Monday, January 31, 2011

Nhật ký 2011 ( tuần III- IV)

CÂU CHUYỆN TIẾNG VIỆT

    Từ đầu tết dương lịch đến nay, mỗi tối xem bản tin thời sự VTV1, ngày nào tôi cũng để ý nghe xem nhà đài nói ngày tháng thế nào, và ngày nào cũng ngán ngẩm thất vọng: luôn luôn người ta nói ngày... tháng một năm hai ngàn mười một ; chữ tháng giêng hoàn toàn bị biến mất.      
   Điều này thật ra không có gì lạ. Ví dụ, nghe ở đâu đó có tai nạn thì bao giờ cũng nghe nói là có bao nhiêu người tử vong. Chữ chết bị cấm cửa.
   Tuy nhiên vẫn cứ thoáng buồn. Nhà văn Trung quốc Phùng Ký Tái có nói đến khả năng phá hoại văn hóa của người đương thời. Nghe đã lâu giờ mới hiểu.


    Trong cuốn Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, Đặng Thai Mai có dẫn lại lời của người Pháp về khả năng của người Việt sử dụng tiếng mẹ đẻ:  
 “ Có độ vài trăm người an-nam biết nói tiếng Pháp, vài ngàn người khác nói tiếng Pháp một cách bạt mạng, đó là bọn bồi bếp, thầy tớ cu-ly xe... ngoài ra con người nơi đây không biết tiếng an-nam cũng không biết tiếng Pháp. Cần phải nói rõ người an-nam vẫn nói tiếng họ, nhưng họ không biết viết và cũng không biết đọc. Cho nên tôi nói rằng chúng ta đang đào tạo những người mù chữ  ( sđd, bản của NXB Văn học, 1964, tr 93)
    Cái tình trạng thuộc về cuối thế kỷ XIX đó, đã bị vượt qua trong nửa thế kỷ XX, song đến nay có những khía cạnh đang “lại gạo”. Chết nỗi, ai cũng nghĩ là người Việt  thì mặc nhiên là mình thạo tiếng Việt. Và cái niềm tự tin ấy sở dĩ phát triển vì nó cho phép người ta không cần mất công tìm hiểu tiếng Việt mà đua nhau dùng bừa dùng ẩu.


20-1
 VỊ TRÍ CỦA TRẦN DẦN
   Cuốn tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần được in ra trong sự nhiệt thành ca ngợi về những đổi mới trong văn xuôi. Người ta chỉ không cắt nghĩa được mối liên hệ giữa những tìm tòi tư tưởng với tìm tòi nghệ thuật của tác giả, nó là chỗ khiến cho nhiều bạn trẻ ngày nay thất bại mà Trần Dần thì ghi điểm cho mình.
   Lâu nay nhìn vào thế hệ nhà văn ở miền bắc trưởng thành sau 1945, bao giờ trước tiên tôi cũng nghĩ đến Nguyễn Khải. Nay thấy dù không được biết tới rộng rãi, hoặc chỉ bị người ta biết tới một cách sai lạc, song trường hợp của Trần Dần có gì đó chuyên nghiệp hơn. Mà so với Nguyễn Minh Châu thì Trần Dần lại nổi lên ở tầm văn hóa hiện đại.
     Có thể đặt Trần Dần đứng ngang những nhân vật hàng đầu của tiền chiến. Trong ông thấy sự biến chuyển của thời đại. Mặc dù mấy chục năm chìm trong chiến tranh, văn học VN vẫn có những tiếp cận với văn học thế giới và vẫn có những người bước cùng nhịp với thế giới.


VẺ KỲ DỊ CỦA ĐỜI SỐNG  
      Oscar Wilde từng nói rằng có những trường hợp không phải nghệ thuật giống như cuộc đời mà cuộc đời lại hiện ra giống như trong nghệ thuật.
     Tôi đã nghiệm ra điều đó khi đối chiếu tranh Bùi Xuân Phái với Hà Nội. Mấy hôm nay đọc ít bài viết về Triều Tiên lại thấy cái phỏng đoán của Oscar Wilde được chứng nghiệm. Khái quát về đất nước của Kim Nhật Thành, các nhà quan sát phương Tây bảo nghe như một câu chuyện của châu Âu thời Trung cổ. Rồi họ nói khi chờ đợi các diễn biến bất ngờ của Bình Nhưỡng, họ có cái căng thẳng và thú vị như chờ đợi các diễn biến trong những vở kịch hay nhất của Shaspeare, và sự vô lý của các diẽn biến đó dường như là những minh họa rất tốt cho các tiên đoán của G.Orwell trong Trại súc vật cũng như 1984.
      Có một thứ văn học kinh khủng như vậy đấy.
 
 23-1
KHI SANG TRỌNG ĐỒNG NGHĨA VỚI TRỤY LẠC
    Báo chí tràn ngập những tin nhà giàu khoe của chơi sang, đến mức chính ông    Lê Đăng Doanh phải kêu lên "Với nhiều người, ô tô Camry vẫn chỉ là giẻ rách" (trả lời phỏng vấn mạng Bee)
    Một phóng viên người Anh sang Hà Nội tường thuật Đại hội Đảng thì có bài kể chuyện ăn phở 35 đô ở Hà Nội.
    Tại sao bùng dậy cả một cơn lốc chơi bời hưởng thụ như vậy? Vì có một số người kiếm tiền dễ quá, và khi có tiền họ không biết dùng làm gì nữa. Thảm hại là ở chỗ ấy.




    Tết là gì? Tết có nghĩa là dịp để xả láng, để người ta tự cho phép mình làm tất cả, miễn sao chứng tỏ được sự tồn tại của mình trên đời.
     Một đoạn trong cuốn Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị xứ Đàng ngoài của thầy dòng Richard in ở Paris 1778, miêu tả về Tết :


      “Những lễ hội này kéo dài ba mươi ngày và diễn ra với những trò vui, những cuộc thăm viếng và tiêc tùng liên tục. Người ta trao cho nhau những món quà. Thời gian này rất có lợi đối với tất cả những người có vị thế, nhất là với những  viên quan lại được nhận nhiều quà từ khắp nơi, đối với những thầy giáo, những nhà sư và ngay cả những nhà truyền giáo—những người này nhận được quà của các tín đồ. Tất cả những trò tiêu khiển nổi tiếng, tất cả những trò vui tập trung lại ở nơi công cộng, ở trong nhà. Người ta chỉ nghe khắp nơi âm thanh của những nhạc cụ. Người ta  dựng những khán đài ở góc phố, nơi trình diễn những chèo hài mua vui cho giới bình dân. Sự phàm ăn và phóng túng  diễn ra nơi nơi. Không hề thấy có những người Đàng Ngoài nào dù nghèo khổ đến đâu đi chăng nữa mà lại không thiết đãi bạn bè, dù sau đó họ phải đi ăn mày cả năm.”


24-1
 CŨNG LIỀU BÁN VÁY CHƠI XUÂN    
    Nhìn cảnh dân mình ồ ạt sắm tết, trong tôi tự nhiên thoáng qua một nỗi lo, giêng hai tới đây sau tết còn đâu thóc gạo lợn gà, còn đâu hàng hóa...
     Giật mình, hóa ra con người bao cấp trong mình nặng nề quá, thời buổi này mà còn “ lo bò trắng răng”.
     Chắc chắn sự cam chịu đã rời bỏ dân mình từ lâu.
     Một mặt thì sản xuất bây giờ khấm khá, lại có miền nam làm chỗ dựa, ám ảnh đói rét của miền bắc chỉ được coi là câu chuyện cổ tích.
      Mặt khác, cái chính là con người bây giờ không chịu thiếu cái gì cả, không có hàng thì đi nhập của tây của tầu, thiên nhiên không cung cấp kịp thì lột da thiên nhiên, bán đứng tài nguyên môi trường và ăn cắp của con cháu những gì thuộc tương lai mà sống. Đã đầy... Tơi bời khói lửa... Đời bây giờ có gì mà phải gìn giữ!
      Dường như đã ngấm thật sâu sắc cái triết lý đó, Tú Xương có câu khái quát: Cũng liều bán váy chơi xuân.


25-1
      Chồng cả đống báo xuân trước mặt. Lướt qua một lèo. Với nhiều tờ báo, số tết có thể được định nghĩa là phần quảng cáo độn thêm phần nội dung. Và cái nội dung đó hao hao giống nhau giữa các báo, hao hao giống như các năm trước . Chỉ thấy có tờ Nông thôn ngày nay làm hẳn một chuyên đề sông nước khá công phu; giá còn trẻ, sẽ tính chuyện sưu tầm làm tài liệu nhưng lúc này thì chỉ còn cách kêu lên một tiếng, thế thôi.


28-1    
 NHÂN MỘT CÁI CHẾT
      Hoàng Ngọc Hiến qua đời vì ung thư. Chưa bao giờ người ta viết nhiều về ông như lần này. Đọc bài mọi người cũng là lúc tôi tự ôn lại một số kỷ niệm về ông, một số ý nghĩ về ông. Điều tôi muốn  đòi hỏi ở mình là phải cắt nghĩa được  quá trình lập nghiệp của Hoàng Ngọc Hiến, khi đến với giới văn chương ông đã được người ta chờ đợi điều gì, ông đã đáp lại đến đâu. Tức thử xác định vai trò của ông trong đời sống văn nghệ. Tính xem trong ông mang những đặc điểm gì của thời đại chúng ta, qua ông thể hiện những gì thuộc về bước đi của một người trí thức từ sau 1945 . ..
        Nhiều chuyện đáng phải nghĩ quá. Riêng một ai đó chắc không làm được mà phải có nhiều người cùng đứng ra làm.
       Nghĩ vân vi vậy rồi lại tự cười mình. Cách nghĩ của tôi chắc chắn lạc lõng, nếu tôi không nhầm thì phần lớn người ta nói về người chết để, trong mức tối đa, có thể nhân đó nói về mình. Cả xã hội bây giờ là thế và xưa nay vẫn thế. Ông Hiến không thể là một trường hợp đặc cách. Và làm sao có thể đòi hỏi giới cầm bút một cái gì ngoại lệ so với các giới khác?
          
 29-1
CÂY QUẤT CÂY ĐÀO
      Hôm nay, hăm tám Tết, vào nhà một người quen, thấy một cấy quất quá đẹp, chỉ phiền là nó lùm lòa che lấp mất cả cái bàn ngồi uống nước. Có cảm tưởng ngồi bên một cây quất như thế người ta sẽ không nói được chuyện gì nữa, mà chỉ nghĩ về quất, thương cho vẻ đẹp của nó bị ép chặt trong những căn nhà trọc phú.
     Trong Thảo nguyên, Tchekhov khi viết về một cây bạch dương đơn độc đã cho một nhân vật tự hỏi “ Đẹp như thế cây có buồn không?”. Hôm nay, tôi cũng muốn hỏi như thế.        
     Một người Việt từ hải ngoại về viết trên trang blog của mình “Việt Nam vẫn tự hào mình là nước xã hội chủ nghĩa mà về lý thuyết các dịch vụ cho người dân phải ưu việt và mang tính nhân bản. Nhưng những câu chuyện mà tôi nghe được cho thấy một xã hội phát triển với nhiều nét hoang dã. Một cựu quan chức nhà nước nói vị đại sứ Nhật khi hết nhiệm kỳ ở Việt Nam mới đây đã đưa ra mấy lời khuyên đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam. Ông bảo để phát triển người Việt phải bỏ thói háo danh, ăn cắp vặt và hủy hoại môi trường. “
    Trong thói ham cây quất to, đã thấy có vấn đề háo danh (Chữ Hán gọi là bệnh hiếu đại).
    Còn về hủy hoại môi trường thì là chuyện liên quan đến những cây đào dại. Báo Đại Đoàn kết có bài cho biết khoảng hơn chục năm nay, để phục vụ thói ham chơi của dân Hà Thành, rừng đào dại ở các tỉnh miền núi phía bắc đã gần như bị xóa sổ. Có những ông già miền núi nhớ đào quá phải lấy cành khô về, dán hoa giấy lên cành bày trước nhà cho đỡ nhớ.
      Với người Việt, yêu hoa có nghĩa là mang hoa về ngay trong nhà mình cho thiên hạ...nhìn mà thèm. Còn ở nhiều nơi khác trong đó có Trung quốc, theo tôi biết ngưởi ta quan niệm cách tốt nhất để yêu đào yêu mai là cả cộng đồng trồng cả những cánh rừng lớn đào mai rồi giêng hai rủ nhau làm cuộc du xuân. Một lần theo tua du lịch đến vùng ngoại ô thành phố Nam Kinh, tôi đã được nghe nói cạnh lăng Tôn Trung Sơn có bạt ngàn những đồi mai từ đời Minh còn lại đến ngày nay.
      Người ta hay khoe tết ở VN là tết của gia đình. Nhưng như thế tức là chúng ta không biết cách tổ chức tết cho cả cộng đồng. Xưa đã thế mà nay cũng thế. Ai đó sẽ bảo thế các hội làng thì sao. Tôi muốn cãi lại rằng tôi không tin có thể rút kinh nghiệm từ những đám hội của những làng xóm rời rạc độ trăm người là cùng để đứng ra tổ chức những lễ hội hiện đại. Sự thực thế nào, tất cả chúng ta đã biết.

Tuesday, January 25, 2011

Cái đẹp trong văn Thạch Lam

Với nhà văn Thạch Lam (1910-1942), vẻ đẹp là một cái gì chỉ hiện ra mong manh thấp thoáng nên dễ bị bỏ qua. Ông viết: "Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường...". Cái đẹp trong văn Thạch Lam là cái đẹp cổ điển: đẹp và buồn. 

Không phải nhà văn tiền chiến nào cũng thích nói đến cái đẹp. Đọc các truyện ngắn truyện dài của Nguyễn Công Hoan hay cả loạt phóng sự và tiểu thuyết phóng sự của Vũ Trọng Phụng, người ta thấy cái đẹp hầu như vắng mặt. Có vẻ nó giống như một thứ hàng xa xỉ, không dây dưa gì đến cuộc đời nhếch nhác này, và để được chân thành trong câu chuyện, tác giả ngầm bảo ta rằng, tốt hơn hết là không nên nhắc tới nó làm gì (!?)


Ở một ngòi bút như Thạch Lam (cũng như ở Khái Hưng, Nguyễn Tuân, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh...) thì tình hình hoàn toàn ngược lại. Từ những bài báo nhỏ đến những truyện ngắn cô đọng, viết văn với Thạch Lam đồng nghĩa với việc săn sóc tới cái đẹp, và nhắc nhở về sự có mặt của nó với mọi người. Ông nói tới vẻ đẹp trong thiên nhiên: buổi trưa vắng vẻ ở một làng quê hay ban mai yên ả ở một xóm nhỏ trung du (Dưới bóng hoàng lan, Nắng trong vườn). Ông nói tới vẻ đẹp hồn hậu trong xúc động đơn sơ của một thanh niên lần đầu làm cha, hoặc cái cảm giác lạ lùng của mấy em nhỏ trong một ngày chớm rét (Đứa con đầu lòng, Gió đầu mùa). Đối với những con người khiêm nhường mà cuộc sống bị đè nặng bởi những lo toan hàng ngày, Thạch Lam biết tìm ra những nét tính cách cao quý, nó là nhân tố làm cho người ta tồn tại và nhờ vậy, lại toát lên một vẻ đẹp riêng (Nhà mẹ Lê, Tối ba mươi). Một nét quán xuyến trong cách nhìn đời của Thạch Lam: tác giả luôn luôn mách thầm với chúng ta rằng vẻ đẹp là một cái gì chỉ hiện ra mong manh thấp thoáng nên dễ bị bỏ qua. Ông viết trong Theo dòng: "Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường. Công việc của nhà văn là phải hiểu cái đẹp chính ở chỗ mà không ai ngờ, tìm cái đẹp kín đáo bị che lấp trong sự vật, cho người khác một bài học trông nhìn và thưởng thức".


Quan niệm cổ điển và một thoáng gặp gỡ Đông - Tây


Năm 1940, khi Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân được in ra lần đầu, Thạch Lam sớm có bài giới thiệu quyển sách trên báo Ngày nay (số ra 15-6-1940). Bài báo đáng được lưu ý, không phải chỉ vì nó đã nói đúng về Nguyễn Tuân mà còn là một dịp để Thạch Lam tự bộc lộ. Chỉ trong khuôn khổ chưa đầy 1.000 chữ, ông đã năm lần nhắc tới cái đẹp và những từ ngữ ông dùng để đi kèm chính là những thuộc tính mà theo ông có liên quan tới cái đẹp chân chính. Đó là vẻ nên thơ, sự cao quý, cái có ý nghĩa, rồi cả sự khoáng đạt và một chút nồng nàn. Cũng có đến mấy lần ông nhắc lại hương vị cũ kỹ và nhẫn nại của một sự hy sinh, hoặc tâm tình yêu mến dĩ vãng, tiếc thương và muốn trở lại những vẻ đẹp đã qua.


Cũng từ đây, người ta đọc ra một quan niệm về cái đẹp mà tác giả Gió đầu mùa theo đuổi. Trưởng thành từ một cốt cách học trò, người viết văn này dễ rung động với những gì thấp thoáng, dịu nhẹ. Ông tỏ ra xa lạ với những vẻ đẹp chói chang, quyến rũ, hoặc là cái lối có gì mang bày hết cả ra ngoài, phô phang lộ liễu. Hình ảnh mà ông thích nhất là bông mai trong trắng. Trong sự kín đáo và ẩn nhẫn biết điều, vẻ đẹp ông hay nói tới thường hàm chứa một sức sống tiềm tàng. Một quan niệm như thế phải nói là có nhiều chất cổ điển. Giữa thế kỷ của văn minh công nghiệp trong cái thời mà máy móc và các mốt thời trang bắt đầu du nhập và ngày càng bành trướng trong xã hội, văn chương Thạch Lam có vẻ là một thứ dòng nước ngược đưa người ta trở lại với quan niệm về cái đẹp của phương Đông hoặc gần gũi hơn, trong cách hiểu về cái đẹp thường thấy ở ông cha ta. Vậy đâu là tác động của yếu tố thời đại đến ngòi bút này? Thực ra ở đây yếu tố thời đại vẫn có, nhưng cách ảnh hưởng của nó tới Thạch Lam lại có những nét đặc trưng riêng. Nên nhớ là giữa nền văn hóa Pháp được du nhập vào Việt Nam lúc ấy và văn hóa phương Đông cổ truyền không phải chỉ có khác biệt mà còn có nhiều nét chung. Văn hóa cổ điển Pháp cũng nổi tiếng vì sự trong sáng, sự tinh tế và tinh thần nhân bản. Thứ nữa khi tiếp nhận nền văn hóa này, lớp người như Khái Hưng, Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu hoặc Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân... đã đứng vững trên mảnh đất quê hương ruột thịt. Trong sách vở mà nhà trường dạy họ cũng như trong những quyển sách họ đọc ở ngoài đời có những lời lẽ khuyên họ phải biết trở về với cội nguồn dân tộc. Về phần mình, trong sáng tác văn chương, Thạch Lam sớm tự xác định cho mình một con đường riêng. Ông cho rằng, có một công việc mà một ngòi bút tự trọng nên đảm nhận, đó là làm sống lại cái đẹp, cái thực vốn là những tính cách cố hữu trong nền văn hóa cổ truyền. Người và cảnh ông miêu tả vì vậy thường có thêm chiều sâu trong thời gian. Cái đẹp được ông chắt chiu gạn lọc. Tuy không nói ra trực tiếp, nhưng từ những gì ông tha thiết, thấy toát lên một lời giáo huấn kín đáo: nếu không được trân trọng giữ gìn, cái đẹp vốn đã mong manh sẽ tan mất đi và chúng ta sẽ mãi mãi sống trong bơ vơ tiếc xót.


Nỗi buồn giấu kín


Nhưng có lẽ đặc tính đáng nhớ nhất của cái đẹp trong văn Thạch Lam ấy là nó thường được miêu tả với một nỗi buồn sâu xa. Cảm giác chính còn lại trong người đọc sau khi đọc nhiều trang sách, từ Gió đầu mùa đến Sợi tóc, là một cuộc đời mờ mờ xám xám. Hãy nhớ lại Cô hàng xén, thiên truyện bao quát gần hết cuộc đời của một con người. Những phiên chợ quê nhiều mầu sắc, thoáng qua rất nhanh, cùng với những năm tháng tuổi trẻ, ấp ủ nhiều hy vọng của người con gái chăm chỉ và giàu tình thương gia đình. Rồi cái khía cạnh người ta nhớ hơn cả khi nghĩ tới Tâm, ấy là con đường từ chợ về nhà vắng vẻ, cùng những lo âu đè nặng tâm hồn cô trong cuộc sống hàng ngày. Ngòi bút Thạch Lam thường tỏ ra có sự nhạy cảm lạ lùng với những gì đã an bài hoặc những nếp sống đã trở thành mòn mỏi. Một buổi tối phố huyện, nhà cửa như thiếp dần đi trong ánh sáng những ngọn đèn dầu leo lét. Những điệu hát xẩm vẳng lên trong một xóm nghèo. Mấy bức tranh dân gian mầu sắc đạm bạc. Cảnh tết sơ sài ở một xóm nhỏ ngoại thành... Thạch Lam bằng lòng chấp nhận cuộc sống như nó đang có, nhưng vẫn không thôi tự nhủ lẽ ra nó phải khác kia, làm sao nó lại chỉ như chúng ta đang thấy! Một cảm giác bao trùm còn lại: Đời đẹp và buồn. Và nhờ gắn với cái buồn, cái thực, mà vẻ đẹp trong văn Thạch Lam lại có được sự sống riêng. Nó trở nên bền chắc. Nó không lẫn đi giữa những vẻ đẹp nhạt nhèo mà những cây bút tầm thường mang ra để an ủi bạn đọc. Cái thuở thanh bình xa vắng tác giả Gió đầu mùa hay nói tới giờ đã qua đi từ lâu, song sống trong tấp nập ồn ào, các thế hệ đến sau vẫn có thể tìm thấy ở cái vẻ đẹp cổ điển mà Thạch Lam hay nói tới một sự đồng cảm. Cổ điển ở đây đồng nghĩa với sống mãi.


(Báo Thể thao và Văn hóa)

Wednesday, January 19, 2011

Lan man với Vương Trí Nhàn

(TBKTSG) - Là một cây bút nghiên cứu phê bình văn học sắc sảo hay “đụng độ”, Vương Trí Nhàn gần đây quan tâm nhiều đến văn hóa, đô thị, lối sống, với cách nói thẳng băng.


TBKTSG: Dạo này thấy ông ít viết bài cho các báo?
- Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn: Bây giờ không theo được “nó”. Cổ rồi. Cảm thấy không làm được nữa.

TBKTSG: Vì đâu nên nỗi?
- Nếu làm báo, dẫu sao anh phải nể người ta. Bà còn lạ gì nữa. Phải tuân thủ lề luật, ông sếp cũng phải theo lề luật. Tôi phải chọn cái gì thoải mái. Viết blog. Tản mạn, tự phát, già hợp.
TBKTSG: Ông nói ngược. Trẻ nó mới mê mạng?
- Già, làm cái gì lớn khó khăn. Còn tôi suy nghĩ nó cứ tứa ra như cây dại. Tản mạn mà.
TBKTSG: Vậy ông tản mạn “tứa ra” trên những chuyện gì?
- Hai mảng, thứ nhất là nhật ký xã hội. Đọc được cái gì hay thì nghĩ. Thí dụ chuyện người ta cho nước ngoài thuê rừng với giá chỉ bằng 10 bát phở. Đọc báo Nga thấy có tự do mà không có dân chủ. Rồi những quan sát hàng ngày. Tôi rất hay chú ý các vấn đề giao thông. Tôi đi đường cũng nghĩ: sao Hà Nội lộn xộn, hoang dã (lời của một ngôi sao nước ngoài nhận xét, không phải tôi). Xe thô sơ chèn xe cơ giới. Tôi nhớ lúc nhỏ đi học người ta dạy: xe thô sơ nhường đường cho xe cơ giới. Sao bây giờ lại “khốn nạn” vậy? Ngày xưa, người đi ô tô là người quan trọng, tử tế. Nay người tử tế vẫn còn, nhưng người ăn cắp ăn cướp, trốn thuế nhiều.
TBKTSG: Thảo nào có người bảo cái tên ông Trí Nhàn nhưng không nhàn trí?
- Tôi muốn nói là bao giờ cũng có người tử tế, cũng kính trọng người tử tế. Nhưng dường như người tử tế đang ít dần đi. Tôi buồn, phản ứng tiêu cực. Có quan hệ đảo ngược với lương tri thông thường. Thầy không được trò kính. Rối quá.
TBKTSG: Đó là mảng nhật ký xã hội trong cuốn sách rất hay của ông mới ra “Những chấn thương tâm lý hiện đại”.
- Mảng hai là văn hóa-xã hội. Theo thời sự thôi. Thí dụ họa sĩ Nguyễn Quân ra sách, triển lãm hay, hai phe “Cánh đồng bất tận”… Tôi ghi lại, để dùng về sau. Không hy vọng phát hiện vấn đề lớn lao. Già rồi. Ngoài ra làm lại một số sách cũ.
TBKTSG: Người ta bảo phải đủ giàu mới ngồi nghiên cứu. Ông không phải “đi cày” nữa?
- Vẫn cày. Nhưng uể oải chậm chạp. Không phải lo kiếm sống nữa.
TBKTSG: Vậy ai nuôi để ông ngồi nghiên cứu?
- Bà xã. Có cửa hàng. Bây giờ nghĩ lại thấy Nguyễn Khải xui đúng. Lúc trẻ ông Khải bảo tôi dân viết là chọn một nghề khổ không sống bằng lương. Phải lấy đứa nào đó nuôi mày, mới theo nghề được (!)
TBKTSG: Ông định nghiên cứu gì?
- Lắm việc. Hoàn chỉnh số đề tài cũ như: “Nhà văn tiền chiến”, “Hiện đại hóa văn học”. Có cuốn do NXB Đại học Quốc gia Hà Nội in, được 1,4 triệu nhuận bút, in 600 cuốn không báo nào nhắc, xếp xó. Tôi gửi Giáo sư Trần Hữu Dũng, ông trân trọng đưa lên trang mạng Viet-studies.info.
TBKTSG: Những đề tài cũ, được làm lại hôm nay có gì mới không ông?
- Trước đây làm vụn vặt. Nay thu gọn tổng quát, dẫn luận quan trọng văn học Việt Nam thế kỉ 20 dưới thước đo của văn học thế giới. Phải đo văn học Việt Nam bằng chuẩn mực thế giới. Một số nước, thí dụ Ấn Độ dù có nhà văn nổi tiếng, vẫn chỉ là cho mình thôi. Phải đóng góp cho văn minh thế giới. Trung Quốc họ khát khao chinh phục thế giới, không đòi nhà nước cho tiền để quảng bá ra ngoài như ở Việt Nam.
TBKTSG: Vậy ông đã làm được nhiều chưa?
- Mới thu dọn thôi. Tôi chuyển hướng nghiên cứu của mình 20 năm cuối, sang nghiên cứu văn hóa.
TBKTSG: Ông có một lần bỏ ra về khi đang được phỏng vấn về chuyện ông làm hàng loạt bài về thói xấu của người Việt. Có người còn bảo: Phải nghiêm cẩn khi bàn về tính cách dân tộc? Nhưng rồi trên mạng người ta treo hai câu của ông như “danh ngôn”: “Dân tộc Việt là khối tự phát khổng lồ”. “Thói xấu lớn nhất của người Việt là sợ nói về thói xấu của mình”. Ông không ngại hay bị phản ứng?
- Nếu tôi không tin vào tôi thì còn làm làm gì? Cái bài về Tô Hoài, có cô Vàng Anh cho là tôi ác, thấy người ta già… Tôi ghi từ lâu chứ có phải đợi người ta già đâu. Tôi cũng đưa cho chính nhà văn Tô Hoài đọc rồi, ông bảo được mà. Tôi biết thân phận tôi chứ. Nhưng rất cần nói cái ác cái dở để nói rất nhiều vấn đề đáng báo động. Tôi cảm ơn nhà văn Tô Hoài đã hiểu.
TBKTSG: Nhưng ông thường hay đụng độ với nhiều người nữa?
- Sao không đụng độ được? Vì sao Nguyễn Khải có lúc ghét tôi? Vì tôi biết cái phần ông muốn giấu mọi người. Cảm xúc như một nghệ sĩ, viết như một cán bộ. Tôi biết mạch ông ấy rồi. Với ông ấy tôi chỉ như một học trò, có thời ông quý có lúc ông mắng mỏ. Bạn văn cũng có người bênh vực ông, mắng tôi là chọc gậy bánh xe. Nhưng là nhà phê bình, tác phẩm các nhà văn in cho công chúng đọc, tôi phải viết.
TBKTSG: Nhưng có điều ông nói, thật sự “ác”?
- Nếu tôi ác thì không bao giờ người ta đọc tôi một cách lâu dài. Chỉ lừa được một lần thôi.
TBKTSG: Ông là nhà nghiên cứu phê bình văn học. Nay lại nhìn văn học từ góc độ tư tưởng sang nhìn dưới góc độ văn hóa… nên gọi ông là “nhà” gì cho đúng?
- Gọi là nhà gì tôi cũng sợ lắm. Sang quá. Có thể tôi còn kém vụng, nhưng đặt trên con đường 5 ki lô mét còn hơn người khác đi 10 ki lô mét. Sức khỏe, tầm vóc khái quát cao còn khó. Nhưng tôi tiếp tục học.
TBKTSG: Ông nổi tiếng tự học và đọc nhiều. Ông học cả khoa học tự nhiên?
- Tôi khốn nạn cực kỳ không biết tiếng Anh, Pháp, phải đọc qua tiếng Nga. Tôi có cái nhìn mềm là do học thêm vật lý. Học với tôi cứ như định mệnh (cười). Bà có nhớ hồi nhỏ học sinh vật có cái thí nghiệm phản xạ có điều kiện Paplop không. Con gà mổ hạt ngô, đến lúc người ta không bỏ ngô vào, nó vẫn mổ toét cả mỏ cho đến chết….
TBKTSG: Ông sống ở Hà Nội, thấy Hà Nội như thế nào?
- Tết rồi tôi nảy ra ý nghĩ và đã đi… bơi qua sông Hồng. 8 giờ sáng mưa lạnh lất phất, đi qua phố cổ không có người. Nó phong trần cổ lỗ. Sức sống lâu dài ở cái cổ đó. Sự ghê gớm của thời gian, lịch sử, trong đó bao phong trần từng trải đầy đau khổ. Sao giống Bùi Xuân Phái thế. Không cây. Nhà có linh hồn, không đặc tả mặt người. Người Hà Nội ẩn sau đó.
TBKTSG: Vậy theo ông chất Hà Nội là gì?
- Theo tôi, đó là trí tuệ chứ không phải thanh lịch như vẫn nói. Nó gạn lọc, hút cái hay của các nơi. Nay không lọc hoặc lọc nhầm. Hỏng nhanh quá không chữa được. Đô thị là cuộc sống được tổ chức lại, từ quê ra tỉnh làm lại cuộc đời chứ không phải vác cái nhà quê của mình ra “nông thôn hóa Hà Nội”. Không bằng Sài Gòn: yếu tố nông thôn lên Sài Gòn, bị Sài Gòn buộc theo cái văn minh của nó. Người tứ xứ về lái taxi, phục vụ hàng quán, phải học theo cung cách Sài Gòn. Lõi đô thị chắc chắn hơn, tiếp thu cái bên ngoài vào tốt hơn. Trẻ con ngoan không nói nhiều. Từ tốn. Hà Nội phải tỉnh ngộ, không được “vây vo con trưởng”.
TBKTSG: Xin ông có một vài lời nhận xét về văn chương?
- Một số nhà văn trẻ hỏng, viết chưa tới đâu, chỉ đứng trên tâm thế: Chúng tôi trẻ, chỉ có chúng tôi thôi. Đọc chúng tôi đi, chả có gì mà so với lớp già….
TBKTSG: Nhưng có những tài năng như Nguyễn Ngọc Tư đó thôi?
- Cũng đúng. Nhưng không cẩn thận, sẽ chỉ dừng lại ở mức bản địa hóa như Sơn Nam.
TBKTSG: Chắc nhiều người muốn tranh luận với ông đấy. Xin cảm ơn ông đã trò chuyện thật lòng.





Nguyễn Thị Ngọc Hải thực hiện Thứ Năm,  20/1/2011


Tuesday, January 18, 2011

Nhật ký 2011 ( tuần II)

11-1

NHỮNG CON ĐƯỜNG BÙN LÉP NHÉP

& MỘT NỀN TIỂU THUYẾT KHÔNG CHẾT

Phát biểu tổng kết và trao giải thưởng cho một cuộc thi, một nhà quản lý văn nghệ vốn nổi tiếng về biến báo bảo rằng tiểu thuyết VN không chết.
Đằng sau một khẳng định bao giờ cũng có chứa rất nhiểu phủ định; người ta có thể đọc từ nhận định trên một lời thú nhận của người trong cuộc: có lúc chính ông đã ngán ngẩm đã mệt mỏi lắm rồi.

Nhưng xin dừng ngay lại ở chỗ ấy!
Sức sống mãnh liệt của một người quen chèo lái tình hình khiến ông tìm ra ngay được một cách khẳng định không ai cãi lại nổi. Tiểu thuyết không chết. Ơ-rê-ca. Tìm thấy rồi! Dễ dàng dự đoán người nói không khỏi sung sướng muốn thưởng cho mình một nụ cười kiêu hãnh.
Suốt hai tuần đầu tháng giêng 2011, một đợt gió mùa đông bắc kéo về nhấn chìm Hà Nội trong giá lạnh. Ngày nào khô ráo còn đỡ. Có hôm mưa phùn rả rích, sự sống của người nghèo trong thành phố rút lại là trải rộng trên những con đường lép nhép bùn. Cảnh tượng như cũng có phần liên hệ đến tình hình văn chương hôm nay, tôi nghĩ. Cũng như nền văn nghệ ấy, toàn bộ cuộc sống của chúng ta làm sao mà chết được. Nó chỉ kéo lê mình đi. Nó chỉ áp sát xuống mặt đất. Nó chỉ ngắc ngoải. Trong khi cái lành mạnh cái sáng sủa lép vế co cụm thì những cái làng nhàng tầm thường vơ vẩn và cả những cái thấp hèn lại được dịp nẩy nở và nếu cần khái quát người ta vẫn có quyền nói là nó hoàn toàn sống động, và còn miên man kéo dài trong những ngày tới.


12-1

MỘT CÁCH CẢM NHẬN HÀ NỘI

Hà Nội một thành phố trong nghệ thuật là tên một tập sách do Viện Goethe ở Hà Nội tổ chức biên tập, qua việc chọn lọc tác phẩm của nhiều thế hệ họa sĩ VN đương đại trong một triển lãm, mà thử gọi ra cái tinh thần chính của cuộc sống thành phố.
Gặp lại ở đây cái cảm giác mà nhiều người Hà Nội như tôi đã cảm nhận hàng ngày -- một thực thể đẹp ngay trong cái vẻ tạp nham rối rắm của nó!
Theo những người biên soạn là Natalia Kraevskaia và Lisa Drummond, trong khi đóng vai trò một vũ đài để con người kiếm sống, một đấu trường của cạnh tranh giằng xé hung bạo, không gian đô thị ở đây vẫn còn có cái vẻ của một hoang đảo, vì tạo nên bởi những bộ phận tách biệt và ốm yếu.
Trên cái nền chung đó, ấn tượng mà Bùi Xuân Phái tạo ra có vai trò của một sự đối tỷ. Người ta tìm thấy ở ông một cảm giác thanh sạch, bởi lẽ, như những người biên soạn đã viết, Hà Nội trong Phái là “một thành phố đến từ quá khứ vĩnh viễn khóa chặt vào quá khứ, mãi mãi hoang đường và huyền thoại “ .
Tôi cũng đọc được ở đây những nhận xét thuộc loại hay nhất về Bùi Xuân Phái “Cái mộc mạc trong các bức tranh của ông thật ra chỉ ngụy trang cho một cách tiếp cận đầy phức tạp, ở đó, thành phố không chỉ là một chủ thể để khắc họa chân dung mà còn là phương tiện lãng mạn hóa nỗi cô độc




VỀ SỰ TRÌ TRỆ TRONG GIỚI TRÍ THỨC

1/ Đọc Văn minh làm giàu & nguồn gốc của cải , một cuốn sách về kinh tế, thấy tác giả Vương Quân Hoàng – có lẽ là một người trưởng thành từ hải ngoại-- nhận xét nhiều giảng viên các trường đại học ở VN dạy về kinh doanh vận hành kinh tế, tư duy kỹ năng... mà chưa bao giờ thực sự kinh doanh một mặt hàng nào cả. Chỉ đơn giản là đọc vài cuốn sách dở xoàng xĩnh rồi nhắc lại , như cái máy.
2/ Nguyễn Thị Từ Huy kể là ở các trường đại học nước ngoài, mỗi năm các giảng viên đều phải soạn lại bài giảng, và cuối năm họ sẽ cho nộp cho nhà trường để, nếu có thể thì xuất bản các công trình đó. Năm sau, họ sẽ bắt tay vào soạn một giáo trình mới, dạy đến đâu soạn đến đấy.
Khi tôi ngỏ ý muốn đi hỏi ở VN có áp dụng yêu cầu đó không thì được một anh bạn cười mỉm trả lời, thôi ông cứ mang cái tình hình đó mà đảo ngược lại sẽ ra VN ngay , việc gì mà phải hỏi.


14-1

NHÌN ĐÂU CŨNG THẤY ...BÓNG DÁNG NGƯỜI HÀNG XÓM

Tiếp sau bộ phim Đường tới Thăng Long, giờ lại tới tháp chuông Đồng Lộc mới khánh thành cũng bị phát hiện mang dấu ấn Tầu quá nặng.
Có thể giả thíết theo hai cách

1/ Người làm cái tháp này hình như quá thích lầu Hoàng hạc của Vũ Hán nên cố tình mang vào

2/ Ông ta không hề có ý thức trong việc này, nhưng cái chất Tầu kia đã ngám vào tận trong tâm thức nên không cố tình gì cả, mà tự nhiên cứ thành. Xem ra như thế lại còn nguy hơn nữa.
Lưu ý thêm đây là công trình do hàng loạt cơ quan văn hóa bảo trợ! Hoặc là họ chỉ chi tiền chứ chẳng xem xét, hoặc đã xem mà không ai phát hiện ra. Đã đến nước này thì không biết chừng có thể khái quát rằng cái sự lai căng nó đã hóa thành môi trường sống của chúng ta, một phần suy nghĩ và vốn liếng nghệ thuật của ta mất rồi.
Chợt nhớ tới một chuyện xảy ra hồi 7-2010 khi người ta bàn chuyện gọi là đưa Vovinam vào dạy trong trường học.
Trên báo TT& VH một huấn luyện viên môn võ phái Tây Sơn ở Hà Nội nêu nhận xét “Những kỹ thuật đặc dị, mang tính riêng và có nguyên gốc đã làm nên một Thiếu Lâm Tự của Trung Quốc, một Taekwondo của Hàn Quốc, một Karate do của Nhật Bản. Ở nước ta, tiếng là võ Việt, nhưng quan sát kỹ hình thái chiêu thức, đòn thế, kỹ chiến thuật…của một số môn phái, thấy ngay bóng dáng của quyền thuật Trung Hoa...Nhiều võ sư không phủ nhận đó là “võ Tầu”, nhưng đã được “Việt hóa”. Cách tư duy “cá vào ao ta là của ta” cũng không vấn đề gì, nhưng đó không thể là sản phẩm “nội” thứ thiệt, vì vậy không thể có tiếng nói đại diện…”.
Đến tháng 12, đọc bài nói về Triển lãm mỹ thuật toàn quốc 2010 trên SGTT lại thấy nói có quá nhiều tranh mô phỏng một tác giả TQ là Phương Lực Quân. “
Đó là những tranh khuôn mặt người biểu hiện sự trì trệ, ngờ nghệch, khiến người xem “tức mắt”, tự thấy mình cần phải vùng lên, cần phải thay đổi.”
Thế là đã rõ, nhìn vào bộ phận nào của văn hóa VN hôm nay, cũng thấy bóng dáng của ... ông hàng xóm.
Nói như dân gian, đang thịnh hành lối ghét người yêu của.


Theo dõi thêm thì thấy, một lý do khác đã được nêu ra, nó khiến người ta buộc phải tính lại việc đưa võ Việt Nam vào nhà trường: đó là các bài bản của nó còn rất rời rạc, mỗi địa phương sáng chế ra một kiểu. Đại khái có thể liên tưởng tới tình trạng manh mún tùy tiện của chữ nôm mà đây đó các nhà nghiên cứu đã miêu tả.
Tôi đang băn khoăn không biết có thể dùng cả hai đặc điểm này của võ VN, của chữ nôm – tùy tiện rời rạc và lai ghép nhiều yếu tố ngoại lai—để khái quát những đặc điểm chung của văn hóa VN ?!


16-1

TÌM HỌC NHỮNG CÁCH NGHIÊN CỨU VĂN HÓA

Khi bí, hãy nhảy đại vào những khu vực anh chưa bao giờ ghé thăm và hãy nín thở chờ đợi – biết đâu ta chẳng tìm ra ở cái nơi tưởng xa lạ đó những gì quen thuộc, thậm chí những gì cần thiết.

Không biết ai đó có lần đã nói với tôi điều đó và hôm nay tôi thử đi theo lối đó.
Lâu nay khi loay hoay với các chủ đế văn hóa VN, tôi chỉ mới tìm cách mở sang văn hóa Trung Hoa và văn hóa Đông Nam Á. Hôm nay tôi thử ngó sang ... văn hóa Hồi giáo -- Ả rập.
Lang thang thử đọc cuốn sách mang tên Lịch sử Trung Đông 2000 năm trở lại đây của Bernard Lewis, Nguyễn Thọ Nhân dịch. Ghi nhận được vài điều, chẳng hạn cái ý về vai trò của các nhà thơ trong các nền hành chính ở vùng này:
Một vị vua chúa tầm thường nhất cũng nuôi ít nhất một nhà thơ để ca tụng mình bằng những vần thơ dễ nhớ và dễ quảng bá. Các vị đại vương thì có trong triều cả một tập thể thi gia chẳng khác gì một bộ tuyên truyền của chính phủ
Nếu việc của nhà thơ là tô điểm cho hình ành hiện thời của hoàng đế thì các nhà viết sử lại lo cho hình ảnh nhà vua truyền cho hậu thế “ ( tr 221)


Còn nhiều điều khác có trong văn hóa vùng Trung Đông tôi thấy nó như là những biến thể của văn hóa mình.
Tuy nhiên, bài học giá trị nhât là về cách nghiên cứu một nền văn hóa. Phần dẫn nhập giới thiệu hình ảnh một người đàn ông ngồi trong một quán cà phê, từ đó phân tích những ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đối với con người Trung Đông.
Dường như nghiên cứu một nền văn hóa hiện nay, là nghiên cứu mối quan hệ giữa nền văn hóa đó với các nền văn hóa mà nó tiếp xúc – tôi tự xác định.

Thursday, January 13, 2011

Làm ăn kém nên nghèo , bởi nghèo nên xấu tính

  Nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật thích viết rằng  những người làm tranh Đông Hồ chỉ là những người nông dân lúc rỗi rãi thì vẽ thêm tranh. Mục dích của họ cốt cho người ta thấy nghệ thuật ở VN “ gắn liền với đời sống “. Có biết đâu làm thế chỉ là một cách tốt nhất để phô ra một sự thật  :trong xã hội VN, trình độ sống và làm việc là thiếu chuyên nghiệp. Không sớm có sự phân công lao động.Con người nhởn nhơ dông dài ngay trong sự chăm chỉ của mình .


   Tình trạng của nghề làm tranh cũng là tình trạng của nghề dệt, nghề đúc đồng,nghề làm muối, nghề làm đồ gốm, cả nghề làm ruộng… Chỗ nào người ta cũng thấy sự ngưng trệ. Kỹ thuật cổ lỗ. Năng suất thấp. 
    “ Cối xay tre, nặng nề quay, từ ngàn đời nay, xay nắm thóc “. Trong lời thuyết minh viết cho phim  Cây tre Việt Nam 1955, Thép Mới từng viết một câu văn xuôi mang đầy chất thơ để hằn sâu vào tâm trí của nhiều thế hệ học sinh tiểu học như vậy. Vào những năm năm mươi của thế kỷ trước, nó gợi một cảm giác về sự nhẫn nại bất khuất kiên cường. Nhưng sang đến thế kỷ XXI này đọc lại thấy dấu hiệu của một cuộc sống ù lì tăm tối .
     Người Việt tự nhủ Đói cho sạch rách cho thơm. Ảo tưởng nhắc lại mãi nghe như có lý. Song khi người ta quá nghèo thì khó lòng giữ được sự tử tế. Chính nhiều người từ xa tới đến đây cũng sớm hiểu điều đó.      
    Trong cuốn Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài 1688,(bản của NXB Thế giới, 2006) một nhà thám hiểm người Anh là  W.Dampirer ghi lại một nhận xét chung: “Cư dân ở đây rất lễ độ và thật thà với người nước ngoài, nhất là những người đến giao dịch và buôn bán. Những kẻ quyền quý thì tỏ ra kiêu căng, hách dịch và tham lam trong khi đám lính tráng  thì hỗn xược.”
    Rồi ông ghi thêm “ Cư dân lớp dưới lại hay trộm cắp làm cho nhà buôn  và những người đến giao dịch ở đây bắt buộc phải canh gác cẩn thận về đêm “.
    Điều đáng nói là  W.Dampirer đã có cách riêng để giải thích hiện tượng này. Trước đó nhà cửa người Việt ngay ở Kẻ Chợ, tức thủ đô, được tác giả mô tả là quá đơn sơ tầm thường. Nhà  nhỏ và thấp. Mấy tấm phên che dột nát tạm bợ. Bên trong chia làm nhiều gian, mỗi gian có những cửa sổ để lấy ánh sáng thực chất là những lỗ đục xấu xí. Theo W.Dampirer, nhà cửa như vậy thường làm mồi cho bọn người trộm cắp. Chúng có thể dễ dàng thực hiện mưu đồ đào tường khoét ngách.
  Khó lòng kể hết những dấu ấn mà sự thấp kém về trình độ sản xuất để lại trong tính cách người Việt. 
  Trước tiên là một tâm lý tự ti mệt mỏi không thấy hứng thú trong lao động.
   Đã nhiều người gặp nhau ở nhận xét là người Việt rất chăm chỉ năng động. Nguyễn Văn Vĩnh tỏ ra tinh nhạy hơn người khi nêu cùng lúc cái tình trạng nước đôi : người Việt vừa cần cù , vừa cho người ta cảm thấy họ coi lao động là bất đắc dĩ, chẳng qua không có cách nào khác nên phải chân lấm tay bùn vậy.
   Xã hội thiếu đi sự năng động tìm tòi.
   Nhà nho xưa nhiều người kiêm cả thày lang. Trong một lần so sánh văn hóa Trung quốc và VN, Phan Ngọc nhắc lại cái ý mà nhiều thế hệ nho sĩ truyền miệng với nhau. Đó là một nhận xét của người Tàu: người Việt sống trên cả đống  nguyên liệu dùng làm cây thuốc nhưng vẫn chết vì thiếu thuốc .  
     “Việc lớn thì kinh, việc nhỏ thì khinh, việc bình thường thì không thích “--  thái độ người mình với công việc được Nguyễn Tất Thịnh cô lại trong  một nhận xét thật gọn ghẽ ( Tiền phong,6-10-06).
    Nhiều nhân vật trong những truyện cười dân gian là những chàng lười. Ca dao hóm hỉnh dựng lại một  chân dung, ngày nay ta tưởng là bịa, song thực ra rất sẵn trong nông thôn VN thời trung đại : “ Con có đậu cọc cầu ao / Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng /  Chú tôi tốt tóc đen răng / Hay ăn làm biếng hay nằm ngủ trưa / Ngày thì ngóng những ngày mưa / Đêm thì ngóng những đêm thừa trống canh ”.
    Vốn rất thông minh nhạy cảm nên không phải là người Việt không biết thực trạng kém cỏi trong làm ăn sản xuất của mình. Nhưng do thiếu sự mở đường của trí tuệ nên người ta cảm thấy đó là cả một định mệnh. Thấy  của thiên hạ cái gì cũng hơn mình. Bất lực.Cay đắng. Chán chường.
    Một niềm tự ti nằm rất sâu trong tâm lý, mang lại nhiều biến thái : lo học nhưng chỉ học mót học lỏm ;  sợ người ta  coi thường nên phải tìm cách nhấn mạnh cái riêng , và nhắc đi nhắc lại rằng mình chẳng kém gì mọi người. Sống gồng lên ra vẻ thế nọ thế kia, sẵn sàng giả dối cốt sao khỏi bị mất mặt.
   W.Dampier, trong cuốn sách của mình, còn ghi nhận một điều mà sau này các nhà nghiên cứu văn hóa VN từ Phan Kế Bính Đào Duy Anh tới Nguyễn Văn Huyên Lương Đức Thiệp đều chia sẻ, là thói máu mê cờ bạc của người Việt. Giàu tham việc thất nghiệp tham ăn,--khi rỗi rãi người ta lao đầu vào cuộc đỏ đen một phần là vì bế tắc trong cuộc sống. Toan tính duy nhất ở đây là ngẫu nhiên tìm được một cơ may giữa đời sống tuyệt vọng.      

Sunday, January 9, 2011

Nhật ký 2011 ( tuần I)

2-1

Năm ngoái có môt entry được đưa lên mạng mang tên Nếu như chỉ còn mỗi Việt Nam. Bài viết đùa bỡn, cẩu thả, nhưng có một ý rất hay. Đặt vấn đề không biết vì lý do gì toàn thế giới này biến mất. Dự đoán, lúc đó các mạch viễn thông bị hỏng, không có dự trữ thay thế, cả xã hội như tê liệt. Các thứ xăng dầu nhiên liệu ta có đấy, nhưng không biết khai thác. Tất cả những gì dùng điện trước sau ngừng hoạt động, quần áo chẳng có, thuốc thang thì không, bệnh tật tha hồ hoành hành … Các loại chuyên gia rởm với đủ loại bằng cấp tự phong lúc này trơ ra cái thực chất vô bổ. Cả nước rủ nhau đỉ trồng lúa trồng dâu theo thời các vua Lý vua Trần, may ra tạm sống qua ngày …

    Sở dĩ tôi ghi lại đoạn này vì đọc trên Vietnamnet 16 -12, 2010, thấy một doanh nhân đề nghị: Mỹ và TQ lãnh đạo thế giới về chính trị và kinh tế rồi, còn "lá cờ nhân văn" chưa ai nắm và Việt Nam hãy nắm lấy lá cờ nhân văn đó của thế giới để sánh ngang TQ và Mỹ (!)...
    Rồi nhớ có lần ai đó nêu nhận xét: nhiều truyện cười của mình dân Việt với nhau thì cùng cười sặc sụa mà người nước ngoài nghe, người ta không thể cười nổi.
   Lại nhớ  một ý của nhà nghiên cứu Phan Ngọc, một chuyên gia về bản sắc VN. Ông bảo” văn học ta mạnh về dân tộc mình, mà yếu về nhân loại nói chung”.  Ông viết trên tạp chí Văn Hiến, số ra 11-2002.
3-1
  
BẠN BIÊT GÌ VỀ ĐÔNG NAM Á ?
      Nhân ngày lễ đón năm mới, truyền hình và báo chí toàn đưa chuyện đón năm mới ở  Washington, Paris, Moskva, mà không bao giờ thấy có tin cho biết ở Bankog, Manila, Jakarta người ta ăn tết thế nào, có điều gì phải lo toan trước sự chuyển mình của thời gian….
     Không chỉ tết nhất mà xưa nay chuyện gì cũng vậy.
     May quá, bản tin tham khảo hôm nay in lại bài của một cựu Thủ tướng Sri Lanca phát biểu tại một hội nghị về Nam Á.  Bài báo nói nhiều vấn đề, nhưng tôi nhớ hai chi tiết:
   -- Một là các chương trình xóa đói giảm nghèo ở đó không đi đúng lộ trình. Rơi vào túi dân giàu cả. Chỉ có 21% dân nghèo được lợi.
   -- Hai là quyền lực chính trị đã trở thành phương tiện nhanh nhất giúp người ta giàu có. Các doanh nhân giàu có hàng đầu biét rằng có tìm kiếm quyền lực chính trị thì mới đi xa được.
     
4-1
 RÙA ĐỎ  
     Nhiều báo cho biết hồ ao Hà Nội mấy năm nay rất sẵn loại rủa đỏ. Chúng dễ sống và thích hợp với những nơi bẩn thỉu, thích ăn các loại xác chết. Chúng lan vào cả Hồ Gươm và bắt nạt cụ rùa trong hồ.
       Tôi nghĩ vân vi, về những thứ ngoại nhập nước mình... Nhớ những câu “ đất lành chim đậu”, với lại “ Ngưu tầm ngưu mã tầm mã”. Lại nhớ hồi trước miền bắc khá phổ biến cây bạch đàn trồng trên đồi hoang, trồng nó chả có vất vả gì, cứ thả trên đồi là xong. Sau mới biết hóa ra đó là một loại cây có hại, đất đã trồng bạch đàn rồi thì không còn trồng gì được nữa. Toàn những thứ hợp với bản mệnh dân mình cả.
***
  Chuyện bây giờ mới kể là một lối viết báo thời nay chuyên viết lại những chuyện mà hôm qua người ta giấu biệt. Ví dụ như sau đợt đại lễ ngàn năm Thăng Long, được đọc mẩu tin sau đây: Trong ngày hội ấy có chuyện thả chim. Trước đó, chúng sống lay lắt trong công viên Bách Thảo trong khi chuồng trại của chúng vẫn đang xây, hàng ngày uống nước trộn xi măng, và bị những chủ 'nồi cháo' bắt đi bất cứ lúc nào.
     Còn đây là chuyện festival cầu Long Biên 20/11/2010. Cũng có thả chim. Nhưng ác "vị sứ giả" vừa được thả ra, chưa kịp mang thông điệp ý nghĩa bay lên được nửa mét, đã bị các công dân thành phố lao vào bắt, chộp, giật; bẻ đầu trói cánh để đảm bảo không thể bay đi đâu ngoài việc... vào nồi.
    Trong một bài thơ Gửi người mai sau, B. Brecht viết về thời của ông
Thời thế gì
Mà nói đến cỏ cây
 Cũng như đã phạm vào tội ác
Vì thế là làm ngơ trước bao sự kinh tởm quanh mình
  Giá sống ở VN hôm nay, khi đọc mẩu tin trên đây không rõ Brecht sẽ chữa lại đoạn thơ trên như thế nào ?


5-1  
THẾ GIỚI ĐẢO NGƯỢC
      Nhớ lại hồi đi học phổ thông ở Hà Nội sau 1954, các thầy dạy sử giảng là trong xã hội ta, chủ các xí nghiệp sản xuất còn khả thủ, họ được gọi là tư sản dân tộc. Chứ tư sản mại bản đáng ghét vì chỉ nhập hàng nước ngoài về cho dân tiêu xài hư hỏng, họ phải trở thành đối tượng cách mạng, như bọn thực dân vậy.
      Nay thì bao nhiêu người thông minh tài giỏi trong xã hôi rủ nhau đi làm cái nghề nhập hàng này. Họ nhạy bén với những của lạ. Họ biết rằng đám có tiền trong nước sẵn sàng chi đậm để hưởng thụ. Và họ được ca ngợi.
     Tôi cũng không đến nỗi bảo thủ để đòi tất cả quay về cái cũ. Nay là thời sáng người ta nói gì chiều người ta quên cả, nên cũng chẳng buồn đòi phải được biết hôm qua là đúng hay hôm nay là đúng.
     Chỉ nghĩ thế là mấy chục năm nay, với lớp sắp sửa 70 như chúng tôi, thế giới đã bị đảo ngược. Ôi chao, nói thì đơn giản, nhưng có ai dám tính tới chuyện mang cái cây trồng ngược, có ai đi bằng tay được không? Đã đến nước này, làm sao mà còn ra hồn người !  


6-1
NHỮNG CHIẾC CẦU ĐÁ
       Đọc Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị xứ Đàng ngoài của thầy dòng Richard in ở Pais 1778, mới in lại trong Tư liệu Văn hiến --Thăng Long Hà Nội-- Tuyển tập tư liệu phương Tây  do Nguyễn Thừa Hỷ chủ trì việc tuyển dịch.  Với trên 150 tr khổ to, thấy đây thực sự là một cuốn lịch sử VN viết theo lối hiện đại – lịch sử xã hội.
    Trong sách có chi tiết kể là ngày xưa Bắc bộ cũng nhiều cầu đá lắm, phần lớn là do người Trung Hoa di dân sang xây dựng, sau các thủ lĩnh địa phương đánh nhau phá hết để cản đường tiến công của nhau.
      Nhân đây nghĩ về tầm quan trọng của giao thông với một đất nước. Tần Thủy Hoàng xưa thống nhât Trung quốc bằng yêu cầu thư đồng văn xa đồng quỹ. Phải có văn tự thống nhất. Xe phải có cái phần trục bánh sau bằng nhau để đi được mọi con đường trong quốc gia. Và trước đó thì đã yêu cầu các con đường trong quốc gia phải được làm theo những chuẩn mực nhất định, đường đến huyện ( huyện của họ bằng tỉnh của ta) phải rộng đến đâu, đến phủ phải rộng đến đâu. 


    Dạo này đọc báo thấy nhiều bài nói nhiều việc buôn bán với người Trung Hoa khó khăn ra sao. Tôi tưởng người ta phải biết việc này từ lâu rồi mới phải. Chỉ cần đọc các tài liệu của các nhà buôn các giáo sĩ phương Tây viết về VN các thế kỷ 16-17-18  thì biết. Đến người Pháp trước 1945 họ cũng phải kêu lên là đành bó tay trước sự thao túng của đám nhà buôn Tầu đối với kinh tế VN ở nhiều khu vực.
    Một ý nghĩ hay trở đi trở lại trong đầu tôi—mấy trăm năm qua, xứ mình đâu vẫn đóng đấy!


9-1
TUỔI GIÀ...
            Mấy ông già tôi quen ngoài sông hôm nay ngồi đọc một câu ca dao mà ở nhiều gia đình thành câu truyền miệng:  
   Đố:Con gì ăn ít nói nhiều
 Mau già lâu chết, miệng kêu tiền tiền.
  Trả lời: đám già.
         Nhớ một lần khác, một ông già kể có lần một người mẹ đang chơi với con vui vẻ, thấy ông ta đến liền bảo kìa chào ông đi, đứa bé ngó một lúc rồi sợ quay ra khóc.Với nó, khuôn mặt già cả nhăn nheo là một cái gì xấu xa kỳ dị đáng sợ.
       Cái già ở đâu cũng thế, chẳng cứ mặt người! Thế mà thử nghĩ xem, chúng ta sống giữa một xã hội già cả cố lỗ-- già trong tinh thần chứ không phải bề ngoài--, cả lớp trẻ hiện nay, sao tôi trông cái cách kiếm tiền chơi bời hưởng thụ, cũng thấy họ già sớm qúa.


...VÀ  PHỤ NỮ
 Nếu tuổi già tiêu biểu cho suy kiệt thì phụ nữ tượng trưng cho sự đỏng đảnh. Đây là ý của Henry Troyat. Ông này là một nhà văn Nga, sau Cách mạng tháng Mười lưu vong sang Pháp, viết văn, trở thành viện sĩ Viện hàn lâm Pháp.  Ông thường viết về nước Nga cũ, nhưng lại từ chối không bao giờ về thăm quê hương. Ông bảo, để cho cái cũ nó được sống đúng như nó có.
 Sau đây là đoạn văn mà tôi tạm đặt tên là Đàn bà là gì?, ông viết nhân khi bàn đến nhân vật Grouchenka trong Anh em Karamazov
Người đàn bà, ấy là sự điên cuồng làm bằng xương thịt. Người đàn bà khô héo trong sự chờ đợi, đau khổ trong sự thực hiện những ý muốn của họ. Lúc thì họ ác độc để có cái thứ tỏ ra dịu dàng tiếp sau đó. Lúc thì họ dịu dàng để có cái thú được tỏ ra độc ác liền một khi. Họ có những e lệ tà tâm và những khoái lạc ngây thơ. Họ nói láo với đàn ông, với chúa, với chính họ. Họ đùa với cuộc đời. Họ đứng trước cuộc sống như đứng trước một tấm gương. Họ làm duyên làm dáng. Và họ thay đổi vẻ mặt điệu bộ để tự tạo cho mình cảm giác là mình đang sống. Đối với đàn ông sự trường tồn là bằng chứng của thực thể họ. Và chính do sự đổi thay mà người đàn bà xác nhận sự hiện hữu của mình. Cái ngưòi đàn ông muốn là một, còn người đàn bà muốn là nhiều. Người đàn ông chỉ tự cảm thấy mạnh trong sự ý thức đầy đủ về các đức tính và lỗi lầm của họ. Người đàn bà chỉ cảm thấy mạnh trong vô thức hoàn toàn về bản thân. Người đàn ông, chính là cái thế giới được tổ chức. Người đàn bà chính là cái vũ trụ dị dạng. Đối với người đàn bà, tất cả đều có thể, không gì là nhất thiết với họ cả. (Tôi chép từ bán nguyệt san Văn in ở Sài Gòn khoảng 1971-72, số đặc biệt về Dostoievski )
      Đỏng đảnh cũng là một phương diện chủ yếu của đời sống hôm nay.

Wednesday, January 5, 2011

NAM CAO và chủ đề sự bất lực trước kiếp sống mòn

Tiểu dẫn : Lời cảnh báo về sự thất bại của mọi toan tính thay đổi

Suốt thời tiền chiến, các tác giả như Nguyễn Công Hoan Ngô Tất Tố Vũ Trọng Phụng khá nổi trong việc dựng lại một không khí xã hội giàu biến động. Con người trong các tiểu thuyết của các nhà văn đó nhiều khi là những nhân vật đầy tham vọng và khá quyết liệt trong cuộc mưu sinh.

Nói gọn lại họ là những con người hành động. Chị Dậu đấu tranh, anh Pha cũng đã đấu tranh cho việc đổi đời…Trừ Chí Phèo, đọc Nam Cao nói chung người ta bắt gặp một tình hình ngược lại. Xã hội trong văn xuôi Nam Cao trầm trầm mà như đang chết lặng đi thiu thối đi trong mòn mỏi trì trệ, và con người thì dễ đầu hàng dễ cam chịu.

Ở đây chúng tôi không nói giữa các nhà văn trên ai hiện thực hơn, ai miêu tả đúng bản chất thời đại hơn.

Chúng tôi cho rằng hiện thực đời sống đã được nhận diện qua tất cả các khuôn mặt mà các nhà văn đã vẽ nên.

Chẳng những thế, nếu nhìn vào khả năng khái quát các vấn đề nhân sinh vượt rộng ra ngoài cả thời đại mình, thì Nam Cao lại có lợi thế riêng.

Với các trang viết của ông, chúng ta có một ví dụ về khả năng khái quát của văn học: Trong khi viết về thời của mình, một tài năng văn học đồng thời có thể giúp cho bạn đọc nhận ra những trạng thái nhân sinh thấy ở các thời đại khác. Và khi đó thì trong chừng mực nào đó có thể nói đóng góp của họ sẽ có giá trị vĩnh viễn.

Sau khi đã nâng sự trì trệ trong tác phẩm của mình lên đến mức kỳ quái, Nam Cao đã đồng thời cho thấy trước nó, người ta không còn có cách giải quyết nào nữa. Chỉ còn cam chịu, chỉ còn bất lực.

Nói cách khác, ở chỗ này, nhà văn thân yêu của chúng ta đã đề cập tới một chủ đề khá trừu tượng là sự thay đổi.

Có nên thay đổi không, triển vọng thay đổi đến đâu, khả năng hành động của con người đến đâu? Đâu là giới hạn của họ?

Những câu hỏi đó luôn luôn là một vấn đề của đời sống và do đó là một vấn đề của văn học.

Kể ra, trong bản thân một khái niệm như thay đổi bao hàm hai vấn đề chính. Một là thay đổi cái bên ngoài mình. Và hai là thay đổi chính chủ thể.

Tôi không có trong tay tập truyện Nhan sắc của Dương Nghiễm Mậu, nhưng vẫn nhớ là trong tập này có một truyện ngắn mang tên Kinh Kha, Con Chủy Thủ Đất Tần Bất Trắc, đại ý nói rằng trên đường đi để tìm cách hạ sát Tần Thủy Hoàng, Kinh Kha chợt nghĩ giết Tần Thủy Hoàng rồi thì lấy ai thay thế, người đó có xứng đáng để đảm nhiệm vai trò của Tần Thủy Hoàng không. Và khi đã trả lời không thì lập tức Kinh Kha đã bỏ cuộc.

Truỵện ngắn trên đây của Dương Nghiễm Mậu là một cách đề cập tới chủ đề phổ quát về sự thay đổi theo nghĩa thứ nhất. Kết luận rút ra: Thế giới quanh ta là không thể thay đổi. Đạp đổ cái hôm nay đi, người ta chỉ có những cái kém hơn để thay thế. Vậy hành động mà làm gì?

Về sự thay đổi theo nghĩa thứ hai, thay đổi của chủ thể, thì toàn bộ tác phẩm Nam Cao là một thể nghiệm đặc sắc .

Không phải chỉ thiên tiểu thuyết Sống mòn với những Thứ San Oanh Đạt… mà hầu hết các tác phẩm khác mà ông đã viết đều có thể đội cái tên khái quát đó. Tiểu thuyết của ông ban đầu còn đội cái tên Chết mòn. Nó là cách xác định đúng đắn nhất cho tình trạng nhân thế đương thời.

Tuy chỉ là tiếp tục về chủ đề bất lực cam chịu thấy ở người khác như văn Thạch Lam , song xét về sức ám ảnh của những gì được miêu tả, có thể nói Nam Cao đã đưa chủ đề này đến một đỉnh cao mới.

Ông nói rằng cái sự sống mòn của con người trước 1945 đã trở thành một hiện tượng kỳ quái. Và nó còn kinh khủng ở chỗ tự nó, cái tình trạng nhân thế đó, không hàm chứa một khả năng thay đổi nào.

Tại sao Nam Cao có thể đi đến một tư tưởng bi quan như vậy? Rất may là ở đây chúng ta có một nhà văn làm việc hết sức thận trọng. Trước khi nói tới cái khoanh tay bất lực ông không quên ghi nhận những khao khát cháy bỏng của con người. Nhưng ngay lập tức, ngòi bút tỉnh táo của ông cảnh cáo: hãy nhìn kỹ xem, khi cái chân mệnh đã hỏng, thì càng nỗ lực thay đổi, người ta càng lún sâu vào trì trệ.

Cùng viết về sự thay đổi, đối tượng để các nhân vật Dương Nghiễm Mậu suy nghĩ là các khách thể, còn Nam Cao thì nói về các chủ thể. Kết luận họ đi tới giống nhau: chúng ta không nên hành động gì cả.

Với lối nghĩ của con người hôm nay, chắc nhiều bạn đọc của đầu thế kỷ XXI không thể chia sẻ cái kết luận trên đây của Nam Cao. Nhưng tôi cho rằng Nam Cao vẫn rất đáng đọc lại, Nam Cao đã nêu ra cả một vấn đề để cho chúng ta suy nghĩ, ý tưởng của Nam Cao là cả một thách thức. Làm sao để bác lại Nam Cao bây giờ và bác một cách thuyết phục?

 Với ý nghĩ ấy, tôi xin kính trình bạn đọc tiểu luận sau đây, được viết vào dịp kỷ niệm 40 năm ngày mất của tác giả Sống mòn, 1991. Bài viết lúc đầu mang tên Những biến hoá của chất nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao. Nay xin đổi lại tên bài như trên. Trong thâm tâm, tôi cũng tự hiểu là bài viết hai chục năm trước còn luyểnh loảng, chưa tập trung vào chủ đề và ý tưởng chính thì còn nông nổi, nay cần phải đào sâu thêm. Nhưng trong hoàn cảnh hiện thời, vì nhiều lý do, tôi chưa thể làm. Chỉ tin là từ đây, các bạn có thể có những suy nghĩ tiếp về tình trạng sống của chúng ta nói chung và sự thay đổi nói riêng .

 Chúng ta đều biết rằng một trong những cuốn sách vĩ đại nhất của Trung Hoa là Kinh Dịch. Dịch, có nghĩa là cải biến, thay đổi.

--------





Đặt vấn đề

 Nam Cao từng có một truyện ngắn mang tên Quái dị. Nội dung truyện đại khái như sau: một đám người đi gặt thuê được một nhà gọi gặt với công xá khá hời! Một lúc sau, khi đã vào nhà, cả bọn mới vỡ nhẽ - hoá ra nhà đó có mấy người đột ngột chết cùng một lúc. Giờ họ chỉ thuê mai táng hộ mấy thân nhân chứ không thuê gặt.

Truyện không thuộc loại thật hay, nên đã không được chọn in trong một số tuyển tập.

Song tự nó truyện có một cái ý được. Ý này nằm ngay ở tên truyện. Đó là sự quái dị.

Nam Cao đã nhìn thấy nó - sự quái dị ấy - trong hàng loạt hiện tượng đời sống.

Ở thiên truyện Nửa đêm, sự quái gở hiện ra qua cả nhân vật ông Thiên lôi lẫn đứa con tên là Đức. Trong mối quan hệ huyết thống, hai nhân vật này bổ sung cho nhau, và tạo ra ấn tượng về một sự báo ân báo oán mang màu sắc huyền bí.

Trong Đôi móng gìò, có nhân vật Trạch Văn Đoành mà ngay từ tên gọi đã ngang phè, trêu ngươi người nghe, và hành động thì không ai hiểu nổi.

Hai nhân vật chính trong Lang Rận là ông lang và mụ Lợi. Cả hai đều nhếch nhác bẩn thỉu, bản thân sự tồn tại của họ, cái sống cái chết của họ đều kỳ cục. Thậm chí bề ngoài của họ cũng gớm ghiếc tởm lợm - chúng ta từng biết tới phương diện này ở ngòi bút Nam Cao khi ông miêu tả Thị Nở.

Nhưng đây mới là mấy ví dụ rõ rệt nhất, những khi mà con người sự kiện được phơi bày như một quái tượng, đập ngay vào mắt người đọc.

Còn phổ biến hơn, trong truyện ngắn Nam Cao, ấy là những trường hợp cái quái dị khoác áo cái thông thường, hoà tan vào cái hàng ngày.

Khi làm rõ những ca, những kiểu người, kiểu hành động và nói năng đó, tác giả dường như thầm bảo: mọi chuyện kỳ quặc quái gở vẫn đầy ra đấy, chỉ bởi chúng ta không biết nhìn nên không nhận ra, thế thôi!

Bà già trong Một bữa nọ đi nửa ngày đường để mò ăn. Ăn xong rồi chết. Sự ăn - vốn là chuyện không có gì đáng nói - bị đẩy lên tới mức một thử thách với lương tâm, thể diện, có liên quan đến sự tồn tại của cả kiếp người.

Trong Quên điều độ, nhân vật chính là Hải được xác định theo lỗi lưỡng phân. Hắn đợi chết mà không chết”. “Lúc nào Hải cũng có bệnh mà cũng là khỏi…. Bệnh đã quen với cơ thể “.

Nhân vật người vợ trong Những truyện không muốn biết đay nghiến “Giời ơi là giời! Có chồng con nhà nào thế không?”

Cả trong mặt người, cử chỉ hình dáng con người lẫn trong các tình thế, các xu thế phát triển của sự việc, chúng ta luôn luôn gặp những chỗ tác giả kêu lên, hoặc cho người đọc phải kêu lên: dơ dáng lạ, kỳ quặc lạ, không ra thể thống gì, bất cập, quái gở, không ai hiểu được v.v

Có thể nói nhạy cảm với những cái kỳ quặc, thích gọi tên chúng ra, đưa bằng được chúng vào truyện, đấy là một cảm hứng nghệ thuật không thể che giấu ở ngòi bút tác giả Chí Phèo, một yếu tố giống như cái hích đầu tiên, thúc đẩy hoạt động sáng tạo ở tác giả.

 

Đặc sắc của chất nghịch dị ở Nam Cao


Nếu dùng thuật ngữ nào để chỉ hiện tượng vừa nêu trong văn xuôi của nhà văn độc đáo này?

Dùng chữ quái dị hoặc kỳ dị đều không thoả đáng. Vì sự việc ở đây không có tính chất kỳ quái hoang tưởng kiểu như E.T.A.Hoffman hay Liêu trai chí dị.

Bởi vậy, chúng tôi tạm dùng chữ nghịch dị, nghịch ở đây hàm nghĩa trái ngược với cái thông thường.

Lâu nay, một số các nhà nghiên cứu ở ta lấy nghịch dị để dịch chữ grotesque. Mà trong các từ điển mỹ học và từ điển thông dụng grotesque thường được giải thích đại ý là cách sáng tạo hình tượng dựa trên sự kết hợp giữa cái hư ảo và cái thực: Như vậy dùng cho Nam Cao sợ không sát nghĩa chăng?

Nhưng không ngại!

Theo chúng tôi, biện pháp không quan trọng, cái chính là có một dạng tồn tại của sự vật đã được miêu tả, dạng méo mó xệch xạc (khi dùng hai từ này, chúng tôi nhớ tới ý nghĩ của Chí Phèo trước cái bóng của chính hắn: cái vật xệch xạc, một cái gì đen và méo mó trên đường trăng nhễ nhại)

Nếu biết khai thác, cái dạng tồn tại ấy lại có khả năng lạ hoá sự vật, tức làm cho chúng không còn bị giam hãm trong cái vẻ thông thường đã quá quen mòn trong cái nhìn của chúng ta, để hiện ra đột ngột bất ngờ, gây được những cú sốc, những ngạc nhiên trong cảm nhận.

Không rõ mọi việc được Nam Cao ý thức đến đâu, song dù không chủ định đi nữa, thì sau một lần lạc bước vào đấy, ông mê mẩn không ra nổi nữa.

Sau Chí Phèo, đến những truyện ông cho in vào năm 1944 như Lang Rận, Nửa đêm, Một đám cưới ông càng lui tới trong cái thế giới nghịch dị đó một cách thật tự nhiên, coi như đời là thế rồi, không có gì phải bàn cãi nữa.

Nhưng dù phiêu lưu một cách vô tình hay cố ý, thì một ngòi bút như Nam Cao vẫn không thể vượt ra ngoài văn mạch dân tộc. Ở các nghệ sĩ Việt Nam, tư duy nghệ thuật thường có sự chừng mực phải chăng. Trong khi mải đối diện với cái trần trần của thế sự, văn học trung đại Việt Nam đã không mấy khi cho phép ma quỷ xâm nhập, chứ đừng nói là văn học hiện đại.

Nam Cao không thể đi quá xa như một Kafka, một Buzzati (Ý) hoặc một vài nhà văn Mỹ la tinh nào đó. Đọc Nam Cao, không thấy có sự biến hình - người biến thành gián, thành nhện, hoặc nguời có cánh - như ở các nhà văn phóng túng khác.

Trong Dì Hảo, Nhỏ nhen hoặc trong Cười, Cái mặt không chơi được… các nhân vật thường khi vẫn là con người với những mong muốn tầm thường của họ, cái kỳ quái có được miêu tả thì cũng là một thứ kỳ quái còn nhiều dây dưa với những hình hài những kích thước con người hàng ngày. Chúng ta vẫn gặp vẫn thấy, về căn bản chúng là cái thông thường, chẳng qua bị lỡ tay xô đẩy nên méo mó xẹo xọ đi một chút mà thôi.

Ngoài ra, cảm giác về sự kỳ dị nảy sinh do chỗ tác giả tạo nên một hiệu quả ngột ngạt tức thở, gợi ra cảm tưởng về một thứ lưới vô tình bao quanh nguời ta.

Lưới chỉ mỏng mảnh nhẹ nhàng, nhưng ngày mỗi thít chặt thêm, không ai thoát ra nổi.

Nói rộng ra, có thể bảo ở Nam Cao cái kỳ dị không phải chỉ hiện ra ở dạng dương tính ai cũng thấy (trong nhân vật, đó là ông Thiên Lôi, Trạch Văn Đoành, Lang Rận) mà còn có dạng âm tính (Dì Hảo, Nhu, Đức… và một số biến thể của nhân vật xưng tôi). Và đấy cũng là một khía cạnh làm cho chất nghịch dị này mang sắc thái riêng của con người Việt Nam, xã hội Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Phong Lê nhận xét “Nông thôn trong Nam Cao đang có sự rạn vỡ để đi vào sự bất thường của một quá trình băng hoại”. Nhiều người khác cũng đã từng lưu ý đến chất nghịch dị rải rác trong một vài truyện ngắn.

Nhưng gợi cảm hơn cả, có lẽ là cái hình ảnh sau đây của nhà phê bình Lã Nguyên: “Cuộc sống được phản ánh trong thế giới nghệ thuật của Nam Cao rất ảm đạm … Bước vào đấy, ta như lạc vào một vườn cây ăn quả già cỗi lúc cuối mùa … Trên cây rặt những hoa điếc… nếu đây đó còn sót lại mấy quả lơ thơ thì chim muông sâu bọ và cái oi nồng của thời khắc lập tức làm cho hư hỏng, thối rữa”.

Thứ hoa điếc ấy, những quả lơ thơ thối rữa ấy, là một cách hình dung của Nam Cao về kiếp người, về con người nói chung trong xã hội hiện đại, chứ không phải chỉ riêng cái thời ông đã sống.



Quan hệ giữa cái kỳ dị và cái mòn mỏi trì trệ trong Nam Cao

Ai cũng biết: nói tới Nam Cao là nói tới mô-típ sống mòn. Đặt chân vào thế giới nghệ thuật của Nam Cao người ta phải luôn luôn đối mặt với tình thế cùng quẫn, khốn khó, trong đó cuộc sống của con người, sự tồn tại của họ, hiện ra bi đát thê thảm và với người có lương tâm, là cả một sự xỉ nhục.

Trong bài này, chúng tôi chỉ nhấn mạnh thêm công lao của Nam Cao trong việc nhận thức cái trì trệ mòn mỏi ấy là ở chỗ đưa nó lên bình diện quái gở, kỳ quặc.

Nhưng Nam Cao còn đi xa hơn thế nữa.

Theo lôgích thông thường, sự vật luôn luôn biến chuyển, bĩ cực thái lai, sau những ngày đen tối sẽ tới thời kỳ của tươi sáng, của hy vọng. Một thứ ảo tưởng mang đậm màu sắc dân gian mà cũng phù hợp với lối suy nghĩ trung dung của đạo Khổng thường được các nhà văn ở ta tự nguyện noi theo. Họ biện bạch rằng viết thế mới là nhân bản, là tin tưởng ở con người.

Nhưng Nam Cao không hoàn toàn nghĩ thế hoặc kinh nghiệm sống của ông không cho phép ông nghĩ thế.

Trong Tình già (in ở tập Những cánh hoa tàn), người ta bắt gặp một ông lão không chịu già, muốn hưởng sung sưóng một tí.

Nói theo từ ngữ dân gian: già rồi mà còn muốn chơi trống bỏi. Thế là ông mắc hợm. Trước mắt mọi người, ông mất hết cả vẻ đáng trọng, đành lại trở về với cuộc sống thê thảm vốn có.

Trong Đón khách, gia đình nọ có muốn gì cao sang lắm đâu, chỉ ước kiếm cho con một tấm chồng tử tế. Song bao nhiêu sốt sắng lo lắng của cả bố mẹ anh em rút lại chỉ mua lấy một trận cười cay độc chế giễu.

Từ sự phát triển tình thế trong Tình già, Đón khách, và hàng loạt truyện ngắn khác, có thể phác ra sơ đồ gồm ba phe ba giai đoạn của hiện thực được miêu tả như sau:

a. Cái trì trệ, sống mòn lúc đầu

b. Sự cựa quậy, muốn thay đổi

c. Kết cục: tình thế bi đát hơn

Và bao trùm trong tất cả là cái chất nghịch dị, nghịch dị kỳ quặc cả ở mọi trạng thái trước và sau biến chuyển lẫn trong bản thân hành động tạo biến chuyển. Tới đây, chúng ta dường như bắt gặp một Nam Cao khác.

Không phải là ông không nhìn ra trong con người một niềm khao khát lớn là khao khát thay đổi. Ông vốn không chấp nhận sự yên phận. Thường trực trong ông một nỗi khắc khoải khôn nguôi - khắc khoải về ngày mai.



Có điều, ông không muốn tự mình dối mình, rồi mang ảo tưởng ra để an ủi người khác. Người nghệ sĩ trung thực trong ông buộc phải trình ra trước bạn đọc một kết luận mà chính ông bác đi không nổi, nói ra mà ông chết điếng cả nỗi lòng. Ấy là sự thực: con người càng quẫy càng sầy vẩy.



Mặc dù đã quá chừng trì trệ rồi, nhưng những điều kiện cần và đủ để vượt qua cái điểm chết ấy gần như không có. Cứ liều mà làm thì chỉ chuốc lấy thất vọng. Hoặc sự vật không sao nhúc nhích nổi, hoặc có nhúc nhích chút ít nhưng lại kèm theo những rứt da rứt thịt đau đớn tan nát. Quả xanh trên cây, có cố bứt xuống mang giấm, cũng vẫn không sao chín nổi mà chỉ vữa nhoét ra, hỏng đi, theo một cách không kém phần thương tâm.



Một quan niệm hiện thực theo tinh thần hiện đại.

Sự phát triển của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX thường được hình dung như một quá trình chạy nước rút, cướp đường mà đi. Trong một thời gian ngắn, nó đã trải qua mọi giai đoạn châu Âu từng qua trong mấy thế kỷ. Đọc Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, người ta dễ dàng có những liên hệ tới Balzac, Hugo thậm chí Zola, cũng như đọc thơ Xuân Diệu, Huy Cận không khỏi nhớ tới Baudelaire, Rimbaud, Verlain … Và đấy cũng là một trong những ấn tượng chủ yếu, đến với mỗi người mỗi khi nhớ lại cái gọi là văn học tiền chiến.

Nhưng sau Zola, Maupassant châu Âu có M.Proust, Kafka. Bộ mặt của thơ càng thay đổi qua thơ Apollinaire, Breton, Aragon… Trong mỹ thuật, thế kỷ XX hết sức kiêu hãnh với thứ ngôn ngữ hội hoạ mới mẻ trong tranh Picasso, Kandinsky, Chagan, Dali, Miro.

Dù rất khác nhau, các nghệ sĩ và các nhà văn nhà thơ trên vẫn gặp nhau ở một điểm. Họ không muốn dừng lại ở cái nhìn thông thường về sự vật. Sự bắt chước hiện thực, với người này, là một trò chán ngấy, với người kia, là cả một gánh nặng. Người ta bảo nhau: đã đến lúc cần đập vỡ bề ngoài của hiện thực. Vặn vẹo nó đi, rồi từng người tìm cách lắp ráp nó lại theo kiểu của mình chỉ cốt làm rõ cái hồn của đời sống là được. Nhiều trường phái mới trông như là “lập dị”, “kỳ quặc” từ ấy tha hồ nẩy nở.

Điều đáng lưu ý là trong thời gian này, ở khoa học tự nhiên tư duy cũng có một bước ngoặt.

Một ví dụ rõ rệt là ở sinh học. Người ta vẫn làm một thí nghiệm cổ điển: đem 100 hạt thóc ngâm cho mọc mầm. 90 hạt lên bình thường, riêng có 10 hạt không lên hoặc nẩy những mầm kỳ lạ không giống các mầm khác, không cho thứ mạ mà ta quen gặp.

Trước kia các nhà khoa học bảo rằng 10 hạt dị biến này là không đáng quan tâm. Nay ngược lại, người ta cho rằng có thể tìm thấy ở chúng một số nét thuộc về bản chất hiện tượng nảy mầm.

Khoa học cũng chứng minh rằng những dị biến này đang có xu hướng ngày thêm phổ biến, các thứ thường biến chẳng qua cũng chỉ là một dạng của dị biến. Trong tư duy thì nghịch lý ngày một phát triển và được coi như những dạng tồn tại hợp thức của thuận lý.

Những cách nghĩ cách nhìn hiện đại như thế có tới với văn học Việt Nam hay không? Theo chúng tôi là có.

Thử liên hệ tạt ngang sang thơ, chúng ta biết rằng ở Hàn Mặc Tử có những yếu tố tạm gọi là siêu thực, nó là lý do khiến đương thời Hoài Thanh cũng như Xuân Diệu nghi ngại ông và một số người trong chúng ta cũng lảng tránh ông, song nay nhìn lại, có thể nói là trong những nhà thơ đương thời, ông đã đi xa hơn cả.

Một hiện tượng tương tự như vậy cũng đã xảy ra trong văn xuôi. Nếu xét văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX như một quá trình thì đại lược có thể nói giai đoạn của Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố… là giai đoạn phản ánh cái thường biến (đây là nói trong phạm vi ngôn ngữ nghệ thuật thuần tuý chứ không bàn về xu hướng tư tưởng). Còn về sau, với Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, các bài ký mang tính cách yêu ngôn của Nguyễn Tuân và truyện ngắn Nam Cao, người ta bắt đầu thấy le lói dấu hiệu của cách biểu hiện nghiêng về đột biến dị biến.

Đi vào từng tác phẩm cụ thể, các nhà nghiên cứu đôi khi còn dám châm chước mà che chở cho mấy tác phẩm chính họ cũng thích thú. Chứ trên nguyên tắc những tìm tòi kiểu ấy suốt thời gian dài bị phủ nhận và dán cho cái nhãn hiệu suy đồi. Riêng về việc phớt lờ nhu cầu giống thực (mô phỏng hiện thực) đã là cái tội không thể tha thứ! Chỉ tới khi có một quan niệm cởi mở hơn về văn học hiện thực (nhà văn có thể dùng mọi thủ pháp miễn sao nắm bắt được bản chất hiện thực), người ta mới bắt đầu nghĩ lại. Và như vậy những tìm tòi của Hàn Mặc Tử, Vũ Trọng Phụng (trong Số đỏ) của Nguyễn Tuân (trong Yêu ngôn) cũng như những tìm tòi của Nam Cao trong việc chỉ ra sự phổ biến của cái nghịch dị nói ở đây chỉ chứng tỏ sự nhịp bước của văn học tiền chiến ở ta so với những trào lưu hiện đại trong văn học thế giới. Thực tế cho thấy rằng chính những sa đà lạc bước như thế lại giúp cho các nhà văn, và sau hết là cho chúng ta, có một ý niệm gần đúng về thực tại, một thực tại “hàm hồ”, “chập chờn ẩn hiện” không khác gì “một bóng ma trơi”, như các nhà nghệ thuật thời nay thường nói.



Đoạn kết

Lâu nay, mỗi lần đả động tới sự sống mòn ở Nam Cao, các nhà nghiên cứu không quên rào đón: nhưng tác giả không hoàn toàn tuyệt vọng. Rồi họ dẫn ra đoạn cuối truyện ngắn Điếu văn, mấy câu tự nhủ của nhân vật giáo Thứ ở cuốn Sống mòn. Người ta ngần ngại phải nói rằng Nam Cao là một người hết sức bi quan trong khi nhìn nhận con người và thế sự. Một cách cố ý và giả tạo, người ta chắp chắp nối nối một số đoạn trữ tình ngoài đề ở Nam Cao vào thành một mạch, “mạch lạc quan”, “mạch tươi sáng”, rồi xem cái phụ đó là cái chính, lấy những điều Nam Cao gắng gượng muốn nói thay chỗ cái cảm hứng toát ra từ hình tượng nhân vật, cái thần của con người và tình thế cuộc đời mà Nam Cao miêu tả.

Chúng tôi cho rằng bằng cách ấy, một số công trình nghiên cứu vừa nói đã làm nghèo Nam Cao, làm giảm sự đóng góp nghệ thuật của tác giả Chí Phèo đi rất nhiều.

Dĩ nhiên là như người ta vẫn nói, sở dĩ tác phẩm của Nam Cao có sức sống dai dẳng vì ở đó thấm nhuần một chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc. Song cũng phải nói thêm, đó không phải là một thứ chủ nghĩa nhân đạo theo nghĩa thông thường (nhân đạo chủ yếu hàm nghĩa thương mến thông cảm với con người), như chúng ta bắt gặp ở nhiều cây bút đương thời. Ở đây tác phẩm của Nam Cao đề nghị một cách hiểu ít nhiều có khác: nhân đạo trước tiên là giúp con người hiểu rõ mình, trạng thái nhân thế mà mình đang lâm vào, cũng tức là chỉ rõ cái tình cảnh biến dạng cả mày mặt lẫn tâm linh mà sự khốn cùng đã để lại trên con người mình. Không thiên về vuốt ve an ủi - nhằm đánh vào tình thương nơi người đọc - chủ nghĩa nhân đạo ở đây tìm cách hướng vào toàn bộ đời sống tinh thần của những người đọc ấy, thức tỉnh họ suy nghĩ rồi để mỗi người xác định lấy thái độ và tình cảm của mình. Cách hiểu về con người ở đây thường khi mang sắc thái lạnh lùng, bàng bạc một màu xám tối. Quả là có xót xa ai oán và có vẻ ). Song, đã nghĩ vậy thì nhà văn phải viết vậy. Xét trên1bi quan quá ( phương diện nhận thức luận, có thể bảo đến Nam Cao cuộc đời như được nhận chân, được vạch vôi đánh dấu lại, nó quá nghịch dị nên nó không giống ở ai khác. Nhưng nếu sau khi đọc kỹ Nam Cao, một lúc nào đó người đọc chợt nhận ra cuộc đời chung quanh họ không bằng bằng nhạt nhạt như họ vẫn thấy mà bỗng nhiên rất giống như cuộc đời trong văn Nam Cao - tức là thấy chung quanh cũng đầy rẫy những Dì Hảo, Nhu, Đức, Trạch Văn Đoành… và cái không khí bao quanh họ đôi khi là không khí của những Nửa đêm, Lang Rận, Đời thừa, Lão Hạc -- thì đấy đã là một vinh dự mà chỉ trong một ít trường hợp hiếm hoi nghệ thuật mới có cơ may đạt tới. Bởi trên đời này không chỉ có thứ nghệ thuật gắn với thời đại của mình mà còn có thứ nghệ thuật hình như viết ra cho mọi thời đại khác nhau, và các lớp người trong hậu thế vẫn luôn luôn đến soi mình vào đó để tìm thấy bóng dáng của họ và cả những niềm an ủi cho họ nữa.

1991

Đã in Tạp chí Văn học 1992, số 1

In lại trong Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa văn học – 2006





1( ) Từ sau 8/1945 cho đến khi qua đời, trong một số truyện ngăn bút ký cũng như trong sổ tay ghi chép và đặc biệt trong quan hệ cư xử với anh chị em cùng làm công tác văn nghệ Nam Cao tỏ ra đặc biệt nghiêm khắc với con người của mình sáng tác của mình trước 1945 và muốn từ chối tất cả làm lại tất cả. Theo chúng tôi hiểu thì đây không phải một thứ bốc đồng hoặc một dạng cơ hội, mà thật ra lại là một dấu hiệu nữa chứng tỏ trước 1945 người nghệ sĩ trong Nam Cao đã đi tới cùng của bi quan tuyệt vọng, cái đó đã vào sâu trong tiềm thức ông, tạo thành một thứ mặc cảm, mặc cảm phạm tội - khiến ông không dễ từ bỏ.