Monday, April 30, 2012

Còn rất nặng căn



Cái sân và con đường

Khi nhớ lại cái làng X ở Thạch Thất, Sơn Tây, nơi đơn vị đã đóng quân mấy năm hồi chiến tranh, anh em tôi thường bảo nhau là bẩn nhất đấy mà cũng sạch nhất đấy - bẩn đến ghê người, mà cũng sạch đến quá quắt. Tức là tự trong nếp ăn ở của làng đã có bao điều trái nghịch như nông thôn ta đang tồn tại bao nhiêu điều mâu thuẫn, trái nghịch.



Làng X vốn thuộc loại trù phú nên ngay từ những năm chiến tranh đã san sát mái ngói. Nhiều nhà sân rộng, lại chọn được thứ gạch lá nem nung già lát thật đều, ngày mưa sân cứ hiện ra đỏ au và bóng loáng.

Có điều nên nhớ là vào những ngày ấy mà có dịp tới nhà ai, anh phải cẩn thận. Khôn hồn hãy để ngoài cổng đôi dép vừa đi qua con đường làng lầy lội, tạm đi chân đất ra chỗ vại nước rửa chân, rồi hãy vào nhà. Còn nếu vô tâm, để đôi dép lấm bê lấm bết kéo thành vết ngang sân, là lập tức phải chuốc lấy sự khó chịu. Để anh ngồi đấy, chủ nhà hãy đi cọ lại sân đã, rồi mới vào trò chuyện với anh sau.

Ai cũng lo giữ gìn như thế nên nhiều khi đứng trong nhà nhìn ra ngoài sân, cứ thấy sướng cả mắt.



Nhưng đứng từ sân mà nhìn ra đường làng, thì cái sướng ấy biến mất. Đường rộng nhưng lầy lội, đã đủ khổ. Song lại còn một nỗi khổ nữa là nhiều khi quét dọn sân thềm xong, có cái gì bẩn thỉu người ta hất luôn ra đường. Đã bẩn cho nó bẩn một thể, cũng như đã sạch thì phải sạch đến cùng - nhiều người nghĩ bụng như vậy!

Ba chục năm trôi qua, tôi không có dịp trở lại X nên không hiểu giờ đây nó đã thay đổi ra sao. Có thể là ở X giờ đây đường làng đã được đổ bê tông nên thoát hẳn cảnh lầy lội và vệ sinh cũng khá hơn. Song không hiểu sao tôi vẫn bị mấy cái sân và con đường làng ám ảnh. Ý tôi muốn nói tới cái tinh thần chi phối cuộc sống nói chung mà mẩu chuyện trên là ví dụ. Gần đây, chúng ta hay nói tới tính cộng đồng, đến tình làng nghĩa xóm. Nhưng hình như trên nhiều phương diện, đời sống nông thôn vẫn chưa ra khỏi cái tình trạng "đèn nhà ai nhà ấy rạng". Và nhiều khi do cần mưu lợi cho nhà mình, người ta có cảm thấy phải làm hại tới nhà khác, làm hại tới cái chung thì sau một phút phân vân, rồi cũng lạy giời lạy phật nhắm mắt nhắm mũi làm vậy (!) Thành thử, sạch đấy mà cũng bẩn đấy, bao dung nhau đấy mà cũng đố kỵ nhau đấy, lo cho cái chung chỉ là bề ngoài, lo cho riêng mình mới là phần gan ruột sâu xa - không phải trái nghịch, mâu thuẫn thì còn là gì nữa?





Xe đỗ tàu đỗ

Hồi đang thời chiến, tôi nhớ có chuyện một đoàn tàu hỏa đang đi thì dừng lại giữa đường (tất nhiên không phải ga) để người lái tàu xuống đường mua mấy bìa đậu. Chả là không mua thì tem phiếu hết hạn! Linh động, tranh thủ... hồi ấy mọi người nói vậy.

Cuộc sống chiến tranh vốn căng thẳng nhưng có lúc lại lề mề, chậm chạp, và việc dừng cả đoàn tàu để làm việc riêng như thế thuộc về cái nếp sống tùy tiện, mà người ta phải thích ứng, khi sống trong thời chiến.

Còn đây, chuyện tùy tiện của thời nay, tuy không quá đáng tới mức buồn cười như chuyện hôm qua, nhưng lại phổ biến hơn. Ngay giữa đường phố Hà Nội xe cộ đông như mắc cửi, một chiếc xe khách to lù lù đang chạy bon bon bỗng dừng ngay lại. Tưởng xe hỏng! Hóa ra có một hành khách bên đường vẫy tay muốn lên. Thế là xe đỗ, phụ xe xuống, đun bằng được cả người lẫn gánh gồng lên xe rồi tỏ ý hỉ hả lắm.

Vui lòng khách lên, thì đồng thời cũng phải lo mát dạ khách xuống: Ai đi xe, muốn xuống chỗ nào không cần tới bến, chỉ cần đập tay ra hiệu vài cái, thế là đường đang đông đúc đến đâu cũng kệ, nhà xe cứ ưu tiên phục vụ thượng đế của mình cái đã.

Có thể bảo cái nếp sống tùy tiện này là di lụy của lối làm ăn tiểu nông lạc hậu và một phần là do những rơi rớt có từ thời chiến. Thế nhưng lạ nhất là có người ra điều hiểu biết lắm, lại gật gù giải thích:

- Kinh tế thị trường có khác. Đặc điểm của lối làm ăn trong thời buổi bây giờ là phải tranh thủ bán hàng và linh động tìm ra mọi phương thức hoạt động hữu hiệu (Lại tranh thủ và linh động!)

Đã lý sự với nhau như thế tức là người ta không coi đây là một việc bất đắc dĩ phải làm (do thời chiến buộc vậy), mà xem như một việc thức thời, một sáng kiến đáng khen thưởng. Thảo nào mà sự tùy tiện ngày một lan tràn, đại khái như tùy tiện cho phép phá rừng, tùy tiện cấp đất, tùy tiện giảm án cho kẻ có tội, tùy tiện mua bán bằng cấp... Rồi đến khi có người phát hiện làm thế không được thì lại cười trừ với nhau cả một lượt.





Đâu phải điều đáng tự hào?

Đây đó, chúng ta thường chỉ nghe nói người đi bộ hoặc xe đạp ở nông thôn ra khổ vì cánh ô tô, xe máy ngoài thành phố mà chưa từng được nghe lời than thở ngược lại. Song chỉ cần có trí tưởng tượng chút thôi, thì dù không phải dân Hà Nội, người ta vẫn hình dung ra đầy đủ cái sự trớ trêu mà dân thành phố phải chịu. Đường đông, mọi phương tiện thô sơ cũng như cơ giới cùng nhau chen lấn, vốn đã thật khổ. Đến quãng đường rộng, lại mấy cái xe thồ giăng thành hàng ngang, có muốn phóng nhanh cho kịp công việc cũng phải dừng ngay lại, ôi thôi là khó chịu. Đâm vào không được. Mà nhường mãi, lựa nhau mãi thì bực. Nhất là qua cái nhìn, qua nét mặt dáng điệu nhận ra rằng không phải "đối tượng" kia không biết thế là đi sai luật, là nguy hiểm, song cứ tìm cách thách thức xem sao, mới lại càng bực. Trong việc một cái xe thồ kềnh càng cản đường được một chiếc ô tô sang trọng, có điều gì đó rất thú vị mà người ta không giấu được. Còn lý sự ấy ư, đủ lắm! Các anh ở Hà Nội dửng mỡ quen phóng xe nhanh hãy đợi đấy! Đường nhà nước, tôi cứ đi. Ừ, tôi sai đấy, nhưng cứ thử đâm vào tôi xem rồi các anh sẽ biết tay tôi v.v... và v.v...

Đã Chí Phèo đến thế thì dân thành phố chúng em đến lạy cả nón, còn dám ho he gì nữa!

Nhưng sau những lần bị xe thô sơ nghênh ngang bắt nạt như thế, quả thật, cái hình ảnh đẹp đẽ về con người nông thôn mộc mạc biết điều trong tôi, bị hoen ố hẳn. Hàng năm, có dịp về quê, chúng tôi bao giờ cũng phải nhắc con cái ý tứ, không phóng xe nhanh hoặc cười nói ầm ĩ, gặp bà con trong làng phải chào, không có họ hàng cũng chào, cho nó ra tình làng nghĩa xóm. Các cụ đã bảo "Đất có lề, quê có thói". Vậy thành phố không được quyền có lịch có lề, có phép tắc riêng trong mọi sự quan hệ hay sao? Việc một hai chiếc xe thô sơ lấn chiếm đường phố, buộc hàng loạt xe cơ giới phải chậm rãi thủng thẳng chờ mình chẳng những là sai luật mà còn là bất cận nhân tình, lẽ nào có thể xem là chuyện đáng tự hào, mà cười với nhau cho được.

 Nhân nào quả ấy

Tuesday, April 24, 2012

Tính hiện đại của Nguyễn Công Trứ

      Một nhà thơ Xô-viết, A.Tvardovski, có lần nhận xét: Mỗi thế hệ  người đọc lại làm giàu thêm cho các tác giả cổ điển. Và Puskin trong thời đại chúng ta trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn Puskin thế kỷ XIX.
      Tại sao? Lý do ở đây rất đơn giản:
     Mỗi thế hệ đều tìm thấy ở những tác giả lớn ấy những nét tương đồng với thời đại họ đang sống.
    Và họ sẵn sàng gọi con người mà họ vừa phát hiện lại đó, là người đương thời của mình.


     Một nhận xét như thế cố nhiên cũng có thể ứng dụng cho các tác giả lớn trong văn học Việt Nam.
       Mặc dù còn bị nhiều hạn chế, song cùng với năm tháng qua đi, những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương vẫn được các thế hệ tiếp nối khai thác và cũng đã ngày một trở nên phong phú hơn bao giờ hết.
       Với Nguyễn Công Trứ cũng vậy. Là một tác giả sống và viết chủ yếu vào nửa đầu thế kỷ XIX, song ở ông có những khía cạnh mà các thế hệ sau khai thác mãi không hết.
       Tôi chưa có dịp tìm hiểu hết những tài liệu mà các nhà văn, nhà nghiên cứu thời tiền chiến viết về Nguyễn Công Trứ. Nhưng về lý mà xét, có thể dự đoán là một nhân cách sôi nổi, ngông nghênh, ngạo ngược, -- một con người không mặc cảm trong sống và viết như Nguyễn Công Trứ-- hẳn là dễ được các nhà thơ tiền chiến hết sức tôn sùng, bởi lẽ họ tìm thấy ở đấy một con người gần gũi với chính họ.
     May mắn một lần, đọc tạp chí Tao Đàn 1939, tôi tìm ra được bài viết sau đây của Lưu Trọng Lư. Bài viết khá ngắn:


Nguyễn Công Trứ, nhà thi sĩ của Nghệ Tĩnh
sau một trăm năm…
Nhà thi sĩ Nguyễn Công Trứ chết đến nay vừa đúng một trăm năm. Nhiều tờ báo tây, nam ở đây hô hào kỷ niệm vị danh nhân ấy, vị danh nhân mà tất cả  những người Việt Nam đều phải công nhận là xứng đáng với sự tôn thờ của hậu thế.
Nguyễn Công Trứ không những chỉ là một thi sĩ của quốc gia, mà còn là bậc công thần xứng với nền quân chủ, một nhà nho xứng với thánh đạo, hơn thế nữa, một võ tướng có thao lược, một nhà chính trị có tài kinh luân, một người có tiết tháo. Cái sự nghiệp của tiên sinh ai cũng biết rõ, không cần phải nhắc lại nữa. Ta chỉ nên ký nhận rằng trên tâm hồn của tiên sinh, trên thân thể của tiên sinh đã un đúc, đã tụ kết lại bao nhiêu cái hay, cái đẹp, cái hùng, cái mạnh của một nền văn hoá cũ và nhất là của cái tinh hoa chủng tộc.
Thật là sự điều hoà kỳ diệu của những cái tương phản nhau: sự điều hoà của Mộng và Thực, cái ngông cuồng của một kẻ lãng tử với cái nề nếp của một nho sinh, và cuối cùng là sự điều hoà của thơ, văn với Khổng giáo. Nguyễn Du muốn là người bạn hoàn toàn của thơ văn, đã phải lảng Nho mà theo Phật… Nguyễn Công Trứ vẫn ở trong cái phong khí khắc khổ của Nho mà vẫn khoáng dật thích thảng như một đồ đệ của Lão Trang. Tiên sinh vừa hành binh, trị nước, vừa ngâm hoa vịnh nguyệt, mà cái này không hại đến cái kia.
   Thành thực ta phải nhận rằng Nguyễn Công Trứ không có cái nghệ thuật điêu luyện của Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Thị Điểm, không có cái tâm hồn uyển chuyển của Nguyễn Du, hay cái giọng điệu dễ dàng của Hồ Xuân Hương, nhưng ở trong thi văn của Nguyễn Công Trứ, một cái gì chưa từng có ở trong văn chương Việt Nam - một nguồn cảm hứng mau lẹ, quả quyết như một đạo cảm tử. Cái thể ca trù nhờ phép thần của Nguyễn Công Trứ đã trở nên một thể cách hoàn toàn Việt Nam, rất thích hợp với những sự xuất diễn hùng mạnh… Tôi nhớ như có một lần ông Huỳnh Thúc Kháng ví cái điệu thơ ấy với thuỷ triều - thật không phải là một lời nói vu vơ. Điệu ca trù, còn hơn là một sức mạnh nữa. Nhưng khi những bài thơ ấy, ngân lên với điệu phách nhịp đàn, thì ta lại thấy nó có một vẻ hào phóng, vừa lả lơi vừa kín đáo, vừa gắn bó, vừa sỗ sàng. Nó là một thứ sản vật hoàn toàn Việt Nam, nó phải lâu dài với đất nước. Một ngày kia, năm bảy trăm năm sau, trong cái đám hậu lai man mác, nếu có một người nào còn ngâm được một bài ca trù của Nguyễn Công Trứ chẳng hạn, tôi tin rằng người ấy sẽ có một mối u hoài sâu nặng, bâng khuâng nhớ tiếc một cái gì không bao giờ còn có nữa, một cái gì rất Việt Nam, nhớ tiếc một thời khoáng dật, to nhớn, rộng rãi và kiêu sa. Cái thời buổi của những nhà nho tuy vẫn nhọc nhằn cặm cụi với nhân sinh, nhưng cũng là những kẻ bốc giời, phung phí mà không tiếc tay, những kho tàng  của vũ trụ, những kẻ biết sống lại cũng biết chơi, biết làm trọn nghĩa vụ lại cũng biết vỗ cái đùi non mà dốc hớp rượu cuối cùng…
     Cho nên, sau một cuộc đời sóng gió, hoạt động, Nguyễn Công Trứ hàng ngày thường  thắng một cái xe bò mà ngao du sơn thuỷ. Đó cũng chỉ là để tỏ một lần nữa rẳng: sua khi là một bậc công thần, một tay thao lược, một kẻ chiến sĩ, Nguyễn Công Trứ ung dung và thích thảng, đánh xe đi ra ngoài cõi thế, vừa phẩy quạt vừa mỉm cười, để đùa với cuộc chơi, đùa với số mệnh.
     Nguyễn Công Trứ vào đời nghiêm trang như đức Trọng Ni, ra đời hiền vui như thầy Trang Tử. Không phải chỉ là một thi nhân đáng lưu truyền hậu thế, mà là một quan niệm về nhân sinh đáng truyền bá ra giữa một cuộc đời Âu Tây chật vật.
    Một người như Nguyễn tiên sinh, khi là một vị đại thần, rồi khi chỉ còn là một tên lính nhỏ, rồi từ một tên lính nhỏ, lại nhảy lên địa vị một bậc tướng quân, đánh Nam dẹp Bắc, cho đến khi về già, thắng một cái xe bò, và cạnh cô hầu non, ngao du khắp chín mươi chín đỉnh Hồng Sơn, -- một người như thế hẳn có thể dạy ta được một cái gì mới về sự sống của con người. Thật là lãng mạn, thật là ngông, nhưng mà người ấy đã là một kẻ giúp đời và có công lớn với Tổ quốc. Nguyễn Công Trứ đã tỏ cho chúng ta thấy rằng: văn chương và hành động là hai điều biệt lập, và một tâm hồn lãng mạn cũng không thể hại đến chí chiến đấu, nếu quả người ta muốn chiến đấu.
*
      Về mối liên hệ tinh thần giữa Nguyễn Công Trứ và các nhà văn nhà thơ tiền chiến, có lẽ phải một dịp khác, chúng ta sẽ trở lại khai thác đầy đủ hơn.
     Sau bài viết của Lưu Trọng Lư chỉ xin nói một câu tóm tắt: Nhờ phát hiện của thế hệ tiền chiến mà tiêu biểu là bài viết trên, chúng ta cảm nhận rõ hơn sự đa dạng, tính muôn màu muôn vẻ của con người cá nhân trong Nguyễn Công Trứ.
       Hình như với nhà thi sĩ đặc chất Nghệ Tĩnh này, những Xuân Diệu, Lưu Trọng Lưu, Vũ Hoàng Chương… cảm thấy có thể thêm lý do để sống hết mình, sống một cách thật thích thảng khoáng đạt, như họ thường mong muốn.
     Thế nhưng không phải như thế hiện tượng Nguyễn Công Trứ đã được khai thác một cách cạn kiệt.
      Từ góc độ của con người hôm nay chúng tôi muốn nêu lên thêm một số nhận xét, có liên quan đến sự trưởng thành của con người cá nhân ở Nguyễn Công Trứ.
     Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Công Trứ là Bài ca ngất ngưởng:
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng
Khi thủ khoa, khi tham tán, khi tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
     Nếu chúng tôi không lầm, thì đây là lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, một nhà thơ tự nói về mình bằng một đại từ ở ngôi thứ ba (ông). Nghĩa là tác giả nhìn mình như một kẻ khác.
      Hình ảnh bản thân được lạ hoá, không phải theo lối nhún nhường tự hạ mình mang đầy mùi vị giả dối, mà là nối một cách khách quan, một cách xác đáng, đến mức dám đưa vào những chi tiết rất chướng như Đô môn giải tổ chi niên – Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng hoặc Gót tiên theo đủng đôi một đôi dì – Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng, nhưng nhờ thế, giọng thơ ngông nghênh mà không đáng ghét.
     Như các nhà nghiên cứu về Nguyễn Công Trứ đã phân tích, ở con người Uy Viễn tướng công như có sự tách biệt ra rõ rệt, bên cạnh một con người hành động (một kiểu hành động thật quyết liệt) có con người thích hưởng nhàn, ra sức cổ vũ cho thú vui chơi và đã chơi cũng là chơi cho thật thoả thích, “chơi cho thủng trống long bồng”.
     Là nhà nho chính thống, trong ông có một niềm tin rất bền vững, tin rằng đã làm người thì phải có phận sự, phải tuân theo những điều thánh hiền dạy. Niềm tin này ở ông là không thể bàn cãi. Ông nói một cách thô lỗ, theo kiểu cưa đứt đục suốt: Không quân thần phụ tử đếch nên người. Mặt khác, sau những hành động phò vua giúp nước như vậy, ông lại chủ trương cho phép có một cuộc sống riêng buông thả không bị câu nệ vào những tập tục đã thành quy ước.
    Tuy không tuyên bố rõ rệt, nhưng như vậy, có vẻ Nguyễn Công Trứ đã đi rất gần với một quan niệm về sự phân thân, trong con người có thể có hai ba con người khác nhau.
    Và đó là một quan niệm khá mới mẻ so với hoàn cảnh đương thời.
  Theo một tài liệu tâm lý học chúng tôi đọc được, thì nhìn chung trong lịch sử nhân loại, phải đến những thời đại gần đây, sự phân thân này mới ngày một phổ biến (cũng giống như trong việc xây dựng chỗ ở, lúc đầu, mỗi gia đình chỉ có một phòng, mãi về sau, người ta mới biết xây dựng căn hộ thành nhiều phòng, mỗi người một phòng riêng cho tiện sinh hoạt).
   Một điều người ta cũng hay nói tới khi quan sát hành trình làm người của Nguyễn Công Trứ là ông có sự lên voi xuống chó liên tục, để rồi sung sướng nhận ra rằng ở hoàn cảnh nào ông cũng tìm được sự thoải mái.
     Có thể giải thích điều này bằng khả năng thích ứng cao độ cũng như cái trẻ trung vĩnh viễn trong tâm hồn ông.
     Song với những người có nghiên cứu tâm lý học hiện đại thì cách ứng xử này không khỏi gợi nhớ tới lý thuyết con người đóng vai. Theo thuyết này, trong cuộc đời, mỗi người như có một vai riêng, người ta không thể đòi hỏi những ai khác, mà chỉ cần vào vai nào cho ra vai ấy. Tóm lại phải tạo được mối quan hệ tự nhiên với hoàn cảnh, tuỳ theo hoàn cảnh mà sống, song vẫn phải giữ được bản sắc.
     Rộng hơn câu chuyện đóng vai từng nơi từng lúc, hình như Nguyễn Công Trứ còn ngầm tuyên bố một quan niệm rằng cả cuộc đời này cũng là một sự đóng vai.
    Trong số các nhà thơ Việt Nam cổ điển, ông là một người ít bị khuôn sáo ám ảnh.
      Con người ông rất ít mặc cảm.
      Ông không bị cách hiểu cũ kỹ về công danh, chức phận chi phối.
       Sau khi hoàn thành nghĩa vụ, ông sống một cách tự nhiên, đến mức, không hề vun vén cho cuộc sống sau khi chết.
      Người ta kể rằng trong lời dặn dò khi sắp qua đời, ông muốn mọi người đốt ngay mái nhà ông đang ở và chôn ông dưới đống tro đó. Nếu thật đúng như thế thì có thể nói, ông đi rất gần với một quan niệm hiện sinh, chỉ thấy cuộc đời này là quan trọng, ngoài ra, từ chối mọi nghi thức ràng buộc, dù chúng đã hết sức phổ biến.
     Chúng tôi còn thoáng có ý nghĩ rằng ở con người hành động của Nguyễn Công Trứ có một chút hư vô nữa. Với tinh thần hư vô lành mạnh, ông đã sống và hành động sôi nổi để rồi sẽ chết trong thanh thản.
     Qua những đặc điểm của con người Nguyễn Công Trứ như trên vừa nêu, có thể tổng kết lại là Nguyễn Công Trứ rất mới mẻ, rất “tây”, rất gần với con người hiện đại.
     Chúng ta nhìn vào ông như nhìn vào chính mình, bắt gặp ở ông những phương diện của con người mà cuộc sống hiện thời bắt buộc mình phải chấp nhận. Chẳng hạn như về sự phân thân.
     Đây đó, theo một quan niệm có phần cổ, nhiều người thường e ngại và tỏ ra thiếu  cảm tình với sự phân thân này và cứ cảm thấy có phần xấu hổ khi bắt gặp trong mình và những người quanh mình sự thiếu nhất trí.
     Thơ văn Nguyễn Công Trứ là một tấm gương soi để chúng ta vừa hiểu thêm mình vừa rộng lượng hơn với mình: sự phân thân là hướng phát triển bắt buộc mà mọi con người hiện đại phải có, và không việc gì ta phải ngượng với điều đó cả. Điều cần thiết duy nhất là thành thật, thứ thành thật có được sau khi sáng suốt suy nghĩ.
Đã in trong Chuyện cũ văn chương


Friday, April 20, 2012

Hồ Xuân Hương với Rabelais, Villon và Dostoievski

 Trong cuốn Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập II, phần viết về Hồ Xuân Hương, ở trang 86, nhà thơ Xuân Diệu có ghi “ở Liên Xô, đã xuất bản một tập thơ Hồ Xuân Hương, dịch ra tiếng Nga (do Nikulin)”. Sau những nhận định mạnh mẽ cả quyết, một câu có vẻ thông tin thuần tuý như thế này lại được tác giả viết ra không dứt khoát lắm khiến bạn đọc lên có thể hơi ngần ngại.


    Sự thực thì như thế nào?
    Đúng là có một tập thơ Hồ Xuân Hương được dịch ra tiếng Nga thật. Đó là tập Hồ Xuân Hương, Thơ; NXB Khoa học; Moskva;1968. Nhưng tên người dịch cũng đã được ghi rõ ràng ở trang 3 là Genadi Jaroslavtsev và chỉ trang 4 mới chua thêm N.I. Nikulin biên soạn và chú giải.
    Tuy nhiên điều đáng nói nhất qua tập thơ 128 trang và in mười ngàn bản này là cách hiểu của soạn giả và dịch giả về Hồ Xuân Hương, ở đó hé ra cách hiểu về thơ khá thú vị.
    Nguyên những người thường xuyên tìm hiểu công việc nghiên cứu văn học ở Liên Xô mấy chục năm nay đều biết tên tuổi của M.M.Bakhtin với cuốn chuyên khảo kiệt xuất Những vấn đề thi pháp Dostoievski (in lần đầu 1929, sau đó in lại nhiều lần, còn được dịch in ở Pháp và nhiều nước khác). Qua năm 1965, cũng thuộc về ngòi bút của nhà nghiên cứu này, còn có một công trình khác được xuất bản, và được coi là đặt nền móng cho nhiều vấn đề lý luận văn học quan trọng, đó là cuốn Sáng tác của Rabelais và nền văn hoá dân gian trung thế kỷ và Phục hưng. Theo như cách nói của một người bạn và người học trò của Bakhtin là L. Pinski, thì Bakhtin “nhìn thấy ở Rabelais một đỉnh cao của dòng sáng tác dân gian phi chính thống và chỉ một lần bột phát trong dòng văn học cao cấp vào thời Phục hưng”. N. Nikulin hoàn toàn tán thành quan niệm đó. Theo Nikulin, ý kiến của Bakhtin có thể giúp chúng ta tìm ra cách tiếp cận mới đối với hệ thống mỹ học của Hồ Xuân Hương. Tương tự như Rabelais, sáng tác của Hồ Xuân Hương đối với chúng ta dường như là sự bột phát của nền văn hoá dân gian trung cổ còn chưa được công nhận vào khu vực sáng tác ngôn từ “bác học” “cao cấp”.
     Ở một đoạn khác, Nikulin khi phân tích tiếng cười trong thơ Hồ Xuân Hương còn liên hệ với tiếng cười dân gian lúc ấy (chủ yếu là trong sân khấu) và ông dùng khái niệm tiếng cười có ý nghĩa kép (tiếng Pháp: ambivalence) với nghĩa trong tiếng cười đó (ở đây là tiếng cười của Hồ Xuân Hương) có cả phủ nhận lẫn khẳng định, cả chê bai lẫn khen ngợi; ở đó cái chết và sự sinh thành như quyện lấy nhau chặt chẽ. Khái niệm ambivalence cũng là do Bakhtin khởi xướng và đưa vào sử dụng trong công trình nghiên cứu về Rabelais. Chúng tôi không có điều kiện trình bày đầy đủ, lại càng không có nhiệm vụ bình luận nhận xét trên đây của Nikulin, song theo chúng tôi hiểu thì các chuyên gia về Hồ Xuân Hương ở ta có lẽ cũng nên tiến hành đối thoại với nhà nghiên cứu Xô viết về vấn đề này, biết đâu từ đó chẳng nẩy sinh nhiều quan sát sâu sắc khác.
     Bên cạnh Lời mở đầu của Nikulin, cuốn Hồ Xuân Hương. Thơ còn in ở cuối sách Lời người dịch. Đứng về nghiệp vụ xuất bản mà xét thì đó là một ngoại lệ, chứng tỏ sau khi làm việc, dịch giả có rất nhiều suy nghĩ và thấy cần phải chia sẻ với bạn đọc những điều tâm đắc của mình. G. Jaroslavtsev nói gì sau khi dịch nhà thơ Việt Nam độc đáo này? Ở một chỗ ông nói rằng tính đa nghĩa và giàu liên tưởng cũng là chất grô-tét (grotesque, có nghĩa là kỳ quặc, dị thường) trong các hình tượng do Xuân Hương gợi ra khiến ông nhớ tới chủ nghĩa tự nhiên có phong cách gô-tích của F. Villon (1431-1465).
   Đây cũng lại là một nhận xét mà chỉ những người có hiểu biết sâu rộng về những nền văn học khác nhau mới dám phát biểu.
   Sau gợi ý Hồ Xuân Hương và Rabelais của Nikulin, sự tương ứng giữa Hồ Xuân Hương và Villon do Jaroslavtsev nêu lên, nếu được chứng minh đầy đủ, chỉ làm cho nữ thi sĩ của chúng ta thêm lớn.
    Bởi mặc dù sống và viết từ năm thế kỷ trước nhưng Villon thường được các nhà thơ Pháp thế kỷ hai mươi hết sức ca ngợi, họ cho rằng thơ Villon có một cốt cách rất  hiện đại.
    Đây là mấy câu thơ tự thuật mang đậm chất tưng tửng đùa cợt ông làm lúc bị kết án tử hình “Tôi là Francois - có chi mà tôi thích - nhưng than ôi thần chết – đang chờ tôi đây này - mông nặng mấy cân đây - rồi cái cổ khắc biết.
    Sau hết cũng hết sức thú vị là sự so sánh Xuân Hương và một nhân vật của Dostoievski do Jaroslavtsev nêu ra, nhằm từ đó đặt vấn đề nhận diện Hồ Xuân Hương.
     Trong phần cuối bài viết súc tích của mình Jaroslavtsev gợi ý: “Thời gian không lưu lại chân dung Hồ Xuân Hương. Nhưng thơ bà đã khắc lên rõ nét khuôn mặt con người kỳ tài ấy. Trong tâm trí của một người dịch như tôi, khuôn mặt của Xuân Hương hiện lên qua thơ rõ rệt khiến tôi nhớ lại một cách sinh động hình ảnh con người tuyệt vời của Nastasia Filippovna. Sở dĩ một so sánh có vẻ bất ngờ đó không thể gọi là bất ngờ bởi lẽ số phận riêng, tính cách, khao khát của nữ thi sĩ đất Việt và nữ nhân vật của Dostoievski trong Chàng ngốc có nhiều chỗ giống nhau một cách kỳ lạ”. Jaroslavtsev viết tiếp: “Xét trên ý nghĩa và đặc điểm của nó, lời thách thức táo tợn của Hồ Xuân Hương với bọn quan lớn quan nhỏ và lũ sư mô giả dối chung quanh bà rất gần với sự nổi loạn của Nastasia Filippovna chống lại nhưng tên như gã quý tộc Totxki, tên tướng Epantsin và Ivolghin. Từ chỗ đứng của sự thật và chính nghĩa, hai người cùng ném vào mặt kẻ thù những lời tố cáo gay gắt, tố cáo chúng đã cướp đi ở mình cái quyền tối thiểu của tuổi trẻ là quyền được yêu, được sống  hạnh phục. Đồng thời trong thơ của người nữ thi sĩ Việt Nam cũng như trong tính cách của nữ nhân vật trong Dostoievski thấy kiên trì vang lên như một nốt đàn cao cái cảm giác chính xác về ưu thế riêng của mình… chính đó là những  yếu tố làm cho họ trở nên hết sức gần gũi với nhau:
… Dù là chưa nói đến phạm vi của khoa nghiên cứu văn học theo lối so sánh, chỉ với tư cách cảm tưởng, ấn tượng của người biên soạn và người dịch thơ, những nhận xét trên đây của Nikulin và Jaroslavtsev rất đáng để chúng ta trân trọng.
    Trong cái việc mang thơ Hồ Xuân Hương đặt bên sáng tác của những văn hào nổi tiếng khác, mang con người Xuân Hương đặt bên những tính cách đã thành tiêu biểu trong văn học thế giới, hai nhà nghiên cứu đã giúp chúng ta đến với nhà nữ thi sĩ kỳ tài và những sáng tác của bà bằng những nẻo lối mới có kết quả hơn.
     Trong nghiên cứu văn học xưa nay vẫn có chuyện đó: con đường để đi tới một đỉnh cao nhiều lúc lại phải đi vòng qua những đỉnh cao khác. Muốn hiểu cho thấu đáo sâu sắc một thi hào của dân tộc mình, chúng ta phải có thêm hiểu biết về các nhân vật cự phách trong các nền văn học khác. Và nếu như lúc nào đó, có ai tập hợp được tất cả ý kiến của các tác giả nước ngoài về Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương của ta, biết đâu chẳng có một cuốn sách thú vị? Ít nhất, nó cũng có tác dụng kích thích với công tác nghiên cứu trong nước.
Đã in trong Chuyện cũ văn chương


Tuesday, April 17, 2012

Rực rỡ và khắc khoải

Chất ba-rốc trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều




Giữa những hướng đi khác nhau và luôn luôn biến hóa đắp đổi lẫn nhau, văn hóa hiện đại – trong đó có mốt – không bao giờ quên một kênh phát triển độc đáo: trở về với những giá trị cổ điển. Quần áo giầy dép không chỉ ngày một giản dị gọn gàng mà có khi lớp lang cầu kỳ như vẫn thấy ở các ông hoàng bà chúa ngày xưa.

Nhà cửa thì bên trong phải có những tiện nghi hiện đại, nhưng -- trong một số trường hợp -- bề ngoài càng giống lâu đài cung điện càng tốt. Cách đối xử có xu hướng hạn chế bớt những suồng sã thô thiển để tìm tới vẻ lịch sự và trang trọng. Hình như nay đã đến lúc người ta bình tĩnh hơn trong việc nhìn nhận cái gọi là chất quý tộc và thấy rõ rằng quý tộc không chỉ đồng nghĩa với suy đồi tàn tạ, quý tộc còn nên được hiểu như một phẩm chất của văn hóa, và giá được sống như quý tộc mà không làm phiền đến xã hội thì cũng hay hay!





Không rõ một mỹ cảm như vậy sẽ ảnh hưởng đến cách ăn mặc vui chơi hay sáng tác của chúng ta ra sao, nhưng chắc chắn nó đã là điều kiện thuận tiện để giúp chúng ta công bằng hơn trong việc nhìn nhận một số hiện tượng văn hóa, chẳng hạn như trường hợp Cung oán ngâm khúc. Mấy chục năm nay ở ta, khúc ngâm 356 câu ấy của nhà thơ Nguyễn Gia Thiều gần như bị đẩy vào quên lãng. Sách in thưa thớt: ở Hà Nội giữa hai lần in có khi cách nhau đến gần ba chục năm, phải vào các thư viện lớn mới tìm ra sách để đọc. Trên ghế nhà trường phổ thông, học sinh không được giảng Cung oán ngâm khúc, chỉ thỉnh thoảng lớp trẻ mới được nhắc qua rằng có một khúc ngâm như thế, song đại khái đó là tác phẩm tiêu cực, một thứ văn chương yếm thế lại kiểu cách khó hiểu. Sự thực thì sáng tác của Nguyễn Gia Thiều đâu có một chiều đơn giản như vậy.





Một nghệ thuật điêu luyện

Cũng như hàng loạt tác phẩm văn học cổ như Truyện Kiều, Nhị mộ mai, Hoa tiên, Chinh phụ ngâm. v.v… quả thật Cung oán ngâm không dễ đến với bạn đọc hiện đại. Ngôn ngữ cô đọng, gò thắt, không chấp nhận bất cứ sự “dừng chân” nào vội vàng chiếu lệ. Nhìn vào bản in, mỗi câu thơ kéo theo cả đoạn dài chú thích, câu nào cũng chồng chất những điển tích lấy ra từ sách tận đời Hán đời Đường thì làm sao khỏi ngại cho được! Một thứ quy phạm nghiệt ngã đã khống chế ngòi bút tác giả. Chẳng những thế, câu chữ trong Cung oán ngâm thường khi có một vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp vương giả, trau chuốt cầu kỳ mà kiêu sa, tráng lệ:

- Trải vách quế gió vàng hiu hắt

Mảnh vũ y lạng ngắt như đồng

- Mùi tục lụy lưỡi tê tân khổ

Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu

Sóng cồn cửa bể nhấp nhô

Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh

- Chiều tịch mịch đã gầy bóng thỏ

Vẻ tiêu tao lại võ hoa đèn

- Lò cừ nung nấu sự đời

Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương

Ai người có thói quen đồng nhất cái đẹp với cái giản dị và chỉ biết đến một sự hoàn thiện tự phát là hoàn thiện theo kiểu dân dã, những người ấy dễ khó chịu với Cung oán ngâm. Họ thường viết về thành tựu nghệ thuật của Nguyễn Gia Thiều với một sự thông cảm có pha chút chiếu cố. Song đã đến lúc nên có một cách hiểu phóng túng hơn về cái đẹp: mộc mạc tự nhiên đã đành là đẹp rồi, song rực rỡ, óng ánh, thậm chí dụng công tô điểm như người con gái son phấn một cách khéo léo khiến người ta phải trầm trồ khen ngợi, vẻ đẹp ấy vẫn cứ rất đẹp, đáng trân trọng. Như những hàng cột uốn và các vòm mái huy hoàng ở các nhà thờ, những pho tượng sơn son thiếp vàng lộng lẫy ở các cung điện đã rất đẹp: ấy là khi con người muốn cạnh tranh với tự nhiên và tạo ra một thế giới bổ sung bên cạnh tự nhiên.





Một triết lý không dễ từ chối

Vượt qua cái lạ của câu chữ là cái lạ của triết lý, thứ triết lý này cũng toát ra qua từng câu thơ Cung oán ngâm với tất cả vẻ đậm, gắt trong bút pháp tác giả.

Đạo Phật nói đời là bể khổ. Nguyễn Gia Thiều không nói gì hơn, chỉ có một điều ông thấm thía nó một cách sâu sắc và diễn tả như là chính người cung nữ của ông, chính ông nữa, vừa phát hiện cho mình.

- Kìa thế cục như in giấc mộng

Máy huyền vi mở đóng khôn lường

- Nghĩ thân phù thế mà đau

Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê.

Trong cái bể khổ đó, mỗi con người trở nên hết sức bé nhỏ, sự tồn tại của họ là một cái gì phi lý (Phong trần đến cả sơn khê - Tang thương đến cả hoa kia cỏ này… Trăm năm còn có gì đâu-- Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì …).

Mỗi khi muốn bảo nhau rằng thơ Việt Nam cổ điển cũng trừu tượng siêu hình lắm, các nhà thơ hôm nay thường dẫn ra cách hình dung về con người của Nguyễn Gia Thiều: Cái quay búng sẵn trên trời-- Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.

Chúng tôi muốn bổ sung thêm: đấy còn là thứ thơ đi sát cảm giác tôn giáo nữa.

Khi con người bị đẩy vào cõi bơ vơ cũng là lúc ý niệm về một thế giới khác thường đến với họ.

Tại sao Nguyễn Gia Thiều lại đứng ra thuyết minh cho một thứ triết lý như vậy? Trả lời câu hỏi đó, người ta thường nói tới sự điên đảo của cuộc đời trong cái thời mà một nhà thơ tài hoa và uyên bác như ông phải sống.

Có điều cũng nên biết là trong nền nghệ thuật thế giới, có một giai đoạn được xác định là nghệ thuật ba-rốc.

Qua cách diễn tả của nhiều tác giả ba-rốc nổi tiếng như Bernini trong kiến trúc, Rubens, Van Dyck … trong hội họa, Tasso, Calderon v.v… trong văn học, cuộc đời thường hiện lên với tất cả tính chất mong manh không ổn định của nó.

Khi xem nó không khác gì ảo ảnh, “cả cuộc đời này thật ra là một sân khấu lớn” - cũng là lúc người ta cảm thấy vỡ mộng. Mộng càng đẹp thì nỗi xót xa khi vỡ mộng càng lớn: giữa con người và hoàn cảnh mất đi sự hòa hợp vốn là đặc trưng của nghệ thuật phục hưng. Từ nay, những ám ảnh về cái chết không sao rời khỏi đầu óc người ta nữa.

Thời gian cũng không còn mang cái chất trung tính bình thường, giờ đây thời gian trở nên một thế lực làm phai tàn mọi vẻ đẹp, làm hủy hoại mọi giá trị của đời sống.

Phù du được coi như một thuộc tính không thể sửa chữa của tồn tại.

Tưởng như những nhận xét đó được viết để dành riêng cho Cung oán ngâm và Nguyễn Gia Thiều. Các nhà lịch sử và lý luận nghệ thuật đã có lý khi coi nghệ thuật ba-rốc không chỉ là một hiện tượng Châu Âu và Ibêria Mỹ mà là một thành phần vĩnh hằng của văn hóa. Nó là cả một hướng phát triển của đời sống tinh thần con người.

Trong sự vận động liên tục của lịch sử, những thời điểm con người có cái nhìn bi đát về mình cũng như về cuộc đời như vậy là những giai đoạn, những nấc thang, những pha cần thiết để họ có thêm sm tiếp tục đi tới.





Một lời mời gọi đầy sức quyến rũ

Có một nghịch lý thường thấy ở nghệ thuật ba-rốc: sau khi bảo cuộc đời là phù du, là ảo ảnh, sau khi làm lây truyền một mối lo sợ siêu hình, các tác phẩm này đồng thời lại mời gọi người ta trở lại với cuộc sống, trên thực tế, chúng luôn luôn gợi ra niềm khao khát hưởng lạc, thậm chí có khi còn châm ngòi cho một sự bùng nổ nhục cảm mạnh mẽ.

Không hẹn mà nên, những quy luật phổ biến đó trong nghệ thuật ba-rốc cũng được Nguyễn Gia Thiều tận tình thực hiện. Nếu ở những đoạn triết lý nói trên, người ta có thể trách tác giả đã gán cho người cung nữ một vai trò gượng gạo – lấy đâu ra một cung nữ uyên bác đến vậy! - thì khi trình bày nỗi khao khát hưởng thụ người ta mới thấy ông đã chọn được một người phát ngôn tuyệt vời.

Xưa nay, trong văn học Việt Nam, mọi khoái cảm xác thịt chỉ được diễn tả một cách lấp lửng nửa vời nếu không nói là giấu biệt đi, bảo nhau không nên đả động tới. Ở Cung oán ngâm khúc người phụ nữ mất hết vẻ e thẹn vốn có, nàng sẵn sàng khoe ra tài năng vẻ đẹp , và cả khả năng quyến rũ của mình.

Áng đào kiểm đâm bông não chúng

Khóe thu ba dợn sóng khuynh thành

Bóng gương lấp ló trong mành

Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa

Trong cuộc đời chờ đợi dài dằng dặc của nàng, những giây phút cùng nhà vua chung chăn chung gối được xem như một kỷ niệm lớn

Đêm hồng thúy thơm tho mùi xạ

Bóng bội hoàn lấp ló trăng thanh

Mây mưa mấy giọt chung tình

Đỉnh trầm hương khóa một cành mẫu đơn





Niềm hạnh phúc vụt đến rồi lại vụt đi ấy được nàng nhắc lại với đầy đủ chi tiết (Xiêm nghê nọ tả tơi trước gió…) và nỗi luyến tiếc lộ liễu (Cái đêm hôm ấy đêm gì…). Một mặt nàng oán trách số phận đã đẩy mình tới cảnh “mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng”; mặt khác nàng vẫn không thôi hy vọng “Hòng khi động đến cửu trùng – Giữ sao cho được má hồng như xưa”.

Trong điều kiện của thế kỷ XX, con người hiện đại hẳn dễ dàng thông cảm với những ham muốn có vẻ tội lỗi ấy ở nhân vật.





Đọc Cung oán ngâm khúc, do vậy, là một cách để sống trọn vẹn hơn cái thế giới đa dạng bao quanh chúng ta. Cuộc du lịch tuy ngắn ngủi nhưng để lại những ấn tượng thật đậm. Ngôi đền nghệ thuật ấy có vẻ đẹp riêng của một kiến trúc cổ, song lại gợi ra những suy tư, những xúc động rất trần thế. Cho nên trước khi nói đến những hạn chế nào đó của tác phẩm, thiết tưởng việc cần hơn là ghi nhận hết cái độc đáo có một không hai mà chỉ riêng nó mới có, chính cái độc đáo ấy cũng là lý do khiến khúc ngâm này của Nguyễn Gia Thiều trường tồn cùng lịch sử.

Đã in trong Những kiếp hoa dại

Wednesday, April 11, 2012

Nhật ký 2012 ( III )

2-3
 HÃY TRỞ LẠI CHÍNH MÌNH
    Joe Ruelle là một người Canada đã thành thổ công trên đất Việt. Trong cuốn sách Ngược chiều vun vút được in tới lần thứ tư (2012),  tác giả viết rằng anh ta hơi buồn cười khi nghe dân ta già trẻ lớn bé chào họ lúc nào cũng hello.  Giá nói xin chào thì người nghe sẽ thú vị hơn so với lối “nhại” tiếng của họ đang thịnh hành.


    Tại sao Joe nói vậy? Tôi muốn cắt nghĩa bằng một chuyện cũ.
    Hồi còn chiến tranh Xuân Quỳnh có lần kể với tôi, trên cứ bảo cố làm thơ về bộ đội rồi đến các trận địa cao xạ bên mâm pháo đọc cho họ nghe; nhưng theo chị, chính ra bộ đội lại thích nhất là được nghe thơ tình và thơ về mẹ con vợ chồng bà cháu … Chứ họ chán ngấy thứ thơ mà các nhà thơ vẽ xanh vẽ đỏ về cuộc chiến đấu của họ -- đó là những bài thơ làm cho cấp trên chứ có phải cho họ đâu.
    Ta có thể hiểu ý muốn của người tự xưng là Dâu( từng nhận Tên tớ là Dâu ) là một cái gì rất tự nhiên.
     Thế còn phần người Việt. Có thể thấy gì qua việc dân mình thích Hello ?
    Chuyện này ai ở miền bắc trước 1975 mới rõ, hồi ấy chúng tôi không bao giờ được phép tiếp xúc với người nước ngoài, nhất là người châu Âu. Chỉ tỏ ra rằng mình có biết một vài tiếng Tây thôi cũng đã là một cách chuốc lấy tai vạ.
   Dĩ nhiên là chúng tôi ấm ức.
   Vì thế con người nơi đây hôm nay mới có cái sướng là tỏ ra mình cũng chịu chơi, cũng thạo cái của cấm kỵ đó.


3-3
BỆNH SỢ SỰ THẬT
     Báo SGTT 29-2-12 có bài viết ngắn cho biết việc xét lại lịch sử, hay gọi một cách ôn hoà hơn là nhìn lại lịch sử đang trở thành một hướng đi mới, đầy lôi cuốn với không ít nhà nghiên cứu. Nhưng nhà báo cũng nói ngay, không ít người đang băn khoăn: ứng xử ra sao trước xu hướng đang gây tranh cãi này?
     Kết hợp với một số tin khác, tôi thầm hiểu lâu nay đang có một tình trạng đóng băng chết cứng trong ngành sử. Nhiều kết luận đưa ra hôm qua nay đã biết là sai, nhưng các thế lực bám lấy cái sai đó mạnh quá, những người có thiện chí cảm thấy nắm tay mình bất lực trước những cửa lim khép kín, đành chỉ  thầm thì vụng trộm với nhau, vừa làm vừa sợ.
     Thả nào bài báo được đặt tên một cách lấp lửng bằng cách đưa ra câu hỏi Đọc lại lịch sử vượt qua nỗi sợ?
      Dẫu sao điều đáng ghi nhận nhất trong bài viết trên là cái nhận xét cho rằng ao ước xét lại đang trở thành một xu hướng đầy sức lôi cuốn nó làm nên một nét mới trong đời sống khoa học hiện nay.
     Nhân đây phải nói rằng cái cũ mạnh lắm, nó đã vào trong ta sâu sắc lắm, mọi nỗ lực thay đổi hẳn còn là trầy trật, cái cũ cứ đến với ta một cách tự nhiên theo đủ mọi nẻo lối.
       Ví dụ như  trên TTVH 19-2-12 , giày dép người Việt được Phan Cẩm Thượng mang ra khảo sát. Sau khi kể ra toàn những guốc gỗ và dép mo cau bài viết  kết lại như sau:
    “Thực chất thì trước thế kỷ 20, kiểu thức guốc dép và giày Việt Nam tương đối đơn giản, không so sánh được với thời hiện đại, nhưng chúng luôn là những tác phẩm thủ công tinh xảo.“ ( VTN gạch dưới ) 
   Giày dép không vô can, giày dép cũng là một phần của văn minh vật chất của văn hóa cộng đồng. Nên nhà nghiên cứu phải kết một câu mà tôi đoán là anh viết rất tự nhiên, đúng giọng của chúng ta những năm chẳng tiếp xúc với ai và luôn luôn nghĩ mình cái gì cũng tài cũng giỏi cỡ nhất thế giới!


 TIÊN ĐẺ RA TIỀN. TIỀN ĐẺ RA SỰ NGHIỆP
    Nhiều công việc nặng nhọc ở Hà Nội hiện nay được làm theo lối thay thế. Giả sử tôi đang có biên chế nhà nước chuyên quét rác, tôi bán lại công việc cho một người ngoài tỉnh nào đó, còn bản thân chạy chợ, lại chẳng hay hơn bao nhiêu.
     Có tiền tôi mua lấy cái bằng đại học, nộp cho cơ quan để được tăng lương. Thế là tiền đẻ ra tiền có đi đâu mà thiệt.


    Trong văn học nghệ thuật nghe đồn có chuyện vui vui như sau. Khi nhiều Hội văn nghệ địa phương thành lập không tìm được người quản lý xứng đáng,  phải lấy cán bộ đảng sang phụ trách. Mấy ông này không có chuyên môn, sợ anh em coi thường đành nghĩ ra một mẹo là thuê người viết cho mình một cuốn tiểu thuyết. Rồi lấy tiền cơ quan cho in. Rồi tự cho mình giải thưởng. Rồi lấy đó làm lý do xin làm thành viên của các Hội TW.
   
      Nhân đây thử bác lại cái câu Cái gì ít tiền không mua được, nhiều tiền không mua được thì rất nhiều tiền sẽ mua được : Một là con cái học hành ngoan ngoãn tử tế hai là vợ chồng hiểu biết và thương yêu nhau, ba là sự phát triển liên tục của nhiều thế hệ, của cả dòng họ -- cái đó thì không tiền nào mua nổi.




GHI VẶT   
   Nhiều ngõ nhỏ ở các làng cũ mới lên thành phố nay mọc san sát các ngôi nhà 4-5 tầng xây trên nền đất những ngôi nhà cấp 4 cũ. Cái cũ được tôn cao được bôi trát hiện đại nhưng vẫn luôn luôn gợi cho người ta nhớ cái hồn cốt nhếch nhác thảm hại.


    Ngoài sách phong thủy các cửa hàng sách dạo này thấy bày bán nhiều cuốn nói về cách đặt tên con xào xáo từ các loại hàng chợ TQ. Đến xứ mình, chúng còn thảm hại hơn một bậc,  ví dụ chỉ viết chữ Hán theo kiểu quốc ngữ, chứ không hề ghi chữ vuông bên cạnh. Lại là một ví dụ về một lối nông nổi học theo nước ngoài chỉ cốt để úm nhau, hơn là một nét văn hóa vốn có trong truyền thống như người ta tự nhận.
  
5-3
 NHẸ KIẾP NHÂN SINH   
      Dưới mắt người nước ngoài giao thông đi lại ở Hà Nội hiện ra khá thú vị.
      Nhà văn Carol Howland đã viết trong cuốn sách Những con rồng trên mái nhà - một năm ở Việt Nam: “Đi bộ ở Hà Nội 36 phố phường giống như len lỏi tìm đường đi trong một bát mì.’      


   Chris Anderson, một cựu phóng viên của CNNGO cảm nhận: Ồn ào, đông đúc và dễ lạc là điểm nổi bật dễ nhận thấy nhất của phố cổ Hà Nội. Vì thế, để khám phá, nên đi lang thang không mục đích. Không điểm đến, không lộ trình được vạch sẵn. Chỉ đơn giản rẽ trái, rẽ phải hay đi thẳng.


     Vẫn theo Chris Anderson, “không có con đường nào được gọi là “ít được đi lại” ở đây. Tất cả các tuyến phố đều tràn ngập xe máy, ô tô, xe đạp và người đi bộ. Đừng chỉ tập trung vào bước chân, hãy nhìn sang hai phía và tận hưởng khoảnh khắc bạn đứng ở giữa phố với hàng tá xe cộ vây quanh.”




    Từ chuyện giao thông thấy gợi ý về cả một triết lý sống. Đừng đặt cho mình mục đích gì hết. Hãy sống nhẹ nhõm, bằng lòng với mọi tình huống xảy ra, lấy sự quan sát sự đời làm vui, kết quả thế nào cũng chấp nhận. Tôi đóan nhiều người trong bụng cũng đồng tình với Chris Anderson và trong sự bươn bả hàng ngày thực ra vẫn sống bằng triết lý đó. Nếu không thì chịu sao nổi hở trời!




LÝ DO ĐỂ CẢ NHỮNG NGƯỜI TỬ TẾ
CŨNG TÁN THÀNH XÂM LƯỢC
     Lý do nào khiến cho người Pháp xâm lược VN cuối thế kỷ XIX? Lâu nay ta chỉ nghe nói đó là do  nhu cầu phát triển của chủ nghĩa tư bản Pháp. Nhà sử học  Philippe Devilles cũng đồng ý vậy, nhưng trong Lời nói đầu cuốn Người Pháp và người Annam bạn hay thù? ( bản dịch tiếng Việt của Ngô Văn Quỹ, NXB Tổng hợp TP HCM  2006) ông bảo rằng ở đây còn một lý do nữa.
     Đó là  người Pháp thấy quan lại Việt Nam đang bóc lột một cách bỉ ổi dân chúng của họ.
   “Dập tắt những cuộc truy bức tôn giáo, giải phóng một dân tộc khỏi những quan lại của họ , những điều này đủ để có thể  đốt cháy lên được sự phẫn nộ, huy động lên được những người có thiện chí ở Pháp “ (sđd tr 7)




6-3
 BƯỚC ĐI GIỮA BÓNG TỐI
   Tiểu thuyết Chú nhóc đen, tác giả Richard Wright,  Vũ Văn Kha tức Trần Dần dịch, bắt đầu bằng một câu đề từ lấy từ sách Job trong Kinh Thánh.
    Họ thấy bóng tối giữa ban ngày, và họ bước giữa ngọ, tựa hồ đấy là đêm
     Tôi nhớ tới câu nói ấy khi đọc các tin tức về những  tình hình làm ăn bê bối mọi mặt hiện nay.
     Cắt nghĩa các vụ vỡ nợ, lừa đảo, bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế cao cấp, cho rằng chúng “ điển hình cho sự thiếu minh bạch về đối tác làm ăn trong xã hội “.
       Ta đang bàn nhiều về tình trạng hư hỏng trong mối quan hệ nhà nước với người dân. Nhưng cả mối quan hệ giữa người dân với nhau, cái đó cũng đang bị tha hóa. Câu nói của nhà kinh tế gợi người ta nghĩ  tới một thứ bóng tối trong các mối quan hệ dân sự.
      Trong một mức độ nào đó,  có thể nói nay là lúc nhiều người chúng ta sống như lên đồng, như đánh bạc, sống mỏ mẫm, sống nặng về cầu may. Dám làm mọi việc nếu nó hứa hẹn ra tiền. Nhưng chẳng hiểu mọi chuyện đi đến đâu và trước mắt chẳng hiểu đối tác của mình là ai, có đáng tin cậy không.  
   Thế giới nửa người nửa ma. Ma dại đầy đường. Người lẫn với ma. Cái chữ ma này được Tô Hoài láy đi láy lại từ bài viết về Nguyễn Bính. Ông dùng để tả đám người làm văn chương thất tha thất thểu hồi tiền chiến. Nay thì chúng ta có thể mở rộng ra các lĩnh vực khác và cả không gian xã hội.
    Ca dao cũ: Đi đâu lả cả là cà—Như chim lạc tổ như ma lạc mồ.
    Thơ Nguyễn Duy: Người đi như xác chết trôi giữa đường.
    Thơ Văn Cao viết 1945: Kiếp người  tang tóc—Loạn lạc đòi nơi xương chất lên xương--Một nửa lang thang ma đói sa trường—Còn một nửa lang thang tìm khóai lạc
     Cần nói thêm là nếu ngày xưa, ma đói ma dại ma như những cái bóng nhợt nhạt thì ngày nay ma trở nên năng động, ma đầy dục vọng, những hồn ma  đang biến thành quỷ.


11-3
 GHI VẶT
     Một đại diện hãng Mercedes nói rằng sang VN tự nhiên ông ta thích tính chuyện làm riêng.
    
   Một phóng viên phương tây ca ngợi thay đổi ở Myanma – các thành phố rất sạch sẽ và con người thì  khá vui vẻ , mặc dù giá sinh hoạt có xu hướng tăng cao.
     Tôi khi xem TV, chỉ thích nhất là cảnh  đường phố Myanma không thấy một bóng xe máy nào mà chỉ toàn ô tô và người đi bộ.


TRÍ THỨC & PHẢN BIỆN
     Nhiều người cả quyết sứ mệnh của trí thức phải là phản biện. Tôi muốn vân vi nói rõ thêm một chút, ở đây phải có phân biệt. Đối với giới trí thức nói chung, đặt ra yêu cầu đó là hợp lý. Nhưng đối với từng người một thì chưa chắc.
     Cần nhớ trí thức là một tầng lớp xã hội, bao gồm nhiều người làm nhiều công việc khác nhau. Một số chuyên suy nghĩ về những vấn đề lâu dài trừu tượng, một số khác trên cơ sở những tìm tòi tổng quát của cả giới, tìm cách vận dụng các tri thức đó vào thực tế, tham gia hình thành quyết  sách cho xã hội, bao gồm  giáo dục hướng dẫn nhân dân và đối thoại về từng vấn đề cụ thể với nhà cầm quyền.
    Nếu hạng thứ nhất không có mặt thường trực thì ta cũng không nên trách họ.
     Phản biện là cần, nhưng đã đến lúc đòi hỏi nhau không chỉ à à lên tiếng đồng loạt là đủ. Mà phải tính kỹ chiến lược sách lược cụ thể, để ngày càng nâng cao chất lượng các phản biện đó. Việc này không thể tách rời tiềm năng sâu xa của giới trí thức nói chung.
       Khốn khổ một nỗi, xã hội Việt nam không chỉ thiếu người tham gia phản biện mà càng thiếu người chuẩn bị cho các phản biện đó hiệu quả. Suốt trường kỳ lịch sử-- cả lịch sử trung đại lẫn lịch sử hiện đại— sự phát triển cộng đồng chưa bao giờ cho phép hình thành một đội ngũ trí thức tầng tầng lớp lớp hùng hậu và đạt chuẩn mực như thấy ở mọi cộng đồng phát triển bình thường khác. Thiếu lớp trí thức đó, xã hội không nhận thức được chính mình, và nhân dân nữa  ,nhân dân không bao giờ trở thành nhân dân như chúng ta thường ca ngợi.
   
DUYÊN NỢ NGÀN ĐỜI
 Trên T/c Đông Nam Á, một nhà nghiên cứu viết rằng một số sứ quân của thời Đinh Bộ Lĩnh là dân Tầu tràn sang từ thời bắc thuộc. Trong số các đạo quân tham gia vào việc đánh quân Nguyên có những đội quân của người Tầu, mang lá cờ Tống.
       Đọc kỹ sử cũ, sẽ thấy nhiều chi tiết cho biết đầu thế kỷ XV, cùng với các đạo quân của tướng nhả Minh Hoàng Phúc, nhiều người  dân chủ yếu là các vùng Hoa Nam cũng tràn sang; khi quân Minh rút về, họ vẫn ở lại.


    Năm ngoái, cuốn Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ  của Đào Trinh Nhất đã được in ra, trong tuyển bài của tác giả, mạng Văn hóa Nghệ An đưa nhiều kỳ, vậy mà chả thấy dư luận nhắc nhở gi cả. Riêng tôi còn nhớ hồi in lần đầu, cuốn sách khiến những người Hoa Kiều cảm thấy việc làm ăn bị đe dọa. Họ bảo nhau góp tiền mua cho bằng hết và bằng cách đó vô hiệu hóa nó.
    Chuyện này do nhà văn Nguyễn Công Hoan kể trong Nhớ và ghi .
   
     Mấy câu mở đầu  cho một bài hát lúc nhỏ tôi thường nghe người trong gia đình hát
    Ngộ bên Tầu là ngộ mới sang
   Sang Nam Việt bán buôn làm giàu
    Một trong những bài văn của Nguyên Hồng học ở văn tuyển lớp 7 – cuối cấp II -- là bài Một người mẹ Trung Quốc. Nguyên văn nó có cái tên Người đàn bà Tầu. Trong truyện có đoạn Nguyên Hồng cho người đàn bà chạy lọa hô khẩu hiệu
    Đả đảo khủng pu Đả đảo khủng puCung giần xiungti thóan che lai chiu xu xâu tao tơ thủng trư pa
    Đả đảo khủng bố -- Anh em công nhân đoàn kết lại cứu lấy đồng chí bị bắt


14-3
  SAI LẠC NGAY TỪ QUAN NIỆM
     Ở Hà Nội trước 1954, báo chí thường có mục gọi là Điều tra tiện và bất tiện. Ví dụ tôi muốn mở một cửa hàng, phải xin phép; chính quyền thông báo cho mọi người xem cửa hàng tôi mở có ảnh hưởng đến việc làm ăn của người khác hay không. Nghe nói bên Pháp người ta còn tính số lượng quán cà phê được mở tùy thuộc vào mật độ ở cái khu dân cư sở tại.   
      Ở Hà Nội trước 1965, việc nhập tịch rất khó khăn, nhiểu thanh niên Hà Nội lấy vợ nông thôn chết dở ở chỗ không được đưa về HN. Con đẻ ra cũng phải theo mẹ, làm khai sinh cho chúng nó xin mời về quê vợ mà làm.
     Chợt nhớ điều này khi thấy trên báo mọi người bàn từ chuyện kiểu nhà  chuyện mua ô tô chuyện nhập cư…Và người ta viện ra cái lý do tuyệt vời quyền được tự do của con người. Tự do mua bán. Tự do giao thông. Tự do cư trú
     Rồi tôi lại nhớ cái câu tục ngữ hơi thô: Thứ nhất quận công thứ nhi ỉa đồng.
     Anh K. bạn tôi bảo , một xã hội còn gán cho hai chữ tự do một nghĩa bát nháo như thế thì là sao tránh được hỗn loạn.
Dẫn từ  mạng Đông A
     Tiến trình dân chủ và tự do trong một nước tùy thuộc rất nhiều yếu tố xã hội, chứ không thể nhập cảng từ ngoài vào. Yếu tố chính là trình độ dân trí. Trong cuốn Bàn Về Tự Do (On Liberty, 1859), John Stuart Mill có viết: “Giáo dục phổ quát phải đi trước quyền công dân, đặc biệt là quyền bỏ phiếu phổ quát” và “Tự do chỉ có thể trở thành hiện thực trong một cộng đồng văn minh [sic]”…




MỘT GIAI ĐOẠN ĐOẠN VĂN HỌC KÉO DÀI ĐÃ BA MƯƠI NĂM
  Sau  khi đăng lại bài Dương Thu Hương, tôi muốn viết thêm về những nhà văn có đóng góp vào việc nhận thức xã hội VN hậu chiến. Ví dụ như Nguyễn Minh Châu. Các truyện ngắn Chợ tết, truyện vừa Cỏ lau…Rộng hơn một chút, tôi muốn nói về văn học Việt Nam 25 cuối thế kỷ XX với nghĩa, nó tiếp tục văn học những năm chiến tranh ra sao.
    Tiếp tục với nghĩa vừa vừa theo quán tính làm ăn kiểu cũ, vừa muốn thay đổi theo yêu cầu của hoàn cảnh.
     Nhưng rồi những cố gắng đó cứ lọt thỏm đi, chưa hiểu hiện đại thế nào mà đi đâu cũng thấy nói loạn cả lên về hậu hiện đại. Không khí sáng tác vừa chưa bao giờ thoát khỏi tình trạng hoang dại dân gian, vừa nhanh chóng úa héo thóai hóa.


KHỦNG BỐ TINH THẦN
    Trong những bài viết về Triều Tiên , một vài năm gần đây không chỉ sự đau khổ vật chất ăn đói mặc rách mà cả thói ngu dân bắt đầu bị tố cáo.
     Và tiến một bước nữa là sự khủng bố. Trả lời RFI , người phụ nữ trốn thoát khỏi Bắc Triều Tiên kể lại câu chuyện của cô trong cuốn tự truyện in ở Pháp: N.Korean Defector Tells Her Story in French Autobiography(Chosun). Cô Kim nói: “Ở Bắc Triều Tiên, ngay cả trẻ em ở trường tiểu học bị buộc phải xem hành quyết công cộng để họ truyền cảm giác sợ hãi trong các em”
  “ Bạn không thể có hy vọng hay ước mơ ở miền Bắc”. Cô Kim Eun-sun kết luận


17-3
     Đọc Rễ bèo chân sóng hồi ký của Vũ Bão. Viết kỹ. nhiều chi tiết giá trị. Nhưng theo tôi vẫn chưa ra hồi ký của một nhà văn, vì chưa thấy các vấn đề của đời sống văn nghệ qua số phận một người trong cuộc.


    Giải thưởng Phan Chu Trinh nhấn lại tầm quan trọng của nghề dịch, nhất là dịch tác phẩm nghiên cứu triết học chính trị văn hóa  của các tác giả cổ điển.
     Lâu nay, ở Hà Nội chỉ thấy tôn vinh các nhà dịch thơ văn, tiểu thuyết. Và cũng chỉ tôn vinh vừa vừa thôi vì xã hội ta có coi đó là nghề sáng tạo đâu.
     Anh Vũ Đình Bình kể với tôi, ở mấy nước như Litva, Latvia , người ta quan niệm nước người ta chỉ có một nền văn học vừa phải, rất chú trọng việc dịch.
     Xã hội luôn nói thẳng với các ngòi bút định đi sang tác rằng có viết được cái gì hay đến mức thế giới người ta cũng phải nể thì các anh hãy viết. Bằng không, hãy học thật giỏi ngoại ngữ và đi dịch cho chúng tôi nhờ. Kết quả là Hội nhà văn các nước ấy , hội viên dịch đông hơn hẳn so với Hội viên các bộ môn sang tác.


19-3
 Bài của bà Phạm Chi Lan—không được chỉ đạo kinh tế theo lối đánh du kích
 Một gợi ýđể tiếp tục cái điều tôi hằng nghĩ—chúng ta làm kinh tế theo kiểu chiến tranh, do tư duy chiến tranh chỉ đạo.
 
 Hôm nay ngày khai mạc Hội sách TP HCM
Một lần, tôi thấy giới thiệu sách VN tặng Unesco mà xấu hổ. Toàn những cuốn sách mỏng mảnh èo uột và tôi đoán bên trong nội dung chẳng ra gì.


  Nhớ có lần thấy Olimpic London quảng cáo loại khách sạn một người tiện cho dân du lịch, trong khách sạn đó không quện bố trí có một thư viện mini đủ những sách đang được đọc nhiều.


  Năm ngoái có một hội sách ở Văn Miếu. Tôi đến muộn, chỉ thấy nói trước đó có phát không một số sách. Nhiều người xô nhau vào cướp.
   Tôi đoán họ cướp sách chả phải để đọc đâu. Mà chỉ để thỏa mãn cái ao ước được chiếm lấy một thứ gì đó bằng bạo lực.


 21-3
    Rất nhiều quảng cáo trên TV đưa ra hình ảnh con người cả già cả trẻ sung sướng hể hả mát lòng mát ruột khi được hưởng miếng ăn ngon hoặc mua được thứ đồ hàng hiệu đồ xịn.


 25-3
  NHÌN SÂU VÀO NƯỚC NGA
     Lý giải chế độ tân phong kiến ở Nga là tên bài viết của một nhà khoa học Nga viết trên báo Mỹ. Có mấy ý rất sâu:
-- Chế độ hôm nay sẽ chẳng phát triển giống nước nào. Nó chỉ là nó. Gọi nó là chế độ tân phong kiến vì nguyên tắc của nó rất đơn giản, dưới lo cống nạp và trên chấp nhận.
--  Hy vọng vào sự thay đổi của chế độ hôm nay là một điều hão huyền. Vì nó được sự đồng thuận của nhiều người, kể cả những người bị thua thiệt nhưng đã quá mệt mỏi trong quá khứ.
    Tham nhũng không phải là một lỗi hệ thống mà chỉ là nguyên tắc cơ bản của các hoạt động bình thường.
-- Bộ máy quan chức được tổ chức theo lối phi chuyên nghiệp hóa. Nó yếu kém một cách đột biến so với thời xô - viết.
   Nhưng do đó, nó lại đánh thức cái phần kém cỏi non nớt hoang dại vô văn hóa và rất tàn bạo vốn đầy rẫy trong mọi xó xỉnh của nước Nga. Nó thu hút được rất nhiều người trẻ tuổi đang khao khát một chỗ đứng dưới ánh mặt trời.
    Đám người hạ lưu đó dám làm tất cả những gì mà những người có tiền và có quyền đòi hỏi.  Họ lấp đầy bộ máy hành chính và bộ máy sức  mạnh.
    Ngày càng thắng thế và tự tin , họ tự trang bị cho mình đủ thứ danh hiệu giáo sư viện sĩ. Họ khiến cho những tầng lớp ưu tú ngày càng trở nên thiểu số ngày càng teo tóp bất lực. Mỗi năm có khoảng 40.000—45.000 chuyên gia trẻ tuổi có tài đổ ra nước ngoài. Hiện có khoảng 3.000.000 công dân Nga  sống ở các nước thuộc Liên minh châu Âu.


31-3
  Mạng Viet-studies có bài của Nguyễn Đình Chú viết về không khí đấu tố ở Đại học 1956-57 , trong đó tôi cảm thấy tin cậy hẳn lên khi ông Chú nhận là mình cũng bị cuốn theo cái loạn hồi ấy. Vốn là trợ lý của GS Thảo , vậy mà về sau có lần gặp TĐT trên cầu thang,  NĐC đã cúi mặt không chào.
     Mấy ai dám nhắc lại chuyện cũ với thái độ chân thành và sòng phẳng như vậy. Cái chữ mà NĐC dùng ở đây – một sự thật khốn nạn.
     
    Điều đáng nói khi nhớ lại những sự kiện như Cải cách ruộng đất, không chỉ là việc bao nhiêu người tốt có công lao bị giết; mà là bao nhiêu người còn sống -vốn rất tốt - sau sự kiện này cũng trở nên hư hỏng hèn mạt, tóm lại là lưu manh hóa. Còn sau chiến tranh, bao người có công tự cho phép mình bất chấp luật pháp chỉ lấy việc lo kiếm chác xoay xở cho bản thân và gia đình làm lẽ sống.