Thursday, August 15, 2013

Toilet xưa và nay


Trong  khi lc li đống giy t và các bài báo cũ , tôi tìm thy bài viết sau đây, viết dưới dng tr li phng vn và đã in mt tp chí có liên quan đến mt hay thi trang mà nay tôi đã quên tên và  năm tháng (ch nh bài viết khong 2007.) Nhân đọc thy vui vui, xin gii thiu li vi   bn đọc. Riêng
có lời cám ơn tới tờ báo và bạn phóng viên đã gợi ý tôi viết.








    Được
biết  trong những vấn đề được ông quan
tâm, khi  nghiên cứu văn hoá, có cả câu
chuyện  
toilet. Xin ông cho biết lý do gì mà ông lại có sự
chú ý tới nó  như vậy?




    Tôi thấy ở Việt Nam cứ nói đến văn hóa thì nghĩ đến
những  chuyện cao xa trừu tượng, hoặc hoa
lá cành cờ đèn kèn trống. Trong khi đó phong cách sống của mỗi cộng đồng, bao
gồm suy nghĩ, ăn ở, đi lại… tất cả những cái đó đều là văn hóa.


    Một
nhà nghiên cứu Trung quốc là ông Kim Văn Học (Kim Wen Xue)  đang dạy đại
học ở Nhật,  viết sách  so sánh văn hóa Trung Hoa Hàn Quốc và Nhật Bản,
từng nói tới cả cách sử dụng toilet và cách trang trí  phòng tắm của  mỗi nước.


   
Bản thân tôi, khi đọc sách và đi du lịch ở  nước ngoài thường quan sát  xem 
các hiện tượng như nước thải rác đã được người ta giải quyết ra sao. Sự
chú ý tới toilet là nằm trong cái
mạch đó.  


   Trong
cuốn sách nói trên ( đã được dịch ra tiếng Việt ), Kim Wen Xue cho biết  toilet
của Hàn Quốc là phòng hóa trang, vào đó đọc sách và suy nghĩ; còn ở Nhật, chỉ
riêng hương liệu và nước thơm cao cấp dùng trong toilet cũng đã có mấy chục loại.


    Theo Kim
Wen Xue,
một nhà văn hóa Trung Quốc đã nói: “Tư thế và cái mông là thước đo quan trọng có thể đánh giá được mức độ thành
thục của một loại văn hóa ; có thể sánh nó với lễ tiết của dân tộc”.


     Một
nhà văn khác đã miêu tả dáng vẻ con người trong nhà xí: “Chân đạp hai hòn gạch, du nhàn ngắm Nam Sơn”.





 Thế còn ở VN, đại khái tình hình ra sao ?


   
Hãy bắt đầu bằng ngôn từ.


   Ai
đã đi Trung quốc đều  biết, ngoài chữ W.
C., bên ấy họ thường gọi nhà vệ sinh là cè suo  tức
sở,
hoặc xỉ shou jian  tức tẩy thủ gian-- nơi rửa tay.


      Còn ở ta, người mình thậm chí không có cái
tên nào để gọi cái nơi ấy cả. Cái chữ “xí” là do ta mượn  của họ.


    Có
vẻ như người Việt rất coi thường chuyện này, ai cũng phải làm, nhưng không ai
muốn nói tới. Nó nằm trong một căn bệnh lớn hơn là bệnh cẩu thả, sống thế nào
cũng xong. Bạn có nhớ cái câu “Thứ nhất
quận công, thứ nhì ỉa đồng”
? Người  mình
thích xả chất thải ra tự nhiên chung quanh một cách  vô tội vạ như vậy, coi đó mới là khôn là biết sống.
Bừa bãi là một cách để chứng tỏ mình hơn người và mình bất cần đời.


    
Nên nhớ thời xưa, trong ngôi nhà của người Việt mình, các phòng không có
sự ngăn cách, mỗi cá nhân không có khoảng không riêng. Điều này đánh dấu trình
độ sống đơn giản, con người chưa tách khỏi nhau, mà còn sống lẫn với nhau. Theo
tôi quan sát, xu thế  sống bày đàn  thế này còn tiếp tục trong đời sống  hiện đại.


   Trong khi  đặt
văn hóa
toilet trong văn
hóa sinh hoạt chung của mỗi cộng đồng,  ông đã có những thu hoạch gì ?


     Thường
tôi rất quan tâm tìm hiểu xem người Việt Nam dưới con mắt người nước ngoài
như thế nào. Nhiều khi chúng ta viết về chúng ta thì còn hơi e ngại. Nhưng đọc
nhiều tài liệu của nước ngoài viết về ta thì  thấy không có gì giấu được thiên hạ.


     Trong
cuốn Tây hành nhật ký, ông Phạm Phú
Thứ kể chuyện  một chuyến ngồi tầu thủy sang
Tây. Người châu Âu hồi đó họ hay chê Việt Nam nhiều người ghẻ lở, bẩn. Khi
tàu cập bến một thành phố  bên Trung Đông,
họ bảo ông Thứ  nên bắt mọi người tắm rửa
sạch sẽ, bôi thuốc, rồi mới cho lên bờ.


   
Nhìn ra dân các xứ khác. Người Nhật sạch không chê vào đâu được, còn
người Tàu thì luôn luôn cực đoan: bẩn nhất trần gian, sạch cũng không kém ai.
Dân ta còn mức sống thấp, cuộc sống phụ thuộc vào thiên nhiên, gặp đâu hay đấy.
Cũng giống như  chuyện làm ăn thôi. Tôi
đọc một tài liệu Trung Quốc nói về Việt Nam từ thế kỷ XVII : họ chê ta nhà
cửa qúa sơ sài, ăn ngủ tạm bợ. Người thợ thủ công của các nước thường làm việc
trên bàn,  có ghế ngồi đàng hoàng, còn ta
thì cứ ngồi bệt ngay xuống đất, không có quy củ. Đại tiểu tiện cũng là nằm
trong cái tình hình chung đó.





    Xin ông nói
rõ hơn về tâm lý con người trong chuyện này?


    Thời
xưa người ta coi việc đại tiện thuộc một trong bốn “tứ khoái” nói nôm na bao
gồm ăn ngủ đụ ỉa. Trong việc làm người, đó là những phút sung sướng, và ta phải
tận hưởng sự sung sướng ấy, phải đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của cuộc
sống.


   
Cái gì cũng phải học. Thời trước, những ông già thạo đời như Nguyễn Tuân
dạy chúng tôi cách ăn, ông bảo là các cậu không biết ăn, ăn lung tung là mất
ngon, ăn no là hỏng…


    Còn
chuyện vệ sinh: trong cái việc coi thường khâu này, chính là chúng ta đã không
biết tận hưởng  cuộc sống. Đại tiểu tiện
là sự giải thoát, là niềm vui của con người, và nếu giải quyết nó một cách
thông minh, không gây khó chịu, không phải là làm cho xong mà tận hưởng được
nó, thì không những nó làm cho mình khỏe thêm mà còn làm cho mình ham sống và
yêu cuộc sống hơn.


    Toilet xưa trong ký ức của ông là gì? Nó có quá…
kinh khủng, hay mang chút vui buồn gì không?


  Tôi sinh
ra và lớn lên ở Hà Nội, nhưng Hà Nội trước năm 1954 là Hà  Nội của chiến tranh, chỉ toàn dân ngụ cư chạy
loạn. Hồi ấy dân ở rộng lắm, nhà tôi ở Thụy Khuê, một vùng ngoại ô,  ba gian nhà lá trên một khoảnh đất đi thuê
rộng tới gần  200 m2. Nhưng tôi nhớ rằng lúc
đầu nhà tôi cũng không có nhà vệ sinh. Mỗi khi có nhu cầu, là chạy vội lên một
bãi hoang phía đường Hoàng Hoa Thám tìm một chỗ nào còn sạch là tương ra. Vài
năm sau, người ta xây lên ở đó một dãy nhà vệ sinh công cộng để lấy phân, nhưng  chỉ là mấy tấm phên che tạm bợ và chúng tôi
vẫn phải chạy ba quãng đồng để làm cái việc thường nhật đó.


    Hà
Nội hồi trước 1954 có ông Năm Diệm chuyên làm thầu nhà xí, quản lý đội đổ
thùng. Phần lớn các nhà  khu phố cổ có
người đến đổ thùng. Còn phần các xóm ngoại ô như Thụy Khuê thì có  dân Cổ Nhuế  quản.


    Dụng cụ nghề nghiệp của họ là  đôi quang gánh và một cái gáo nhỏ làm bằng
thiếc, trông như cái nón lật ngược. Lúc này nhiều gia đình đã có hố xí riêng
làm ngay cạnh nhà, nhưng rất sơ sài, không phải tự hoại. Cứ độ vài hôm là có
các bà Cổ Nhuế xuống lấy, mà lúc nào xuống lấy thì bẩn lắm , mùi hôi thối từ xa đã xộc vào mũi. Nghĩ lại thấy rùng
mình…


   Tôi nhớ trong một truyện ngắn mà tôi làm biên
tập,  nhà văn P H A có kể lại cảnh đi “
giải quyết nỗi buồn “ ở nông thôn. Giữa cánh đồng  trống trải, cứ đang đi thì có người đi qua, là
phải vẫy tay để ám hiệu là đừng ra. Lâu ngày quen dần chỉ cần nói đi vẫy tay,
là người ta đã biết đi đâu rồi. Nó thành một nếp sống tự nhiên, mỗi khi nhớ lại
thấy vừa vui vừa buồn.





    Nước nào nông thôn lạc hậu chẳng vậy?


    Không phải nông thôn mà chính thành thị của
chúng ta là vậy, thế mới bi đát. 


     Gần
đây tôi có biên tập một cuốn tiểu thuyết Trung quốc, cuốn Bố! bố! bố!  của Hàn Thiếu
Công.


   Cuốn
sách này thuộc thể loại “văn học tầm căn“ ( văn học đi tìm gốc rễ) ở đó nhà văn
giải thích hiện tại bằng cách quay về quá khứ. Cuộc sống của một bản làng lạc
hậu kinh khủng, con người ăn ở dầm dề lung tung, sau một trận làng nọ đánh nhau
với làng kia, người chết nhiều quá, chó  ăn thịt người chứ không thèm ăn… phân
.


    Khi
nhận viết lời bạt cho cuốn sách đó, tôi muốn chứng minh rằng có thể tin chuyện
này là có thực, bằng cách kể lại kỷ niệm về một chuyến đi Trung quốc năm 2006 -- chuyến đi cùng với anh Hàm Châu, do báo Nông thôn ngày nay  của chị Mai Nhung bao.


    Bắc
Kinh quá lớn và quá cổ, ngay khu cạnh ga có những căn nhà lụp xụp, cả xóm có
vài nhà xí công cộng. Loại nhà xí này không có vách ngăn, người nọ ngồi cạnh
người kia, chỉ có nam nữ tách biệt, đi qua phòng của nam thì đến phòng của nữ.


    Trong
bài bạt, có một đoạn tôi kể cảnh đi vào một ngõ gần ga, thấy  phảng phất cái mùi khó chịu,  đến lúc nhận ra mấy người tay cầm mảnh giấy vo
viên  thì hiểu là họ đi tìm sự sung sướng


    Nhưng điều buồn cười là khi tôi viết điều đó
ra, người biên tập muốn cắt đi. Tôi đề nghị giữ lại. Trong chuyện nhà xí như
thế, rút ra được điều này: Trung Quốc bẩn rất bẩn, sạch rất sạch, nhưng dẫu sao
các điểm giải quyết đó còn có phạm vi cố định.


    Chứ
ở VN, người ta  xả lung tung, tức là cuộc
sống không được tổ chức.


    Xin
kể  thêm một chi tiết về cuộc sống của Hà
Nội trước năm 1954, ở phố Hàng Buồm. Thời ấy Hoa Kiều nhiều lắm và họ sống
trong những ngôi nhà cũ chật chội đến mức không có cả nhà vệ sinh. Nhiều khi tiếp
khách, họ ngồi ngay trên cái bô  vừa
chuyện trò vừa đi giải, đi đại tiện, - một cách tự nhiên. Xong việc họ  đẩy cái bô  vào gầm giường. Tôi biết những chuyện này là
do anh Nhị Ca, nhà phê bình đàn anh của tôi ở Văn Nghệ quân đội kể lại.
  



   Còn chuyện toilet ở HN hồi trước 1975?


      Là món hố xí hai ngăn. Để hiểu nó là thế nào,
xin mời bạn đọc đọc lại hồi ký Chiều
chiều
 của Tô Hoài. Đọc để chia sẻ mọi
nỗi kinh khủng mà người dân thủ đô chịu đựng những năm chiến tranh. Lần ấy ông
Dế mèn đóng vai cán bộ dân phố đi thị sát một dãy hố xí hai ngăn thuộc một ngõ
nhỏ đâu quãng gần chợ hàng Da.


     
Chuyện toilet ở Hà Nội những
năm chiến tranh lại càng  cám cảnh hơn
khi nhớ lại rằng hồi ấy, báo chí và quan chức thủ đô đề cập tới nó với sự gian
dối bẩm sinh. Không có tiền không làm được hố xí tự hoại thì im đi cho xong.
Đằng này còn mang chuyện hố xí hai ngăn ra mà khoe. Rằng chúng ta đã có cách
giải quyết rất khoa học rất vệ sinh, 
và đấy là điều chứng tỏ ta tài ta giỏi, ta
làm gì cũng hơn địch. Coi dân như trẻ con, bạ chỗ nào cũng tuyên truyền mà lại.



     Vâng, trong quá khứ câu chuyện đi toilet thật là vừa bi vừa hài, nhưng xin hỏi ông,
tình hình hiện nay ra sao?


     Vào
nhiều nhà HN mới xây, có nhà, diện tích ở thì rộng, mà khu vệ sinh thì chật. Có
vẻ như nó hoàn toàn không được chú trọng, chỉ cốt là có, và chi phí càng ít càng
tốt. Nhưng mọi chuyện sẽ biến đổi dần dần. Có lần tôi nghe một đứa cháu nói
“Cậu ơi, công trình phụ bây giờ là công trình chính đấy ạ” thì tôi à lên rằng,
giờ đây, người ta đã biết sống rồi !


    Chừng nào ở nông thôn cũng như các đô thị  có những nhà vệ sinh hiện đại, tốt, và người HN biết tận hưởng niềm vui trong khi đi giải quyết chất thải, thì khi đó là người HN đã trưởng thành.  





     Nhìn
rộng ra cả xã hội, nhất là nơi công cộng?


   
Chuyện này thì khó khăn thật. Tôi đã thường cố gạt đi mà đôi lúc vẫn
không tránh khỏi cảm tưởng Hà Nội chưa bao giờ nhếch nhác như bây giờ. Thực tế,
từ cái nghèo mà người ta bẩn, có điều sau đó, khi đã giàu lên, người ta vẫn
không để ý đúng mức tới sự vệ sinh.


    Không kể chuyện rác chuyện cống rãnh, ngay
chuyên  đại tiểu tiện,  so với những năm chiến tranh, chẳng những  không khá lên được bao nhiêu, mà có nhiều mặt
còn tệ hại đi.


    Cô
em tôi ở Nguyễn Trung Trực, ra chợ Đồng Xuân bán hàng, có lần bảo tôi: “Anh ơi,
buổi sáng đi chợ, phải tránh mà đi, chứ không là giẫm phải  phân ngay !”.


    Có bao giờ chúng ta thử đếm xem tỷ lệ nhà xí
công cộng  so với mật độ dân ở HN ra sao?
Có lẽ trên thế giới này không có thành phố nào lại ít  nhà vệ sinh công cộng như HN. Mọi người toàn
giải quyết ở gốc cây, góc tối.


     Đói
kém lâu ngày, ta đâm ra coi thường vệ sinh. Rồi khi biết ra thì bài bây, thậm
chí lại lại lý tưởng hóa nó, coi nó là đặc trưng là bản sắc, không ngồi ăn bên
cống rãnh không phải là người Hà Nội (!).


    Cách sống cũng như cách nghĩ ấy chỉ chứng tỏ HN
còn là một thành phố kiểu trung cổ. Và nếu biết rằng, mỗi ngày có khoảng 500
ngàn người các tỉnh lân cận --từ bà bán rau đến anh xe ôm, anh thợ nề, máy cô
quang gánh ngồi đầu phố làm phiên chợ người – tất cả  đổ về HN, quần thảo HN, hành hạ HN, lại biết
rằng phần lớn  HN được xây dựng bằng  thợ từ  nông thôn lên, các cửa hàng hàng ăn HN được
phục vụ bằng những ô-sin tỉnh lẻ, thì chúng ta hiểu rằng mọi chuyện không thể
khác được.


   


      Quay
trở lại từng gia đình : phải chăng nhìn vào
toilet, có thể liên tưởng  phần nào đến
mức sống của gia đình đó  ?


     Tất 
nhiên rồi. Nhưng chỉ là mức sống thôi, chứ không phải văn hóa sống đâu
nhé !


     Thành ngữ Trung Hoa có câu, y phục
xứng kỳ đức
. Nếu tiện nghi hiện đại mà con người cứ toát ra vẻ cổ lỗ , cứ
đầy chất lưu manh vô văn hóa, thì cái tiện nghi kia không thể cứu vãn lại.


    Đã là văn hóa sống thì không phải bất cứ ai có
tiền  ngày một ngày hai là đạt được ngay !





Đâu
là dấu hiệu của  trình độ mà  ông nghĩ là chúng ta phải tiến tới ?


    Nếu con người chỉ biết sống trong đám đông ồn
ào, và lẫn mình đi thì chưa phải là con người văn hóa. Kể cả khi họ quần tụ với
nhau xem ti vi rồi cười hô hố với nhau thì cũng vậy.


   Tôi
muốn nhấn mạnh tới con người có cuộc sống riêng, con người đơn độc.


   Sở dĩ thời nay người ta đọc sách ít vì người
ta không có nhu cầu đó. Và nhu cầu đơn độc này cũng liên quan đến văn hóa toilet.


     Chỉ có thể bảo niềm vui sướng đã đến với con
người trong phòng toilet khi mỗi cá
nhân, đồng thời với việc  giải quyết một
trong tứ khoái đó,  có dịp nghĩ về mình
--, mình là gì, mình đang ở chỗ nào, mình sống như thế nào. Những lúc đơn độc đó
mang lại cho chúng ta một niềm sung sướng cao cả thanh khiết.





   Còn ông, ông thích một không gian toilet thế nào?




   Tôi
biết hiện nay có nhiều người sùng bái tiện nghi, sau khi săn tìm được của lạ,
của độc, nhiều tiền, thấy mình đã ghê gớm lắm. Đó phần nhiều cũng chỉ là hạng giàu
sổi, tôi chả ghen tị với họ làm gì.


    Tôi đang sở hữu một không gian toilet đơn giản, hợp với mức sống của
tôi. Tôi sống với nó một cách tự nhiên, vào ra không thấy bị cách bức, ngần
ngại; ở đó, tôi không làm phiền ai mà cũng không tự làm phiền mình.


    Đang làm
việc dở có khi tôi cầm cả cuốn sách theo vào đó mà tiếp tục đọc.


    Người ta
thường bảo về già con người như trở lại thuở trẻ con, nghĩa là có thể ăn nói
lung tung một chút mà không sợ bị chê cười. Về chuyện toilet hôm nay,  bọn người như tôi có quyền nghĩ lẩm cẩm rằng bây
giờ mình mới được sống  !

Sunday, August 11, 2013

Nên hiểu "cái nạn điển Tầu" như thế nào?

Văn nhân - tài đức và học vấn là tên gọi một bài viết của nhà giáo Phương Lựu (PL) trên báo Văn nghệ số 15 (13-4-2013). Đọc bài PL, bạn Trần Thị Phương Hoa (TTPH ) có bài trên mạng VHNA (3-6-2013), tỏ ý “thất vọng và buồn bã”. Cái cớ để tác giả ngán ngẩm với bài viết của PL nằm ở một nhận định bao trùm về tình hình nghiên cứu ở ta, theo đó, việc gì ta cũng đã làm và chỉ cần dựa vào mình mà làm rất tốt, can cớ chi phải trở lại với điển tích Trung Hoa. Theo tôi hiểu, những ý kiến trình bày ở đây không chỉ là ý riêng của tác giả Cái nạn điển Tầu mà còn là nhiều người khác.





Lý do chúng tôi viết bài này để có vài lời phản biện với TTPH là thế. Những ý kiến tóm tắt sẽ nêu là:


1/ học thuật VN hôm nay rất ít chú ý kinh điển, nói chung là ít chú ý tới các phương diện lịch sử và văn hóa cơ bản.

2/ tài đức và học vấn của các văn nhân lại càng là điều ít được nghiên cứu, nếu không nói là chạy theo những quan điểm sai lệch. Nhiều vấn đề quan trọng khác của học thuật cũng trong tình trạng như vậy.

3/ Trước mắt trong việc nghiên cứu các vấn đề này, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở phần tư liệu VN mà phải mở rộng ra các nền văn học khác. Tất cả phải được làm theo những chuẩn mực quốc tế. Mở đường hội nhập là cách thức duy nhất để cả sáng tác lẫn nghiên cứu ở ta có thể vượt thoát khỏi bãi lầy hiện tại.

4/ Trong khi chờ đợi những sự thay đổi, mọi sự vuốt ve o bế nhau đều có hại. Nhất là không được đổ lỗi cho những nhân tố đến từ bên ngoài. Cần thấy rằng nguyên nhân của tai họa, tóm lại, -- chính là ở sự không chịu học cũng như không biết học. Vốn kéo dài suốt từ thời các cụ xưa, căn bệnh này đến nay lại càng trở thành một thứ tử huyệt của nền học thuật chúng ta. Càng viện ra đủ lý do để không chịu học, chúng ta sẽ càng lún sâu vào bất lực và thoái hóa.



Một nền tảng học thuật quá mỏng quá yếu


Theo nghĩa thông thường, điển tức là phép tắc mẫu mực, kinh sách ngày xưa. Vậy nghe nói cái nạn điển Tầu cứ thấy kinh kinh, hình như các nhà nghiên cứu nhà mình nhiều người mải miết trở về với kinh sách ngày xưa đến mức quá quắt, đa thư loạn ngôn, và như vậy là đang trở nên giống như các cụ hủ nho xưa.

Với kinh nghiệm của một người cả đời sống trong giới những người cầm bút, tức những người gọi chung là văn nhân, tôi muốn nói tình hình chung của cả giới là hoàn toàn ngược lại với điều bạn TTPH vừa gợi ra.

Với giới sáng tác, chẳng hạn các bạn làm thơ, có một tình hình mà chưa bao giờ thấy trong quá khứ -- ở nhiều người, sự hiểu biết về lịch sử thơ ca trong và ngoài nước là một khoảng trắng.

Trong Thi nhân Việt Nam 1932-1941, khi xét chung về Thơ mới, Hoài Thanh đã chia ra xóm Thơ Đường, xóm các nhà thơ ảnh hưởng của thơ Pháp …và đó là cách xem xét đúng đắn.

Nhìn vào từng nhà thơ hồi ấy, người ta luôn luôn cảm thấy cái phần văn hóa thơ của các tác giả rất sâu, dày. Ngay một người như Nguyễn Bính, ông không chỉ thạo ca dao như người ta hay nói, mà còn thạo cả thơ Trung Hoa cổ nữa.

Còn với các nhà thơ trưởng thành từ sau 1945 ( ta hay gọi là lớp kháng chiến và lớp chống Mỹ), ta không sao phân nhóm họ theo ảnh hưởng văn hóa như Hoài Thanh đã làm. Họ cứ sáng tác như cây mạ được gieo  theo kiểu vung tay từng nắm và chen chúc mọc giữa đồng mà chẳng theo lớp lang mạch lạc nào hết. Và đó chẳng phải là một điều đáng tự hào gì, nếu không nói một dấu hiệu của tình trạng tự phát khiến họ không thể đi xa được.

Tình trạng này càng rõ nếu nhìn vào giới nghiên cứu.

Năm 1961, vào học khoa văn Đại học Sư phạm Vinh, khi học đến môn Lý luận văn học, tôi rất thích cuốn Sơ thảo nguyên lý văn học của Nguyễn Lương Ngọc. Ở đó, khi nói bất cứ vấn đề gì, tác giả đều dẫn cả cổ kim đông tây. Có mặt trong các trang sách của ông phải kể từ Platon, Aristote, Boileau, Plekhanov… đến Viên Mai ( tác giả Tùy viên thi thoại), Lưu Hiệp (tác giả Văn tâm điêu long).

Vả chăng, trong cách trình bầy, thấy Nguyễn Lương Ngọc đúng là có đọc thật chứ không phải nhắc cho thiên hạ biết là mình có đọc như nhiều nhà nghiên cứu hiện nay. Bài giảng của ông do đó mang tính gợi mở chứ không áp đặt.

Sở dĩ tôi phải mò mẫm đi tìm Sơ thảo nguyên lý văn học vì đến thời tôi học ( từ sau 1960), các thầy không dạy như thế nữa. Giáo trình tôi được học là một thứ mô phỏng của mấy cuốn lý luận của các trường đại học Liên xô hồi ấy. Mà mô phỏng với cái nghĩa rất thô thiển, trong nhiều trường hợp chỉ là hớt lấy cái phần thông tục nhất. Thứ nữa trong các sách này, thí dụ nêu lên minh họa không bao giờ là các hiện tượng văn học Hy La, văn học phương Tây cả cổ điển lẫn hiện đại. Mà chỉ nhắc hết Pavel của Gorki lại Pavel cua Ostrovski, để rồi chuyển rất nhanh sang phần áp dụng vào văn học VN đương thời, từ Việt Bắc,Gió lộng của Tố Hữu đến Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên hoặc Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi. Hóa ra mục đích của môn lý luận ở cái gọi là đại học của ta là thế, là lướt qua rất nhanh các vấn đề học thuật cơ bản, mà chỉ nhăm nhăm xem có gì tiện đem ra áp dụng để phục vụ cho việc chỉ đạo nền văn học đương thời. Hướng làm việc đó căn bản còn kéo dài cho tới hôm nay.



Về chuyện học của người Việt và các văn nhân Việt


Từ chuyện điển phạm, bạn TTPH mở rộng ra:

 "Về chữ học thì người Việt chả xa lạ gì. Các bậc văn nhân Việt xưa đa phần là người có học, thậm chí đỗ đạt rất cao như Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh, tương đương Tiến sĩ, Nguyễn Khuyến đỗ đầu kỳ thi Đình, đến như nhà thơ Tú Xương lãng tử cũng hết sức chăm chỉ chuyện đèn sách, dù chỉ đỗ đến Tú tài. Tấm gương học tập của các vị ấy đáng để con cháu tham khảo. Nó không chỉ là học tập, nó là ý chí, là nghị lực, quyết tâm, sự dũng cảm và dấn thân."

Những nhận định loại này đang khá phổ biến. Lúc còn là sinh viên mới ra trường, tức những năm mới vào đời, tôi cũng sẵn sàng tin như vậy. Nhưng càng ngày, đọc thêm về các nền văn hóa khác, càng thấy rằng người Việt cũng như văn nhân Việt,  do không có việc xuất bản sách vở mà cũng hạn chế trong giao lưu với văn học nước ngoài, nên cũng chẳng có gì nhiều để học.

Không ai phủ nhận là dẫu sao người xưa cũng còn chịu khó hơn bây giờ, hơn nhiều nhiều lần.

 Nhưng nên nhớ là trong các tài liệu giáo dục xưa, bao giờ cũng có cái ý nệ cổ tuân theo giáo điều và ít tinh thần khai phóng. Cả thơ văn lẫn môn sử được học tập và mang ra thi đều là thơ cổ Trung Hoa và Bắc sử. Với kinh sách Khổng Mạnh, các nhà nho xưa chỉ biết làm toát ước và dừng lại ở thời Hán Đường trở về trước. Trong lời mở đầu cuốn Người đời nên biết ( Nhân thế tu tri), Cao Xuân Dục (1843 - 1923) từng viết đại ý ham học không bằng biết học, theo tôi cũng là một thứ báo động về cách học của người xưa.



Chính ta lại tự hiểu ta quá ít


Đọc tới cái câu bạn TTPH viết Đề tài về văn nhân với tài đức và học vấn đâu phải là đề tài xa lạ gì với Việt Nam, với lịch sử văn hoá Việt Nam, tôi cũng muốn thầm kêu lên ngay, cái chuyện này không đơn giản chút nào hết. 

Ở ta, cái gì cũng có, cái gì cũng không, mờ mờ ảo ảo, và câu chuyện chúng ta đang nói cũng trong tình trạng như vậy.

Thật vậy, các cụ ta xưa – vì đây là chuyện lịch sử văn hóa nên phải trở về với các cụ-- cũng đôi khi bàn về tài đức, nhưng thông thường họ chỉ có một cách làm là dẫn dụ từ các tài liệu Trung Hoa. Sự phát triển của văn học Việt thời trung đại chưa đạt chuẩn mực đến mức có thể làm nền cho mọi khái quát lý luận. Cũng có một số ý kiến nêu ra trong cuốn Từ trong di sản … nhưng thử tước bỏ các điển phạm và các dẫn chứng Trung Hoa cổ đại xem, ý kiến mất ngay sức nặng.

Trong thời chiến tranh và những năm thánh hậu chiến nặng nề của chúng ta, các chuẩn mực cơ bản của văn nhân và trí thức lại càng ít được nói tới.

 Khi đánh giá các tác giả xưa, các nhà nghiên cứu thời nay thường chỉ nhấn mạnh xem sáng tác của họ có phục vụ cho công cuộc chống ngoại xâm không, hoặc họ đã đứng về phía nhân dân lao động đến đâu, với lớp quần chúng cơ bản đó họ có tỏ lòng thương xót không. 

 Còn cái chuyện tài năng của họ, học thức của họ, chỉ được nhắc qua loa.

Ở đây, như chúng ta biết có môt sự chỉ đạo từ cấp trên, các nhà quản lý tư tưởng. 

Và giới nghiên cứu đã rất hào hứng tuân theo. 

Bởi tất cả cùng hiểu nhấn mạnh đến tài năng đến học thức quá sẽ ngăn cản nhiệt tình sáng tạo của các nhà văn đương thời. Các nhà văn trẻ tuổi tôi thường được dạy dỗ là cứ mạnh dạn viết, viết theo những đơn đặt hàng của xã hội hôm nay là thả nào cũng có tác phẩm lớn.

Và cũng bởi -- về phía nhà nghiên cứu mà nói -- cứ viết thế rồi cũng giáo sư tiến sĩ cả một lượt thì tội gì tìm tòi thêm cho mệt, không chừng có khi lại còn bị  mắng mỏ thêm nữa, thiệt đơn thiệt kép.



Trong nghiên cứu không thể làm theo phương châm “ta về ta tắm ao ta”


Sau khi đã nói tài đức là chuyện đã được nghiên cứu ở VN, lẽ tự nhiên bạn TTPH trách PL cả bài tác giả chỉ đưa ra toàn điển tích của Tầu, từ đầu cho đến đuôi không một câu chữ nào đả động đến tài đức của văn nhân Việt.

Tôi không cho rằng bài viết của P L là  hay và có giá trị. Nhưng yêu cầu của TTPH cũng có cái gì đó không phải.

Trong khoa học nói chung, hoặc nói hẹp trong một bài viết, người ta hoàn toàn có thể sử dụng những tư liệu của mọi nền văn học trên thế giới, miễn  từ đó rút ra được những kết luận đúng. Nói rộng hơn, trong nghiên cứu văn học nói chung, có rộng thì mới có sâu.

Hãy trở về với văn học VN! Có cảm tưởng một cái ý lớn mà bạn TTPH nêu lên là vậy và nếu tôi không lầm thì cả các nhà lãnh đạo chỉ đạo lẫn một số nhà nghiên cứu trẻ hôm nay đều thích nói như vậy.

Dù chỉ làm nghiên cứu ở cái dạng nghiệp dư, tôi cũng sớm đi theo quan niệm khác. Để có thể hiểu được văn học một nước, chỉ có kiến thức riêng về "nó" là chưa đủ. Riêng với  văn học VN -- một nền văn học chịu nhiều ảnh hưởng nước ngoài, trong suốt các thời kỳ lịch sử -- lại càng chưa đủ. Con đường đến với văn học VN của một nhà nghiên cứu, lạ thay, là đi qua những mò mẫm khi đọc vào văn học các nước khác, tối thiểu là những nước từng có nhiều quan hệ với mình, như Trung Hoa và Pháp.

Trong cuộc đời làm nghiên cứu tay trái của mình, tôi thấy gần nhất với hai cây bút lớp trước mà tôi hay gọi là chị-- chị Đặng Thị Hạnh và chị Đặng Anh Đào. Cả hai đều xuất phát từ văn học nước ngoài, nhưng nhờ biết từ đó nâng lên thành một vốn văn hóa tổng quát, nên khi “tạt ngang” nhìn vào các hiện tượng văn học VN đương thời, thường đạt tới hiệu quả mà bọn chỉ đọc văn học nước ngoài qua các bản dịch như bọn tôi không bao giờ có được.



Cũng gọi là có thành tựu đấy, nhưng là ở mức độ nào?


Tổng hợp từ tất cả những gì đã nêu ở trên, TTPH cho rằng ở cả chính văn học lẫn khoa nghiên cứu văn học đã có bao nhiêu thành tựu mà những người đang làm việc trên lĩnh vực này muốn tiếp nối được còn là mệt.

   Ở Việt Nam, từ những năm 1930, tức là ngay khi làn sóng sử dụng quốc ngữ trong văn học thơ ca vừa nở rộ, các nhà phê bình Việt Nam cũng đã sớm phát hiện ra các văn tài Việt. Những đánh giá đó vẫn chưa hề mất đi giá trị của nó. Không hiểu sao tác giả Phương Lựu lại không nói gì tới tiêu chí đánh giá tài năng trong văn học Việt, điều mà độc giả rât mong mỏi được biết.



Rồi TTPH viết một đoạn, giống như một thứ trữ tình ngoài đề, đầy chất cảm thán:

Tôi đọc bài của tác giả Phương Lựu mà lòng buồn bã. Trong đó chỉ là những cái tên hết sức xa lạ với tôi, những cuốn sách chẳng nói với tôi điều gì mới mẻ, các nhận định cũng cũ kỹ xa xưa. Đâu rồi lịch sử của các văn nhân Việt Nam mà mỗi lời của họ với tôi mới là những lời vàng lời bạc, những lời mà họ đã chắt lọc được trên thực tế mà họ trải nghiệm ở chính quê hương này?

Chắc TTPH không ngờ lời than thở đó chỉ làm mát ruột một số nhà nghiên cứu hết thời đang phụ trách viện này viện khác hoặc từng được đủ thứ giải thưởng nọ kia, cũng như nó làm chỗ dựa cho khá nhiều nhà phê bình trẻ hiện nay vừa biếng lười, vừa thích sớm nổi tiếng. Việc tìm hiểu quá khứ văn học VN sẽ phải mở ra theo nhiều ngả đường khác và cần đến các học giả thứ thiệt đi vào nghề với một tâm thế khác.



Tại sao lại từ chối một công cụ tiện lợi


Trong bài của bạn TTPH còn có một số ý mà tôi muốn trao đổi thêm. Đó là, chẳng hạn, câu chuyện về cái tâm của nhà nghiên cứu, rồi mối quan hệ giữa đức và tâm. Nhưng thôi, dưới đây tôi xin dừng lại ở một vấn đề khá tế nhị. Nó chỉ chiếm rất ít chữ nghĩa, nhưng thực ra lại cộm lên đằng sau bài viết Cái nạn điển Tầu và thực tế là đang cộm lên trong giới học thuật nói chung.

Có lẽ TTPH đã không ác cảm với PL đến thế, tôi đoán, nếu như các điển cố mà PL nêu ra không phải là điển cố Trung Hoa.

Hiện có một số vấn đề nghiên cứu lý thuyết khá khó khăn với người Việt, như chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại,các trường phái lý thuyết phi macxit mà khi làm nghiên cứu, ta buộc phải trích dẫn của người nước ngoài. Thế nhưng nói về văn nhân thì can cớ gì lại toàn trích dẫn từ Trung Quốc?”

Vấn đề có ý nghĩa thời sự của nó.

Đúng là hiện nay trong giới nghiên cứu trẻ đang có sự chuyển hướng. Nếu các nhà nghiên cứu lớp trước, do sự quy định ngặt nghèo của hoàn cảnh, chỉ hướng về các nguồn lý luận Liên xô, Trung quốc thì hiện nay họ đọc thẳng sang tài liệu phương Tây.

Việc làm của PL hóa ra ngược dòng và là cái cớ khiến  TTPH trách cứ.

Nhưng theo tôi biết, hiện nay trong giới nghiên cứu văn học trẻ, cũng có nhiều bạn mới đi học từ Bắc Kinh Thượng Hải… về, và cái mà họ đi học ở bên ấy không phải chỉ là văn học Trung quốc mà còn là văn học phương Tây bao gồm cả các vấn đề lý luận và thực tiễn.

Là một người không đọc được thẳng các tài liệu gốc tiếng Anh tiếng Pháp, tôi vẫn dự đoán sự trung chuyển, đúng hơn là sự tiếp nhận phương Tây của giới nghiên cứu Trung quốc, là đáng tin cậy.

Tôi có một anh bạn làm khoa học kỹ thuật, từng đi học ở Nga và Đức về, tiếng Anh cũng sử dụng được, nhưng từ hồi về hưu, anh quay trở lại học tiếng Trung quốc để nhận làm lược thuật về các vấn đề khác nhau cho một số ngành khoa học kỹ thuật.

Làm thế nào ? Mươi năm trước năm nào anh cũng qua đó gọi là du lịch bụi. Đến thành phố nào anh cũng mò bằng được tới các hiệu sách. Mấy năm gần đây thì chỉ cần lên mạng cũng tìm được sách rồi.

Anh giải thích với tôi rằng nếu lên mạng để tìm các tài liệu đó bằng tiếng Anh thì giống như chui vào một cái rừng. Còn thông qua kênh của các trường đại học và nói chung là giới nghiên cứu TQ, anh tìm được tài liệu rất nhanh, bởi họ đã là những bộ lọc tốt lọc lựa cho mình mấy lần rồi.

Sau khi tìm được tài liệu tốt, họ lại biết tóm tắt đánh giá và có sáng kiến trong việc vận dụng vào thực tiễn, đỡ công cho mình bao nhiêu.

Tôi nghĩ rằng khoa học kỹ thuật đã vậy mà khoa học nhân văn cũng vậy. Bản thân tôi có liếc qua mấy cuốn lịch sử văn hóa Trung quốc, thấy lý luận văn hóa mà họ dựa vào đều là lý luận Anh Mỹ, chứ không phải các loại lý luận cổ lỗ của giới nghiên cứu chính thống Nga trước đây.

Tôi thành thật tin rằng các ngành nghiên cứu khoa học xã hội của Trung quốc hiện nay có sự từ giã quá khứ tức là cái phần di sản kéo dài từ hồi Diên An đến 1976, để tiến tới trình độ của khoa học xã hội thế kỷ XXI. Chắc chắn họ không có mốt học đòi làm dáng "ra cái điều hợp thời " và sự bảo thủ ăn sâu vào tận xương tủy như giới nghiên cứu nước mình.



Cái nạn …không chịu hiểu Tầu


Tôi hình dung là giữa chúng ta đang có một cuộc trao đổi thẳng thắn và có thiện chí. Nghe tôi nói tới đây, chắc bạn TTPH sẽ “lật con bài của mình”:

-- Không, tôi không nói văn hóa Trung Hoa như một phương tiện. Mà tôi nói cái phần văn hóa Trung Hoa cổ, nó đã để lại biết bao nhiêu tàn tích gây khổ gây hại cho dân mình. Chỉ tính từ sau 1945 đến nay, nó lại là cội nguồn của bao tai vạ. Thiếu gì việc để làm, nay ta trở lại với nó làm gì?

Cái ẩn ý này, có ở TTPH thì chắc cũng là điều tâm niệm của nhiều người. Đại thể ta thường thầm nói với nhau rằng mối quan hệ Việt Nam Trung Hoa -- cả trong lịch sử lẫn ngày hôm nay -- là một mối quan hệ kỳ cục. Ta nên quên đi hơn là nên nhắc lại.

Ta nghĩ vậy và ta cùng lúng túng, nhiều khi bề ngoài kiên quyết mà trong bụng cứ phân vân mãi. Phần tôi cũng vậy, mặc dầu biết rằng trước sau mình không thể lảng tránh nó, mà sao vẫn cứ muốn ngãng ra, vì trong bụng thầm nhủ rằng chẳng có cách nào tìm ra câu trả lời đúng đắn.

Đoạn độc thoại dưới đây sẽ hơi dài dòng một chút, nó là chứng cho sự lúng túng của tôi. Song tôi sẽ cố gắng để trước hết là tự hiểu và sau nữa là chia sẻ hiểu biết của mình với bạn TTPH, mong bạn bớt thời giờ đọc tiếp.



Bao nhiêu khó khăn đem đổ tại người

Điểm xuất phát của mọi suy nghĩ chúng ta ngày nay là những khó khăn của tình hình xã hội kéo dài trong lịch sử và lên đến cao điểm trong khoảng chục năm nay.

Tạp chí Bách Khoa số 73 ra ở Sài Gòn 1960, từng trích dẫn nhiều ý kiến sâu sắc của linh mục F. Parrel về Thanh niên Việt Nam hiện nay. Theo ông, ở họ trực giác lấn suy tưởng trừu tượng, chủ quan lấn khách quan … Tâm hồn ít xúc động về vật và người. Chiến tranh làm cho người ta không biết tới người khác. Họ phải tự động tạo ra mọi phương tiện tự vệ. Tâm hồn họ khô rắn lại vì đời sống bất trắc.

Và ông cho rằng hiện người Việt có khuynh hướng quy tất cả khó khăn cho yếu tố nước ngoài.

Tuy nhận định này đi ngược với tất cả những điều tôi được dạy dỗ từ trước, song thú thực tôi cứ bị nó ám mãi. Càng ngày tôi càng thấy nó là đúng.

Một trong những động lực của cuộc vận động lịch sử 60 năm qua là cảm hứng nước mất nhà tan. Thơ Tố Hữu nói rất xót xa “Thuở nô lệ thân ta nước mất – Cảnh cơ hàn trời đất tối tăm”. 

Hào hứng bao nhiêu là những ngày chính quyền về tay người mình. Ta tưởng chỉ cần không có mặt người nước ngoài ở đây là mọi sự sẽ giải quyết. 

Ta  không thể ngờ là từ sau 1975 đến nay, - hãy tạm chỉ tính khoảng thời gian không có chiến tranh -- mặc dù cờ đã đến tay song ta đâu phất nổi; cái chủ yếu trong điều kiện xưa đã thỏa mãn song đời sống chúng ta có ra sao, nếu không nói là ngày càng ngập sâu vào khốn khó hư hỏng.

Tôi cho rằng phải căn cứ vào cái tình hình có thực này để nghĩ lại về tất cả các lĩnh vực cuộc sống. Trong đó, một trong nhưng cái đáng nghĩ lại nhiều nhất, là mối quan hệ ta với nước ngoài.

Đúng là trong việc hình thành cuộc sống và văn hóa VN, các nhân tố Trung Hoa có vai trò mà đến nay ta chưa đánh giá hết được trong đó  cái phần tiêu cực, dở ,sai...rất lớn.

 Nhưng tiên trách kỷ hậu trách nhân, hãy nhận rằng cái đó là do ta không có khả năng chọn lọc mà tiếp nhận, chứ sao lại quy cái lỗi về phía tác động bên ngoài.

Trong số những nhận xét về người Việt và văn hóa Trung Hoa cổ, tôi nhớ cái ý của giáo sư Trần Đình Hượu. Ông bảo mặc dầu sống bên cạnh người Trung Hoa từ lâu, song chúng ta hiểu rất ít về Trung Hoa. Trong bộ môn Trung hoa học của thế giới, Việt Nam chẳng có đóng góp gì cả.

Tôi không còn ở tuổi có thể ao ước có ngày làm được việc nọ việc kia nữa, song xin thưa thật với bạn TTPH, thời gian khoảng hai chục năm gần đây, tôi để nhiều thời gian để đọc lại lịch sử cũng như văn hóa Trung Hoa, rồi nhìn lại sự tiếp nhận Trung Hoa ở xứ mình.

Ngoài cái ý căn bản như Trần Đình Hượu đã nói, tôi còn nhận ra có rất nhiều phen chúng ta hiểu sai về họ, hoặc là bắt chước cái phần ngớ ngẩn tầm thường đồi bại của họ, mà không thấy đâu là cái đúng cái hay cái vĩnh viễn giá trị để nhìn vào đó điều chỉnh mình cho phù hợp, như thể người Hàn quốc người Nhật Bản đã làm.

Trên cái mạch nghĩ đó, tôi thấy xa lạ với cách nghĩ hiện thời ở nhiều người như trên đã trình bày, cũng như không tán thành một số biện pháp vừa qua đã được sử dụng, nhất là tình trạng không giao lưu thường xuyên về sách vở thư tịch, không dạy chữ…

Đây tôi muốn nói cái tinh thần chủ đạo trong quan hệ, vì  một số việc có làm, nhưng chỉ là làm một cách hình thức, một cách chiếu lệ.

Cái chuyện không tổ chức dạy tốt chữ Hán cho lớp thanh niên đang bước vào cuộc sống, không hướng họ tìm hiểu văn hóa Trung Hoa ..., theo tôi, là một tai họa không những với người đương thời, mà chắc chắn còn để lại nhiều di lụy cho các đời sau.


Nếu cứ bực bội vì mọi việc không theo ý muốn nông nổi và thiển cận mình, rồi dằn dỗi, rồi  lăm lăm bảo nhau tiếp tục làm những việc dại dột, thì mọi việc của ngay chính mình sẽ ngày càng xấu đi. Tình hình kinh tế hiện nay đã cho thấy điều đó. Chửi hàng Tầu đến mấy thì hàng xấu hàng thừa hàng ế ẩm của họ vẫn ngày càng tràn vào VN và chỉ có buôn lậu là ngày một phát triển. Cả các món hàng tinh thần tư tưởng cũng vậy. Nếu biết học Tầu cho ra nhẽ, --vừa ham học vừa biết học như Cao Xuân Dục đã nói --, từ đó hiểu họ hiểu mình  rồi tìm ra đối sách thích đáng bao gồm bộ quy tắc ứng xử hợp lý, thì chắc chúng ta không rơi vào cái tình trạng phụ thuộc vào họ một cách toàn diện và nhục nhã như hiện nay.

Tuesday, August 6, 2013

Cạn nghĩ, ngắn hơi, dễ thỏa mãn


       Không
chỉ tinh tế khi tả thức ăn mà trong
Nội băm sáu phố phường
(in trên Ngày
nay
từ 1940), Thạch Lam còn khéo ghi nhận cái thói quen dễ dãi cẩu thả của
người mình trong cách làm thức ăn. Như trong câu chuyện về  mấy bát mằn thắn. Trong khi bát mì của mấy
chú khách (tức đám Hoa kiều ) đầy đặn thì người mình chỉ giỏi giả lễ bà chúa
mường
. Bát mằn thắn của các ông chủ người Việt có đủ cả rau thơm, xá xíu, đôi
khi mấy miếng dồi và một phần chia tám quả trứng vịt, song mằn thắn bột thì
thô, nhân là một tí thịt bạc nhạc, nước rất nhiều nhưng nhạt.


      Cho đến những năm cuối thế kỷ XX đầu XXI này
nhiều người đi nước ngoài còn chứng kiến kiểu làm ăn tương tự.




      Như ở Paris, một  nhà báo kể với tôi là chả có cửa hàng ăn nào
của người Việt đậu được lâu. Lúc mới khai trương cũng rôm rả. Nhưng chỉ một hai
năm là chất lượng kém hẳn đi và người ăn bỏ hết sang các hiệu khác.  


      Người ta bắt gặp ở đây một quan niệm sống tầm
thường dễ dãi, không bao giờ duy trì được sự liên tục có trước có sau tức không
đạt tới một trình độ chuyên nghiệp ổn định.


      Một thói xấu khác của các nhà hàng buôn bán
người mình được Thạch Lam ghi nhận là thói dễ thỏa mãn. Ông lấy ví dụ như mấy
hiệu kẹo lạc kẹo vừng Cự Hương, Ngọc Anh. Lúc đầu còn chịu khó làm thật ngon để
chiều khách, sau ngủ yên trên danh vọng.


      Hình như dân mình động giàu là ra mặt
vênh váo và bắt đầu làm ăn chểnh mảng - tác giả Gió đầu mùa khái quát. Và ông hồn nhiên tự hỏi “Ồ, sao sự cố gắng ở
nước này không được lâu bền nhỉ ! “.


     Người xưa có câu “Nhân bần trí đoản”, với
nghĩa người nghèo hèn,kẻ hiểu biết nông cạn thì không còn đáng để ai đếm xỉa
tới nữa.


      Không đâu thấy rõ sự ngắn hơi và dễ thỏa mãn
như trong hoạt động của người làm nghệ thuật ở Việt Nam. Làng tranh Đông Hồ quê gốc tôi
có nhiều nghệ nhân có tác phẩm để đời. Nhưng tên tuổi tác giả những bức tranh
đó thì không ai biết. Đại khái đó là những ông thợ tài hoa nhưng cẩu thả, lúc
vợ ốm con đau hoặc thua bạc cần tiền thì vẽ vội mấy bức mang bán cho các nhà
giàu trong làng, và không có ý niệm gì về bản quyền trên tranh. Cũng giống như
các cửa hàng kẹo bánh của Thach Lam “không biết rằng hàng của mình ngon hơn
hàng khác “, các nghệ nhân đó cũng không thể nghĩ rằng lẽ ra tên tuổi mình có
thể còn mãi với lịch sử mỹ thuật. Chính họ tước đi khả năng đó ở họ.


    Theo các nhà nghiên cứu văn hóa thời cổ văn
xuôi Trung quốc chỉ có biền văn, chưa có tự sự. 


     Tự sự Trung quốc là học được từ
Ấn Độ qua du nhập sách Phật. 


     Nhưng khi đã nắm được rồi thì người Trung Hoa đưa
nghệ thuật này lên đến đỉnh điểm. Những bộ tiểu thuyết như Hồng lâu mộng Kim bình mai có độ dài và trình độ kết cấu không thua
kém gì những thiên tự sự đồ sộ nhất của phương Tây.


   Trong khi đó các tác phẩm tự sự của người
Việt chỉ theo dõi con người trong những khoảng thời gian ngắn. Không tìm đâu ra
loại tác phẩm có khả năng bao quát cuộc sống nhân vật trong thời gian dài, dựng
lại lịch sử cả mấy thế hệ như truyện Tàu. 


     Các cuốn tiểu thuyết hiện đại thường
kém về kết cấu toàn cục. Cố lắm chỉ được vài chương đầu. Càng về cuối càng
hỏng.


       Manh mún nhỏ lẻ không chỉ là cách làm ruộng
đi buôn mà cũng là cách người Việt làm nghệ thuật. Chúng ta chỉ có những tác
phẩm nhỏ nhỏ xinh xinh, chùa Một Cột chẳng hạn chỉ tồn tại như một ý niệm hơn
là một công trình thực tế.


      Nhà phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng có lần
bảo với tôi: Tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay của chùa Bút Tháp đẹp thật,
nhưng lưng tượng thì chỉ được làm  dối dá
cốt cho xong chuyện. 


      Trong truyện ngắn Đất xóm chùa ( in trên Văn
Nghệ
số 42 năm 1993), nhà văn Đoàn Lê để cho một nhân vật phát biểu tạt
ngang : “Khốn nạn, cái vạt đất tí hin bị bỏ quên sau mấy lũy tre, mơ ước hào
hoa nhất chỉ là nồi cơm Thạch Sanh cả làng ăn không hết, chuyện tinh tướng  bốc giời nhất cũng chỉ chuyện củ khoai to
bằng cái đình …..Cứ ra cái điều
!”     





TT&VH 10-7-07








Bổ sung





  Một số trích đoạn từ các phần Người xưa cảnh tỉnh , có liên quan tới chủ đề Cạn nghĩ ngắn hơi, dễ thỏa mãn





Những
ham muốn tầm thường


      Đau
đớn thay cho những người nước ta, trước mắt không bao giờ thấy lợi chung, trong
óc không bao giờ có tư tưởng cao thượng, túi những chất đầy tham mà tham không
mực, chẳng qua là nghiện hơi đồng (1); hố vẫn lấp đầy dục (2) mà dục kỳ cùng,
chẳng qua là hầu xác thịt; kết quả đến nỗi hy sinh hết lương tâm thiện lý, mà
làm nô lệ cho những món tư tình (...) Vợ vì sẵn của mà hoá vợ hèn, con vì sẵn
của mà hoá nên con dại, tiền bạc hoá ra của phá nhà, ruộng vườn hoá ra mồ chôn
sống...





(1)  lấy
ý từ câu Kiều: “máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê “


(2)  lòng ham
muốn


Phan Bội Châu




 Cao đẳng quốc dân, 1928








Bỏ cũ theo mới một cách nông nổi


     
Những người theo Nho học xưa nay thường hay trọng cái hình thức bề ngoài
thái quá  để đến nỗi tinh thần sai lầm đi
rất nhiều. Người mình lại cứ quen một mặt thuận thụ (1)  theo cái khuôn nhất định của tiền nhân để
lại, việc phải trái hay dở thế nào cũng chỉ ở trong cái khuôn đó chứ không
chệch ra ngoài được, sự phê bình phán đoán càng ngày càng hẹp lại, không biết
còn có tư tưởng nào nữa.


    Đến nay thời cục đã biến đổi, khoa cử bỏ đi
rồi, sự học cũ không phải là cái cầu ở con đường sĩ hoạn nữa, thì Kinh Truyện
xếp lại một chỗ mà đạo thánh hiền cũng chẳng ai 
nhắc đến.


     Sự
bỏ cũ theo mới của ta hiện thời bây giờ không phải là không cần cấp, nhưng vì
người mình nông nổi không suy nghĩ cho chín, chưa gì đã đem phá hoại đi, thành
thử cái xấu cái dở của mình thì vị tất đã bỏ được, mà lại làm hỏng mất cái phần
tinh tuý đã giữ cho xã hội ta được bền vững mấy nghìn năm.


     
Cái tình trạng nước ta hôm nay là thế, khác nào như chiếc thuyền đi ra
biển, không biết phương hướng nào mà đi cho phải.





(1) xuôi
theo, tự nguyện chấp nhận


                                                                                                     
Trần Trọng Kim




                                                                                                   
                     
Nho
giáo
, 1930 














Dễ  dãi thô thiển thế nào cũng
xong
    


    Người
An Nam vốn có cái thiên tính dễ đồng hóa(1), dễ am hiểu, dễ thu nạp lấy những
cái khác lạ với mình, dễ đem những điều hay điều dở của người mà hóa (2) làm
của mình; nhưng cái tài đồng hóa đó thường thường chỉ là cái khóe tinh (3),
biết xem xét và bắt chước của người, chỉ phảng phất ở bề ngoài chứ không thấu
triệt được đến chỗ căn để (4) chỗ tinh túy.


   Tỷ như
thợ An Nam thì phóng chép tài lắm; những hình dáng kỳ đến đâu, những kiểu cách
lạ đến đâu, họ cũng bắt chước được như hệt cả.


   Học trò ta học rất mau, nhớ cũng rất mau, nhưng
chưa chắc đã hiểu thấu đã hóa được những cái người ta dạy mình.


   Một
người trí não khô cạn, hay là vì không được tiêm nhiễm những cái tinh hoa của
nòi giống mà thành ra khô cạn đi – một người như thế không thể không thể nào
hiểu thấu được cái tinh thần của Tây phương. Có đồng hóa chỉ đồng hóa được cái
bề ngoài, chỉ bắt chước được cái hình thức.


    Cái
cách đồng hóa dễ dàng thô thiển đó thiết tưởng không phải là cái tính tốt, mà
có thể cho là cái tính xấu được. Chưa chắc cái học tiếp thu được dễ dàng như
vậy đã làm cho óc được khôn ra, người được chín ra chút nào.


   Đồng
hóa một cách cấp tốc, một cách vô độ -- há chẳng phải là hại hơn lợi ?





(1)  tiếp nhận


(2)  biến cải


(3)   ngón
nghề, mánh lới


(4)  gốc rễ, cơ bản


Phạm Quỳnh




Giải nghĩa đồng hóa, Nam phong, 1931





An nhàn lẫn với đê
hèn nhục nhã


     Tinh thần thượng võ tuyệt nhiên không thấy
trong lịch sử ta. Cái ước muốn cao nhất của người mình là sống một cuộc đời an
nhàn, bình tĩnh, hưởng thú vị gió mát trăng thanh, cho dầu một đôi khi các thú
vị đó không khỏi lẫn đê hèn, nhục nhã …


    Các
văn sĩ ta xưa nay ngâm vịnh gì cũng ít khi ra khỏi những cảm giác những tình ý
nhẹ nhàng, yếu đuối. Văn chương ta có thể nói là một thứ văn chương đàn bà.


    Các nhân vật trong tiểu thuyết trong thi ca
ngày nay phần nhiều đều có vẻ ngây ngô. Những cử chỉ những ái tình của họ cũng
có vẻ ngây ngô.


    Cái ưa thích này đã tỏ ra rằng dân tộc ta
là một dân tộc già.





Hoài
Thanh




Cần phải có một
thứ văn chương mạnh mẽ hơn, Tiểu thuyết
thứ bảy
, 1935











Tình
cảm nhợt nhạt


   
Trong quyển  Le Francais
par  les 
textes
  (1), tôi đọc được  một đoạn ký ức của văn sĩ Nga L. Tolstoi,
nhắc lại cái tình mẹ đối với con và con đối với mẹ trong hồi còn thơ ấu. Một
đoạn văn bình dị mà cảm động vô cùng.


  
Rồi tôi cố tìm lại trong văn thơ ta một đoạn tương tự như vậy. Thì ra
cái xứ vẫn nổi tiếng là hết sức tôn sùng đạo hiếu này lại không hề có một tác
phẩm văn chương ca tụng tình cha con, mẹ con.


  
Những bài ca Nhị thập tứ hiếu chỉ là những bài ca khuyến hiếu
(2).Cho đến quyển Kim Vân Kiều cũng chỉ là một bài ca khuyến
hiếu. Ở trong ấy chỉ có những điều bắt buộc của lễ nghi của luân lý mà không
sao tìm thấy cái tình đối với song thân hồn nhiên, chất phác mà trời đã phú cho
con người.


  
Vì sao lại có sự lạ lùng vậy? Hay là cái tình cha con, mẹ con ở xứ mình
quá ư bạc nhược, nên người ta phải mượn luân lý để ràng buộc lại?! 





     (1)Tiếng Pháp
qua các bài khóa


     (2)Khuyên
người ta phải có hiếu


                                                              


    Hoài Thanh




                           Về văn học xứ
ta cũng còn là một đất hoang Sông Hương,
1938














          


          
        




Saturday, August 3, 2013

Vẻ độc đáo không của riêng ai: Khái Hưng & Thế Lữ


    


 CÂU CHUYỆN PHONG CÁCH, QUA CÁC  NHÀ VĂN TỰ LỰC VĂN ĐOÀN



  Chúng ta đang có một nền văn chương lan
ra theo chiều rộng. Nhà văn thời nay -- tôi chỉ nói riêng nhà văn trong nước -- đã lên tới con số hàng ngàn và thông
thường độc giả chỉ biết tên tuổi họ mà không biết họ có tác phẩm gì. 


Lại đang có sự lặp lại nhau, giẫm lên vết
chân của nhau. Luôn luôn người ta bắt gặp những giọng điệu na ná như nhau, như
những biến thái từ một phong cách chung.


Giá kể lấy một loạt  văn bản nào đó ra khảo sát:

  về vốn từ và kiểu câu sử dụng;

  về những mô-típ ẩn sâu trong cốt truyện( đối với văn xuôi) và cách cấu tứ ( với thơ);

  ...

rồi trên phương diện tiểu sử, nghiên cứu việc hình thành mỗi đời văn cũng như các ảnh hưởng trong ngoài nước nếu có

  thì luôn luôn người ta sẽ thấy có sự  trùng lặp. Trùng lặp rõ nhất là cái sự nghèo nàn , tầm thường, dấu hiệu của tình trạng sớm thoái hóa cạn kiệt.

     Đối diện với những văn bản ấy mà bịt tên
tác giả đi thì trừ người trong cuộc còn bạn đọc thông thường thật khó biết được ai là tác giả của những trang những dòng quá giống nhau
như vậy. 


     Trong hoàn cảnh ấy, chúng ta nhớ lại Tự
lực văn đoàn  như một tập hợp thống nhất mà đa dạng.  Mỗi con người mỗi dọng văn
ở đây hằn lên như một cái gì rất riêng tư. Ngòi bút mỗi thành viên trong văn
đoàn khoe ra một vẻ đẹp riêng mà tất cả lại luôn luôn phối hợp với nhau, bổ
sung cho nhau. Việc tập hợp lực lượng ở đây không làm cho mỗi cá nhân thành
viên cùn mòn và lẫn vào nhau. Mà ngược lại làm cho họ trở thành chính mình hơn,
thuần thục mà độc đáo hơn .


    Đó là một trong những bài học mà chúng tôi
muốn lưu ý khi tìm hiểu văn đoàn này với tư cách 
tổ chức văn học nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử .


     Chúng ta không thể trở thành những con
người của 80 năm trước.


     Nhưng chắc chắn là nhìn vào họ ta sẽ hiểu ta
hơn. Cái việc luôn luôn
trở về với người và việc trong quá khứ hóa ra là một nhu cầu của tất cả những ai không muốn đi theo cái mạch thông thường mà muốn làm cho mình khác hẳn .


      Dưới
đây là hai bài viết ngắn về hai ngôi sao sáng trong chùm thất tinh của Tự lực
văn đoàn năm ấy -- Khái Hưng và Thế Lữ. 


       Khác với anh em nhà Nguyễn Tường đậm chất văn chương Pháp từ đầu đến chân, Khái Hưng  như từ lớp nhà văn cũ Tản Đà Tương Phố bước ra, nhưng vẫn chuyển theo
cái mới một cách nhuần nhị, vốn cũ nơi ông chỉ tạo thêm cho Tự Lực gắn bó
 với văn mạch đương thời. 




       Trong khi các thành viên khác là những cây bút trí thức , tinh hoa , thì Thế Lữ lại có cái vẻ xù xì lam lũ. Thế Lữ cũng Tây nhưng là một thứ văn Tây gần với đại chúng hiện đại . Ông lại không ngại phiêu lưu khai phá. Với ông, các tờ báo của  văn đoàn có thêm  các loại mặt hàng rất cần với một đời sống văn học luôn luôn thay đổi.

        Như thế đấy, hai nhà văn
tôi nói dưới đây mỗi người có một đường riêng và họ đã đi tới cùng trên con
đường đã lựa chọn hoặc người chủ trì của văn đoàn đã gợi ý cho họ.





                           Người có lẽ đã sinh vào mùa xuân


       Văn học Việt
Nam nửa đầu thế kỷ XX là cả một quá trình hiện đại hóa gấp rút liên tục. Và một
trong những người đóng vai trò mở đường, người sớm mang lại cho tiểu thuyết
giai đoạn này những khuôn mẫu hoàn chỉnh, đó là nhà văn Khái Hưng.


       Trong các sách tư liệu văn học không
thấy nói rõ ngày sinh tháng đẻ của Khái Hưng, song những người yêu văn ông dễ
đoán rằng ông sinh vào mùa xuân. Bởi văn chương Khái Hưng là một thứ văn trẻ
trung lại tự nhiên như cây cỏ. Vẻ mềm mại của câu, những ý nhị trong cách dùng
từ, sự chừng mực của giọng điệu… bấy nhiêu nhân tố gộp cả lại, làm nên cái
duyên dáng riêng mà cũng là một vẻ đẹp riêng, không chói lọi, nhưng dễ chấp
nhận.


     Có thể là những ai sành sỏi sẽ nghiêng về
các loại văn có sắc thái thật đậm, hương vị gắt hẳn lên, tức những loại “đặc
sản” như văn Nguyễn Tuân, văn Nam Cao… Nhưng với số đông bạn đọc, chỉ thưởng
thức văn chương giữa trăm công ngàn việc tất bật hàng ngày, tôi nghĩ văn Khái
Hưng như một thứ cơm chín tới, thơm dẻo, rất vừa miệng.


      Nên nhớ là những cuốn tiểu thuyết đầu tay
của nhà văn này ra đời từ đầu những năm ba mươi, khi nền văn xuôi mới còn
trầy trật tìm tòi, lúc thì chưa thoát khỏi chất biền ngẫu của văn xuôi cổ điển
(như trường hợp Tản Đà, Nguyễn Bá Học), lúc lại Tây quá (như trong một số thể
nghiệm trên báo chí của Hoàng Tích Chu). Tiếp nối một thành công khá nổi bật
trước đó là Tố Tâm, Khái Hưng đã cùng với nhiều người đương thời đặt
những viên gạch đầu tiên, trên con đường xây dựng một nền văn xuôi linh hoạt mà
lại tự nhiên như đời sống.





Gạch nối giữa Tản Đà và Nhất Linh


     Cũng giống như nhiều người cùng lứa sinh
vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Khái Hưng trước tiên là con người
của một giai đoạn chuyển tiếp văn hóa.


     Tiểu sử Khái Hưng còn ghi rõ ông là con một vị tuần
phủ (quan đầu tỉnh ở các tỉnh nhỏ), thân phụ ông từng cũng nổi tiếng là hay
chữ, đã có thơ đăng ở Nam phong; và trước khi tiếp nhận học vấn ở các
trường tiểu học, trung học của người Pháp, ông đã theo đòi bút nghiên trong gia
đình để có được một căn bản Hán học vững chắc.


      Người ta cũng lại biết rằng so với nhiều
đồng nghiệp khác, con đường văn nghiệp của Khái Hưng bắt đầu hơi muộn, mãi năm
36 tuổi tác phẩm đánh dấu đời văn của ông là Hồn bướm mơ tiên mới xuất
hiện trên tờ Phong hóa (1932).


       Có thể dự đoán sở dĩ như vậy là do Khái
Hưng có một thời gian dò dẫm tìm đường, tâm thế sáng tác của ông không thể mới
như Nhất Linh (Nhất Linh sau chuyến du học ở Pháp) nhưng cũng không thể “nửa
chừng xuân” như Tản Đà, mà trên nét lớn phải là sự kết hợp của cả hai kiểu sáng
tác đó.


       Và
Khái Hưng đã làm trọn vai trò của mình, vai trò một người tự đổi khác, đổi khác
đến hoàn toàn để thích ứng với thời đại.


       Đọc văn Khái Hưng, tiếp xúc với những con
người trong văn xuôi của ông, dễ có cảm tưởng là trước mắt ta không có sự phân
biệt cứng nhắc Đông – Tây, mà chỉ có một thực thể văn hóa sinh động.


       Ở đó, có sự muôn màu muôn vẻ của đời
sống, cái cốt cách nhân bản vốn là yêu cầu bắt buộc với mọi hoạt động tinh
thần.


       Ở đó lại có sự tinh tế, có vẻ đẹp. Đây
không chỉ là cái hồn của văn Khái Hưng mà cũng là cái đích hướng tới của nhiều
tác phẩm văn xuôi ở ta, thời tiền chiến
.





Một
căn bản văn hóa chắc chắn


     Như những người thân trong gia đình từng
kể, trước lúc ngồi viết, Khái Hưng có thói quen ngâm nga mấy câu chèo cổ hay
trống quân.


      Có dịp theo chân mấy anh em trong Tự Lực
văn đoàn một lần hứng lên kéo nhau xuống xóm ả đào, Hoài Điệp Thứ Lang (tức
Đinh Hùng) đã phác họa hình ảnh một Khái Hưng vùng vẫy giữa môi trường nghệ
thuật đó như sau:


    “Khái Hưng đón lấy
trống và roi chầu ở tay Nguyễn Tuân một cách thành thạo. Với một dáng điệu ra
phết lạc phách giang hồ, anh ngồi vắt chân chữ ngũ rất gọn (rung đùi cẩn thận),
tay cầm roi chầu đúng kiểu phong lưu tài tử, và đầu nghiêng nghiêng, anh đánh
liền một hơi cả ba khổ trống sơ cổ,
tòng cổ, trung cổ – tiếng trống ròn tan dõng dạc khiến đào với kép đang
dừng phách, buông đàn để uống rượu, hút thuốc lào, bỗng giật mình sửa lại điệu
ngồi cho tề chỉnh và Nguyễn Tuân khoái trí, vỗ đùi la lên: Hay quá! Hay quá!
Không ngờ trống anh chàng
Nửa chừng
xuân này nghe hào hùng đáo để”.


     Ta cũng không nên quên rằng Khái Hưng lấy
tựa cho câu chuyện tình giữa Lan và Ngọc từ một câu thơ tương truyền là của Lê
Thánh Tôn, và được ghi lại trong Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề: Gió
thông đưa kệ tan niềm tục – Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời;
cũng như về sau,
ông viết Tiêu sơn tráng sĩ dựa trên quá trình khai thác kỹ lưỡng Hoàng
Lê nhất thống chí
cùng truyện thơ Sơ kính tân trang.


     Đấy là một cực trong con người văn hóa
Khái Hưng – cực truyền thống.


     Nhưng đây, còn một cực khác: sau Nửa
chừng xuân, Dọc đường gió bụi…
Khái Hưng sẽ viết Đẹp, ở đó qua nhân
vật người họa sĩ tên Nam, nhiều quan niệm về nghệ thuật hiện đại vốn không lấy
gì làm dễ hiểu – vì chỉ mới bùng nổ và lan ra trong đời sống nghệ thuật bên
Paris ít lâu – lại được ngòi bút nhà viết tiểu thuyết Khái Hưng diễn giải khá
dung dị, tự nhiên. Trên con đường tiếp nhận văn hóa phương Tây, Khái Hưng cũng
như Nguyễn Tuân, Hàn Mặc Tử và một số đồng nghiệp khác cũng rất muốn đi tới
cùng, đi tới cái mới nhất, so với hoàn cảnh lúc ấy cho phép.


      Từ rất nhiều chi tiết nho nhỏ như trên,
Khái Hưng hiện ra trong tâm trí chúng ta như một người cầm bút với một căn bản
văn hóa chắc chắn, xem việc viết văn như một hành động văn hóa, luôn luôn có
được lối tiếp cận toàn diện với những ảnh hưởng đương thời, và “tiêu hóa” được
chúng một cách dễ dàng.





       Một dạng chuyên nghiệp


      Có lẽ do sự bùng nổ của thông tin mà cũng
là vì sự đưa đẩy của thói quen, báo chí ta hiện nay – cả báo hàng ngày lẫn các
báo hàng tuần – gần như không bao giờ đăng tiểu thuyết. Nhưng trước đây, thời
tiền chiến thì đó là việc thông thường.


      Từ Giông tố, Số đỏ của Vũ Trọng
Phụng, qua Quê hương của Nguyễn Tuân, Lều chõng của Ngô Tất Tố…
trước khi được in thành sách, nhiều cuốn tiểu thuyết nổi tiếng đã sống dưới
hình thức feuilleton, tức đăng dần trên mặt báo.


      Lẽ tự nhiên là từ đó, nảy sinh ra lối làm
việc riêng của các nhà văn thời ấy.


      Có khi cùng lúc họ viết mấy tiểu thuyết.
Và cứ hàng tuần, họ phải nộp đủ một số trang mà họ đã hẹn với báo.


        Sự cảm hứng có bị khuôn vào theo đơn
đặt hàng. Nhưng để bù lại, tự nhiên ở các nhà văn hình thành một nền nếp, hơn
nữa, một quan niệm lành mạnh về nghề, hoạt động sáng tạo trở thành đều đặn.


        Trong số các nhà văn chuyên viết tiểu
thuyết loại này, Khái Hưng phải được suy tôn là “tay tổ”. Nghĩa là đọc ông
người ta không bao giờ cảm thấy người viết ấy bôi bác, viết chiếu lệ cho xong
chuyện. Ngược lại, với lối làm việc ung dung tự tin, ngòi bút ông lui tới một
cách dễ dàng, tác phẩm của ông vừa có bố cục chu đáo, vừa giữ được cảm hứng
thường trực.


        Có cảm tưởng như với nhà tiểu thuyết Khái
Hưng, không có việc gì là khó, chuyện gì rồi cũng viết được thành tiểu thuyết
hết. Tác phẩm của ông, thuần túy tưởng tượng có, dựa vào sách vở cũ để hình
dung lại cũng có; mà bám ngay vào những chi tiết thực của dòng họ ông, cái gia
đình lớn của ông cũng có.


        Có lần nhân dịch mấy truyện của
Alphonse Daudet, Khái Hưng bảo: “Đọc
Daudet ta có những cảm giác êm thấm, dịu dàng. Tác giả dù muốn ta buồn lo yêu
ghét, cho chí kinh hoàng nữa, ta cũng chỉ buồn lo yêu ghét kinh hoàng… một cách
nhẹ nhàng
”.


       Những nhận xét như thế cũng là đúng cho
chính ngòi bút của Khái Hưng nữa.





Một
chỗ đứng riêng


       Bao giờ cũng vậy, thế giới của những
người cầm bút là cả một tập hợp phong phú gồm những cách sống khác nhau và các
số phận khác nhau. Trở lại với thời tiền chiến, người ta dễ nhận ra một sự đa
dạng đáng ngạc nhiên:


      Nhất Linh là người có học thức, là người khởi
xướng cả một phong trào; ý đồ ở ông luôn luôn có thừa, nhưng khả năng thực hiện
không phải bao giờ cũng theo kịp.


      Thạch Lam vốn sẵn tâm huyết với đời,
nhưng thiếu một cái gì như sự tự nhiên, do đó, là sự dồi dào.


      Lưu Trọng Lư phù du trôi nổi sống bằng
những nóng lạnh bất thường.


     Vũ Trọng Phụng mạnh vì thù hận, nhưng cũng
khổ vì thù hận quá nặng.


         Văn chương Nguyễn Tuân có cái thế của
cây cảnh, đẹp, cao sang, nhưng đơn độc, không gần với số đông…


       Đặt bên cạnh những đồng nghiệp ấy, Khái Hưng
gợi ra hình ảnh một người cầm bút dung dị mà người ta dễ gần dễ mến. Ở ông,
không chỉ có cái uyên bác, cái lịch lãm của những ông đồ, ông cống, các nhà nho
tài tử, mà còn có cái tài hoa của những tay thợ khéo, làm nên niềm tự hào của
các làng nghề truyền thống thời xưa.


       Một đời sống với văn chương, ông đã viết
rất đều đặn, và không có quyển nào đuối, và ở thể tài nào cũng có những thành
tựu. Chỉ riêng đóng góp của ông vào việc sử dụng và thuần hóa mà đồng thời cũng
là hiện đại hóa tiếng Việt, đã đủ khiến người ta phải xếp ông vào hàng ngũ các
bậc thầy của văn chương ở nửa đầu của cái thế kỷ mà ông đã sống và viết.








                 Mở đường táo bạo và dừng lại
đúng lúc





      Trong
một bài thơ mang tên Lời mỉa mai Thế Lữ viết:


Tôi dấn bước đầu trong cảnh trần gian


       Ông
cũng là tác giả của hai câu thơ mà Xuân Diệu thích nhắc lại:


Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy


Ngàn năm chưa dễ đã ai quên


        Nên hiểu cái ấn tượng về sự mở đầu này
như thế nào? Lý do cụ thể, tức là cái cớ để viết, có thể rất giản dị (một kỷ
niệm của tình yêu, tình bạn, một chuyến đi; một lần gặp gỡ).


      Nhưng theo tôi, đặt vào hoàn cảnh sinh
hoạt văn nghệ thời tiền chiến và tâm thế của tác giả, người ta vẫn cảm thấy như
có mối liên hệ xa gần với cái bước đi ban đầu của những người viết văn làm thơ
xứ này, khoảng những năm 30, đó là khi các nhà văn nghệ chính thức từ giã cái
mẫu hình văn học trung cổ và dần dà làm cuộc khai phá để gây dựng nền văn học
hiện đại.


       Bởi vì ở thơ, sự bắt đầu này quá rõ, và lại nẩy
sinh ồ ạt, nên có cả một phong trào, gọi là Thơ mới, nó đối lập hẳn với
thơ cũ. Song nhìn rộng ra, phải thấy cuộc biến động xảy ra ở cả văn xuôi, ở
kịch, bao nhiêu thay đổi đã đến với người ta trong cách làm, cách hiểu về văn
học.


       Là một người có mặt rất sớm, hơn nữa, có
công dựng tạo nên và thúc đẩy sự thay đổi, thì trước thời buổi này làm sao Thế
Lữ không xốn xang cảm động cho được?


       Trong một truyện ngắn mang tên Trăng
ngàn,
Thế Lữ viết về nhân vật Tuấn.


“Anh thấy mình vẫn sáng suốt để nhận
thấy sự rung động của tâm hồn. Anh phân tích hoài, ngẫm nghĩ hoài. Người trong
cuộc luôn luôn đứng ra ngoài để nhìn trở vào. Nhà tài tử đang lúc phô diễn tự
thả cho tâm trí lùi xa và tự ngắm dáng điệu mình trong sân khấu. Tuấn thuộc vào
hạng nghệ sĩ giàu tình tứ và cảm giác muốn tận hưởng các trạng huống của tâm
trí cũng như muốn thưởng thức hết các vẻ đẹp của phong cảnh trần gian”
.


         Khi dẫn
lại đoạn văn này, trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, một
nhà nghiên cứu ở Sài Gòn trước đây là Phạm Thế Ngũ đã lưu ý: “Tuấn đây hẳn là
một hình ảnh của Thế Lữ. Cái khuynh hướng phân thân và tự quan sát ở đây đã tạo
ra một con người tài tử về cảm giác, lãng mạn một cách thức tỉnh, không chịu để
cho một cảm giác nào lọt vào ý thức mà không đưa qua cái lọc phân tích trước”
.


      Về phần mình, chúng tôi muốn nhấn mạnh
thêm là trong cái thói quen làm gì, rung cảm gì cũng có sự tự ý thức rành mạch,
vừa xúc động, vừa biết ghi nhận sự xúc động ấy, và trong chừng mực nhất định,
chủ động hướng dẫn nó, Thế Lữ đã hiện ra như một nhà nghệ sĩ kiểu mới, khác
biệt rất nhiều so với các bậc tiền bối, từ Tản Đà trở về trước.


       Cái cảm giác thuở ban đầu, bước đầu
Thế Lữ hay nói trong thơ nảy sinh từ nhận thức về sự khác biệt đó. Hướng cả đời
mình vào một sinh hoạt văn học còn đang mới mẻ, cuộc phiêu lưu tự dò dẫm, tự
tìm đường của ông diễn ra trên hầu như tất cả các phương diện của nghề nghiệp.
Và nó cũng được khởi động ngay trong cái khu vực tưởng ổn định nhất, và khó
thay đổi nhất, là hình thức thể loại, bao gồm cả thơ lẫn truyện.


        Nếu có
dịp đọc lại Mấy vần thơ người ta sẽ không khỏi ngạc nhiên khi thấy sự
tồn tại đồng thời ở đây cả những bài thơ giàu nhạc điệu, lẫn những đoạn quá đậm
chất văn xuôi.


      Bên cạnh
những:


- Tiếng ve ran trong bóng cây rậm mát


Giọng chim khuyên ca ánh sáng mặt trời


Gió nồng reo trên hồ sen dào dạt


Mùa xuân còn, hết? Khách đa tình ơi!





- Mây hồng ngừng lại sau đèo


Mình cây nắng nhuộm bóng chiều không đi


Trời cao xanh ngắt – Ô kìa


Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai.




Là những:


- Tiếng pháo rắc trong thành phố vắng


Mưa phùn rây cùng ánh đèn yên lặng


Gợi lên mặt đường đen, loáng và xa


Hai dãy nhà kín cửa đứng chơ vơ


Điềm nhiên mặc kệ con người vơ vẩn





- Thế Lữ nghĩ ba hôm mới nói


“Ô phải đây”. Rồi ở ngay Hà Nội


Anh ta vừa hoạt động vừa mơ màng


Lúng túng như anh mán học làm sang


Trong một bộ áo quần rất lịch sự.




     Có thể
cắt nghĩa: đây là do bước đầu thơ mới còn vụng dại, nên mới lúng túng như thế!
Nhưng theo chúng tôi có thể nghĩ khác: đấy là những cố ý của Thế Lữ. Cố ý làm
ra vẻ văn xuôi để đi ngược lại cách hiểu thông thường về thơ. Cứ làm sao khác
thơ cũ đã, rồi mọi chuyện điều chỉnh sau.


     Hoặc như trong thể truyện, một người lịch
lãm như Thế Lữ hẳn thừa biết rằng ở phương Tây cũng như phương Đông, loại
truyện kinh dị, nhất là truyện trinh thám, luôn luôn bị người ta coi thường,
chỉ xếp vào thứ văn học hạng hai, hạng ba.


     Song chính vì thế, ông bắt tay viết, viết
cho thiên hạ thấy rằng những thói quen cũ cần phải thay đổi, và mọi chuyện cần
được nghĩ lại.


      Sự khai phá mở đường thường khi đồng thời
là một sự thách thức. Nhưng có hề gì với con người có một ý chí vững chắc như
tác giả Mấy vần thơ, mà như Hoài Thanh, tác giả Thi nhân Việt Nam nhận
xét, là trong cuộc đấu khẩu giữa Thơ mới – Thơ cũ thời ấy, chỉ bằng những vần
thơ của mình, Thế Lữ đã mang lại chiến thắng cho Thơ mới mà không cần tranh
biện. Quả thật, không có một chút quá đáng nào trong lời ông tâm sự với Xuân
Diệu: cái ý phá vỡ những lề lối trói buộc là nhất quán trong tôi.


     Liên tục
vượt qua thói quen cổ hủ, cảm giác mở đầu có đến với tâm trí Thế Lữ một cách
thường trực thì cũng là điều dễ hiểu.


     Nhưng nhu cầu hoạt động thì nhiều, mà sức
lực mỗi người chỉ có hạn. Luôn luôn mở đầu tức đồng thời cũng có nghĩa là phải
luôn luôn dừng lại, hơn thế nữa, luôn luôn từ bỏ những con đường vừa khai phá.


     Cái luật
đời thông thường đó cũng xảy ra với Thế Lữ, và chỗ hơn người của ông, là ông
rất chủ động trong cái việc dừng lại ấy.


     Mặc dù là một trong những người mở đường
cho thơ Việt Nam hiện đại, song trước sau, Thế Lữ chỉ là tác giả một tập thơ
duy nhất.


     So với Thế Lữ, Xuân Diệu đến với thơ có
chậm hơn vài năm, song trên đại thể, có thể bảo họ là cùng trang lứa. Ấy vậy mà
một bên đời thơ của Xuân Diệu kéo dài tới hơn 50 năm, trong khi ấy bên kia, đời
thơ của Thế Lữ chỉ khoảng 5 năm, nghĩa là mười lần ít hơn, sự khác biệt thật là
khủng khiếp.


   
Ở đây, chúng tôi không có ý định so sánh xem đóng góp về văn học ai lớn
hơn ai. Đứng về tâm lý của người sáng tác văn chương, chỉ xin nêu lên một nhận
xét: nếu như ở phương Tây, người ta thường được chứng kiến hiện tượng một vận
động viên, một cầu thủ, một diễn viên sân khấu hay một nhạc công tuyên bố giã
từ đấu trường, chia tay với sàn diễn đúng vào lúc tài nghệ lên đến đỉnh cao,
thì hầu như điều đó, không có ở Việt Nam.


       Nói hẹp trong phạm vi nghề văn, trừ phi trời
bắt tội không viết được nữa không kể, còn thông thường ai đã làm nghề này
thường cứ thế làm mãi và rất thích được khen rằng càng già càng dẻo càng dai
(mặc dù nhiều khi chung quanh chỉ nói vậy cho phải phép).


      Nghĩa là những người biết tự hạn chế và
dám đặt dấu chấm hết cho một phần sự nghiệp của mình, loại đó quá hiếm.


      Đặt
vào hoàn cảnh ấy mới thấy cái hiện tượng Thế Lữ ngay từ 1936-1937 đã nồng nhiệt
giới thiệu Xuân Diệu và như các nhà văn học sử thường viết, tự nguyện nhường
ngôi bá chủ thi đàn cho Xuân Diệu, để rồi dứt khoát không làm thơ nữa… cái hiện
tượng ấy quả là bất thường, độc đáo.


      Kể
ra, cách tồn tại trong văn chương là muôn hình muôn vẻ, không ai giống ai, mà
trong việc dùi gắng nhẫn nhịn bám trụ lấy nghề, “một tấc không đi một ly không
rời”, nhiều cây bút ở ta cũng cố tự khai thác, tự làm giàu mình thêm và có
những đóng góp cho văn học.


      Tuy nhiên, cũng đã đến lúc nên nói là ở
đây, không khỏi có những trường hợp, sự dùi gắng đồng nghĩa với sự ham hố quá
đáng, không tự biết mình, và cái sự
kéo dài gắng gượng và tùy tiện này làm cho một số tác giả trong một số trường
hợp, hiện ra cũ mòn, nghèo nàn cằn cỗi, mình lặp lại mình không xong, nên đánh
mất luôn cả tình cảm sẵn có nơi bạn đọc.


     Trở lại với trường hợp Thế Lữ, bởi lẽ
trước sau ông vẫn có một vị trí danh dự trên thi đàn, nên sự dừng lại của ông
càng đáng khâm phục.


      Nếu lại lưu ý thêm là về sau, ông cũng bỏ
luôn cả truyện kinh dị, truyện đường rừng để chuyên chú vào sân khấu, thì người
ta càng có lý để khái quát: đây không chỉ là một nghệ sĩ biết khai phá mở
đường, mà còn là một người luôn luôn biết dừng lại đúng lúc.


        Đó là một khía cạnh trong con người
nghệ sĩ nơi ông, một phương diện của tài năng vốn có nơi ông và phải nhận đó là
việc làm táo bạo, đi ngược thói thường, nên trên cái nền chung của thời gian
lịch sử, lại càng hiện ra  như là một bài
học cho hậu thế.









Đã in trong Cánh bướm
và đóa hướng dương
1999