Monday, December 20, 2010

Ghi chép hàng ngày ( 15)

28-11

TÌNH CẢNH HẬU CHIẾN

Có một việc tôi đang muốn dành thời gian để làm—đọc lại sử mình những năm sau chiến tranh.

Ví dụ sau khi đánh xong quân Nguyên, nhà Trần ra sao?

Sách vở hiện đại ghi về chuyện này hơi ít. Cụ thể là trong các sử gia hiện thời, chỉ có Đào Duy Anh làm, và tôi chỉ mới đọc có ông chứ chưa có dịp đi vào mấy bộ sử cổ, song đã thấy cả một đề tài chưa ai khai phá.





Trong cuốn Lịch sử VN- từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX,  ĐDA dành hẳn một chương, chương XXV, nói về Bước suy đốn của nhà Trần, trong đó nói rõ việc đầu tiên Trần Nhân Tông cho làm sau khi quân Nguyên rút lui năm 1285 là duyệt lại hộ khẩu trong nước.

      Để làm gì? Theo ĐDA, để tìm cách “lấy tiền của mà tu bổ những tổn hại do chiến tranh gây nên.”
    Tiếp đó, ĐDA kể ra nhiều việc nhà Trần đã làm sau 1288 nhằm “ra tay bóc lột nhân dân thêm nữa “.
     “Ngay năm 1290, sử đã chép có nạn đói lớn, mỗi thưng gạo giá đến một quan, nông dân nhiều người phải bán ruộng đất và bán vợ con làm nô tì. Sau khi đã ra sức tham gia kháng chiến trong quân đội hay trong dân quân, người nông dân thấy đời họ không được cải thiện mà lại còn bị bóc lột hơn xưa, họ rất lấy làm bất bình mà đã rục rịch phản đối. Không thể dùng ngay thủ đoạn khủng bố,   Trần Khâm ( tức Nhân Tông—VTN ) lại nghĩ ngay đến việc dụng binh đối với các nước nhỏ láng giềng  để đánh lạc hướng bất bình của nhân dân” (Sđd, bản của Nxb Văn hóa Thông tin, 2002, tr. 258-259)  


        Một khía cạnh khác, gần đây báo chí nói nhiều tới việc Nhân Tông thượng hoàng đi tu. Hôm nọ gặp nhau ở SG, anh Trần Đĩnh -- bậc thày của tôi trên phương diện miên man tự học, bằng sự lịch lãm của một người đã qua sống qua ba chục năm chiến tranh và thường xuyên tiếp xúc với nhân học hiện đại -- dự đoán, chắc là thượng hoàng thấy chiến tranh khủng khiếp quá, nên tìm cách tách mình ra mà suy nghĩ đấy thôi.
        Cũng là một cách ghi nhận tâm lý hậu chiến!
        Chỉ có điều cái tâm thế cao quý ấy là một cái gì mà người nay chỉ ngưỡng mộ chứ chả thấy ai làm theo cả.
   
MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM- TRUNG HOA CUỐI ĐỜI TRẦN
     Đánh xong quân Nguyên, nhà Trần cũng dần dần rơi vào khủng hoảng.
     Sau khi Nhân Tông Trần Khâm qua đời, người kế ngôi là thái tử Trần Thuyên, đế hiệu là Trần Anh Tông (1293-1314)
     Việt nam sử lược của Trần Trọng Kim ghi:” Anh Tông lúc đầu hay uống rượu và đêm thường lẻn ra ngoài kinh thành đi chơi, có khi bị đồ vô lại phạm đến “.
     Tiếp đó là các vua Minh Tông (1314-1329), rồi đến Hiến Tông. Ông sau này lên ngôi lúc mới 10 tuổi, và làm vua được 13 năm, tới 1341 thì qua đời, khi mất mới 23 tuổi.
      Dụ Tông lên ngôi từ 1341. Vẫn theo Trần Trọng Kim, ông Dụ Tông này“ rượu chè chơi bời, xây cung điện đào hồ đắp núi, rồi lại cho gọi những người nhà giàu vào trong điện để đánh bạc. Bắt vương hầu công chúa phải đặt chuyện hát tuồng ( do quân Nguyên sang, mới du nhập – VTN chú), và bắt các quan thi nhau uống rượu, ai uống được một trăm thăng thì thưởng cho hai trật.
      Chính sự như thế cho nên giặc cướp nổi lên như ong “.
      Dụ Tông chết, không có con.
      Bà Hoàng thái hậu lập một con nuôi là Dương Nhật Lễ, vốn dân con hát, lên thay, nhưng bị tôn thất nhà Trần giết, dành ngôi cho Nghệ Tông.
       Ông này là một vị vua lạ, ở ngôi chỉ hai năm (1370  -- 1372) lại nhường ngôi cho em là Trần Duệ Tông.
      Lúc này ở Trung quốc, nhà Minh đã thay thế nhà Nguyên.
      Xẩy ra một việc rất giống với ngày hôm nay.
      Lúc Nhật Lễ đương quyền, vua nhà Minh lợi dụng nước ta lộn xộn, nghe theo bầy tôi thuộc bộ Lễ, cho bọn này đem các thần sông núi ở nước ta phụ tế vào đền nhạc độc của TQ.
      Rồi sai đạo sĩ là Diêm Nguyên Phục đến tế thần ở ta. Đại Việt sử ký tiền biên ghi đó là thần núi Tản Viên và các thủy thần sông Lô.
     Đến khi Nghệ Tông lên, theo Tiền biên, ông cho hủy bỏ những điều sai trái do các nho sĩ thời trước sinh ra, đó là những gì bắt chước Trung Quốc.
      Nghệ Tông nói “ Tiên triều dựng nước có chế độ phép tắc, không theo chế độ nhà Tống, bởi lẽ phương nam phương bắc đều có vua của nước mình, không phải theo nhau.” 
     Nghệ Tông nói tiếp, thời Dụ Tông, kẻ học trò mặt trắng không thấu đạt được ý của sự lập pháp, đem phép cũ của tổ tông bày đặt theo tục của xứ người. Như các loại quần áo nhạc chương không thể kể hết được. Nay việc gì cũng phải theo lệ cũ thời Trần Minh Tông (1314-1329).


      Thế mới biết lúc này, ý thức về bản sắc đã hình thành, có điều nó còn  mong manh và phải luôn luôn gia cố.


     Trong Đại Việt sử ký tiền biên, sử thần Ngô Thì Sĩ cho biết người Minh khen Nghệ Tông là “hiếu hữu cung kiệm, bác học minh mẫn”.
      Hai năm sau khi lên ngôi vua, Nghệ Tông lại lập em lên thay  thành vua Duệ Tông.  
      Tức Nghệ Tông là loại xem thường chính sự, coi lên xuống ngôi vua như chuyện cởi chiếc giầy, thay chiếc áo --- Ngô Thì Sĩ bình luận.


2-12
TIẾP TỤC CÂU  CHUYỆN TỰ DO HOANG DẠI
    Bác sĩ Zhivago trong cuốn tiểu thuyết cùng tên của Boris Pasternak  có lần nói với bạn gái:
  “ Cô thử nghĩ xem cái thời đại chúng ta thật là lạ lùng. Và cô với tôi đang phải sống trong đó. Thật ngàn năm một thuở mới lại xẩy ra những chuyện điên rồ như thế này. Cô có thấy cả nước Nga như mất nóc --  tôi và cô, tất cả những người như chúng ta đang sống ngoài trời. Không còn ai kiểm soát chúng ta. Tự do ! Đúng là tự do thực chứ không phải những lời rỗng tuếch, nhưng đó là một thứ tự do ngoài mọi sự chờ đợi của chúng ta, tự do vì tình cờ vì ngộ nhận.”
    Tôi ngờ rằng lẽ ra ở đây, tác giả sẽ viết thêm …”tự do vô chính phủ, tự do làm khổ nhau hành hạ nhau.“  
     Giá biết trước câu này, tôi sẽ dẫn vào bài Một thứ tự do hoang dại mới viết hai tháng trước.
     Hóa ra ở đâu cũng thế!
    
    Từ những biến thiên kiểu ấy, nay nước Nga rơi vào tình cảnh thế nào?
    Có hai chi tiết đáng nhớ nhất từ các bài báo mà rải rác tôi đã đọc.
     Một là về các vùng quê, thấy rất nhiều người đàn ông say rượu, có khi tất cả đàn ông trong làng say rượu. Còn đàn bà thì dạy nhau để làm sao bán được thân mình cho những người giầu có.
     Và thứ hai, nếu ngày xưa, các phương tiện truyền thông chuyên môn đóng vai giảng đạo thì nay ngược lại. Xem ti-vi, dân không phải nghe dậy bảo là hãy sống như thế này thế nọ nữa. Trong khi tha hồ lê lết trong cực khổ, giờ đây họ toàn được nghe những điều họ muốn nghe, những lời nịnh nọt rằng nước Nga thuộc loại cường quốc dắt dẫn thế giới, người dân Nga đang sống cực kỳ hạnh phúc.




   6-12
       PHẢI MẠNH MẼ THÌ MỚI CÓ THỂ TRUNG THỰC
     Năm nay là năm kỷ niệm một trăm năm ngày mất của L. N.Tolstoi.
     Tờ Văn học nước ngoài của Hội nhà văn đăng lại diễn văn  của Văn hào Pháp Anatole France  tại Đại học Sorbonne 12-11-1911 trong đó có đoạn:
      “Bằng cuộc đời của mình, Người đưa ra tuyên ngôn của cái chân thực, thẳng thắn trung tín kiên quyết; của chủ nghĩa anh hùng điềm đạm và bền vững. Người dạy chúng ta phải thực thà và mạnh mẽ.
      Quả vậy, chúng ta phải mạnh mẽ để không tàn bạo phải mạnh mẽ để có thể trung thực để được hiền hòa để được an dịu. Phải mạnh mẽ thậm chí là để cười nữa. Chính vì Người có đầy sức mạnh cho nên bao giờ Người cũng trung thực. Yếu ớt thì không thể truyền bá được chân lý.
   (… ) Tolstoi kêu gọi chúng ta phải chân thực và như thế là Người đang khơi gợi để chúng ta tranh luận với Người một khi Người mắc sai lầm...”


  Tôi rất thích cái ý người ta phải mạnh mẽ thì mới không tàn bạo, phải mạnh mẽ để có thể trung thực, và yếu ớt thì không thể truyền bá được chân lý.
       Có thể dùng nó để giải thích tình trạng hiện thời trong cách đối xử với nhau của cộng đồng Việt. Nhiều khi người ta tàn bạo với nhau giả dối với nhau chỉ vì quá yếu. Yếu nhưng lại ác. Càng yếu càng ác.


 7-12
   GIẦU CÓ NHƯNG KHÔNG THÀNH NGƯỜI
    Dạo này đi đâu cũng thấy dân tình bàn tán về hành xử của đám nhà giàu trọc phú vừa rồi, mang việc đấu giá làm từ thiện ra đùa cợt. Đùa cợt trên sự cùng cực của người nghèo.
    Đấy, đám người giàu có, tức những người năng động thành đạt những người ưu tú của xã hội ta là thế đấy!
     Lại nhớ gần đây một người Đức đã viết trên mạng về “người Việt xấu xí’.
    Ông ta bảo hình như nhiều người Việt hiện nay cũng biết mình hư hỏng nhưng lại có lối đổ thừa cho hoàn cảnh.
     Tức là bảo rằng tại chúng tôi nghèo quá nên chúng tôi mới hư hỏng thế này, còn nếu giàu có lên thì chúng tôi sẽ tử tế ngay.
     Còn theo kinh nghiệm của người Đức, và nhiều cộng đồng khác, con người phải tử tế thì mới có được sự giàu có chắc chắn.
     Có vẻ như các vụ việc gần đây cho thấy người Đức kia nói đúng.     
     Sự giàu có hiện nay của một số người ở VN chỉ là sự giàu có giả tạo. Họ vẫn chưa thành người.


        Tại sao người dân tha hóa vậy? Câu trả lời có thể là:
-- đi qua chiến tranh người ta sống cảm giác kẻ sống sót, không thấy cuộc đời có ý nghĩa gì ngoài sự hưởng thụ.
-- chiến tranh không đào tạo người ta thành người lao động bình thường, trước cuộc mưu sinh ngày nay, mỗi người hoàn toàn bất lực.
     Nên nhớ là dưới bom đạn, ảo tưởng lại được nuôi nấng, và đến nay khi ảo tưởng đó tiêu tan, thì con người ta như con trâu đứt mũi, thả mình phiêu lưu trong sự hư hỏng.


   Các nguyên nhân khác:
    Nguyên nhân căn cốt cộng đồng. Ngay từ hồi chiến tranh, tôi nhớ một người như nhà văn Đỗ Chu đã có lúc trầm ngâm nói với tôi rằng đọc lại sách vở xưa, bên cạnh rất, rất nhiều tự hào, nhiều khi chợt thấy dân mình có quá nhiều tính chất của một đám đông lêu lổng(?!).
   Có đúng thế không ? Không đúng hẳn, cũng đúng một phần?


    Nghe chuyện lừa lọc thời nay, luôn luôn tôi nhớ đến Ba Giai Tú Xuất.
   Không hiểu sao truyện này không được nổi tiếng bằng Trạng Quỳnh ? Có lẽ vì thiếu chữ trạng là cái chữ dân ta rất khoái? Mà có lẽ  có cái việc là Trạng Quỳnh chửi vua quan và sứ Tầu để rồi giải thích mọi sự hư hỏng của mình là do phải đối phó với họ -- trong khi Ba Giai Tú Xuất chỉ nói cái việc người ta trở thành lưu manh bịp bợm và lừa lọc nhau …một cách hồn nhiên và đầy hào hứng ra sao.


8-12  
 MỘT NIỀM TIN PHẢNG PHẤT,
   Ngày càng có nhiều người nước ngoài nghiên cứu về người Việt, trong đó có cả những người đi vào những khu vực tối tăm bí hiểm của chúng ta. Như việc cúng bái các hoạt động cúng bái và nghề lên đồng.
    TT&VH  ( tôi quên ghi số) có lần kể về một ông Tây đang làm nghề thầy cúng ở chung quanh Hà Nội. Ông ta đi học cẩn thận. Và ông ta nhận xét người Việt hình như cái gì cũng tin mà lại chẳng tin một điều gì.
      Nhớ một ý của nhà văn Mỹ Kurt Vonnegut về mối quan hệ  của ông với tôn giáo. Ông tự nhận là humanist — người theo chủ nghĩa nhân bản, “một phần có nghĩa là, tôi đã cố gắng ứng xử tử tế xứng đáng mà  không vì kỳ-vọng nào về phần thưởng hay trừng phạt ở đời sau,”
      Lại tự nhận là freethinker — “người suy nghĩ tự do, không bị ràng buộc vì tín niệm tôn giáo hay gì khác, nhưng vẫn trân trọng những điều rao giảng tốt lành của các tôn giáo “.
      Tôi ghi lại đoạn này vì thấy nhiều phần ngược với người Việt.  Chúng ta chỉ cố gắng tử tế vì hy vọng được phần thưởng mà không bị trừng phạt.  Và chúng ta làm việc này một cách dung tục cẩu thả. Chùa chiền ở miền bắc hiện nay sư mô nhiều người không biết chữ Hán, không thuộc kinh kệ và hiểu không đúng kinh kệ. Dân cũng vậy. Điều quan trọng là con người  ít nghiền ngẫm về “những điều rao giảng tốt lành “ của tôn giáo. Chỉ có chủ nghĩa thực dụng đang thắng thế. Thực dụng ở đây tạo nên một tình trạng nước đôi ( = lưỡng trị ), bảo là tin cũng được mà bảo là không tin cũng được.
     
11-12.
 SẢN PHẨM NƯỚC NGƯỜI  TRÊN XỨ MÌNH
   Có một dạo Hà Nội có phong trào nuôi chó Nhật xuất sang Trung quốc. Sau do người mình lai tạp lung tung, nên họ không nhập nữa, người làm ăn tử tế mất nghề.
   Trên đường phố, giờ đây tôi thỉnh thoảng vẫn gặp vài con chó Nhật còn sót lại. Chúng nhem nhuốc bẩn thỉu và cũng lam lũ chúi đầu vào đống rác kiếm ăn như chó bản địa.
     Không muốn nhìn nữa... Chỉ thấy nhớ thuở chúng được chăm bẵm nâng niu… mà thoáng qua một chút ngậm ngùi giùm cho kiếp lưu đầy xứ lạ.


    Lạ lùng cho đất An Nam      
Trời sinh ra thế biết làm sao đây
    Cái gì tốt tốt hay hay
Nước ngoài  đem lại cũng quay ra xoàng 
   Khoai tây trồng hóa khoai lang
 Thủy tiên cụ Tiễu đâm ngang hóa … hành
    Tú Mỡ trong bài Biến đổi, in trên Ngày nay 8-7-1939, đã viết vậy. Ông cười vì những cái tốt đẹp của nước ngoài khi vào xứ mình bị biến dạng như thế nào.


19--12
  NÓNG LẠNH BẤT THƯỜNG       
     Khái quát về không khí thành phố hồi đại lễ nghìn năm, tôi đọc trong một bài báo người ta dịch lại từ The New York Times.
Trong lúc Hà Nội đánh dấu Sinh nhật thứ 1.000, một số người khác thì diễu cợtAs Hanoi Marks 1,000th Birthday, Some Are Cynical  “Tính không hòa hợp là điển hình của Hà Nội ngày hôm nay, một thủ đô Cộng sản đang vội vã trong một tương lai hướng theo thị trường hơn – lớn hơn, nhanh hơn, ồn ã hơn bao giờ hết, tham lam cho một bộ mặt mới như là nó bao quát cả thế giới hiện đại”. “The dissonance was emblematic of Hanoi today, a Communist capital hurrying into a more market-driven future — bigger, faster, noisier than ever, grasping for a new identity as it embraces the modern world.”


       Sở dĩ tôi phải dán lại mấy câu nguyên văn tiếng Anh vì trong đó có từ The dissonance. Dịch tính không hòa hợp là sát nghĩa, nhưng theo tôi nên nói rõ hơn Đây vốn là một từ trong âm nhạc chỉ sự kết hợp giữa các nốt nhạc mà hiệu quả gợi ra chỉ là sự khó chịu. Và như vậy, ở đây, nó muốn nói tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược trong bản thân một cơ chế hoặc một tâm thế  thảng thốt nóng lạnh bất thường của một con người, một xã hội.


      Không có một từ nào miêu tả tình trạng cộng đồng chúng ta hôm nay đúng như từ này.
 
        Chẳng hạn  như trong câu chuyện cả nước sôi sục vì hai trận bóng đá VN—Malaysia và sự đối lập giữa cái nồng nóng hôm trước với cái lạnh lẽo hoang vắng hôm sau.
        Sự nóng lạnh bất thường ở đây hình như đã như một thứ khí hậu bao trùm khiến người ta cảm thấy phải đặt cho mình một câu hỏi: Chung quanh không bình thường hay là mình không bình thường?
            Một khía cạnh nhỏ nữa-- tự nhiên cảm thấy một mất mát quá lớn; từ nay không chừng nhiều người sẽ sinh ra ngờ vực sẽ dửng dưng nếu không muốn nói là còn cười thầm trước những giọt nước mắt ?
           Nhưng làm sao không đổ đốn được như vậy khi mà chứng kiến sự cảm động vô nghĩa của cả một đám đông chung quanh ?  
           Chúng ta không còn biết ta là ai ta sẽ làm được gì, và ta đành lòng làm con tin cho những may rủi hay sao?
           
             Trước 1964, tức là trước chiến tranh, đời sống Hà Nội khá thanh bình, khá hòa hợp. Một trong những bài hát mà bọn đội viên đeo khăn đỏ chúng tôi hay hát là bài nói về tâm trạng của một đứa trẻ khi ngồi trên đu quay, trong đó có câu: Bay lên nào em bay lên nào !
             Đến những năm khoảng từ 1970 trở đi, cuộc sống thời chiến đẩy con người vào những tình thế vô cùng bi đát, người ta thường rất dễ nổi khùng với nhau trước khi hành hạ làm khổ nhau, và câu hát ấy được bọn tôi lúc này đã lớn đọc chệch đi là : Điên lên rồi ông điên lên rồi!
              Cơn điên ấy còn đang kéo dài cho đến hôm nay?


          
20-12
 TÌNH THẾ BẤT LỰC 
  Ở  Hà Nội trước 1954 có một bài học thuộc lòng mà  học sinh tiểu học chúng tôi phải học.
  Hôm nay trời lại mưa phùn
 Đường em đi học lầy bùn khổ chưa
 Trên đầu không nón che mưa
 Có đôi guốc vẹt lại vừa đứt quai
  Một tay che vạt áo dài
 Một tay túm chặt lấy hai ông quần
 Bùn sâu đến mắt cá chân
 Sách em xốc lại mấy lần chực rơi
 Xa xa trống đã điểm hồi
  Em còn đứng mãi ngoài trời đội mưa.


     Vào những ngày mưa phùn giá rét ở HN hôm nay, tự nhiên những câu lục bát ấy cứ lởn vởn trở lại trong đầu. Cái cảm giác lúng túng bất lực từng có từ  hồi tuổi nhỏ hình như kéo dài cho đến bây giờ. Mà có phải riêng mình đâu, chắc những người “ cũng một lứa bên trời lận đận” hôm nay cũng thường có lúc chạnh lòng thấy mình chưa thoát khỏi tình cảnh năm mươi năm trước sáu mươi năm trước…



Friday, December 17, 2010

Ta chịu trách nhiệm về bản thân ta

Người ta sẽ tìm thấy nghị lực lớn lao khi sống với cả lịch sử và cả thế giới… cái điều tưởng như quá to tát ấy thật ra lại quá thiết thực, nên cũng là điều ta cần tự nhủ.



Ngày Đại hội sinh viên toàn quốc kết thúc (17.2.2009) cả trong các báo cáo chính thức lẫn trong những lời bàn bạc trao đổi bên ngoài, tôi đọc được một khía cạnh mới trong ứng xử của xã hội với giới trẻ.



Từ nay, họ không còn bị coi như một lớp người ngây thơ trong sáng quen sống với lời khen và làm theo những cái mẫu có sẵn. Trong chừng mực có thể, họ được giới thiệu bức tranh chân thực về đời sống đất nước cũng như chỉ ra những non kém của chính họ.



Thái độ tôn trọng đó chính là tiền đề cần thiết để một lời yêu cầu mới được phát ra. Lớp trẻ phải tập quen với vai trò chủ nhân và họ sẽ phải chịu trách nhiệm về tương lai của chính mình cũng như của xã hội. Tôi ngờ rằng trong tâm tư sâu kín của người thanh niên biết suy nghĩ, những định hướng này là những gợi ý tích cực. Tuy nhiên, đây chỉ là với một số ít. Còn nếu nhìn ra cả đám đông, thì vấn đề lại rất phức tạp.



Từ những hành động của nhiều người trẻ hiện nay, tôi đọc ra những lý lẽ phản bác:

- sở dĩ chúng tôi đến nông nỗi như thế này là tại người lớn quá hư hỏng!

- chúng tôi có được dạy bảo tử tế đâu mà đòi chúng tôi tử tế!

- muốn tốt phải có điều kiện … Chúng tôi làm gì có cái đồ xa xỉ đó?



Những lời than vãn oán trách này có cái lý của nó. Nhưng tôi cho rằng không thể dùng để biện hộ cho những buông trôi bừa bãi thậm chí những phá phách thác loạn. Nếu tự mình làm hỏng mình thì chính là chúng ta trở thành vật hy sinh của những mưu đồ xấu.



Bởi tin rằng không phải người ta dễ dàng làm theo những điều tự mình coi là đúng, tôi muốn chia sẻ một kinh nghiệm nhỏ. Là đừng nên nghĩ rằng thế hệ trẻ hiện nay khổ nhất. Hãy tự đặt mình vào địa vị của một người trẻ ở Bắc Triều Tiên, ở Iraq, ở Afghanistan, ở nhiều nước châu Phi... để thấy có phải thế giới này đã tốt đẹp hết đâu.



Hoặc lùi lại trong thời gian, nếu sống lại kỹ lưỡng với các thế hệ trẻ Việt Nam thời trước các bạn sẽ thấy thời nào thanh niên cũng có những vấn đề tương tự. Và bài học cuối cùng vẫn là nghiêm túc đòi hỏi mình, chọn con đường khó mà đi, vượt lên chính mình.



Kiến thức chân chính sẽ là chỗ dựa thiết yếu cho mọi sự phấn đấu. Miễn là chúng ta chịu học. Người ta sẽ tìm thấy nghị lực lớn lao khi sống với cả lịch sử và cả thế giới… cái điều tưởng như quá to tát ấy thật ra lại quá thiết thực, nên cũng là điều ta cần tự nhủ.



Hãy biết sống ngay cả khi cuộc đời trở nên không thể chịu đựng được nữa



- Câu này là của Pavel Korsaghin, nhân vật chính trong Thép đã tôi thế đấy, tôi thường nhớ lại mỗi khi gặp những tình cảnh gần như tuyệt vọng.

Còn dưới đây là mẩu đối thoại giữa hai nhân vật trẻ trong một tiểu thuyết của nhà văn Tiệp Jan Otchenásek, cũng với cái ý tương tự:



- Tôi chỉ sợ bây giờ không sửa chữa được gì nữa. Tất cả thế gian là một sự lừa dối, sự tàn nhẫn và máu, tính ngẫu nhiên độc ác và cái chết chẳng để làm gì cả. Tôi sợ hãi cả thế giới, tôi không tin ở nó, không tin ở những cái tôi sẽ tới sau này, tôi không muốn nhình thấy tất cả những cái đó.



- Không, cô bé ơi, không có thế giới nào khác cả, cần phải sống ngay trong thế giới này, do đó cần phải tác động vào nó để thay đổi nó. Chưa bao giờ và cũng chẳng bao giờ nó hoàn thiện. Có thể là nó vô nghĩa, nhưng chúng ta cần phải mang lại cho nó một ý nghĩa. Chính vì như thế chúng ta cần sống và không có cách nào khác, chúng ta cần chết.



Tôi đã ghi được đoạn văn này từ thời còn trai trẻ và cứ tưởng nó chỉ cần cho người ta trong những năm chiến tranh cay đắng. Hóa ra, hôm nay, vẫn thấy nó đúng. Chép ra đây không biết có bạn đọc nào cùng chia sẻ, chỉ biết với chính tôi nó vẫn đang có sức thuyết phục, tôi thường đọc lại để tự nhủ mình mỗi khi gặp những chuyện ngang trái.



Theo Những chấn thương tâm lý hiện đại (2009 ))

Thursday, December 16, 2010

Manh mún rời rạc, kém cỏi trong kết dính, hòa nhập

Đồng bằng sông Hồng, như P.Gourou nói, là một trong những vùng đất có mật độ dân số cao nhất thế giới.

Nhưng nét đặc biệt của cư dân nơi đây là sống rời rạc. Cũng có những làng có tới ngàn dân, nhưng tuyệt đại đa số là các làng nhỏ. Theo Vũ Quốc Thúc, trước 1945, ở Thái Bình có hai làng chỉ có 13 -24 cư dân ; ở Ninh Bình, có những làng không quá 10 dân. Diệp Đình Hoa còn cho biết từ đầu thế kỷ XX vẫn còn không ít làng chỉ có một xuất đinh tức là một người đàn ông ( Người Việt vùng đồng bằng bắc bộ, nxb Khoa học xã hội, H.2000 )



Ăn ở rời rạc như thế, người ta lại quá tin ở cái làng của mình, và đẩy nó lên thành môt giá trị tuyệt đối. Các làng ở cùng quanh chân một ngọn núi đều đặt tên riêng cho ngọn núi ấy . Như núi Thiên Thai ở Bắc Ninh có đến 7 tên. Hoặc nếu có một con sông chảy qua các làng thì đến làng nào, sông được đặt tên theo làng đó. Cũng thờ chung thánh Tản Viên làm thành hoàng, nhưng mỗi làng, mỗi vùng lại nghĩ ra một cách cúng tế riêng, có làng cúng trâu có làng cúng bò, làng cúng lợn đen, làng cúng gỏi cá…

Xã hội được hình thành theo lối vón cục. Cả nước đâu cũng thấy chùa chiền, nhưng toàn là những chùa nhỏ lụn vụn.

Chùa Một Cột là gì nếu không phải là một chứng tích rõ ràng của sự lỡ làng, ở đó một ý định độc đáo không được hiện thực hóa bằng một hình thức hoành tráng tương xứng.

Chợ quê xưa không phải là một cơ cấu có phân ra các khu vực rõ ràng, sự nối tiếp chặt chẽ, chợ chỉ là một tập hợp của các hàng rong. Trước thời hiện đại, các đô thị của chúng ta cũng được hình thành tùy tiện bát nháo như vậy.

Trong khi đó thì theo Đặng Thai Mai từ đời Tần, xã hội Trung quốc đã đạt đến trình độ “ Thư đồng văn xa đồng quỹ ( sách cùng một loại chữ, xe cùng một loại kích cỡ ).

Vì thói quen, và cũng vì muốn được buông thả rồi sau thì vì ương bướng, tùy tiện không chấp nhận những gì khác mình, người ta không muốn sống tập trung, và điều này làm cho trình độ làm ăn thêm trì trệ mà cách nghĩ của con người cũng hèn kém đi.

Manh mún rời rạc gần như đã trở thành “ khí hậu “ của xã hội Việt.

Tương truyền là ở nhà Cao Bá Quát có dán đôi câu đối “ Nhà trống ba gian, một thày một cô một chó cái – Học trò dăm đứa nửa người nửa ngợm nửa đười ươi “. Đọc lên người ta thường chỉ nói tới tinh thần khinh bạc mà quên rằng ấn tượng chính toát lên ở đây là cái gì hoang lương ,lơ thơ, vắng vẻ, một thứ “tèo teo cảnh” nói theo chữ của Nguyễn Gia Thiều .

Thế thì còn nói chi đến việc truy tầm chân lý, mở mày mở mặt ra với thiên hạ ?

Nho gia châm ngôn lục ( Sách ghi những châm ngôn của nhà nho ), có câu : “Thù thù nhi xứng chi, chí thạch tất mậu ; thốn thốn nhi độ chi, chí trượng tất sai “. Đại ý muốn lưu ý rằng kẻ quen suy nghĩ trong một phạm vi chật hẹp ( cân từng thù , đo từng tấc ) khi phải bao quát những vấn đề rộng lớn( cân từng thạch , đo từng trượng ) thả nào cũng làm hỏng việc.

Chuyện này với chúng ta ngày nay là một ám ảnh. Manh mún rời rạc chi phối chúng ta trong xây dựng một khu đô thị làm một con đường cho tới tổ chức các hoạt động thông tin, ra một tờ báo. Tầm nhìn của nhiều người khi đứng ra quản lý công việc quốc gia vẫn là tầm nhìn làng xã , từ đây đã để lại bao bi kịch .

Manh mún rời rạc cũng làm cho người Việt rất khó phối hợp với nhau trong công việc .

Adam Smit viết ngay trong chương I cuốn Của cải của các dân tộc : Một xí nghiệp chỉ có 10 công nhân, với những máy móc đơn sơ của thế kỷ XVIII, có thể làm 48.000 đinh ghim trong một ngày công, trung bình một người làm được 4.800 đinh. Còn nếu họ làm ăn riêng lẻ và không kết hợp được với nhau thì mỗi người không thể làm nổi 20 đinh, thậm chí là một đinh. Theo A. Smit, sự phân công lao động không chỉ mang lại mang lại cho người ta năng suất, sự khéo léo mà còn óc phán đoán đúng đắn tức là khả năng cải tiến công việc, để ngày mỗi hoàn thiện nó, ngày mỗi đưa nó đến chỗ tinh xảo.

Nhưng sự phân công và phối hợp lại là yếu tố khó thực hiện nhất trong trường kỳ lịch sử của người Việt. Ở các làng nghề, việc tổ chức sản xuất hình thành theo yếu tố gia tộc. Chỉ có máu mủ ràng buộc. Ngoài ra ,không ai cộng tác được với ai.Giữa các làng thì lại càng không thể cộng tác nếu không nói xu thế chủ yếu là dấu nghề và bài bác nói xấu nhau.

Tôi nhớ dăm năm trước, có lần đi qua phố Bần. Nơi đây nổi tiếng với thứ nước tương quen thuộc của Bắc Bộ. Nhưng một đoạn phố nhỏ trên trăm mét mà tới vài chục hàng tương, hàng nào cũng mấy cái chai La Vie xúc sạch đổ tương vào, trông đều đặn đến phát ngán. Liệu một ngày sẽ có bao nhiêu người mua không ai cần biết. Lại càng không ai đứng ra tính toán xem chỉ cần một cửa hàng bao nhiêu người đứng bán là đủ .Người ta chỉ nghĩ là hàng bên cạnh còn mở thì mình vẫn mở . Đi làm nghề khác ư, không ai muốn và đây là cách nghĩ từ xưa chứ không phải hôm nay mới có

TT&VH 18-8-07

Friday, December 10, 2010

Những lời rao hàng sáng giá

(Nghệ thuật quảng cáo sách xưa và nay)

Với tất cả cái thân tình và sự sắc sảo phải có, một khách nước ngoài đã vui vẻ nhận xét về một số khách sạn ở ta: “Bây giờ những người ở đây rất muốn làm vừa lòng khách. Có điều, làm thế nào để khách vừa lòng thì họ không biết". Nhưng đấy không phải là cái trớ trêu độc quyền của ngành du lịch. Phải nói là tình trạng trớ trêu ấy ngự trị trong cả loạt khu vực hoạt động khác. Nhiều việc ta đã từng làm, song có một dạo coi là việc không đáng làm nên bỏ hẳn. Nay tính chuyện làm lại, nhưng hình như đã quên hết cả cách làm. Cứ lúng túng như thợ vụng mất kim, không sao xoay sở nổi để làm… cho coi được một chút.



Ví dụ như chuyện quảng cáo sách, ở đây chỉ nói riêng về quảng cáo cho các tác phẩm văn học. Suốt mấy chục năm (từ 1986 về trước), việc làm sách được bao cấp, xã hội luôn luôn đói sách nên không ai nghĩ tới chuyện quảng cáo cho sách làm gì. Thỉnh thoảng lắm, các nhà xuất bản mới cho in trên một vài tờ báo danh sách những sách mới. Sách mới của nhà xuất bản X… Sách mới của nhà xuất bản Y… Vậy mà người ta đã coi là đủ lắm rồi. Cũng chẳng cần thông báo chi cả, mà vẫn ùn ùn người đến xếp hàng cửa sau, chờ ký duyệt giấy giới thiệu để xin mua, thì việc gì phải lo quảng cáo cho thêm rách việc!

Khi không cần quảng cáo, không muốn quảng cáo, người ta cũng có ngay những lý do để chê bai nó. Rằng nó làm hại tới mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc. Rằng nó là công việc của những anh kiểu Xuân-tóc-đỏ, nói phét ăn tiền. Rằng nó gần như là bịp bợm. Mà bịp bợm thì… là chuyện dễ ợt, lúc nào làm chẳng kịp!

Những nhận xét ấy cũng có cái lý của nó. Trong cơ chế thị trường, quảng cáo nhiều khi tung hoành quá đáng khiến cho thật giả lẫn lộn, hay dở không phân biệt nổi. Những lời lẽ huênh hoang ở đây không bao giờ thiếu, muốn lấy bao nhiêu ví dụ cũng được. Có điều, không phải tất cả quảng cáo xưa nay là như vậy. Do chỗ dễ dàng bị tai tiếng, nên công việc này thật ra lại có vẻ nghiêm túc cao sang riêng cho nó! May thay là từ đầu thế kỷ này, nhiều nhà xuất bản ở ta đã tung ra những quảng cáo đáng được chúng ta khâm phục. Được đăng rải rác trên những Phong Hoá, Ngày Nay, Thanh Nghị, Tri Tân, Trung Bắc chủ nhật…, những quảng cáo dưới đây có liên quan đến những tác phẩm mà ngày nay, chúng ta còn đang in lại, đang thích đọc, nên có thể nói những quảng cáo này đã được thời gian kiểm nghiệm.

- Quảng cáo Giấc mộng con I và II của Tản Đà: Một thiên tiểu thuyết rất diễm lệ… Tả hai giấc chiêm bao chơi khắp thế giới, lên đến cả thiên đường. Rồi nhiều công phu khảo cứu, rất nhiều điển cố văn chương. Lời văn đẹp đẽ du dương như cung đàn nhịp phách.

- Quảng cáo Hương cố nhân: Tập thơ hay nhất của Nguyễn Bính. Mối tình cao quý giữa hai nhà thơ nổi tiếng hiện thời.

- Quảng cáo “Ngõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp: Một thế giới luộm thuộm nheo nhóc ồn ào kỳ dị, với bao tấn kịch, hoặc vô cùng bi ai, hoặc hào hùng quyết liệt.

- Quảng cáo Nửa đêm: Nam Cao là một nhà văn chuyên tả phong tục thôn quê Việt Nam với một ngòi bút danh thép. Nếu các bạn muốn hiểu người dân quê Việt Nam một cách sâu sắc, nếu các bạn muốn có những kiến thức rất thực về thôn quê Việt Nam, nói tóm lại nếu các bạn muốn hiểu đồng bào một cách chu đáo, các bạn đều nên có cuốn Nửa đêm của Nam Cao.”

Quảng cáo Quê người của Tô Hoài: “Dưới ngòi bút tác giả, tất cả cái xã hội lố lỉnh đáng thương ở nơi bờ tre đồng lúa được phác hoạ rất tinh tế, cặn kẽ”.

- Quảng cáo Tuỳ bút: “Đã đọc Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, ta nên đọc cuốn Tuỳ bút của ông để ta cũng biết sống một cách chăm chỉ, có thi vị, thấy cái đẹp ở khắp các việc, người và cảnh ở chung quanh ta” v.v… và v.v….

Những ai muốn ghét bỏ quảng cáo, đọc một số đoạn “văn bia” nói trên, chắc đã mang máng cảm thấy không nên thành kiến, vì thành kiến là vô lý. Trong đa số trường hợp (với Nửa đêm, Ngõ hẻm, Quê người…), quảng cáo đã làm được công việc tối thiểu là tóm tắt chính xác nội dung và phần nào phác hoạ cho thấy các yếu tố làm nên phong cách ngòi bút đã viết nên quyển sách. Nếu mấy câu viết về Hương cố nhân của Nguyễn Bính nên được coi là một thứ tài liệu văn học sử, thì những dòng quảng cáo cho Tuỳ bút thật đã chỉ ra được cốt cách Nguyễn Tuân, nó là hiệu quả mà giờ đây, phải nhiều bài phê bình dài dài mới làm nổi. Từ khoảng 1987 tới nay, sách ra càng nhiều, yêu cầu cạnh tranh càng lớn, thì người ta càng hay nghĩ tới quảng cáo. Tội tổ tông truyền của quảng cáo đã được xoá bỏ, không ai bĩu môi chê bai quảng cáo nữa.

Nhưng làm thế nào để quảng cáo thì không phải dễ. Bằng chứng là tất cả những cuốn sách được thừa nhận là nhỉnh hơn cả trong mấy năm gần đây chưa có cuốn nào ra đời với một lời quảng cáo thật đích đáng. Trên các phương tiện truyền thông, thỉnh thoảng người ta có nghe nhắc tới cuốn sách này cuốn sách khác, thì trong đa số trường hợp là liên quan đến sách thương mại, lời rao hàng đặc giọng chợ búa, nên khó lòng nói là những quảng cáo nghiêm chỉnh. Một lời quảng cáo trên báo thường dễ bị người ta kiểm tra lại (có phải vì thế mà những lời rao hàng lộ liễu không mấy khi thấy xuất hiện trên mặt báo chăng?). Nhưng chính bởi vậy báo chí vẫn là địa bàn rộng rãi để những người yêu văn học và giỏi quảng cáo thi thố tài năng. Nếu bạn là một người còn “nghiền” sự đọc sách, tôi cầu chúa cho bạn có được một tờ báo tin cậy, ở đó, mỗi cuốn sách quan trọng (cả sách trong nước lẫn sách dịch) đều được báo nhắc tới trong vài dòng quảng cáo được viết công phu. Đó vẫn chỉ là những nhận xét ngắn gọn, nhưng về sau bạn thường phải nhớ lại vì nó đã tìm ra những lời lẽ xác đáng để nói về quyển sách mà bạn đã đọc. Những lời rao hàng sáng giá ấy, tự chúng đã là những người môi giới đầu tiên. Và là một bộ phận của công việc xuất bản trong mỗi thời đại.. 

Trong chuyện cũ văn chương

Saturday, December 4, 2010

Thích ứng để tồn tại.

Thử góp phần cắt nghĩa
sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội ngày nay


GIÁ CẢ LEO THANG SẼ LÀM CHÚNG TA HƯ HỎNG RA SAO?

Đã lâu lắm rồi hôm ấy, Dần, nhân vật chính trong truyện ngắn Một đám cưới (Nam Cao viết năm 1944) mới có cái quyền đi chợ. Chẳng qua là nhân ngày cưới của cô. Ông bố dặn mua lấy hai xu chè. Cô gái trả lời hai xu bây giờ ai bán. Và cô thẽ thọt nói thêm:



-- Ông lão cả đời không đi chợ, cứ tưởng chè rẻ lắm. Quen với ngày xưa, độ một xu một ấm. Bây giờ năm xu, nấu đặc chỉ được một ấm là hết xoẳn.

Có thể xem đây như bằng chứng đầu tiên về tình trạng giá cả leo thang trong xã hội mà văn chương có dịp ghi nhận.

Hoá ra từ hồi nào, nền kinh tế ở xứ này đã là một cái phao bập bênh và những thay đổi tận đâu đâu trên thế giới đã ảnh hưởng ngay đến người dân thường ở những vùng đất xa xôi hẻo lánh bậc nhất.

Trước tình trạng gần như không thể kiểm soát nổi ấy, người ta bàn đến cách đối phó.

Tôi đồ chừng hàng ngày, trong các gia đình, trong các nhóm bạn bè ngồi quán tán gẫu, và trong đầu óc từng người nữa -- như là có hàng ngàn hàng vạn cuộc hội thảo nho nhỏ diễn ra liên tục, ở đó mọi người nhao nhao đăng đàn diễn thuyết trao đổi ý kiến.

Than phiền, kêu la.

Ngậm ngùi lo lắng.

Bảo nhau phải thắt lưng buộc bụng...

Riêng tôi thì lại hình dung ra một loại kịch bản khác. Một số người … mặc kệ. Họ tự nhủ:

--- Dễ người dễ ta, khó người khó ta.

--- Rồi sẽ có cách, không chết được mà sợ. Nếu gặp khó mà chết thì chúng mình chết từ hồi tám hoánh nào rồi !

-- Anh nào biết cù nhầy là anh ấy sống.

Con người nơi đây vốn quen thích ứng với mọi hoàn cảnh. Kẻ thông minh là kẻ không biết sợ. Các quyết định mới được hình thành nhanh lắm.

Giả sử như tôi đang có một cửa hàng thuốc tây.

Có mà ngớ ngẩn thì mới sợ rằng thuốc nhập giá tăng rồi không ai mua. Còn có người ốm thì còn có người cần thuốc, mà lúc cái bệnh nó đã thúc vào lưng thì giá cắt cổ vẫn cứ phải xì tiền ra.

Vậy thì giá nhập tăng một, ta tăng hai ba, và như vậy chuyện cân thịt, lít xăng leo thang có ăn nhằm gì, không chừng lại là một cơ hội đẹp để ta hốt của.

Ấy cái khó ló cái khôn chính là như thế.

Sự thông minh tính toán kiểu ấy không phải độc quyền của dân buôn thuốc. Một người đã nghĩ được, thì mọi người ở mọi ngành nghề đều có thể có ý nghĩ tương tự.

Ai nấy dường như có thêm động cơ để mạnh tay hơn trong những việc lâu nay còn vừa làm vừa run.

Các nhân viên kiểm lâm yên tâm hơn trong việc thông đồng với đám lâm tặc nhằm triệt phá rừng.

Dân hải quan hoặc thuế vụ có cớ để tự nhủ rằng “ không vòi vĩnh ai sống nổi ”?

Nhà khoa học khua nốt mấy công trình nghiên cứu dang dở mang nghiệm thu, để còn kịp xin kinh phí đợt mới.

Bất chấp sự tăng tốc của mọi người, bác trông giữ xe máy tự lúc nào đã nhẹ nhàng tăng giá từ một ngàn lên thành ngàn rưỡi hai ngàn.

Còn người nông dân tự do thì không có gì phải hối hận trong việc chiếm dụng đất đai ven các quốc lộ, kéo nhau đi đào vàng hoặc khai thác than thổ phỉ, rồi tràn vào thành phố cân điêu cân thiếu khi đạp xe bán rong một vài mặt hàng, kể cả bán những thứ hoa quả có phun thuốc sâu vượt quá nồng độ cho phép...

Tạm thời có thể mô hình hoá thành mấy cách phản ứng:

1/ người sống bằng gian dối có cớ để gian dối.

2/ người tham nhũng hợp pháp hoá được việc ăn cắp của mình.

3/ người sản xuất không cần phân vân khi đưa ra hàng kém hàng hỏng.

Mỗi người có thêm lý do để hạ thấp chất lượng cuộc sống mà mình có tham gia. Không ai còn thấy chướng khi sự tồn tại của bản thân được đặt cao hơn lợi ích xã hội.

Một nhân vật trong Anh em Karamazov của Dostoievski từng bảo “ Sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, đó là truyền thống của họ Karamazov nhà ta.” Không phải người Nga, nên không quen khái quát thành công thức trừu tượng, nhưng trong bụng nhiều người Việt mình hôm nay đã tự nhủ thầm như thế.

Điều dự đoán cuối cùng của tôi: Ngay cả các đám ăn nhậu rồi ra cũng đông vui hơn.

Muốn chống lại tình trạng giá cả leo thang mà không ăn uống cho no say thì lấy đâu ra sức hở trời?

Mỗi lần tan cuộc là một lần sảng khoái, trong bụng chỉ còn có cách tự nhủ thời buổi này tiết kiệm làm gì, không hưởng thụ ngay bây giờ thì có nghĩa không bao giờ ta được hưởng thụ cả !

Trong cuộc nhảy múa để tồn tại, một thứ men say của hiện sinh tràn đến tự lúc nào làm cho người ta ngây ngất. Cái sự thụ động mà cô Dần của Nam Cao xưa chấp nhận đã thuộc về một dĩ vãng quá xa; giá kể có sống lại, chắc nhân vật ông bố trong truyện Một đám cưới sẽ phải mấy lần lắc đầu le lưỡi:” Èo ! mẹ ơi !..“



Đã in trong Những chấn thương tâm lý hiện đại (2009 )

Monday, November 29, 2010

Nên hiểu thế nào về tiếng cười Thượng Đế

 Còn gì khổ hơn trong những cuộc trò chuyện tiếp xúc hàng ngày chúng ta luôn gặp phải những bộ mặt đưa đám. Ngược lại thật dễ chịu khi được sống bên cạnh những người vui vẻ. Thế nhưng chung quanh tiếng cười cũng có thể có dăm bảy cách hiểu...



Một chút hư vô giả tạo

Những cuộc tranh luận nho nhỏ là một bộ phận trong sinh hoạt tinh thần nói chung của con người hiện đại. Theo lẽ thông thường sau một hồi bàn cãi thể nào cũng có kẻ thua người được, người kém thế hơn nếu có đầu óc phục thiện hẳn phải nghiêm chỉnh nhìn nhận chỗ kém cỏi của mình. Đằng này ở ta những người thua cuộc có một lối thoát khỏi thế bí rất lạ. Là lật ngược câu chuyện, coi mọi việc chẳng qua là trò đùa và cười, cười lấy được. Tiếng cười ở đây là một thứ màn ngụy trang, một cách lấp liếm cốt quên mọi chuyện cho nhanh, thực chất là hành động của con đà điểu rúc đầu vào cánh, lảng tránh tất cả. Đôi khi lại thấy lối cười khẩy, ra cái điều đây chỉ là chuyện vặt ta không thèm chấp, cười để làm nhòe câu chuyện trong một màn sương hư vô. Nó tạm thời gỡ cho người thua cuộc đỡ mất thể diện, thậm chí còn làm cho anh ta có cái vẻ sang trọng hơn người, song thực chất cuối cùng thế nào thì cũng chẳng thoát khỏi mắt thiên hạ.



Có nên biến tất cả thành trò đùa?

Trong một đoạn trước, chúng tôi đã bàn qua tới cái cách của một số người, nói như Nguyễn Văn Vĩnh, là gì cũng cười. Những tiếng cười mà Nguyễn Văn Vĩnh miêu tả thường mang tính cách thụ động và là một lời thú nhận về sự bất lực mà người ta không giấu nổi khi không biết nên có thái độ thế nào trước đời sống.

Nhưng còn một loại gì cũng cười khác, người ta chủ động cười, muốn dùng tiếng cười hóa giải tất cả. Có thể lấy một chuyện đã quá xưa để liên hệ:

Các sử gia thời phong kiến ở ta xưa vốn tiết kiệm chữ nghĩa ít khi nói về tình cảm cá nhân của các nhân vật lịch sử, nhất là trong chuyện vui đùa. Vậy mà họ vẫn phải dành cho Lê Long Đĩnh (tức Lê ngọa triều) một ít dòng ngoại lệ. Theo cách trình bày của Khâm định Việt sử thông giám cương mục, thì ông vua chết trẻ này (sinh 985, mất 1009) có lẽ là vị vua hay cười nhất trong lịch sử Việt Nam. Nhiều hành động của vua được miêu tả chỉ có một chủ đích là mua vui: Sai một gã phường chèo chuyên lóc thịt người có tội rồi bảo rằng nó không quen chịu đau và "cười ha hả"; bắt tù binh trèo lên ngọn rồi ở dưới chặt cây, thấy cây đổ thì "cười khanh khách" (Chữ trong ngoặc là lấy nguyên văn từ cuốn sách nghiêm túc đã dẫn). Cái sự thèm cười của vua phát triển đến mức Khâm định Việt sử thông giám cương mục còn kể "mỗi khi coi chầu, thể nào nhà vua cũng sai những kẻ khôi hài đứng hầu ở hai bên, nếu có ai nói gì thì chúng liến láu nói theo mà cười ồ, để làm át và đánh lạc những tiếng tâu bày việc nước của các quan". Nếu những tiếng cười nói trên ít nhiều có mang những nét bệnh hoạn, thì cái cười cuối cùng kể ra ở đây phơi bày một quan niệm sống, một trình độ của văn hóa trị nước mà nhà vua lúc ấy là kẻ đại diện. Dù có thể là Lê Long Đĩnh không có ý thức, song suy cho cùng, qua cái việc cười giễu cả những chuyện nghiêm chỉnh như thế này, nhà vua dường như muốn bảo rằng không có cái gì trên đời là quan trọng, cái gì cũng có thể mang ra làm trò đùa, kể cả những việc liên quan đến vận mệnh của đất nước. Cái bệnh thích cười như thế không ai có thể thương được!



Liệu có thể xem là những kỳ tích?

Từ bao đời nay, nhu cầu về tiếng cười vẫn là một nhu cầu chính đáng. Bởi lẽ vậy mà văn học dân gian nước nào thường cũng có một bộ phận gọi chung là truyện cười, riêng ở nước ta người xưa còn sáng tạo nên những truyện Trạng với một nhân vật xuyên suốt lấy chuyện chọc ghẹo thiên hạ cho mọi người vui làm lẽ sống. Sở dĩ người xưa cười nhiều như vậy có lẽ là vì đời sống hàng ngày đã khổ quá, trước những tai họa tự nhiên và xã hội, con người ta nhiều phen bất lực không có cách nào đề kháng, phải lấy tiếng cười để giải tỏa mọi ẩn ức. Suy cho cùng, đó là chính là một thứ biến tướng của phép thắng lợi tinh thần không ai bảo ai song đã lây truyền từ đời nọ sang đời kia, và tuy không được định danh đàng hoàng, song ra đời còn sớm hơn sự áp dụng còn uyển chuyển hơn ngón võ của chú AQ bên nước Tàu mà ngày nay nhiều người vẫn ham đọc. Có điều, gần đây một số người có xu hướng tuyệt đối hóa những tiếng cười này và đề cao chúng như một chiến công trên phương diện tinh thần. Mấy năm nay, các loại sách ghi chép tiếng cười dân gian là một món kinh doanh có lãi và được xuất bản thường xuyên, ví dụ như truyện Trạng Lợn. Trong khi vẫn kể toàn chuyện ông Trạng ngẫu nhiên may mắn ra sao, nói liều gặp thời như thế nào thì một trong những cuốn sách loại này được đặt tên khá mĩ miều là Kỳ tích Trạng Lợn, với hàm ý biểu dương vô điều kiện ông Trạng dân gian. Thật chưa bao giờ hai chữ kỳ tích lại bị lạm dụng đến thế.

Tiếng cười đối lập hay tiếp tục sự suy nghĩ?

Khi ca ngợi tiếng cười, một số người gần đây trích dẫn lại câu tục ngữ Do Thái mà nhà văn Pháp gốc Séc M. Kundera dẫn ra nhân bàn về tiểu thuyết: Con người suy nghĩ còn Thượng đế thì cười (Milan Kundera Tiểu luận, Nguyên Ngọc dịch, NXB Văn học, 2001). Người ta cố ý gán cho câu tục ngữ tuyệt diệu ấy một nội dung thực dụng: cái cười là cao hơn sự suy nghĩ, mọi sự lao tâm khổ tứ đều vô bổ chẳng hề mang lại một lợi ích cụ thể, vậy tốt hơn hết là cười cho xong, cười thoát thân, cười để khỏi bận tâm trước chuyện đời rắc rối. Nhưng liệu có nên dừng lại ở một cách hiểu theo nghĩa đen như vậy? Theo tôi hiểu, suy nghĩ là cả một đặc ân mà Thượng đế dành riêng cho con người, trong khoa học nhân văn có một từ riêng mang tên homo sapiens để chỉ một giai đoạn phát triển quan trọng mà loài người đạt tới, kể từ đó nhân loại mới thực sự trưởng thành. Mặc dù không bao giờ đạt tới chân lý tuyệt đối, song nhờ liên tục suy nghĩ, con người vẫn ngày càng tiến tới trong sự nhận thức đời sống. Có điều trong khi sống với niềm tin "Tôi tư duy vậy tôi tồn tại", thỉnh thoảng họ cần một chút nghỉ ngơi vui vẻ trước khi đi tiếp và tiếng cười được đề cao là với nghĩa ấy, bản thân tiếng cười của Thượng đế nói ở đây cũng đầy chất trí tuệ. Nên chú ý thêm là trong kho từ vựng của Kundera có một từ mà thường người ta để nguyên không dịch, đó là kitsch. Theo ông, kitsch là cái nhu cầu tự nhìn mình trong tấm gương dối trá, nó cũng là thái độ của kẻ muốn tự làm vui bằng bất cứ giá nào mà Kundera không bao giờ chịu nổi. Thành thử nếu cho rằng câu tục ngữ trên được đưa ra như lời kêu gọi vứt bỏ tư tưởng và thay bằng tiếng cười dễ dãi rồi tự cho rằng như thế là mình đã đạt tới sự hiền minh của Thượng đế, thì đó không chỉ là đi ngược với trí tuệ dân gian mà còn đi ngược với chính Kundera nữa.

Thursday, November 18, 2010

Hồn thơ siêu thoát

Hàn Mặc Tử trong sự so sánh với

các thi sĩ đương thời Xuân Diệu,

Huy Cận, Chế Lan Viên và Nguyễn Bính



Những năm gần đây, báo chí đã đăng tải nhiều bài phê bình – nghiên cứu có giá trị về thơ Hàn Mặc Tử. Ở đây chúng tôi chỉ nói thêm về cái độc đáo của nhà thơ này.
Cần nói ngay là theo chúng tôi, phần tiêu biểu trong Hàn Mặc Tử không phải là những Tình quê, Mùa xuân chín, Đây thôn Vĩ Dạ; cái đó cũng là Hàn Mặc Tử, lại là thơ rất hay nữa, nhưng không phải tinh chất của tác giả, như những Bẽn lẽn, Trăng tự tử, Trăng vàng trăng ngọc, Hồn là ai, Đêm xuân cầu nguyện… nói chung là các bài trong Đau thương, Xuân như ý, Thượng thanh khí. Phần thơ tôi nói ở đây ít được tuyển chọn, không được mang cho học sinh học, không được ngâm véo von trên ti vi, trên đài, nhưng lại là những gì chỉ Hàn Mặc Tử mới viết nổi, nên cũng là phần gợi ra suy nghĩ và cần mang ra so sánh.
1. Hàn Mặc Tử và Xuân Diệu
Theo Hoài Thanh, đương thời Xuân Diệu là thi sĩ có bộ y phục tối tân hơn cả. Tác giả Thơ thơ được coi là mới nhất trong các nhà Thơ mới và chỉ những người còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu.
Đấy là những nhận xét chính xác với nghĩa: nếu như có một khuôn khổ thì Xuân Diệu đã đi đến hết khuôn khổ đó. Còn nếu so sánh với Hàn Mặc Tử thì có thể nghĩ khác. Hàn Mặc Tử vượt ra ngoài cái khuôn khổ thông thường, khiến người ta ngán luôn, không muốn nói tới nữa. Hàn Mặc Tử tự nhận: “Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ? Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật”. Ở Xuân Diệu, không có cái bí mật ấy để mà phản bội. Cùng lắm Xuân Diệu mới đắm say, chứ chưa mê man đến mất trí như nhà thơ bị trọng bệnh. Cảm giác về trăng trong Xuân Diệu kể cả khi đó là cái thứ “ linh lung bóng sáng bỗng rung mình” hoặc “trăng ngà lặng lẽ như buông tuyết” vẫn là loại cảm giác thông thường. Còn trăng trong Hàn Mặc Tử thì ma quái, thoắt thế này, thoắt thế khác. Hình như cả trong thơ phương đông lẫn phương tây, chưa ở đâu trăng lại được mô tả lẫn với máu huyết và lai láng, nhày nhụa như trong các bài thơ Hàn Mặc Tử làm khi đau ốm. Lại nữa, trăng ở đây ít nhiều thường có quan hệ với nhục cảm. Trăng khêu gợi thèm muốn. Giữa trăng và đối tượng để người ta chung chạ ân ái như là có sự hóa thân, đắp đổi. Trăng đồng lõa, xúi bẩy, trăng lại hứa hẹn là sẽ che chở thậm chí sẽ ban tặng thêm khoái cảm nếu cơn chung chạ đó xảy ra.
Có một thời, mỗi khi muốn bảo Xuân Diệu là quá tây, người ta lại dẫn ra bài Vội vàng với câu kết:
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!
Giả thử được xếp lẫn vào thơ Hàn Mặc Tử, câu thơ đó không gợi ra phản ứng gì đặc biệt. Nó còn tế nhị và lành mạnh quá, trong khi thơ Hàn Mặc Tử còn sống sượng và bệnh tật hơn nhiều.
Xuân Diệu mới cảm thấy cái lạnh buốt ở chung quanh. Hàn Mặc Tử nhập vào, trở thành chính cái lạnh đó.
Hồn thơ Xuân Diệu như một con diều bay lên thanh thoát, còn cái dây nối con diều đó với đời sống thơ mỏng manh nhưng bền chắc. Hãy nhớ lại Buồn trăng. Ở trên vừa mới Huy hoàng trăng rộng nguy nga gió, ở dưới đã Hoa bưởi thơm rồi, đêm đã khuya. Với câu kết ấy, ta cảm thấy sau khi ngang dọc khắp vòm trời, con diều – ở đây là tâm tưởng nhà thơ - lại hạ cánh an toàn xuống mặt đất, điều đó chứng tỏ Xuân Diệu rất tài, và cái việc ông làm thật đáng kính trọng. Còn tâm linh của Hàn Mặc Tử thì luôn luôn như một con diều đứt dây khi quay cuồng, lồng lộn, lúc ủ rũ tìm nơi giải thoát. Xuân Diệu chưa thật bao giờ rõ là mình như khi nhân danh người kĩ nữ mà nức nở: “Em sợ lắm giá băng tràn mọi nẻo”. Xin đừng có ai chờ đợi một tiếng kêu như thế ở Hàn Mặc Tử, bởi qua thơ người thi sĩ này, thấy toát lên cái ý: miễn là còn được sống, được tồn tại, giá lạnh không có gì đáng sợ. Vả lại trong bất cứ nỗi sợ nào, trong bất cứ mất mát nào cũng có niềm sung sướng kỳ lạ, không ai có thể chia sẻ. Đứng về lịch sử thơ ca mà xét thì Hàn Mặc Tử, trong những tìm tòi của mình, đã đi khá xa so với Xuân Diệu. Trong tác giả Thơ thơ, người ta cảm thấy ảnh hưởng của Baudelaire, dấu vết của de Noailles, và cả Rimbaud lẫn Verlaine (họ đều là những tác giả lớn của văn học Pháp cuối thế kỷ XIX). Chính Xuân Diệu cũng thú nhận là có ý thức đón nhận những ảnh hưởng đó. Còn Hàn Mặc Tử – không biết có phải là ngẫu nhiên chăng – phần nào đã đến gần với A.Breton, P.Eluard, L.Aragon. R.Desnos v.v… những người cùng đứng trong một phong trào thơ ở Pháp, có tên là siêu thực và xuất hiện khoảng trước sau đại chiến thế giới thứ nhất. Tuy nhiên, đấy là một phỏng đoán mà chưa phải một kết luận khoa học. Vấn đề quá lớn. Chúng tôi không có tham vọng giải quyết ở đây. Để  chứng minh Hàn Mặc Tử là độc đáo xin làm một vài sự so sánh tiếp.
2. Hàn Mặc Tử và Huy Cận
Qua Lửa thiêng và qua các tập thơ in sau 1945, Huy Cận thường được coi là có hồn thơ rộng mở ra đến vũ trụ. Giới thiệu thơ Việt Nam ra nước ngoài, Chế Lan Viên bảo Huy Cận vốn “thích các thế kỷ, thích các vòm trời”, còn Xuân Diệu thì từ 1940 đã cho là ở người bạn mình có cái “nghiêng tai kỳ diệu”.
Nhưng xem ra, thơ Huy Cận vẫn quá lành, con người trong thơ Huy Cận vẫn ở ngoài mà chưa đạt tới sự hòa nhập với vũ trụ, chưa bao giờ cả gan lang thang đi tìm bí mật của cái vũ trụ hoang tưởng đó như trong thơ Hàn Mặc Tử.
Huy Cận thường xuyên bắt gặp ở thiên nhiên một sự thông cảm. Mặc dù là một cái gì bát ngát xa lạ, song vũ trụ trong thơ Huy Cận khô ráo, trong sáng, thanh sạch, và thật dễ dàng chấp nhận con người. Đây là mấy câu thơ tiêu biểu:
Trời xanh ran lá biếc.
Biển chóa ngập buồm vàng
Gió thổi miền bất diệt
Mây tạnh đất hồng hoang.
Về phần mình, Hàn Mặc Tử không có điều kiện mà cũng không tính chuyện lấy thơ mình ra đối diện với cả không gian thời gian cao rộng. Hàn Mặc Tử chỉ lạ hóa ngay cái thiên nhiên sát kề bên mình. Nhưng đó là cái thiên nhiên ma quái, bí mật, thiên nhiên ướt át nhày nhụa lại nhiều bóng tối và những khoảng trống kỳ lạ, khiến người sống trong đó không bao giờ cảm thấy yên ổn. Cảm giác về sự hài hòa rất quen thuộc trong thơ Huy Cận. Bao trùm ở Lửa thiêng là cái tự bằng lòng , cái thanh thản thoải mái khi tiếp xúc với vũ trụ. Cảm giác ấy hết sức xa lạ với Hàn Mặc Tử. Luôn luôn ở Hàn Mặc Tử chỉ là xao xuyến bồn chồn, tưởng là mất mà lại thấy, tưởng là cầm nắm được mà lại trôi đi bay biến.
Thỉnh thoảng, có nói tới Thượng đế thì Huy Cận đã biết ngay rằng Thượng đế sẽ an ủi, vỗ về tâm hồn mình.
Hàn Mặc Tử không tính chuyện kéo Thượng đế về với cuộc sống phàm trần mà chơi vơi đuổi theo Thượng đế và trong cuộc truy đuổi đó, sẵn sàng thánh hóa.
3. Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên
Giữa hai nhà thơ này đã có bao nhiêu duyên nợ. Hơn thế nữa, người ta bảo họ là cùng trường phái với nhau (đây là nói trong phạm vi thơ Chế Lan Viên trước Cách mạng). Điều ấy có lý do của nó: Trong Điêu tàn, Chế Lan Viên cũng muốn tạo ra một thế giới phi hiện thực, như Hàn Mặc Tử đã sống nó trong Đau thương, Xuân như ý. Họ chỉ khác nhau ở con đường đi tới thế giới ấy. Trong khi Hàn Mặc Tử tìm thấy nó trong mê man mê sảng, thì Chế Lan Viên có được nó bằng cách đẩy lý trí của mình đến cùng. Nói một cách hình ảnh: một bên Hàn Mặc Tử đi vào cõi hư vô như một con chiên ngoan đạo, áo quần tơi tả mà đi, chân đất mà đi, vấp ngã lại đứng dậy bước thấp bước cao đi tiếp; còn bên kia là Chế Lan Viên khôn ngoan tỉnh táo, tránh từng vũng nước nhỏ, từng quãng dốc trơn, đi theo lớp lang rành mạch, bước bước nào chắc bước ấy, thậm chí có ngã cũng là biết trước sẽ ngã. Nếu Hàn Mặc Tử đã đi là không trở lại thì Chế Lan Viên đi có điều kiện, đi tới rồi lại trở về. Bóng đêm, cuộc sống ban đêm, là một mô típ từng thấy ở nhiều bài thơ của hai thi sĩ, nhưng với Hàn Mặc Tử, đêm trăng này tiếp đêm trăng khác cả cuộc đời là những đêm trăng tiếp nối, còn với Chế Lan Viên, sau ban đêm còn có lúc vừng ô tới, ban ngày hiện ra. Sự kinh dị ở Chế Lan Viên, do đó, chỉ là kinh dị một nửa.
Một câu hỏi rất tiêu biểu cho Chế Lan Viên trong Điêu tàn:
- Ai bảo giùm ta có ta không?
không bao giờ có thể có ở Hàn Mặc Tử. Lý do đơn giản là Chế Lan Viên coi việc vòng vèo trong mê lộ của tiềm thức là để vươn tới trí tuệ. Còn Hàn Mặc Tử thì dừng lại vĩnh viễn ở tiềm thức. Ở Hàn Mặc Tử chỉ có những triết lý ở dạng lơ lửng ngẫu nhiên và thường vẫn giữ được cái vẻ thơ riêng của nó.


4. Sau hết, xin có một chút liên hệ giữa thơ Nguyễn Bính và thơ Hàn Mặc Tử
Sở dĩ chúng tôi không so sánh vì hai nhà thơ này khác nhau quá.
Nhưng nói thơ họ đều là thơ hay (cả hai, đến hôm nay, đều được bạn đọc săn tìm), điều đó có lôgích không?
Câu trả lời: không có gì là không bình thường ở đây cả. Thơ có hai cực, cực phổ cập và cực siêu thoát. Ví dụ trong thơ Pháp hiện đại, Jacques Prévert như ca dao đồng dao, rất phổ cập, còn Saint John Perse rất siêu thoát, nghĩa là chỉ dành cho một số độc giả chọn lọc và cả hai đều là nhà thơ lớn. S.J.Perse còn được Nobel văn chương nữa. Trường hợp Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử cũng vậy. Lúc nào chúng ta cũng có thể ngâm ngợi vài câu thơ Nguyễn Bính lên và thấy rất gần gũi. Thơ Hàn Mặc Tử tồn tại kiểu khác: chỉ thỉnh thoảng ta mới tìm đến ông. Đó là những lúc lòng ta, trí ta, cách nghĩ về thế giới ta vượt ra khỏi khuôn khổ thông thường, ta thấy chung quanh quá nhàm chán và cảm thấy muốn được giải thoát. Những lúc ấy, có thể – tôi nói có thể chứ không phải tất yếu trong tất cả  mọi trường hợp – thơ Hàn Mặc Tử lại là những giải đáp đích đáng nhất, ông đền bù cho ta, có cảm tưởng ông chỉ ông với ta là đủ rồi. Cái sung sướng của người đọc thơ lúc này là sung sướng đến rợn người.
Nói  một cách tổng quát: Nguyễn Bính là nhà thơ rất người, rất hàng ngày. Còn Hàn Mặc Tử là nhà thơ của những lúc ta xuất thần, lúc ta thánh hóa. Những lúc ấy hiếm khi xảy ra nhưng vẫn là có.
Nếu không thể lấy thơ Nguyễn Bính để phủ nhận thơ Hàn Mặc Tử thì cũng tức là không thể nhân danh sự dễ hiểu để phủ nhận những cái ta còn chưa hiểu và chỉ một lúc nào đó mới hiểu, mới thích. Bài học rút ra ở đây; với người làm thơ bên cạnh hướng về sự phổ cập (như Nguyễn Bính) thì hướng về sự siêu thoát (như Hàn Mặc Tử) cũng là cả một hướng đi tốt đẹp. Nó không hứa hẹn sự thành công tức thời nhưng không phải vì thế mà nói là nó thiếu khả năng giúp các nhà thơ gia nhập vào thế giới của các giá trị vĩnh viễn.


Vài nét tiểu sử
Hàn Mặc Tử  (1912-1940), người đi qua thơ Việt Nam như một niềm kinh dị. Tác phẩm chính: Gái quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1942), trong đó có một phần lấy từ các tập thơ chưa in khi tác giả còn sống: Xuân như ý, Thơ điên v.v…


Đã in trong
 Cánh bướm và đóa hướng dương, 1999

Wednesday, November 17, 2010

Vẻ đẹp kỳ dị




Hàn Mặc Tử trong những liên hệ với nghệ thuật hiện đại


Trong bài thơ Thương ngô trúc chi ca số XIII, Nguyễn Du từng tả cây liễu “Tối điên cuồng xứ tối phong lưu” (dịch nôm: lúc càng điên càng đẹp, khiến người ta say mê).


Chỗ xứng đáng để đặt câu mang tinh thần hiện đại ấy có lẽ là một phòng tranh nào đó của các họa sĩ lớn thế kỷ XX.


Nhưng cũng sẽ rất thích hợp nếu người ta dùng nó, cái quan niệm mỹ học phóng túng đó, để soi sáng cho một hiện tượng kỳ lạ của thi ca Việt Nam: những tập thơ Gái quê, Đau thương, Xuân như ý …… của Hàn Mặc Tử.




Kỷ niệm bẩy mươi năm ngày mất HÀN MẶC TỬ
Năm nay nhiều ngày kỷ niệm quá.
Tháng bẩy vừa rồi, tôi chỉ nhớ Nguyễn Tuân, mà quên bẵng mất Thạch Lam ( hai ông cùng sinh 7-1910, nghĩa là Tới 7-2010 cùng tròn 100 năm sinh nhật) .
Tháng chạp này là 25 năm ngày mất Xuân Diệu. Tôi định làm một chuyên luận mới về ông. Nhưng trong lúc loay hoay với Xuân Diệu ,– mà chắc là  viết không xong trong năm nay — thì lại quên bẵng mất ngày 11-11 vừa qua là 70 năm ngày mất của Hàn Mặc Tử.
Muộn còn hơn không, dưới đây là hai bài cũ tôi viết về nhà thơ mà tôi cho là mới nhất trong các nhà Thơ mới. (Xuân Diệu là tiêu biểu cho Thơ mới, nhưng chính Hàn Mặc Tử mới là người Tây nhất , mới nhất , đi xa nhất)
Xin phép kể một kỷ niệm riêng: Trong khuôn khổ sự giáo dục ở nhà trường và không khí học thuật mà tôi lớn lên, cho tới 1975, tôi chưa biết gì về nhà thơ này. Nói nôm na  thì cái “gu” của tôi hồi ấy là khá cổ lỗ !  Nhờ có làm quen với một số anh em làm nghệ thuật khác, trong đó có họa sĩ — nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Quân , mà tôi mới bắt đầu biết hiểu và yêu những nghệ sĩ đi đầu trong  mọi tìm tòi theo tinh thần hiện đại.
Bởi thế khi bài Vẻ đẹp kỳ dị dưới đây được in trên tờ TT&VH vào dịp 80 năm ngày sinh của Hàn, tôi đã mang khoe với  Nguyễn Quân,  kèm theo mấy dòng ghi tặng ông, “người đã dạy tôi yêu thơ Hàn Mặc Tử”…





Không kể thơ cổ điển mà ngay thơ Việt Nam hiện đại cũng có cái giọng thiên về chừng mực. Với phong trào Thơ mới, tâm hồn dân tộc đã làm một cuộc bộc bạch khá cởi mở, ở đó, cùng lúc người ta bắt gặp cái say đắm nồng nàn của Xuân Diệu, những phút giây ngà ngà ngơ ngẩn ở Lưu Trọng Lư, những phen chuếnh choáng lảo đảo cố ý ở Vũ Hoàng Chương. Nhưng bằng ấy sự say sưa đều dừng lại khá xa trước ranh giới sự điên dại. Chỉ riêng có một mình Hàn Mặc Tử – do những may mắn ngẫu nhiên mà cũng là những bất hạnh trời đầy, như mọi người đều biết, xui khiến – đã phiêu lưu vào khu vực ấy, khu vực của những kích động tình cảm lên tới cùng cực, khu vực của những mê man quyến rũ gần như mất trí. Và trước mắt chúng ta là một giọng thơ độc đáo không chia sẻ âm hưởng với ai hết.



Trung thành với một tập quán đã thành truyền thống, ở Xuân Diệu, Huy Cận cũng như ở nhiều người khác, thi sĩ bao giờ cũng hiện ra như một người tinh tế, dịu dàng, chỉ sợ mỗi cử động mạnh của mình làm kinh động cả đất trời. “Tôi với người yêu qua nhè nhẹ – Im lìm không dám nói năng chi” (Trăng – X.D) hoặc “Chân bên chân hồn bên hồn yên lặng” (Đi giữa đường thơm – H.C). Đến Hàn Mặc Tử, thì cách nói, cách tiếp nhận đời sống khác hẳn, người làm thơ không có thì giờ nghĩ về mình nên cách bộc lộ có sỗ sàng, sống sượng thậm chí bệnh hoạn cũng không quản ngại. Người quen tìm thấy ở thơ một sự ru rín vuốt ve, một lời vỗ về thông cảm hẳn không thể chịu được khi thấy ở đây thơ rặt một giọng “Ái tình bắt đầu căng”, “Ô hay người ngọc biến ra hơi” và cả “Khi hương thơm kề lỗ miệng – khi tình mới chạm vào nhau”.Trong thơ Hàn Mặc Tử, gió heo may cũng rên xiết, thu héo nấc thành những tiếng khô, và những cây cối mảnh khảnh cũng run lên cầm cập. Đi ngược với quan niệm về sự tế nhị, trong thơ Hàn MặcTử, những từ ngữ có liên quan đến động tác của cái miệng luôn luôn được sử dụng, nhà thơ rất hay nói đến máu huyết.


Mây bay vào cuống họng


- Hơi nắng dịu… liếm cặp môi trần


- Tôi cắn lời thơ để máu trào


Sau khi bảo mình “thường giơ tay níu ngàn mây – đi lại lang thang trên ngọn cây”, sau khi thú nhận “tôi toan hớp cả váng trời – tôi toan hớp cả miếng cười trong khe”, nhà thơ tự hiểu:


Đêm nay ta lại phát cuồng


- Tôi điên tôi nói như người dại


Thật ra, một người điên không bao giờ biết mình điên, không bao giờ nói to lên rằng theo sự đánh giá thông thường, thì mình bị coi là đã hóa dại rồi. Chẳng qua, Hàn Mặc Tử buộc phải “gào lên, rú lên” như vậy mới nói hết ý mình. Trên đại thể, nhà thơ Việt Nam mất từ 1940 này có thể kí tên sau những phát biểu kì lạ sau đây của một người đương thời với chúng ta và chỉ mới mất đầu 1989 – họa sĩ Tây Ban Nha vĩ đại Salvador Dali.


Tôi chỉ khác những người điên ở chỗ tôi không điên.


- Mọi hành động sáng tạo đều là hành vi của chứng hoang tưởng tự đại. Nghệ sĩ chẳng khác gì thượng đế. Với động tác của bàn tay họ, họ sáng tạo ra các thiên thể và bản thân họ cũng trở nên một thiên thể. Hành động sáng tạo bao giờ cũng là một hành động mạo hiểm.


So với những thi sĩ đương thời, có một đóng góp của Hàn Mặc Tử mà không ai phủ nhận được là đóng góp vào việc mở rộng biên giới của thơ. Dù có xôn xao chộn rộn trong những tưởng tượng phong phú đến đâu thì những Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư… vẫn còn nặng nợ nhiều với cuộc sống trần tục. Không ai dám mê man đi trên con đường tới cái hư vô như Hàn Mặc Tử, đúng hơn không ai buộc phải làm vậy. Về phần mình, vốn nặng cảm giác tôn giáo lại được sự điên dại hỗ trợ, Hàn Mặc Tử sống với thế giới siêu hình một cách tự nhiên đến mức ông bảo “hư thực làm sao phân biệt nổi”. Tiếng thơ trong Đau thương, Xuân như ý đôi khi phải gọi là “lời năn nỉ của hư vô” mà chỉ Hàn Mặc Tử mới nghe được. Nhưng đây mới là một phía, phía thứ hai của biên giới cảm xúc cũng được Hàn Mặc Tử mở rộng: nhà thơ lạ hóa ngay chính mình. Chân tay thân thể da thịt con người, những thứ tưởng ai cũng thấy, những thứ không ai để ý vì chẳng có vẻ gì nên thơ, trong cơn mắt Hàn Mặc Tử, bỗng trở nên thiêng liêng bí mật. Chúng luôn luôn mời mọc kích động, chúng làm nhà thơ nôn nao cả lên, bỡ ngỡ như gặp được cái gì cả đời mới thấy. Đọc đi đọc lại những “Trăng đang nằm trên cỏ – Cỏ đưa trăng đến bờ ao – Trăng lại đẫm mình xuống nước – Trăng nước đều lặng nhìn nhau – Đôi ta bắt chước thì sao?”, những “Ống quần xo xắn lên đầu gối, – Da thịt, trời ơi! Trắng rợn mình”,những “Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm – Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”, người ta có thể bảo là sống sượng quá. Nhưng thành thực với mình một chút, phải nhận những câu thơ gợi nhục cảm đó chỉ phóng to lên những rung động mà ta vốn có, chẳng qua ta gạt ngay đi, thành ra ngỡ như chúng không tồn tại. Chính Hàn Mặc Tử cũng từng bị giam hãm trong vòng cương tỏa của thói quen, ông cũng là người bị mặc cảm đè nặng và nhiều câu thơ buột ra như là một sự dứt bỏ, tự giải phóng, nếu không làm sao cái cảm giác bẽn lẽn ngượng ngập, thèm khát sự trong trắng lại thường xuyên đi về trong thơ ông đến vậy.


Mới lớn lên trăng đã thẹn thò


- Em sợ lang quân em biết được


Nghi ngờ cho cái tiết trinh em


- Quên cả hổ ngươi cả thẹn thùng


Khi cho mỗi người đọc cảm thấy rằng sự e lệ ở mình cũng như ở mọi người chẳng qua là một sự e lệ rất tà tâm, quả thật Hàn Măc Tử đã tiếp cận với nhiều cách hiểu tinh vi về con người hiện đại.


Không có gì thực hơn, gần gặn hơn mà lại hư vô hơn với mỗi kiếp người là cái chết. S. Dali từng kể là ông không ngừng nghĩ đến nó, ông coi nó là bạn đường trung thành nhất của ông, nó ở ngay trong nội tâm ông. Rồi họa sĩ nói tiếp: “Cái chết vận hành trong tôi, không ngưng nghỉ, giống như cát chảy trong đồng hồ cát”. Ông hiểu rằng “có một sự hủy diệt tuần tự xảy ra trong đó” bởi vậy, với ông, cuộc sống “lại tỏ ra đẹp đẽ hơn bao giờ hết”. Tưởng như những lời thú nhận đó của Dali được viết để cắt nghĩa những câu thơ viết về cái chết đầy rẫy trong thơ Hàn Mặc Tử, nhất là ở những tập ông biết rằng ngày tận thế của mình không xa nữa. Có điều lạ nữa là cái chết hiện diện ngay cả trong những câu thơ Hàn Mặc Tử viết về vẻ đẹp. Ở vào ranh giới mỏng manh giữa sự sống và cái chết, vẻ đẹp trong thơ ông là một vẻ đẹp lạnh, ma quái nhưng lại hết sức quyến rũ, giống như sự bùng nổ mạnh mẽ của những gì sắp tàn lụi mà người ta biết là không sao cưỡng nổi. Ai đó đã than: “Phải vì tất cả đều đang đi đến cái chết, nên tất cả mới hiện lên rực rỡ đến thế?!”


Theo Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam 1932-1941 cho biết, ngay từ 1940, Xuân Diệu đã từ chối thẳng thừng Hàn Mặc Tử và bản thân Hoài Thanh cũng cảm thấy rằng chỉ nên nói về Hàn Mặc Tử một cách dè dặt. Sự từ chối đó, sự dè dặt đó là rất thành thực. Đặt trong hoàn cảnh thơ Việt Nam trước 1945, phải thừa nhận thơ Hàn Mặc Tử là một cái gì độc đáo vượt ra ngoài thói quen cảm nhận thông thường như tranh của những S.Dali, H. Miro, J. De Chirico… khi mới xuất hiện đã là không bình thường và ngay ở châu Âu cũng phải rất lâu mới được chấp nhận. Tuy nhiên, khoa nghiên cứu nghệ thuật hiện đại cũng đã chứng minh rằng những tìm tòi lúc đầu bị coi là phi lí, trừu tượng đó đã có mầm mống từ lâu trong tư duy của nhân loại. Ngay từ thời trung thế kỉ, có một họa sĩ Hà Lan là Jerome Bosch (khoảng 1450/ 1460–1516) đã vẽ nên những bức tranh rất gần với Dali, Miro. Nói như một nhà văn Liên Xô, ông V. Tendriakov thì trong Bosch “vẻ dịu dàng ở cạnh phút hấp hối, nét trinh bạch ôm ấp sự trụy lạc, cảm giác hứng khởi xen lẫn cơn tởm lợm, khiến người xem tranh của Bosch vừa sảng khoái vừa ớn lạnh”. Khi đã xem tranh của những Dali, Miro và lần về tới Bosch như thế, người ta không có lí do để nói rằng Hàn Mặc Tử cô đơn nữa.