Thursday, September 30, 2010

Đọc "Chiếu dời đô" bằng đôi mắt hiện tại

So với Bình Ngô đại cáo thì Chiếu dời đô thường chỉ được chúng ta quan tâm ở một mức khiêm tốn, sự phân tích văn bản cũng sơ sài. Điều này có thể giải thích là do cảm hứng chính chi phối xã hội Việt Nam từ sau 1945 đến nay là cảm hứng chiến thắng mà Bình Ngô đại cáo diễn tả rất hoàn hảo. Thói quen tìm thấy mình trong lịch sử và hơn thế thích diễn tả mình bằng ngôn ngữ lịch sử đã xui con người hiện đại đồng lòng làm việc đó.

Tuy nhiên trong giai đoạn mới của sự phát triển đất nước, khi mà việc xây dựng nổi lên hàng đầu - "phát triển thật ra là một cách tốt nhất để bảo vệ một  quốc gia" - thì việc trở lại với Chiếu dời đô lại có một ý nghĩa riêng.




Dám thay đổi, lấy sự thịnh vượng của xứ sở làm trọng


Mặc dù không được triển khai kỹ lưỡng và viết bằng một thứ " thiên cổ hùng văn" như Bình Ngô đại cáo , song Chiếu dời đô vẫn là - xin phép được sử dụng ngôn ngữ của văn hóa chính trị hiện đại - một thứ cương lĩnh chính trị nghiêm túc, bao quát nhiều vấn đề lớn của thời đại.


Sau khi đã nắm chính quyền, Ban lãnh đạo đất nước thấy việc cần kíp nhất là có những quyết sách lớn cho việc xây dựng đất nước (việc đặt kinh đô ở đâu thuộc loại quyết sách lớn đó).


Chỗ dựa để đưa ra những quyết sách này không chỉ là những kinh nghiệm của bản thân. Trong hoàn cảnh một miền đất mới tuyên bố về sự tồn tại của mình như một quốc gia, việc tham khảo kinh nghiệm của các xứ sở khác trở thành bắt buộc.


Một điều quan trọng hơn, cần xác định nội dung chủ yếu trong kinh nghiệm nước ngoài là gì.


Theo thói quen bảo thủ đã thành nếp nghĩ phổ biến, chúng ta dự đoán khi noi gương người xưa, ban lãnh đạo thời Lý sẽ chỉ nhìn thấy sự trung thành với truyền thống. Nhưng chúng ta nhầm. Cùng với việc mạnh dạn phê phán tiền nhân - chê Đinh Lê là cạn nghĩ, không thức thời, không chịu học hỏi - Chiếu dời đô sớm đặt vấn đề về sự thay đổi mà các triều đại nổi tiếng ở phương Đông trước đó đã trải qua.


Ngay lúc ấy, kinh nghiệm quốc tế lớn nhất đã là không được đi theo những lối mòn, mà phải luôn luôn đổi mới. Dường như Chiếu dời đô muốn kêu lên như vậy. (Chỉ thiếu một sự quả quyết theo kiểu Trung Quốc hiện nay: "Thay đổi hay là chết!").


Thế đâu là chỗ dựa để đánh giá một sự thay đổi là đúng hay là sai?


Câu trả lời của Chiếu dời đô: phải mang lại cho xứ sở sự thịnh vượng.


Khi xem xét lý do đã được Chiếu dời đô nêu lên để làm rõ chỗ khác nhau giữa kinh đô cũ và kinh đô mới, các nhà nghiên cứu thời nay thường chỉ chú ý tới yếu tố phong thủy - Thăng Long là nơi trung tâm trời đất, có thế rồng lượn hổ chầu...


Nhưng điều mà trong bài này chúng tôi muốn bạn đọc chú ý là yếu tố địa lý ở đây không có tính thần bí mà mang ý nghĩa thiết thực. Một bên đất trũng tối tăm; một bên cao mà thoáng mát. Một bên trăm họ hao tổn, muôn vật tiêu điều; một bên không những không khổ vì ngập lụt, mà muôn vật lại rất phồn thịnh.(1)


Rõ là một thứ địa lý học được nhìn dưới góc độ kinh tế.


Thuật lại việc Lý Thái Tổ đưa Chiếu dời đô ra để hỏi ý kiến các quan - một cử chỉ có ý nghĩa rất hiện đại - Đại Việt sử ký toàn thư viết rằng "Bầy tôi đều tâu: Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế dài lâu, để trên cho cơ nghiệp to lớn được thịnh vượng, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế ai dám không theo".


Hai tiếng giàu có gần như không có trong kho từ vựng của vua quan phong kiến ở ta suốt trường kỳ lịch sử, kỳ lạ thay lại xuất hiện ở một thời cách xa chúng ta đã có ngàn năm tuổi này!


Một mầm mống của ý niệm kinh tế như đã nằm trong tư duy con người lúc ấy, kinh tế được dùng làm tiêu chuẩn để đánh giá sự thịnh trị (vốn là một khao khát lớn của mọi thời đại.)


Thân dân thì có tất cả



Ta hãy chú ý: trong văn bản, khái niệm thịnh vượng nói ở trên - hay khái niệm phát triển như tư duy hiện đại - luôn gắn với khái niệm dân. Nỗi khổ được nói tới là khổ của dân. Mà sự giàu có cũng là của dân.


Như vậy là với Chiếu dời đô, lần đầu tiên ở Việt Nam một thuật ngữ quan trọng trong văn hóa quyền lực ở phương Đông đã xuất hiện.


Đọc các tài liệu in trong Lịch sử tư tưởng Việt Nam - văn tuyển (2) người ta thấy thời Bắc thuộc, tư tưởng chủ yếu của xã hội vẫn là tư tưởng Phật giáo.


Mặc dù đến triều Lý, đạo Phật vẫn là quốc giáo, song với việc sử dụng dày đặc khái niệm dân, hoặc trăm họ (bách tính) trong văn bản, sự có mặt của Nho giáo trong tư duy nhà cầm quyền ở Việt Nam lúc đó, là điều không còn bàn cãi.


Thái độ với dân là một chính sách lớn mà khoa học cai trị của Nho giáo (Trị quốc chi đạo) khẳng định.


Câu mở đầu của sách Đại học đã nói rõ "Đại học chi đạo tại minh minh đức tại thân dân". Thân dân ở đây thường được giải thích là yêu mến vỗ về dân chúng.


Khổng Tử mới nói tới việc làm sao cho dân có được đời sống thuần hậu. Mạnh Tử đã nói tới việc làm cho dân giàu và xem đấy là một trong những phương cách hữu hiệu nhất để tạo nên sự hùng hậu của quốc gia. Bằng cách nói về sự thịnh vượng của dân, Chiếu dời đô đã đạt đi được một đoạn đường khá xa trong việc chiếm lĩnh kinh điển Nho giáo.


Mối quan hệ giữa dân và nhà cầm quyền



Một bằng chứng khác làm nên vẻ độc đáo của tư tưởng thân dân của Chiếu dời đô là quan niệm về mối quan hệ giữa nhà cầm quyền và dân chúng. Điều này không được diễn tả bằng ngôn từ, nhưng tiềm ẩn ở dạng dưới văn bản.


Thông thường chúng ta hay nghĩ công lao đưa khái niệm dân vào các văn kiện chính trị ở Việt Nam là thuộc về Nguyễn Trãi.
Trong Bình Ngô đại cáo, dân được hiểu là những người dân đen, bị đầy ải dưới ách ngoại xâm; còn nhà cầm quyền hiện ra như những người giải phóng cho dân, ban ơn cho dân. Về sau, trong văn thơ Nguyễn Trãi viết khi Lê Lợi đã lên ngôi vua, dân được đặt trong các mối quan hệ với các biến cố chính trị kiểu "giữ thuyền là dân lật thuyền là dân" (ẩn đằng sau đó là lời khuyên vua chúa phải cảnh giác với dân.)


Còn trong Chiếu dời đô, như chúng ta thấy, dân có bóng dáng một thứ chủ thể quốc gia, với nghĩa nhà cầm quyền nghĩ về dân như những đối tượng mà mình phải lo lắng, phải chịu trách nhiệm; đời sống của dân cũng là thước đo để nhà cầm quyền soi vào mà xem xét đánh giá mình. Mối quan hệ ở đây trong sáng và chưa bị tha hóa .


Cái trong sáng này chính là hợp với Nho giáo ở thời các bậc tôn sư mới dựng tạo những cơ sở lý thuyết đầu tiên. Theo Đại cương triết học Trung Quốc của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê (3), đại để Khổng Mạnh đã quan niệm "trời sinh dân, nuôi dân, đặt ra vua để làm lợi cho dân, chăn nuôi dân, cai trị dân, do đó mới có (quan hệ) vua tôi". (sđd, t.II, tr. 553), "cái lợi của dân là cứu cánh quốc gia".( sđd, tr. 555). Trong Kinh Thi đã có những câu cho thấy người dân thời đó nghĩ rằng "vua quan phải theo ý dân." (tr. 633)


Về sau, trong quá trình phát triển của xã hội phong kiến, nhất là đến thời của những cuộc chinh chiến liên miên giữa các vương hầu, rồi những tư tưởng như Nguyễn Trãi dẫn ra mới nổi lên hàng đầu, và truyền đến những xứ sở xa xôi như Việt Nam.


Đến thời cận đại, các nhà tư tưởng Trung Quốc vẫn còn dựa vào một phần những mầm mống tư tưởng hồn nhiên trong sáng vừa dẫn ở trên để, kết hợp với các tư tưởng Âu Tây, hình dung ra thế nào là quốc gia và vai trò dân chúng với quốc gia. Lương Khải Siêu có lần đã diễn tả các quan hệ kinh điển đó dưới một hình thức rất mô - đéc: "Quốc gia chỉ là một công ty, các nhà cầm quyền chỉ là những người mà dân chúng - chứ không phải trời - ủy thác cho quyền quản lý ". (tr 557 - 559).


Trong một văn mạch thống nhất



Đại Việt sử ký toàn thư tập I có ghi năm Nhâm Tý 1012, Lý Công Uẩn đi đánh Diễn Châu. Khi về đến Vũng Biện, gặp lúc trời đất tối sầm, gió sấm dữ dội, vua đốt hương khấn trời rằng "Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất đến nay không thể dung tha không đánh. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương , đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gặp tổn hại cũng không dám oán trách..." (4).


Có thể đọc thấy ở đây chứa đựng quan niệm của Lý Công Uẩn về một người đứng đầu nhà nước:


- Đó là người nghĩ rằng ở cương vị ấy, quan trọng nhất là chữ đức. Mà mình thì chưa đủ cái đức ấy, việc cai trị ( = "ở trên dân") chẳng qua may mà được đảm nhiệm; trước một việc quá sức, lúc nào cũng thấy chưa xứng đáng.


- Đó là người luôn thấy mình có thể có sai lầm, mà sai lầm lớn nhất là "giết oan kẻ trung hiếu" 'làm hại kẻ hiền lương", nhìn rộng ra làm khổ dân chúng.


- Đó là người tin rằng trên đời này còn có những điều thiêng liêng, mọi việc mình làm đều trong tầm phán xét của đấng thiêng liêng ấy.


Cơ sở để có được một hành động có tầm vóc lịch sử như việc dời đô như vậy là dựa trên một quá trình nhận thức tư tưởng có thể nói còn vĩ đại hơn ở Lý Công Uẩn. Và đó là một đúc kết về văn hóa chính trị mà người hôm nay phải đọc ra trên đường đi tìm những quyết sách lớn cho đất nước.


---



(1) Chúng tôi dựa vài bản dịch Chiếu dời đô trong Đại Việt sử ký tiền biên, câu chữ đôi chỗ hơi khác một chút so với bản trong Đại Việt sử ký tòan thư mà giới báo chí truyền thông vẫn dùng

(2) NXB Chính trị quốc gia , 2002

(3) Bản của NXB Thanh niên , 2004

(4) Đại Việt sử ký tòan thư , NXB Khoa học xã hội 1983, tập I, tr 244. Chi tiết này được nhắc tới trong hầu hết các bộ sử khác



tuanvietnam.vietnamne 01/10/2010

Một thứ tự do hoang dại

(TBKTSG) - Lần đầu lên Đà Lạt, tôi được nghe kể là người Pháp trước kia đề ra những quy chế rất gắt gao cho việc xây dựng các biệt thự ở đây. Ví dụ, phải có diện tích đất bao nhiêu mới được làm nhà; còn về kiểu cách, trong khi bắt buộc mỗi nhà phải khác các nhà chung quanh (để tạo cảm giác độc đáo), thì anh lại vẫn phải kết hợp với cảnh quan sẵn có một cách nhịp nhàng. Nhìn Đà Lạt hồi trước, ai cũng thấy là không chỉ có nhiều nhà đẹp mà thú vị hơn là cả một thành phố đẹp.



Còn như các khu phố mới được xây dựng ở Thủ đô thì hoàn toàn ngược lại. Rất nhiều quy định chung chung, nhưng những quy định quan trọng nhất liên quan đến việc đóng góp của ngôi nhà vào vẻ đẹp của thành phố lại không có, bởi không ai có ý niệm gì về vấn đề này. Không thiếu nhà đẹp, từng cái rất đẹp, nhưng toàn bộ lại xấu.



Ở Hà Nội hiện nay có những căn nhà chiều ngang mỏng dính, rồi những căn nhà học đòi kiểu cách nước ngoài trông thật kỳ cục, đến mức một nhà báo đã phải trương lên cái tiêu đề cho một bài báo: Eo ôi Hà Nội phố! (nhại tên bài hát Em ơi Hà Nội phố! của Phú Quang).



“Hỏi các chủ nhà thì cái câu trả lời thường nhận được là: “Nhưng mà tôi thích vậy”. Quá lên một chút nữa, người ta lại giở giọng “Tùy tôi muốn sống thế nào thì sống, không ai được dí mũi vào việc riêng của tôi cả”.



Vừa phóng xe vừa hút thuốc. Vào rạp chiếu phim vẫn nói điện thoại di động oang oang. Phô bày những cái xấu xa ngay giữa nơi công cộng. Xả rác ngay dưới chân cái bàn ngồi ăn. Đánh vợ chửi con ầm ĩ hàng xóm láng giềng. Hành hạ ô sin lấy cớ tôi đã thuê mướn thì dày vò thế nào cũng phải chịu… Cái khác của người thời nay so với thời xưa là làm những trò ngang ngược ấy một cách trâng tráo. Người ta viện dẫn cái gì chưa có luật cấm thì cứ làm. Đến lúc có luật cấm - như chuyện hút thuốc thời nay - thì lại bảo quen nết rồi bỏ sao nổi.



Một nét thời đại nữa là trong đầu óc những người làm cái việc hơn đời ấy luôn có sẵn một mớ lý sự để sẵn sàng bảo vệ cho cách sống của mình.



Họ vận dụng một khái niệm triết học - tự do để giải thích.



Nghe có lý quá!



Mang sách ra mà tra, thường tôi thấy những cuốn phổ thông nhất cũng đã ghi cái ý tự do là không bị ràng buộc gì hết, tự do là để con người làm theo ý muốn. Chỉ có điều nếu đọc kỹ hơn thì thấy khi bàn về tự do, các nhà xã hội học đã lưu ý ngay là không được đẩy nó lên cực đoan.



Thứ nhất, do con người sống trong xã hội nên cái đi kèm với tự do là sự kiểm soát xã hội. Tự do của người này không thể cản trở tự do của người khác. Nói “điều kiện đầu tiên để có tự do là tự do phải bị hạn chế” là với nghĩa đó.



Thứ hai, tự do ở đây phải có tính nhân văn, với nghĩa con người chỉ có quyền tự do để sống cận nhân tình hơn, tốt đẹp hơn chứ không phải để hư hỏng, xấu xa đi.



Theo một nhà triết học Trung Quốc cận đại là Lương Khải Siêu, thứ tự do bừa bãi kia nên gọi là tự do hoang dại, và đó là dấu hiệu của một xã hội phát triển thấp. Ông và các đồng sự như Nghiêm Phục đã băn khoăn mãi khi tìm một chữ gì trong tiếng Hán để tương ứng với chữ liberty trong tiếng Anh. Tính toán mãi các ông đành dùng chữ tự do. Theo nghĩa đen, tự do nghĩa là từ mình mà ra đồng thời là trở về với mình. Nhưng mà con người ta phải là cái gì trí tuệ, hiểu biết, tự làm chủ được mình thì mới có quyền trở về mình chứ? Để cho thứ tự do hoang dại kia lôi cuốn là làm rối loạn xã hội! Chính vì hiểu thế, Lương đặt vấn đề là các nhà quản lý xã hội không chỉ thân dân, gần gũi dân mà còn phải tân dân, làm cho dân ngày một tốt hơn.



Ngoài nghĩa thông thường, tự do còn là một phạm trù thu hút không biết bao nhiêu giấy mực của các nhà triết học.



Như tên gọi của nó đã chỉ rõ, Bàn về tự do của John Stuard Mill in năm 1859 là cuốn sách kinh điển viết về khái niệm này, ở đó tác giả bàn kỹ về ý nghĩa xã hội của tự do như tự do tư tưởng, tự do về đời sống tinh thần. Những ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề phải có quyền tồn tại ngang nhau, không ai được lấy cớ gì để ngăn cấm.



Những khía cạnh đó cũng đang thành chuyện thời sự ở ta. Cái khó là ở chỗ trong khi thứ tự do theo nghĩa thiêng liêng đang là chuyện mỗi người hiểu một cách và phải gỡ dần dần, thì ý niệm tự do theo nghĩa phàm tục lại chiếm lĩnh tâm trí nhiều người.



Tầm thường dung tục trong quan niệm và học đòi những cái nhố nhăng. Những hành xử kiểu đó kéo người ta thấp xuống. Nó chỉ làm cho một xã hội trở nên nhộn nhạo thậm chí đầy tai vạ, chứ không phải là dấu hiệu của một khao khát tự do nào hết. Nó đóng vai trò một thứ van xì hơi, giúp người ta xả bớt những bức xúc trong lòng nhưng lại làm lãng quên cái quyền tự do cơ bản là tự do nâng cao chất nhân văn trong mỗi con người để mở đường đi tới xã hội văn minh.

thesaigontimes Thứ Năm, 30/9/2010,

Saturday, September 25, 2010

Dấu hiệu của mệt mỏi và thiếu khát vọng sáng tạo

 Từ bóng đá tới văn chương 

     Các nhà bình luận bóng đá thường dùng một cụm từ để, trong một số trường hợp giải thích sự thất bại của một đội bóng : các cầu thủ thiếu khát vọng chiến thắng.

      Thú thực là lúc đầu nghe họ nói thế, bản thân tôi cũng lạ và thấy một chút gì đó khó hiểu : chiến thắng, hay thành công, thành đạt, là cái đích của mọi hoạt động. Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu tinh thần, nó còn liên quan trực tiếp đến công ăn việc làm, thu nhập, tiền thưởng.
       Người đời thường chỉ thiếu năng lực chứ mấy ai thiếu khát vọng ?
      Nhưng xem kĩ một số trận bóng, thì thấy đúng như vậy.

      Trên sân cầu thủ như người mất hồn lờ vờ, uể oải. Vẫn biết họ có mặt mà không hiểu họ làm gì trong chín mươi phút thi đấu. Hình như chưa đá đã tính rằng không có cách gì đá thắng. Thấy mình bất lực. Ngại va chạm. Khiếp nhược đến mức thấy bóng cũng không dám sút, người nọ đun đẩy người kia.
    Thậm chí đôi khi trước mắt chúng ta là một đội bóng cứ chạy loạn cả trên sân, song nhìn kĩ, chỉ là một sự liều lĩnh trong tuyệt vọng. Và người ta chỉ có cách bảo là ở họ đang thiếu hẳn khát vọng chiến thắng.


      Mượn chuyện bóng đá để bàn thêm những nghhề khác, hẳn có người cho là thô thiển. Song, ở đây, cái để chúng ta quan tâm tới hiện tượng là phần thực chất của nó. Bóng đá chẳng qua là một ví dụ, ta hiểu thêm về các hoạt động sáng tạo. Vậy thì, một căn bệnh thấy rõ ở bóng đá như trên đây vừa miêu tả có lẽ cũng có thể giúp cho việc bắt mạch chính xác hơn cái hiện trạng khó khăn đang ngự trị ở một số lĩnh vực sáng tạo khác trong đó có có văn chương.
         Trong xã hội hiện đại, như các nhà vật lí lí thuyết thường nói, không có gì là không thể xảy ra.


Hơi thở vô hình và chất kết dính
      Trong qúa trình hành nghề, một người viết văn thường thấy dậy lên trong lòng mình nhiều ao ước – chưa làm đã ao ước, càng làm càng ao ước thêm. Nếu biết làm việc một cách hợp lí, người ta sẽ cảm thấy những ao ước ấy không hẳn xa vời, mà gần gũi như với tay là chạm được đồng thời lại vẫn thiêng liêng đến mức nếu không đạt tới, thì xem ra đời mình chẳng còn chút ý nghĩa nào nữa.
      Và đó chính là khát vọng.
       Có cái khát vọng tự nhiên, khát vọng được trình bày, bộc lộ và trong chừng mực nào đó, đóng góp tiếng nói nhỏ bé của mình cho nhân quần xã hội.
       Có cái khát vọng hòa nhập, khát vọng muốn được thông cảm, được chia sẻ được làm dịu bớt những điều sôi nổi trong lòng.
        Trong quá trình viết, lại nảy sinh cái khát vọng muốn tìm tòi và tự hoàn thiện về mặt nghệ thuật, nói cho văn hoa là là khát vọng xây nên một tòa lâu đài bằng ngôn từ, chưa ai trông thấy bao giờ mà lại mĩ lệ đến mức những người khó tính nhất cũng phải trầm trồ khen ngợi !


        Dù nhiều bộ mặt như thế nhưng khát vọng vẫn chốt lại ở một điểm: nó không phải là ao ước viển vông mà bao giờ cũng là kết qủa một sự suy tính sâu xa. Nó nằm trong tầm tay của người hiểu biết công việc, và trở nên nguồn sức mạnh thúc đẩy người đó nỗ lực dẫn tới.
          Rồi ra, nó sẽ là cái hơi thở vô hình tồn tại bên trong sách đến mức mãi về sau, mỗi khi tiếp xúc với tác phẩm, người đọc vẫn cảm nghe được hơi thở của nó.
         Ngay cả khi người viết thiếu một chút may mắn trong lao động nghệ thuật, tác phẩm không trở nên hoàn thiện để rồi không có được số phận tốt đẹp như tác giả mong muốn, thì cái phần khát vọng mà người viết đã đặt vào nó vẫn tồn tại và luẩn quẩn sau các dòng chữ.
          Có thể nói một cách chắn không có ngoại lệ rằng khát vọng chính đáng bao giờ cũng tìm được cách biểu hiện tác phẩm.
        Ngược lại một khi các trang sách không đủ sức lôi cuốn người đọc, trước mặt họ chỉ thấy một khối rời rẽ, nhợt nhạt … thì có phần chắc là họ đang phải tiếp xúc với những ngòi bút thiểu năng, thiểu lực, không có lấy một chút tha thiết tối thiểu cần thiết cho một công trình sáng tạo.
        Điều này sẽ được minh hoạ rõ qua một số tác phẩm đang ra đời hôm nay. Câu chữ cẩu thả, mạch truyện chắp vá; lời thơ sáo mòn, người viết làm việc vội vã, hình như chỉ cốt viết cho xong …
        Bấy nhiêu căn bệnh đã được nói trên báo chí một phần, song so với những cái đã nêu, thì cái phần được giấu đi còn trầm trọng hơn gấp bội.
         Nếu được đi vào hậu trường của đời sống văn học, người ta đại khái còn được biết thêm rằng nay là lúc sinh hoạt chuyên môn trong những người cùng giới khá lểnh loảng, nhà văn thường chỉ lo viết hơn là lo làm việc đều đặn để tích luỹ chuẩn bị cho sự viết ; hơn thế nữa, có ngồi vào bàn cũng lo viết ù một cái cho thật nhanh, vì bao nhiêu thời gian và tâm huyết còn dành cho việc xoay xoả cốt bán tác phẩm với giá cao nhất.
          Đã có nhiều ý kiến khác nhau được nêu lên nhằm biện hộ và lí giải hiện tượng này, song, nếu muốn quy về tận gốc, có lẽ phải nói tới con người nhà văn với những khát vọng đang mất dần ở họ.


   Đất bạc mầu -- bình ắc quy, lâu không “ sạc “

     Tại sao anh lại thờ ơ với những ý tưởng nảy sinh trong tác phẩm của anh, đấy là điều tôi không hiểu nổi!”

           Trên đây là một nhận xét mà nhà văn Nga K. Paustovski viết bên lề tập bản thảo của học sinh trường viết văn Gorki.
     Sự thờ ơ mà cụ Pau nói ở đây, không khác gì, chính là một sự thiếu khát vọng chúng ta đang bàn. Thờ ơ với những ý tưởng nảy sinh, thờ ơ với từng quyển sách, thờ ơ với cả nghề văn v.v… những thang bậc khác nhau đó là trên cùng một hướng vận động.
       Và chúng tôi cũng nghĩ như tác giả Bông hồng vàng - sự thờ ơ ấy, là một cái gì lạ lùng, hiếm khi thấy ở một người làm nghề sáng tạo trước kia, và có lẽ, chỉ đặt vào hoàn cảnh xã hội hiện đại, người ta mới nhận rằng nó đã xuất hiện.
       Tạm làm một sự so sánh: theo cách nhìn thông thường thì đất là một thực thể vô tận và bền vững, ổn định, có bỏ công ra cấy trồng là có thu hoạch. Nhưng theo các nhà nghiên cứu nông nghiệp, nay là lúc đất có thể trở nên thoái hoá, bởi đã bị khai thác quá công suất, hoặc bởi sự lạm dụng các loại phân hoá học.
       Cũng tương tự như vậy,  một người viết văn sẽ trở nên trơ lì, thờ ơ, thiếu khát vọng khi giải quyết không tốt mối quan hệ với hoàn cảnh.
       Nhìn một cách bao quát, có thể bảo chưa bao giờ sự sáng tác văn chương lại được xã hội hoá cao độ như hiện nay. Sự bình thản trong nếp sống nếp nghĩ thời xưa chỉ còn là chuyện trong kí ức.
         Sang thời hiện đại, sáng tác đồng nghĩa với gấp gáp vội vàng, hôm qua nhân danh phục vụ,  hôm nay thì để thoả mãn cái tính hiếu thắng không chịu thua kém ai trong kinh tế thị trường.
           Người ta vẫn hay nói và thực sự vẫn nhớ như chôn vào ruột về những tác động to lớn mà văn học có thể mang lại cho cuộc sống.
          Nhưng cái tác động này cần dựa trên một chất lượng ra sao – chuyện ấy đang bị tha nổi.
           Luôn luôn chỉ có một thứ cần nghĩ tới là sự có mặt. Mà đã như vậy, thì chuyện xồ bồ viết lấy được là khó tránh khỏi.
           Có những nhà văn mải miết đến mức không còn học hỏi tiếp nhận thêm, đại khái giông như cái bình ắc quy, chỉ lo phát điện mà không “ sạc - giê ”, thành thử cằn cỗi lúc nào không biết.
          Lại nữa, tuy nỗ lực chủ quan, nhưng việc duy trì khát vọng lại phụ thuộc vào mối quan hệ giữa nhà văn với môi trường, với dư luận.
        Một người không thể cứ viết một cách đầy tâm huyết và có sự chuẩn bị kĩ lưỡng cho sáng tác khi những nỗ lực chính đáng của anh ta không được xã hội đánh giá đúng. Và chắc chắn anh ta sẽ sớm nản lòng khi nhìn ra chung quanh thấy những đồng nghiệp khôn vặt, láu cá lại tọa hưởng vinh hoa phú quý.
         Nói như cách nói của các nhà xã hội học, bấy giờ cá nhân sẽ rơi vào tình trạng cô độc, cảm thấy mọi chuyện phi quy tắc, phi chuẩn mực và thực sự là tuy vẫn nói ra miệng đầy đủ chuyện không ngoan đúng mực, nhưng trong thâm tâm anh ta đã không còn tin ở chính mình. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có từng diễn tả rất hay cái thực trạng tinh thần kiểu đó trong mình : “ Bỗng dưng tôi mất hẳn lòng say mê được trình bày những điều mới lạ trong sáng tạo. Chẳng hiểu bắt nguồn từ đâu, chỉ cảm thấy một sự mơ hồ trục trặc, một cái gì đó lệch đi trong đời sống tinh thần của mình. Nói chung, hình như tôi không còn bị cám dỗ bởi những giấc mơ nữa ”. ( Dần theo Anh Ngọc Từ thơ đến thơ ).
 

Niềm tin vu vơ , niềm tin mù quáng
     Những trường hợp Trịnh Công Sơn nói ở đây còn là bệnh nhẹ, ở một số nhà viết văn hôm nay, quá trình này kéo dài và đã thở nên nặng nề hơn. Và bệnh càng nặng thì các đương sự càng cảm thấy mình bình thường, cách làm ăn của mình là có lí, không còn muốn nghe ai phải trái bàn bạc gì nữa.



         Sau khi bảo rằng đời sống văn chương gần đây chỉ có nền không có đỉnh, loanh quanh ở mức làng nhàng, một nhà văn đã nêu ra lí do để biện hộ : là trong lịch sử, vẫn có những thời điểm như thế : Chẳng những ở ta, mà ngay ở bên Tây, bên Tàu cũng có khi dăm bảy năm liền chẳng lẩy ra được tác phẩm nào đáng kể. vậy cứ bình tĩnh không nên sốt ruột.
           Đây phải chăng cũng là một gợi ý để chúng ta yên tâm chịu đựng sự thiếu khát vọng ở một số cây bút hiện thời ?
         Ví dụ nếu ai có dịp đọc lại thời kỳ 1932 – 1945 sẽ thấy mấy năm từ sau 1940, nhiều người sáng tác cũng tự nhiên cảm thấy khốn quẫn, mệt mỏi hẳn. Nhà thơ Thâm Tâm từng có bài Vọng nhân hành trong đó nói tới hai dạng nhà văn bất lực lúc bây giờ: Một bên là Thằng bó văn chương ôm gối hận, còn bên kia Thằng thí cho nhàm sức võ sinh.
         Cái tài của Thâm Tâm là ông biết chỉ ra rằng bên cạnh sự cằn cỗi bế tắc,  thì nhiều khi thì chính do thiếu khát vọng mà con người cứ làm lung tung cả lên, cốt giải tỏa cái sức sẵn có và đỡ trống trải trong lòng.
         Tuy nhiên cũng cũng phải nói thêm là lịch sử không bao lặp lại hoàn toàn, ở hai thời điểm khác nhau.
         Xưa nhiều người viết khi gặp bế tắc, thường trốn vào im lặng, bẻ bút mà thề là không dính dáng gì đến văn chương chữ nghĩa nữa. Nay có hiện tượng nhiều người không viết được gì nhưng lòng vẫn nặng, không chịu rút lui, ngược lại, chằng bám lấy danh hiệu nhà văn để hưởng chút ưu đãi của xã hội. Hoặc xưa cũng có hiện tượng viết liều viết ẩu, nhưng những người có sống qua thời ấy cho biết thật chưa bao giờ sự làm sách làm báo hỗn loạn như bây giờ.
          Đáng chú ý là trong khi mải miết một cách vụ lợi, một số người loại này lại có hy vọng rất vu vơ tin rằng cứ làm đại đi không biết chừng có lúc vớ được những chú cá lớn. Nói cách khác, họ thích tin vào những phép màu, nó khiến cho người ta có thể có được những kiệt tác để đời mà không cần tốn sức lực. Mà những ao ước vu vơ ( kể cả lòng tin vào những phép màu đột nhiên xuất hiện ) thì khác xa với những khát vọng lớn lao cũng y như các tay chơi nghiệp dư khác hẳn với những cây bút làm nghề có trình độ và có bản lĩnh.


Đã in trong Buồn vui đời viết , 1999

Monday, September 20, 2010

Tạo dựng nền tảng văn hóa pháp luật

“Trên trời có một Phạm Tuân, dưới đất có muôn ngàn người phạm pháp”. Câu nói đó tôi đã được nghe người nói từ khoảng những năm 1980.
Chợt nhớ tới nó vì vào những ngày này, một câu nói tương tự đang được lưu truyền: “Ngày xưa ra ngõ gặp anh hùng, còn ngày nay ra ngõ gặp người phạm pháp”.
Những biến dạng thông thường của xã hội hậu chiến, những cú sốc liên tiếp khi một
Còn trang quốc tế của báo? Ngoài những đề tài mà báo nào cũng đề cập,  tôi muốn PLTP đứng vững ở góc độ chuyên môn của mình. Hãy giúp chúng tôi biết ở các cộng đồng khác—nhất là  các dân tộc  sống trong điều kiện như chúng ta, cũng như các dân tộc từng có ảnh hưởng tới chúng ta -- hiện nay, mối quan hệ giữa con người và pháp luật ra sao, làm thế nào  để con người ở những xứ sở ấy có thể sống tử tế hiền lành nuôi dạy con cái chăm sóc tương lai,  còn chúng ta thì nhân danh cuộc sống cứ phải xô nhau vào những con đường tội lỗi,  để rồi đau đớn hối hận về sự hư hỏng của mình, mà lòng vẫn khôn nguôi một nỗi khao khát,  là góp sức xây dựng một xã hội lương thiện

Ghi chú 


Phần chỉ có riêng ở blog này

xã hội bấy lâu khép kín đột ngột hội nhập với một thế giới ngổn ngang, hỗn độn và bao quát hơn là sự chuyển đổi văn hóa theo hướng hiện đại đầy bất trắc… Bấy nhiêu yếu tố tác động vào tâm lý và hành động của con người, làm nảy sinh mọi biến thái của lỗi lầm, mưu đồ, tội ác. Mọi nền nếp thông thường trong ứng xử bị vượt qua. Phần bản năng thấp hèn trong con người nhiều khi không được góp phần ngăn chặn mà lại được chiều nịnh. Con người dễ sa ngã hơn bao giờ hết.
Bây giờ thì báo chí ở ta tờ nào chẳng đầy rẫy tin tức về các vụ phạm pháp, các hoạt động làm mất trật tự an ninh, các hành vi phương hại tới cá nhân và cộng đồng.
Lý do tồn tại của một cơ quan như báo Pháp Luật TP.HCM không phải là ở chỗ chạy nhanh hơn các báo khác, đưa tin nhanh hơn, kỹ càng hơn, viết mùi mẫn hơn và câu khách hơn… theo xu thế nói trên. Mà dư luận - cả người đọc thông thường và các đồng nghiệp - muốn trông chờ ở đây một cái gì giống như là sự nâng cao, tức là khả năng vượt lên trên các sự kiện bê bối, lầm lỗi thông thường để phân tích bề sâu và soi rọi vào đó thứ ánh sáng trí tuệ cần thiết.




Cái mà người đọc cần không phải chỉ là những lời lên án theo lối vuốt đuôi cũng như những lời bao che dễ dãi.
Nâng đỡ con người lúc này là phải giúp họ lý giải phần bóng tối ẩn giấu trong mỗi người và khơi gợi trong họ những tiềm năng tốt đẹp, đóng góp vào việc tìm ra những chuẩn mực sống cần thiết cho xã hội.
Theo tôi, chất lượng tờ báo phụ thuộc một phần vào khả năng đưa các vấn đề pháp luật vào trọng tâm suy nghĩ của mọi công dân.
Một mặt phải hướng tới văn hóa pháp luật nói chung mà số đông nhân loại dù bất cứ nước nào cũng đều thừa nhận.
Mặt khác, phải đặt tình trạng hỗn độn hiện nay vào mạch chung của sự phát triển dân tộc trong suốt tiến trình lịch sử.
Trở lại với sách vở xưa, nhìn nhận con người trong chiều sâu năm tháng là một trong những cách hiệu nghiệm nhất để hiểu con người hôm nay.
Những bộ cổ luật như Quốc triều hình luật, Hoàng Việt hình luật lệ; những bộ hương ước; những trang lịch sử hàm súc, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục và những cuốn sử đời sống ở dạng thông thường là tác phẩm văn chương... Nếu biết trang bị cho mình những công cụ phân tích hiện đại, chúng ta sẽ phát hiện trong đó cái mã, cái mạch ngầm chủ yếu chi phối đời sống mọi mặt xã hội người Việt. 













Tóm lại, tôi muốn tờ báo của chúng ta có thêm cái nền kiến thức cơ bản bao gồm cả văn hóa pháp luật lẫn lịch sử pháp luật. Phần nền tảng cơ bản này có thể ẩn kín trong các bài báo hằng ngày của các phóng viên và có thể xuất hiện thành những chuyên mục do các chuyên gia phụ trách.
Số nọ tiếp số kia, năm này qua năm khác, dần dà chúng ta sẽ góp phần tạo dựng được một cơ sở văn hóa pháp luật nhân bản và hiện đại, nó là cái trụ vững để mọi loại bài vở, tin tức xoay quanh. 

  phapluattp   20/09/2010 

Saturday, September 18, 2010

'Người Hà Nội thứ thiệt không nói thế'




Hà Nội
Nhà phê bình cho rằng người Hà Nội thực sự 

không cần thiết phải 'tự khoe' về bản thân






Hai chữ Tràng An (có lúc đọc Trường Yên) thời Đinh Tiên Hoàng, theo chú thích ở sách Đại Việt sử ký toàn thư, vốn là tên một xã, và cũng nhiều khi được dùng để chỉ cả vùng thủ phủ Hoa Lư. Nhưng nó đã vĩnh viễn thuộc về Thăng Long Hà Nội nhờ câu ca dao:

"Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,

"Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An."



Lắng nghe lòng mình, tôi tự thấy khi nhắc đến cái tên dịu dàng ấy, lòng cũng rưng rưng cảm động. Nhưng lý trí buộc tôi có chút phân vân.

Hai chữ Tràng An ở đây gắn với một thói xấu mà tôi tạm gọi là tính khoe mẽ, nên lại càng không thể lưu luyến mãi.



Tràng An vốn là tên gọi của Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây, mảnh đất tối cổ của văn hóa Hoa Hạ. (Người Trung Quốc hay nói với khách du lịch ”Muốn biết Trung Quốc một trăm năm đến Thượng Hải; muốn biết Trung Quốc một ngàn năm đến Bắc Kinh, muốn biết Trung Quốc năm ngàn năm đến Tây An).

Những cái hay cái đẹp ngoài ta, bao giờ cũng gợi ý muốn chiếm đoạt, nhưng nếu thích quá mà vơ vào mình bằng được, thì lại là một việc nhảm. Người xưa có thể làm như thế. Nhưng người xưa cũng đã tỉnh ra một phần, nên chỉ dùng Tràng An nơi cửa miệng, chứ không đưa nó vào ngôn từ chính thức. Ngày nay chúng ta càng phải tỉnh hơn.

Nhất là hai chữ Tràng An ở đây gắn với một thói xấu mà tôi tạm gọi là tính khoe mẽ, nên lại càng không thể lưu luyến mãi.

Đâu là giá trị thật ?

Trong câu ca trên, người tự nhận là dân Hà Nội không cần giấu giếm mà bộc lộ công khai một cách hiểu cao ngạo về bản thân. Đó là niềm tự hào trước cái phẩm chất riêng mà con người ở một vùng đất sang trọng tự xác định để phân biệt với người nơi khác. Người ta gọi nó là thanh lịch, bao hàm cả tinh tế, thanh nhã, lịch sự… Ít nhất có mấy điều phải bàn :

1/ Chẳng lẽ phẩm chất chính của người dân một thủ đô chỉ thế là đủ? Đã đáng khoe chưa?

2/ Khi không có cái phẩm chất đó, mà cũng tự khoe, khoe lấy được, thì có nên không?

3/ Tại sao người ta chỉ khoe được có thế?

Dù dễ dãi đến đâu cũng phải nhận với nhau rằng khi nói về người dân Thủ đô mà chỉ nói tới thanh lịch, thì còn là quá ít, là dừng lại ở lối xem xét con người qua vẻ bề ngoài.



Làm gì có cái gì gọi là chất hoa nhài khi không còn mùi thơm? Làm gì còn chất Thủ đô khi không còn thanh lịch?.

Về phần mình, khi bàn về người Hà Nội chuẩn, nếu chỉ nói đến một phẩm chất thôi, tôi muốn nói đến một cái gì giống như tổng hợp của hiểu biết, lịch lãm, thích ứng cao, một thứ từng trải ở tầm trí tuệ, xa lạ với mọi thói tỉnh lẻ xoàng xĩnh. Đó cũng là sự xử thế có được nhờ ở tầm rộng của hiểu biết và năng lực trau dồi cho mình một phẩm giá cao quý, vượt lên trên mọi sự tầm thường.

Tôi phải xin lỗi, vì diễn tả còn dài dòng, chưa tìm được một chữ cô đúc. Nhưng theo tôi, một cái gì chưng cất từ sự dài dòng nói trên mới là cái phẩm chất hàng đầu mà người Hà Nội chân chính thầm hiểu rằng mình nên có, phải có, nếu chưa có ngay thì phải phấn đấu theo hướng đó, và chỉ nên tự đánh giá bằng cách so sánh mình với cái tiêu chuẩn khó đạt tới này.

Trong thực tế, tôi đã bắt gặp nó phảng phất ở những người lớn lên trong các gia đình Hà Nội tạm gọi là chính hiệu. Nhờ có cái phẩm chất chắc thiệt như vậy, nên mặc dầu bị hoàn cảnh xô đẩy, chung quanh níu kéo, thậm chí hùa vào tàn phá, song họ vẫn đứng vững với thời gian và vẫn có cái gì đó mà người ta phải nhớ tới, không lẫn với các nơi khác.

Hóa ra là chuyện “hộ khẩu”!



Theo tác giả, Hà Nội luôn chịu nhiều xáo trộn từ nhiều thế kỷ.
Nếu xem hai chữ thanh lịch như một giả thiết làm việc, ừ thì có thể tạm thời chấp nhận được.

Thế nhưng khi đặt vấn đề có thể không thanh lịch cũng được, cứ là dân Thủ đô (như ngày nay gọi là “hộ khẩu Hà thành”) là đã có quyền tự hào, thì là cả một sự ngụy biện.

Hoa nhài vốn không được coi là loại hoa của sự linh thiêng thành kính, mà thường chỉ tượng trưng cho sự quyến rũ dân gian. Mùi thơm là hồn là cốt, màu trắng bên ngoài chỉ là một chút đưa duyên, rất dễ nhòa nhạt.

Làm gì có cái gì gọi là chất hoa nhài khi không còn mùi thơm? Làm gì còn chất Thủ đô khi không còn thanh lịch?

Vậy mà người ta vẫn khoe! Toát ra từ hai câu ca dao là một lối nói lấy được có pha một chút trơ tráo. Nó là sản phẩm của một kiểu suy nghĩ rất kỳ cục của những người nông nổi, đành hanh, kiêu căng vô lối. Lại cũng có thể bảo là một thứ nhận vơ, tưởng cứ sống ở mảnh đất nào là mặc nhiên có được tất cả phẩm chất tốt đẹp của vùng đất ấy, và cũng mặc nhiên có quyền vênh váo với thiên hạ.

Có như không, không vẫn có

Sự khoe mẽ nói ở đây vốn bắt nguồn từ một hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Nhiều thế kỷ qua, Hà Nội luôn luôn bị xáo trộn. Cái lõi của nó mỏng, mà những lớp đắp điếm thêm lại quá nhiều. Chính lớp người nhập cư mới đến Thủ đô sau những xáo trộn lịch sử lại dễ mắc cái bệnh tự hào hão huyền\

Khi thì người ta buồn vì thấy nó phai tàn dần. Khi thoáng vui vì nó không bao giờ chết hẳn.
Họ lấy sự may mắn được sống trên đất thánh để làm giá với người cùng quê và dân các vùng xa.

Còn người Hà Nội chính cống không nghĩ thế. Trong thâm tâm, lớp dân Hà thành “xịn” này tự nhủ rằng danh hiệu Hà Nội là quá cao quý, mà không phải cái đem khoe, hoặc mang ra dọa nạt thiên hạ.

Phải nhận là hiện thời cái rởm này lại đang phổ biến và bị những người dễ tính đầu cơ. Câu ca Chẳng thơm… còn đang được lưu truyền theo cái nghĩa không hay của nó, chưa biết bao giờ mới thôi.

Còn chất Hà Nội thứ thiệt thì sao? Cùng lúc nó để lại nhiều cảm tưởng khác nhau. Khi thì người ta buồn vì thấy nó phai tàn dần. Khi thoáng vui vì nó không bao giờ chết hẳn và vẫn đang được bộ phận ưu tú nhất trong những lớp người mới nhập cư tài bồi thêm.

Dù đã cố nén lòng, song thông thường, một nỗi bùi ngùi nhớ thương buồn vui lẫn lộn cứ trào lên trong tâm tưởng, mỗi khi nghĩ đến nó.

BBCVietnamese.com

Tuesday, September 14, 2010

Nhật ký văn hóa 2009

10-1

Gặp ông Phạm Duy Hiển. Chúng tôi cùng chia sẻ cảm tưởng xã hội đang thiếu những trí thức có tầm nghĩ bao quát các vấn đề của dân tộc. Không có ai đang nghĩ về VN như một tổng thể.

Mà nay là lúc xã hội cần không chỉ một vài người mà nhiều người, cả một đội ngũ,-- như cách nói quân sự đã thấm sâu vào ngôn ngữ đời thường!



Đầu tháng 12, có một hội thảo về hội nhập. Với nhiều nhà văn hội nhập chỉ đáng mong ước – và trước tiên là được phép vận hành -- với nghĩa phải đưa tác phẩm của họ ra với thế giới.



20-1

Ng B Dũng kể một người bạn vừa nói với anh rằng ông H T dạo này lạ lắm, có lẽ là do hội chứng cô độc ( với nghĩa: hội chứng cảm thấy điều mình nói đúng mà không thể thực hiện), lúc nào ông cũng thảng thốt, muốn đi họp để nói với mọi người, và khi nói thì nói rất dài khiến người ta phát ngán. Có báo rất yêu ông cũng không dám mời ông đi họp, hoặc có mời thì đặt ông nói cuối cùng.





Lại có bài trên ANTG kể là Lê Lựu dạo này hay khóc lóc. Ốm, nhũn não, phải có người dìu đi quanh hồ. Trung tâm của Lựu mấy năm nay tuyển đến 700 nhân viên, ai cũng được Lựu hứa hẹn thậm chí nộp tiền cho Lựu mới được làm. Được một hai tháng thì Lựu đuổi.

Báo Sức khoẻ và đời sống có bài kể cái sự ăn kỳ cục của Lựu. Hết chuyện!



4-2

Một người viết trên TT&VH: Dạo này nhiều tác phẩm nghệ thuật có lối khai thác tình thế bỗng dưng, bỗng dưng muốn khóc, bỗng dưng nổi máu giận đời. Tôi ngờ là có cả một xu thế trong xã hội thích đuổi bắt cái chất tự phát của con người và cho là như thế mới hiện đại.



9-2-09 Một mẩu báo

Thơ trong thời mất giá nên xem ra một số nhà thơ thay vì chấp nhận thực tại, đã rất xông xáo ở khâu tiếp thị thơ. Cây bút trẻ Đoàn Quỳnh Như bày ra giữa bãi cỏ một tấm giấy điều rực rỡ, tự nguệch ngoạc bài thơ Ngày phồng rộp để giới thiệu tập thơ... chưa ra mắt của mình.

Cây bút hiện sống bằng nghề viết kịch bản phim và đóng vài vai diễn nho nhỏ này cho biết do thơ của mình quá bạo liệt nên mãi cả năm rồi chưa xin được giấy phép. Tuy chẳng bán được gì, nhưng "tiết mục" của Quỳnh Như cũng được chấm giải ba "hạng mục" tập thơ trình bày ấn tượng.

Nhà thơ trẻ Ngô Liêm Khoan thì xén rời tập Trở mình trong máng xối của mình ra thành những tờ rơi, đích thân đi phân phát tận tay từng người kèm câu khuyến mãi "anh chị muốn mua nguyên tập, xin ghé qua bàn bên kia". Giữa ngày hội của thơ ca, có một cây bút trẻ nhiệt thành như những nhân viên tiếp thị tờ rơi giữa ngã tư đường phố, vừa thấy phục nhà thơ và vừa thấy thương cho thơ.

Còn nhớ Ngày thơ lần thứ VI, nhà thơ Dương Tường với màn trình diễn thơ gây ồn ào như ong vỡ tổ phía dưới khán đài khi ông quấn xung quanh mình cuộn giấy vệ sinh đã được viết thơ, cạnh ông là hai nhà thơ nữ vừa đi lại quanh ông đọc thơ, vừa giằng giấy vệ sinh thơ ném vào mặt ông



24-2

Hôm qua 23-2, đọc một mẩu văn chương trữ tinh trên TT&VH tả cảnh thiên nhiên “ bây giờ tháng mấy rồi hỡi em”, thấy con người VN bây giờ xúc cảm một cách ngô nghê quá. Văn viết nhạt, lại có vẻ xơ cứng.

Mối giao hòa con người với thiên nhiên mất đi tính nhân văn vốn có.



Trước một đời sống văn nghệ theo kiểu văn hoá đại chúng hiện đại, cái còn lại chỉ là một cảm giác ngổn ngang và sự bành trướng của những yếu tố thấp kém.



10-3

Trang văn nghệ các báo ồn ào về chuyện nhà thơ nọ công bố mấy bài thơ viết trong một đêm định tự tử. Rồi có người tỏ ý không tin. Rồi người làm thơ thanh minh. Chỉ không ai nói gì về chất lượng các bài thơ đó.



Chúng ta đã không còn phân biệt hay dở tốt xấu. Chúng ta chỉ biết mọc lan ra như cỏ dại.

Nhiều. Nhanh. Chỉ không tốt và do đó không “rẻ”, với nghĩa không có khả năng đến với đông đảo bạn đọc tử tế.



15-3

Cảm tưởng lớn nhất về đời sống tinh thần người Việt: không nghiêm túc. Lúc nào cũng chỉ thích đùa. Một thứ người Việt bông phèng đang phổ biến ngay trong xã hội hiện đại.



Có lẽ là theo tinh thần ấy, mà nhiều tiếng thơ trào phúng trở thành cả nước lưu truyền và tác giả được nâng lên thành thi hào.

Nhớ có lần nhân ngày 8=3, một tờ báo gọi người viết mấy câu vè Hôm nay mồng 8 tháng 3—Tôi giặt hộ bà cái áo của tôi , là một nhà thơ.

Bao giờ tôi có thể lên tiếng về cái sự thấp lè tè này, như lên tiếng về Trạng Quỳnh Trạng Lợn?



Trong một đời sống mệt mỏi người ta biết làm gì ngoài đùa bỡn. Và đùa nhạt đến mấy cũng cứ được khen là hay... Tôi biết tiếng cười này đáng thông cảm, nhưng tôi không muốn kéo dài tình trạng như vậy.



24-3

Một đoạn đối thoại giữa nhà văn Thuận và báo Tuổi trẻ

- Tại các buổi tiếp xúc với độc giả Pháp, phản hồi nào từ họ khiến chị ngạc nhiên, bất ngờ?

- Ðộc giả Pháp không có gì đặc biệt, nhưng khi tiếp xúc với tác giả, độc giả Pháp không nói chuyện riêng, không ngủ gật, không gác chân lên ghế, không cao giọng dạy đời.



31-3



Tôi hay nói người Việt chỉ toàn nói chuyện văn chương. Nhưng tôi nào có khác gì

Vẫn chưa biết cách đọc ra các v/đ của đời sống qua văn hoá.



Xem một bộ phim truyền hình về làng Mộ Trạch Hải Dương, quê hương của

nhiều tiến sĩ, thấy một ông tiến sĩ khoa học lịch sử ca ngợi Vũ Hữu xưa kiểu này:

-- Vũ Hữu không chú trọng sách vở mà chú trọng thực tế VN

-- Vũ Hữu có sáng kiến ( ôi chữ nghĩa của nhà làm sử!) trong việc xây thành cho vua Lê Thánh Tôn

-- Vũ Hữu xin vua cho tổ chức thi toán

--Có hàng vạn người dự



Giáo sư sử học phát biểu tiếp, rằng Lĩnh nam chích quái của Vũ Quỳnh là vừa có giá trị tư liệu vừa có giá trị văn chương. Mà văn chương thì được giảng giải với nghĩa “câu chữ rất đắt “,” tìm tòi rất giá trị”



Trong bộ phim về Mộ Trạch, chữ Hán trên các hoành phi câu đối viết xấu quá. Nên nhớ đấy là một làng nổi tiếng khoa bảng.

Trong phim có cảnh ông đồ viết chữ Hán. Họ trải cho ông ta một tấm chiếu trên cỏ. Chắc ít ai ngờ rằng trên nền chiếu rung rinh đó làm sao viết nổi thứ chữ vuông nghiêm cách, cấu trúc cân đối. Nhớ một trong những tiêu chuẩn tôi được dạy lúc nhỏ khi học viết loại chữ này là phải ngang bằng sổ thẳng, cân đối vững vàng. Được khen một chữ là viết chặt khó lắm!



Cũng trên TV có hình ảnh một ông đồ khác đi lại trên một lối đi cũng thuộc Văn Miếu. Chỉ thấy phía lưng nhưng ông ta vẫn hiện lên với cái dáng ngúng nguâỷ dáng xiêu vẹo như...say rượu. Như đuổi ma, hoặc như ghẹo gái.



4-4

Sân khấu SG lâu nay được khen là gần khán giả. Nhưng gần theo nghĩa nào? Bây gìơ mới biết là họ đi vào những cảnh nóng, những chuyện thô tục, gây sốc.



Một “ hoạ sĩ” tuyên bố cách tân theo kiểu sơn mài mà không cần mài. Cũng như thứ thơ không lời của một ông nhà thơ mô đéc nọ!



Bài rất dài trên báo VN Trẻ, báo động tình hình “ Phê bình văn nghệ địa phương đang chết lâm sàng.” Không có người viết, nhiều người không biết gì cứ bịa ra mà làm. Ban đầu chung quanh khuyến khích, rồi thấy anh kia được nhiều quá, lại quay ra chửi bới.



11-4

Cách đây hai tuần có người ở TV hỏi về hiện tượng thanh niên vẽ nguệch ngoạc ở các di tích, tôi đã nói đó là do sự bế tắc của họ. Vả chăng, việc họ làm có thấm gì so với sự phá hoại của những người dân thường cũng như của chính các ban quản lý di sản.

Hôm nay mở đầu lễ hội hoa anh đào Nhật đọc trên VNN thấy toàn cảnh 500 người công an bảo vệ. Không khí bừng bừng sát khí.

Tôi trả lời báo Pháp luật TP HCM : Chúng ta thiếu một không gian văn hoá. Một người như tôi, tôi tự nguỵện không đến các lễ hội đó mà xin ở nhà, đọc sách.



13-4

Ông Trịnh Cung, nhân 7 năm ngày mất của Trịnh Công Sơn, có bài trên Da màu nói TCS thật ra đầy tham vọng chính trị và ham hưởng lạc, dễ bị các ông cốp lợi dụng. Thế là nhiều người xúm vào chửi ông TC là xấu chơi, bôi nhọ bè bạn.

Có một cuốn sách mới viết về Chuyện tình của các vua chúa VN, kể Ỷ Lan thời Lý Nhân Tông là một kẻ âm mưu xảo thuật.

Báo chí lại chửi. Họ viện lý trong dân gian, Ỷ Lan được miêu tả như một thứ cô Tấm hiền hậu nết na.

Có thể xem như một ví dụ về việc lấy huyền thoại thay cho sử sách. Chúng ta không muốn nghiên cứu người xưa mà chỉ muốn bịa ra hình ảnh người xưa như ta hình dung.

Mà đó là thứ tư duy phổ biến trong xã hội.



17-4

Trên TT&VH có mấy bài ca tụng: mỗi tâm bia ở Văn Miếu là một tác phẩm văn học nghệ thuật đặc săc. Các mộc bản của triều Nguyễn là một thứ di sản văn hoá thế giới không nơi nào có.

Tôi cho rằng cái chuyện không giống nơi nào trên thế giới không phải bao giờ cũng đáng nhấn mạnh. Có những cái không giống nơi nào trên thế giới nhưng vẫn chỉ ở mức xoàng xĩnh, tầm thường. Ta cố mà giữ, nhưng không có nghĩa là nên dùng những lời lẽ quá hào phóng kiểu ấy để khoe với bạn bè.

Lại nhớ có lần tôi cố thuyết phục một người nước ngoài đi xem đền chùa quanh HN, nhưng ông ta dứt khoát bảo không.

Sau nghĩ lại mới biết, trong trường hợp này, cái dở đang chi phối tâm lý những người như tôi là cố nghĩ rằng cái gì độc đáo của mình cũng là “tầm thế giới”, ra cái điều mình không kém ai, sẵn sàng mang những danh hiệu sang trọng nhất quàng lên cổ mình.



Hôm nay thấy đưa tin về việc sửa đổi luật di sản. Khuynh hướng chung là các nhà quản lý chỉ muốn dễ đi cho mình. Hôm trước nói phải lo giữ nguyên trạng, nay đề nghị là giữ một cách nghiêm ngặt.( Chữ nghiêm ngặt có cái tiện là hiểu mỗi người một kiểu và tuỳ tiện cãi cho mình). Báo chí nói rõ vì thiếu tiền nên nới lỏng luật di sản như vậy.

Tôi muốn bổ sung thêm người ta chỉ nhăm nhăm lo khai thác di sản để kiếm lợi. Giết chết di sản cũng được.



21-4

Hà Nội- Hà Tây sát nhập, nhưng Hội nhà văn hai bên thì có vẻ hơi khó hoà hợp. Chuyện không lạ, nhưng lạ ở những lời bình luận.

Theo cách giải thích tôi nghe được, chẳng qua là ở HN, lâu nay có khuynh hướng chuyên nghiệp hoá, trong khi ở Hà Tây, thực chất là một thứ hội quần chúng (?).

Có đúng như thế chăng nữa, tôi nghĩ, thì thực ra họ cũng có khác nhau bao nhiêu! Cả Hội TW của chúng tôi cũng đang trở thành hội phong trào, hội quần chúng đấy thôi.



27-4

Thấy nói đạo diễn Nhật Minh rất vừa lòng với phim Đừng đốt, hỏi ra mới biết phim được nhà nước tài trợ hơn chục tỉ, và về mặt kỹ thuật đạo diễn được thoả mãn hoàn toàn. Chỉ có điều khi tôi hỏi đâu là chỗ mới của nội dung thì không ai hiểu cả. Có người nói rõ phim cúng cụ thôi.



10-5

Người ta đưa từ Canada một bức tượng Phật. Tượng làm từ một viên ngọc khổng lồ. Lại đưa về tận Phật Tích Bắc Ninh. Dân nô nức đi xem, dù sau khi vượt qua tình cảnh tắc đường, sau khi gửi xe đi bộ vào tận nơi chỉ được ngắm độ 5 phút. Đứng ngắm tượng trong không khí khai mù, -- lòng tin của người ta hôm nay được thực hiện trong khung cảnh vậy. Phật ở đây trang sức loè loẹt, người béo, các thớ thịt căng và như bôi môi son nữa. Một người bạn nói vớí tôi nét mặt Phật ở đây rất xa lạ với tâm thức Việt Nam.



12-5

Nguyễn Quang Lập viết đủ chuyện linh tinh trên mạng về các đồng nghiệp và quê hương, viết theo kiểu khẩu ngữ. Tưởng chỉ để đùa, nay in thành sách gọi là Ký ức vụn. Tiếng nổi như cồn.

Thời nay là thế.

Chất Hồ Xuân Hương chi phối cả xã hội VN nhiều thời đại và đang kéo dài đến ngày nay.

Chợt nhớ là trước 1975, ở Sài Gòn, có một hồi người ta không cho phép dạy HXH trong nhà trường, đến mức ông Đặng Thai Mai ngoài Bắc phải lên tiếng phản đối.

Nhớ là những người Trung quốc nghiên cứu VN cũng không coi đây là hiện tượng văn học cao cấp.



14-5

Năm ngoái năm kia người ta đã than thở là ở nghệ thuật sân khấu chẳng ai chịu làm đạo cụ nữa, có vở mới không biết thuê người làm những công việc này ở đâu.

Bây giờ thì là lời than diễn viên ra sân khấu mà không học kịch bản và cứ bịa tràn lan. Ca sĩ lên sân khấu thì hát nhép.



20-5

Nhiều người tỏ ý than tiếc rằng nhiều nét đẹp văn hoá cũ đang mất đi. Như hát ru. Họ đề nghị phải dạy cho phụ nữ trẻ hát ru để họ ru con.

Một chương trình truyền hình đề nghị tôi bình luận về chuyện này. Tôi bảo nét đẹp này là chuyện một đi không trở lại. Các bà mẹ trẻ bây giờ học hát ru sao được? Hát ru đã không còn hợp với nhịp sống nhịp nghĩ của họ.

Nghe có vẻ trái tai nên họ không mời tôi nữa.



Lạ thế đấy, người ta vừa nghĩ tới chuyện sưu tầm âm nhạc cổ là nghĩ ngay tới chuyện đưa nó vào phục vụ đại chúng. Thất bại đến thế này rồi mà vẫn không rút kinh nghiệm. Chẳng nhẽ lại khái quát người ta chẳng hiểu âm nhạc gắn liền với cơ sở xã hội như thế nào?



Nhìn chung với di sản âm nhạc dân gian, có một việc, theo tôi, phải làm. Là bỏ tiền ra giữ lấy nó, bằng cách ghi nó lại thật chính xác như nó vốn có. Trước hết là thế.



Còn việc dạy cho đám phụ nữ trẻ bây giờ săn sóc con cái bằng âm nhạc là chuyện khác, chắc còn phải nghiên cứu nhiều.



22—5

Ng V Thành cho biết giới điện ảnh rất chê Đặng Nhật Minh, cho là phim giả. Có vẻ như tay nghệ sĩ về già chỉ thích là được làm việc với đầy đủ phương tiện hiện đại và đi Tây cho sướng(?).

Ở bên trời Tây, Dương Thu Hương cũng tỏ ý đã mệt mỏi lắm, viết như một thứ lên đồng. Người ta làm sao đọc nổi những trang viết theo lối viểt hoa mỹ mà trống rỗng của nhà văn này -- một bài điểm sách trên báo Pháp viết vậy, tôi đọc bản dịch trên BBC.



29-5

Ca sĩ Thanh Lam tự nhận giọng ca của mình điên điên ngầu ngầu. Nghe kể thì thấy những tài năng đó đều đi vào con đường bế tắc vì không ai hướng dẫn và dễ bị lôi kéo vào những con đường lầm lẫn. Mà cưỡng lại thì quá khó!



1-6

Sau bài Xuân Sách của tôi có bài ông nào đó nói rất buồn cười, đại ý tôi không muốn viết mà lại không thể không viết về bài này ( bài VTN về XS ).

Tôi hiểu nhiều người không thích tôi, nhưng không thể bỏ tôi.



3-6

Ông Bùi Ngọc Tấn có một bài phát biểu rất hay bên một trường đại học ở Mỹ. Ông bảo trong khi người khác viết về những người làm nên lịch sử, thì mình viết về những người bị lịch sử chà đạp và chỉ có cách cam chịu. Đây nguyên là một ý của Camus và ông vận vào mình.

Có lẽ BNT đã được những người như DTường mách nước cho, phải nhận là chững chạc. Tầm cỡ hơn cả Tô Hoài, Nguyễn Huy Thiệp(?)



11-6

Báo động từ vốn di sản là tên một mục của báo TT&VH. Đáng chú ý là do một quỹ văn hoá nước ngoài tài trợ.

Đụng vào đâu cũng thấy những hư hỏng biến dạng. Dạo này có cuộc trao đổi về xếp hạng di sản. Thật buồn cười khi nghe một quan chức Bộ Văn hoá đề xuất: Xếp hạng không theo giá trị mà theo độ phổ biến của di sản.



13-6

Tình hình văn hoá đại thể là người ta thi nhau làm những đồ tàng tàng, sau rồi kêu toáng lên là chưa ai làm được cái gì tương tự như mình.



Báo TTVH đưa ra một công thức “bùng nổ giải trí teo tóp văn hoá’. Với tôi lẽ ra phải nói bùng nổ những cai tầm thường dung tục phi văn hóa mới đúng.

Và nó bành trướng ra như một thân thể khổng lồ mà thiếu trí tuệ, thiếu cái đầu.





19-6
      Thư tôi gửi L. một bạn nghiên cứu sinh người Mỹ gốc Việt




  
Cháu L.



   Câu văn của Nguyễn Tuân đầy đủ như sau:

 “Sớm nay, tâm trạng tôi lúc nằm nhàn tưởng ở giường với  cuốn sách mở trên ngực là tâm trạng  một người đang vui sống, vui đến nỗi  cảm thấy cái vô dụng của mọi cuộc Cách mệnh  xã hội trên thế giới. Và tính cách vô bổ của mọi thứ Tôn giáo  lúc này lại càng rõ rệt quá. Tôi huýt sáo gió. Tôi hát Tây. Tôi ngâm thơ Tầu cổ"

 Đây là đoạn cuối trong bài Đẹp lòng, in ở cuối tập Tuỳ bút

 cuốn sách này in ở NXB Cộng Lực ở Hà Nội lần đầu năm 1941.

 Cháu có thể tìm thấy trong Nguyễn Tuân toàn tập, Nguyễn Đăng Mạnh  biên soạn, tập II,NXB Văn học 2000, tr. 565



Trước năm 2000, tức là năm 1998, bác đã sưu tầm bản gốc của mấy tập tuỳ bút của Nguyễn Tuân, in vào thành một tập, NXB Hải phòng xuất bản, mang tên Nguyễn Tuân-- Tuỳ bút viết trước 1945

Bài Đẹp lòng in trong sách này

 Đoạn văn trên ở trang 174.

 Chú ý là trong đoạn này hai chữ Cách mệnh và Tôn giáo, Nguyễn Tuân  đều viết hoa


***



Lá thư của cháu hôm nay làm bác hiểu cháu hơn

Theo bác, cái cần thiết nhất cần tập trung nghiên cứu lúc này là đời sống tinh thần của con người VN



1/-- Trước tiên cần nghiên cứu bộ mặt hôm nay của nó.

 Đó chính là cái đề tài mà cháu đang theo đuổi.

Bác không rõ  cháu lấy câu của Vũ Bằng ở đâu, nhưng câu đó nói rất đúng cái tình thế của con người VN sau chiến tranh



Chiến tranh làm cho con người trở nên càn rỡ,  triết lý sống của họ lúc này là " bạo lực trên hết". Đời sống tinh thần họ cùn mòn đi, nghèo nàn đi. Lớp trẻ ở VN đang trong tình trạng thoái hoá

 nếu cháu đọc bác hẳn thấy đây đó bác đã nói  xã hội VN như một rừng cỏ gianh,



Bác muốn khuyên  cháu khi  đọc các tác giả trẻ VN, nên lấy đây là tiêu chuẩn. Tức là xem xem  mỗi người  trong họ biểu hiện cái tư tưởng này như thế nào.

 Bác tin rằng các bạn bên Mỹ cũng nên đọc văn học VN theo hướng này



2/ Muốn biết một người nghèo đi ra sao, phải hiểu họ đã từng giàu có ra sao

Muốn biết một người đã thô lỗ tầm thường đi, phải hiểu họ từng tinh tế và sâu sắc ra sao



 Theo bác để hiểu lớp trẻ hiện nay, cháu phải trở lại với văn học tiền chiến.

 Không phải ngẫu nhiên mà bác đã nói đến Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân  chính là người nói được cái phong phú của tâm hồn VN, đúng hơn, một trình độ làm người của người VN khi bước vào xã hội hiện đại ( tức là trong thế kỷ XX)



Tiếc là, ở VN  cho đến nay, người ta không khai thác văn học tiền chiến theo hướng này.

Bác cũng chưa làm  được gì nhiều.

Nhưng Nguyễn Tuân, với bác chính là một điểm đối chiếu mà nghiên cứu về cái gì thì cũng  phải để một phần thời gian quay về với ông Nguyễn

 bác có viết một ít bài về Nguyễn Tuân, cháu nếu thấy cần thử tìm xem ( một tác giả khác bác cũng đã khai thác theo hướng này  là Thạch Lam)



3/ Đào sâu  thêm một tầng nữa, tại sao người Việt ở vào trạng thái như hiện nay

phải trở về với nguồn gốc của họ

 sự hình thành  họ như những chủ thể văn hoá



bác có  trong nhà bản tiếng Nga của cuốn  Bông cúc và thanh kiếm (The Chrysanthemum and the Sword)

bác ao ước ai đó phải viết về người VN như bà  tác giả này viết về người  Nhật



 Mọi người nghiên cứu văn học VN phải xuất phát từ sự hiểu biết tổng quát về văn hoá VN -- đó chính là điều bác đề nghị với cháu hôm trước



4/ Bây giờ mới trở lại với vấn đề cháu nêu lên lúc đầu

 Ở VN người ta chỉ  nghiên cứu văn hoá VN bằng cách đi thẳng vào đối tượng. Và kết quả thì nghèo nàn như cháu thấy



 Bác tự xác định: muốn hiểu người VN, phải qua so sánh đối chiếu



Lâu nay bác rất đau đầu vì chuyện này, vì nếu đi theo hướng này phải làm việc rất nhiều

Phương châm chỉ đạo bác là qua tiếp xúc với người mà hiểu thêm mình



 Hơn thế nữa một điều kinh khủng hơn, là nếu trở lại với nguồn gốc thì cái phần " bản địa" của người Việt lại rất mỏng và nhiều phần kém cỏi

Rất nhiều thứ  người Việt có hôm nay là do từ nước ngoài  (Trung Hoa, Tây phương) mang lại

Hẳn cháu cũng biết một hướng suy nghĩ như thế này ở VN  gây phiền phức cho nhà nghiên cứu,

 Nhưng khốn khổ là bác không từ bỏ nổi



 Sau buổi nói chuyện hôm nọ có vẻ như cháu cũng thấy đó sẽ là một hướng làm việc cần thiết?

Cháu cũng muốn đi theo hướng đó chăng?

Nhưng hẳn cháu thừa biết là con đường này vất vả lắm



***

Bác có cảm tưởng là sau buổi nói chuỵện hôm trước, cháu thấy chia sẻ với bác nhiều điều

 Chính bác cũng đang phải mầy mò tìm kiếm

 Bác rất cần người đối thoại



 Ngay lá thư cháu gửi cho bác đối với bác cũng là bất ngờ, cháu đã khái quát  khá nhanh và đọc thêm được khá nhiều

  Nhờ cháu mà bác phác ra được cái sườn của công việc nghiên cứu  như vừa trình bày ở trên.



Có thể  viết  cho bác mọi điều cháu đang nghĩ. Nên viết bằng thứ chữ Việt có dấu, vì  nhờ thế dễ đọc hơn



**

 Cháu  nói rằng cách nghĩ của bác gần với cách nghĩ của ông già cháu,-- một người làm nghề nghiên cứu về môi trường(?)

Điều này khiến bác rất thú vị

 Cháu hãy nói thêm về điều này cho bác nghe đi.




VTN




15-7

Ông Tế Hanh được chia tay cuộc đời này sau 10 năm bất động và chỉ sống cuộc sống sinh vật. Có đến mấy báo mạng in lại bài của tôi Lời con đường quê.

Tôi rất muốn viết rằng với ông Tế Hanh lúc này, chết là giải thóat.

Cũng như cái lần nghe tin Xuân Diệu mất, giữa rất nhiều ý nghĩ khác nhau, xót xa có, luyến tiếc có, trong cái đầu óc hỗn lọan của tôi lóe lên một ý tưởng lạc lõng -- sống như thế đủ rồi, có khi để cho người khác sống lại hóa hay. Mà như thế thì cái chết đâm ra nhẹ nhõm…Rồi tôi thấy sợ ngay chính ý nghĩ của mình, nên chưa bao giờ tính chuyện nói với mọi người. Nói không rào đón kỹ càng thì họ sẽ bảo tôi độc ác, đê tiện … và đủ thứ khốn nạn khác.



26-7

24-7-09 là ngày dân SG mê cải lương đến rạp Hưng Đạo tưởng niệm Phùng Há. Điều người ta thấy đáng tiếc—một nhà báo kể lại – là mấy diễn viên học trò cưng của PH khi biểu diễn đều quên lời quên vai, nên hát sai hoặc bịa lung tung cả. Đêm tưởng niệm lại có cả những tiết mục hài—một thứ hoàn toàn không ăn nhập với nội dung buổi lễ.

Hình như người Việt không thể sống thiếu tiếng cười.

Tiếng cười ở đây đóng vai trò quên lãng. Khi chúng ta cười thì mặt chúng ta đầy ánh sáng—Nguyễn Đình Thi bảo vậy. Nhưng tôi thấy trong cái ánh sáng này, bóng tối còn nặng nề níu kéo. Và là một thứ ánh sáng nhợt nhạt, bệnh hoạn.



Thư gửi L., 29-7

Cháu L.
Suốt tháng qua bác bận một ít việc nhà và lo viết một bài về trí thức VN, nay đã tạm xong mới viết thư cho cháu đươc


Về lớp thanh niên VN hiện nay-- bác nghĩ để hiểu họ và văn chương của họ, ít nhất cháu nên đọc và suy nghĩ về mấy mảng sách
Một là mảng viết về con người sau chiến tranh. Hai là mảng viết về con người hiện đại xã hội hiện đại nói chung.Và ba là—cái này thì hơi rộng quá, nhưng phải cố làm một cách gọn nhất-- tìm hiểu con người VN được miêu tả qua lịch sử và văn chương ra sao


Về mảng thứ nhất
Bác có ấn tượng đặc biệt về nhứng nhân vật thanh niên trong các truyện ngắn của Hemingway.Từ chiến tranh về, họ như " chết đi một nửa đời người". Họ sống khô cằn thụ động
Cho đến nay ở VN, người ta vẫn lảng tránh không làm công việc tìm hiểu xem cuộc chiến tranh hơn ba chục năm -- mà danh từ chính thức gọi là chiến tranh giải phóng—làm con người VN biến đổi ra sao
Hồi chiến tranh, bác và mấy nhà văn bác quen cũng đã từng nghĩ về vấn đề này. Cảm giác chủ yếu là chiến tranh bòn rút tiêu hủy tất cả cái tốt đẹp trong con người.” Như là một ấm nước trà, chiến tranh lấy đi cái tinh hoa để lại cái bã. Cuộc sống sau chiến tranh là cuộc sống của những con người đống bã “.--- Đấy là cách nói của Nguyễn Minh Châu
Tiếc rằng v/đ này –một v/đ bác luôn bị ám ảnh, nhưng lại chưa viết được nhiều
Cháu có đọc bài bác viết về Bảo Ninh? Và bài về Đặng Thùy Trâm, bài này có cái tên hơi to, Nhật ký Đặng Thùy Trâm và đời sống tinh thần người Việt sau chiến tranh, cả hai chưa nói được bao nhiêu so với những điều đáng lẽ phải nói.
Bác còn định viết tiếp về con người chiến tranh được miêu tả trong các nhà văn Sài Gòn trước 1975. Có một cuốn rất có không khí là cuốn Dấu binh lửa của Phan Nhật Nam
Có hiểu con người VN qua chiến tranh mất đi cái gì còn lại cái gì thì mới hiểu lớp trẻ hiện nay.
Ở xã hội VN tất cả không được viết ra, tâm trạng con người chỉ tạo thành một thứ vô thức tập thể và được lây truyền từ người nọ sang người kia, từ thế hệ nọ sang thế hệ kia, nó thành một thứ khí hậu xã hội
Lớp trẻ lớn lên nhập vào mình thứ khí hậu đó, bản thân họ không trực tiếp sống chiến tranh, nhưng họ nhận lấy từ trong cách sống cách suy nghĩ quan niệm cuộc đời của lớp người từ chiến tranh về và họ trình bày ra dưới cái dạng thô thiển của nó


Về mảng thứ hai
Tuy về căn bản xã hội VN cho tới nay là xã hội trung cổ, nhưng các yếu tố hiện đại cứ xâm nhập vào nó.Cả hiện đại chứ không phải chỉ có cái hậu hiện đại như gần đây nhiều người nói
Bác nhớ tới –một cách ngẫu nhiên—những nhân vât của F. Sagan
Bác nghĩ rằng kiểu tâm trạng của các nhân vật Sagan đến nay vẫn đang tác động ở VN hoặc những nước tương tự như VN
Mấy năm trước trong khi làm công việc giới thiệu cuốn Điên cuồng như Vệ Tuệ của một tác giả TQ, bác đã nói qua cái ý này
những ảnh hưởng của nước ngoài sở dĩ tràn vào VN, vì trước tiên trong xã hội VN nó VN nó đã có tiền đề. Điều đáng nói là thường nó ít tiếp thụ được mặt tích cực chỉ phát huy mặt tầm thường kém cói,
Bằng cách liên hệ lớp trẻ VN hiện nay với lớp trẻ trong xã hội hiện đại, con người nghiên cứu trong bác thường bị chi phối bởi cái ám ảnh “ Chính ra tuổi trẻ bao giờ cũng giống với những người cùng thế hệ với họ ở các xứ sở khác hơn là cha anh họ”
Cháu từ hoàn cảnh của mình chắc dễ thấy cái này hơn bác.
Mảng sach thứ ba như vừa nói ở trên là một cái gì quá lớn. Đơn giản lắm ai mà chả biết muốn hiểu lớp trẻ VN hôm nay phải hiểu con người VN nói chung.
Ở đây liên quan đến cái định hướng lớn
Lâu nay nói về con người VN, người ta – trong các tài liệu chính thống – chỉ nói người Việt hiền lành tốt bụng tinh tế nhạy cảm…
Đã đến lúc phải nghĩ khác
Khoảng mươi năm gần đây, bác thích đọc lại mấy bộ sử cơ bản của VN như Đại Việt sử ký toàn thư,Đại nam thực lục
Đọc tập trung để cố hình dung ra lịch sử con người VN, dù là sơ sài
Nghe lại cũng to tát quá, nhưng quả là có vậy, người Việt trong lịch sử táp nham hẩu lốn luôn luôn dang dở bởi luôn luôn trên đường hình thành mà cái yếu tố hoang dại cứ còn mãi, rất khó thuần hóa
Có một loại tài liệu rất hay là những trang ghi chép của người nước ngoài về VN
Bác không đủ chữ Hán và không biết tiếng Pháp để đọc các tài liệu gốc
Nhưng chỉ cần đọc các bản dịch cũng đã hình dung ra được phần nào
Ví dụ đọc các ghi chép của các thương nhân và binh sĩ Pháp,Anh, …đến VN thì thấy trước khi Pháp làm chủ hoàn toàn, xã hội VN là một xã hội của đám nông dân nổi lọan, xã hội hiện ra trong tình trạng bát nháo và tâm trạng con người thì là một bãi lầy ngổn ngang những đau xót căm hờn bất lực
Trên kia bác nói là bác bỏ ra cả tháng để viết một bài về trí thức
Vì sức làm việc của bác kém, cái đó một phần
Nhưng cái chính là bác luôn luôn sợ hãi vì đang đi ngược cái thành kiến chung
Cộng đồng này là một cộng đồng nặng về bản năng và rất trì trệ về phương diện trí tuệ
Khi thoáng nghĩ vậy, bác cũng sợ luôn cho ý tưởng của mình,
Nhưng khó từ bỏ quá
Trở lại với v/đ lớp trẻ hiện nay. Thật là đơn giản, trong lớp trẻ mà chúng ta đang nói hội tụ tất cả các yếu tố theo chiều dọc là lịch sử người Việt và chiều ngang là những vật vã của con người hiện đại
Bác không theo dõi lớp trẻ này, đơn giản vì bác đã già và bận bịu nhiều về lớp người đi trước
Nhưng người ta không thể lảng tránh được cái thời mình đang sống đâu
Cuộc sống của lớp trẻ này nhạt nhẽo ngay trong cái vẻ sặc sỡ ồn ào bề ngoài
Bác có cảm tưởng thứ văn chương mà cháu đọc ở các nhà văn trẻ VN hôm nay là khúc xạ cái tâm trạng đó của lớp trẻ trong xã hội
Chưa bao giờ chất người chất nhân văn trong con người VN thấp như lúc này . Thấp với nghĩa đang bị biến dạng
Họ rất khó hiểu những điều tốt đẹp của thế giới
Một phát hiện của bác trong mấy năm coi mình là già là khi trở về với Khổng Tử thấy ông này vĩ đại theo nghĩa ông đã hình dung ra tất cả cái tiềm năng xấu sẵn có trong con người đám đông; ông tập trung miêu tả trong khái niệm tiểu nhân. Và ông đề ra yêu cầu là con ngườiphải vận dụng lý trí để nâng mình lên thành những quân tử, những con người của ý thức sáng suốt
Thật là ngẫu nhiên, bác thấy những điều Khổng tử miêu tả trong Luận ngữ về người tiểu nhân rất hợp với người VN
Cuộc sống với bác bây giờ không bị ràng buộc gì cả, bác có thể sẽ chẳng viết gì nữa và tất cả những cái bác đã viết cũng chả được ai đoái hoài tới
Cái bác sợ nhất hiện nay là những ý tưởng mà không hiẻu sao, quỷ tha ma làm hay sao đó, nó cứ đến với bác và càng đọc người khác đẻ cưỡng lại mình, bác chỉ càng làm cho nó bắt chặt thêm vào đầu óc.
Bác viết những dòng trên đây cho cháu e rằng làm lây truyền cái đó sang cháu
Nhưng bác chẳng biết làm cách nào khác.
Từng nhận xét cụ thể của bác có thể sai, nhưng căn bản cái hướng nghĩ bác cho là đúng.
Trong khi đó phần lớn các giáo sư đại học VN hôm nay giảng và phần lớn người Việt hôm nay nghĩ về mình là không đúng
Người Việt chưa đạt tới sự tự nhận thức tối thiểu
Thậm chí còn có lúc bác cho rằng cộng đồng này đã sa đọa quá rât khó cứu rỗi trở lại
Nhưng như một con người chúng ta vẫn phải tự minh xác cho mình một điều cơ bản: sự thực dân tộc này là như thế nào?
Cháu chỉ cần chia sẻ cái khao khát cuối cùng này là được. Còn câu trả lời của cháu chắc phải khác của bác. Nhất định phải thế.
VTN


7-8

Nghe nói có một lễ hội dựa chính vào hầu đồng mà người ta mang vào đó rất nhiều yếu tố hiện đại.

Trong bài của Phó Đức Tùng trên TT&VH, có một ý nói “tín ngưỡng đang có nguy cơ trở thành ngành kinh doanh dịch vụ đơn thuần”.



15-8

Khái quát của một nghệ sĩ tên là Ý điên: trong nghệ thuật tất cả những gì kỳ quặc và khó hiểu đều không có giá trị.

Nghe mà phát sợ. Hóa ra các bạn trẻ bây giờ liều quá cứ phát biểu lung tung thôi. Họ đâu có hiểu rằng những cái mới thực sự bao giờ với mọi người cũng khó hiểu. Chỗ tầm thường là chỗ chết của nghệ thuật.

Họ đâu có biết rằng kỳ dị là một phạm trù của nghệ thuật hiện đại.



17-8

Sân khấu cũng đang bị chi phối bởi công chúng. Cuộc sống hàng ngày mệt mỏi, người ta đến rạp để cầu vui. Nhiều diễn viên chính kịch muốn có việc, muốn được sống cảm giác sân khấu phải bỏ cái việc vốn có của mình, chuyển sang diễn hài. Ban đầu, họ vẫn có ý thức về một thứ phượng hoàng xuống làm bạn với gà con, nhưng rồi chính họ biến thành gà con lúc nào không biết.



9-10

Báo chí có nhiều bài nói về thói xấu của người Việt, nhưng thường là nói về cái bề ngoài, như hay ngồi xổm, hay xỉa răng, nịnh hót và ưa nịnh hót…

Hôm nay TT&VH có bài nói về văn hóa ăn của người Việt, một tác giả kể chuyện cha mẹ dậy ăn cái gì không được bỏ dở, hoặc phải ăn trông nồi ngồi trông hướng.

Ng Q Thân còn có bài nói đại ý mẹ tôi dạy chuyện ăn.

Tôi không rõ nội dung, nhưng cái ý ”người xưa dạy người nay “ không thuyết phục được tôi.

Người xưa sống trong hoàn cảnh khác, ngày nay xã hội sang thời hiện đại. chúng ta phải tìm ra cái quan niệm ăn của thời mình—quan niệm này sẽ chi phối từng thói quen cái gọi là từng phong cách ăn của từng người một, nhưng toàn bộ xã hội vẫn có một phong cách chung tạm gọi là phong cách thời đại. Chúng ta phải đi tìm nó.



13-10

Người ta đang làm ra một thứ văn nghệ rất xoàng, những bài thơ chán ngắt -- như bịa ra những kiểu quần áo rất xoàng làm ra những cái nhà những khu phố nhếch nhác… Song vẫn tự hào” gửi cho mai sau”. Vì sao ư– người ta lý sự --mai sau muốn hiểu ngày hôm nay, những năm 2009—2010 này chỉ có cách trở về với những gì họ viết ra, những bức ảnh ghi lại những ngôi nhà người ta đang ở.

Lý thuyết về bản sắc – nói cho oai thôi, cái thói hay viện dẫn bản sắc – sở dĩ phát triển vì nó trợ giúp cho sự trì trệ. Mà đằng sau trì trệ là cảm giác tuyệt vọng: sẽ chẳng có gì thay đổi cả.



V/đ bảo tồn di sản

Trong việc tìm về bản sắc, đang có sự lẫn lộn giá trị, thứ rất quý thì coi làm thường còn thứ vớ vẩn thì lại được tôn vinh.

Theo Nguyên Ngọc (TT&VH 27-8 ), có hiện tượng làm ra thứ văn hóa giả, văn hóa hình nộm -- chẳng hạn ông bảo các liên hoan cồng chiêng là không nên làm bởi đó chỉ là văn hóa hình nộm.

Một tiến sĩ văn hóa học thì đặt cho bài viết của mình một cái tên Hoang mang bảo tồn lễ hội truyền thống. Nhưng đáng chú ý là sau câu trên ông tác giả này đặt một dấu hỏi. Tức đây không phải ý của ông. Ông vừa làm đạo diễn lễ hội Lảnh Giang gây xôn xao vì coi là phá hầu đồng.



15-10

Quá khó để hình thành một quan niệm đúng đắn về di sản.

Điều dễ thấy trước mắt: tình trạng di sản không được đối xử nghiêm túc. Một nhà nghiên cứu kể xuống điều tra về quan họ thấy một xã có tới vài chục nghệ nhân. Thì ra UB đưa toàn người nhà của mình vào để nhận mỗi xuất 20 ngàn đồng.

Cũng theo ông này,hiểu về di sản nhiều mỗi người một phách. Một điệu như xe chỉ luồn kim bị coi là điệu lề lối – điệu chuẩn – trong khi thực ra là điệu vặt. Nhưng các nhà chuyên môn đầy quyền uy như Thúy Cải cũng bảo thế, thì nhà nghiên cứu còn biết nói sao.

Còn chuyện phá luật, phá cách nữa,-- phá theo nghĩa mang nhiều cái hiện đại vào nghệ thuật dân gian một cách tùy tiện.



Một v/đ khác: Một nhà quản lý cỡ cục phó bảo phải đưa di sản cho nhân dân để nhân dân lựa chọn.

Tôi không tin vậy, nay là thời khái niệm sự sáng tạo của nhân dân đã khác nhiều rồi.

Thế thì vai trò của các nhà chuyên môn ở đâu? Chẳng lẽ để toàn bộ đời sống văn hóa rơi vào tay cánh nghiệp dư?



Tiếp tục cách suy nghĩ của mình từ mấy năm nay, ông Nguyên Ngọc trở đi trở lại trên mấy tờ báo cái ý phải giữ lấy làng vì làng là không gian văn hóa cổ, không còn làng thì không thể bảo quản di sản?

Giá kể gặp ông, tôi muốn hỏi, làm sao mà giữ làng bây giờ ?



20-10

Trần Quang Vinh đưa một cái tin Ở Kazakstan, tục cướp vợ trở lại. Vì nghèo quá một phần. Phần vì bây giờ người ta thích làm thế để chứng tỏ mình đang về nguồn. Đây là một cái mốt, đúng hơn là cách người ta che giấu sự ngại ngần không muốn nhìn lên phía trước.



30-10

Mấy câu trong Nhiệt đới buồn

Khi một số lượng quá đông người phải sống trên một không gian quá hẹp, thì xã hội tất yếu “tiết ra” sự nô lệ.

"Sự sản xuất ra một nền văn hóa đại chúng, giống như một nền canh tác độc canh thay thế một cách dữ dằn một đa dạng thực vật, dẫn đến một sự chuẩn mực hóa các kiểu thức và đồng nhất hóa về văn hóa đồng nghĩa với đánh mất bản sắc, sự khác biệt và năng lực sáng tạo, và cuối cùng, là tính nhân văn"

Toàn bộ Nhiệt đới buồn là gì. Một câu trong sách cắt nghĩa, đó là "Suy tư trăn trở chưa xong của người đã đi tìm đến các dân tộc nguyên thủy để lần lại con đường đi đã đưa nhân loại đến hôm nay, và tự hỏi một cách đau đớn, đồng thời lại vui mừng như một phát hiện cơ bản: chúng ta đã đi đến chỗ gì hơn tình trạng ban đầu, xa hơn 'nơi ta đã cất bước ra đi'".



5—11

Đến khách sạn S. ở đầu đường Thanh niên thấy bầy tranh VT. Ôi xấu quá nguệch ngoạc quá. Thế mà trong lời giới thiệu khoe đây là một nghệ sĩ quốc tế, được giải thưởng tác phẩm kiệt xuất ở Mỹ.

Đáng chú ý là mấy dòng nghệ sĩ quốc tế trên là ở văn bản tiếng Việt. Còn bản tiếng Anh không có.



7-11

Đến VTV trao đổi về việc kết nạp hội viên ở Hội nhà văn VN. Tôi bảo căn bản là hoạt động của Hội đã khác với hồi nó ra đời, mà cách làm ăn vẫn như cũ. Mấy người khác nói tới sự phân hóa trong đời sống văn chương và việc có nhiều khuynh hướng mới đòi hỏi được công nhận. Cuối cùng H.T. chốt lại ở yêu cầu BCH phải có tiêu chí rõ. Tôi bảo tiêu chí viết ra rồi vẫn mỗi người giải thích một kiểu; theo tôi là cứ rộng rãi cho nhiều người vào.

Tôi tin rằng lúc này không có đất cho sự sáng suốt. Mọi sự bàn bạc bây giờ là hão hiền cả.



9-11

Từ lâu có tin phim Chơi vơi của Bùi Thạc Chuyên được giải thưởng ở Venice, giải của các nhà phê bình

Nhưng người ta dự đoán là ở VN chả ai xem.

Lại nhớ có lần đọc thấy người ta kể ở TQ có hai loại đạo diễn điện ảnh, một ở trong nước mà làm phim để lấy giải quốc tế. Một chỉ làm cho người trong nước. Ta cũng thế, chỉ có điều ở một quy mô bé nhỏ hơn.



10-11

Nhà văn Hungary được Nobel văn chương nói về mình.

Ông bảo ông là nhà văn của châu Âu. Ông hiện sống ở Berlin vì “Con người ở đây thân thiện với nhau, thân thiện với tôi ngay từ giây phút đầu”.

Về Budapest hôm nay, ông bảo : “Trong vòng 10 năm qua, tình hình tại Hungary xấu đi liên tục. Phe cực hữu và những kẻ bài Do Thái thống trị. Những dục vọng cũ và tệ hại của dân Hung - sự dối trá, khuynh hướng lấp liếm cho qua mọi việc ( người ta dịch là bóp nghẹt, nhưng tôi đoán phải nói lấp liếm cho qua mới đúng—VTN )– càng được thể hiện hơn bao giờ hết. Hungary trong chiến tranh, Hungary và chủ nghĩa phát-xít, Hungary và CNXH, những vấn đề ấy không hề được xử lý, người ta chỉ làm đẹp tất cả”



11-11

Trích thư gửi A.A.Sokolov( Tolia)

Cám ơn anh về cái nhận xét là xưa nay

tất cả những gì tôi đã viết

đều là viết về trí thức



Tôi sẽ tiếp tục viết về các đồng nghiệp của tôi

– và nếu có thể viết chung về văn học VN --

theo hướng này.



Tôi gửi kèm theo đây những ghi chép của tôi về Nguyễn Đình Nghi

Nó là một thứ hồi ký

Bài này đã in ở tạp chí Sân khấu của Hội sân khấu VN số tháng 8 và 9 - 09



Qua ông Nghi cũng như qua một họa sĩ như Bùi Xuân Phái,

Tôi nghĩ, ta đã có thể viết được về quá trình hiện đại hóa văn học nghệ thuật ở VN



Hiện đại hóa ở đây chính là Tây phương hóa

Quá trình này cũng xảy ra trong văn học



Chỉ có điều vì trước đây, ở VN, văn học đã phát triển theo mô hình văn học Trung Hoa, nên quá trình Tây phương hóa rắc rối hơn



Còn ở kịch nói và hội họa, trước đây VN chưa có gì, nên quá trình Tây phương hóa thuần nhất hơn



Còn Nguyễn Minh Châu và Lưu Quang Vũ



Người thứ nhất cho thấy những thành tựu hiện đại hóa được vận dụng

để đưa văn học phục vụ các nhiệm vụ chính trị -- xã hội ra sao

Ông Châu là người nối tiếp tốt nhất truyền thống của văn học VN thời tiền chiến

Có điều là chỉ vận dụng kinh nghiệm đã có thôi

Chứ không có gì phát triển ( như ở các tác giả văn học Sài Gòn)



Còn Lưu Quang Vũ

Đó là một phương diện khác của hiện đại hóa:



Với ảnh hưởng của hiện đại hóa

văn hóa dân gian văn hóa đại chúng có thêm một sức sống mới, một bộ mặt mới



Tôi nhớ một lần anh Tolia bảo với tôi

Văn hóa VN thay đổi vì xã hội VN bây giờ là xã hội tiêu thụ

Đấy là bộ mặt mới của văn hóa đại chúng trước sau 2000



Còn cái bộ mặt cũ của nó— khoảng hai chục năm sau chiến tranh—

Thì như anh nói được LQV đưa lên đỉnh điểm

Và đã kết thúc với LQV





14-11

Một trong những ám ảnh của tôi là về tính văn hóa đại chúng của nền văn hóa từ sau 1945.

Một lần đọc cuốn bàn về folklor, tôi đã nhận ra t/c trì trệ của nó. Nay đọc Levy Strauss, gặp nhiều đoạn khái quát



Thêm một câu từ Nhiệt đới buồn

"Sự sản xuất ra một nền văn hóa đại chúng, giống như một nền canh tác độc canh thay thế một cách dữ dằn một đa dạng thực vật, dẫn đến một sự chuẩn mực hóa các kiểu thức và đồng nhất hóa về văn hóa đồng nghĩa với đánh mất bản sắc, sự khác biệt và năng lực sáng tạo, và cuối cùng, là tính nhân văn". (VTN gạch dưới)

Rất đúng cho văn hóa VN hôm nay!



25-11

Báo Tuổi trẻ bảo viết một bài về tiếng Việt. Muốn về những thay đổi đã đến với tiếng nước mình mà chắc không làm nổi. Tự nhiên nhớ lại đây đó đã có người viết. May quá, nhớ ra một nữ tác giả là Trần Mộng Tú. Talawas 20-7-09 có in lại một bài của bà này mang tên Tôi là ai, trong đó có đoạn



Lại có những lần tôi ở Việt Nam, bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc, tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình ngày trước, hình như đã có điều gì rất lạ. Ngôn ngữ Việt thì thay đổi rất nhiều, pha trộn nửa Hán nửa ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”, nói theo cách dùng chữ khá phổ biến bây giờ ở Việt Nam. Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, đã thế họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích. ( đoạn cuối do tôi gạch dưới—VTN)







26-11

Có một cuộc hội thảo về minh triết ở Huế. Tôi đọc mà thấy nhiều ý tưởng khiên cưỡng và có vẻ vơ vào thế nào đó. Tôi tin ở trí tuệ ở cái dạng rành mạch của nó, chứ không tin ở những khái quát phiến diện kiểu dân gian.



27-11

Một bạn đọc tố cáo: gần đây có phim Nước mắt bào thai, tố cáo chuỵện giết trâu bò đang mang thai để phục vụ các bà bầu. Lại do các em học sinh nghĩ ra, tuyệt thế chứ.

Điều tra kỹ, hóa ra, cái phim từng gây xúc động vì cảm giác nhân văn này là do mấy tướng trẻ bịa ra để ăn giải. Một sự giả dối có tổ chức và cố ý.



8-12

Tôi đã nói đến sự luyến tiếc vu vơ của những những người muốn níu kéo văn hóa cổ truyền. Người ta thắc mắc sao đến các vùng đồng bào dân tộc, thấy chả ai còn ăn mặc như cũ nữa, sao đồng bào bây giờ dùng cả những bộ loa hiện đại trong các buổi lễ cưới.

Ý một số người là muốn đưa bản làng trở lại nếp sinh hoạt như từ bao đời.

Tôi thấy ngược lại.

May quá cuối cùng lại có một tác giả người dân tộc thiểu số lên tiếng.” Phải đưa cái hiện đại đến với vùng núi chứ. Chẳng lẽ bạn mong cho bà con khổ nữa khổ mãi?” (TT&VH 8-12-09).

Còn chuyện bảo tồn di sản ? Ý người viết là chỉ cần lập những khu bảo tồn sống, khoanh nó vào đó là đủ. Và là cách hữu hiệu. Chứ hướng người ta quay về cái cũ thì trước sau sẽ thất bại, mất cả chì lẫn chài.

Tôi đã có lúc nghĩ như thế.



12-12

Đọc kỹ thông báo của Unesco thì thấy sở dĩ họ nhắc đến những bộ môn ( mà họ gọi là tập quán ) nghệ thuật của mình như ca trù, vì các bộ môn này tuy lâu đời nhưng đang có nguy cơ bị thất truyền. Họ có cho mình tiền là cốt để đầu tư vào nghiên cứu, bảo tồn, như chính nó vốn có.

Còn người mình thì lại thích nói rằng đây là một dịp họ tôn vinh mình; coi như của nhà rồi không cần nghiên cứu gì cả; chỉ cần nhân rộng nó ra ( hiểu ngầm với nhau là biến thành một món hàng lôi kéo khách du lịch).



16-12



Báo QĐND hôm nay có bài Sân khấu Việt Nam đang “nghiệp dư hóa”

Lần khác báo TT&VH đưa cái tít : múa đang chỉ là một thứ nghệ thuật xa xỉ.

Còn về văn chương thời nay, nói về một nhà thơ, người ta kể ông “ đạp xe quanh làng và làm thơ”./.