, rướn lên, quẫy lên, như không chịu lẫn đi mòn mỏi trong rừng.


Giữa một vùng đồi cứ thấy rơi rụng hai bên đường những mẩu giấy lương khô lẫn đạn. Bộ đội đã đi qua đây. Còn bên ngoài là đường tăng, bất cứ ngọn đồi nào cũng là đường tăng. Hai bên đã cùng quần nhau trên mảnh đất này... Tôi đang đọc bản tiếng Nga cuốn Ngài đại sứ trong đó một nhân vật phụ nữ Mỹ cũng biết rằng mấy chục năm nay, Tổ quốc VN của tôi liên miên chiến tranh - những thế hệ liên tiếp đã kế tiếp nhau cầm súng. Không thể chỉ nói những người phụ nữ mới chịu đựng cảnh đau khổ này như những nhà văn tình cảm chủ nghĩa thường nói. Những người đàn ông chịu đựng những điều này đầu tiên, nặng nề nhất. Kinh khủng nhất là cái ý tưởng chiến tranh quá độc ác, nó biến tốt thành xấu, và người lương thiện cũng có thể gây tội ác. Tôi nghĩ đến những người Đức, người Trung Quốc - dẫu sao đánh nhau một hồi nay họ cũng đã được nghỉ. Chỉ mình là còn đánh nhau. Phương Tây hay nói đến "bí mật châu Á"  có lẽ để chỉ có một cái gì đó khủng khiếp ở đây chăng. Chỉ biết đó là một số phận. Những lãnh tụ của đôi bên đều không hình dung hết mọi chuyện. Nhưng rút cục, như tác giả Ngài đại sứ nói,  sự giết người, cái tiếng đó ở đây đã phổ biến quá.





Buổi chiều, lũ trẻ ra suối tắm, chơi trò hai bên đánh nhau. Bọn phản động, tấn công. Không cho chúng nó xâm lược. Quyết tâm chống Mỹ cứu nước. Chống cộng cứu nước - hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi.


Những chữ nghĩa chính trị vào đời với chúng nó, ngây ngô lạc lõng mà lại tự nhiên, và cứ thế, cứ thế rất có thể, chúng nó chia làm hai phe đánh nhau tiếp tục cho tới khi rất nhiều đứa chết.


Nhưng như thế thì bi quan quá! Có lẽ không nên nghĩ thế. Nhớ một hôm, bên một dòng suối, một đồng chí nói:


- Đời con mình mà còn đánh nhau, thì đất nước này tan hoang chứ còn gì nữa?





... Nhưng mà thôi, đừng nói đến những chuyện trên, đến những người chết và phần chết trong tâm hồn những người sống - hãy nói đến một cái gì gần gặn hơn, những người đang quằn quại vì bom đạn.








Người lính là gì? Những mẩu cao su dưới đất cũng nhặt. Nhưng có khi cả quần, cả áo, cả nửa cái khăn mặt cũng vứt. Những người lính miền bắc vào một thành phố miền nam, dí mũi vào mọi thứ, chả hiểu cái gì, cuối cùng đành tặc lưỡi mình có cần gì mà phải hiểu.


 Cứ thế, những người lính sống vạ vật và tha thẩn khắp rừng núi, khắp những làng xóm và phố xá đang tanh bành. Nhà cửa hoang vắng. Tất cả lộn nhào cả lên, người ta vứt ngổn ngang ni lông, giấy, đạn ra rừng ra suối rồi người ta rẽ lối mà đi.


Một mùa hè Quảng Trị. Mặt đất đang bị mặt trời thiêu cháy, hay là con người tự hủy diệt đang tự dày vò tự thiêu cháy.


Một anh bạn tả Quảng Trị: Thành phố bây giờ là phố xá của ruồi và của lính.


Ngay từ hồi mới vào, đã nghe nói đến những đàn chó lang thang khắp làng xóm bị tàn phá. Chó không có người nuôi tập họp nhau lại, đi tìm ăn, ăn lá, ăn cỏ, ăn thịt những con vật khác, và con vật tiêu biểu cho cuộc sống thanh bình như thế, biến thành con vật hoang dại, thành một đám quái vật, đám âm binh lang thang vô định. Con nào con nấy gầy rạc đi, nhưng săn chắc lại. Không có người chỉ huy, bất cần, bám vào cuộc sống xa lạ mà phải sống. Những con chó rúc đầu vào những con lợn đang trương phềnh lên, đến nỗi không thấy đầu chó đâu nữa.


Một ý nghĩ phản nhân đạo chăng - trong thời đại này, tất cả chúng tôi, những người lính đều là những con chó hoang?





 Khi tôi ngồi viết những dòng này, những người lính vận tải qua sông Ba  Lòng, một thứ lính thổ phỉ, đang ngồi thái thịt bò. Đêm qua đến, đã nghe sau một hố bom, tiếng kêu cứu ái ngại, thương tâm, tiếng kêu những con bò lang thang. Sáng ra, thỉnh thoảng thấy những tiếng súng. Lính của một đơn vị nào đó bắn bỏ. Nhiều bò quá, đến nỗi lính kén cá chọn canh, bò già chê không ăn, chỉ ăn bò non. Một con bò bị bắn, vì lý do nào đó bị chê, loại ra. Trong nắng chiều, đám lính bảo nhau ra chặt mấy đùi mang về. Một người lính quần đùi, áo dài, đầu trọc, người cao ráo, chân đi dép dọ, trông như một ác ôn. Cậu ta mài dao, ra đưa vài nhát dao là được cái đùi. Moi tim bò, xoáy mũi con dao vào tim cho hết tiết đọng. Và chiều nay, tôi sẽ được ăn thịt bò ở đây, như tất cả những người khác.





... Rồi đời sống sẽ ra như thế nào?


Trên mặt đất Quảng Trị đây, nhìn xuống bất cứ mảnh đất nào dưới chân, cũng gặp những vật phẩm của người lính, của ta hay của địch. Và tôi cũng là một vật phẩm như vậy.


Cây ổi tôi đang mắc võng đây, quả đang xanh, cành bẻ bai ngang dọc. Bao giờ không biết, quả sẽ chín, nếu không bị đốn thì chúng sẽ nẫu ra mà chín, và ai sẽ ăn những quả ổi đó, --những người lính hay những người dân đầu tiên trở về làng cũ?!





Tôi đang đi theo một tốp cán bộ Tổng cục xuống theo dõi đơn vị,  chính thức gọi là đi công tác ở chiến trường.


Cách làm việc của tôi thường là vội vã, mò mẫm nhặt nhạnh tài liệu  chuyện trò với lính và cán bộ, cái gì cũng phải làm ngay. Vì sao ư? Trong thâm tâm lúc nào tôi cũng chỉ nghĩ tới chuyện quay về Hà Nội.


Nhưng cùng đi với tôi, có những người khác, như S.N. Anh ta la cà với lính, nói chuyện rất dông dài, kể chuyện hậu phương. Có đám chè lá, ăn uống, bàn bạc nào là anh ta len ngay vào. Anh ta hay hỏi người lính từ một khẩu súng, một trận đánh, cho đến các loại lương khô khác nhau, loại nào ăn ngon, loại nào ăn dở. Anh ta sục ăn, ăn các thứ lương khô rất giỏi, và ngủ, thế nào cũng ngủ được.


Ở khía cạnh ấy tôi rất ghét S.N. Nhưng rồi  chợt nghĩ biết đâu đó chẳng là cách nghĩ của người lính, cách sống của người lính. Phải như thế, người ta mới sống được.





17/6


Dừng lại ở ven sông Ba Lòng.


Xế trước cửa ngoài, là con đường tăng. Dân chạy qua hớt hải. Quần áo cụt chẽn, vẫn phải chạy trong lớp khói bụi mù. Chạy bổ ra phía con sông Ba Lòng phía trước đó, mà giá tỉnh táo biết ngay là một cách tự tử, nhưng người ta vẫn chỉ có hướng đó để chạy.


Qua sông Ba Lòng. Đi dọc con sông, những chuyến xe đổ, đâm cả xuống sông, xe vứt bên đường.


Những con bò chết, dòi từ trong bụng dòi ra, lúc nhúc, chỉ còn cái sừng, và cái đầu móp lại. Tiếng một người đuổi cái gì đó, chạy ra như đuổi kẻ trộm ven sông. Một đồng chí kể vừa phải đi đuổi bò đấy. Bò chạy hàng đàn, máy bay tưởng là người mình vượt sông, nó bắn, nó ném bom, thì cũng lại đến khổ.


... Một xóm ven đường, bà cụ già thấy bộ đội đi qua: Đừng hút thuốc nữa đi. Hút thế lửa đỏ còn gì ?





Khi những người dân phải sống như những người lính, thì quang cảnh trông thảm hại và đau xót.


Những người dân Long Hưng, Hải Phú, thôn lương là đất nhiều người theo cách mạng. Đã bị dồn lên ấp, bây giờ bỏ về làng, và họ, cả gia đình, sống trong hầm. Đồ đạc, thùng chậu, máng mỏng mỗi nơi vứt một ít. Nuôi lợn, quây hai mảnh tôn vòng cung lại - nuôi giữa vườn. Cho lợn ăn, thái mít non trên một cái túi cát bằng ni lông vứt bừa ra. Nơi đây, chỗ nào cũng thấy những túi cát bằng thứ ni lông hạng bét này, người ta xúc đất chặn hầm, làm hai cái trụ kê bàn, lính lấy làm túi giao liên, và người dân nhặt nhạnh, tháo cát ra, làm cái rổ.


Ông chồng 44-45 tuổi, vợ trông già hơn. Răng đen. Chồng mặc cái áo rằn ri... Nhưng ông toàn kể con đi giải phóng, em gái theo cách mạng. Theo bên nào thì theo một bên. Chả có lý lại cháu bắn o, anh em bắn chắc, ông bảo. (Tiếng Quảng Trị cũng giống tiếng Nghệ, bắn chắc là bắn nhau).


Hầm dựng toàn bằng đồ sắt Mỹ. Trước cửa hầm, hai túi hoa ny lông. Ni lông là cái đồ chỉ đẹp khi mới, mà sau đó, thì dơ dáy, keo bẩn trông phát kinh.





18-6


Vượt qua con đường số 1 do Mỹ mới làm, đường to, nhựa trộn đá rải kỹ - đạn pháo trúng đường không việc gì. Những chiếc xe bị phá tanh bành. Những khẩu súng. Những băng đạn (Lần đầu tiên tôi thấy những băng đạn dài như vậy, như một con rắn, nằm dài vắt ngang đường. Sau anh em bảo rắn cạp nong gì, đạn đại liên đấy).


Những cồn cát đi lún chân ở đất Hải Lăng. Một bãi tha ma trên cát. Những tấm bia bằng gỗ rất mới. Một bia đề Hai con bà Dông... Mộ ở đây rất to.


Một bà mẹ, người ngắn ngủn, lưng còm, cái áo trong ngắn tạm bợ, mặt  loắt choắt, lông mày ríu lại, một con mắt hỏng. Nụ cười khi gặp bộ đội vui, cởi mở, nhưng là nụ cười của người già, không còn hy vọng gì nữa. Nghe bà kể, chồng đi tập kết. Nhà ở với bà bây giờ chỉ còn một cô con gái. Chị là bí thư xã đoàn cũ, vừa đi ở tù về, làm ăn giúp mẹ, nhưng nghe còn đờ đẫn.


Làng thuộc loại khá, 60% theo cách mạng, 40% theo ngụy. Nhà cửa hẹp, nhà tôn, còn như kiểu Quảng Bình, chuồng lợn quây kề ngay bếp, buồng tắm. Phải trông tranh để lợp thêm nhà, đang thiếu muối. Bữa nọ, bảo mua muối tính độ 2 tháng, nay hơn 2 tháng rồi, vẫn chưa có muối tiếp thêm. Người con gái đau ốm, chờ đợi có thể được ra Hà Nội chữa bệnh. Mà liệu có ra được.


- Mấy anh ở đâu về?


- Ở trên núi xuống.


Quý bộ đội. Nghèo nhưng vẫn nấu cháo mời ăn.


Làng lập du kích, bộ đội địa phương. Người thanh niên cưỡi hon đa, đeo AK đi trong làng, mang giấy tờ công văn rất oai. Mấy người ngồi trong một nhà tôn cũ, súng để bên người, súng vứt la liệt dưới đất. Trông những thanh niên mình mặc áo ngụy, lại cầm súng Mỹ, sao người ta vẫn dễ trờn trợn. Có thể lúc nào đó, những người này sẽ bắn vào mình.


Một khu được địch xây dựng thành khu điển hình, toàn những biệt thự nhỏ vườn tược rào dậu chung quanh, nhà xây, trong nhà đồ lề nhiều, toàn đồ  sinh hoạt của dân thành thị.


Tri Bưu.Toàn gia đình cốt cán của chính quyền, nhà phó ty cảnh sát, nhà vợ tỉnh trưởng... Những nếp nhà sầm uất quây quần quanh nhà thờ. Hồi trước, khi Nguyễn Văn Thiệu về, không vào Quảng Trị mà vào Tri Bưu đây ngủ...





Nhưng mà nơi đây, lần đầu trong chuyến đi, tôi sống những cảm giác thanh bình của một gia đình yên ả. Những buổi chiều ngồi ăn cơm trong bóng mát căn nhà, những đêm trăng mà không muốn ngồi trong hầm, tôi chỉ muốn ra ngoài hiên, ngắm mãi vòm trời thật cao.





Đứng trước cảnh nhà cửa bị phá phách, tôi kinh sợ, cũng như đứng trước sự nghèo nàn vậy. Nữa đây là sự nghèo nàn cao độ về mặt tinh thần.


Phá phách có nghĩa là rối loạn, bẩn thỉu, tạm bợ, liều lĩnh, và cũng có nghĩa là bất cần, là đặt mình lên trên người khác. Cho mình một cái quyền tối thượng như chúa.





Tôi đang đi trên một vùng đất mà lúc nào trên trời cũng có tiếng máy bay, mây ùn ùn trên trời là mây từ một đám bom kéo lên, và thỉnh thoảng, lại một vệt cháy. Đạn tăng tốc, lửa tóe ra trên bầu trời.


Tôi đang đi trên một vùng đất mà mặt đất xáo lộn, nhìn đâu cũng có những bụi cây bị bom phạt, những hố bom, vùng đất mà nhà cửa tung tóe, những người dân và những người lính soi mói lục lọi trong những đống gỗ, đống giấy, đồng quần áo vụn, tất cả trộn lẫn với đất, với mạng nhện, bụi, trở nên bẩn thỉu và nhơm nhếch. Chỗ nào cũng thấy những đống rác, người ta sống giữa những đống rác và chỉ thu hẹp lại, sạch sẽ trong một khoảng nhất định.


 Chỗ nào cũng có thể gặp những thứ có thể giết người, những băng đạn vương vãi. Biết đâu chỗ nào còn bom bi, chỗ nào còn mìn. Và kia, biết đâu bữa trước, kia là nơi mà một người nào đó nằm xuống.








25/6 Đến C3  chốt tại ngôi nhà tỉnh trưởng QTrị


Vẻ đẹp của văn minh không đâu thấy rõ bằng thành phố, thì khi bị tàn phá, cũng không đâu bẩn thỉu bằng thành phố.


Một đống rác khổng lồ, người ta làm ra bao nhiêu, thì bây giờ phá đi bấy nhiêu, khi tất cả như vữa ra, như lộn xị. Và luôn luôn mình có cảm nghĩ mình không thể sạch được, vì mình đứng giữa một đống rác.


        Tất cả bị xáo cả lên, quấy lộn lung tung đến nỗi trông thấy bất cứ một vật gì, cũng có thể đặt câu hỏi -- lý do nào đưa nó đến đây không biết? Và lại có thể hình dung "số phận" của nó qua bàn tay những người lính -- một cậu nào đã lôi nó từ trong nhà ra, một cậu khác lôi tiếp, một cậu khác lôi tiếp. Và không biết bao nhiêu bàn chân đã thúc vào nó...


Trông thấy những vật dụng quân sự vung vãi đã thấy sợ. Nhưng trông thấy những vật dụng trong gia đình vứt ra lung tung, lại càng thấy khó chịu hơn nữa. Cái quạt, cái máy khâu, ít đồ thờ... Không có lý gì để vứt ra lung tung như thế.


 Đằng sau thành phố, chỉ còn một biểu hiện của đời sống hôm qua là dòng sông. Con sông Thạch Hãn quãng này hai bên bờ đều dựng cả lên. Sông vẫn chảy, nước vẫn trong - những xác người, những dây lưng, những súng ống vứt xuống lòng sông đã theo cát cuốn đi xa.


... Ước cho mọi điều có thể biến đổi nhanh như thế.





Một phòng tuyến mới hình thành. Sông Bến Hải thay bằng sông Mỹ Chánh. Khu vực Hải Lăng, thay thế cho khu vực Vĩnh Linh. Đêm đêm, lúc thấy pháo sáng rơi nơi đó, B52 thả nơi đó, quân hai bên thọc sang nhau. Và những người dân được bố trí chạy bớt cho khỏi vướng.


Nhưng mà hẳn không phải không còn gì giao lưu giữa hai bên bờ sông. Liệu có người dân nào vẫn trở đi trở lại? Cái mạch nối của non sông đất nước, cái đó ra sao?





Một cô gái ở trần gội đầu trên sông Thạch Hãn quãng gần nhà tỉnh trưởng mà đơn vị tôi đang ở. Con sông nước xanh, con sông nước lên gần kín bờ, không có những bãi cát rộng  như sông miền bắc mà nom như những kênh rạch Nam Bộ. Sông đầy đặn quá yêu thương quá. Sông và người như cái gì còn sót lại của đời sống thanh bình.





Tôi đi giữa những đống gạch vụn. Mấy người đàn ông dân ngoài thị xã đang đi nhặt từng mảnh tôn, một người ngẫu nhiên móc ra một cái lược. Có lẽ trong một thành phố ê hề của cải  thế này, người ta cũng không thể biết là mình cần cái gì, và cái gì thật quý hơn.


Thú thực thỉnh thoảng tôi cứ chờn chợn. Họ có thể nấp vào đâu đây, tung ra một vài tiếng nổ.





 Dù  là thuộc phe nào chăng nữa, thì vào một ngôi trường bị phá, người ta cũng phải cảm động. Những trang sách lất phất dưới chân. Những quyển sách giáo khoa như một thứ lương tâm của tuổi trẻ. Hẳn nhìn trang sách bị giẫm nát sân trường người ta không khỏi nhớ tới quyển sách giáo khoa của đời mình. Ai cũng từng có những quyển sách như vậy.





Khi ra thành phố, tất cả những người lính bị cuống lên trong một thứ việc khác, việc lắp pin mắc đèn để bàn, để ngủ. Phong thường đi trinh sát hay tìm địa điểm phòng bị, có thể bảo xục xạo đủ chỗ, nhưng rồi đi đâu thì cũng chỉ lục mang về ít bóng đèn. Nơi bàn đầu giường mấy ông trẻ hơn, hoa ni lông chất lên, và dăng đèn, như thể cây thông Noel. Và tất cả đều có cảm tưởng là rất militaire. Như thể những đơn vị cảnh vệ trong thành phố, những đội bảo vệ thủ trưởng cấp cao, nếu có thể nói như vậy.


Lại còn chữa xe đạp. Lại còn kiếm vải về may quần áo, và một cậu không hề biết may vá gì, cũng ngồi vào may. Và dần dần trở thành một tay thợ may chuyên môn may quần đùi cho bộ đội. Rất nhiều người trong đại đội mặc quần  giống nhau.


Hình như những người lính luôn luôn muốn làm một việc gì đó, nghịch ngợm một thứ gì đó. Nhưng người ta vẫn ngầm hiểu các công việc ấy các đồ vật ấy không để làm gì cả. Nếu mai phải đi, thì dứt ra đi ngay được.





28/6


Thành phố bị tàn phá, tất cả mọi thứ đều có thể bị lật tung ra, và người ta có lẽ đã lật tung những thứ mà không ở nơi nào người ta có quyền lật tung ra hết.  Những tủ sách bị đập vỡ, những cái đài vứt tung tóe, những chén tách bị xô đẩy. Tất cả trở nên nhào lộn chắp vá. Khi anh cầm bất cứ một vật gì lên, anh biết ngay rằng đáng lẽ nó không như thế này, và một bàn chân nào trước anh đã giày đạp lên nó. Đôi lúc tôi như sững sờ không tin những điều mắt mình nhìn thấy. Không bao giờ tôi tưởng tượng được là có những cảnh này. Những người khác lấy một quyển sách xong có thể vứt ngay đi. Tôi thì tôi phải cẩn thận xếp lại chỗ cũ. Và rất phiền lòng, khi phải đặt chân trên những quyển sách đó. Có lẽ  đã hơi tình cảm chủ nghĩa quá chăng. Đáng ra, là không nên như thế, cái thoáng tiếc xót đó. Nhưng không khác được.


Những người chiến sĩ, ở đây làm mọi việc rất thoải mái. Các anh lôi về chỗ ở những thứ rất vớ vẩn. Và rồi lại vứt ngay đi, hay cho những người khác.


Không ai tỏ ra thích thú trong việc đi lục lọi này cả. Hình như đã vào đây thì phải lục, phần thì thỏa chí tò mò, phần để kiếm ăn. Nhưng nhiều người, vẫn ao ước rằng giá kể được ở một chỗ khác thì tốt hơn.





Hôm nay, thành phố lại gió quá. Gió lay những mái tôn lúc nào cũng xôn xao. Gió thản nhiên thổi, mà cũng đủ làm các mái tôn rên rỉ mãi không thôi. Gió thổi cát phủ lên bàn ghế, sách vở. Gió lật tung các thứ giấy. Khi nghe ai đó kể gió có thể xô đổ cả một cái cột lớn thì tôi ngờ không chừng gió có thể lật tung tất cả mọi thứ trên đời, gió thổi cả cái nhà này và thổi tung mình đi lúc nào không biết.





Thành phố đã bẩn, lung tung đến nỗi không một sự phá phách nào của một người có thể làm cho nó bẩn thêm nữa.


Nhiều xác người chết. Hôm nọ một cậu Nghệ An đã bảo đừng ăn thịt chó. Chó ăn cả thịt người rồi.


 Vẫn có nhu cầu về trật tự. Mấy cậu bộ đội gác ở một góc đường vào thành phố. Rồi cũng chỉ để làm vì thôi. Anh em đi lại rất nhiều. Phải đẻ ra giấy cho phép đi lại. Nhưng một cậu đế luôn:


- Toàn giấy không hợp lệ thôi. Cứ theo an ninh phổ biến, thì chỉ còn giấy của chính ông ta là giấy hợp lệ.








Khi tôi viết những dòng này, tiếng víu oàng của những loạt pháo kích nghe rõ hơn hết. Một thằng liều như tôi, nhiều lúc vẫn phải tính chuyện xuống hầm. Địch đổ nghe gần đây, cách đây 8km. Suốt ngày ở cái C bộ chỗ Quảng Trị này, đại diện những đơn vị pháo, bộ binh đến trao đổi, phối thuộc. Tiếng chuông điện từ đủ các B dội về, nghe cập rập đến nơi rồi. Những ngày xả hơi của người lính như đã qua, bắt đầu căng thẳng. Hầm làm chưa xong là phải làm đêm luôn cho xong. Đi đâu một người cũng phải báo cáo. Người lính nào cũng phải bước vội. Hình như là đây mới thật là những phút thật sự của người lính, và người ta cảm thấy cần súng đạn hơn bao giờ hết. Mọi đối chiếu với luật thời bình đều sụp đổ.


Tuổi trẻ miền Nam và hiện tình đất nước ( lá thư của một sĩ quan SG)


Trong kiếp sống của một thằng con trai trong thời buổi này, phải tự tự lựa chọn lấy thái độ sống.


Một là bằng lòng nhập cuộc đem tài sức mình để ngăn chặn sự xâm lăng của đồng đô la Mỹ, chăn chặn sự bành trướng của thiểu số trưởng giả cắt cổ dân lành, ngăn chặn sự mù quáng hợp lý của Cộng sản. Chiến tranh sẽ không còn, khi một số điều căn bản nói trên không còn nữa.


Hai là tự xoá mình đi, khinh bỉ chính mình. khinh bỉ cuộc sống tạm bợ, lăn mình vào hiện sinh (hiểu theo nghĩa rẻ mạt nhất) tìm ảo tưởng hạnh phúc bằng những thú vui bất chợt, chốc lát, không do dự và thản nhiên để khỏi thất vọng. Một cô gái nào đó, một phòng trà nào kia, và ra đi bằng thái độ ngất ngư (để không còn nhớ gì nữa cả).


Tôi đã chọn cái thứ hai. Dễ lắm, nhưng em đừng tưởng rằng tôi bị động theo thời thế và ảnh hưởng theo thói quen.


Từng đêm, từng chai rượu, từng bao thuốc đốt cháy tâm can và đốt cháy cuộc đời. Tôi đã và sẽ thu mình vào bóng đêm để không còn thấy đời và thấy mình, không còn để ý đến những ý nghĩ mông lung và bi đát. Sự chiến đấu thật can trường và bi thảm. Làm sao để tránh đi ý nghĩ dằn vặt về hiện tình đất nước nhưng càng thu mình về cô đơn bao nhiêu, càng tự xoá mình bao nhiêu, hận thù và dằn vặt càng xâu xé lấy tôi bấy nhiêu.


Em là một lối thoát chót lành mạnh và trong sạch của tôi. Tôi hy vọng rằng, nhờ em, tôi sẽ quên tất cả, nghĩa là  chỉ nghĩ đến mình em, không do dự và can đảm.


Không may, cuộc sống đã đẩy tôi ra khỏi em, xoá lấy hình bóng em trong tôi bằng những chuyến đi không định hướng


Càng dấn thân vào cuộc sống (tuy bằng một thái độ hững hờ có lựa chọn trước) tôi vẫn...


(Thư bị mất đoạn cuối. Tôi đọc và nghĩ  giá kể mình thành một người viết về trí thức miền Nam thì cũng khối việc để làm. Phát hiện ra một miền Nam mới: -- một miền Nam dằn vặt và đau xót. Giành lấy vị trí một người đáng được tin cậy khi  phác họa tình hình đất nước)





Khẩu hiệu địch: Hậu phương tích cực yểm trợ tiền tuyến. Tiền tuyến tích cực diệt thù. Đọc lên, một  đồng chí cán bộ bảo nghe nó cũng như của ta.


Vào vùng công giáo, cán bộ coi thường còn anh em thì tò mò. Bộ đội vào lấy thánh giá làm bia, tập bắn. Thị uỷ phải bảo đấy là nguỵ mặc giả quần áo bộ đội. Đồng bào yêu cầu mang ra xử.


Dân bảo thằng nguỵ nó ăn rất nhiều, sao nó vẫn xanh xao, gầy ốm.Còn các anh, các anh ăn không có gì mà vẫn béo tốt. Chúng tôi thì cứ xanh xao đi ( họ chưa quen nằm hầm). Tử sĩ bộ đội đào, đồng bào giành lấy liệm. Định lập tổ sản xuất, sẵn sàng cấp máy. Đồng bào không nghe, đồng bào tự tổ chức lấy, rồi sau đó góp tiền mua máy.


2/7


Một làng 16 nữ, có 4 nam thanh niên. Một tay vợ nguỵ quyền bảo tôi không thấy Mỹ đâu. Giờ Mỹ về rồi, chỉ thấy các ông thôi, các ông ở đâu về.


Tôi không biết ông Hồ là ai. Thế bây giờ ông ấy chết thì còn lấy ai.


- Bộ đội đánh Thừa Thiên đi bầy tôi đỡ khổ.


- Mẹ không gọi con mẹ về?


- Ở xa, không gọi được. Với gọi cách chi?


- Sao không gọi hắn từ hồi trước.


- Cứ đánh đi, chết vài đứa, để đấy, đẻ đứa khác.


--Nó đánh chết nhiều người. Còn lo đánh cứu dân chứ.


- Thời bây giờ e chết cũng phải đánh thôi


- Giờ làm sao đánh cái thằng tàu chú ạ.





Ở xóm Thạch Hãn, phía nam thị xã, tôi vào một nhà. Một bà cụ nét mặt Quảng Trị, nanh ác và buồn phiền. Hai cụ ông, chắc anh em với nhau, người nào cũng đít móp, người thẳng đuỗn. Quần đùi, áo cộc, ngắn hững ngắn hờ. Cụ nào cũng để râu che kín miệng. Không những thế, tất cả cử chỉ chậm rãi, con người thiếu tinh anh, các cụ như một nhân vật của xứ sở xa lạ nào lạc sang vậy (bên cái lục cục xao động nhố nhăng của lớp trẻ, có cái tĩnh mịch của lớp người già. Ở xã hội lúc này, cả hai đều làm tôi phát sợ)


- Bộ đội có đá lửa cho xin mấy viên nào.


-…


- Bộ đội có muối không?


- Các cụ thiếu muối lắm ạ?


- Hỏi làm gì? Có muối cho không mà hỏi.


... Tôi rớt nước mắt khi nghĩ đến tình cảnh các cụ hiện nay. Nhà cửa đổ nát. Đồ đạc, lợn gà thất tán. Tôi cứ nghĩ với sức già như thế, không biết tất cả những thứ này đến lúc nào người ta có thể dọn dẹp xong?


Nhưng mà không thương được, không thương được những ai ngoài mình, tôi nghĩ lại. Gia đình nhà tôi ngoài kia cũng nghèo quá, cũng xiêu vẹo, và lúc nào cũng sẵn sàng xiêu vẹo thêm vì chiến tranh. Những cái nhà của gia đình tôi, họ hàng tôi, bất cứ cái nào cũng sẵn sàng đổ nát... Chính là đồng bào ta ở đâu bây giờ cũng vậy.


Những người dân chỉ đứng trước sự đổ nát cụ thể của từng gia đình. Những người chủ động chiến tranh như chúng ta còn đứng trước một sự đổ nát lớn hơn của cả đất nước nhất là  về mặt tinh thần: mọi điều sau đây sẽ bắt đầu lại như thế nào. -- cho mỗi một tuổi trẻ, cho mỗi một con người.