Monday, July 29, 2013

Nghèo khó, biếng lười, xấu xí


    Nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật thích viết
rằng những người làm tranh Đông Hồ chỉ là những người nông dân lúc rỗi rãi thì
vẽ thêm tranh. Mục đích của họ cốt cho người ta thấy nghệ thuật ở VN “gắn liền
với đời sống“.


   
 Có biết đâu làm
thế chỉ là một cách tốt nhất để phô ra một sự thật:
trong xã hội VN,
người ta sống và làm việc thiếu chuyên nghiệp.
Kỹ thuật cổ lỗ. Sự phân công lao
động
được chăng hay chớ.




   Tình trạng của nghề làm tranh cũng là tình
trạng của nghề dệt, nghề đúc đồng,

nghề làm muối, nghề làm đồ gốm, cả nghề làm ruộng… Chỗ nào người ta cũng thấy sự ngưng
trệ. Năng suất thấp. Con người uể oải.
Con người nhởn nhơ dông dài ngay
trong sự chăm chỉ của mình.
 


   
“Cối xay tre, nặng nề quay, từ ngàn đời nay, xay nắm thóc“. Trong lời
thuyết minh viết cho phim  Cây tre Việt Nam
1955, Thép Mới từng viết một câu văn
xuôi mang đầy chất thơ để hằn sâu vào tâm trí của nhiều thế hệ học sinh tiểu
học  chúng tôi như vậy.


   
Vào những năm năm mươi của thế kỷ trước, nó gợi một cảm giác về sự nhẫn
nại bất khuất kiên cường.


   
 Nhưng sang đến thế kỷ XXI này,
đọc lại, thấy dấu hiệu của một cuộc sống ù lì tăm tối.


    
Người Việt tự nhủ Đói cho sạch
rách cho thơm
. Ảo tưởng nhắc lại mãi nghe như có lý. Song khi người ta quá
nghèo thì khó lòng giữ được sự tử tế.


    
Mạnh tử từng nói, có hằng sản mới
hằng tâm
. Người châu Âu cũng hiểu thế.


   
Trong cuốn Một chuyến du hành đến
Đàng Ngoài 1688
, (bản của NXB Thế giới, 2006), một nhà thám hiểm người Anh
là  W.Dampier ghi lại một số nhận xét có
liên quan đến các hạng người ở đô thị VN thế kỷ XVII .


   
Đây là tầng lớp trên và bộ sậu của họ: “Những kẻ quyền quý thì tỏ ra
kiêu căng, hách dịch và tham lam trong khi đám lính tráng thì hỗn xược
.”


   
Đây là những kẻ dưới đáy: “Cư dân lớp dưới lại hay trộm cắp làm cho
nhà buôn và những người đến giao dịch ở đây bắt buộc phải canh gác cẩn thận về
đêm
“.


   
 Theo W. Dampier, sự hư hỏng của
con người bắt đầu bằng sự kém cỏi trong điều kiện sống mà người ta không cách
gì thay đổi.  Nhà cửa người Việt ngay ở
Kẻ Chợ, tức thủ đô, được tác giả mô tả là quá đơn sơ tầm thường. Nhà nhỏ và
thấp. Mấy tấm phên che dột nát tạm bợ. Bên trong chia làm nhiều gian, mỗi gian
có những cửa sổ để lấy ánh sáng thực chất là những lỗ đục xấu xí.


    
Theo lái buôn người Anh, nhà cửa như vậy thường làm mồi cho bọn người
trộm cắp. Chúng có thể dễ dàng thực hiện mưu đồ đào tường khoét ngách.


 
   Từ nhận xét trên có thể suy ra sự
thấp kém về trình độ sản xuất là nguồn gốc mọi tì vết xấu xa trong tính cách
người Việt. 


 
    Trước tiên là một tâm lý ngại ngùng mệt mỏi
không thấy hứng thú trong lao động.


 
   Đã nhiều người gặp nhau ở nhận xét là người
Việt khá chăm chỉ năng động. Nguyễn Văn Vĩnh tỏ ra tinh nhạy hơn người khi nêu
cùng lúc cái tình trạng nước đôi: người Việt vừa cần cù, vừa cho người ta cảm
thấy họ coi lao động là bất đắc dĩ, chẳng qua không có cách nào khác nên phải
chân lấm tay bùn vậy.


  
 “Nói tổng lại, trong nước Nam
ta, cần mẫn nhất chỉ có người làm ruộng, nhưng mà sự cần mẫn ấy, nhà làm ruộng
không  biết lấy làm vinh hạnh. Tay cầm
cây mạ, mà mắt vẫn trông bọn dài lưng tốn vải, lúc nào quăng được cái cày có
ích  mà cầm lấy cái bút lông thỏ vẽ hươu
vẽ vượn tả cảnh trên trờ dưới biển, thì cũng quăng đi ngay
.”


  
 Trong mục Xét tật mình, người chủ trì Đông
dương tạp chí
đã làm cái việc mà sau ông chưa ai dám làm là bóc mẽ cái gọi là tính siêng năng của bộ
phận chủ yếu trong cộng đồng như vậy.


 
   Cái nghèo kéo theo nhiều cái xấu khác.


     Đây là một đoạn tôi đã
trích  trong phần Người xưa cảnh tỉnh—thói hư tật xấu người Việt trong làm ăn buôn bán    
http://vuongtrinhan.blogspot.com/2012/03/thoi-hu-tat-xau-nguoi-viet-trong-lam.html





Không lo xa,
dễ thoả mãn


    
Tôi luận rằng người nước Nam ta khi túng thiếu thì lo lắng thở than, trong lúc
đói lo một hồi mà thôi, chớ no không lo nữa.


     
Người nước của chúng ta, bởi không từng trải ít thấy rộng ít nghe xa (...) hễ
vừa mới động nở nòi ra một thí (1) là đổi tính đổi nết, làm bề làm thế (2),
muốn nghỉ mà ăn chơi. Bởi làm sao vậy? Bởi trong trăm người mới có một, thì là
trong một xóm ở chừng một trăm, người ấy đã đặng trên mấy bợm (3) khác. Có bạc
chục bạc trăm, cho vô cho ra, đã có người thiếu nợ mình rồi; cho nên hết muốn
ráng sức nữa. Vì vậy nhiều khi nghèo nàn khổ sở trở lại. Đến lúc nghèo rồi lại
than thở trách trời, sanh mình sao mà vận xấu, mới cho khá rồi lại làm cho nghèo,
tại trời không thương.





(1)     khá giả một


(2)     làm le, làm
dáng, khoe mẽ


(3)     bợm đây
không có nghĩa xấu mà chỉ có nghĩa bọn khác kẻ khác


 Lương
Dũ Thúc
,


Nông
cổ mín đàm
, 1902





 


     Trong cuốn Lịch sử tự nhiên dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài  in ở Paris 1778 ( Trích từ Tư liệu văn hiến
Thăng Long Hà Nội – Tuyển tập tư liệu phương Tây
 NXB Hà Nội 2010, nhà sử học
Nguyễn Thừa Hỷ chủ trì) giáo sĩ Jerome Richard 
cho biết.


    (…) Nghèo khổ quá khiến người ta chỉ nghĩ đến sinh tồn tức là phó mặc mình cho
sự biếng nhác bẩm sinh. Bộ máy hành chính
sẵn sàng “vét cạn” các mầm mống tài năng. Bộ máy này ngu dốt và kiêu căng,
nhưng có quyền lực. Họ đối xử với những người khéo tay hơn họ và giàu hơn như
nô lệ.


    
“Việc lớn thì kinh, việc nhỏ thì khinh, việc bình thường thì không
thích“--  thái độ con người với công việc
từng được cô lại trong một nhận xét thật gọn ghẽ (Nguyễn Tất Thịnh báoTiền phong, 6-10-06).


   
Nhiều nhân vật trong những truyện cười dân gian là những chàng lười. Ca
dao hóm hỉnh dựng lại một chân dung, rất sẵn trong nông thôn VN thời trung đại:


Con
cò đậu cọc cầu ao


Hỡi
cô yếm đào lấy chú tôi chăng


 Chú tôi tốt tóc đen răng


 Hay ăn làm biếng hay nằm ngủ trưa


 Ngày thì ngóng những ngày mưa


Đêm
thì ngóng những đêm thừa trống canh

.


  Các tài liệu tuyên truyền và cả sách giáo khoa trong các nhà trường
Hà Nội sau 1954 thường bảo những câu ca dao trên là để nói về bọn người giầu
có. Có biết đâu đó cũng là để nói về lớp cùng đinh trong xã hội. Giàu tham việc thất nghiệp tham ăn.
 


  Không
phải là người Việt không biết thực trạng kém cỏi trong làm ăn sản xuất của
mình. Nhưng do thiếu sự mở đường của trí tuệ nên người ta cảm thấy đó là cả một
định mệnh. Thấy  của thiên hạ cái gì cũng
hơn mình.


  
Bất lực. Cay đắng. Chán chường.


  Một
niềm tự ti nằm rất sâu trong tâm lý, mang lại nhiều biến thái kỳ quặc. Lo học
nhưng chỉ học mót học lỏm. Sợ người ta coi thường nên phải tìm cách nhấn mạnh
cái riêng, và nhắc đi nhắc lại rằng mình chẳng kém gì mọi người. Sống gồng lên
ra vẻ thế nọ thế kia, sẵn sàng giả dối cốt sao khỏi bị mất mặt.


  
  Xã hội thiếu đi sự năng động tìm
tòi. Của chìm chủa nổi đầy rẫy chung quanh mà không biết khai thác.


  
 Nhà nho xưa nhiều người kiêm cả
thầy lang. Trong một lần so sánh văn hóa Trung quốc và VN, Phan Ngọc nhắc lại
cái ý mà nhiều thế hệ nho sĩ truyền miệng với nhau. Đó là một nhận xét của
người Tầu: người Việt sống trên cả đống nguyên liệu dùng làm cây thuốc nhưng
vẫn chết vì thiếu thuốc
.  


   W.Dampier, trong cuốn sách nói trên, còn ghi
nhận một điều mà sau này các nhà nghiên cứu văn hóa VN từ Phan Kế Bính Đào Duy
Anh tới Nguyễn Văn Huyên, Lương Đức Thiệp … đều chia sẻ, là thói máu mê cờ bạc quá
nặng của người Việt. Khi rỗi rãi
người ta lao đầu vào cuộc đỏ đen một phần là vì bế tắc trong cuộc sống.


    
Toan tính duy nhất ở đây là ngẫu nhiên tìm được một cơ may giữa cảnh đời
 tuyệt vọng.  





Đã in trên TT&VH 2007 với đầu đề Làm ăn kém nên nghèo, 
bởi nghèo nên  xấu tính . 






Bổ sung





  Tính lười nhác của người Việt qua cái nhìn của
Nguyễn Văn Huyên





     Trong phần sưu tầm các ý kiến tổng quát về người Việt mang tên


Cái hay cái tốt mong manh,cái dở cái xấu bền chặt,


    (xem http://vuongtrinhan.blogspot.com/2012/11/cai-hay-cai-tot-mong-manh-cai-do-cai.html
),


chúng tôi cũng đã
giới thiệu các ý kiến của nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Văn Huyên về đặc tính lười nhác ở người Việt, nay xin trích lại.





    Chúng
tôi đặc biệt lưu ý là Nguyễn Văn Huyên đã nói tới mọi khía cạnh của sự lười nhác:


-- từ nguyên nhân
ra đời ,


-- các dạng biểu hiện đầy mâu thuẫn của nó


-- cho tới cái tình trạng bắt rễ sâu trong đời
sống khiến con người "giẫy ra không nổi" tức không sao có thể vượt thoát khỏi nó


-- và hậu quả mà
nó mang lại.





Các đầu đề nhỏ
cũng như các đoạn nhấn mạnh dưới đây là của VTN.





Thụ
động, bất lực, buông xuôi


    Họ cày ruộng, chân lội trong bùn, có khi
phải ngâm mình trong nư­ớc. Có những ngư­ời đi cả ngày đư­ờng chỉ cốt kiếm một gánh
củi khô. Như­ng tình trạng nhân công d­ư dật thư­ờng khiến con ng­ười lư­ời nhác. Họ trở nên vô tâm và
hay cãi cọ. Rất nhiều chứng tật khác nhau, những vụ rắc rối về hành chính,
những vụ xung đột vô cớ, đ­ược dịp nảy sinh và kết quả là bất công lại chồng
chất thêm.


     … Môi
trường làm sa sút sức khoẻ và tác động chẳng kém tới tính chất người Việt.
Sức nóng thường xuyên làm cho thần kinh uể oải và con người dễ buồn ngủ. Không
phải là hoàn toàn vô lý khi bảo rằng nhược điểm lớn nhất của con người nơi đây
lười biếng, hoặc ít nhất là cái
khuynh hướng buông trôi, thây kệ mọi việc.





Vấn đề nông dân Việt
Nam ở Bắc Kỳ,
1939








Biếng
nhác, vô cảm, lẩn tránh


   Hiện tượng quá đông dân và thường xuyên
thiếu việc làm khiến cho nhiều người có tâm lý sống ngày nào biết ngày ấy.
Ở thôn quê, những kẻ có chút tiền bạc hoặc có đủ ruộng chỉ còn thích ăn không ngồi rồi.


   Xét về phương diện tinh thần, xu hướng biếng
nhác này càng trầm trọng thêm bởi một nền giáo dục cổ lỗ và chưa bao giờ có
phương pháp. Thành ra có sự lười
biếng
về trí óc, có xu hướng dễ
dàng chấp nhận hết thảy và bắt chước hết thảy.


    Sau khi chất đầy trí nhớ các loại kinh
sách, nhà nho xưa kia chẳng còn nghĩ đến chuyện trau dồi trí tuệ nữa. Họ
thường già trước tuổi. Hoặc là họ nhẫn nhục chịu đựng cốt không để ai đó do
ganh ghét mà kiếm chuyện lôi thôi. Hoặc là họ sa vào thói chơi ngông đôi khi
cũng tinh tế đấy, nhưng dễ làm cạn kiệt cái năng lực phát minh cũng như năng
lực lập luận khoa học.


    
những nhà quan sát nước ngoài nhận xét người Việt hay trộm cắp và dối trá.
Trong một thời gian dài, người dân nước này chỉ được nhận một nền cai trị kém
cỏi, trong đó thấm sâu chính sách ngu dân. Cá nhân con người luôn luôn bị săn
đuổi, họ buộc phải bao quanh mình một tấm màn bí mật. Làng xã cũng vậy, trong
quan hệ với chính quyền trung ương, họ cố giữ lấy một thái độ nếu không độc lập
thì cũng ương bướng bất phục.





 Văn minh Việt Nam
1944








Cảm tính nặng hơn lý tính


     Nói chung
người Việt có chất nghệ sĩ nhiều hơn chất khoa học. Nhạy cảm hơn là có lý tính.
Yêu thích văn học và trang trí. Đa số chỉ mơ ước nghề làm quan là con đường đã
vạch sẵn, không đòi hỏi nhiều cố gắng độc đáo, mà lại đem đến nhiều vinh
hiển


    Chẳng có mặt nào của tính cách người Việt
lại không có mặt bù lại, và không gợi ra ngay tức khắc một bằng chứng ngược
lại. Chúng ta đã nói về tính biếng
nhác
sự uể oải của người Việt
,
nhưng người ta chẳng thấy nơi nào trên thế giới một dân tộc cần cù như vậy, và
những người lao động sẵn sàng làm những công việc nặng nhọc trong khi chỉ nhận
được số tiền công rẻ mạt đến như vậy.


   Chúng ta cũng đã nói về tính phóng túng bông
lông và mơ mộng của người Việt. Thế mà chúng ta lại cũng dễ dàng khám phá ở người
dân nơi đây một đầu óc thực tế lạ lùng, nó quyết định chiều hướng tâm hồn người
nông dân và trở nên một vũ khí lợi hại trong tay những người thợ mỹ nghệ.


   Nếu tính hay thay đổi là đặc tính của người
Việt thì ta cũng phải ngạc nhiên mà nhận xét rằng trong bọn họ có một số kẻ là
những tay dai dẳng và bám riết người ta khi xin xỏ; là những kẻ sính kiện tụng
không ai địch nổi; là những học sinh sinh viên quyết chí săn đuổi bằng được
bằng cấp.







 Văn
minh Việt Nam
,1944



Saturday, July 27, 2013

Ba bài tựa của Khái Hưng viết cho Tú Mỡ, Thạch Lam





       Trong không khí của kỷ niệm 60 năm Tự Lực văn đoàn, chúng tôi xin giới thiệu ba bài tựa  của Khái Hưng viết cho các tác phẩm của Tú Mỡ và Thạch Lam , trong đó bài cuối cùng được viết vào tháng 7-1943 tức là đúng 70 năm trước.


       Những ghi nhận về đóng góp của  nhóm Tự Lực  thường chỉ dừng lại ở việc đánh giá cao những tác phẩm nổi tiếng của các cây bút chủ lực trong văn đoàn. Theo ý chúng tôi lẽ ra chúng ta cần phải chú ý tới cả một quan niệm về văn học mà các nhà văn trong nhóm đã theo đuổi trong đó ít nhất  bao gồm 


-- về sứ mệnh của văn học trong đời sống 


--về công việc mà  những nhà văn với tư cách nhà hoạt động văn học phải đảm nhiệm




     Không phải ngẫu nhiên mà từ Nhất Linh tới Thế Lữ,  từ Thạch Lam tới Xuân Diệu, các ông đều là những người tham gia vào việc tổ chức nên đời sống văn học. Khi cần các ông viết  báo viết tin viết đủ loại điểm sách, giới thiệu sách. 

      Vấn đề không chỉ ở chỗ ngòi bút các ông có một trường hoạt động rộng rãi. 

      Mà điều đáng nói hơn, văn hóa sáng tạo của các ông là rất chắc chăn, tự ý thức nghề nghiệp của các ông rất cao.


       Cái phần đóng góp của mỗi người trên phương diện lý luận phê bình  cũng là một chỉ số để đánh giá một nhà văn.


     Với những Hồn bươm mơ tiên, Nửa chừng xuân,  Tiêu sơn tráng sĩ, Trống mái, Thanh Đức, Khái Hưng quá nổi trên phương diện tiểu thuyết. Cho đến truyện ngắn của ông, sự giới thiệu cũng rất dè dặt, nói chi đến  những bài báo vặt.. 


        Thật ra trên phương diện viết báo Khái Hưng cũng là một ngòi bút tràn đầy sức lực.


       Chúng tôi hiện đã sưu tầm được một số bài tường thuật điểm sách ý kiến ngắn bàn về văn học, cùng các loại tạp văn của ông, xin hẹn giới thiệu vào một dịp khác.


       Trước mắt mời bạn đọc đọc lại Khái Hưng qua những lời tựa -- một việc mà người ta chỉ thấy trong văn học tiền chiến , còn với các lớp nhà văn sau 1945, là hiện tượng quá hiếm. 




LỜI TỰA VIẾT CHO DÒNG NƯỚC NGƯỢC 


                    


                              VĂN
BÁC HỌC VÀ VĂN BÌNH DÂN


Cũng
như nhiều nền văn chương cổ kim, văn chương nước ta có rõ rệt hai dòng: Dòng
bác học và dòng bình dân.


Dòng
bác học, ta có thể ví vớí con sông, hai bên bờ có đê kiên cố để làn nước không
tự do tràn ra đồng bằng được, phải lặng lẽ theo lòng sông mà chảy thẳng ra
biển. Chỗ nào ngòng ngoèo quá thì người ta đào lạch cho nước thông mau, chỗ nào
nông quá thì người ta khơi sâu thêm cho nước dễ thoát.


Trái
lại, dòng bình dân chỉ ví như cái suối chảy trong vùng đồi núi hoang vu, quanh
co, lượn khúc cạnh rừng lau mọi rợ hay bên bờ rậm dầy cỏ sắc hoa dại, có khi
thì thầm róc rách trong khe, có khi ầm ầm đổ xuống thành ngàn thành thác, lại
có khi gặp tảng đá lớn ngáng giữa dòng, hung tợn vọt ngược lên cao.


Đê và
lạch đối với con sông, cũng như -- đối với nền văn chương bác học -- những luật
lệ qui tắc nhất định mà các văn nhân đạo mạo tự bắt buộc phải theo. Ở nước ta,
tuy không có những sách văn pháp như ở bên Thái Tây, song đời đời người ta cứ
lề lối cũ của Tàu mà bắt chước, không hề dám suy suyển: Văn sách, kinh nghĩa
phải thế nào, thi phú, từ khúc phải thế nào, đặt câu bằng bằng trắc trắc ra
sao, làm bài phá thừa luận kết ra sao, nhất nhất không dám mảy may thay đổi.


Văn
chương bình dân thì chẳng mấy khi theo luật lệ qui tắc. Khi nào miễn cưỡng
theo, cũng hục hặc phá phách như con ngựa bất kham, vì dùng vần thất niêm thất
luật be bét, dùng chữ và tiếng sai nghĩa lung tung. Song, chính nhờ đó mà nền
quốc văn đã có lắm chữ mới và lối văn mới đặt rất bạo, thí dụ như những thổ
ngữ, những thi ca lục bát, song thất lục bát, tứ tự, cùng là các lối vè có vần
ở giữa câu.


Về
hình thức thì thế, mà về ý tưởng cũng vậy. Trong văn chương bác học, ta thấy
đầy những điển tích chép nhặt trong các sách Tàu. Trong một bài diễn văn, ông
Lê Dư thực đã bênh vực cho nền văn bác học bằng một câu rất có ý nghĩa:
"Văn không có điển tích không phải là văn". Nào chỉ có điển tích. Văn
chương bác học nước ta lại còn phải ở trong khuôn phép thánh hiền, không bao
giờ được vượt ra ngoài những tư tưởng luân lý, như tam cương, ngũ thường.


Không
dùng điển tích, không hề đạo mạo, đó là hai tính cách cốt yếu của văn chương
bình dân. Và tuy cũng theo luân lý cổ nhưng văn chương bình dân xiết bao giản
dị với những tính tình chân thành, với những nguyện vọng thiết thực. Khi bọn
bình dân gặp một sự gì trái ngược với tính tình và nguyện vọng của họ, họ liền
mạnh bạo thốt ra những lời văn oán trách chẳng chút rụt rè che đậy bằng những ý
tứ mập mờ, bóng bảy, cao xa. Ta hãy nghe bài hát sau này của một người đàn bà
nhà quê, về thời vua Minh Mệnh:


Tháng
tám có chiếu vua ra,


Cấm
quần không đáy người ta hãi hùng.


Không
đi thì chợ không đông,


Đi
thì bóc lột quần chồng sao đang.



quần ra quán bán hàng,


Không
quần đứng nấp đầu làng trông quan.


Lời
văn thành thực giản dị mà táo bạo và ngộ nghĩnh ấy, không hề thấy có trong văn
chương bác học, tuy văn chương bác học cũng nhiều khi nhiễm tư tưởng trào
phúng, - cái trào phúng nặng nề đầy điển tích và nhút nhát rụt rè đối với kẻ có
quyền thế.



vậy, muốn biết tập quán, phong tục trong dân về thời nào, không gì bằng đọc văn
bình dân, nghĩa là những ca dao tục ngữ của thời ấy: đó là những cái gương phản
chiếu tính tình và nguyện vọng của cả một thời đại. Hát một câu ca dao hay, ta
biết cổ nhân vui hay buồn, sung sướng hay khổ sở. Ta ngậm ngùi rằng tác giả
không để tên để tuổi lại hậu thế. Song đó cũng là một tính cách bình dân: Sống
không để ai biết đến, có danh vọng cũng không cần ai hay. Những áng văn vô danh
kia, đời đời ta truyền khẩu cho nhau, không bao giờ để mai một đi, như thế cũng
đủ làm hài lòng bọn bình dân rồi,vì họ đã lưu lại được cái linh hồn chân thật
của cả một nòi giống.


Song
tuy thế mà thỉnh thoảng ta vẫn thấy một vài tác giả có chân tài trong phái bình
dân. Đó là một sự rất hiếm trong văn giới nước ta, vì bọn học giả mình thường
chỉ biết ngày xưa theo văn Tàu, ngày nay theo văn Tây, - có khi theo một cách
nô lệ, - mấy ai đã lưu ý đến văn chương bình dân.



thực ra thì ta vẫn khao khát được đọc văn bình dân, ta vẫn quý trọng các nhà
văn bình dân. Hồ Xuân Hương tuy lẳng lơ nhưng vẫn được ta yêu tài và truyền
tụng những bài thơ cợt nhả. Vì là một nhà văn bình dân. Ông Tú Xương tuy mỉa
đời mà vẫn được đời kính mến. Vì ông là một nhà văn bình dân. Và ngày nay Tú Mỡ
tuy tinh nghịch đùa bỡn, chế nhạo mà vẫn không mấy người ghét được. Vì Tú Mỡ
cũng là một nhà văn bình dân.


So
sánh Tú Mỡ với ôngTú Xương và cô Xuân Hương, hẳn có người cho là hơi quá, vì họ
thấy hai bậc văn hoà kia tuy viết văn giản dị song đều ở trong phái nho học,
còn Tú Mỡ thì lại là một nhà Pháp học. Nhưng văn bình  dân không cần cỗi rễ ở đâu hết, quý hồ tả
được tính tình và cốt cách của cả một dân tộc là đủ rồi.


Mà văn
Tú Mỡ thì cũng như văn Tú Xương, văn Hồ Xuân Hương, cũng như những câu ca dao,
tục ngũ, quả thực hoàn toàn có tính Annam.


Ngày 25 tháng 9 năm 1934





LỜI TỰA VIẾT CHO GIÓ ĐẦU MÙA


Viết
truyện ngắn nào có khó gì đâu. Một sự xảy ra ngoài phố làm rung động trái tim
ta, một câu chuyện thuật trong phòng khách làm nở một nụ cười khoái trá trên
môi ta, một khu rừng âm u lạnh lẽo, một xóm nhà tranh rải rác dưới ven đồi, một
cái quán bán nước, một cái xe với anh phu kéo... hay không cái gì cả, sự
trống rỗng một phút, một giây của tâm hồn
. Những cảnh tượng ấy, dù trọng dù
khinh đều là đầu đề câu chuyện ngắn, đều kích thích trí nghĩ ta mà ngấm ngầm tự
cấu tạo nên một câu chuyện ngắn. Ta chỉ việc viết lên giấy những điều trông
thấy, nghe thấy và những ý tưởng nẩy ra trong thâm tâm ta. Có thế thôi. Cái khó-
nếu quả có cái khó- chỉ ở chỗ phải có biết thế thôi.


Đó là
quan niệm về truyện ngắn của Thạch Lam, tác giả tập truyện Gió đầu mùa.


Một
gia đình hai vợ chồng trẻ với đứa con đầu lòng mới ra đời, một dẫy phố chợ tồi
tàn với bọn ngụ cư nghèo đói, cái vui sướng của một người thất nghiệp về làng
sống với dân quê, sự đùa bỡn oái oăm của duyên số, cái kết quả tai hại của một
cơn giận, sức áp bức quyết liệt của sự đói, cái chết đau đớn của người bạn trẻ
nghèo... Toàn truyện giản dị cả. Muốn tả những sự xẩy ra hàng ngày ấy tác giả
không cần đến những tình tiết ngoắt ngoéo tối tăm, nhiều khi rất trẻ con mà ta
thấy nhan nhản trong những truyện kiểu cách, loè loẹt của những nhà văn thiếu
thành thực.


Thành
thực, đó là đức tính không có không được của nhà văn. Ở Thạch Lam, sự thành
thực lại trở nên sự can đảm. Đọc nhiều đoạn văn của Thạch Lam, tôi rùng rợn cả
tâm hồn vì sự thành thực (những đoạn tả trong truyện Ngày mới).


Tôi
xin thú thật rằng những điều nhận xét gay go về mình, và những người sống chung
quanh mình, tôi cũng thường có, song vị tất đã dám viết ra. Nhưng sao lại thế
nhỉ? Đáng lẽ bọn nhà văn chúng ta ai cũng phải can đảm hơn người thường. Đáng
lẽ ta phải mạnh bạo viết những điều mà mỗi người, mà ta, nhất là ta, giấu kỹ ở
tận đáy linh hồn, những nỗi băn khoăn, những sự vui mừng lo sợ, tức tối, thèm
muốn, ghen ghét đang ẩn náu trong khối óc, trong trái tim ta. Tỗi vẫn ước ao
cái can đảm ấy, nhưng không sao có được, cái can đảm mà tôi thấy ở Tolstoi, mà
trong đám văn sĩ mới nước ta, tôi thấy ở Thạch Lam.


Lòng
ta là một thế giới mênh mang. Nếu ta để trí suy xét của ta len vào các ngách,
các nơi kín tối, chăm chỉ tìm tòi ta sẽ thấy nhiều sự mới lạ. Tưởng sống tới
trăm tuổi ta cũng không biết thực rõ được lòng ta.


Phái
tả chân thường khoe khoang chỉ suy xét theo phương diện khách quan, liệu có
được không? Tả một người giận dữ mà chỉ là những hiện trạng của sự giận dữ thì
bức tranh của ta không thể đầy đủ được.


Muốn
nó đầy đủ ta phải hỏi lòng ta, ta phải hỏi ký ức ta xem khi ta giận thì trí
nghĩ và tính tình ra sao, thì cảm giác ta ra sao, hơn thế, ta phải sống lại một
cơn giận. Người chủ động trong truyện Một cơn giận của Thạch Lam, có thể
chỉ là Thạch Lam. Ông tự vẽ ông. Nhưng cũng có thể là bức tranh tả chân hết
thẩy ai ai trong một cơn giận vô lý giữa lúc ta thấy "lòng ta chán nản
và buồn bực, những ngày tự nhiên không hiểu tại sao ta thấy khó chịu và hay gắt
gỏng
".


Có lẽ
vì không bao giờ rời bỏ phương diện chủ quan nên Thạch Lam dễ làm ra rung động:
trước ta, chính ông đã rung động. Tả cái lạnh đầu mùa, ông nhớ ngay cái cảm
giác mà ông có một đêm mưa rào, rồi bỗng trở ra gió bấc( Gió lạnh đầu mùa).
Ông tả cái ngõ hẻm ở một xóm quê bằng cái cảm giác của ông đi qua nơi đó:
"Một cái cảm giác mát lạnh bỗng tràn lên hai vai. Tân ngửng đầu lên nhìn:
chàng vừa đi vào dưới vòm tre xanh trong ngõ" (Trở về).


Cả
đến một buổi gặt, ông cũng tả bằng cảm giác của ông: "Tân chú ý đưa cái
hái cho nhanh nhẹn, mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt, vào người, mùi lúa
chín thơm lại phảng phất với mùi rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm chàng say sưa
như men rượu" (Những ngày mới).


Nếu ta
có thể chia ra hai hạng nhà văn, nhà văn thiên về tư tưởng, nhà văn thiên về
cảm giác, thì tôi quả quyết đặt Thạch Lam vào hạng dưới. Ở chỗ mà người khác
dùng tư tưởng, dùng lời có khi rất rậm để tả cảnh, tả tình, ông chỉ nói, một
cách giản dị cái cảm giác của ông. Các cảm giác ấy bao quát hết tư tưởng của
tác giả và của độc giả, và của độc giả nhiều khi đi xa hơn, sâu hơn trí, vì có
cái cảm thấy mô tả không thể dùng tư tưởng để mô tả, để giải phẫu cái cảm giác
của ta ra được, dù là một cái cảm giác nhẹ nhàng, cái rung động khẽ như cánh
bướm non
ấy là một tình cảm sâu xa.


Thực
vậy, những cái cảm giác đạm mạc như thế mà ta thấy trong khắp các truyện của
Thạch Lam  đều giấu một mối tình sâu xa.
Tác giả, mà ta tưởng rát điềm tĩnh, kỳ thực là một người có những tính tình
mãnh liệt, quá khích nữa. Đứng trước sự khốn khổ của bác Lê, tác giả chỉ thủ
thỉ nói:  “Giá cứ có người mướn làm thì
cũng không đến nỗi ”. Nhưng trong cái thủ thỉ ấy, ta cảm thấy lòng tức giận,
lòng oán trách xã hội lên đến cực điểm.


Sáu
năm xa cách, người con giàu có về thăm mẹ già nghèo ở nhà quê, khi hắn ta  từ giã bà cụ ra đi , tác giả thản nhiên lạnh
lùng viết: “Ra đến ngoài Tân nhẹ hẳn mình. Chàng tự cho đã làm xong bổn phận”.
Nhưng sự lạnh lùng ấy giấu một tính tình khinh bỉ, một cảm tưởng chua chát
không biết đến chừng nào


Những
kẻ giàu có huyênh hoang trong bọn trưởng giả như người con trong truyện Trở
về
  Thạch Lam rất ghét, cũng như ông
rất thương rất yêu bọn nghèo đói, bọn bác Lê, anh Sinh, anh Dư...Ông đem hết
tâm hồn ra để ghét tuy ông chỉ lãnh đạm nói đến họ. Lòng ghét âm thầm và dữ dội
của ông có khi làm cho ông thiên lệch. Một lần nghe tôi đọc đến tên một người
bạn giàu sang, ông chau mày nói:”Ô! Tôi ghét hắn ta lạ. “ Tôi chưa kịp hỏi vì
lẽ gì, thì ông đã tiếp: "Trông cái má hắn ta phinh phính, cái bụng hắn
ta xệ xệ!"
.


Rồi ta
sẽ thấy trong những tác phẩm của Thạch Lam rất nhiều nhân vật có cái bụng xệ,
Thạch Lam sẽ trút lên đầu họ hết cả sự căm tức, oán trách một xã hội trưởng
giả, bất công, tàn ác đối với những khốn khó đáng thương mà Thạch Lam tha thiết
binh vực an ủi.


                           3-9-1937


         


 LỜI  TỰA
VIẾT CHO HÀ NỘI BĂM SÁU PHỐ PHƯỜNG


Hà Nội
Thăng Long - chốn cố đô yêu dấu của chúng ta đã gần hai nghìn năm soi bóng trên
giòng sông Nhị. Và nó sẽ mãi mãi soi bóng trong lòng người Nam Việt, khi mà mỗi
thời còn có những trang phong lưu mặc khách đem ghi chép trong văn, thơ, để
truyền lại hậu thế cái đời sống của nó, cái lịch sử của nó.


Lịch
sử Thăng Long phải đâu chỉ là những lớp sóng phế hưng dồn dập từ đời vua này
sang đời vua khác, kế tiếp nhau mà xây cung điện nguy nga ven hồ Trúc Bạch, bên
hồ Hoàn Kiếm? Nó còn là cuộc sinh hoạt hàng ngày của dân thành thị, với tất cả
những phong tục, tập quán, với tất cả những nhân vật kỳ khôi, với tất cả những
cái vui, cái buồn, cái tức, cái giận nho nhỏ và thoáng qua của những tâm hồn
nho nhỏ sống trong xó tối, không tên không tuổi, không tiếng tăm lưu lại đời
sau.



những nhà biên tập pho sử ký bình dị này thường cũng không tên không tuổi không
tiếng tăm lưu lại đời sau. Song những sử gia ấy, dù vô danh hay hữu danh, đều
được công chúng yêu chuộng biết bao! Và những trang sử của họ có khi không cần
đem in ra nhiều bản, chỉ truyền tụng từ miệng này sang miệng khác. Thế mà đó
đều là những tác phẩm bất hủ, vì đã thành ca dao, tục ngữ, hoặc những giai
thoại trong dân gian.


Long
Biên, cái tên thứ nhất của Hà Nội, Long Biên mà một thi sĩ đã ca tụng trong một
bài Đường luật:


Long
Biên đã đắp tự đời nào?


Chẳng
thấp nhưng mà cũng chẳng cao.


Chăm
chắm ngoại thành xây cũng đẹp,


Cồn
cồn giòng nước chảy tuôn vào.


Long
Biên đã đắp tự đời Cao Biền, nhà thơ Thăng Long cũng chẳng thèm biết. Đến cả
hai chữ Cao Biền, thử hỏi trong dân chúng, mấy ai còn nhớ, nếu đó không là một
tên thầy địa lý cao tay mà mọi người khiếp sợ. Môn chính trị xa họ bao nhiêu
thì môn địa lý gần họ bấy nhiêu, gần với tín ngưỡng và tập quán của họ. Nếu Cao
Biền chỉ là một chính khách khôn khéo, một nhà tổ chức có đại tài, thì y đã
chết từ lâu trong ký ức dân Hà thành rồi. Phần dã sử hầu hoàn toàn chiếm lấy
cái đời lạ lùng của nhà đô hộ. Mà phần dã sử ấy -- nghĩa là thiên sử ký phong
phú nhất, thật nhất vì sản xuất từ trí thành thực, chất phác của dân -- phần dã
sử ấy không ra ngoài môn địa lý. Nào truyện "Cao Biền dậy non", nào
truyện "Cao Biền cưỡi diều đi tìm đất", nào truyện "Thần Tô Lịch
hiện lên mách đất cho Cao Biền". Bao nhiêu truyện kỳ dị và biến đổi tuỳ
theo tài tưởng tượng của từng người kể, mà trong đó, môn chính trị của Cao Biền
không dấu vết.


Cao
Biền xa ta quá và đã hầu là một nhân vật hoang đường. Đến như những nhân vật
gần chúng ta hơn mà sử ta đã ghi chép tường tận những huân công võ lược, cũng
không còn có vang bóng gì trong trí nhớ dân chúng Hà Thành và Nam Việt. Đã mấy
ai biết rằng trên sông Nhị kia, dưới gầm cầu "Giốc gạch", hàng trăm
thuyền lớn của Chế Bồng Nga đã chen chúc đậu và từ đó hàng nghìn hàng vạn quân
Chiêm Thành, cởi trần, da nâu và bóng như đồng mắt cua, đã giương nỏ mạnh bắn
những tên lửa lên các phố, các phường đầy dân thành thị tranh nhau chạy loạn?


Rồi
tới nhà Lê, họ Mạc, họ Trịnh kế tiếp nhau xây dựng lâu dài bên hồ Tây và hồ
Hoàn Kiếm. Thì nay cũng chỉ:


Thời
cũ lâu dài bóng tịch dương


Trong
bóng tịch dương của thời gian và cả của lòng người.


Nhưng
lòng người vẫn ghi nhớ những điều muốn ghi nhớ, những điều thuộc phạm vi mỹ
thuật, và tình cảm... Lòng người coi thường trận thuỷ chiến kinh thiên động địa
của họ Chế. Nhưng lòng người đã không quên cái tình cảm đáng thương của một
nàng công chúa nhà Trần lọt vào tay anh Chàm đen đủi.


Công
chúa lấy thằng bán than,



đưa lên ngàn cũng phải đi theo.


Người
Hà Thành đọc lại câu ca dao cổ gần nghìn năm, tác phẩm của một văn nhân Thăng
Long đầy trắc ẩn còn như đứng bên bờ sông Cái mà nhỏ lệ trông theo nàng Huyền
Trân sừng sững trên sàn lái một chiếc thuyền bồng giương buồm, thuận gió chạy
ra biển để xuôi nam. Hình công chúa thon thon in bật lên nền trời sắc máu. Và
dân Thăng Long chờ cho con thuyền lượn khuất sau cồn Phúc Xá mới chịu rời bước
trở về nhà ngậm ngùi than tiếc:


                               - Ngọc quý ngâu
vầy!


-
Thương thay cây quế giữa rừng,


Để
cho thằng mán thằng mường nó leo.


Đối
với dân Thăng Long, cũng như đối với dân Hà Thành ta ngày nay, rất mập mờ về
khoa địa dư: Người mạn ngược hay người Chiêm, người Mên, họ đều cho là Mán, là
Mường cả.


Vào
thời giữa hai triều Trần và Lê, dân Thăng Long hẳn là lao đao khổ sở, hết chạy
loạn Hồ đến chạy loạn Minh. Nhưng rồi người ta cũng chỉ còn ghi vào nhật ký,
vào sử ký - sử ký của dân- những việc tức cười đau đớn:


Cái
nợ Liễu Thăng!


Và cái
chết của Nguyễn Trãi gây nên. Và theo lời dã sử -- do sự báo oán tiền kiếp của
một cô gái Tây Hồ bán chiếu, một nữ thi sĩ tinh nghịch cười đùa như Xuân Hương:


     Em ở Tây Hồ bán chiếu gon


...
Chồng còn chưa có hỏi chi con?


Dân Hà
Thành ta từ xưa vẫn thích cười: cười buồn cũng như cười vui. Thỉnh thoảng lại
phà lên một tiếng cười bi ai chua chát. Hay tiếng cười lỡm của cống Quỳnh về
thời hậu Lê dưới quyền hống hách của chúa Trịnh. Và không biết ai đã thốt ra
một câu ca dao quá quắt để mỉa mai ông quan thị mà chúa Sâm giao cho cái trọng
trách canh phòng một nàng công chúa yêu?


Đó là
cách viết sử của chúng ta. Nếu nói được rằng nhà sử đích đáng là biết chép
những điều đáng chép và bỏ những điều đáng bỏ thì các sử gia Thăng Long thực đã
làm tròn phận sự. Đã chép nhưng cái hoàn toàn có tính cách Thăng Long và Nam
Việt. Còn gì Nam Việt hơn truyện Tấm Cám hiện nay vẫn lưu truyền ở cửa miệng,
từ thành thị cho chí thôn quê. Đó là một truyện, một việc Thăng Long, đã xảy ra
ở đất Thăng Long: Tấm, Cám là hai chị em khác mẹ quê ở mạn Đình Dù lấy chung một
chồng: một chúa Trịnh.


Nhưng
phải chờ hàng chục năm nữa, mới thấy được những nhà biên tập cho cuốn sử Hà
Thành có tên có tuổi để lại hậu thế. Đó là nàng Xuân Hương, rồi chàng Tú Xuất,
chàng Ba Giai.


Chúng
ta đi qua chùa Quán Sứ, ai mà giữ được không thầm đọc bài thơ tuyệt tác của
Xuân Hương, tuy chùa Quán Sứ ngày nay chẳng còn nữa cái cảnh vắng teo, cái
cảnh:


Sáng
banhh không kẻ khua tang mít


Trưa
trật nào ai móc kẽ rêu.


Tôi
chắc không nơi danh thắng Hà Thành nào lại không có vết tích các nhà văn yêu
Thăng Long ấy, lại không được dự một phần vào cuốn sổ nhật ký, vào tập văn tuỳ
bút của họ. Có lẽ chỉ vì không người gìn giữ cho nên những áng văn quý báu đã
thất lạc mất cả, những áng văn mà người đạo mạo đồng thời coi thường là văn
chương đùa bỡn hay nhỏ mọn, không đáng kể, không đáng lưu lại hậu thế...


Đến
thời chúng ta, đến Tú Mỡ và Thạch Lam...


Như Ba
Giai, Xuân Hương (cùng một họ Hồ với Tú Mỡ), Tú Mỡ đã giễu các nhân vật Hà
Thành và khiến được họ bất hủ. Tú Mỡ yêu Hà Thành chẳng kém bọn Tú Xuất và Xuân
Hương, yêu một cách tinh quái, ranh mãnh, ngạo ngược, nhưng rất yêu.


Người
yêu Hà Thành thấm thía hơn, âm thầm hơn là Thạch Lam.


Cũng
có lúc Thạch Lam mỉm cười thương hại như Cống Quỳnh, như Xuân Hương trước những
cái dốt Hà Thành, trước những cái biển hàng chữ Pháp rất lố lăng và dở nát của
các bác phó may của các anh thợ vẽ, của các bác phó cạo, của các ông hàng vải.
Thạch Lam lại cũng tức giận như Xuân Hương khi thấy người ta vô tâm hay hữu ý
làm mất vẻ đẹp nơi thành phố xinh xắn của chúng ta.


Xuân
Hương viết:


Ai
về nhắn nhủ phường lòi tói,


Muốn
sống đem vôi quét giả đền.



Thạch Lam thủ thỉ - bao giờ Thạch Lam cũng chỉ thủ thỉ, dù tức giận đến đâu:


"Những
thanh sắt ở đó (Chùa Ngọc Sơn) cũng khá lâu rồi thì phải, mà chưa thấy uỷ ban
nào đó làm việc gì cả. Việc thì rất giản dị: nghĩa là bỏ những cái đó đi là
xong."


Nhưng
Thạch Lam lưu tâm nhất đến cuộc sống hàng ngày của Hà Thành, đến những cái thú
con con của dân thành phố, cùng là những nhân vật bé nhỏ, đã gây cho thành phố
cái tính cách đặc biệt của nó.


Ta hãy
nghe Thạch Lam mở mục quà Hà Nội với một giọng yêu đưong mà tự phụ của một dân
Hà Nội: "Quà Hà Nội xưa nay vẫn có tiếng là ngon lành và lịch sự. Ở các
thôn quê, chút "quà Hà Nội" là của mong đợi, và tỏ được lòng quý hoá
của người cho
..."


"
Nếu chúng ta về các tỉnh nhỏ ít lâu, hay ở ngay Hải Phòng, Nam Định nữa, chúng
ta mới biết quà Hà Nội có vị ngon là chừng nào! Cũng là thứ bún chả chẳng hạn,
cũng rau ấy, bún ấy, thế sao mà bùn chả của Hà Nội ngon và đậm thế, ngon từ cái
mùi thơm, và từ cái nước chấm ngon đi."


Ta như
nghe thấy tiếng nhai và tiếng xuýt xoa của người ăn bún chả. Ngon thật! Và cái
ngon cái đặc sắc của Hà Nội ấy đáng được người ta nói đến và chép lại như người
ta đã nói đã chép lịch sử bà Bé Tý, bà Tư Hồng, hai nhân vật Hà Nội nhất của thời
nay.



Thạch Lam đã nói đến, đã ghi chép tường tận đầy đủ, tỉ mỉ với tất cả tấm lòng
yêu của Thạch Lam. Thạch Lam yêu cũng như Thạch Lam ghét. Đều tha thiết tuy đều
âm thầm.


Thạch
Lam thực là một nghệ sĩ, một thi sĩ về khoa thẩm vị. Nghệ sĩ muốn tận hưởng.
Thi sĩ tìm cảm hứng trong vi tế cũng như trong vĩ đại. Hiểu nổi Thạch Lam tất
đã phải biết như Thạch Lam rằng: "Ăn quà là một nghệ thuật: ăn đúng cái
giờ ấy và chọn người bán ấy mới là người sành ăn ."
Tất phải đã đứng
ngắm nghía cô bán bánh cuốn Thanh Trì, dáng điệu uyển chuyển gánh hàng đi
vào trong phố hay ngồi nhanh nhẹn bóc từng cái bánh mỏng như tờ giấy và trong
như lụa.
"


Thạch
Lam không quên một thứ quà rong nào, mỗi thứ Thạch Lam đều tả hết cái hương vị,
cái hình thức đặc biệt của nó, hương vị và hình thức truyền lại không biết tự
đời nào. Nếu Thạch Lam thích làm thơ thì hẳn đã viết những bài Đường luật hay
tứ tuyệt để vịnh chiếc "bánh rán nóng một xu hai" hay
"cô hàng cơm nắm lẳng lơ với hai quang thúng bỏ chùng trông cũng ngon mắt
như quà của cô vậy
". Y như những bài thơ vịnh ốc nhồi, vịnh bánh trôi
của Xuân Hương. Biết đâu Xuân Hương cũng không do cảm hứng trong khi xơi quà Hà
Nội mà đọc ra những  bài thơ lưu truyền
kia.


Thạch
Lam không làm văn vần như Xuân Hương. Nhưng tứ thì phong phú, màu sắc sáng
tươi, nét vẽ nhịp nhàng, đã khiến nhiều đoạn văn xuôi của Thạch Lam trở nên
những bài thơ kháu khỉnh. Đây, ta hãy nghe Thạch Lam tả ăn quà bún ốc:


"
ai, buổi trưa vắng, hay lúc đêm khuya, đi qua nhà cô đào, nhà các chị thanh
tân, thấy họ ăn cái quà ấy một cách chăm chú và tha thiết đến đâu không? Nước
ốc chua làm nhăn nét mặt tàn phấn và mệt lả; miếng ớt cay làm xoa xuýt những
cặp môi héo hắt, và khiến đôi khi rỏ những giọt lệ thật thà hơn cả những giọt
lệ tình.


"Cô
hàng ốc có một cái dụng cụ, một đầu là búa, một đầu là dùi nhọn. Một cái gõ nhẹ
và một cái trở tay, là con ốc nguyên cả ruột đã gọn gàng rơi vào bát nước chấm.
Cô thoăn thoắt rút ốc không kịp. Trông thấy người ta ăn ngon lành, chính cô
cũng sinh thèm: cô thú thật với tôi như thế
"


Biết
bao nghệ thuật trong một bức tranh nhỏ mọn nhưng tinh tế. Và đến dược nghệ
thuật ấy không phải chỉ có tài, mà còn phải có lòng yêu. Yêu thành thực, yêu
trong thâm tâm, yêu những cái bé bỏng của những đời sống bé bỏng, nghĩa là yêu
Hà Nội, vì những cái bé bỏng ấy tức là tất cả Hà Nội.


Thạch
Lam vĩnh biệt Hà Nội, giữa một công cuộc mà anh đã tỏ ra có đủ tài năng đã theo
đuổi tới đích: công cuộc soạn một pho Hà Nội sử ký. Nếu anh còn ráng ở lại với
chúng ta, thì ngòi bút linh động của anh tả cái Hà Nội hiện thời này, hẳn phải
làm chúng ta...




20-7-43

Wednesday, July 24, 2013

Nguyễn Ngọc Thiện : Vài nét về Vương Trí Nhàn



Xin phép anh Nguyễn Ngọc Thiện được giới thiệu bài viết này trên blog và xin chân thành cảm ơn anh.

VTN



Vương Trí Nhàn là nhà lý luận phê bình có đầu óc thực tế tôn trọng hiệu quả hữu dụng, thực dụng của bất

cứ một hoạt động nào, cả sáng tác cũng như nghiên cứu, lý luận phê bình văn học.







Ông quê gốc xã Đông Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, sinh ngày 15/11/1942. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, vào học trường Đại học Sư phạm Hà Nội khoa Ngữ văn, khóa 1961-1964. Ra trường, trong hoàn cảnh chiến tranh, ông vào quân đội theo chế độ nghĩa vụ quân sự và tại ngũ ngót 15 năm cho tới đầu 1979 mới chuyển ngành. Trong quân đội, lúc đầu ông dạy học sau làm báo, làm biên tập viên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội từ 1968. Từ năm 1979 đến khi nghỉ hưu, hơn 20 năm ròng ông làm công tác biên tập sách lý luận phê bình ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn.



Những công trình đã xuất bản của ông có thể xếp vào hai khu vực:



a- Sách khảo cứu biên soạn gồm: Sổ tay người viết truyện ngắn (1980); Một số nhà văn Việt Nam hôm nay với Hà Nội (1986); Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 (2000)…



Các cuốn sách này cho thấy ông triển khai việc giới thiệu, nghiên cứu về các thể loại sáng tác văn học và chân dung nhà văn một cách có bài bản. Đặc biệt các lời dẫn hoặc nghiên cứu tổng quan về thể loại truyên ngắn, tiểu thuyết đi sâu vào các phương diện bếp núc của nghề viết, về diện mạo, đội ngũ các nhà văn sáng tác về Hà Nội hôm nay... được viết một cách nhuần nhuyễn, sinh động và sáng rõ, là minh chứng về bản lĩnh tư duy học thuật của ông, sự quan tâm thường trực của ông đối với nghề viết và đội ngũ viết văn.



b- Mảng sách thứ hai, có năm quyển đưa ông vào hàng những nhà phê bình ăn khách. Đó là:



Bước đầu đến với văn học (Phê bình - tiểu luận, 1986); Những kiếp hoa dại (Chân dung và phiếm luận văn học, 1993); Cánh bướm và đóa hoa hướng dương (Tiểu luận - phê bình,1999); Buồn vui đời viết (Sổ tay văn học, 2000); Ngoài trời lại có trời (Tiểu luận phê bình về tác gia, tác phẩm văn học nước ngoài, 2003).



Các tập sách thuộc mảng này cho thấy cách nhìn riêng của ông đối với công việc viết văn, đời sống văn học, nhà văn trong và ngoài nước. Ông dường như xa lạ với lối lý tưởng hóa nghề văn, người viết văn. Với ông, viết văn chỉ là một nghề, bên cạnh những mục đích cao cả, đáp ứng nhu cầu xã hội hướng về Chân - Thiện - Mỹ, nâng cao nhận thức và làm giàu cho tâm hồn con người. Văn học cũng là một nghề như bao nghề khác, nó thỏa mãn nhu cầu tự biểu hiện của con người, nhằm mục đích thực tế về mưu sinh, tồn tại. Nhà văn tất nhiên là người có tài năng đặc biệt, xuất chúng trong sáng tạo những văn bản nghệ thuật bằng ngôn từ, nhưng mặt khác trong đời thường họ cũng có thân phận buồn vui, ứng xử hay dở như bao người. Với lối viết nhiều khi như tọc mạch, soi mói vào những mặt còn khuất lấp của toàn bộ quá trình văn học: đời sống xã hội - nhà văn - tác phẩm - công chúng... ông đưa ra những nhận xét hóm hỉnh, thông minh, bề ngoài như là nói chuyện phiếm, nhưng trong sâu xa của các ý kiến ấy, người đọc buộc phải đối mặt kể cả đối với những thực tế không thuận chiều, trái khoáy, nghịch cảnh... Nghĩa là văn chương cũng như đời thường thật là muôn mặt, phồn tạp, phiền phức, khôn dại , hay dở, thật khó lường.



Về phương diện lý luận, Vương Trí Nhàn xa lạ với lối trình bày lý luận chay. Từ sự quan sát tinh tường các hiện tượng lớn nhỏ thậm chí tế vi, khó nói, ông dần dần dẫn dắt người đọc cùng suy nghĩ với mình về những vấn đề, những khía cạnh có ý nghĩa lý luận đặt ra, nảy sinh từ đó. Lý luận với Vương Trí Nhàn phải được bật ra, chưng cất từ thực tiễn, từ Cây đời xanh tươi của đời sống văn chương, học thuật, từ lao động viết văn và niềm thích thú hay xa lạ với tác phẩm văn chương của công chúng.



Theo VÀI NÉT VỀ VƯƠNG TRÍ NHÀN    http://edu.go.vn  Thứ Tư, 07/12/2011.



Ghi chú của VTN  (25-7-2013)



Xin phép bổ sung vào bài viết trên:

1/ Một số cuốn sách của tôi từng được in lại:

--Sổ tay truyện ngắn in lại 2 lần

--Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 in lại 1 lần; và đây là tên in lần thứ hai, còn lần đầu có tên là Khảo về tiểu thuyết

--Những kiếp hoa dại in lại 3 lần

--Cánh bướm và đóa hoa hướng dương in lại 2 lần trong đó có một lần lấy tên là Nghiệp văn

-- Buồn vui đời viết in lại một lần

--Ngoài trời lại có trời ,một lần



2/Ngoài ra còn bốn cuốn khác,thuộc loại quan trọng nhất với tôi

--Chuyện cũ văn chương(2001),

-- Cây bút đời người(2002), in lại một lần và được giải thưởng của cả Hội nhà văn Hà Nội và Hội nhà văn Việt Nam

-- Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX tới 1945 (2006.

-- Phê bình & tiểu luận gồm những bài lẻ,chưa đưa vào các tập nói trên



3/ Sau hết, tôi có hai tập phiếm luận Nhân nào quả ấy,2002 in lại 1 lần, và Những chấn thương tâm lý hiện đại,2009

Monday, July 22, 2013

Phê bình trong cơ chế tự thỏa mãn của đời sống văn học






Thời gian qua, mỗi khi bàn về những nhân tố hạn chế sự sáng tạo
trong văn nghệ người ta chỉ mới nói đến cơ chế trói buộc. Chức năng
sợi dây trói do phần tự kiểm duyệt ngự trị trong từng người cầm bút
đảm nhiệm. Và ở quy mô xã hội, nhiệm vụ ấy được cụ thể hóa trong công việc của giới
phê bình. Nhớ lại những vụ việc "có vấn đề" trong mấy chục năm qua,
từ Cái gốc (Nguyễn Thành Long), Tình rừng (Nguyễn
Tuân), Đêm đợi tàu (Đỗ Phú), Cây táo ông Lành (Hoàng
Cát) ..., người ta hẳn thấy giới phê bình đã đóng một vai trò không lấy
gì làm đẹp đẽ cho lắm.



Có điều đời sống văn học không phải chỉ có những vụ việc.





Là nhu cầu tự bộc lộ của mỗi người cầm bút, nhưng sáng tác cũng là
một hoạt động mà xã hội cần thiết. Đời sống đòi hỏi phải có các tiểu
thuyết, các tập truyện ngắn, tập thơ, các công trình nghiên cứu văn
học như phải có cơm, có thịt, có điện, có nước, có đồ chơi cho trẻ
thơ, gương lược cho phụ nữ.



Bởi vậy, giữa hai vụ việc, để làm nên nhịp sống hàng ngày của đời
sống văn học, người sáng tác vẫn làm việc đều đều. Tác phẩm ra đời
rồi có sự trao đổi thảo luận, khen chê, có cả tặng giải cho nhau
nữa. Chính ở đây đã bộc lộ căn bệnh: mẹ hát con khen hay. Sự
tự lừa mị,
nếu có thể nói như thế.



Thử nhớ lại những bản tổng kết, những báo cáo về tình hình văn học
sau một thời kỳ nào đó, sau một đợt đi thực tế chẳng hạn, hoặc thử
nhớ lại những bài xã luận ra trong những ngày lễ lạt là chúng ta đủ
rõ. 


Sẵn giấy mực trong tay, chúng ta tha hồ trưng ra những lời tự
khen mình, người nọ khen người kia, làm chứng cho tâm lý Ta là ta
mà lại cứ mê ta
mà Chế Lan Viên đã phát biểu một cách thành
thực. 


Với một sự tự tin không che giấu, chúng ta sẵn sàng coi những
sáng tác của mình là bất tử, là có thể sánh ngang với những giai
đoạn rực rỡ trong lịch sử văn học dân tộc và không kém gì nước
ngoài. 


Rõ ràng, ngoài lý do tạo sự cân bằng trong tâm lý sáng tác
sau những vụ việc, xu thế tự thỏa mãn này là để biện minh cho những
hạn chế ngặt nghèo trong giao tiếp với văn học thế giới cũng như
trong việc tiếp nhận di sản văn học quá khứ.



Nguyễn Minh Châu từng nói tới cái lối lãnh đạo đáng phục "trói xong lại bảo đố mày
bay lên"


Cần nói thêm, trong cảnh trói buộc đó, tất cả đã nói với
nhau để cùng tin rằng mọi người đang bay lên.



Cơ chế của sự tự thỏa mãn gồm nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất,
là tạo ra một cái chuẩn thấp hơn hẳn so với chuẩn thông thường mà
mọi nền văn học ở mọi nơi và mọi lúc vẫn dùng. 


Theo cái chuẩn giả
tạo này, tác phẩm nào đi vào các vấn đề siêu hình, tác phẩm nào có
vẻ khó hiểu một chút là xa lạ và không có giá trị. 


Cũng theo tiêu
chuẩn này, nội dung và hình thức có sự tách rời rõ ràng và mặc dù
vẫn cho hình thức là quan trọng, nhưng lại đặc biệt lưu ý nội dung
mới là yếu tố quyết định, mà cái nội dung này thì được hiểu thiển
cận, vụ lợi


Thói láu cá có thể tìm thấy ở đây mảnh đất tuyệt diệu.




Cũng như khi nói về sự trói buộc chúng tôi cho rằng sự lạc hậu này
trước tiên nằm trong ý thức từng người cầm bút.


Nó cũng là cái tâm lý một thời cần giải tỏa.


Nhưng không ở đâu nó hiện ra lộ liễu và gây tác hại như trong phê
bình văn học. Đọc các bài viết hồi ấy, chỗ nào chúng ta cũng gặp
những giọng điệu đại loại "một bước tiến mới", "một bước phát triển
của ngòi bút", "một đóng góp vào đời sống"... 


Rồi "người mở đầu" cái
nọ, người "tiêu biểu" cái kia, rồi "đỉnh cao" của lối này, lối khác.
Đọc mãi người ta đâm nghi ngờ, hoặc người phê bình dễ dãi đến mức vô
nguyên tắc
, hoặc anh ta định dùng những lời khen này vào mục đích
đen tối
nào đó.


Nếu những lời khen dễ dãi vô trách nhiệm nói trên chỉ xuất hiện
trên các bài báo vặt thì còn đi một nhẽ. Đằng này, người ta cũng
thường xuyên gặp nó trong những lời giới thiệu mở đầu các tuyển tập,
các bài tổng luận mở đầu hay kết thúc cho các sách giáo khoa văn
học, từ phổ thông cho đến đại học, thậm chí, cả các từ điển văn học.


 Ngay trong những công trình được coi là nổi tiếng một thời, người ta
cũng gặp lối khen chê kiểu đó.


 Chẳng hạn cuốn Tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại
của Phan Cự Đệ. Gạt đi phần lý luận dang dở, chắp
vá, thì chỗ hỏng chính của cuốn sách này là nó trình bày một bức
tranh sai lạc về tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. 


Tác giả thường có
lối khen quyển sách này là "mẫu mực chín muồi của tiểu thuyết hiện
thực xã hội chủ nghĩa", trong quyển sách kia "có sự kết hợp nhuần
nhuyễn tính hiện thực và tính đảng". 


Lại nữa, trong khi minh họa cho
những luận điểm của mình, tác giả có lối trộn lẫn rất tự nhiên, đoạn
trên là Balzac, Hugo, Tolstoi, Dostoevski, đoạn dưới là Tô Hoài,
Nguyễn Đình Thi, Chu Văn, Phan Tứ, và nếu căn cứ vào những hình dung
từ định giá thì hình như là họ rất gần nhau, là những giá trị tương
đương nhau!


 Một ví dụ khác, phần viết về văn học VN đương đại trong
cuốn Từ điển văn học (nhiều tác giả thực hiện) cũng có sự dễ
dãi khó chấp nhận. Viết như thế về một nền văn học còn đang vận
động, không chỉ không đúng sự thật mà còn làm cho cả bộ từ điển trở
nên khập khiễng, thiên lệch.


Những gì xảy ra với phê bình khi sự ngợi khen dễ dãi trở thành chức
năng chủ yếu của nó?


Điều đập vào mắt chúng ta là phê bình đã tạo ra
một hệ thống "ngôn ngữ" kỳ lạ. 


Để hiểu giá trị một quyển sách và tầm
cỡ tác giả, người ta phải xem bài phê bình viết về nó được đặt ở
trang nào, ở mục phê bình hay đọc sách. Số lượng chữ
nghĩa dành để nói về nó cố nhiên phải là một yếu tố được tính toán
từ đầu. 


Chất lượng sách thì khác nhau mà lời khen thì có hạn, và sự
chê bai bị coi là không nên nói ra, cho nên nhiều người viết phê
bình (trong đó có cả người viết bài này) phải tìm một hệ thống uyển
ngữ, nào là thành tựu bước đầu, thành tựu đáng ghi nhận, đóng góp
không nhỏ, bước tiến nhất định... 


Việc tìm cho ra những chữ làm
cho người có sách được phê bình bằng lòng nhiều khi chiếm phần quan
trọng trong những cuộc mặc cả giữa biên tập viên các báo và người
viết phê bình. Bởi vì đó là đối nhân xử thế, giải quyết không khéo
dễ gây va chạm. 


Còn như việc nhà phê bình nhân dịp đọc sách trình
bày những luận điểm học thuật, hoặc những suy nghĩ về đời sống về
nghề nghiệp, việc đó càng thu hẹp càng tốt. 


Lâu dần rồi điều đó
chẳng ai đợi chờ ở phê bình nữa. Ấy thế nhưng phần mình, thì chỉ vai
trò người ngợi khen dễ dãi cũng đã làm cho nhiều nhà phê bình
vênh vang lắm. 


Trong nhiều bài viết, người ta bắt gặp một giọng điệu
đáng sợ: cái giọng cả quyết của người tưởng mình nắm giữ chân lý và
ban phát danh vọng
, cái giọng tự tin khó chịu của kẻ nghĩ rằng mình
đã xếp hạng ai thì chỉ có tuyệt đối chính xác. 


Thường những nhà phê
bình này luôn luôn tự đồng hóa mình với dư luận xã hội, với người
đọc, họ tự coi mình đại diện cho yêu cầu thời đại và đủ thứ quyền
lực khác. Người ta cứ viết khơi khơi Đảng ta nhận định rằng... Đảng ta luôn luôn cho rằng... mặc dù chưa bao giờ có một văn bản chính
thức nào xác định người ấy phát ngôn thay Đảng cả.


Thế còn giới sáng tác, thái độ của họ với
những người dựng bia này ra sao? 


Cố nhiên, sau khi viết sách lại
nhận được một lời phê bình đích đáng thì cũng thú lắm. Song khốn
nỗi, những lời khen giá trị đâu có mấy, điều thường xảy ra là lời
khen xuất phát từ những mỹ cảm thô thiển và nhiều khi dựa hẳn vào sự
nghe ngóng từ cấp trên
, nên như chúng ta đều biết, nhiều người sáng
tác tỏ ra ý khinh nhờn người viết phê bình và nghề phê bình ra mặt. 


 Sinh thời, Chế Lan Viên có nói một câu nổi tiếng: "Nhà văn học ba
năm trở thành nhà phê bình, nhưng nhà phê bình học 30 năm cũng không
trở thành nhà văn được
". 


Có hàng loạt người sáng tác, nhất là người
làm thơ,
lâu lâu lại tạt sang phê bình, coi phê bình là một thứ nghề
phụ trở về lúc nào cũng kịp. 


Thật ra không phải họ không có lý: khi
chỉ rút lại trong việc khen chê từ một cái chuẩn thấp thì người
trong cuộc nhất định phải giỏi hơn rồi. 


Nhưng dẫu sao cả nền phê
bình cũng cần vài tên tuổi làm mặt hàng. Và đây là điều đã xảy ra
trong mối quan hệ tuyệt vời này: một mặt khinh phê bình như vậy,
nhưng mặt khác, nhiều người sáng tác lại tìm cách lợi dụng phê bình


 Họ hiểu nếu thời trì trệ kéo dài thì chính những người phê bình kia
lại đưa họ lên đài danh vọng và ở lại với lịch sử
. Thật là một quan
hệ đáng ghê sợ.


Trong không khí cởi mở hiện nay, rõ ràng giới phê bình chúng ta cần
nghĩ lại về chính mình. 


Có những chỗ lâu nay ta yên chí mọi việc đâu
vào đó, hình như đã đúng hướng rồi, chỉ cần cố lên một tí là được,
thực chất lại vẫn là việc hỏng.


Công việc ngợi khen mà phê bình đảm nhiệm trong những ngày qua là
thuộc loại đó.


Trong cả hai vai trò sợi dây trói người ngợi khen
một cách dễ dãi, phê bình đều hiện ra như một nhân tố cản trở sự
phát triển lành mạnh của văn học
. Khó lòng nói khi nào có tội hơn,
khi nào đáng thể tất hơn.


Qua đây càng thấy phê bình là khó.


 Không phải
ngẫu nhiên nhìn lại văn học

Xô viết hơn 70 năm qua, người ta
nhận thấy không có nhà phê bình nào được coi là chứng nhân tin cậy, hậu thế có thể trông vào để hiểu văn học Nga thế kỷ XX. Ngay một cuốn
lịch sử văn học Xô viết
 đươc giới nghiên cứu các nước khác công nhận vẫn chưa
được viết ra.


Tôi không nghĩ rằng số phận chúng ta lại may mắn hơn.







 Đã in trong Những kiếp hoa dại, 1993