Monday, November 29, 2010

Nên hiểu thế nào về tiếng cười Thượng Đế

 Còn gì khổ hơn trong những cuộc trò chuyện tiếp xúc hàng ngày chúng ta luôn gặp phải những bộ mặt đưa đám. Ngược lại thật dễ chịu khi được sống bên cạnh những người vui vẻ. Thế nhưng chung quanh tiếng cười cũng có thể có dăm bảy cách hiểu...



Một chút hư vô giả tạo

Những cuộc tranh luận nho nhỏ là một bộ phận trong sinh hoạt tinh thần nói chung của con người hiện đại. Theo lẽ thông thường sau một hồi bàn cãi thể nào cũng có kẻ thua người được, người kém thế hơn nếu có đầu óc phục thiện hẳn phải nghiêm chỉnh nhìn nhận chỗ kém cỏi của mình. Đằng này ở ta những người thua cuộc có một lối thoát khỏi thế bí rất lạ. Là lật ngược câu chuyện, coi mọi việc chẳng qua là trò đùa và cười, cười lấy được. Tiếng cười ở đây là một thứ màn ngụy trang, một cách lấp liếm cốt quên mọi chuyện cho nhanh, thực chất là hành động của con đà điểu rúc đầu vào cánh, lảng tránh tất cả. Đôi khi lại thấy lối cười khẩy, ra cái điều đây chỉ là chuyện vặt ta không thèm chấp, cười để làm nhòe câu chuyện trong một màn sương hư vô. Nó tạm thời gỡ cho người thua cuộc đỡ mất thể diện, thậm chí còn làm cho anh ta có cái vẻ sang trọng hơn người, song thực chất cuối cùng thế nào thì cũng chẳng thoát khỏi mắt thiên hạ.



Có nên biến tất cả thành trò đùa?

Trong một đoạn trước, chúng tôi đã bàn qua tới cái cách của một số người, nói như Nguyễn Văn Vĩnh, là gì cũng cười. Những tiếng cười mà Nguyễn Văn Vĩnh miêu tả thường mang tính cách thụ động và là một lời thú nhận về sự bất lực mà người ta không giấu nổi khi không biết nên có thái độ thế nào trước đời sống.

Nhưng còn một loại gì cũng cười khác, người ta chủ động cười, muốn dùng tiếng cười hóa giải tất cả. Có thể lấy một chuyện đã quá xưa để liên hệ:

Các sử gia thời phong kiến ở ta xưa vốn tiết kiệm chữ nghĩa ít khi nói về tình cảm cá nhân của các nhân vật lịch sử, nhất là trong chuyện vui đùa. Vậy mà họ vẫn phải dành cho Lê Long Đĩnh (tức Lê ngọa triều) một ít dòng ngoại lệ. Theo cách trình bày của Khâm định Việt sử thông giám cương mục, thì ông vua chết trẻ này (sinh 985, mất 1009) có lẽ là vị vua hay cười nhất trong lịch sử Việt Nam. Nhiều hành động của vua được miêu tả chỉ có một chủ đích là mua vui: Sai một gã phường chèo chuyên lóc thịt người có tội rồi bảo rằng nó không quen chịu đau và "cười ha hả"; bắt tù binh trèo lên ngọn rồi ở dưới chặt cây, thấy cây đổ thì "cười khanh khách" (Chữ trong ngoặc là lấy nguyên văn từ cuốn sách nghiêm túc đã dẫn). Cái sự thèm cười của vua phát triển đến mức Khâm định Việt sử thông giám cương mục còn kể "mỗi khi coi chầu, thể nào nhà vua cũng sai những kẻ khôi hài đứng hầu ở hai bên, nếu có ai nói gì thì chúng liến láu nói theo mà cười ồ, để làm át và đánh lạc những tiếng tâu bày việc nước của các quan". Nếu những tiếng cười nói trên ít nhiều có mang những nét bệnh hoạn, thì cái cười cuối cùng kể ra ở đây phơi bày một quan niệm sống, một trình độ của văn hóa trị nước mà nhà vua lúc ấy là kẻ đại diện. Dù có thể là Lê Long Đĩnh không có ý thức, song suy cho cùng, qua cái việc cười giễu cả những chuyện nghiêm chỉnh như thế này, nhà vua dường như muốn bảo rằng không có cái gì trên đời là quan trọng, cái gì cũng có thể mang ra làm trò đùa, kể cả những việc liên quan đến vận mệnh của đất nước. Cái bệnh thích cười như thế không ai có thể thương được!



Liệu có thể xem là những kỳ tích?

Từ bao đời nay, nhu cầu về tiếng cười vẫn là một nhu cầu chính đáng. Bởi lẽ vậy mà văn học dân gian nước nào thường cũng có một bộ phận gọi chung là truyện cười, riêng ở nước ta người xưa còn sáng tạo nên những truyện Trạng với một nhân vật xuyên suốt lấy chuyện chọc ghẹo thiên hạ cho mọi người vui làm lẽ sống. Sở dĩ người xưa cười nhiều như vậy có lẽ là vì đời sống hàng ngày đã khổ quá, trước những tai họa tự nhiên và xã hội, con người ta nhiều phen bất lực không có cách nào đề kháng, phải lấy tiếng cười để giải tỏa mọi ẩn ức. Suy cho cùng, đó là chính là một thứ biến tướng của phép thắng lợi tinh thần không ai bảo ai song đã lây truyền từ đời nọ sang đời kia, và tuy không được định danh đàng hoàng, song ra đời còn sớm hơn sự áp dụng còn uyển chuyển hơn ngón võ của chú AQ bên nước Tàu mà ngày nay nhiều người vẫn ham đọc. Có điều, gần đây một số người có xu hướng tuyệt đối hóa những tiếng cười này và đề cao chúng như một chiến công trên phương diện tinh thần. Mấy năm nay, các loại sách ghi chép tiếng cười dân gian là một món kinh doanh có lãi và được xuất bản thường xuyên, ví dụ như truyện Trạng Lợn. Trong khi vẫn kể toàn chuyện ông Trạng ngẫu nhiên may mắn ra sao, nói liều gặp thời như thế nào thì một trong những cuốn sách loại này được đặt tên khá mĩ miều là Kỳ tích Trạng Lợn, với hàm ý biểu dương vô điều kiện ông Trạng dân gian. Thật chưa bao giờ hai chữ kỳ tích lại bị lạm dụng đến thế.

Tiếng cười đối lập hay tiếp tục sự suy nghĩ?

Khi ca ngợi tiếng cười, một số người gần đây trích dẫn lại câu tục ngữ Do Thái mà nhà văn Pháp gốc Séc M. Kundera dẫn ra nhân bàn về tiểu thuyết: Con người suy nghĩ còn Thượng đế thì cười (Milan Kundera Tiểu luận, Nguyên Ngọc dịch, NXB Văn học, 2001). Người ta cố ý gán cho câu tục ngữ tuyệt diệu ấy một nội dung thực dụng: cái cười là cao hơn sự suy nghĩ, mọi sự lao tâm khổ tứ đều vô bổ chẳng hề mang lại một lợi ích cụ thể, vậy tốt hơn hết là cười cho xong, cười thoát thân, cười để khỏi bận tâm trước chuyện đời rắc rối. Nhưng liệu có nên dừng lại ở một cách hiểu theo nghĩa đen như vậy? Theo tôi hiểu, suy nghĩ là cả một đặc ân mà Thượng đế dành riêng cho con người, trong khoa học nhân văn có một từ riêng mang tên homo sapiens để chỉ một giai đoạn phát triển quan trọng mà loài người đạt tới, kể từ đó nhân loại mới thực sự trưởng thành. Mặc dù không bao giờ đạt tới chân lý tuyệt đối, song nhờ liên tục suy nghĩ, con người vẫn ngày càng tiến tới trong sự nhận thức đời sống. Có điều trong khi sống với niềm tin "Tôi tư duy vậy tôi tồn tại", thỉnh thoảng họ cần một chút nghỉ ngơi vui vẻ trước khi đi tiếp và tiếng cười được đề cao là với nghĩa ấy, bản thân tiếng cười của Thượng đế nói ở đây cũng đầy chất trí tuệ. Nên chú ý thêm là trong kho từ vựng của Kundera có một từ mà thường người ta để nguyên không dịch, đó là kitsch. Theo ông, kitsch là cái nhu cầu tự nhìn mình trong tấm gương dối trá, nó cũng là thái độ của kẻ muốn tự làm vui bằng bất cứ giá nào mà Kundera không bao giờ chịu nổi. Thành thử nếu cho rằng câu tục ngữ trên được đưa ra như lời kêu gọi vứt bỏ tư tưởng và thay bằng tiếng cười dễ dãi rồi tự cho rằng như thế là mình đã đạt tới sự hiền minh của Thượng đế, thì đó không chỉ là đi ngược với trí tuệ dân gian mà còn đi ngược với chính Kundera nữa.

Thursday, November 18, 2010

Hồn thơ siêu thoát

Hàn Mặc Tử trong sự so sánh với

các thi sĩ đương thời Xuân Diệu,

Huy Cận, Chế Lan Viên và Nguyễn Bính



Những năm gần đây, báo chí đã đăng tải nhiều bài phê bình – nghiên cứu có giá trị về thơ Hàn Mặc Tử. Ở đây chúng tôi chỉ nói thêm về cái độc đáo của nhà thơ này.
Cần nói ngay là theo chúng tôi, phần tiêu biểu trong Hàn Mặc Tử không phải là những Tình quê, Mùa xuân chín, Đây thôn Vĩ Dạ; cái đó cũng là Hàn Mặc Tử, lại là thơ rất hay nữa, nhưng không phải tinh chất của tác giả, như những Bẽn lẽn, Trăng tự tử, Trăng vàng trăng ngọc, Hồn là ai, Đêm xuân cầu nguyện… nói chung là các bài trong Đau thương, Xuân như ý, Thượng thanh khí. Phần thơ tôi nói ở đây ít được tuyển chọn, không được mang cho học sinh học, không được ngâm véo von trên ti vi, trên đài, nhưng lại là những gì chỉ Hàn Mặc Tử mới viết nổi, nên cũng là phần gợi ra suy nghĩ và cần mang ra so sánh.
1. Hàn Mặc Tử và Xuân Diệu
Theo Hoài Thanh, đương thời Xuân Diệu là thi sĩ có bộ y phục tối tân hơn cả. Tác giả Thơ thơ được coi là mới nhất trong các nhà Thơ mới và chỉ những người còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu.
Đấy là những nhận xét chính xác với nghĩa: nếu như có một khuôn khổ thì Xuân Diệu đã đi đến hết khuôn khổ đó. Còn nếu so sánh với Hàn Mặc Tử thì có thể nghĩ khác. Hàn Mặc Tử vượt ra ngoài cái khuôn khổ thông thường, khiến người ta ngán luôn, không muốn nói tới nữa. Hàn Mặc Tử tự nhận: “Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ? Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật”. Ở Xuân Diệu, không có cái bí mật ấy để mà phản bội. Cùng lắm Xuân Diệu mới đắm say, chứ chưa mê man đến mất trí như nhà thơ bị trọng bệnh. Cảm giác về trăng trong Xuân Diệu kể cả khi đó là cái thứ “ linh lung bóng sáng bỗng rung mình” hoặc “trăng ngà lặng lẽ như buông tuyết” vẫn là loại cảm giác thông thường. Còn trăng trong Hàn Mặc Tử thì ma quái, thoắt thế này, thoắt thế khác. Hình như cả trong thơ phương đông lẫn phương tây, chưa ở đâu trăng lại được mô tả lẫn với máu huyết và lai láng, nhày nhụa như trong các bài thơ Hàn Mặc Tử làm khi đau ốm. Lại nữa, trăng ở đây ít nhiều thường có quan hệ với nhục cảm. Trăng khêu gợi thèm muốn. Giữa trăng và đối tượng để người ta chung chạ ân ái như là có sự hóa thân, đắp đổi. Trăng đồng lõa, xúi bẩy, trăng lại hứa hẹn là sẽ che chở thậm chí sẽ ban tặng thêm khoái cảm nếu cơn chung chạ đó xảy ra.
Có một thời, mỗi khi muốn bảo Xuân Diệu là quá tây, người ta lại dẫn ra bài Vội vàng với câu kết:
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!
Giả thử được xếp lẫn vào thơ Hàn Mặc Tử, câu thơ đó không gợi ra phản ứng gì đặc biệt. Nó còn tế nhị và lành mạnh quá, trong khi thơ Hàn Mặc Tử còn sống sượng và bệnh tật hơn nhiều.
Xuân Diệu mới cảm thấy cái lạnh buốt ở chung quanh. Hàn Mặc Tử nhập vào, trở thành chính cái lạnh đó.
Hồn thơ Xuân Diệu như một con diều bay lên thanh thoát, còn cái dây nối con diều đó với đời sống thơ mỏng manh nhưng bền chắc. Hãy nhớ lại Buồn trăng. Ở trên vừa mới Huy hoàng trăng rộng nguy nga gió, ở dưới đã Hoa bưởi thơm rồi, đêm đã khuya. Với câu kết ấy, ta cảm thấy sau khi ngang dọc khắp vòm trời, con diều – ở đây là tâm tưởng nhà thơ - lại hạ cánh an toàn xuống mặt đất, điều đó chứng tỏ Xuân Diệu rất tài, và cái việc ông làm thật đáng kính trọng. Còn tâm linh của Hàn Mặc Tử thì luôn luôn như một con diều đứt dây khi quay cuồng, lồng lộn, lúc ủ rũ tìm nơi giải thoát. Xuân Diệu chưa thật bao giờ rõ là mình như khi nhân danh người kĩ nữ mà nức nở: “Em sợ lắm giá băng tràn mọi nẻo”. Xin đừng có ai chờ đợi một tiếng kêu như thế ở Hàn Mặc Tử, bởi qua thơ người thi sĩ này, thấy toát lên cái ý: miễn là còn được sống, được tồn tại, giá lạnh không có gì đáng sợ. Vả lại trong bất cứ nỗi sợ nào, trong bất cứ mất mát nào cũng có niềm sung sướng kỳ lạ, không ai có thể chia sẻ. Đứng về lịch sử thơ ca mà xét thì Hàn Mặc Tử, trong những tìm tòi của mình, đã đi khá xa so với Xuân Diệu. Trong tác giả Thơ thơ, người ta cảm thấy ảnh hưởng của Baudelaire, dấu vết của de Noailles, và cả Rimbaud lẫn Verlaine (họ đều là những tác giả lớn của văn học Pháp cuối thế kỷ XIX). Chính Xuân Diệu cũng thú nhận là có ý thức đón nhận những ảnh hưởng đó. Còn Hàn Mặc Tử – không biết có phải là ngẫu nhiên chăng – phần nào đã đến gần với A.Breton, P.Eluard, L.Aragon. R.Desnos v.v… những người cùng đứng trong một phong trào thơ ở Pháp, có tên là siêu thực và xuất hiện khoảng trước sau đại chiến thế giới thứ nhất. Tuy nhiên, đấy là một phỏng đoán mà chưa phải một kết luận khoa học. Vấn đề quá lớn. Chúng tôi không có tham vọng giải quyết ở đây. Để  chứng minh Hàn Mặc Tử là độc đáo xin làm một vài sự so sánh tiếp.
2. Hàn Mặc Tử và Huy Cận
Qua Lửa thiêng và qua các tập thơ in sau 1945, Huy Cận thường được coi là có hồn thơ rộng mở ra đến vũ trụ. Giới thiệu thơ Việt Nam ra nước ngoài, Chế Lan Viên bảo Huy Cận vốn “thích các thế kỷ, thích các vòm trời”, còn Xuân Diệu thì từ 1940 đã cho là ở người bạn mình có cái “nghiêng tai kỳ diệu”.
Nhưng xem ra, thơ Huy Cận vẫn quá lành, con người trong thơ Huy Cận vẫn ở ngoài mà chưa đạt tới sự hòa nhập với vũ trụ, chưa bao giờ cả gan lang thang đi tìm bí mật của cái vũ trụ hoang tưởng đó như trong thơ Hàn Mặc Tử.
Huy Cận thường xuyên bắt gặp ở thiên nhiên một sự thông cảm. Mặc dù là một cái gì bát ngát xa lạ, song vũ trụ trong thơ Huy Cận khô ráo, trong sáng, thanh sạch, và thật dễ dàng chấp nhận con người. Đây là mấy câu thơ tiêu biểu:
Trời xanh ran lá biếc.
Biển chóa ngập buồm vàng
Gió thổi miền bất diệt
Mây tạnh đất hồng hoang.
Về phần mình, Hàn Mặc Tử không có điều kiện mà cũng không tính chuyện lấy thơ mình ra đối diện với cả không gian thời gian cao rộng. Hàn Mặc Tử chỉ lạ hóa ngay cái thiên nhiên sát kề bên mình. Nhưng đó là cái thiên nhiên ma quái, bí mật, thiên nhiên ướt át nhày nhụa lại nhiều bóng tối và những khoảng trống kỳ lạ, khiến người sống trong đó không bao giờ cảm thấy yên ổn. Cảm giác về sự hài hòa rất quen thuộc trong thơ Huy Cận. Bao trùm ở Lửa thiêng là cái tự bằng lòng , cái thanh thản thoải mái khi tiếp xúc với vũ trụ. Cảm giác ấy hết sức xa lạ với Hàn Mặc Tử. Luôn luôn ở Hàn Mặc Tử chỉ là xao xuyến bồn chồn, tưởng là mất mà lại thấy, tưởng là cầm nắm được mà lại trôi đi bay biến.
Thỉnh thoảng, có nói tới Thượng đế thì Huy Cận đã biết ngay rằng Thượng đế sẽ an ủi, vỗ về tâm hồn mình.
Hàn Mặc Tử không tính chuyện kéo Thượng đế về với cuộc sống phàm trần mà chơi vơi đuổi theo Thượng đế và trong cuộc truy đuổi đó, sẵn sàng thánh hóa.
3. Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên
Giữa hai nhà thơ này đã có bao nhiêu duyên nợ. Hơn thế nữa, người ta bảo họ là cùng trường phái với nhau (đây là nói trong phạm vi thơ Chế Lan Viên trước Cách mạng). Điều ấy có lý do của nó: Trong Điêu tàn, Chế Lan Viên cũng muốn tạo ra một thế giới phi hiện thực, như Hàn Mặc Tử đã sống nó trong Đau thương, Xuân như ý. Họ chỉ khác nhau ở con đường đi tới thế giới ấy. Trong khi Hàn Mặc Tử tìm thấy nó trong mê man mê sảng, thì Chế Lan Viên có được nó bằng cách đẩy lý trí của mình đến cùng. Nói một cách hình ảnh: một bên Hàn Mặc Tử đi vào cõi hư vô như một con chiên ngoan đạo, áo quần tơi tả mà đi, chân đất mà đi, vấp ngã lại đứng dậy bước thấp bước cao đi tiếp; còn bên kia là Chế Lan Viên khôn ngoan tỉnh táo, tránh từng vũng nước nhỏ, từng quãng dốc trơn, đi theo lớp lang rành mạch, bước bước nào chắc bước ấy, thậm chí có ngã cũng là biết trước sẽ ngã. Nếu Hàn Mặc Tử đã đi là không trở lại thì Chế Lan Viên đi có điều kiện, đi tới rồi lại trở về. Bóng đêm, cuộc sống ban đêm, là một mô típ từng thấy ở nhiều bài thơ của hai thi sĩ, nhưng với Hàn Mặc Tử, đêm trăng này tiếp đêm trăng khác cả cuộc đời là những đêm trăng tiếp nối, còn với Chế Lan Viên, sau ban đêm còn có lúc vừng ô tới, ban ngày hiện ra. Sự kinh dị ở Chế Lan Viên, do đó, chỉ là kinh dị một nửa.
Một câu hỏi rất tiêu biểu cho Chế Lan Viên trong Điêu tàn:
- Ai bảo giùm ta có ta không?
không bao giờ có thể có ở Hàn Mặc Tử. Lý do đơn giản là Chế Lan Viên coi việc vòng vèo trong mê lộ của tiềm thức là để vươn tới trí tuệ. Còn Hàn Mặc Tử thì dừng lại vĩnh viễn ở tiềm thức. Ở Hàn Mặc Tử chỉ có những triết lý ở dạng lơ lửng ngẫu nhiên và thường vẫn giữ được cái vẻ thơ riêng của nó.


4. Sau hết, xin có một chút liên hệ giữa thơ Nguyễn Bính và thơ Hàn Mặc Tử
Sở dĩ chúng tôi không so sánh vì hai nhà thơ này khác nhau quá.
Nhưng nói thơ họ đều là thơ hay (cả hai, đến hôm nay, đều được bạn đọc săn tìm), điều đó có lôgích không?
Câu trả lời: không có gì là không bình thường ở đây cả. Thơ có hai cực, cực phổ cập và cực siêu thoát. Ví dụ trong thơ Pháp hiện đại, Jacques Prévert như ca dao đồng dao, rất phổ cập, còn Saint John Perse rất siêu thoát, nghĩa là chỉ dành cho một số độc giả chọn lọc và cả hai đều là nhà thơ lớn. S.J.Perse còn được Nobel văn chương nữa. Trường hợp Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử cũng vậy. Lúc nào chúng ta cũng có thể ngâm ngợi vài câu thơ Nguyễn Bính lên và thấy rất gần gũi. Thơ Hàn Mặc Tử tồn tại kiểu khác: chỉ thỉnh thoảng ta mới tìm đến ông. Đó là những lúc lòng ta, trí ta, cách nghĩ về thế giới ta vượt ra khỏi khuôn khổ thông thường, ta thấy chung quanh quá nhàm chán và cảm thấy muốn được giải thoát. Những lúc ấy, có thể – tôi nói có thể chứ không phải tất yếu trong tất cả  mọi trường hợp – thơ Hàn Mặc Tử lại là những giải đáp đích đáng nhất, ông đền bù cho ta, có cảm tưởng ông chỉ ông với ta là đủ rồi. Cái sung sướng của người đọc thơ lúc này là sung sướng đến rợn người.
Nói  một cách tổng quát: Nguyễn Bính là nhà thơ rất người, rất hàng ngày. Còn Hàn Mặc Tử là nhà thơ của những lúc ta xuất thần, lúc ta thánh hóa. Những lúc ấy hiếm khi xảy ra nhưng vẫn là có.
Nếu không thể lấy thơ Nguyễn Bính để phủ nhận thơ Hàn Mặc Tử thì cũng tức là không thể nhân danh sự dễ hiểu để phủ nhận những cái ta còn chưa hiểu và chỉ một lúc nào đó mới hiểu, mới thích. Bài học rút ra ở đây; với người làm thơ bên cạnh hướng về sự phổ cập (như Nguyễn Bính) thì hướng về sự siêu thoát (như Hàn Mặc Tử) cũng là cả một hướng đi tốt đẹp. Nó không hứa hẹn sự thành công tức thời nhưng không phải vì thế mà nói là nó thiếu khả năng giúp các nhà thơ gia nhập vào thế giới của các giá trị vĩnh viễn.


Vài nét tiểu sử
Hàn Mặc Tử  (1912-1940), người đi qua thơ Việt Nam như một niềm kinh dị. Tác phẩm chính: Gái quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1942), trong đó có một phần lấy từ các tập thơ chưa in khi tác giả còn sống: Xuân như ý, Thơ điên v.v…


Đã in trong
 Cánh bướm và đóa hướng dương, 1999

Wednesday, November 17, 2010

Vẻ đẹp kỳ dị




Hàn Mặc Tử trong những liên hệ với nghệ thuật hiện đại


Trong bài thơ Thương ngô trúc chi ca số XIII, Nguyễn Du từng tả cây liễu “Tối điên cuồng xứ tối phong lưu” (dịch nôm: lúc càng điên càng đẹp, khiến người ta say mê).


Chỗ xứng đáng để đặt câu mang tinh thần hiện đại ấy có lẽ là một phòng tranh nào đó của các họa sĩ lớn thế kỷ XX.


Nhưng cũng sẽ rất thích hợp nếu người ta dùng nó, cái quan niệm mỹ học phóng túng đó, để soi sáng cho một hiện tượng kỳ lạ của thi ca Việt Nam: những tập thơ Gái quê, Đau thương, Xuân như ý …… của Hàn Mặc Tử.




Kỷ niệm bẩy mươi năm ngày mất HÀN MẶC TỬ
Năm nay nhiều ngày kỷ niệm quá.
Tháng bẩy vừa rồi, tôi chỉ nhớ Nguyễn Tuân, mà quên bẵng mất Thạch Lam ( hai ông cùng sinh 7-1910, nghĩa là Tới 7-2010 cùng tròn 100 năm sinh nhật) .
Tháng chạp này là 25 năm ngày mất Xuân Diệu. Tôi định làm một chuyên luận mới về ông. Nhưng trong lúc loay hoay với Xuân Diệu ,– mà chắc là  viết không xong trong năm nay — thì lại quên bẵng mất ngày 11-11 vừa qua là 70 năm ngày mất của Hàn Mặc Tử.
Muộn còn hơn không, dưới đây là hai bài cũ tôi viết về nhà thơ mà tôi cho là mới nhất trong các nhà Thơ mới. (Xuân Diệu là tiêu biểu cho Thơ mới, nhưng chính Hàn Mặc Tử mới là người Tây nhất , mới nhất , đi xa nhất)
Xin phép kể một kỷ niệm riêng: Trong khuôn khổ sự giáo dục ở nhà trường và không khí học thuật mà tôi lớn lên, cho tới 1975, tôi chưa biết gì về nhà thơ này. Nói nôm na  thì cái “gu” của tôi hồi ấy là khá cổ lỗ !  Nhờ có làm quen với một số anh em làm nghệ thuật khác, trong đó có họa sĩ — nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Quân , mà tôi mới bắt đầu biết hiểu và yêu những nghệ sĩ đi đầu trong  mọi tìm tòi theo tinh thần hiện đại.
Bởi thế khi bài Vẻ đẹp kỳ dị dưới đây được in trên tờ TT&VH vào dịp 80 năm ngày sinh của Hàn, tôi đã mang khoe với  Nguyễn Quân,  kèm theo mấy dòng ghi tặng ông, “người đã dạy tôi yêu thơ Hàn Mặc Tử”…





Không kể thơ cổ điển mà ngay thơ Việt Nam hiện đại cũng có cái giọng thiên về chừng mực. Với phong trào Thơ mới, tâm hồn dân tộc đã làm một cuộc bộc bạch khá cởi mở, ở đó, cùng lúc người ta bắt gặp cái say đắm nồng nàn của Xuân Diệu, những phút giây ngà ngà ngơ ngẩn ở Lưu Trọng Lư, những phen chuếnh choáng lảo đảo cố ý ở Vũ Hoàng Chương. Nhưng bằng ấy sự say sưa đều dừng lại khá xa trước ranh giới sự điên dại. Chỉ riêng có một mình Hàn Mặc Tử – do những may mắn ngẫu nhiên mà cũng là những bất hạnh trời đầy, như mọi người đều biết, xui khiến – đã phiêu lưu vào khu vực ấy, khu vực của những kích động tình cảm lên tới cùng cực, khu vực của những mê man quyến rũ gần như mất trí. Và trước mắt chúng ta là một giọng thơ độc đáo không chia sẻ âm hưởng với ai hết.



Trung thành với một tập quán đã thành truyền thống, ở Xuân Diệu, Huy Cận cũng như ở nhiều người khác, thi sĩ bao giờ cũng hiện ra như một người tinh tế, dịu dàng, chỉ sợ mỗi cử động mạnh của mình làm kinh động cả đất trời. “Tôi với người yêu qua nhè nhẹ – Im lìm không dám nói năng chi” (Trăng – X.D) hoặc “Chân bên chân hồn bên hồn yên lặng” (Đi giữa đường thơm – H.C). Đến Hàn Mặc Tử, thì cách nói, cách tiếp nhận đời sống khác hẳn, người làm thơ không có thì giờ nghĩ về mình nên cách bộc lộ có sỗ sàng, sống sượng thậm chí bệnh hoạn cũng không quản ngại. Người quen tìm thấy ở thơ một sự ru rín vuốt ve, một lời vỗ về thông cảm hẳn không thể chịu được khi thấy ở đây thơ rặt một giọng “Ái tình bắt đầu căng”, “Ô hay người ngọc biến ra hơi” và cả “Khi hương thơm kề lỗ miệng – khi tình mới chạm vào nhau”.Trong thơ Hàn Mặc Tử, gió heo may cũng rên xiết, thu héo nấc thành những tiếng khô, và những cây cối mảnh khảnh cũng run lên cầm cập. Đi ngược với quan niệm về sự tế nhị, trong thơ Hàn MặcTử, những từ ngữ có liên quan đến động tác của cái miệng luôn luôn được sử dụng, nhà thơ rất hay nói đến máu huyết.


Mây bay vào cuống họng


- Hơi nắng dịu… liếm cặp môi trần


- Tôi cắn lời thơ để máu trào


Sau khi bảo mình “thường giơ tay níu ngàn mây – đi lại lang thang trên ngọn cây”, sau khi thú nhận “tôi toan hớp cả váng trời – tôi toan hớp cả miếng cười trong khe”, nhà thơ tự hiểu:


Đêm nay ta lại phát cuồng


- Tôi điên tôi nói như người dại


Thật ra, một người điên không bao giờ biết mình điên, không bao giờ nói to lên rằng theo sự đánh giá thông thường, thì mình bị coi là đã hóa dại rồi. Chẳng qua, Hàn Mặc Tử buộc phải “gào lên, rú lên” như vậy mới nói hết ý mình. Trên đại thể, nhà thơ Việt Nam mất từ 1940 này có thể kí tên sau những phát biểu kì lạ sau đây của một người đương thời với chúng ta và chỉ mới mất đầu 1989 – họa sĩ Tây Ban Nha vĩ đại Salvador Dali.


Tôi chỉ khác những người điên ở chỗ tôi không điên.


- Mọi hành động sáng tạo đều là hành vi của chứng hoang tưởng tự đại. Nghệ sĩ chẳng khác gì thượng đế. Với động tác của bàn tay họ, họ sáng tạo ra các thiên thể và bản thân họ cũng trở nên một thiên thể. Hành động sáng tạo bao giờ cũng là một hành động mạo hiểm.


So với những thi sĩ đương thời, có một đóng góp của Hàn Mặc Tử mà không ai phủ nhận được là đóng góp vào việc mở rộng biên giới của thơ. Dù có xôn xao chộn rộn trong những tưởng tượng phong phú đến đâu thì những Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư… vẫn còn nặng nợ nhiều với cuộc sống trần tục. Không ai dám mê man đi trên con đường tới cái hư vô như Hàn Mặc Tử, đúng hơn không ai buộc phải làm vậy. Về phần mình, vốn nặng cảm giác tôn giáo lại được sự điên dại hỗ trợ, Hàn Mặc Tử sống với thế giới siêu hình một cách tự nhiên đến mức ông bảo “hư thực làm sao phân biệt nổi”. Tiếng thơ trong Đau thương, Xuân như ý đôi khi phải gọi là “lời năn nỉ của hư vô” mà chỉ Hàn Mặc Tử mới nghe được. Nhưng đây mới là một phía, phía thứ hai của biên giới cảm xúc cũng được Hàn Mặc Tử mở rộng: nhà thơ lạ hóa ngay chính mình. Chân tay thân thể da thịt con người, những thứ tưởng ai cũng thấy, những thứ không ai để ý vì chẳng có vẻ gì nên thơ, trong cơn mắt Hàn Mặc Tử, bỗng trở nên thiêng liêng bí mật. Chúng luôn luôn mời mọc kích động, chúng làm nhà thơ nôn nao cả lên, bỡ ngỡ như gặp được cái gì cả đời mới thấy. Đọc đi đọc lại những “Trăng đang nằm trên cỏ – Cỏ đưa trăng đến bờ ao – Trăng lại đẫm mình xuống nước – Trăng nước đều lặng nhìn nhau – Đôi ta bắt chước thì sao?”, những “Ống quần xo xắn lên đầu gối, – Da thịt, trời ơi! Trắng rợn mình”,những “Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm – Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”, người ta có thể bảo là sống sượng quá. Nhưng thành thực với mình một chút, phải nhận những câu thơ gợi nhục cảm đó chỉ phóng to lên những rung động mà ta vốn có, chẳng qua ta gạt ngay đi, thành ra ngỡ như chúng không tồn tại. Chính Hàn Mặc Tử cũng từng bị giam hãm trong vòng cương tỏa của thói quen, ông cũng là người bị mặc cảm đè nặng và nhiều câu thơ buột ra như là một sự dứt bỏ, tự giải phóng, nếu không làm sao cái cảm giác bẽn lẽn ngượng ngập, thèm khát sự trong trắng lại thường xuyên đi về trong thơ ông đến vậy.


Mới lớn lên trăng đã thẹn thò


- Em sợ lang quân em biết được


Nghi ngờ cho cái tiết trinh em


- Quên cả hổ ngươi cả thẹn thùng


Khi cho mỗi người đọc cảm thấy rằng sự e lệ ở mình cũng như ở mọi người chẳng qua là một sự e lệ rất tà tâm, quả thật Hàn Măc Tử đã tiếp cận với nhiều cách hiểu tinh vi về con người hiện đại.


Không có gì thực hơn, gần gặn hơn mà lại hư vô hơn với mỗi kiếp người là cái chết. S. Dali từng kể là ông không ngừng nghĩ đến nó, ông coi nó là bạn đường trung thành nhất của ông, nó ở ngay trong nội tâm ông. Rồi họa sĩ nói tiếp: “Cái chết vận hành trong tôi, không ngưng nghỉ, giống như cát chảy trong đồng hồ cát”. Ông hiểu rằng “có một sự hủy diệt tuần tự xảy ra trong đó” bởi vậy, với ông, cuộc sống “lại tỏ ra đẹp đẽ hơn bao giờ hết”. Tưởng như những lời thú nhận đó của Dali được viết để cắt nghĩa những câu thơ viết về cái chết đầy rẫy trong thơ Hàn Mặc Tử, nhất là ở những tập ông biết rằng ngày tận thế của mình không xa nữa. Có điều lạ nữa là cái chết hiện diện ngay cả trong những câu thơ Hàn Mặc Tử viết về vẻ đẹp. Ở vào ranh giới mỏng manh giữa sự sống và cái chết, vẻ đẹp trong thơ ông là một vẻ đẹp lạnh, ma quái nhưng lại hết sức quyến rũ, giống như sự bùng nổ mạnh mẽ của những gì sắp tàn lụi mà người ta biết là không sao cưỡng nổi. Ai đó đã than: “Phải vì tất cả đều đang đi đến cái chết, nên tất cả mới hiện lên rực rỡ đến thế?!”


Theo Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam 1932-1941 cho biết, ngay từ 1940, Xuân Diệu đã từ chối thẳng thừng Hàn Mặc Tử và bản thân Hoài Thanh cũng cảm thấy rằng chỉ nên nói về Hàn Mặc Tử một cách dè dặt. Sự từ chối đó, sự dè dặt đó là rất thành thực. Đặt trong hoàn cảnh thơ Việt Nam trước 1945, phải thừa nhận thơ Hàn Mặc Tử là một cái gì độc đáo vượt ra ngoài thói quen cảm nhận thông thường như tranh của những S.Dali, H. Miro, J. De Chirico… khi mới xuất hiện đã là không bình thường và ngay ở châu Âu cũng phải rất lâu mới được chấp nhận. Tuy nhiên, khoa nghiên cứu nghệ thuật hiện đại cũng đã chứng minh rằng những tìm tòi lúc đầu bị coi là phi lí, trừu tượng đó đã có mầm mống từ lâu trong tư duy của nhân loại. Ngay từ thời trung thế kỉ, có một họa sĩ Hà Lan là Jerome Bosch (khoảng 1450/ 1460–1516) đã vẽ nên những bức tranh rất gần với Dali, Miro. Nói như một nhà văn Liên Xô, ông V. Tendriakov thì trong Bosch “vẻ dịu dàng ở cạnh phút hấp hối, nét trinh bạch ôm ấp sự trụy lạc, cảm giác hứng khởi xen lẫn cơn tởm lợm, khiến người xem tranh của Bosch vừa sảng khoái vừa ớn lạnh”. Khi đã xem tranh của những Dali, Miro và lần về tới Bosch như thế, người ta không có lí do để nói rằng Hàn Mặc Tử cô đơn nữa.



Tuesday, November 16, 2010

Ghi chép hàng ngày ( 14)

25-10

MỘT LÝ DO KHIẾN GIAO THÔNG HỖN LOẠN

Ở Hà Nội trước năm 1954 và tính rộng ra từ 1975 về trước, đời sống khá bình lặng, phương tiện cơ giới như ô tô rất ít, mọi người có ý để đi cho đúng nền nếp.

Tuy không thành luật, nhưng có một điều, loại học sinh mới lớn như tôi bao giờ cũng được giáo dục để chôn chặt vào đầu:



Đó là, người đi xe đạp và đi bộ không những phải đi vào đường của mình để bảo đảm an toàn tính mạng -- mà cái chính là xe thô sơ phải nhường đường cho xe cơ giới.

Vì đó là những phương tiện dùng cho những người quan trọng hơn, cần phải được đi nhanh hơn.

Còn bây giờ, đường xá hỗn loạn chẳng những là vì ai cũng vội, ai cũng muốn làm ông tướng trên đường, mà một phần là vì chúng tôi, đám người dùng xe thô sơ, chẳng tìm ra lý do gì để phải thương phải nể những người có các phương tiện hơn hẳn chúng tôi cả.

Nếu đó không phải là những quan chức nhân danh việc công để vơ vét cho đầy túi tham, thì cũng là những người giàu lên do ăn cắp do trốn thuế, đang cuồng nhiệt trong việc truy tìm đồng tiền.

Tôi biết rằng nói thế là hàm hồ, là vơ đũa cả nắm, nhưng cuộc sống nhiều khi bất công và vô lý quá, khiến chúng tôi không thể mà cũng không muốn tìm tới một cách nghĩ đúng.

Cái sự không kính trọng được những người (có phương tiện giao thông ) tốt hơn, đã khiến cho một số dân thường chúng tôi, cả già lẫn trẻ, trong khi điều khiển cái phương tiện thô sơ của mình, nhiều khi sinh ra ba bửa làm liều trêu tức thiên hạ.

Một lần đến nơi đây, diễn viên điện ảnh Catherine Deneuve lập tức kêu lên cuộc sống Hà Nội giao thông ở Hà Nội sao mà hoang dã!



27-10

NHỮNG BIẾN THÁI TỪ HAI CÂU THƠ TẢN ĐÀ

Đạt tới tầm khái quát về dân mình, dạo này câu thơ sau đây của Tản Đà thường được nhiều người nhắc lại:

Dân hai lăm triệu ai người lớn

Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con

Đó là một trong những câu thơ loại “sấm truyền” từng được bọn tôi ở Hà Nội kháo nhau từ hồi đầu chống Mỹ, đúng hơn là trước sau 1970.

Bọn tôi nói ở đây là một vài anh em tôi quen, vừa tốt nghiệp đại học trong ngoài nước loại khá, mới được tuyển dụng về làm bên Ủy ban khoa học xã hội. Như anh Bằng Việt bên Viện Luật, anh Tạ Ngọc Liễn bên Viện Sử, anh Dương Tất Từ bên Viện Văn..

Một trong những băn khoăn của bọn tôi những năm đó là tính xem lúc này đất nước mình đang ở vào một tình thế như thế nào.

Nên chúng tôi hay đọc lại người xưa, tìm thấy nhận thức của mình trong suy nghĩ của người xưa.

Câu thơ của Tản Đà nói trên còn được đám bạn tôi -- tạm gọi là lớp trí thức trẻ lúc ấy -- đọc trệch đi theo nhiều kiểu.

Dân luật thì “ Nước bốn ngàn năm không có luật—Dân hai lăm triệu đã thừa người “.

Dân sử thì “ Nước bốn ngàn năm không có sử—Dân hai lăm triệu đã thừa người “.



Một câu thơ khác của Bằng Việt viết những năm ấy khó lòng nói là hay, song tôi rất thích mà thỉnh thoảng cứ nhẩm lại: Đánh Mỹ rồi em lại trẻ con.

Nó nói cái gì ở đây nhỉ, tôi cứ nhẩm lại để nhập tâm, dù đầu óc chưa hiểu và phải nói thật là đến bây giờ vẫn chưa hiểu.

Phải chăng đó là lúc chúng tôi dự cảm thấy rằng từ đây nước mình dân mình không bao giờ có sự phát triển hồn nhiên được nữa, và càng vậy thì lại càng muốn trở về với , đáng lẽ phải bắt đầu từ , cái tình trạng hồn nhiên ấy…



28-10

CUỘC SỐNG VÔ NGHĨA

Trên báo TT hôm nay, Lê Đức Dục kể là ở Hà Nội có một tốp bạn trẻ rất tài hoa, trí tuệ, nhưng chỉ tập hợp nhau để tán gẫu và tự xác định mình là thành viên “ Hội của những người sống không mục đích”.

Trên một mạng nào đó tôi quên tên, còn thấy kể một phóng viên nước ngoài từng đến SG hồi trước 1975, nay quay trở lại chợt nhận ra sao một số người hồi trước làm ăn đứng đắn nay cũng quay ra chơi bời hư hỏng. Gặng hỏi thì được người ta trả lời rằng nay chẳng thấy cuộc sống có ý nghĩa gì, nên quậy phá cho qua ngày.



PHÚ QUÝ GIẬT LÙI

Sau 5 năm tuyển sinh liên tục, Khoa sáng tác - Lý luận - Phê bình văn học, thuộc trường Đại học Văn hoá Hà Nội, cho biết sĩ số càng về sau càng thưa vắng, từ 27 (khoá 11), 19 (khoá 12) và khoá mới nhất là 12 sinh viên.



Lại nhớ có lần một người thống kê là Hà Nội thời hiện đại có mấy cái cầu qua sông Hồng thì càng về sau làm càng mất lâu thời gian và càng chóng hỏng.



31-10

GIÁO DỤC & ĐỒNG TIỀN

Một người lái xe ôm quen tôi đã kể là con anh ta đi học mỗi học kỳ ít nhất phải nộp cho các thầy bộ môn tối thiểu vài trăm, bất kể dốt giỏi thế nào, nếu không không có điểm.

Mạng Dân trí ghi lại lời than thở của một giáo viên Đau xót thay khi sinh viên gọi tiền “đi thầy” là: Tiền Vàng Mã

“Các thầy ơi! Các thầy có biết trò bây giờ gọi số tiền trong phong bì đó là gì không. Tôi cũng là một nhà giáo, nghe được tôi thấy cay đắng quá.”



Báo Tiền Phong thì có bài Đại học hạ sàn, sinh viên mất giá.

Theo Đào Duy Huân- ĐH Tài chính Marketting, mặc dù hơn 90% sinh viên tốt nghiệp ĐH, CĐ có việc làm nhưng tỷ lệ có việc làm đúng ngành nghề đào tạo còn rất khiêm tốn, chỉ khoảng 60%.

Ông Huân cho biết: Chi phí đào tạo một sinh viên một năm ở nước ta từ 6 - 10 triệu đồng, tương đương 300 đến 500 USD, trong khi ở các nước tiên tiến từ 10.000 đến 15.000 USD (gấp 30 lần).



Theo thống kê từ năm 1987 đến nay, tốc độ phát triển các trường ĐH, CĐ rất nhanh, năm 1987 có 101 trường thì năm 2010 là 440 trường. Số sinh viên cũng tăng từ 130.000 lên đến 1,7 triệu (tăng 13 lần), nhưng số giảng viên chỉ tăng 3 lần. Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ sau 22 năm chỉ tăng 0,07%, từ 10,09% năm 1987 lên 10,16% năm 2009. Nhiều trường mới lập ra thiếu cán bộ quản lý, đội ngũ giảng viên, người học, cơ sở vật chất



Với một tình hình thế này, thì đám phụ huynh chúng tôi còn biết đặt hy vọng gì ở lớp con cái đang lớn nữa?





LÀM THUÊ NGAY TRÊN NƯỚC MÌNH

Không phải chỉ công nghiệp nước ta giỏi hớt thứ bèo bọt của thiên hạ bằng “gia công” mà nông nghiệp ở ta cũng không thua kém. Một con số trong ngành chăn nuôi đã nói lên điều đó:

“90% thức ăn tinh và thô của bò đều là nhập khẩu”.

Nên báo PLTP mới có bài Trồng nhiều cỏ để giảm giá sữa.



Trong y tế : Đến 90% nguyên liệu làm thuốc cũng mua từ nước ngoài.



Con số trên mạng VN Economy - Doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng giá 180.000 đồng/ha (=10 bát phở)



2-11

Tuyên dương Nobel cho Mario Vargas Llosa : vì “sự phân tích các cấu trúc quyền lực và những mô tả sắc sảo về sự phản kháng, nổi loạn và thất bại của cá nhân”



Tại buổi giao lưu ở Huế 21-10, một tờ báo kể, Linda Lê ca ngợi tất cả những gì tương phản. Trong cuộc đời nhà văn, bà cho rằng điều đáng nói là sự di chuyển ( tôi đoán là di chuyển theo nghĩa bóng, tức khả năng thay đổi, khả năng làm khác mình – VTN), tính không chính thống. Với bà, văn học là điều luôn vượt qua mọi rào cản.



3-11

CÁI HIỆN ĐẠI & CÁI TRUNG CỔ

Con đường ven đê vùng tôi ở từ ngày được nâng cấp trải nhựa thì lại khiến tôi ngại đi. Đường càng tốt xe càng rồ máy phóng ào ào. Có nghĩa bản năng người đi đường càng được kích động, nên nó trở nên đáng sợ hơn.

Ở VN, cái hiện đại chỉ làm cho cái trung cổ sẵn có được dịp bộc lộ đầy đủ. Cái hiện đại chỉ đóng vai trò như một yếu tố phụ trợ. Chủ đạo vẫn là cái trung cổ. Một sự chuyển pha nửa vời, và vì thế, tình trạng lạc hậu càng trở nên đậm nét.



Điện thoại di động càng phổ biến thì càng cho thấy người mình nói nhiều tào lao với nhau là nhiều, các mối giao tiếp xã hội bùng nổ đến mức thừa thãi nhưng trống rỗng không có nội dung, ồn ào mà vẫn vắng lặng.



Không chỉ đi ô tô bằng tâm lý người đi xe đạp, người ta còn đang làm những ngôi nhà bê tông cốt sắt bằng tư duy của người làm nhà lá.

Trước tiên là đất nào cũng làm nhà được. Và làm theo lối gạn từng thước đất khiến cho các căn nhà như chềnh ềnh ra đường, để tố cáo chủ nó là con người không bỏ nổi tính tham vặt.

Con người giàu có hôm nay từ trước chưa có nhà mà cũng chưa biết thế nào là cuộc sống trong những ngôi nhà hiện đại cả.



4-11

THƯƠNG NHAU KHÔNG XONG

Lũ lụt quá nặng nên người ta tổ chức làm từ thiện tự phát. Nhưng ở một số xã vùng lũ lụt, chính quyền dứt khoát cự tuyệt vì người làm từ thiện đưa hàng thẳng cho dân mà không qua mình.



Lại nhớ hồi chống Mỹ, anh Hoàng Hưng đã khái quát xứ mình là một xã hội thích không được. Muốn học không được mà muốn bỏ học cũng không ai cho phép; muôn khôn không được muốn dại không được; muốn hư hỏng không được mà muốn tử tế cũng không được nốt.





7-11

NHỮNG LIÊN HỆ TỪ NƯỚC NGA

Viết về văn học Nga hôm nay, Sergei Filatov trên Văn học trong thời kỳ quá độ in trên Báo Văn, có đoạn ghi nhận:

Nhà phê bình trẻ Lidija Dovletkireeva ( Nga) khi phân tích nhiều cuốn sách viết về chiến tranh do các nhà văn Chechnja và Nga viết, đã rút ra kết luận rất đáng chú ý: "Chính những cuộc chiến tranh gần đây đã dẫn người đương thời đến ý niệm về sự cần thiết quý báu của hòa bình, đã hướng dẫn người ta trong việc lựa chọn sự ưu tiên không phải là chiến thắng một kẻ thù nào đó mà là khắc phục chiến tranh theo đúng nghĩa của nó vì cuộc sống sáng tạo thanh bình".

Bài phê bình có đoạn viết tiếp:

“ Những vấn đề của ngày hôm nay vốn gắn liền với quá khứ của chúng ta, với cuộc sống tinh thần của chúng ta và với những ưu thế giả tạo vốn ngăn cản việc tạo ra ở trong nước bầu không khí đạo đức lành mạnh.

Không một nước nào trên thế giới lại bị bao bọc bằng những huyền thoại đầy mâu thuẫn trong lịch sử như nước Nga và không một dân tộc nào trên thế giới lại được đánh giá một cách rất khác nhau như dân tộc Nga. Một trong những nguyên nhân, như N. Berdjaevđã nhận xét, là do tính phân cực của tính cách Nga mà trong đó những nét đối lập được kết hợp với nhau một cách kỳ lạ - lòng nhân hậu với tính tàn bạo, sự tinh tế của tâm hồn và chất thô lỗ, lòng yêu chuộng tự do với sự chuyên chế độc tài, sự tự ti với tính ngạo mạn dân tộc và chủ nghĩa Sôvanh.”

Từ Bản tin tham khảo của TTXVN, tôi đọc được một câu trong bài Nước Nga một xã hội không công dân trên Le monde diplomatique tháng 10-2010:

“Quái gở dưới nhiều khía cạnh, chế độ hiện nay điều khiển một đất nước tự do một cách ngược đời”.

Đó là một sự pha trộn giữa “hầu như là Liên Xô “ và “phương Tây giả hiệu”.

Một nhà sử học kết luận ”người ta cuối cùng cũng cảm thấy có được tự do ở một nước triệt để không tuân theo những tiêu chuẩn dân chủ”

Có lẽ đó là cái món tự do vô chính phủ mà tôi đã thoang thóang cảm thấy trong bài Một thứ tự do hoang dại ?

9-11

Sau gần một tháng nô nức đại lễ, nay bình tĩnh nhìn lại, người ta cho rằng đợt phim Thăng Long nghìn tuổi chỉ cho thấy giới điện ảnh tan nát không làm gì nên hồn.

Giới kiến trúc cũng đang hoàn toàn thất vọng về mình. Hình như có một số người chỉ còn có cách trông chờ vào sự có mặt của những ông lớn nước ngoài. Nhưng có người bác ngay, làm gì có ông lớn nào, toàn dân thất nghiệp bên họ sang kiếm ăn, có ai hiểu gì về mình đâu mà đòi có công trình lớn.



THỊ DÂN HUNG DỮ

Tình cờ đọc lại một đoạn ghi chép cũ

Báo Pháp Khoa học & đời sống viết về Tám hiểm họa môi sinh của thế kỷ XXI, Tia sáng số 9-98 dịch lại :

1/ Nhiệt độ tăng 2/ Đất thoái hóa 3/ Nước hết 4/ Hóa chất làm ô nhiễm 5/ Vùng biển bị khai thác quá mức 6/ Phá rừng gây nên dịch bệnh mới…

Sáu cái đó tôi đã nghe ở một vài chỗ khác.

Nhưng có hai khía cạnh mà tôi thấy mới, nó thuộc về hiểm họa xã hội 7/ Mất cân đối dân số, nam nhiều hơn nữ, khoảng cách giàu nghèo ngày càng rõ rệt và 8/Đô thị hỗn loạn.

Người ta giải thích thêm điểm cuối: nay là thời của những thị dân hung dữ; cuộc sống vô cùng hỗn độn bởi một số dân quá đông cùng sống trong một diện tích quá chật chội.

“Trong một lô cốt không có pháp luật, luật rừng sẽ thay thế luật pháp”



13-11

NHỮNG LIÊN HỆ TỪ NƯỚC TẦU

Báo mạng Thanh niên đưa tin TQ Thả người điên, bắt người tỉnh

Hôm nọ là một tin khác, ở tỉnh Tứ Xuyên, sau động đất, bởi thấy cuộc sống mong manh quá, người ta ly dị nhiều hơn.

Ông Trần Văn Đoàn người Việt dạy khoa chính trị ở Đại học Đài Loan nói, chính ra đám người trung lưu ở đại lục còn đang lo làm giầu. Từ bao đời nay họ đã quen với các triều đình chuyên chế nên nhu cầu dân chủ chẳng là bao.

Trong các ý kiến mà Lưu Á Châu phát biểu, tôi nhớ có cái ý, nhiều người trong hàng ngũ quan chức TQ hiện nay lấy chuyện lo cho con cái trong tương lai để càng điên cuồng tham nhũng.

Các học giả TQ – các giáo sư đại học -- nói về nước họ với nhiều băn khoăn. Họ cũng thường tỏ ra e ngại trước việc Trung Quốc không được các nước láng giềng ưa thích.

Tự nhiên tôi nhớ tới một câu của nhà văn nhà triết học Pháp Ch.Montesquieu ( các cụ ta hồi Đông Kinh nghĩa thục gọi là Mạnh đức tư cưu )

-“ Nếu tôi biêt được điều gì đó có ích cho tôi, nhưng hại cho gia đình tôi, tôi sẽ đuổi ngay chúng ra khỏi đầu.

-Nếu tôi biết được điều gì đó có ích cho gia đình tôi, nhưng lại không có ích cho tổ quốc tôi, tôi sẽ tìm cách quên nó đi.

-Nếu tôi biết được điều gì đó có ích cho Tổ quốc tôi, nhưng lại hại cho châu Âu và cho cả loài người, tôi sẽ coi đó là một tội ác.”

Câu này không có trong cuốn Tinh thần pháp luật mà trong một văn bản khác, nhưng được viết lại và đặt trước cửa khu lưu niệm Montesquieu. Anh Nguyễn Quang Thân khi đến thăm khu lưu niệm này đọc thấy thích quá nên ghi lại và trích in trên báo Nông thôn ngày nay 15-9 -06.

Không biết có nhà trí thức Trung Quốc nào thấy cũng cần phải chia sẻ ý tưởng này của Montesquieu?

Tuesday, November 9, 2010

Ở đâu cũng gặp tinh thần tự trào...

Những người Nga kỳ cục                                  

  Đầu thiên niên kỷ hai mươi mốt, một nhà xuất bản ở Anh cho in một xê-ri có tính cách đi vào tìm hiểu đặc tính các dân tộc, mà trước tiên là miêu tả những khuôn mẫu đã định hình trong lịch sử về dân tộc đó. Tủ sách mang cái tên khá khiêu khích Xenophobe`s  Guide  to... tạm dịch là Sách hướng dẫn cho những kẻ bài bác người nước ngoài   ( Anh, Pháp, Đức...). Để  các trang sách có thể được viết bằng giọng  khách quan, pha chút hài hước  mang cái nhìn tự chỉ trích từ bên trong, NXB đặt ra yêu cầu người nước nào tự viết về người nước ấy. Mùa hè 2001, cuốn Sách hướng dẫn cho những kẻ bài bác người Nga đã được in ra ở London và một NXB ở Moskva đã lập tức cho dịch cuốn sách này ra tiếng Nga. Dưới đây là mấy đoạn trích dịch ngắn từ báo Nga Vremya.


Sầu muộn,bi quan và nồng nhiệt bẩm sinh
   Tính cách dân tộc thường khi là một cái gì mâu thuẫn và người Nga cũng vậy, người Nga trung bình mang hình ảnh một kẻ sầu muộn, trong  khi chờ đợi những gì tốt đẹp thì đồng thời biết là tai vạ có thể đổ xuống đầu mình bất cứ lúc nào. Thật là chó cắn áo rách, anh ta lầu bầu khi gặp hoàn cảnh rủi ro, lặng lẽ thu dọn những gì còn  còn sót từ đống đổ nát và lại tính cho mình ván bài mới. Đấy cũng là dịp để người ta than thở rằng người Nga là  một dân tộc bất hạnh nhất trên đời, rằng ngày xưa họ sống không đến nỗi nào  và chẳng hiểu làm sao cứ ngày càng khốn khó hơn. Trong khi đó, vào những lúc mọi chuỵện vui vẻ, họ sẽ nói với bạn rằng họ biết mình là một trong những dân tộc tốt bụng mến khách nhất trên thế giới và điều này chính ra là rất  gần với sự thực.
   Tuy nhiên nếu  “đập vỡ “ một người Nga ra, luôn luôn ta sẽ bắt gặp một người mơ mộng. Chủ nghĩa lãng mạn Nga là một cái gì bền chắc lạ thường, để lâu không hỏng, thả xuống nước không chìm, chôn xuống đất không chết. Và cuộc sống càng nặng nề  thì trái tim lãng mạn ấy ở người ta càng đập mạnh. Họ rất thích tin ở những ai nói rằng có thể  có được thiên đường ngay trên mặt đất.


Chen vai thích cánh
   Khía cạnh tiêu biểu trong tính cách Nga là cảm giác có người có ta. Họ thích tụ  lại thành những đám đông : một chiếc xe buýt  ken chặt những người đối với họ luôn  có sức hấp dẫn, nhất định là họ phải chen lên bằng được, cốt có người đã đi là ta cứ thế mà đi theo, đông mấy cũng không ngại. Trong  hoạt động hàng ngày việc gì  họ chỉ cần có người khác cùng làm, còn  kết quả làm đến đâu không cần biết. Thật khó tưởng tượng một người Thuỵ Điển bệ vệ kiểu cách lại có thể nhập ngay vào một một dàn đồng ca gồm toàn những người anh ta không quen trên một toa xe hoả chật  ních người, còn người Nga nào cũng sẵn lòng làm vậy, chẳng cần có vôt-ca họ cũng tìm thấy hào hứng trong việc tạo ra một bầu không khí gắn bó, lời bài hát chẳng có ý nghĩa gì, thậm chí hát sai nhịp cũng được, điều quan trọng là cái dàn dồng ca ca này vang lên càng to càng sôi nổi càng tốt, ca rằng chúng ta đang ở bên nhau  và chẳng còn gì là đáng sợ nữa.


  Ba khái niệm cơ bản 
   Để hiểu cái nhìn người Nga đối với đời sống, cần lưu ý tới ba  khái niệm cơ bản là tâm hồn, nỗi buồn, số phận. Tâm hồn ở đây gắn với chính giáo. Nỗi buồn thì là sự hoà trộn của lãnh đạm, dày vò, sầu thảm và chán chường. Nó cũng có chút ý vị “ nỗi đau thế giới” của người Đức, song mang màu sắc cá nhân rõ hơn. Người Nga chấp nhận nỗi buồn này một cách tự nhiên,trong thâm tâm họ luôn luôn kêu lên như nhân vật Oneguin  trong vở opéra của Tchaikovski “Thật là nhục nhã ! Ôi nỗi buồn ! Ôi số phận thảm thương của ta !”. Còn chữ số phận ở đây có đủ các nghĩa của thiên mệnh, điềm dữ điềm lành, tiền kiếp tiền định, chạy trời không khỏi nắng, trời đã phạt mi bằng cách suốt đời buộc mi khóc than cho số phận của mình… Thành thử không ai ngạc nhiên khi thấy nhiều người Nga chuyển vai nhanh chóng, từ nhân vật trung tâm của một  lễ tiệc đèn sáng rực rỡ với những câu bông đùa hóm hỉnh, sang anh chàng chán đời ngồi nức nở trước cốc ruợu cạn và tự làm khổ mình bằng cách đập tay lên trán tự hỏi  ý nghĩa cuộc sống là gì mà không bao giờ trả lời được.


Dễ dãi thế nào cũng được; thích ăn sẵn và thụ động chờ đợi 
   Người Nga thích ngồi ước ao tự nhiên trở nên giàu có. Một trong những truyện cổ tích  phổ biến nhất ở Nga là câu chuyện  Êmélia và con cá măng thần kỳ, đại khái kể về một  anh chàng không thích động tay vào bất cứ việc gì mà lại có được tất cả mọi thứ. Rút lại  số phận  của ngừơi ta đi đằng nào, sự tốt xấu … tất cả chẳng có nghĩa lý gì hết, đạo lý cuối cùng là vậy.
   Tiếng Nga có một từ là khaliav có nghĩa là của trời cho, người ta dùng nó để gọi  một cái vé xem một vở hát mang tính chất chiêu đãi, một tập quảng cáo mỏng chả ai buồn xem, cho tới giấy mời tới dự bữa ăn tối với một thương gia có thể là cần cho bạn trong một việc gì đấy. Người Nga cho rằng cứ được mời là thích rồi,  ngoài ra mời cái gì mà chẳng được.
   Một biểu hiện khác của thụ động là sự chịu đựng, nghiến răng chấp nhận đau khổ, ngóng đợi một cuộc sống khá hơn dù không biết bao giờ nó tới. Khả năng chịu đựng của người Nga thật mênh mông không có giới hạn, người có quyền  muốn quát mắng họ, chửi bới họ thế nào cũng được. Cuối cùng nhà cầm quyền đành ra lệnh treo đầu cả bọn ngoài chợ :
  _  Ngày mai cho tất cả  lên đoạn đầu đài hết. Tám giờ có mặt ở đây. Có hỏi thêm gì không ?
-- Dạ có. Xin hỏi dây thừng đã có sẵn hay chúng tôi phải mang theo ?
     Họ dám chờ đợi và hy vọng ngay trong những điều kiện mà không một dân tộc nào chịu đựng nổi.


Giới trí thức
    Đây  không phải là khái niệm chỉ lớp người có học mà dân tộc nào cũng có: ở Nga, là một trí thức có nghĩa là phải hiểu được những người đang sống quanh, cùng đau khổ với họ, cùng mơ mộng và khi cần lên tiếng chống lại bất công cùng với họ. Cố nhiên trước đó anh phải là người đọc nhiều biết rộng được dạy dỗ dến nơi đến chốn, song chưa phải là đủ. Một nhà văn, một  nhạc sĩ, một giáo sư hay một viện sĩ không thể tự nhiên liệt mình vào hạng trí thức, làm thế chẳng khác gì tự anh phong thánh cho mình. Mà phải nhớ danh hiệu này do nhân dân ghi nhớ, công nhận. Các nhà trí thức thực thụ thường không giấu nổi sung sướng khoe với hàng xóm về vai trò của mình nhưng không quên nói thêm “mình là thứ đã bị sâu ăn”, tức chưa phải đã xứng đáng với danh hiệu cao quý ấy.


Đã in Tuổi trẻ chủ nhật,2002


Sunday, November 7, 2010

Thu hẹp những cấm kỵ trong tự nhận thức

   Công bằng mà nói, phải nhận biếng nhác, dối trá, tham lợi, cầu an, nịnh nọt, trơ tráo, rồi cái gì cũng cười, cái gì cũng cho là không quan trọng...là những thứ tính chung của loài người, nhìn vào dân nước nào cũng thấy.Mà cuốn sách tôi nói đây  lại chỉ là một cuốn sách mang tính cách phổ thông, có lẽ là đã đăng tải  làm nhiều kỳ trên một tờ  báo nào đó bằng Trung văn trước khi in sách. Bởi vậy sẽ là vô lý nếu đòi hỏi nó phải  có những  phát hiện ghê gớm liên quan đến những khuyết điểm của người Trung quốc (tên sách trong nguyên văn ). Đúng ra sự  phân tích ở đây chỉ  dừng lại ở chỗ làm cho người đọc  thấy những mặt yếu kém  trong dân tộc tính Trung Hoa và nói rõ chúng là phổ biến, là đang đầy rẫy trong cuộc sống chung quanh, từ đó giúp cho mọi người tỉnh táo nghiêm túc hơn trong việc nhìn mình cũng như đồng bào của mình.

      Tuy nhiên, theo tôi, NTQTT  vẫn nổi lên giữa vô số sách vở  đang được  dịch in và bày bán rộng rãi, ấy là vì nó đã giới thiệu được một xu thế suy nghĩ chi phối xã hội  và xem như một định hướng  của công tác nghiên cứu văn hoá ở Trung quốc hiện nay.
     Thứ nhất,  hãy nhìn vào những ví dụ, những bằng chứng mà các tác giả đưa ra để nói về từng thói xấu một. Nhiều chuyện trong lịch sử được nêu ra,chẳng hạn Khổng Tử cũng thèm làm quan, Khuất Nguyên cũng thèm được dùng, Lý Bạch Vương Duy cũng có lúc nhờ cậy người có quyền thế  để tiến thân. Rồi Dương Quýnh nhà thơ đời Đường tính hay tị nạnh, rồi Quách Mạt Nhược nhà thơ hiện đại kiêu ngạo khinh đời v..v.. Thoát khỏi khu vực cấm kỵ không ai dám đụng tới để cùng chung số phận với người bình thường, những nhân vật lớn lại trở nên những dẫn chứng sinh động cho việc hình dung ra những nét căn bản của quốc tính.
     Thứ hai, một điều quan trọng hơn là trong chừng mực nhất định, các tác tác giả bắt đầu tiến tới những khái quát  tầm cỡ, một loại khái quát mà những ai muốn truy cầu sự thật một cách nghiêm túc không thể lảng tránh. Trong phần hay nhất của NTQTT  là phần Nhân cách, người đọc được biết người Trung quốc  không chỉ xu thời, cầu an, sẵn sàng hối lộ thần thánh hoặc rúc đầu vào cánh cam chịu  trước cuộc đời bất công... mà còn  “coi nhẹ trí thức văn hoá thù hằn tri thức văn hoá “. Đây nữa, “giảo hoạt là sự kết tinh thông minh tài trí của người Trung quốc, khuyết điểm lớn nhất của nó là đối lập chủ nghĩa lý tưởng với chủ nghĩa hành động, nó cười giễu mọi cố gắng của nhân loại...”. Những kết luận như vậy vượt qua phạm vi một số ý kiến về một dân tộc cụ thể,  mà trở thành gợi ý để con người ở các dân tộc khác cũng phải suy nghĩ khi có nhu cầu tự nhận thức.


***
     Ở nước nào cũng vậy, người dân thường cũng nghĩ đủ điều không hay ho về bản thân mình, có điều nói giăng giăng với nhau ở ngoài đường để cười giễu mình thì chẳng sao, nhưng thấy ai đó tính chuyện viết vào sách thì chính họ lại e ngại, cho rằng công khai hoá vậy  là “vạch áo cho người xem lưng”  hoặc ghê gớm hơn  là “hạ nhục dân tộc”  và bảo nhau càng ít đả động tới chuyện này càng tốt.
      Thế nhưng do nhu cầu thúc đẩy xã hội phồn  vinh, rồi các dân tộc đều có trưởng thành dần trong việc nhìn nhận bản thân. Tôi không có tài liệu trong tay nhưng biết rằng ở nhiều nước loại sách người một nước tự cười mình tự nói ra cái xấu của mình một cách nghiêm túc, loại  đó ngày càng nhiều. Chẵng những thế, người ta còn sưu tầm nghiên cứu và cho in ra cả những loại sách đại loại người Anh dưới con mắt người Pháp, hoặc dân Pháp theo cách nhìn của dân Đức v..v.. Những lời gọi là nói xấu ấy chẳng làm ai nản lòng, ngược lại chỉ giúp cho các dân tộc đẩy tới cái công việc thú vị là khám phá bản thân. Đi xa hơn người ta còn khái quát : một dân tộc không thể nên người nếu không qua giai đoạn tự nhận thức một cách khoa học, khách quan trong đó có chấp nhận cả đau xót xấu hổ.


***
       Với Trung Hoa, một dân tộc gần gũi với chúng ta và xưa vẫn được các cụ ta gọi là đồng văn đồng chủng thì sao ? Người dân nơi đây thừa lòng tự hào về tài làm người của mình. Đất nước được xem là trung tâm của thế giới. Xã hội được xây dựng theo hình ảnh của thiên cung. Văn minh thì được gọi là hoa ( không phải là bông hoa, hoa đây, như trong hoa hạ, có nghĩa là đẹp, tinh túy, lộng lẫy ...).
      Nhìn vào sách vở Trung quốc được dịch in ra tiếng Việt vài chục năm nay lâu nay ta chỉ biết vậy và bảo nhau vậy.
     Có biết đâu trong thực tế sách vở bên ấy  từ lâu đã có hướng nghĩ khác và đã dội sang bên ta.
      Khoảng mươi năm nay, báo giấy cũng như báo mạng ở ta đã  trích in Người Trung quốc xấu xí của  Bá Dương, một tác phẩm mà cũng như truyện chưởng của Kim Dung vốn thuộc mạch suy nghĩ của Đài Bắc Hồng Kông và chỉ gần đây mới được in ở đại lục. Chúng ta cũng không nên ngại nhắc lại cái dẫn chứng đã quá cổ điển là tạp văn Lỗ Tấn với điều kiện bổ sung thêm: một Lỗ Tấn như vậy chỉ hình thành khi có sự chuẩn bị không khí của cả một thời đại. Một người đồng thời với tác giả AQ là  Lâm Ngữ Đường, ông này cũng thuộc loại nhìn con người Trung quốc một cách khách quan, giữa các trang sách hào hứng ca ngợi dân tộc mình đôi khiông dừng lại tự hỏi  không hiểu sao đồng bào mình vốn cao nhã  thông minh mà có lúc lại ngớ ngẩn tầm thường đến kỳ cục. Khi viết về chất giảo hoạt nói trên , các tác giả Người Trung quốc tự trào  đã phải dẫn Lâm Ngữ Đường là vì vậy.
       Một cuốn sách khác cùng một xu hướng cũng đã được dịch ra tiếng Việt nhưng bị làm hỏng, đó là Mặt dày tim đen của Lý Tôn Ngô (1879-1944 ). Nguyên là trước khi nước Trung Hoa của Mao Trạch Đông ra đời, xã hội Trung quốc thời Dân quốc đã  đi khá xa trên con đường hiện đại hoá, kể cả trong tư duy. Nhằm bắt mạch quốc dân tính, Lý Tôn Ngô  khởi xướng cả một quan niệm mệnh danh là Hậu hắc học, đại ý cho rằng anh hùng hào kiệt trong lịch sử Trung quốc nói chung không mặt dày thì tim đen. Lý Tôn Ngô có cái mạnh là ông không dừng lại ở những chi tiết đời sống quanh mình mà hướng cái nhìn vào lịch sử và ở đây ông cũng không chịu  bất một hạn chế nào, cả những thánh nhân, triết gia, anh hùng cái thế cũng được ông mang ra khảo xét và đánh giá bằng những tiêu chuẩn nhân bản.        
    Sở dĩ một cuốn sách như Người Trung quốc tự trào có thể  được biên soạn, ấy là vì  trước đó  đã có những nhà nghiên cứu dày công sưu tầm và mở ra những hướng mới trong suy nghĩ  về quốc dân tính Trung quốc.


***
         Chuyện dân tộc tự trào mang ý nghĩa một bước đổi mới tư duy. Đứng ở góc độ mỹ học mà xét thì rõ là trong cách nhìn nhận có sự biến cải sắc thái, sự việc xưa nay vốn đặt trong màn sương khói  thiêng liêng tức có  tính  huyền thoại, nay được đặt trong sự tiếp xúc suồng sã, nên ban đầu thường khó chấp nhận. Song nghĩ cho cùng đây là bước đi mọi dân tộc phải trải qua trên con đường lâu dài là hiện đại hoá và đặt mình trong cộng đồng nhân loại. Với ý nghĩa đó, có thể xem công việc các tác giả NTQTT là hết sức cần thiết : quá trình  khai phá của những Lý Tôn Ngô, Lỗ Tấn, Lâm Ngữ Đường, Bá Dương.... phải tìm được cách  thâm nhập vào công chúng rộng rãi  thì mới có cơ dựng tạo được những kết quả chắc chắn.
      
         Đã in Thể thao & văn hóa 2002         

Đọc Người Trung quốc tự trào   nxb Văn học,2002                   

Friday, November 5, 2010

Tìm nghĩa khái niệm hiện đại

Những cách hiểu khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau
Hàng ngày chúng ta vẫn thường nghe nói đến hai tiếng hiện đại.  Trên báo chí thời sự, trong các văn kiện chính trị cụm từ “quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá” hoặc “sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá” thường được nhắc lại với một nội dung xác định.  Hiện đại ở đây được hiểu là trình độ của những nước tiên tiến trên thế giới, và hiện đại hoá là đưa sự phát triển của xã hội ta lên một bước làm cho chúng ta không thua kém những nước đó.
Đây chính là nghĩa thông thường nhất của hai chữ hiện đại.
Một nghĩa khác của từ là nghĩa được dùng trong khoa sử học.  Ở các trường cấp ba (nay gọi là phổ thông trung học) học sinh được giảng như sau: Không kể thời cổ đại thì từ Cách mạng tư sản Anh trở về trước là lịch sử trung đại; từ Cách mạng Anh tới Công xã Paris (1871) là lịch sử cận đại; sau Công xã Paris, lịch sử bước sang một trang mới là lịch sử hiện đại.  (Gần đây, nhiều sách giáo khoa có sự điều chỉnh, coi lịch sử hiện đại bắt đầu từ sau Cách mạng tháng Mười Nga.) Đây là phác đồ chung của lịch sử thế giới.  Còn trong từng nước, lại có sự xác định cụ thể.  ở Trung Hoa lịch sử từ chiến tranh Nha phiến 1840 đến 1919 - phong trào Ngũ Tứ là lịch sử cận đại; 1919 đến 1949 là hiện đại, sau 1949 là đương đại.  Riêng ở Việt Nam, lịch sử cận đại bắt đầu từ khi người Pháp đánh chiếm nước ta (1858) cho tới 1930, năm thành lập Đảng Cộng sản Đông dương.  Từ sau 1930 là lịch sử hiện đại.
Những cái mốc để phân biệt lịch sử vừa nói cũng là mốc thường dùng để phân chia văn học, và trong nhiều trường hợp trở thành quy phạm có tính chất Nhà nước.  Viện Văn học chia ra các Ban cổ-cận, Ban hiện đại theo tiêu chuẩn này.  Khi làm mục lục các bài viết in ra hàng năm trên Tạp chí Văn học Tổng mục lục 40 năm những người biên soạn cũng theo tiêu chuẩn này để sắp xếp bài vở.
Thế nhưng cũng có những cách hiểu khác, tồn tại từ rất sớm.
Khi Vũ Ngọc Phan viết Nhà văn hiện đại (1941) ông kể gộp vào sách những nhà văn mà sự nghiệp nổi lên từ đầu thế kỷ XX.1
Sau đó mấy năm, trong bài viết nhan đề Sự tiến triển của văn học Việt Nam hiện đại2, ông vẫn giữ nguyên cách hiểu như vậy.
Một tác giả khác, Đào Duy Anh, trong Việt Nam văn hoá sử cương cũng coi văn học hiện đại là phần văn học dùng chữ quốc ngữ mà đến thế kỷ XX mới trở nên phổ biến và phát triển mạnh.  Hoặc khi làm Biểu liệt kê tác giả tác phẩm cho cuốn Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm đã chia văn học Việt Nam theo các thế kỷ và kết thúc bằng mục Hiện đại (Thế kỷ XX).3
Ở đây, cũng nên lưu ý có những người không dùng tới mấy khái niệm như hiện đại, thế kỷ XX, song trong các bài viết của mình, vẫn làm toát ra một quan niệm như vậy.  Đó là trường hợp của Lê Thanh hoặc Mộc Khuê, trong các tác phẩm đã in hoặc các bài đăng báo.
Một thời gian dài, ở ta quan niệm “văn học hiện đại, tức là văn học thế kỷ XX” này bị coi là sơ lược, không có triển vọng.  Mãi tới gần đây, nhiều người mới quay lại với cách phân chia ấy chẳng hạn đó là trường hợp bộ Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930 của Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng (bản in lần đầu 1988), hoặc công trình nghiên cứu Quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam 1900-1945 của nhóm Mã Giang Lân (in ra năm 2000).  Cách phân chia này, cũng đã được áp dụng với bộ sách giáo khoa văn học dùng cho các trường Phổ thông trung học in ra năm 2000 (mới được chỉnh lý).
Theo ý chúng tôi trong nghiên cứu văn học đây là cách hiểu nên được thống nhất sử dụng.  Nó hợp lý bởi lẽ nó không đặt văn học trong sự phụ thuộc một cách máy móc vào các sự kiện lịch sử mà có chú ý tới tính độc lập tương đối của văn học.  Nói cách khác nó xem xét văn học dưới góc độ văn hoá, tức là những yếu tố có tính chất lặp đi lặp lại trong sáng tác và phổ biến bao gồm môi trường hoạt động, chủ thể, nguyên tắc chỉ đạo sáng tác (thi pháp), thể loại...  - đây là những đặc điểm chúng tôi sẽ trở lại ở đoạn dưới.  Và bởi lẽ, những đặc điểm của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đã tồn tại liên tục, nên hai chữ hiện đại với nội dung xác định của nó đến nay vẫn dùng được.  Đặt bên cạnh hàng chục thế kỷ của văn học trung đại, thì thời gian của văn học hiện đại chưa phải là dài, những quy luật chủ yếu của nó đang phát huy tác dụng.
Nhân đây xin giới thiệu một cách giải quyết tương tự.  Trên tạp chí Thế giới mới số ra 8-3-1999 có đăng bài Vài thông tin mới về Hán tự và văn hoá Trung quốc.  Bài báo cho biết trong nghiên cứu và giảng dạy văn học hiện đại Trung Quốc đang thấy có sự điều chỉnh.  Về thời gian, trước đây lấy mấy cái mốc 1840-1919-1949, nay các công trình nghiên cứu thường nhìn chung cả văn học thế kỷ XX.  Về không gian, trước chỉ khoanh tròn trong văn học đại lục, nay đưa vào cả văn học Hồng Công, văn học Đài Loan.  Về quan niệm, coi văn học là một thành tố của văn hoá, muốn hiểu văn học, phải hiểu cả lịch sử phong tục, tôn giáo...  Quả thật là những bước đột phá mà chúng ta nên tham khảo.
Nội dung của hiện đại hoá
Sau khi qui định thời gian tồn tại của văn học hiện đại như trên, điều quan trọng là cùng nhau xác định nội dung khái niệm hiện đại, và đi liền với nó là quá trình hiện đại hoá.
Thoạt nghe, ai cũng hiểu ngay rằng hiện đại là lối làm nghệ thuật một cách mới mẻ, khác hẳn so với lối cũ của ngày hôm qua.  Nhưng trong thực tế nghiên cứu, từ này không có nghĩa chung chung như thế mà có nội dung cụ thể của nó.  Chúng tôi không đủ trình độ để tìm hiểu hai chữ hiện đại dưới góc độ từ nguyên học, nhất là xác định được khởi điểm mà từ này lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, trước khi truyền sang Việt Nam, song có thể mạnh bạo dự đoán: Hiện đại chỉ được dùng nhiều từ cuối thế kỷ XIX, nó gắn liền với một giai đoạn bột phát của sự tiếp xúc Đông Tây, khi mà người châu á (mà gần với ta nhất là Trung Hoa) bắt đầu có ý thức được rằng dù bản thân từng có truyền thống văn hoá lâu đời, song hiện đang ở giai đoạn trì trệ, bế tắc, có nhiều phương diện có thể gọi là cổ hủ lạc hậu.  Vậy cái lối làm kinh tế cũng như văn chương nghệ thuật mới mẻ, đáng gọi là xứng với thời buổi ngày nay (hiện đại) phải là gắn liền với phương Tây, và trở nên hiện đại (hiện đại hoá) là làm theo mẫu hình phương Tây.  Từ đầu thế kỷ khi đề ra yêu cầu xây dựng nền văn hoá mới, các tác giả Văn minh tân học sách đã nghĩ như vậy.  Mà khi làm công việc ghi nhận thành tựu những năm từ đầu thế kỷ XX trở đi, các tác giả Vũ Ngọc Phan, Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm...  cũng nghĩ như vậy.  Nếu xưa kia, cái để ông cha ta đối chiếu là văn học Trung Hoa, thì ngày nay, cái để con người đầu thế kỷ trông vào học tập là cách làm văn hoá, cách nghĩ của người phương Tây.  Đây đó hai chữ Âu hoá có bị hiểu sai và việc này đã có người mang ra chế giễu, song nhìn chung nó được dùng rất nghiêm chỉnh, và giả định một sự học hỏi tích cực với tất cả bản lĩnh dân tộc vững chãi, chứ không phải là học đòi theo lối nô lệ.
Sau đây là cách hiểu hai chữ hiện đại ở một số nước gần gũi và có hoàn cảnh tương tự với Việt Nam.
Khi khái quát về tình hình văn học ở Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonêxia, v.v...  các tác giả cuốn Văn học Đông Nam Á nhất trí rằng: Nếu cuộc tiếp nhận văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ là cuộc hội nhập văn hoá lần thứ nhất, xảy ra trong khu vực, thì cuộc tiếp xúc với văn hoá phương Tây là cuộc hội nhập văn hoá lần thứ hai, nó khiến cho văn học hiện đại ở các nước Đông Nam Á mang một màu sắc mới5.
Riêng với Trung Hoa, vì đó là một nền văn học luôn luôn có ảnh hưởng lớn đến văn học Việt Nam nên chúng tôi muốn dừng lại kỹ hơn một chút.
Ngay từ 1945, trong một bài viết mang tên Trên đường kiến thiết văn hoá mới ở Trung Quốc - vấn đề dân tộc hoá, nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai đã khái quát “Vấn đề văn hoá ở Trung quốc khoảng 100 năm nay cũng là một vấn đề nhập cảng: thâu thái những kiến thức về kỹ nghệ, về khoa học để cải tạo nền văn hoá “ngàn xưa’ của nước Tàu”.  ở một chỗ khác (cũng bài báo trên), ông viết “vấn đề Âu hoá, hiện đại hoá (modernisation) cũng là một vấn đề lựa chọn.  Bất kỳ khoa học xã hội hay khoa học tự nhiên, bất kỳ về phương diện tri thức hay phương diện kỹ nghệ, văn hoá mới Trung Quốc sẽ phải góp nhặt trong văn hoá Âu Tây những thành phần tiến bộ cái tinh hoa có thể áp dụng vào trong tình thế Trung Quốc ngày nay".6  Trong cách hiểu của tác giả, hai quá trình Âu hoá và hiện đại hoá gần như đã được đồng nhất.
Thế còn cách hiểu về hiện đại hoá ở Trung Quốc hôm nay thì sao? May mắn là trong tay chúng tôi có cuốn Sử học Trung Quốc trước gạch nối của hai thế kỷ (mới in ra quý III-2000) trong đó có bài Sự hưng khởi và phát triển của hiện đại hoá ở Trung Quốc.7  Dưới đây là một số đoạn trích từ bài viết kèm theo số trang ở cuối sách trên.
- Những biến cách trong sự phát triển của Trung Quốc cũng như của thế giới, sự chuyển biến của xã hội từ chỗ lấy nông nghiệp truyền thống là chủ đạo, chuyển hướng tới một xã hội có nền công nghiệp hiện đại (...) xu thế lịch sử và tiến trình lịch sử này được gọi với một cái tên thông thường, đó là hiện đại hoá (tr.321)
- Khái niệm “hiện đại hoá” và “phương Tây hoá” được coi ngang nhau và điều này đã phản ánh trình độ nhận thức chung của trí thức Trung Quốc...  (tr.325).
- Tuy việc hiện đại hoá của Trung Quốc lúc đầu là học tập phương Tây, song thực tế lại là giới thiệu và học tập Nhật Bản (tr.327).
- Từ sau chiến tranh Nha phiến 1840, người Trung Quốc đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện hiện đại hoá...  (tr.347)
Với các học giả Trung Quốc vậy là hiện đại hoá bắt đầu ngay từ thời kỳ mà lâu nay, theo sự quy định của môn lịch sử, vẫn gọi là thời cận đại.
Bây giờ, chúng ta hãy cùng trở lại với một số định nghĩa trong các từ điển.  Như trên đã lưu ý, cách phân chia ở đây là dựa nhiều vào các yếu tố văn hoá, nên nguồn sách vở mà chúng tôi hướng tới cũng là các từ điển văn hoá học.  Một cuốn từ điển loại ấy, bản tiếng Nga có viết như sau:
- Hiện đại hoá (tiếng Pháp moderniser).  Thuật ngữ văn hoá học dùng để xác định quá trình vận động từ xã hội tiền công nghiệp dựa trên truyền thống tới một hệ thống kinh tế và chính trị, cũng như văn hoá tiêu biểu cho sự phát triển của các nước tư bản (...) Những yếu tố cơ bản của quá trình này là: khả năng sử dụng những kỹ thuật hiện đại trong những ngành then chốt của sản xuất được đẩy mạnh; hình thức tiêu thụ được mở rộng, những điều kiện mới (về xã hội, chính trị, văn hoá) được phát triển; nền sản xuất mới được hình thành.  Quá trình hiện đại hoá bao gồm cả việc nắm vững những kiểu dạng mới của sinh hoạt tinh thần (kiểu tư duy mới)...
- Hiện đại hoá trong lĩnh vực đời sống văn hoá: Quá trình vận động phát triển, từ nền văn hoá tiền công nghiệp tới nền văn hoá đặc trưng cho các nước tư bản phát triển.  Những nhân tố cơ bản của hiện đại hoá bao gồm: đa dạng hoá các hệ thống tinh thần và sự định hướng giá trị; thế tục hoá và đa cực hoá các ý thức xã hội và giáo dục; làm cho ngày càng có nhiều người biết chữ; hình thành văn hoá và ngôn ngữ dân tộc, đa dạng hoá các trào lưu tư tưởng; phát triển phương tiện thông tin đại chúng".8
Đây cũng là quan niệm thấy trình bày trong một số tài liệu tiếng Nga khác mà chúng tôi có điều kiện đọc, chẳng hạn cuốn Văn hoá học xã hội của B.S. Erasov (1996) hoặc Đại từ điển Collins về xã hội học (1999).  Bản Collins nhấn mạnh “có một sự đối lập rõ rệt giữa xã hội trước và sau hiện đại hoá” “nhân tố quyết định của hiện đại hoá là vượt qua, thay thế những giá trị truyền thống vốn thù địch với mọi biến động”.  Hiện đại hoá như vậy là “bao trùm lên cả công nghiệp hoá”.


Phân biệt với chủ nghĩa hiện đại
Ngoài mấy từ hiện đại, hiện đại hoá trên sách vở báo chí còn thấy có thuật ngữ chủ nghĩa hiện đại.  Có lẽ cũng nên nói qua về khái niệm này, để tránh hiểu lầm, và lẫn lộn khi sử dụng.
Đặt trong lịch trình tiến hoá chung của lịch sử châu Âu thì thế kỷ XX là cả một giai đoạn đa đoan phức tạp chưa từng có.  Trước tiên là những phát minh khoa học (như sinh học phân tử, thuyết di truyền, vật lý lượng tử và thuyết tương đối của Einstein; phân tâm học của  Freud...) làm đảo lộn nhiều quan niệm cũ.  Rồi đến những thay đổi xảy ra trên phạm vi rộng lớn, như cuộc đại chiến thế giới thứ nhất, khiến cho tâm lý nhiều người như bị chấn động.  Ngày hôm qua thanh bình yên ả giống như một giấc mơ đã không còn nữa, thay vào đấy là thời của mù mờ và hỗn độn.  Những điều tưởng không bao giờ có thể xảy ra, nay hiển hiện trước mặt.  Những gì mà thế giới cổ điển coi là kỳ dị thì nay là chuyện thông thường hàng ngày.  Sự hiểu biết của con người với thế giới không phải bao giờ cũng chắc chắn và đáng tin cậy, như bấy lâu người ta vẫn tưởng.  Con người không làm chủ nổi mình, còn nói chi làm chủ hoàn cảnh! Từ ngạc nhiên đến hốt hoảng, từ náo nức say sưa đến bi quan tuyệt vọng, từ tự hào kiêu hãnh đến cay đắng bồn chồn - bảng màu tình cảm của con người nay thật đủ sắc thái, và mỗi loại tâm trạng này, khi được đẩy lên, tuyệt đối hoá, biến thành một định hướng trong nghệ thuật.  Chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa lập thể, chủ nghĩa trừu tượng v.v...  một thời gian dài ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các loại chủ nghĩa này được một số người gộp chung lại là chủ nghĩa hiện đại với hàm ý suy đồi, tiêu cực, phản hiện thực và phản nhân đạo, gắn liền với giai đoạn đi xuống của chủ nghĩa tư bản.  Nhưng ngay từ khi Liên Xô còn tồn tại, đã có một xu thế khác nảy sinh và ngày càng được đồng tình, ấy là xem nghệ thuật hiện đại là một hướng phát triển hợp lý của nghệ thuật ở các nước tư bản: từng “izm” kia có thể là thiên lệch, quá đáng, song nhìn một cách tổng hợp, lại có thể công nhận đấy là một bước tiến trong việc nhận thức đời sống.
Không phải là những biến dạng của chủ nghĩa hiện đại này hoàn toàn xa lạ với các nước phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng.  Sự thực là trong quá trình vận động của mình, văn học Việt Nam vừa diễn lại nhiều bước đi của các thế kỷ trước, vừa đồng thời kín đáo tiếp nhận những vang vọng của châu Âu thế kỷ XX.  Rất tự nhiên là ngay từ cuối những năm ba mươi ở nhiều người viết văn Việt Nam đã ngấm ngầm hình thành một khao khát chân chính: phải thay cách viết cho hợp với không khí thời đại.  Theo họ, cách viết cũ (mặc dù là Âu hoá, nhưng lúc này đã cũ) dừng lại ở sự nghiêm túc, sự rõ ràng, cũng như sự hài hoà mạch lạc, trong khi đó thời đại mới yêu cầu sự trực tiếp của cảm hứng, sự bột phát của tư tưởng, và đôi khi vì thế mà có dẫn tới một thoáng phi lý thì cũng không có gì quản ngại.9  Nhưng theo chúng tôi tất cả những tìm tòi trên đây của các nhà văn nhà thơ Việt Nam chỉ dừng lại ở mức những yếu tố làm đậm đà thêm các sáng tác, mà không được đẩy lên thành các chủ nghĩa.  Sự phân cách của văn học ta với văn học thế giới (trước tiên là phương Tây) thế kỷ XX vẫn còn nguyên vẹn, và khái niệm hiện đại sử dụng hôm nay ở Việt Nam trên đại thể chưa có dây dưa gì nhiều với những tìm tòi cực đoan thường thấy trong chủ nghĩa hiện đại.
Sự liên tục của thế kỷ
Cách mạng tháng Tám mang lại cho lịch sử Việt Nam một bước ngoặt rõ rệt.  Sau gần nửa thế kỷ xây dựng, nền văn học Việt Nam lúc này đã cứng cáp trưởng thành.  Giờ đây, nền văn học ấy tự đặt cho mình một mục đích khác trước, cách tác động tới xã hội khác trước.  Riêng với những người cầm bút, thì từ chỗ là những người lao động tự do, nay các nhà văn đã trở thành “những chiến sĩ trên mặt trận văn nghệ”, và hoạt động theo một định hướng tư tưởng thống nhất do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Đó là một đặc điểm cơ bản mà khi nghiên cứu văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX không thể bỏ qua.
Tuy nhiên, xét trên nhiều mặt, giữa văn học Việt Nam trước và sau 1945 vẫn có một sự liên tục, đến mức hoàn toàn có lý do chính đáng để xếp cả hai nằm trong một phạm trù chung là văn học hiện đại.  Trong ngôn ngữ học, hai chữ đối lập được dùng với nghĩa thuần tuý hình thức, tức là lấy cái này đặt bên cái kia để làm nổi bật sự khác nhau.  Mượn thuật ngữ đó của ngôn ngữ học, ở đây chúng tôi muốn nói chúng tôi không đối lập văn học Việt Nam trước và sau 1945 (đó là một việc khác ai đó sẽ làm trong một dịp khác), mà tìm cách đối lập toàn bộ văn học Việt Nam thế kỷ XX với nền văn học từ thế kỷ XIX trở về trước, đối lập văn học hiện đại với văn học trung đại.  Đây cũng là một hướng nghiên cứu cần thiết và có thể nói là có hứa hẹn.
Thử áp dụng cái nhìn văn hoá học vào nghiên cứu văn học, sơ bộ có thể nhận ra những đặc trưng nhất quán sau đây của văn học Việt Nam hiện đại, chính nó cũng là những nhân tố tạo nên sự liên tục của thế kỷ.
1.  Sự hình thành một môi trường văn học thống nhất trong cả nước.  Sự sáng tác ở nước Việt Nam qua các triều đại phong kiến có trồi sụt khác nhau, nhưng nói chung có tính chất tự cấp tự túc, tác phẩm viết ra không trở thành một sản phẩm được lưu thông trong xã hội.  Xuất bản lúc ấy mang tính cách một thứ hoạt động tiểu thủ công, manh mún, lặt vặt.  Báo chí lại hoàn toàn không có.  Tác phẩm sau khi viết ra sống âm thầm như trong bóng tối, may thì gặp người tri kỷ, không may thì xếp xó một chỗ.  Bước sang thế kỷ XX, cả xã hội là một mặt bằng liền lặn, sự sáng tạo được đặt trong mặt bằng đó để luôn luôn lưu thông vận chuyển, từ người viết tới người đọc.  Nhờ có máy in, sách được in ra rồi nhờ có hệ thống phát hành, sách được mang bán, nơi nào có nhu cầu là sách đi tới.  Bước đầu có thể nói tới một lớp công chúng làm nên một luồng dư luận đa dạng tác động lại sự sangs tạo.  Không phải chỉ trong điều kiện bình thường trước 1945, mà ngay trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, một môi trường văn chương thống nhất vẫn được duy trì và chính nó quyết định nhiều đến nội dung của các sáng tác.
2.  Sự hình thành một lớp người làm nghề.  Lắng nghe trong văn học đầu thế kỷ người ta bắt đầu nhận ra một tiếng kêu than hơi lạ: tiếng kêu của những người sống bằng nghề cầm bút, như Tản Đà, hoặc lớp sau, như Xuân Diệu, Vũ Trọng Phụng...  Một thứ tiếng kêu như thế chưa hề thấy trong văn học Việt Nam từ thế kỷ XIX trở về trước, đơn giản là vì hồi ấy, những người viết văn làm thơ chẳng qua rỗi rãi nên thử viết để trình bày vài điều tâm huyết hoặc một ít xúc động, chứ không ai sống bằng nghề bao giờ.  Có người e sợ việc hình thành lớp người có nghề khiến cho sự sáng tạo của họ trở nên nhàm chán rồi bị thui chột, song thực ra thì ngợc lại, do sự thúc bách của công việc mưu sinh sức sáng tạo của nhiều cây bút lại được giải phóng.  Từ sau 1945, nghề cầm bút được quan niệm khác đi, song bộ phận chủ yếu của giới sáng tác thực tế vẫn là làm việc trong một guồng máy riêng do Nhà nước tổ chức, và bởi họ chỉ làm những việc có liên quan đến sáng tác nên vẫn có thể nói họ thuộc loại người viết chuyên nghiệp mà các thế kỷ trước không có.
3.  Vai trò chỉ đạo của một nguyên tắc thi pháp khác trước.  Bút pháp của văn học cổ điển về căn bản là sùng cổ và ước lệ, tức xa lạ với tinh thần thiết thực và chỉ có quan hệ xa xôi với thực tại đời sống đương thời.  Cố nhiên, để văn chương cử tử sang một bên, cũng còn những áng văn chương cổ ở đó phập phồng những vui buồn đau khổ của con người.  Nhưng nếu muốn tìm những tình cảnh con người được phác hoạ, những phong cảnh được miêu tả, những phong tục được khảo sát v.v...  chỗ nào rõ chất Việt Nam thì ngay cả ở Truyện Kiều, hoặc Chinh phụ ngâm cũng không tìm thấy.  Có điều đó không phải là lỗi của người viết, mà là do quy phạm của thời đại quy định.  Về phần nhà văn thế kỷ XX, việc hướng về đời thực, dùng những phương cách biểu hiện vay mượn từ đời thực lại là những lề luật bắt buộc, và chính điều này mở ra cho ngòi bút của họ một trường hoạt động rộng rãi.  Một khi các ngành nghệ thuật nghe nhìn dựa trên kỹ thuật hiện đại như điện ảnh truyền hình phát triển, việc ghi chép đời sống lại do chính văn chương đảm nhiệm.
4.  Hệ thống thể loại gần với châu Âu.  Văn, thơ phú lục là những thể chính trong sáng tác thời xưa.  Chúng có một mục đích chung là cốt để giúp tác giả nói chí mình (ngôn chí) nói tình cảm mình (mạn hứng), chuyên chở tư tưởng (tải đạo).  Điều đó phù hợp với thi pháp sùng cổ ước lệ như trên vừa nói.  Còn trong văn chương thời nay, người ta thấy nổi lên những thể tài mới.  Kịch nói là thể hoàn toàn ngoại nhập.  Tiểu thuyết thì ngày xưa thấp thoáng cũng có, nhưng theo một quy phạm riêng và ngày nay ngả hẳn sang quy phạm của tiểu thuyết phương Tây.  Nói chung, trong hệ thống thể loại mới, văn xuôi đóng vai trò chủ đạo, chính nó, với khả năng phong phú vốn có, sẽ diễn tả đầy đủ các sắc thái đa dạng của thực tại, kể cả cái “chất văn xuôi” tức là cái chất phàm tục của đời sống đương thời.  Đây chính là một đặc điểm quán xuyến trong toàn bộ đời sống văn học thế kỷ XX, nó làm cho hệ thống thể loại có một trọng tâm khác hẳn trước.10
5.  Ngôn ngữ văn học.  Một bộ phận lớn của văn học từ thế kỷ XIX trở về trước được viết bằng chữ Hán.  Việc sử dụng một thứ văn tự xa lạ với tiếng nói thông thường khiến cho các sáng tác lúc ấy chưa đóng góp được nhiều cho sự phát triển ngôn ngữ dân tộc như lễ ra có thể có.  Đến các tác phẩm viết bằng chữ nôm cũng bị hạn chế, ngày nay đọc lại các tuyện nôm, chúng ta thấy ngoại trừ những kiệt tác như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm v.v...  thì ở phần lớn trường hợp còn lại, ngôn ngữ văn học thường có phần thô thiển, khi nôm na, dông dài, khi lúng túng học đòi và không tiêu hoá tốt những ảnh hưởng của tiếng Hán.  Bước sang thế kỷ XX, ngôn ngữ văn học nhờ tiếp thu được sự trong sáng và khúc chiết của tiếng Pháp, nên trở thành thanh thoát và linh hoạt hơn hẳn.  Điều quan trọng nhất là từ đây, nó hướng về đời thực, muốn có được cái vẻ tự nhiên và đa dạng của ngôn ngữ hàng ngày.  Xu hướng này của sự tìm tòi vốn đã có từ nửa đầu thế kỷ XX, đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, càng được thúc đẩy mạnh mẽ, nó làm cho tiếng Việt trở nên chắc khoẻ, mà cũng linh hoạt hơn bao giờ hết và đây chính là đóng góp của ngôn ngữ văn học đối với ngôn ngữ dân tộc nói chung.
Đến đây, có thể tóm tắt:
a) Khái niệm văn học hiện đại trong nghiên cứu văn học, theo chúng tôi nên dành để chỉ văn học Việt Nam thế kỷ XX.
b) Ở đâu kia, ở thời điểm nào kia, hiện đại có thể có nghĩa khác, nhưng xét chung trong vòng hơn một thế kỷ nay, một nền văn học hiện đại là một nền văn học xây dựng theo mẫu hình phương Tây.  Cố nhiên ở mỗi dân tộc, việc này được làm theo một cách riêng, với sự sáng tạo riêng.  Nói như Naguib Mahfouz, nhà văn Ai Cập được giải Nobel văn chương 1988: “Những trào lưu văn hoá phương Tây đã được chúng tôi tích nhập vào đất đai phong thổ của chúng tôi vào nền văn hoá của chúng tôi nhuần nhuyễn đến nỗi không phân biệt được nữa.  Sự đồng hoá đạt đến nỗi tưởng như những trào lưu ấy vẫn có ở nước chúng tôi vậy".”11
c) Để chuyển dịch cả một nền văn học (và rộng hơn cả nền văn hoá) từ mô hình trung đại sang mô hình hiện đại, cần có cả một quá trình.  Đó là quá trình hiện đại hoá văn học khởi động từ đầu thế kỷ, và đến 1945, coi như đã hoàn thành một chặng cơ bản (Còn như tới những năm tám mươi, chín mươi, một quá trình hiện đại hoá lại đang xảy ra, thì đó là một việc khác, có sắc thái khác).
d) Quá trình hiện đại hoá đồng thời cũng là quá trình trong đó các xu thế dân tộc hoá, và dân chủ hoá đóng vai trò những định hướng liên tục và ổn định.  So với văn học trung đại, nền văn học Việt Nam hiện đại thực sự trở thành một nền văn học dân tộc, với nghĩa đầy đủ của từ này.  Mặt khác cũng chỉ đến giai đoạn hiện đại, tinh thần dân chủ vốn sẵn có trong văn chương các thế kỷ trước, mới được hoàn thiện.  Bề nào mà xét thì văn học hiện đại cũng là cả một bước tiến lớn lao và chúng ta chỉ hình dung ra một cách đầy đủ trong sự so sánh với quá khứ.
                                                                                                 2001


Đã in Tạp chí Văn học  2002 , số 1




1 “Các nhà văn hiện đại mà tôi sẽ nói đến sau này là những nhà văn có những tác phẩm xuất bản trong khoảng ba mươi năm gần đây”.  Vũ Ngọc Phan - Nhà văn hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, H.1989, tr.11
2 Tạp chí Tiên phong số 3, 16-12-1945, tr.  25-27, in lại trong Sưu tập trọn bộ Tiên phong, Nxb Hội Nhà văn, 1996, tr.127
3 Bản của Nxb Bốn phương, S.1951, tr.275-278
5 Lưu Đức Trung chủ biên, Văn học Đông Nam Á Nxb Giáo dục, 1998, các trang 15-16.
6 Tạp chí Tiên phong, số 4-5 (Nguồn sống mới) tr.76-80, in lại trong Sưu tập trọn bộ Tiên phong tlđd, tr.225-227
7 Sách do Viện Thông tin khoa học xã hội, Trung tâm khoa học xã hội nhân văn quốc gia Việt Nam biên soạn và xuất bản.  Bài Sự hưng khởi...  lấy ở tạp chí Lịch sử nghiên cứu viết bằng chữ Hán, số 5, 1998, tr.150-171.  Tác giả bài viết là một giáo sư và một phó giáo sư khoa Sử, Đại học Bắc Kinh
8 Khoruzhenko K.M.  Văn hoá học Từ điển Bách khoa.  ( tiếng Nga ) ,RostovnaDon, Feniks, 1997, tr.313.
9 Tham khảo thêm Trần Thị Mai Nhi Văn học hiện đại Văn học Việt Nam - giao lưu gặp gỡ, Nxb Văn học, 1994.
10 Xem thêm Trần Đình Hượu: Thực tại cái thực và vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam trung cận đại, in trong Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hoá thông tin, 1995.
11 Tạp chí Người đưa tin UNESCO, số 12,1989