Sunday, February 26, 2012

Tổ chức & quản lý xã hội ở nước Việt nam thời trung đại

Trích từ chuyên mục Người xưa cảnh tỉnh
đã in trên Thể thao và văn hóa 2005-2007
Các đầu đề nhỏ và chú thích là của người biên soạn


     Nếu dùng văn hóa theo nghĩa rộng thì việc tổ chức và quản lý xã hội là thuộc về văn hóa quyền lực.

      Nhưng đây là khâu người xưa chưa bao giờ đặt ra một cách bài bản. Trong việc tiếp nhận văn hóa Trung Hoa, cái chúng ta chỉ thích học theo là thơ văn hoặc thi cử, còn chính việc quản lý xã hội thì không để ý hoặc chỉ làm theo lối học tắt học lỏm.
     Các bộ sử ít ỏi viết thời sau cũng chưa bao giờ  được viết với tư cách những cuốn lịch sử xã hội.
     Trong quá trình ghi chép về Thói hư tật xấu người Việt trong con mắt các nhà trí thức đầu thế kỷ XX, chúng tôi mới sưu tầm được một phần các nhận xét lẻ tẻ có liên quan đến chủ đề trên.  Nhưng tinh thần các nhận xét dưới đây theo chúng tôi là khá chính xác, nó giúp chúng ta lý giải chính tình trạng xã hội hiện nay.
    Phần lớn các nhận xét này dành để nói về việc quản lý làng xã. Nhưng chẳng phải như nhà sử học Hà Văn Tấn đã nói, xã hội Việt là một thứ liên làng và siêu làng, mọi quy luật chi phối việc tổ chức và quản lý làng xóm cũng là đúng trên cả phạm vi rộng đó sao?
   




Pháp luật đơn sơ
   Dân trí càng mở mang thì pháp luật càng phải tinh tế. Luật lệ nước ta sơ sài hết sức. Những điều rõ ràng thì hoặc là phiền toái vô dụng, hoặc là khe khắt quá khó lòng giữ đúng (...) Những điều ta nói ta làm hàng ngày mà theo luật quy tội, thì sáng bị tội đồ, tội lưu, chiều bị tội phạt trượng. Đến những điều đáng phải theo cũng không thể theo được. Trên cũng như dưới đều mơ mơ màng màng, cơ hồ thành một nước không có pháp luật. Dân không giữ chữ tín, trong dân gian người ta làm khế ước với nhau, thường mực chưa khô đã bội ước. Quy tắc của trường học, kế hoạch của công sở phần lớn nằm trên giấy, treo lên cho vui mắt, đọc lên cho vui tai mà thôi. Trên dưới không tin nhau, mà mong giữ đúng pháp luật thì thật là khó thay! Đã không giữ được thì thay đổi đi là hơn.


                                                                                             Quốc dân độc bản, tài liệu của Đông Kinh nghĩa thục, 1907


Quan lại không biết cai trị
 chỉ lo xoay sở kiếm ăn  
     Nước ta dùng người thì hoặc lựa chọn ở trong bọn con quan hoặc lấy ở trong hàng khoa mục, mà mấy người khoa mục bất quá văn hay chữ tốt thì đỗ, thế là làm quan. Bình sinh học tập chỉ mấy câu trường ốc văn chương, lúc ra làm quan, thì hình như bổ vào mặt gì cũng giỏi, tưởng quan lại bên châu Âu chưa có ai toàn tài được thế.
     Cũng là một người lúc thì bổ giáo chức làm một nhà giáo dục, lúc thì bổ chính chức làm một nhà chính trị, lúc thì sung giám đốc công trường làm một nhà công nghệ, lúc thì sung chánh sứ đồn điền làm một nhà thực nghiệp, lúc thì đi quân thứ làm một nhà tướng hiệu, mà hỏi ra thì chẳng có một cái học thức chuyên khoa nào.
      Quan nước ta như thế trách nào mà chẳng mang tiếng bất tài.
    Ngày 31 tháng năm 1917, báo Đông Kinh có một đoạn rằng “một tên đầu đảng trộm cướp kiếm cả đời không bằng một ông quan giỏi lấy tiền trong một năm “. Ngày 12 tháng bảy, báo Hải Phòng có một đoạn rằng “cái căn tính ăn tiền của người An Nam di truyền từ tổ tôn, không dễ kể năm kể tháng mà chữa ngay được “


 Thân Trọng Huề
 Con đường tiến bộ của nước ta, Nam Phong, 1918


Quản lý làng xóm
 theo kiểu gặp đâu hay đấy
    Việc quản trị dân xã là ở trong tay mấy người tổng lý, chánh phó lý cựu chánh phó tổng cựu, xã tuần, phần thu. Bọn đó quanh năm trông vào khoán ước của làng mà đình mà đám mà thu mà bổ, mà xà xẻo bớt đầu bớt ngọn, mà bắt vạ kẻ nọ kẻ kia.
    Các khoán ước ít khi biết tự đời nào để lại. Cũng có khi là do một chuyện mộng ảo huyền hồ (1) mà lập nên. Cũng có khi là công nghiệp (2) của một người hách dịch một thời nhân (3) lúc có thần thế mà đặt cho làng mình một lệ để lưu truyền mãi mãi. Được lệ hay thì dân làng nghìn năm được nhờ thói tốt. Phải lệ dở thì dân làng vạn đại phải noi (4) tục hủ, lụn bại phong tục đi.
(1)   viển vông ngẫu nhiên
(2)   việc làm
(3)   người đương thời
(4)    tuân theo
 Nguyễn Văn Vĩnh
 Chỉnh đốn lại cách cai trị dân xã, Đông dương tạp chí 1914


Kéo bè kéo cánh nắm giữ quyền lực
    Xét cách bầu cử tổng lý của ta khi xưa thật lắm phiền nhiễu mà phần nhiều dùng cách tư tình (1), những người làm việc chẳng qua lại là con cháu họ hàng với những chức sắc kỳ mục. Trừ ra những làng khó khăn không ai muốn làm không kể, còn về các làng tốt bổng (2), con cái nhà có thế lực tranh nhau mà ra, có mấy khi lọt vào tay người khác được. Vì thế lý dịch hay có bè đảng, mà nhất là hay a dua với hàng kỳ mục (3) để dễ cho sự thầm vụng của mình.
(1)         tức sử dụng những mối quan hệ cá nhân
(2)         có nhiều quyền lợi
 (3)    kỳ mục là những người có thế lực nói chung, còn lý dịch là những người đương làm việc, đương nắm quyền
 Phan Kế Bính
 Việt Nam phong tục, 1915
Cường hào lý dịch gian xảo điêu ngoa
      Công việc trong làng, trên thì tiên chỉ không muốn nhìn đến, dưới thì phường lý dịch chẳng qua cũng là con em đầy tớ các kỳ mục, há miệng mắc quai nón. Quyền hành của kỳ mục rất lớn, thế lực rất to. Mà trong hạng này, một hai người phi tay cường hào hách dịch, thì là tay gian xảo điêu ngoa. Còn nữa chẳng qua a dua với mấy người ấy mà thôi. Phần nhiều ích kỷ, họ có thiết gì đến vận dân, chỉ động có chút lợi lộc thì xâu xé nhau, hoặc dân đàn em hơi có chút gì lầm lỗi thì bới móc hạch lạc. Những người có kiến thức, cho việc hương thôn là việc nhỏ nhặt, không thèm tưởng đến, không mấy nơi cải lương được tục làng cho nên tục hay.
 Phan Kế Bính
 Việt Nam phong tục, 1915




Sân khấu của một lũ hề
     Tiếng gọi rằng trào đình của một nước, song chính là sân khấu nhảy múa của một lũ hề.
    Binh bộ thượng thư mà hỏi đến việc binh không biết một chút gì.
    Học bộ thượng thư mà không biết đến việc học của dân.
    Công bộ thượng thư mà quanh năm chỉ biết tu tạo mấy cái lâu đài và lăng miếu của nhà vua.
     Lễ bộ thượng thư ba năm mới có một lần tế giao (1), cắm cúi vào những cái nghi tiết hão huyền, hủ lễ vô ích.
     Lại bộ thượng thư, Hình bộ thượng thư cũng vậy, mấy ông cụ lớn ấy chỉ biết ngày hai buổi chầu quỳ lạy ở sân rồng, tan chầu trở về, quanh năm ngày tháng như một con lợn ỉ lẩn khuất ở trong chuồng không biết một chút gì cả.
     Vua đè ép các quan lớn. Các quan lớn đè ép các quan nhỏ. Các quan nhỏ đè ép dân. Cái không khí áp chế chỗ nào cũng nồng nặc khó chịu, xuống đến bậc dân thì không còn dân đạo (2) dân quyền gì nữa.
     Có miệng không được nói có tai không được nghe, phần nào sưu thuế nặng nề, phần nào quan lại sách nhiễu, biết chết mà không dám tránh, bị ép mà không dám than. Chốn thôn dã thì đường xá khuất lấp, trộm cướp nổi lung tung. Ngoài thành thị một bầy quỷ sống, đua nhau ăn thịt dân uống máu dân. Mỗi năm bão lụt, dân bị chết đói, mỗi năm tật dịch, dân bị đau chết, không biết chừng nào.


(1)lễ tế trời của nhà vua
(2) đạo, nghĩa gốc là giáo lý, chủ thuyết; dân đạo có thể hiểu là một quan niệm về người dân trong xã hội


 Trần Huy Liệu
 Một bầu tâm sự, 1927


Quan trường hư hỏng
    Cũng có đôi khi thay đổi một vài ông đại thần hoặc là thăng giáng một vài viên quan lại. Cái người bị đuổi đi đã đành là không làm được việc, mà cái người thay chân ấy cũng có phải là người làm được việc đâu?! Cái người bị cách (1), vẫn là gian tham mà cái người được bổ cũng không phải là người liêm khiết!
     Phương chi hôm nay bị giáng, bị cách, ngày mai lại được thăng được thưởng; ở nơi này can khoản (2) lại đổi đi nơi kia, thì tuy có phạm tội tham, mang tiếng xấu, cũng có hại gì đâu. Lâu rồi quen đi, đứa càn rỡ lại càng càn rỡ, chỉ lo đem tiền đi mua quan; đứa biếng lười lại càng biếng lười, chỉ biết khoá miệng cho yên việc.
     Mũ áo thùng thình, ngựa xe rộn rịp, hỏi quan chức thì ông này là đại thần trong triều, ông kia là đại lại (3) các tỉnh, chỉ biết có một việc là ngày đi hội thương (4) hay ra công đường xử kiện, còn hỏi đến việc lợi bệnh (5) trong nước hay là trong một tỉnh thì mơ màng chẳng biết một chút gì.
    Còn đến việc đút lót người trên, sách nhiễu kẻ dưới thì không cứ là quan to quan nhỏ, đều công nhiên cho là cái quyền lợi của người làm quan đáng được, dẫu có ai bàn nói đến cũng không kể vào đâu.


(1) cách chức, ngược với bổ là giao việc
(2)  bị vướng vào một tội nào
(3) cũng nghĩa như chức quan lớn
(4) Ngày nay hay dùng hội họp
(5); từ cổ, nay ít dùng có cùng nghĩa như lợi hại
 Phan Châu Trinh
 Thư gửi chính phủ Pháp, 1906




Việc quan hỗn hào lẫn lộn
   Các cụ ngày xưa quá tin vào sự nhiệm màu của đạo Khổng. Họ tưởng rằng lầu thuộc Tứ thư, Ngũ kinh, học hết mấy pho sử, làm được câu thơ bài phú là có đủ đức hạnh để dạy dỗ dân, đủ tài kinh luân để đưa dân đến cõi hạnh phúc. Họ tưởng rằng đã là sĩ phu, thì là một người hoàn toàn, một đấng thánh hiền, nên họ mới phó thác cho trách nhiệm quá nặng.
   Những quyền hành lớn ấy, từ xưa đến nay, quan trường vẫn nắm trong tay, tuy rằng cuộc sinh hoạt của dân chúng đã đổi thay nhiều lắm.
     Một ông huyện chẳng hạn, không biết rằng chức phận của mình là phải làm những việc gì nữa.
     Ông ta là một ông quan toà lúc xử việc kiện tụng, một ông cẩm (1) lúc coi sóc việc trị an, một viên chức sở lục lộ (2) lúc thúc dân hộ đê Đó là không kể cai trị là công việc chính của ông ta.
      Bấy nhiêu nhiệm vụ hỗn hào lẫn lộn là một điều khó khăn cho ông quan mà cũng là cái mầm cho sự lạm quyền. Và đối với những ông quan không theo đuổi một lý tưởng gì cao siêu, đó lại là một cái mầm cho sự ăn tiền.


(1)   cảnh sát
(2)    sở giao thông công chính
 Hoàng Đạo
 B ùn l ầy n ư ớc đ ọng, 1939


Quyền thế trong tay cường hào
    Về mặt quản trị làng xưa có một tệ hại. Là bao nhiêu quyền thế đều ở trong tay  cường hào cả. Những kỳ mục có của có thế lực có danh vọng đều là chúa  ở trong làng. Vì làng  tự trị một cách quá đáng, lệ làng đặt ra đến phép vua cũng không thay đổi được. Nếu kẻ cầm đầu trong làng là người khá, có kiến thức có công tâm  thì không kể làm chi; nhưng nếu là những người chỉ nghĩ đến lợi riêng, thì nhũng lạm xảy ra một cách dễ dàng và quá quắt. Một lối tổ chức có thể để những sự bất công như vậy xảy ra là một lối tổ chức không chu đáo,  tự mình lại làm tội mình.
                                                                                            Hoàng Đạo
                                                                           Làng xã, Ngày nay, 1940






Quân hồi vô phèng
     Làng ở xứ ta như một hội riêng của tư nhân. Nếu cái đặc tính của một pháp nhân cai trị(1) là quyền ban hành những nghị định có ý nghĩa cưỡng bách, buộc mọi người thi hành, thì làng xứ ta quả không phải là một pháp nhân cai trị.
   Muốn đắp một con đường ư? Quyết định năm nay, nhưng có nhẽ rồi một hai năm sau mới làm xong, mỗi họ mỗi thôn mỗi gia đình ung dung tiện lúc nào thì làm lúc ấy.
        Muốn đào một giếng nước ăn ư? Nếu người khởi xướng ra việc đó không can đảm đứng ra mà đốc thúc thì dân làng cứ chịu khó ăn nước ao mãi.
       Hội đồng làng xã đặt lệ cấm đổ rác ra đường cái ư? Nếu không có một mối hiềm thù riêng từ trước, thì không một chức dịch nào thấy mình có trách nhiệm là ngăn cản hay trừng phạt người làm trái lệ ấy.
    Thường thường những cuộc bàn cãi trong những buổi họp việc làng không dẫn đến một kết quả thiết thực gì cả.
     Biết bao nhiêu luật lệ của cơ quan cai trị đã bị xếp bỏ không thi hành được chỉ vì một vài người không muốn nghe theo.
   Chỉ cần một kẻ phản đối cũng đủ làm cho điều đề nghị hay đến đâu cũng phải gác bỏ. Mà ở làng nào cũng có vài viên kỳ mục, vài người bướng bỉnh, bao giờ cũng giữ thái độ phản đối: Hoặc vì họ thấy công việc sẽ làm không trực tiếp lợi cho họ, hoặc vì họ ghét người khởi xướng ra công việc ấy; hoặc vì họ nghĩ rằng người khởi xướng định bới việc ra để ăn -- điều nghi kỵ sau này tiếc thay, nhiều khi cũng đúng.


 (1) kẻ có tư cách pháp lý  


 Vũ Văn Hiền
 Mấy nhận xét nhỏ về dân quê Bắc kỳ, Thanh Nghị, 1944
Tinh thần gia tộc quá nặng


      Ta có thể thấy vì một mối tư thù, một viên lý trưởng phó lý hay trương tuần bắt trói trái phép một người họ khác đã trái lệ làng vì một việc cỏn con ; người ta  không thể thấy những viên chức dịch ấy lập biên bản để đưa ra đình hay giải lên quan  một ông chú  một người anh em họ bên nội hay bên ngoại, dẫu người đó đã phạm vào tội do hình luật trừng trị.
    Cái tinh thần đại gia tộc ở xứ này đã diệt mất hẳn tinh thần công dân. Tình họ hàng ở thôn quê  đã làm cho tê liệt  hẳn bộ máy cai trị  của làng vốn tự nó  đã không được khỏe gì.
  …  Nhờ có sức mạnh thói quen mà làng Việt Nam còn giữ được  những cổ lệ và  cái đời sống thụ động của mình. Nhưng hiện tình thì ta không thể coi nó là một công cụ  giúp vào việc tiến hóa của dân quê.
                    Vũ Văn Hiền  
 Những nhận xét nhỏ về dân quê Bắc kỳ, Thanh Nghị, 1944 




Đám đông dân chúng vô cảm và vô trách nhiệm
    Việc làng thường định vào những ngày tuần tiết, là những ngày ở đình có tế lễ và ăn uống. Khi nào có việc gì khêu gợi sự cạnh tranh và đụng chạm đến những quyền lợi có sẵn thì số người ra họp rất đông. Còn khi nào chỉ họp để dự định công việc mới mẻ nhưng chưa ai thấy lợi trực tiếp cho mình thì buổi họp rất vắng. Nhiều người chỉ ra tế lễ ăn uống rồi về; mà cũng chẳng có lề luật nào định phải có bao nhiêu người dự bàn mới là đủ.
 Vũ Văn Hiền
 Mấy nhận xét nhỏ về dân quê Bắc kỳ, Thanh nghị, 1944


Bất lực
     Những người cai trị chỉ có một thứ uy quyền thuộc về tinh thần; nếu mất đi cái uy quyền tinh thần ấy, nếu họ để mất thể diện (vì thua kiện hoặc bị người dưới phản kháng mà không làm gì nổi) thì sẽ không làm được việc gì nữa. Vì họ có đặt luật lệ hay đến đâu cũng không ai theo.
      Một phần lớn vì thiếu thứ uy quyền rất khó có và rất khó giữ đó, nên phần đông các chức dịch làng xã mỗi khi làm một việc gì cũng không dám tự quyết định lấy và phải do ý kiến của tất cả mọi người trong làng




 Vũ Văn Hiền 
 Mấy nhận xét nhỏ về dân quê Bắc kỳ, Thanh Nghị,1944




Không hình thành nổi
 một dư luận sáng suốt
     Ngoài tinh thần độc tôn bè đảng, còn một trở lực nữa ngăn cản mọi công việc cải cách ở thôn quê là dư luận trong làng, một thứ dư luận mạnh mẽ, ác nghiệt và mù quáng. Nhiều việc cải cách đã quyết định rồi đành bỏ dở chỉ vì người thừa hành sống trong làng xóm, không thể chịu đựng được những dị nghị chế giễu mà hàng chục hàng trăm người nhắc lại ở khắp đầu làng cuối ngõ.
     Đã không có quyền bắt mọi người im, lại sống luôn với những người đó, hương chức tránh sao nổi ảnh hưởng của dư luận; và sau vài ba tháng làm việc, người hăng hái đến đâu cũng đành “dĩ hoà vi quý “, bỏ hẳn những ý định của mình để sống theo nếp cũ.
 Vũ Văn Hiền
 Việc cai trị ở thôn quê, Thanh Nghị, 1945




Chưa đủ khả năng tự cai quản 
   Ở các làng quê đâu đâu cũng thấy một sự mê muội bướng bỉnh gian dối, đâu đâu cũng thấy những thói rượu chè cờ bạc khao vọng ma chay kiện cáo.
    Sự nghèo nàn về tinh thần và – từ khi nền học cũ đã tàn--  sự thiếu thốn về luân lý đã thêm vào sự đói rét và ốm đau để làm cho người dân quê Việt Nam cực kỳ khổ sở.
    Sở dĩ mọi cải cách thất bại vì dựa trên nguyên tắc không hợp thời “ các làng xã cần được hoàn toàn tự trị “.
      Khi giao việc cai trị trong làng cho những người sống trong làng ( tức mỗi làng là một đơn vị tự túc về cai trị )  các làng càng trở nên cô lập, không chung sống với lân bang; mỗi làng thường không đủ năng lực làm việc gì cho to tát.
   Các chức vụ  chỉ để thỏa mãn lòng  khát khao danh vọng của dân quê.
   Thật ít khi người ta thấy nhiều người phí phạm thời giờ và nghị lực vào những công việc hão huyền như trong một làng Việt Nam. Và thật khó lòng tìm ở một nơi nào khác   nhiều bộ phận vô ích như làng xứ ta.
Vũ Văn Hiền
Thanh nghị số đặc biệt Vài vấn đề Đông dương, 1945








Wednesday, February 22, 2012

Tiếng cười bế tắc

Tiếng cười bế tắc

Nhiều người cho rằng văn hóa càng khủng hoảng thì tiếng cười càng khởi sắc. Một bài viết mang tên Diễn hài được mùa được in trên tờ báo nọ ca ngợi sân khấu hài hiện nay. “Không có nhiều gương mặt mới, nhưng những vai diễn hài trên sân khấu của năm qua đi vào số phận nhân vật, với tiếng cười thâm thúy “.

Khi mang lên mạng thì một bạn đọc có ngay ý kiến ngược lại.





Bạn này bảo: “Những nghệ sĩ hài có vai hay thì phải có năng lực kiểm soát được tiếng cười không sa vào bậy bại, dung tục. Chứ nhiều nghệ sĩ hiện nay đang bị dung tục làm ảnh hướng tới sân khấu, nhiều lúc hổng dám dắt con đi xem hài kịch, vì nói bậy quá nhiều; giải Mai vàng cũng nên cân nhắc lại, nếu năm nay không có ai xứng đáng thì khỏi trao, để những nghệ sĩ hài biết nhìn lại chính mình, mời họ qua sân chơi Trái cóc xanh của Tuổi Trẻ Cười để lãnh giải.”

Tôi không theo dõi sân khấu hài, nhưng thấy có thể chia sẻ ý kiến này. Văn hóa cười không tách rời cái nền văn hóa của một cộng đồng. Khi sinh hoạt nghệ thuật nói chung khủng hoảng, thì bộ phận hài hước trong đó cũng không tránh khỏi méo mó nham nhở. Chán chường vô vị quá không biết làm gì thì rặn ra mà cười. Tiếng cười trong trường hợp này chỉ là một giải thoát giả tạo.

Đây là xu hướng quan sát thấy ở nhiều xã hội khác.

Trong một số báo Sinh viên Việt Nam 2008, người ta có thể tìm thấy một bài báo nhỏ mang tênTại sao lại cười ? Tôi đã ghi lại một số ý lấy từ bài viết dựa theo New York Times này, vì thấy có một số nhận xét rất thích hợp với tình hình ở ta:

-- Thật khó tìm ra tiếng cười có tính trí tuệ. Tại sao vậy? Đi sâu vào thế giới động vật người ta thấy khi bị chọc cù, loài chim phát ra một loại âm thanh lạ và chúng thích nghe lại loại âm thanh này. Nụ cười sinh ra nhờ những kết nối thần kinh sơ khai thúc đẩy những con chuột nhỏ “học cách chơi cùng nhau”. Trong xã hội loài người, nụ cười bắt quen giống như một dấu hiệu thông báo “Tôi muốn sống thân thiện!”. Thế thôi. Nụ cười chẳng qua chỉ là một chất bôi trơn các mối giao tiếp. Khi ở địa vị xã hội thấp người ta luôn luôn cần đồng minh, cho nên sẵn sàng cười trước mọi chuyện.

-- Phần lớn nụ cười chẳng liên quan gì đến hài hước. Nó chỉ là một công cụ sinh tồn bản năng của những động vật sống thành bày đàn.

-- 80-90% người đời cười sau một câu nhạt nhẽo hoặc những cảnh buồn chán trong TV.

-- Người nói thường cười nhiều hơn người nghe, nụ cười dùng ngắt câu, đây là một cơ chế tự nhiên.

--Người ta có thể nhịn cười nhưng ít khi giấu được vẻ gượng gạo khi cười.

-- Khi mang một truyện cười khiến một đám sinh viên “rúc rích cười” hoặc “cười lăn cười lộn” kể lại cho một số nhà bác học, họ chẳng cười tí nào!

Tiếng cười cũng phải trở thành một đối tượng cần nghiên cứu.

Trong năm 2011, báo chí đã có loan tin Tuổi trẻ cười được đề cập tới trong luận án tiến sĩ ở Đại học Sorbonne Pháp.

Không biết bao giờ các nhà nghiên cứu VN mới bắt tay vào những việc tương tự.

Theo thiển ý, sự lan truyền và nẩy nở của tiếng cười trong xã hội Việt hiện đại đang diễn biến theo cả hai hướng, vừa trở về với truyền thống vừa hiện đại hóa .

Hiện đại hóa thì rõ quá rồi, nhưng không phải cái khía cạnh sâu sắc trí tuệ mà nhiều khi là tiếng cười trơ tráo, tàn nhẫn, gần với điên dại.

Còn trở về truyền thống là thế nào ?

Trong các chương trình phổ thông và đại học nữa có một bộ phận được đề lên rất cao là văn học dân gian, trong đó có thể truyện cười. Nhưng nếu bình tĩnh đọc lại, người ta sẽ thấy ngoài một số trường hợp giữ được tinh thần phê phán đúng mực, phần lớn tiếng cười trong văn học dân gian ở ta là sự bông lơn pha trò để cười, cười gượng, cười nhảm thậm chí vô duyên nữa.

Trong sự nở rộ chưa từng có, tiếng cười trong đời sống cũng như trên các phương tiện truyền thông hiện nay cũng vậy. Khi khá nhất, nó là thể hiện của tinh thần dân chủ và khát khao hoàn thiện. Nhưng trong tình trạng trì trệ chung của xã hội, nó vẫn không đủ sức tự tìm cho mình con đường phát triển hợp lý. Mà ngược lại, chỉ đủ sức lan ra theo chiều rộng và lẫn vào dễ dãi và bế tắc đã kéo dài trong lịch sử của tiếng cười dân gian.





Đã in Tuổi trẻ cười Xuân Nhâm Thìn 2012

với nhan để Tiếng cười dễ dãi





  Cười ra nước mắt 

NHỮNG TIẾNG CƯỜI TIẾP GIÁP VỚI TIẾNG KHÓC




Nghiến răng cười ha hả trời ơi!

 Câu hát tuồng ấy, tôi nghe từ lâu lắm, nhưng không rõ ở đâu và là tiếng cười của ai.
  Mở Google ra tra. Thì ra đó là một câu trong vở Sơn hậu, ở đoạn Đổng mẫu mẹ Đổng Kim Lân bị anh em họ Tạ bắt, nghĩa là một tình tiết bi kịch -- một người tử tế, không ngại tuổi già vẫn dấn thân làm việc nghĩa, ngờ đâu việc không thành.
   Trong cảnh khốn cùng, bà đau đớn cất lời:
-- Bẩy chục thân già chi xá,
Nghiến răng cười ha hả trời ơi!  
   Trong phần lớn trường hợp của đời sống hàng ngày, con người thường cất lên tiếng cười khi nhận ra một cảnh tượng gì thú vị, thông thường đó là trước những cảnh nhố nhăng kỳ quặc hoặc những thói xấu. Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588-1679), “ dầu sinh ra bởi nguyên nhân nào, cứ đi vào tận cùng của cái cười, ta luôn luôn gặp nó đi chung với sự khoan khóai thầm kín của lòng tự ái, tự tôn, tự đại, một cái gì giống như sự thỏa thích ma quái.”
    Đằng này tiếng cười là sự xác nhận một tình cảnh éo le ngang trái, đẩy cao lên, là một tình thế bi tráng, gần như không có cách giải quyết.
     Ca dao có câu Ai ơi chớ vội cười nhau / Cười người hôm trước hôm sau người cười .
    Tức là thông thường tiếng cười có một đối tượng là kẻ khác. Ta cảm thấy ta cao hơn kẻ ấy. Cần cười để  chê bai để chế giễu.
    Ngược lại, tiếng cười ở đây dành cho chính người cười.    
    Tiếng cười ở đây nối tiếp tiếng khóc, một sự chuyển hóa sang cái tưởng như đối lập, nhưng lại là một sự chuyển hóa biện chứng.
   Chế Lan Viên cũng từng miêu tả một tình huống chuyển tiếp tương tự:
  Khóc chẳng xong ư, anh hãy thử cười
 Cười được rồi sẽ tan rơi nước mắt
 Như những đồng tiền cũ không ai tiêu phải vứt
 Khi trong lòng đã đúc triệu đồng vui.
   Tuy nhiên sau hai câu đầu rất hứa hẹn, ở hai câu tiếp, tác giả đã dễ dãi đồng hóa tiếng cười với niềm vui. Cười hóa ra một sự lảng tránh, tự mình dối mình, xí xóa cho xong. Tiếng cười bị hạ thấp, không có được cái bi tráng như trong câu hát tuồng Nghiến răng cười ha hả trời ơi nhắc ở trên.
    Về sự lơ lửng chuyển hóa giữa nỗi buồn và niềm vui, tiếng cười và tiếng khóc, tôi nhớ một thiên truyện của nhà văn Mỹ W. Saroyan.
    Câu chuyện bắt đầu từ sự việc một học sinh loại lớp cuối bậc tiểu học trong giờ học mải cười đùa với các bạn, tiếng cười vốn vô can không ngờ xúc phạm đến niềm tin nghề nghiệp thiêng liêng của cô giáo.
    Sau giờ học, cô yêu cầu em ở lại, và ra lệnh bây giờ, trong thế đơn độc một mình,  em hãy cười đi, cười cho thỏa thích thì thôi.
    Chú bé, nói như người Việt, lúc này phải cố rặn ra cho được tiếng cười.
    Sức người có hạn, chỉ được một lúc, rồi tới lúc không cười được nữa, chú cảm thấy trống trải bơ vơ và quay ra bật khóc.
    Thì nhìn lên, không hiểu sao cô giáo cũng đang bật khóc.
    Kết thúc đoạn kịch không lời, trò và cô chia tay với một thoáng bẽ bàng.
     Ra khỏi cổng trường, như được tháo cũi xổ lồng, chú bé sung sướng đuổi theo các bạn. Nhưng lúc này các bạn đã ra về từ bao giờ. Chỉ mình chú bé trên đường.
     Rất nhanh, từ thóang cười thầm sung sướng được trở lại là mình, chú bé quay ra nức nở, và cứ thế rên rỉ mãi không dứt.
     Tôi chưa sống qua những phút kịch tính như thế bao giờ. Nhưng tôi hiểu ở giai đoạn tiếp giáp với tiếng khóc, tiếng cười trở thành biểu hiện của một trạng thái nhân sinh cao cả.
     Ít ra đó không phải là tiếng cười bốc đồng dễ dãi, lại càng không phải tiếng cười rẻ tiền, tiếng cười tiểu nhân hèn hạ, tiếng cười độc ác... như nhiều người chúng ta thường cười với nhau một cách vô độ hiện thời .
   
 Đã in Tuổi trẻ cười Xuân Tân Mão 2011

                             Cần cả những tiếng cười thầm



    Thời của chúng ta là thời của những liều thuốc mạnh! Tôi đã phân vân mãi khi đặt cho bài viết của mình một cái tên... hiền hiền như trên. Nhưng xin bạn đọc lượng thứ. Cười hả hê, cười tung tóe, cười ngặt nghẽo,... việc ghi nhận giá trị của những tiếng cười hết cỡ ấy đã được nhiều bạn khác làm tốt hơn tôi. Tôi chỉ muốn nói thêm rằng có những lúc, những tiếng cười không “khủng”, không quá cỡ, không gây sốc, lại mang tới cho cuộc sống người ta một ít dư vị lạ lùng.


    Khi in lại Số đỏ, báo Văn Nghệ ở Hà Nội năm 1956 từng gọi cuốn sách này của Vũ Trọng Phụng là một tiểu thuyết cười dài. Quả thật khi nghe Xuân đọc những câu rao thuốc mà lại khiến cho cô Tuyết cảm động và gọi Xuân là một thi nhân; khi nghe ông Phán bảo mọi người hãy chào ông là ông chồng mọc sừng..., ta không nén nổi tiếng cười.
    Nhưng hãy đọc lại đoạn Văn Minh báo với Xuân cái việc định gả em gái là Tuyết cho Xuân. Những tưởng đang trong cảnh long đong kiếm sống, nay có người chìa ra mời mọc, chẳng khác chết đuối vớ được cọc, Xuân phải túm ngay lấy cơ hội. Bằng lô-gíc của con người Việt Nam thời buổi hỗn loạn, chúng ta đoán tay tổ trong nghề khai thác cơ hội này sẽ lợi dụng sự may mắn ngẫu nhiên rơi vào đầu mình để mặc cả tiếp và... phất tiếp. Đằng này không, Xuân lập tức trả lời là mình không dám nhận. Và trước mặt ông anh vợ tương lai, chàng Xuân của chúng ta nói thẳng rằng mình “Không cha không mẹ, lêu lổng từ bé, nhặt ban quần, bán phá sa, đã làm nhiều nghề hèn”.
    Không biết các bạn có cười không? Riêng tôi khi đọc đoạn đó không khỏi cảm ơn Vũ Trọng Phụng vì đã cho mình được cười. Một thứ cười nhẹ nhàng kèm theo những ý nghĩ thoáng qua:
“Cậu này được!”.

 “Hóa ra hắn vẫn còn dành cho mình nhiều bất ngờ”.

“Lạ chưa, cái tay quỷ này cũng biết mình biết người gớm!”.


Tôi cảm thấy không chỉ hiểu thêm về Xuân tóc đỏ mà còn hiểu thêm một mặt mạnh của con người Việt Nam hiện đại, khi họ tiếp xúc với văn minh phương Tây. Ở họ, một quá trình tự nhận thức đã khởi động.
Sự tỉnh táo của Xuân lúc này có thể sánh ngang với Chí Phèo khi Chí cãi lại Bá Kiến “Không được! Ai cho tao lương thiện... Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không!”.
    Tiếng cười bật ra để đánh dấu một quá trình tâm lý đã đến hồi thu được kết quả. Các sách lý luận mỹ học gọi đó là hiệu ứng “Ơ-rê–ca!”, hiệu ứng nhận thức của tiếng cười .
   Thông thường người ta chỉ nhấn mạnh vai trò của tiếng cười trong việc quất vào những thói xấu và sự chưa hoàn thiện của con người.
   Nhưng không nên bỏ qua những hiệu ứng khác. Người ta nhận thấy hài hước bắt đầu ở việc nhận ra sự không tương xứng nào đó. Thật tự nhiên là tiếng cười cất lên khi thấy một em nhỏ đáng lẽ ở tuổi hồn nhiên thì lại có vẻ đạo mạo. Nhưng người ta cũng dễ cười khi thấy các cụ già khóc thút thít như trẻ nhỏ.
    Cái mà người ta chờ đợi đáng lẽ thế này lại hiện ra thế khác, tiếng cười bắt nguồn từ đấy. Những tiếng cười giúp cho người ta thêm hiểu đồng loại của mình. Những tiếng cười của trí tuệ. Đôi khi là cười để khỏi khóc, hoặc cười trong tiếng khóc. Bây giờ thì bạn hiểu sao tôi lại chúc cho bạn có thêm những tiếng cười thầm trong cuộc đời đa đoan rắc rối này rồi!


Đã in Tuổi trẻ cười Xuân Canh Dần 2010


Friday, February 17, 2012

Chất lang chạ trong mỗi chúng ta



Giao thiệp rộng vốn là một yêu cầu thiết yếu đặt ra với nghề cầm bút. Có giao thiệp rộng, một người viết văn mới có cơ may hiểu đời hiểu người và có vốn để viết.
     Trong hoàn cảnh mà việc viết lách còn luôn luôn đòi hỏi cả mọi sự thường xuyên dỏng tai nghe ngóng để nắm bắt được sư luận cho chính xác, thì có thể nói là không giao thiệp rộng không viết nổi.
 
     Ấy vậy mà có những người trong chúng tôi, vụng về cố chấp, cả đời chỉ loanh quanh trong một đám bạn bè hẹp.
     Trong khi ấy lại có những người gần như đi với ai cũng được, đi với ai cũng toe toét cười đùa nói năng bả lả. Cả già lẫn trẻ, cả các ma cũ lẫn đám ma mới, cả đám chuyên môn chúi đầu vào sách lẫn đám sống không ngại bụi đời và quan trọng nhất là cả những người lúc nghiêm chỉnh anh tìm đến để dãi bày tâm sự lẫn đám Chí Phèo thực bụng là anh e ngại, --  tất cả, tất cả, anh đều khoác tay thân mật như bồ bịch.
    Trông sự đóng kịch của anh mà thèm.
     Vâng, chúng tôi cũng hiểu anh X. nói ở đây là người giỏi đóng kịch, giỏi đổi màu, đi với bụt mặc áo cà sa đi với ma mặc áo giấy, là sống theo kiểu làm xiếc.
      Rồi có một lần ai đó buột miệng bảo anh là điếm. Không đánh đu với lão X. ấy được, người ta bảo vậy. Lão ấy điếm lắm, đi với ai cũng thế, chỉ cốt moi tài liệu thôi mà.
     Người chung quanh ngớ ra một lúc rồi cũng thấy phải.
     Riêng có anh X. vẫn cười nhăn nhở, vẻ như muốn bảo ai người trong bọn mình chả có chút điếm hoặc nói nhẹ đi một chút, ai chả lang chạ. Lang chạ trong giao thiệp như tôi còn là chuyện tha thứ được, anh nói thêm. Đến như các bố lang chạ trong viết lách mới thực đáng sợ.
     Lần này thì lời cảnh cáo của cái con người thập thành ấy có làm cho chúng tôi sững người ra một lúc thật!
    Trong tiểu thuyết Anh em Karamazov, nhà văn Nga Dostoievski từng nói tới một tình huống kỳ lạ. Smerdiakov thực thi việc giết bố. Nhưng chính kẻ sớm có ý định làm việc ấy và ngấm ngầm khuyến khích hung thủ, tóm lại tội nhân chính phải kể là Ivan.
     Chuyện lang chạ nói ở đây cũng có nét gì đó tương tự. Có những người suốt đời không biết đến người đàn bà nào khác ngoài vợ, nói đến chuyện chơi bời thì ngớ mặt ra, muốn bảo vệ nhân phẩm của chị em một cách nhiệt huyết, một cách chân thành… song ở các lĩnh vực đời sống khác nhiều người trong họ lại cư xử theo đúng tinh thần của cái nghề mà họ khinh bỉ.
      Trong sự giao thiệp hàng ngày nhiều khi vì lịch sự mà chúng ta phải tạm xếp cái cá nhân chính đáng của mình lại, để chiều chuộng tất cả những người mà ta có quan hệ.
      Bảo thế là điếm e còn oan.
       Nhưng cứ đà ấy mà kéo, nhân danh sự kiếm sống ta tự cho phép làm tất cả những việc ta vốn không thích, miễn làm vừa lòng khách hàng của mình; việc vốn thiêng liêng đáng ra phải mang tất cả tình cảm và hứng thú ra để làm, lại được tiến hành một cách bừa bãi, theo nguyên tắc của chiếc tắc xi, khách nào cũng chở, có tiền là chở, tiền trao cháo múc… thì đúng là lang chạ vô nguyên tắc rồi còn gì.
      Càng những nghề có quan hệ tới công chúng rộng rãi, cái nguy cơ ấy càng lớn. Như trong việc sáng tác văn chương mà chúng ta đang nói.
      Là lang chạ vô nguyên tắc, những cây bút nào nhận viết về mọi đề tài không phân biệt quen hay lạ, sở trường hay sở đoản, cứ có người đặt tiền vào tay là viết, viết xong lại khinh bỉ ngay cái vừa viết rời tay, song rằng quen mất nết đi rồi, ngày mai lại làm tiếp cái việc hôm qua đã làm.
      Là lang chạ vô nguyên tắc, những cây bút phê bình không cần biết hay dở, hợp gu hay không hợp gu, viết bạt mạng, viết lấy được, suồng sã xô bồ trong thẩm định và đánh giá.
     Không phải ngẫu nhiên mà người ta thường so sánh việc cầm bút với tình yêu, coi đó là những hành động nguyên bản, mỗi lần diễn ra là một trường hợp độc đáo. Bởi trong xã hội hiện đại, sự nhốn nháo có chiều tăng lên, người ta lại càng quý mến những ai giữ được tiết sạch giá trong của ngòi bút (còn việc mang lại cho cái tình yêu đó một sắc thái hiện đại, ấy lại là chuyện khác và chúng ta sẽ nói tới vào một dịp khác!)
Lần đầu  in trong Những kiếp hoa dại,1993


Viết thêm  18-2-2012
   1/  Ở dạng bản thảo , bài viết này của tôi mang tên Chất điếm trong mỗi chúng ta, nhà thơ Ngô Văn Phú năm đó là tổng biên tập  Nxb  Hội nhà văn khi cho in bài này đã chữa chữ điếm thành  chữ lang chạ. Lúc đầu  tôi chấp nhận có phần miễn cưỡng , sau thấy cảm ơn anh Phú. Vì thực ra ở VN mình cái gì cũng nửa vời,  cái loại điếm có nghề nghiệp có quan niệm rõ ràng … có lẽ là chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Dù là mở rộng để xem xét tình hình trong  mọi lĩnh vực khác, thì vẫn phải nhận rằng  đa số  trường hợp, cái dễ nhận nhất  chỉ là lang chạ học đòi bắt chước gió chiều nào theo chiều ấy, giương cờ rất nhanh và trở cờ cũng rất nhanh… bởi vậy dùng chữ lang chạ là hợp lý hơn.
    2/ Có nhiều lĩnh vực cần phải nghiên cứu khi nói đến chất điếm chất lang chạ, trong đó chắc chắn có phần việc hàng đầu là mối quan hệ giữa nó với cái phản đề của nó là sự nghèo nàn trong định hướng sống, không dám tiếp xúc không dám thay đổi, sự trung thành giả dối và sự thiếu quyền biến trong chiến lược chiến thuật.
     Mặt khác, muốn được thấu đáo, không gì bằng thử nghiên cứu xem chất điếm chất lang chạ có liên quan đến chất lưu manh ra sao . Những việc này hẳn sẽ mang lại hứng thú cho các công trình  xã hội học văn hóa học về con người VN, xã hội VN.

Monday, February 13, 2012

LỄ NGHI HỘI HÈ TÍN NGƯỠNG NGƯỜI VIỆT trong cái nhìn của các trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX

Trích từ chuyên mục Người xưa cảnh tỉnh
đã in trên Thể thao và văn hóa 2005-2007
Các đầu đề nhỏ và chú thích  là của người biên soạn 







Tín ngưỡng lung tung
vớ  được sách nào theo sách ấy
  Có kẻ sáng ngày ra vào phủ thờ bà cô, ông mãnh nào, chiều lại vào làm tôi con ông Trần Hưng Đạo là thần hay trị những tà ma, những ông hoàng bà chúa. Đến sáng hôm sau cũng người ấy  có thể chay lòng thực dạ mà nghe giảng  những lời đạo đức  của ông Khổng, ông này không có dạy phải tin  thờ ông thần ông thánh nào cả; hoặc là đi lễ Phật là một đạo trái hẳn với mọi ma thiêng thần dữ.
    Nói rút lại, thì người An Nam ta tin bậy hình như theo lý tưởng này: Dẫu không có mà tin cũng chẳng hề chi, ngộ có mà không tin, có lẽ hại đến mình. Cho nên cứ tin liều đi.
    Người ta theo lý tưởng ấy cho nên sinh ra những đạo không có tôn chỉ, quy tắc lễ pháp (1)  ở trong tay mấy anh sư mô, thày cúng, ngày nay làm theo sách này, ngày mai bịa ra sách khác, có ngược nhau cũng chẳng ai bảo sao. Mà người tin, người tộc trưởng, người làm lễ tang lễ hỷ, cũng cứ tuỳ tiện mà theo, vớ được sách nào theo sách ấy, tuỳ cách lịch sự tuỳ gia tư (2)  mà theo lễ này hay lễ kia, chớ không theo tôn chỉ nào cả.
    Còn như sự đi chùa Hương và các chùa chiền khác, nhiều người cho như một cái tật của  các cụ già và của người đàn bà. Cũng có kẻ bảo là việc hay, cũng có người cho là việc dở. Hay là vì các bà các cô đi lễ bái như thế nó  cũng thêm được cái dáng đạo đức,  cái nếp nhà ra một chút. Dở là vì các bà ganh nhau tốn kém và mấy ông sư vả lại cũng chưa quên hẳn sự đời  (3).


(1)   nghi thức tiến hành lễ
(2)   của cải tài sản trong gia đình
(3)   ý muốn nói có những điều chưa hay, hoặc nói như ngày nay, những chuyện tiêu cực ngay trong các chùa


                                                                                               Nguyễn Văn Vĩnh
                                                                                                                   Hương Sơn hành trình  Đông dương tạp chí, 1914










Trí tưởng tượng nghèo nàn .
      Cách tin của người An  Nam ta là một cách tin kỳ ngộ quá. Người nước ta tin có bụt có trời, cũng như tin có thần thánh yêu ma,  nhưng không phân biệt không nghĩ tách bạch  ra xem cái mình tin nó như thế nào. Thường thì cứ cho rằng ngoài cái nhân gian hiển hiện ra trước mắt này, lại có một cảnh tượng khác nữa không nom thấy, nhưng tựa hồ cùng khuôn với thế giới,  cũng có hay có dở  có chính có tà, có người quân tử có kẻ tiểu nhân, cũng có quan ăn tiền nhận lễ đổi trắng thay đen,  cũng có cả đến thằng lính tuần  lính lệ bịch ngực (1)  lấy tiền,  cho vài ba hào  biếu cái quà mọn  mới vào lọt cửa. Tin thế thì tin  chớ cũng không vỡ nhẽ tại làm sao  mà có cái cảnh ngoài thế giới ấy, mà có thì cảnh ấy ở ra như thế nào (2) trong vũ trụ. Bởi chưng có trí tín hồ đồ như thế, cho nên nhiều khi trong những việc tin  có nhiều điều trái nhau mà không biết,  cứ chịu cả là thực.


(1)    đấm vào ngực
(2)    nói như ngày nay :  tồn tại như thế nào, diễn biến như thế nào


Nguyễn Văn Vĩnh
                                                                                                                 Hương Sơn hành trình,  Đông dương tạp chí, 1914




Lòng tin sai lệch
      Phật giáo là một tôn giáo riêng,  cũng có lý tưởng. Mà lời thiện ác báo ứng cũng đủ khuyên răn người. Nhưng hiềm ta không cứu (1) đến nguyên lý  mà chỉ tin những lời trần hủ(2); sùng tín cái vỏ xác ngoài còn,  cái lý cao xa của người ta, không mấy người nghĩ đến. Đã không ích gì, mà làm hại của cải cũng chỉ bởi lòng tin sai vậy.


(1)   xét đoán tra hỏi ( dùng  trong các từ nghiên cứu, kê cứu )
(2)cũ kỹ, không hợp thời
                                                                                              Phan Kế Bính
Việt nam phong tục, 1915


Khổ vì hội hè
    Xét cái tục hội hè của ta, rước xách rất phiền phí, ăn uống rất lôi thôi, chơi bời rất chán chê, tiêu pha rất tốn kém, thực là hại của mà lại mua lấy cái khó nhọc vào mình. Đã đành mở hội trước là trọng việc sự thần (1), sau là cầu vui cho dân, nhưng trọng mà rước xách tế bái lắm hoá ra khổ. Hội đến hàng tháng, chịu làm sao cho được?
    Vả lại đã gọi là hội, trừ ra việc đóng góp việc ăn mặc cũng đã tốn kém nhiều rồi, còn ngần nào chơi bời, ngần nào cờ bạc, con em bỏ công bỏ việc ở nhà để ở nhà đi hội, chẳng những vô ích mà lại hại thêm cho làng nữa.
 …. Xưa nay chỉ mấy người hào trưởng (2) trong làng sính mở hội vì họ có nhiều món lợi riêng, như mở tổ tôm điếm, bài phu điếm (3), hoặc gá bạc để lấy hồ (4) v..v.. Họ mượn tiếng sự thần, kỳ thực là cầu tư lợi. Mà khốn nạn cho dân đàn em lại phần nhiều là ngu xuẩn, nói đến việc sự thần không ai dám gàn trở gì nữa, dẫu khổ cực thế nào cũng phải nhắm mắt chịu. Nếu ai gàn trở thì sợ thần quật chết tươi. Mà thần chẳng quật, bọn hào trưởng cũng quật, tội nghiệp!


(1)   sự ở đây là  thờ phụng
(2)   người có thế lực trong làng
(3)   những địa điểm ăn chơi
(4)   tiền người đánh bạc nộp cho chủ sòng
 Phan Kế Bính
 Việt Nam phong tục, 1915
                                  
Mê tín gây nhiều lãng phí  
   Lễ kỳ an (1)chủ ý là trừ khử ma quỷ cho dân xã bình an. Ta lại tin theo Phật thuyết,  bày ra vàng mã, nào mũ Ngọc Hoàng, nào tượng Minh Vương, nào âm quan quỷ tốt,  chiến khí binh thuyền. Sự quỷ thần huyền viễn (2)  chưa biết đâu, mà sự “tiền thật mua đồ giả “ thì đã rõ. Uổng tiền  được việc cũng cam, nhưng nào có được việc gì đâu, rút lại  chỉ tại ta tin nhảm.


  (1) kỳ đây là cầu
  (2)xa xôi cách trở                                                                                                                       
Phan Kế Bính
Việt Nam phong tục,1915                                                                                                        
Nhiều điều cổ hủ nên bỏ
       Trong cuộc hội hè ở ta, lắm lúc tục rất dã man, nực cười Thiết tưởng nơi nào có những tục thô bỉ, cuộc nào tỏ những cách đê tiện thì nên bỏ đi. Mà trong cuộc hội hè, chưa có thể cải lương được hết thì cũng nên giảm bớt những sự vô ích, tỉnh (1) bớt những cách phiền phí. Dân đàn em nên biết rằng phàm sự gì quan hệ đến mình phải suy xét, điều gì nên nghe hãy nghe, điều gì không nên thì đừng, chớ có cúi đầu ai bảo xôi ừ xôi, ai bảo thịt ừ thịt thì là hèn hạ quá.


(1)   lược bỏ
Phan Kế Bính
                                                                                                                          Việt Nam phong tục 1915
Dễ tin nhảm
     Dân ta tin rằng: Đất có thổ công, sông có Hà Bá, cảnh thổ (1) nào phải có Thần Hoàng ấy, vậy phải thờ phụng để ủng hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc sự thần (2) một thịnh.
     Muôn sự ở đời, do ở sức người làm ra mới gọi là tài trí, nếu cứ cậy về quỷ thần thì sức người chẳng hoá ra hèn đốn lắm ru?
     Xem như ở các nước Âu châu, trừ ra thờ Giáo tổ (3) là để tỏ lòng kỷ niệm, còn không có đền thờ thánh nào, không nhờ đến sức âm phù mặc hộ (4) bao giờ, vậy sao mà nước nào cũng thịnh vượng. Mà Á Đông này thờ thần thành kính là thế, sao thần lại chẳng phù hộ cho giàu mạnh bằng các nước đi? Một lẽ ấy đủ làm chứng cho sự ta tin nhảm.
    Thiết tưởng chỉ những miếu trung thần nghĩa sĩ và miếu những bậc đại anh hùng hào kiệt thì mới đáng nên thờ. Mà thờ thì là để để tỏ cái lòng kỷ niệm, chớ không phải thờ mà cầu phúc. Ta nên coi cái miếu đó như một tượng đồng của người châu Âu.
(1) nơi chốn, đất ở.
(2)  thờ thần.
(3) chỉ Jesus Christ
(4)  sự trợ giúp âm thầm


 Phan Kế Bính
 Việt Nam phong tục, 1915




Tang ma tốn kém
 chỉ cốt lấy tiếng 
     Có người nhân việc cha mẹ chết, muốn lấy tiếng là có hiếu mà giết bò giết dê thổi kèn đánh trống ầm ỹ suốt ngày lấy việc buồn làm việc vui. Bạn bè thân thích, họ hàng làng xóm đáng lẽ không nỡ nhìn cảnh xa xỉ phí phao ấy, như thế mới đúng. Nay lại đòi hỏi rượu tiền, sắm sanh lễ vật, thử hỏi đạo làm người có nên như thế không? Cốt cho no say, vô ích đối với người sống, vô ích đối với người chết, những việc hao tiền tốn của kể không biết bao nhiêu ức vạn triệu.
 Phan Bội Châu
 Việt Nam quốc sử khảo, 1908


Quá tin ở những điều viển vông
     Mê tín sinh ra những việc nực cười. Ngày giờ nào cũng là trời bày định mà bảo rằng có ngày dữ ngày lành; núi sông nào cũng là đất tự nhiên mà bảo rằng có đất tốt đất xấu; vì nấu ăn mới có bếp mà bảo rằng có ông thần táo; vì che mưa gió mới có nhà mà bảo rằng có ông thần nhà; cho đến thần cửa thần đường, thần cầu tài, thần cầu tử, trăm việc gì cũng trông mong vào thần; kết qủa thần chẳng thấy đâu, chỉ thấy mhững cửa nát nhà tan, của mòn người hết, tin thần bao nhiêu thì tai hoạ bấy nhiêu
Phan Bội Châu
 Cao đẳng quốc dân 1928




Nạn “thần mãn“
      An Nam vốn là một nước nhiều thần nhất thế giới. Cái vạ thần mãn (1) kéo dài mấy trăm mấy ngàn năm nay làm hại bao nhiêu trâu bò gà lợn... của chúng ta. Đành rằng cũng có nhiều ông thần có công với dân, đáng để cho dân kỷ niệm, song cũng vô số thần cực kỳ bẩn thỉu dơ dáy, thí dụ như ông thần Cường Bạo đại vương chẳng hạn, nếu còn sống chắc phải đầy đi Côn Lôn. Thế mà chúng ta cứ thờ bừa đi, lễ bừa đi, há chẳng oan cho cái đầu cái cổ.


(1) quá nhiều thần, thừa thần; cũng như nạn nhân mãn là quá nhiều người, thừa người


 Ngô Tất Tố
 Phải hỏi ngôi đền ấy thờ ông thần nào đã, Thời vụ,1938




Không biết tôn trọng quá khứ


         Những chốn ăn chơi của Hà Nội là nhất Bắc kỳ, cái đó rành rành không ai chối cãi. Nhưng chúng ta phải buồn phiền mà  nhận ra rằng  những hiệu cao lâu (1) có danh và  bền vững đều là  của người Tàu. Về cách tổ chức một chốn ăn, về danh vọng của một ngôi hàng cơm, thật quả chúng ta không có nền nếp,tục lệ và quy củ. Hồi Hà Nội còn là  kinh đô của vua Lê  chúa Trịnh  chắc cũng còn nhiều  quán rượu tươm tất do người mình chủ trương. Nhưng bây giờ vết tích còn đâu ? Cái quán rượu mà  cụ Nguyễn Du lúc còn trẻ tuổi đã dắt ba bốn người bạn vào uống  và bàn chuyện về lũ kiêu binh, cái quán ấy  chẳng hạn mà còn đến bây giờ, còn cả bộ trường kỷ Nguyễn Du  đã ngồi  thì hẳn là một  chốn đáng cho chúng ta trọng vọng dường nào.  
 
(1)    cửa hàng ăn loại sang trọng


                                                                                                                                                 Thạch Lam
                                                                                                        Hà Nội băm sáu phố phường, 1940


Phá hoại rồi bịa ra
những thứ không đâu mà thờ
     Ký vãng là ký vãng. Ngậm ngùi hay nhớ tiếc cũng đều là vô ích, nhưng đọc lại lịch sử Việt Nam, người ta không khỏi lấy làm lạ về cái tài phá hoại của người Việt Nam ta, một dân tộc vốn có tính thích duy trì cả những cái không đáng coi là quốc hồn, quốc tuý.


 Vũ Ngọc Phan
 Chuyện Hà Nội, 1944


Một cách hối lộ cổ nhân
      Kỷ niệm cổ nhân, nói cho đúng sự thực không vì cổ nhân đâu, chỉ vì cái xã hội của người kỷ niệm vậy. Nước mình từ xưa, cõi tư tưởng vẫn bị thần quyền cai trị. Đối với những đấng anh hùng hào kiệt qua đời, mình cho là sống khôn chết thiêng nếu không cúng vái, các đấng ấy sẽ làm cho hại cho tàn, vật chết người chết.Vì thế phải cúng vái để trước là tránh, và sau là cầu phúc. Đấy là một cách đem hối lộ mà đút cho cổ nhân. Kỷ niệm bằng cách ấy nên hiện nay ở nước ta, các nơi thờ anh hùng hào kiệt phần nhiều đã thành nơi tụ họp của một bọn tin thần sợ quỷ...
 Ngô Tất Tố
Đông Pháp, 1931


Mê tín cốt để cầu lợi
   Dân quê rất tin phong thủy. Tín ngưỡng quỷ thần, phụng sự tổ tiên đều có hàm một tính cách ỷ lại vào  sức màu nhiệm  vô hình của khoa phong thủy mà cầu lợi . Họ yên trí rằng cái số phận dân làng  may rủi hay hèn đều  theo hướng đình , con cháu  cường thịnh hay suy vong  đều trông vào ngôi mộ tổ. Chỗ đình chùa trong dân thôn  còn bị  chi nọ chi kia ràng buộc,  không mỗi chốc di đi dịch lại được, chớ như trong một nhà thì nắm xương kẻ chết bị họ đào lên chôn xuống luôn luôn, hòng nhờ sự kết phát để cầu đinh tài(1), quyền chức. Bảo họ dùng nắm xương cha mẹ làm mồi cầu phú quý,  thực không oan  .


(1)  đinh : con trai ,tài : tiền của
Ngô Tất Tố
Họ lại kiếm ăn vào nắm xương khô Thời vụ , 1938


Tín ngưỡng xen lẫn hoài nghi
     Tín ngưỡng của người Việt không có tính cách đơn thuần. Họ nhận thức rằng trong vũ trụ có những lực lượng có thể nguy hại tới họ, nên họ tìm cách ngăn ngừa. Không rõ các lực lượng âm thầm tác động ra sao nên họ tế lễ để cầu yên. Đối với họ, ông thánh nào cũng thiêng, ông thần nào cũng mạnh, Phật tổ Lão tổ đều là bậc thánh thần cả, bởi vậy họ phải kiêng sợ mà lễ bái để cầu lợi lộc. Thực ra trong trí họ vẫn lởn vởn ít nhiều hoài nghi. Đem chứng nghiệm với cuộc đời thực, họ thấy uy quyền của Thần Phật có mà cũng lại không. Thái độ lưng chừng và thiết thực làm họ dung hoà được các tôn giáo. Họ không có một tín ngưỡng vững chắc nào cả.


 Lương Đức Thiệp
 Xã hội Việt nam, 1944
                                                                       
                                                                                           


Đời sống tôn giáo hời hợt
     Mặc dầu sự có mặt của vô  số ma quỷ và thần linh, người Việt vẫn có một  đời sống tôn giáo không lấy gì làm sâu sắc cho lắm. Người ta chỉ có những niềm tin mơ hồ về linh hồn  về sự sống ở thế giới bên kia về các thần. Một số lớn thần được định tính không rõ ràng  và thường thường là phi nhân cách. Không có  sự giáo dục tôn giáo cụ thể, cũng như không có  sự tuyên truyền tôn giáo có tổ chức.
   Mọi người chỉ cầu tới tôn giáo  do nhu cầu vật chất. Ở một số trường hợp, người ta  tìm kiếm một kết quả trước mắt như   khỏi bệnh, có con, có tiền tài. Người ta cũng  cầu thần  để cho đời sống một người đã khuất  ở  thế giới bên kia  được dễ dàng, để thi đỗ, để nhanh chóng trong một việc,  để đi xa một chuyến được bình yên v.v.. Thường thường trong ý thức dân gian, tôn giáo được quy lại   chỉ còn là một lô thực hành thờ cúng  đã trở thành bắt buộc. Lễ nghi là tất cả,  nó đôi khi bao gồm những nghi thức rắc rối hoặc núp dưới  một hình thức long trọng có tính cách bề ngoài
                                                                                                    Nguyễn Văn Huyên
   Văn minh Việt nam, 1944
Con người thiên về u buồn sầu não
       Sự đơn điệu tẻ nhạt của cảnh sắc thiên nhiên, tính chất chu kỳ của thiên tai, sự cách biệt của các nhóm người, sự phân chia nam nữ, nền giáo dục khắc nghiệt và khô khan khiến người Việt thiên về u buồn và sầu não.
       Cá nhân bị giam hãm một cách chặt chẽ và giả tạo trong những khuôn khổ cứng nhắc như gia đình và làng mạc đến nỗi họ không quan niệm nổi họ có khả năng hành động một mình.
       Vì thế khi môi trường chung quanh không còn giữ họ lại bằng những mối ràng buộc thông thường mà lễ giáo quy định, người ta dễ đắm mình vào những bài hát buồn bã u sầu, khiến mọi nỗ lực trí tuệ tiêu tán.
        Nền văn hoá vốn thấm nhuần lòng từ bi Phật giáo cũng góp thêm phần dồn nén các dục vọng cá nhân. Rồi quan niệm siêu hình của đạo Lão khiến nhiều tác giả thiên về một cái nhìn bi quan sâu sắc và một sự mỉa mai chua chát. Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Thu dạ lữ hoài ngâm cũng như tác phẩm của Trần Tế Xương, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Khắc Hiếu chỉ là những tiếng vọng của nỗi đau nhân loại.
         Trong nhiều tác phẩm khác, ta luôn luôn thấy cùng những đề tài giống nhau về nỗi đau khổ, ước mong và hối tiếc, phản ánh tất cả sự dồn nén tinh thần của cá nhân, hoặc gần như vậy, sự sợ hãi muôn thuở của một kiếp người bấp bênh, một cuốc sống chật hẹp.


 Nguyễn Văn Huyên
 Văn minh Việt Nam 1944
Niềm tin thực dụng
       Chúng ta không có những nhà tư tưởng xây dựng được những công trình huy hoàng phong phú. Chúng ta chỉ cốt sống được, và trong địa hạt sinh hoạt vật chất cũng như trong địa hạt tư tưởng nghệ thuật, chỉ nghĩ đến cái gì có thể giúp cho mình thích ứng với hoàn cảnh ác liệt, để theo đuổi một cuộc sống tầm thường kín đáo mà thôi. Bởi thế nếu thỉnh thoảng có một người nào có khí độ phóng khoáng, không chịu ép mình làm nô lệ thánh hiền mà vượt ra ngoài vòng lề lối – mới vượt ra ngoài chứ chưa chắc đã xây dựng được cái gì mới -- thì xã hội đã xem là quái vật mà không dung. Hoặc giả khi có nhà nghệ thuật thực hiện được một cái gì to lớn phi thường như pho tượng thánh Trấn Vũ ở Hà Nội (1) chẳng hạn thì cái mái nặng nề của ngôi đền lại đè bẹp nó xuống ở trong bóng tối mò của gian chính tẩm (2). Những cái thái độ và quan niệm xuất kỳ (3) ấy thường bị cái tính thiết thực của dân tộc kìm hãm hay bài xích ngay.


 (1) pho tượng này cao 3, 95m, đặt ở chùa Quan Thánh
(2)gian nhà to rộng ở giữa
(3)Bày ra kế lạ, có những tư tưởng mới mẻ


 Đào Duy Anh
 Việt Nam văn hoá sử đại cương,1950