Showing posts with label HOI KY. Show all posts
Showing posts with label HOI KY. Show all posts

Monday, February 4, 2013

Ghi chép từ Hội nghị nhà văn đảng viên 6-1979


 Lời dẫn


      Các
vấn đề của đời sống văn nghệ luôn luôn diễn biến theo cùng một nhịp với sự vận
động xã hội .


     Sau
chiến tranh, có việc thống nhất đất nước, việc sắp xếp người vào bộ máy mới.
Trong văn nghệ cũng có việc sát nhập các tổ chức văn nghệ, việc kết nạp các hội
viên hội văn nghệ giải phóng vào các hội TW…




      Tuy
nhiên, có tác động chi phối lớn nhất và chiếm vai trò chủ đạo của việc tái cấu
trúc lúc ấy -- tái cấu trúc theo nghĩa dùng đầu thế kỷ XXI -- là việc
sắp xếp lại những cương vị chỉ huy. Theo lô-gich thông thường, người từ mặt trận
quay trở về phải được đền đáp bằng cách nắm các cương vị quan trọng hơn, có
tầm tác động lớn hơn. Điều đó cũng phù hợp với một thực tế là bộ máy TW trong
chiến tranh đã già cỗi và trở nên quan liêu. Mọi người hy vọng lực lượng từ
chiến trường về sẽ mang lại cho sinh hoạt văn nghệ một  nét mặt mới.


     Trong
chiến tranh mọi việc ở Hội nhà văn quy tụ vào nhà văn Nguyễn Đình Thi. Từ đầu
1979, nhà văn Nguyên Ngọc được cử làm làm Phó Tổng thư ký, thay thế ông Thi,
điều khiển công việc hàng ngày.


    Trước
đó, về phương diện Đảng, một Đảng Đoàn  mới
của Hội nhà văn được chỉ định, có Nguyễn Khải, Giang Nam…và  Nguyên Ngọc được giao chức bí
thư Đảng Đoàn.  Chỉ chờ Đại
hội nhà văn là ông sẽ trở thành Tổng thư ký.


      Nhiều
người rỉ tai nhau sẽ có ngày Nguyên Ngọc đóng vai trò của Tố Hữu.


      Nhưng
cuộc chuyển giao quyền lực không đơn giản.





25/5


Từ khi về nắm Hội, Nguyên Ngọc
thường có mấy nhận xét tổng quát về văn học sau chiến tranh:


- quan liêu hóa, xa đời sống


- có xu thế lảng tránh, khiếp
nhược


- Kết quả -- chúng ta có một nền
văn học yếu kém. Vừa thiếu hiện thực, vừa thiếu lý tưởng.


 Hôm nay họp nghe tình hình
phê bình - lý luận, Nguyên Ngọc lại nói văn học ta không có tính tư tưởng. Lùi
về mấy năm 1969-70, ông cho rằng hỏng từ đấy. Nên 1974 mới có vụ này vụ nọ và
bây giờ mọi chuyện mới không ra sao.


( Một người như PTDuật bảo văn
nghệ hỏng từ 1973-74 v.v…Có lẽ điều đó liên quan tới vụ Vòng trắng của Duật?)


Trong bụng tôi nghĩ, nhưng thấy
nói ra không tiện:


+Là một người tốt, có thiện chí,
cho nên Nguyên Ngọc cảm thấy rõ các nhà văn đang khiếp nhược trước thực tế. Nhà
văn kéo nhau đi làm thuê. Văn chương lẫn lộn hay dở.


+Nhưng là một nhà chính trị, cho
nên Nguyên Ngọc hay cắt nghĩa bằng những nguyên nhân gần.





Nhân ngồi trong phạm vi hẹp mấy anh em với nhau, tôi nói cảm tưởng
chung về văn học ta bây giờ. Một
nền văn học không có tác giả mà như một đám đông, một phong trào. Cũng tức là
một nền văn học không có cấu trúc, từng lớp phân biệt, mà mọi người đều lập
nghiệp cùng một kiểu và làm những việc na ná giống nhau.


Về nội dung chỉ thấy những sự
lặp lại. Cái mô típ ước mong được dùng làm kết luận cho mọi sự biến động.


Không có đóng góp nào mới về mặt
hình thức, mà chỉ có những trò tiểu xảo v.v…


Mấy câu của tôi được xem là quá
sốt sắng, đến mức ông Khải phải bảo Nhàn xem có thể nói điều gì lạc quan hơn
không. Nguyễn Thành Long bảo đúng, nói thế nào không còn cái chung nữa, thì còn
đâu ông Khải với ông Ngọc. Huy Phương tâm sự, chúng ta là những nhà văn sống
cầm hơi, những người hỏng rồi. Nguyễn Kiên an ủi,  chán mãi rồi lại phải tìm ra cái vui
thôi.





3-6


 Theo đề xuất của Nguyên
Ngọc, các cơ quan Hội Nhà văn tập trung lo chuẩn bị Đại hội. Sẽ có đủ thứ thảo
luận, ra mắt.





Trước Hội nghị Đảng viên có hai
hội nghị trù bị.


        Một là hội nghị Đảng Đoàn gặp những người chưa phải
đảng viên.


         Không hiểu sao hội nghị này lại thấy
nổi cộm vấn đề thế hệ. Tôi ghi được vài ý. Hà Minh Đức: Bây giờ nhiều người
"tiếng cả nhà thanh" vốn liếng không mấy, tác phẩm không có, nhưng
tiếng rất to.Trần Ninh Hồ: Chúng tôi là con em cách mạng, chúng tôi phải hơn
các anh lớp trước chứ.Bùi Bình Thi: Chúng tôi chỉ kém các anh tí tiếng Tây v.v..


Trần Ninh Hồ nói thêm: Bộ lao
động ký giấy cho 2 vạn học sinh VN ra nước ngoài học nghề một lúc. Sao các anh
không dám cho chúng tôi đi. Chúng tôi quét tuyết cũng được, bồi bàn cũng được,
nhưng sẽ có việc, và về có lúc viết được.





 Hai là cuộc họp của những người viết văn
trong quân đội. 
Cũng lại chuyện
nghề nghiệp, chuyện thế hệ chứ không phải chuyện tư tưởng như ông Ngọc chờ đợi.


Thu Bồn như sấm chớp, lại như cỏ
dại, Thu Bồn bảo các anh có gì để cho tôi tin? Tôi đã phải lo lấy bao nhiêu năm
nay. Xem ông chủ xuất bản nào tới thì làm vừa lòng ông chủ ấy. Thế thôi. Còn
thì nhìn kỹ xem phụ trách lãnh đạo văn học cách mạng chỉ là những con người của
xã hội cũ. Đối với chúng tôi, họ là một thứ cha ghẻ, không bao giờ họ có thể
yêu tôi và lo cho tôi được.


Nguyễn Đức Mậu tuyên bố cần gì
phải học (cả ông Hà Huy Giáp cũng nói thế, -- Nguyễn Đức Mậu nhấn mạnh) chúng
tôi chả kém gì những người đi trước; cứ viết đi, cứ viết đi, kẻ nào mạnh kẻ đó
thắng….





11-13/6


 Trong Hội nghị


Thoạt đầu, là những lời kêu ca.


Ông Mai Ngữ giống như những bà
già ở nhà quê, suốt đời tham lam vơ vét, nhưng thỉnh thoảng lại ứa nước mắt rên
rỉ. Ông Ngữ bảo, những cái ông để tâm huyết thì chả ai coi ra gì còn những cái
ông viết nhảm thì lại được săn đón. Ông buồn cho cuộc đời của mình. Và ông khóc.


Nhưng rồi bi kịch trở thành hài
kịch, đó là khi ông Mai Ngữ bảo rằng đêm nào ông cũng khóc. Dĩ nhiên, ta phải
hiểu đêm nào ông cũng khóc vì ban ngày ông tham lam, tham mà không được. Thuộc
loại người tự làm hỏng mình, MN là thế, không gì cứu được kể cả thất bại.





Rồi đến những lời tố cáo.


Phan Tứ nhắc lại các luận điểm của bí thư Đảng
Đoàn Văn Nghệ cũ, ông Hà Huy Giáp:


- Xã hội không có bi kịch. Người
anh hùng không băn khoăn.


- Văn học không cần hư cấu. Ngày
trước, thời đại lạc hậu mới cần hư cấu, nay chỉ cần người thực việc thực.


Người biên tập = người lính gác,
người xét chứng minh thư.





Hoàng Ngọc Hiến phát biểu như
một cái nhìn khách quan, nhìn từ bên ngoài :


 - Lý luận là năng lực nhìn
sự việc từ nhìn sự vật từ nhiều góc độ


- Người có lý luận = người có
khả năng tổ chức, kết cấu.


- Nhà trường giúp vào việc đó.


- Nhà trường đại học có khả năng
làm cho con người trở nên ngu xuẩn. Ở ta hôm nay là thế.


Có vẻ như ông Hiến muốn mang lại
cái mà Đảng Đoàn mới đang thiếu – lý luận. Việc này đã bắt đầu từ nhiều ngày
trước và hôm nay ông Hiến chỉ tiếp tục.





Tô Nhuận Vỹ kể chuyện đời sống
cơ cực, các cô gái Huế che mặt đi bán cuốn Từ
điển Anh Việt
, về lấy tiền nuôi các em.


 Tô Nhuận Vỹ nói tiếp:


-- So với những năm 60, thì hiện
nay, cái mà chúng tôi thiếu hơn cả là lý tưởng. Các anh bàn chuyện cho chúng
tôi học ngoại ngữ, học trường nọ trường kia. Nhưng làm sao đây, để chúng tôi
thêm giàu có về mặt lý tưởng.


Nguyên Ngọc thích lắm, sau còn
nhắc lại mãi.





Một hội nghị như thế này, có chi
là lý luận đâu. Người ta chỉ chia sẻ với nhau một ít lo toan.


Vài chuyện quá đáng quá, đại
loại như ở Sài gòn, vừa nghe có một vở cải lương mang tên Người tù vượt ngục thế là chưa biết nội dung ra sao, hãy
cấm cái đã. Vì tại sao lại bảo đồng chí mình người tù.


Tại một tỉnh nọ, người ta dựng
một vở kịch viết về NgĐình Chiểu, tỉnh uỷ chỉ có một đề nghị nhỏ, phải cho Ng
Đình Chiểu thắng, thắng, từ đầu đến cuối.


Ở nước này, rồi mãi người ta vẫn
chưa thôi ngạc nhiên vì sự ngu dốt  và
không ai dự đóan hết những hậu quả của nó.





Ông Phan Tứ tiếp tục câu chuyện
về ông Hà Huy Giáp. Đâu hồi đó họ học nghị quyết X. của Đảng. Trên phát động
cho nói, ba ông trung ương uỷ viên Trần Hữu Dực, Hà Huy Giáp, Hoàng Tùng đến
nghe. Ông Hà Huy Giáp khuyến dụ anh em hãy cứ nói sự thật. Nếu có phải treo cổ,
tôi xin treo cổ bên cạnh các anh.


Hình như sau đó, cấp trên lảng
hết, chả ai giải đáp, tức chả ai đứng ra đối thoại trở lại cả. Tệ hơn nữa, trên
báo chí công khai mở một đợt phê phán văn nghệ, gọi đó là một luồng tử khí
chống Đảng.


Ai cũng biết kịch bản này không
phải của ông Hà (người ta gọi HH Giáp là thế), nhưng ông vẫn phải chịu trách
nhiệm.




Bùi Hiển bảo nói chuyện cũ
thì dài dòng lắm, chính trong cái sân nhà 51 Trần Hưng Đạo đây, bao nhiêu
chuyện và mỗi con người có bao nhiêu nét mặt.


  Bảo Định Giang kể đã
có lần lên tiếng bảo vệ Văn
nghệ
, bảo vệ Nguyễn Tuân. Hồi ấy, ông Tuân cho đăng bài viết về Giò lụa trên báo Văn hoá nghệ thuật, và
bị kêu. Bảo Định Giang bảo viết thế chả hay ho gì, nhưng có lẽ cũng không nên
nói là có tội gì!


Ông Bảo Định Giang kể ôngTuân
bấy giờ cũng tâm sự:


- Mình là cái thằng không có gì
mà ăn, nói giò chả trên giấy cho sướng miệng vậy. Nhưng cái thằng ăn giò chả
thật nó lại đánh mình.





Sau buổi họp, Chế Lan Viên bảo
mình già về hưu chắc phải đề nghị Phan Tứ vào Đảng Đoàn. Bởi lẽ hắn đáng sợ
quá. Cái gì hắn cũng nhớ.


Một chuyện khác của Phan Tứ. Hồi
ấy ông đang ở nhà xuất bản Giải
phóng
. Được lệnh trên, phải làm gấp một tập người tốt việc tốt của miền
Nam. Mấy anh em thức đêm thức hôm để làm, đâu 4 ngày xong. Chợt có hai ông cán
bộ của Cục xuất bản đến bảo: Thôi đi, các anh không thấy 5 triệu cuốn đang ế
xưng ra kia kìa.





Khi Phan Tứ nói, thỉnh thoảng
mọi người lại cười rộ lên, như được xem một tiết mục xiếc, kìa, người đi xiêu
vẹo như vậy, mà không ngã. Lãnh đạo buồn cười thế đấy.


Nghe mọi người cười tôi hơi ghê
ghê, y như sống giữ một bày ma.


Không phải cầu toàn đâu, nhưng
tôi thấy chưa phải là quỷ dữ đã tới. Mà những đổi thay lớn chỉ có thể bắt đầu
bằng sự có mặt của quỷ dữ.


Bà Vũ Thị Thường mắng mấy người
khác, nghe những chuyện như thế này, sao tôi chả thấy ông nào đỏ mặt, tức xấu
hổ. Mà chỉ thấy các ông cười là sao!


Bây giờ đồng chí Hà Huy Giáp đã
về vườn — Phan Tứ tiếp tục-- Nhưng tôi thấy chúng ta không nên đả kích cá nhân
đồng chí Hà Huy Giáp. Chúng ta không nên cười như vậy. Nếu cứ đà này, chúng ta
sẽ cười luôn cả Trung ương không biết chừng.





          Vũ Đức Phúc mở đầu bài tham luận
của mình bằng cách phê phán bản đề dẫn của Nguyên Ngọc.


1. Nhấn mạnh quá đáng tính sáng
tạo. Bảo rằng văn nghệ học theo đời sống, không phải sao chép đời sống, mà là
học cái tinh thần sáng tạo ở trong đó. Như vậy là rơi vào Garaudi, sáng tạo là
sáng tạo huyền thoại!


2. Chưa lý giải chính xác mối
quan hệ giữa văn nghệ và chính trị. Phải nói tới đường lối của Đảng. Nó như cái
lưới, ta có làm gì thì cũng không thoát khỏi nó, không thóat những vấn đề đã
được nêu lên trong các nghị quyết.


Ví dụ, theo tôi (VĐP), từ lâu,
Đảng đã yêu cầu văn nghệ phải có nhiệm vụ phê phán. Văn nghệ không làm, là
khuyết điểm của ta. Tôi đề nghị thời gian tới, Hội Nhà văn ta mở một chiến dịch
chuyên về việc này.





Về sau, khi phê phán Vũ Đức
Phúc, Nguyễn Chí Trung có một ý rất hay. Theo ông, người ta tuyệt đối hoá chính
trị và coi văn nghệ chỉ là cái thứ hai. Nhưng đâu phải vậy. Tại sao nhiều giai
đoạn lịch sử đã qua đi, mà tác phẩm văn học viết về giai đoạn đó lại còn. Văn
nghệ không phải chỉ là cái quả, có lúc nó còn là cái nhân nữa.


Đặt ra vấn đề con người, câu
chuyện không có gì là siêu hình cả. Chính nó là vấn đề nhân đạo CSCN.


Có điều thực là ngoạn mục: sau
khi tuyệt đối hoá chính trị người ta lại rơi vào chỗ tuyệt đối hoá văn nghệ.
Làm sao mà văn nghệ đơn độc làm được bao nhiêu việc người ta vốn kỳ vọng ở nó.





Tôi nhìn ông Vũ Đức Phúc gầy ốm,
như một ông giáo già ở nông thôn. Sao một con người như vậy, lại có thể gây ra
bao nhiêu sóng gió cho văn học trong vòng hơn chục năm nay. Ông ta vừa như là
đao phủ, muốn khai tử một ít giá trị mà một người như tôi cho là tốt đẹp (đúng
hơn là những cái muốn trở thành giá trị tốt đẹp), vừa như bà đỡ, nâng đỡ cho
những thứ mặt hàng mà một người như tôi cho là hàng giả -- ông khác với tôi quá.


Được cái, theo tôi hiểu, ông
không giả dối. Khác với vài nhân vật đàn em lươn lẹo, ông luôn luôn là mình,
kiên trì, nhạy bén, tỏ ra đầy sức sống trong việc bảo vệ niềm tin. Tôi nể phục
cái sự kiên cường của ông, ông không đầu hàng, không thay đổi, ông ta sống với
lòng tin rằng  mình đang làm
những nhiệm vụ lớn.


Vũ Đức Phúc đúng là hạng chiến
 trên mặt trận văn học (như tên một tác phẩm của ông đã đề
rõ). Chỉ hiềm, cái quan niệm về người chiến sẽ ấy, theo tôi, cổ rồi. Cái mà một
người như tôi bây giờ  hay
nghĩ, người làm công tác văn nghệ trước tiên phải là một người lao động. Bởi
nói tới chiến sĩ, tức nói tới việc chấp hành mệnh lệnh từ trên ban xuống một
cách vô điều kiện, con người lấy đâu ra sự sáng suốt để làm chủ mình. Với nghĩa
vụ chỉ đâu đánh đấy, con người ta vừa quá máy móc lại vừa quá hèn kém. Còn như
nói vai trò của người làm văn nghệ như một người lao động tôi thấy có gì khả
thủ hơn. Mỗi người có thể giỏi có thể kém. Mỗi loại người có độc giả riêng





 Chế Lan Viên lên tấn công
lại Vũ Đức Phúc một số điểm chủ yếu liên quan đến con người chứ không phải luận
điểm học thuật.


 Nhắc lại câu Vũ Đức Phúc
bảo ông Hà Huy Giáp về vườn, Chế Lan Viên bảo như thế là láo (Vũ Đức Phúc từng
nói: “Ai động vào Trung ương tôi đánh bỏ mẹ “).


Vũ Đức Phúc nói một câu chuyện
gì đó về văn học, hình như là cần khen um mọi chuyện lên, Chế Lan Viên liền bảo
như thế là chưa được, một người làm công tác nghiên cứu văn học chưa được, một
Viện phó lại càng chưa được, tôi đề nghị cách chức Viện phó.


Cuối cùng, Chế Lan Viên còn
ngoặc được vào cái ý là nghiên cứu văn học đến đâu chưa nói, nhưng văn viết ra
phải có văn. Nếu không, tôi đề nghị lập một cái hội lý luận riêng, chứ không để
như thế này mãi được, không để cho các nhà lý luận thô thiển thao túng cả văn
chương… Một đề nghị rất hợp lý đấy. Đến mức, sau khi ông Chế Lan Viên nói xong,
trong hội nghị thấy truyền tay nhau một cái giấy cáo phó, ý như thể là Chế Lan
Viên đã làm một công việc sinh phúc là khai tử cho Vũ Đức Phúc.





 Hoàng Xuân Nhị, không được
triệu tập cũng tới, song nói không được ai để ý. NgKhải bảo thôi hôm nay thì
thầy Nhị của các ông hoàn toàn chết rồi.


Sự kiên trì của mấy ông già thật
đáng sợ. Hôm sau, ông Nhị còn xin xỏ nhiều lần, để cho phép mình phát biểu, và
ông Khải lại gạt đi, rất nhanh nhạy.


Chỉ khi ông Tố Lành đến, HX Nhị
mới hồi sinh. Ông hân hoan ra mặt, ở lại chuyện trò với ông Lành vẻ rất tương
đắc. Những xác chết hôm qua, hôm nay tự nhiên thấy hồng hào tươi tắn hẳn
lên--  Ng Khải nhận xét.





 Tố Hữu đã nói gì?


- Thực tế là muôn vàn tốt đẹp.


- Vấn đề không phải là nhà văn
sáng tạo, nhà văn bịa đặt. Anh cứ ghi chép đúng thôi, nó đã thành ra tác phẩm
lớn rồi.


- Đó là phương hướng công tác
văn nghệ của chúng ta những ngày tới. Bởi đó cũng là phương hướng của ta ngày
hôm qua. Có phải  như đề cương nói, từ đầu những
năm 70, Văn nghệ ta bắt đầu hỏng đi ?  Không,
văn nghệ của ta đang ngày một khá hơn v.v..






   -- Phải biết bằng lòng với những cái
đang có. Khi người ta chưa có hoa hồng hoa cúc, cho người ta chùm hoa sim cũng
đã là nhân văn nhân đạo lắm rồi.


       


       Mấy điểm vừa nêu, nó là cái luận
cương văn nghệ của ta mấy chục năm nay. Hình như người ta không thể nói gọn hơn.


       Những nguyên tắc mà cấp trên dạy
dỗ chúng tôi hôm nay được nói ra rất đơn giản lại có vẻ đúng nữa. Đúng với mọi
trường hợp. Chỉ nhìn kỹ mọi chuyện, mới thấy nói chuyện không giản dị như thế.
Giản lược quá lại hóa lừa bịp.


       Vừa
nghe ông Tố Hữu nói xong, Ng Đình Thi hào hứng hẳn lên “Các tướng trẻ cứ tưởng
là dễ ăn lắm...”


       Nguyễn
Đức Nam bảo thế này rất khó tổng kết.        


        Nguyên Ngọc sốt ruột ra mặt. Nguyên
Ngọc muốn ông Lành về cho mau còn bàn chuyện tổng kết hội nghị. Ng Khải thì bề
ngoài ngược lại. Về sau, Khải bảo ngồi nghe ông Tố Hữu nói, thỉnh thoảng mình
phải làm bộ há mồm thật to, làm như không hiểu gì cả.


-- Nhỡ lúc ấy mà cấp trên giở mặt thì bỏ mẹ mình -- Nguyễn Khải
nói thêm khi giữ tôi lại cùng về sau tất cả mọi người.


 Trong giới ông Khải vẫn được tiếng là người sắc sảo. Ai cũng
bảo là ông Ngọc phải nhờ ông này mới giải quyết được mọi việc. Đảng Đoàn ông  Khải  đã có tiếng đồn như vậy. Nghĩ thấy
kinh sợ. Lại nhớ có lần Ng Khải bảo: “Viết xong được một tác phẩm tốt, cho ra
mắt, thấy rủn cả người. Vì phải vượt qua nhiều cạm bẫy quá.”


 Lần này, lúc lấy xe đạp ra về, Ng Khải bảo nay mai tôi lại
đi sáng tác được rồi, chứ còn việc gì phải lo mà làm tổ chức. Cứ xua anh em đi
thực tế là xong. Nhẹ mình. Y như các ông trước.








Với sự xuất hiện của Tố Hữu, hội nghị như bị dội một gáo nước lạnh.
Và không khí đó kéo dài râm ran mãi. NgKhải hôm trước cổ động hăng hái lắm, bây
giờ rụt lại “mình cũng không nên làm cho cấp trên giận dữ”.


       Ngay sau Hội nghị Nguyên Ngọc đi vắng,
ông Khải ở nhà chạy bao sân chung cả Hội nên càng hoảng.


    Khải
dao động lắm, Nguyên Ngọc xưa nay vẫn nhận định vậy.


Tuy nhiên, theo Ngọc, Ng Khải lại được cái giỏi chịu đòn.


Bùi Hòa dẫn một câu tổng kết của anh em – gọi là nặc danh thôi,
chứ chắc từ mồm Chế Lan Viên


Hội nghị đảng viên này:


- Quân sự lấn dân sự


- Bắc Trung lấn Nam.


- Trẻ lấn già.


- Tổ chức lỗi thời.


- Lý luận dài dòng





4/7


 Theo Xuân Trường giao ban ở trên, cuộc họp hội nghị đảng
viên gây cho anh em nhiều hoang mang. Báo cáo của NgNgọc có một số sơ xuất.
Nhưng đấu đá nhau như thế hơi quá, anh em địa phương có người phát sợ. Riêng
việc chỉ triệu tập một số đảng viên đã gây ra thắc mắc. Trên Vụ Tuyên huấn còn
định cho anh em thảo luận về bài Tố Hữu.


Vẫn theo báo cáo của Xuân Trường, anh em cho là không có tự do
sáng tác, nên không thể viết hay được và đấy là lý do càng phải thảo luận





       Trước
buổi họp, Hoàng Ngọc Hiến viết một bài đang làm dư luận xôn xao. Nhân chuyện
Nguyễn Minh Châu cho rằng ta thích tả đời sống như ta mong muốn, ta thích hiện
thực phải đạo, ông Hiến nêu một công thức -- ở ta đang có xu hướng cái cao cả lấn cái bình thường. Và cái thói phải đạo kia là nội
dung chủ nghĩa hiện thực ta hay nói. Vậy nên gọi nó là chủ nghĩa hiện thực phải đạo.


 Thứ hai văn nghệ ta không thật và  dựa trên một thái độ chung: sống
cũng không thật.




Đọc bài ông Hiến, tôi nghĩ:

Bảo rằng ở ta  “Nội dung đang lấn hình thức, bản chất lấn
hiện tượng” còn là sang quá.


Với tôi ở ta làm gì có chuyện “nội dung khá mà hình thức kém” -
Chỉ có một nền văn nghệ kém, cấu tạo thấp, tổ chức thấp. Cả nội dung văn học
cũng thấp. Không miêu tả được hiện tượng chứ đừng nói rút ra bản chất của hiện tượng.


Nhưng như thế đã đủ để Đảng Đoàn mới thích thú mà Đảng Đoàn cũ tức giận.
Người ta đang định đánh nhà lý luận này.





Loại người như ông Hiến, rất hợp với ông Nguyên Ngọc. Cả hai đều
thuộc loại người thích lý tưởng hóa mọi chuyện. Hay nói như Hiến , đều nghiêng
về phạm trù cái cao cả. Họ đang được coi là loại tân tiến so với ông Thi và các loại Đức, Đệ . Tôi thì tôi nghĩ họ nhiều ảo tưởng.





Trở lại chuyện
quanh buổi họp


Bây giờ mới biết, trước hội nghị Nguyên Ngọc xin mãi mà không gặp
được Tố Hữu.


 Tới lúc họp, Nguyên Ngọc vẫn băn khoăn, làm sao báo cáo cho
ông Lành biết.


Sự việc quả nhiên đúng như lo lắng, ông Lành đến nói ngược hẳn với
báo cáo. Nguyên Ngọc như ngồi phải đống lửa, cứ run lên.


Thật ra, báo cáo của Nguyên Ngọc chỉ hơi sang một chút, luận điểm
lấy nhiều cái ở trong tài liệu mà lâu nay ông Hiến vẫn dịch.


Sang quá, tư thế bí thư Đảng Đoàn nghênh ngang quá. Có lẽ vì vậy,
nên bị  Tố Hữu cho một vố.


Có người bảo tại ông Vũ Đức Phúc lên “ tâu nộp “ ở trên. Nhưng
chắc không chỉ một Vũ Đức Phúc.


Một ý kiến khác. Là tại Vụ văn nghệ, Xuân Trường và các trợ lý.  Ờ, có lý. Người ta vẫn là tai
mắt của ông chủ cũ.


Có những việc, vừa nói hôm trước ở Hội nghị, -- như  việc ông Ng Đ Thi kể chuyện các nhà
văn Liên Xô tự tử - hôm sau đã đến tai Tố Hữu rồi.


Với sự thành thạo của mình, Nguyễn Khải hôm sau bảo mấy người bọn
tôi, có chỗ Tố Hữu mắng Nguyễn Đình Thi mà các ông không biết đấy. Đó là đoạn Ng Đ Thi kể chuyện mấy ông nhà văn Liên xô tự tử. Tố Hữu cho là không được nói với anh em nhà văn ta điều ấy.





Khi Tố Hữu nói đến chuyện khẳng định nền văn nghệ ( “Phải cho
người ta cột cây số để người ta biết đến đâu mà phấn đấu chứ. Không cho là ác
độc! “) thì Nguyễn Khải ngoảnh lại Chế Lan Viên:


- Tôi sợ các nhà thơ nước ta thật. Ăn nói ghê gớm đến thế là cùng
chứ gì?


- Thì chính mình xưa nay vẫn phải sợ cái ông này cơ mà.





Theo Nguyễn Quân, 

ông Phạm Văn Đồng có thể nói việc này Trung ương
chịu đấy, các đồng chí có ý kiến giải quyết thế nào không.


Thậm chí ông Lê Duẩn trong nhiều cuộc họp vẫn nói ta khó khăn lắm,
khó khăn lắm.


 Chỉ có Tố Hữu là lúc nào cũng bảo các đồng chí yên tâm, đã
có cách giải quyết. Cũng như lúc này, trong khi Lê Đức Thọ bảo chưa bao giờ khó
khăn như bây giờ, thì Tố Hữu bảo chưa bao giờ Trung ương vững như lúc này.


Từ lâu, Tố Hữu đã tự đồng hóa mình với nền văn nghệ này. Khẳng
định nó là khẳng định ông. Mà sổ toẹt nó là sổ toẹt ông.


  Cách bảo vệ mình của Tố Hữu đầy tự tin như chỉ có
ở các ông chủ.





Trong hội nghị, anh em có truyền tay nhau một thông tri cáo phó báo tin Vũ Đức Phúc chết. Mà chuyện
này hình như khởi sự từ  Nguyên
Hồng.


Ai báo cáo với Tố Hữu không biết, hôm sau đến, Tố Hữu đã cho
Nguyên Hồng một đòn ngay:


--Sao lại để râu thế kia. Trông như râu giả cắm vào cằm chứ không
phải râu thật. Thôi, không khéo ông để râu để trốn họp rồi.


 Nguyễn Khải:


--  Tinh nhậy
quá. Đúng râu ông Hồng phải nói là trông như râu giả thật.





  Một cán bộ
quân sự  từng kể với tôi Tố
Hữu lúc đi vào B2, với tư cách cấp trên thị sát chiến trường, quát mắng tướng
tá ghê lắm!


Kỳ vừa rồi, họp tổng kết đánh Trung Quốc, cũng chửi cấp dưới sa sả!


Lần này nhìn gần tôi nhận ra một điều mới. Ông làm chủ tất cả ngôn
ngữ cử chỉ của mình Vốn có giọng nói đều đều nhạt nhạt, vậy mà  đến lúc cần phải quyết liệt, ông
bỗng có thể thay đổi nét mặt thay đổi giọng nói.


 Y như sẽ nói ra những điều đơn giản lắm mà cấp dưới vì ngu
đần quá nên không hiểu. Đúng, bọn chúng ngu đần quá, thương mãi làm sao đươc!


 Việt Phương kể là ở chỗ khác, Tố Hữu không nói đến thế đâu!
Có lúc, ông ta phải bảo tôi phải đội trên đầu không biết bao nhiêu người. Chỉ
đến với văn nghệ ông mới cao giọng hết cỡ thế.





Nguyên Ngọc ngồi nghe ức lắm, nhưng là cấp dưới, không biết làm
thế nào. Lúc Tố Hữu nói xong, lên phát biểu đại ý là xin chấp hành chỉ thị của
cấp trên, liền bị Tố Hữu gạt ngay:


- Đây tôi cũng phát biểu với tư cách hội viên Hội Nhà văn luôn thể.


Tối hôm đó, chính mồm Nguyên Ngọc nói và tôi nghe tiếng, không ngờ
cái ông này ác độc thật, ác độc thật.





 23/7


         Ba tuần đã trôi qua mà vẫn
chưa hết bàng hoàng về chuyện cũ.


 Ng Ngọc sau khi bị Tố Hữu át giọng, rất run. Than thở, năm
nay là năm tuổi của mình hay sao mà bị toàn chuyện tai hoạ.






  Ng Khải đã
viết thư xin ở lại quân đội chứ không  ra
ngoài như dự định. Có tin ông  sẽ
làm chủ nhiệm tạp chí.


  Nếu có Đại
hội, Khải sẽ là đầu mối các nơi làm báo cáo đọc trong Đại hội các nhà văn.





Dạo này, VNQĐ lại có thêm một nhà văn mới
Nguyễn Chí Trung. Ông ta  năm mươi tuổi chưa có vợ, bụng
phị, từ Đà Nẵng ra, mang theo cả thanh gỗ đóng bàn ghế, có hôm thấy con Thu Bồn
ngồi đấy, xuýt xoa thương cháu quá, nhưng có quà trong túi nhất định không chịu
mang cho. Ông Chí Trung ấy lâu nay sống như cái bóng của ông Ngọc, đến Hội nghị
nhà văn đảng viên vừa rồi, cũng có chân trong ban lãnh đạo hội nghị. Và ông ta
lên phát biểu, người thì thô lỗ, lại làm ra vẻ trữ tình, nói toàn chuyện cao
siêu.


    --Tôi đến Cămpuchia, bụng chỉ nghĩ:
con người ta là thế nào nhỉ? Sao lại đặt ra tên? Sao lại có hàng xóm? Ý ông
muốn nói ở Cămpuchia bọn Pol Pot nó xoá hết.


Ông Tế Hanh phải bảo ông này đang giảng triết
học cho chiến sĩ đại đội.








Trong buổi nói chuyện, Tố Hữu kể ở trên Cao Bằng có một HTX đánh
Trung Quốc rất giỏi, thì giữa buổi họp khi sắp tổng kết, Ngô Thảo bảo  mình đã đến chỗ ấy rồi, họ bịp
hết.


Kể về một nơi sản xuất giỏi thực sự thì Ngô Thảo bảo căn bản nó tự
làm, tỉnh chẳng đầu tư gì nên mới được thế. Còn nếu các ông trên mà lại
sờ  tay vào, nó chết bỏ mẹ
bây giờ.


Lúc tổng kết, Nguyên Ngọc cố lái mọi thứ vào theo Tố Hữu nhưng vẫn
không khỏi muốn bác bỏ Tố Hữu. Cũng ở xã.. xã...  nơi đồng chí Tố Hữu thấy vậy,
nhưng đồng chí Ngô Thảo thấy khác.


Nhưng có lẽ sau đó sợ, Nguyên Ngọc phải khẳng định:


- Cố nhiên, cái nhìn của đồng chí Tố Hữu là tuyệt đối đúng đắn.


Ngô Thảo về sau nhận ra ngay:


--Ông ấy bán mình nhanh gớm! Biến anh em thành vật hy sinh ngay
thôi.





 Nghe Tố Hữu nói, Nguyên Ngọc trông thất thần ra mặt, nhưng
lúc tổng kết, vẫn giữ lấy bình tĩnh, bám vào cái phao kia, mình nào có khác gì ông Tố Hữu.


 Về sau, lại nghe ông ta bảo Tôi vẫn kiên trì ý kiến của tôi.
Mất tôi chả mất cái gì
.


Tố Hữu còn kiên trì hơn. Ban đầu, tưởng là ông chỉ đọc bản đề dẫn
qua loa. Hoá ra ông đọc rất cẩn thận. Ở hội nghị trở về, ông sửa, gạch chấm
đánh dấu từng chữ. Sang Liên Xô, ông ta còn điện về hỏi ý kiến của anh em hiện
nay ra sao.


Chỉ có điều hay, trước đó, một số anh em, nhất là lớp cũ (Xuân
Diệu, Nguyễn Văn Bổng) rất ghét Bí thư Đảng Đoàn mới, nay lại đứng về phía
Nguyên Ngọc.





(còn tiếp)





Thursday, June 25, 2009

Tuổi trẻ văn học của tôi

Vi Thùy Linh nói với Phong Điệp , bài in trên Văn Nghệ trẻ và trang web của PĐ



Tôi thấy những nhà phê bình thực sự họ đã lảng tránh, né tránh và không làm tròn bổn phận của mình . Họ chỉ viết báo vì mưu sinh, thời cuộc , vì các mối quan hệ, chứ không bao giờ thực hiện như công năng của một nhà phê bình cần phải lên tiếng. Ở đây tôi muốn nói đến trách nhiệm của nhà phê bình chứ không có nghĩa là yêu cầu họ bênh vực cuốn sách của tôi hay một ai đó cụ thể. Tôi thấy trong những lúc “nước sôi lửa bỏng” nhất họ lại quay ra bàn về thơ Xuân Diệu, bàn về Thạch Lam... Có người nói rằng họ không ghi nhận thơ trẻ nhưng lại đứng tên biên tập cho một tập thơ trẻ - một cuốn sách theo tôi là đồi bại, và quả thật sau đó đã bị thu hồi. Khi sự việc xảy ra, nhà phê bình này trả lời báo chí là ông không đọc kĩ tập thơ. Vậy sao ông còn treo tên biên tập, trong khi có lần chính ông nói rằng ông rất quý, và có trách nhiệm với cái tên của mình. Tóm lại các vấn đề thời sự văn nghệ họ không “xung kích”, họ lảng một cách có ý thức. Tuy vậy, tôi vẫn thấy có những nhà phê bình như Nguyễn Hòa, Nguyễn Đăng Điệp, Phạm Xuân Nguyên... là những người có đọc thơ trẻ,quan tâm và ủng hộ thơ trẻ. Ủng hộ ở đây không phải là khen thơ trẻ mà ủng hộ mong muốn làm mới của những người viết trẻ và viết bài về thơ trẻ.










ĐỪNG SỢ NGƯỜI KHÔNG HIỂU MÌNH




Cuộc trò chuyện tưởng tượng với một cây bút trẻ

Những vụng dại vốn là một phần của tuổi trẻ, vậy mà thỉnh thoảng nhớ tới chúng --- những vụng dại khi mới bước vào nghề văn – tôi vẫn cứ thấy vừa buồn cười vừa tiêng tiếc thế nào ấy.

Cuối năm 1971, vừa dự Hội nghị nhà văn trẻ lần thứ hai trở về cơ quan là tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, tôi bị Nguyễn Khải, người mà tôi biết ơn suốt đời, vì lúc mới vào nghề tôi đã được ông bảo ban đủ điều, -- ông tác giả Xung đột đó cho ngay một gáo nước lạnh :

-- Hóa ra các ông là thế. Tưởng trẻ mà già mà cổ. Người ta tổ chức hội nghị để các ông nói mà các ông không nói, ra cái điều cao đạo với nhau một lượt.

Tôi nghe chỉ biết cúi đầu nhận lỗi. Nghĩ lại thì suốt hội nghị, bọn tôi--- tức là đám bạn bè tôi quen lúc ấy, những Đỗ Chu, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Vũ Quần Phương … không nói được điều gì nên hồn thật.

Lỗi không hẳn chỉ ở phía chúng tôi. Ai đã tham dự các cuộc hội nghị loại này thừa biết, ở đó, những người lớp trước thường nói nhiều quá, dạy dỗ nhiều quá, làm cho anh em trẻ ngán ngẩm, ngỡ mình được gọi đến để nghe dạy bảo chứ không phải để bàn bạc thảo luận, và sinh ra mất hứng.

Nhưng đáng lẽ những khi có cơ hội để nói – dẫu sao ngay trong Hội nghị nói trên, những cơ hội ấy vẫn còn -- chúng tôi phải tranh thủ tự bộc lộ, phải phản biện-tranh cãi- có ý kiến đề nghị chứ. Đằng này hầu như tất cả chúng tôi gần như ngồi im, nếu không kể vài câu lí nhí phụ họa. Thế là thiệt đơn thiệt kép, có bị mắng cũng đáng.

Nhớ lại chuyện cũ để thấy thế hệ các bạn trẻ cầm bút hiện nay hơn hẳn chúng tôi. Tự tin.Mạnh dạn. Cuồng nhiệt.Tha thiết với nhu cầu tự khẳng định. Lo tìm bằng được diễn đàn của mình.

Chỉ có điều những lời than thở này hơi nhiều, đôi khi gợi cảm tưởng như ngoài phố xe đò tranh khách. Một căn bệnh khá rõ tôi thấy ở nhiều cây bút ở ta hiện nay là để công ngồi trước bàn thì ít, mà dành thời gian nhiều hơn cho việc chạy vạy tuyên truyền - rao bán - thuyết phục cốt sách mình được in. Tương tự như vậy, một vài cây bút trẻ để thời gian đi tuyên ngôn tuyên bố lo cho sự xuất hiện hơn là đóng cửa đọc và viết. Tôi không nghĩ thế là khôn.

So với ba bốn chục năm trước, mọi người thũng thĩnh xe đạp, cuộc sống giờ đây vận động với tốc độ xe máy. Bọn tôi thông cảm với sự sốt ruột của con người thời hội nhập , song chính vì tiếc thời gian cho các bạn mà tôi khuyên không nên để tâm quá nhiều vào việc lặt vặt .

Tại sao ở chúng tôi hồi trước lại có cái sự lí nhí mà ?

Chúng tôi bị ngợp



Lúc này, tôi tưởng tượng như trước mặt mình là một bạn trẻ. Vốn coi đây là một cây bút có triển vọng, nên tôi muốn bàn bạc vài điều. Chủ đề thì cũng xoay quanh một số phương diện của giới các nhà văn trẻ hiện nay



-- Không phải đến thế hệ này mà từ nhiều thế hệ trước, không phảỉ riêng ở Việt Nam mà khắp trên thế giới bao giờ cũng có chuyện già trẻ mâu thuẫn, và trẻ cảm thấy bị ngáng đường. Muôn thuở là thế. Trên sân chơi chung, không ai nhường ai đâu. Van nài xin xỏ ư, vô ích. Cái tài của người trẻ là làm cho người đi trước phải nhường bước cho mình , như Xuân Diệu từng khiến Thế Lữ nhường ngôi bá chủ thi đàn cho mình hồi Thơ mới .



-- Sự khen chê ở đời có luật riêng của nó Theo kinh nghiệm của tôi, một người già thường hào phóng ban phát lời khen với một bạn trẻ trong hai trường hợp sau đây

1/ Bạn trẻ là một bản sao của người già, thầy khen trò mà thật ra khen chính mình

2/ Khen để lấy tiếng, bởi trong bụng thừa biết người trẻ kia kém mình nên mới khen như vậy.



Trong Hội nghị nhà văn trẻ lần thứ hai mà trên đây tôi nói, T.T. là một bạn trẻ làm việc ở bên Hậu cần. Một trong những nhà văn chủ trì hội nghị hết lời khen cô. Ông đọc cho chúng tôi bản khai của cô rằng cô đã thuộc những dòng sông này, những miền đất kia, và nói rằng chỉ cần xem đó thì thấy đang có một tài năng đầy hứa hẹn. Sau T.T chẳng viết gì nữa, mà nhà văn lớn kia cũng không bao giờ nhớ rằng mình đã từng khen như vậy.



-- Ngược lại, nhiều khi cái sự chưa tin của người ngoài lại có nghĩa là một sự kích thích.Trong đời tôi, có những câu nói bè bạn mà tôi nhớ đời. Khi tôi mới học tiếng Nga, vừa xin đi dịch tài liệu cho một Viện khoa học nọ thì anh bạn ở đó cho một câu xanh rờn “ Cậu cũng biết tiếng Nga à ? ”. Lại một lần khác, khoảng đầu những năm tám mươi, một nhà thơ có viết phê bình nói thẳng vào mặt tôi “ Trong phê bình văn học, mình nổi tiếng hơn ông nhiều chứ. Chung quanh Hà Nội sáu chục cây, không ai lạ gì tên mình, còn tên ông thì ai biết ?”. Tôi không cãi lại các bạn, chỉ lẳng lặng lo làm việc tốt hơn để các bạn thấy là họ sai. Và theo nghĩa đó, tôi nhớ tới họ với sự cám ơn .



-- Nhìn vào mắt nhiều cây bút trẻ , tôi biết rằng nhiều bạn nghĩ thế hệ đi trước chẳng qua là một lũ già bất tài , chẳng qua sống lâu lên lão làng . Tôi sẵn sàng đồng ý vậy, nói như Xuân Diệu lúc còn sống , hoàn cảnh hôm qua chỉ rặn ra được một lũ chúng tôi. Nhưng bạn ơi , sao lại chỉ dừng lại ở chúng tôi nhỉ . Hãy nghĩ đến Nguyễn Du , Nguyễn Trãi , cũng như về sau này nghĩ đến Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam , Nam Cao. Và cũng đã đến lúc phải nghĩ đến cả Pushkin ,Tolstoi, Hugo , Kafka , Lỗ Tấn …



-- Kinh nghiệm trong nghề viết cho thấy rằng chính ra những thứ dễ được công nhận lại là những thứ tầm thường. Những của độc --- độc với nghĩa độc đáo chứ không phải độc hại -- khó đến với người ta hơn. Tùy tâm, bạn sẽ định hướng đời mình theo sự nổi tiếng trước mắt hay muốn tạo nên một giá trị lâu dài, ở đây tương lai là trong tay bạn .



-- “ Xã hội bây giờ già quá không thông cảm nổi với lớp trẻ “ ở chỗ riêng tư tôi thường nghe những lời than thở như vậy. Đồng ý rằng có sự già cỗi đó , tôi chỉ muốn nói thêm rằng có khi người nói chung quanh già lại cũng cổ lỗ cũ kỹ không kém .Tuổi tác chỉ làm nên khác biệt bề ngoài. Có những người tuổi trẻ mà suy nghĩ cư xử khác gì cánh già, và khi một già một trẻ cùng một căn bệnh thì chính ra người trẻ bệnh lại trầm trọng hơn .



-- Bạn hay lớn tiếng bảo rằng chưa ai hiểu bạn. Tôi cũng đã có lúc như vậy và tôi thầm nghĩ vậy thì mình đang có một cái gì mới , mình đang đi đúng hướng , nếu đi đến cùng , không chừng mình sẽ mang lại cho họ những món quà bất ngờ.



-- “ Không gì tuyệt vời hơn, nếu như không cần chạy vạy xin xỏ kêu ầm lên về mình mà người ta vẫn phải chạy đến tìm mình nghe mình nói, chia sẻ với mình ít tâm sự. Đấy mới là cái cách tồn tại mà một người tự nhận là trẻ cần vươn tới “.

Khi nghĩ vậy – lúc ấy tôi đang hăm nhăm hăm bảy gì đấy --, tôi hơi sờ sợ, không chừng mình đang mắc bệnh kiêu căng và không dám nói ra với ai . Nhưng tôi không gạt nổi ý nghĩ đó khỏi đầu óc . Tôi biết nó không làm tôi trở nên tài năng hơn người nọ người kia, nhưng tin rằng nhờ nó, tôi khá hơn chính mình , thế là được rồi .Tôi sống theo cái công thức giả định đó cho đến hôm nay.



đọc thêm Không sợ độc giả quên mình

Friday, May 22, 2009

Tinh hoa một thuở





Trường Chu Văn An và niên học 1955-56

Trước 10-1954, gia đình tôi ở một ngõ nhỏ trong phố Thụy Khuê – quãng giữa Sở xe điện và Nhà máy giặt. Những năm còn học ở trường tiểu học Thụy Khuê, tôi đã được nghe nói nhiều về Trường Bưởi. Với lòng ngưỡng mộ của tuổi học trò, nhiều phen ngồi tàu điện xuôi ngược Chợ Bưởi -- Đồng Xuân, tôi không khỏi liếc mắt về dãy nhà nằm bên Hồ Tây của Chu Văn An cũ.

Gọi là cũ, vì khu nhà đồ sộ, cây cối rợp bóng mát ở đầu phố, lúc ấy do nhà binh Pháp đóng, có tài liệu nói một binh đoàn xe tăng, nhưng tôi nhớ hình như là một đơn vị lính dù. Xe đỗ ngổn ngang bên trong, bên ngoài nhiều quãng còn chăng dây thép gai. Tôi chỉ nghe người lớn nói lại mà biết đó là trường Bưởi lừng lẫy.

Những năm tạm chiếm, học sinh Chu Văn An phải chuyển xuống học ở ngôi trường phố Cửa Bắc. Sau khi giải phóng thủ đô, trường mới dọn lên địa điểm hiện nay. Đấy cũng là năm tôi vừa vặn học xong tiểu học để chuẩn bị thi vào trường. Trong hai năm 1954-55 và 55-56, trường còn gộp chung cả trung học đệ nhất cấp ( bốn năm, đệ thất cho tới đệ tứ, ngày nay chúng ta gọi là trung học cơ sở), và đệ nhị cấp ( ba năm, đệ tam cho tới đệ nhất – tương đương phổ thông trung học).

Nhưng tôi còn phải vô duyên với Chu Văn An một năm nữa: lần đầu thi vào trường, khóa 1954 -55, tôi trượt.

Một năm thi trượt là một năm tôi đi học thêm, chờ năm sau thi lại. Một hai tháng vào tạm trường tư thục Thăng Long ở cuối phố Phùng Hưng. Rồi phần chính thời gian là đến một lớp ôn luyện ở phố Trần Quốc Toản. Ngày trước Quảng trường Ba Đình chỉ là một vườn hoa nhỏ tên nôm na gọi là vườn hoa Con Cóc. Từ phía Bách Thảo, có lối đi qua vườn hoa để thông ra đường Cột Cờ ( đại lộ Điện Biên Phủ ngày nay ) xuống phía Cửa Nam. Từ chỗ ở bên Thụy Khuê, sau khi đi dọc một quãng đường Hoàng Hoa Thám, tôi đã men theo con đường Cột Cờ -- Cửa Nam này mới tới được nơi học.

Tôi đã đi như thế gần một năm ròng. Bước chân hướng về phía nam thành phố, nhưng lòng hướng cả về phía bắc, nơi có ngôi trường Chu Văn An thần thánh.

Có lẽ câu chuyện định hướng đời mình kiểu như thế này đối với một số bạn trẻ bây giờ có phần khó hiểu. Lớp người ít tuổi hơn tôi, lớp tuổi các cháu ở nhà, mới bắt đầu đi học không biết cảm giác đó. Quy trình thông thường là lớn lên ở đâu thì học cấp I ngay ở đấy. Rồi vào cấp II nào gần với nhà mình nhất. Không vào trường này thì vào trường khác. Tất cả hầm bà làng, cá mè một lứa hết. Đâu chẳng thế. Chẳng có trường nào hơn trường nào. Người ta tưởng là hàng đời nay, mọi người vẫn nghĩ như vậy.

Từ hồi kinh tế thị trường trở lại dân Hà Nội mới có chuyện phải cố cho con cái vào trường Hà Nội - Amsterdam, trường Chu Văn An.

Nhưng đối với gia đình tôi và bản thân tôi, mấy năm 1954-55 đã chỉ có một đinh ninh là phải vào Trường Bưởi. Cái chuyện chọn trường để học nó là đương nhiên như chuyện sống còn của con người. Tưởng như nó ở sẵn trong đầu óc, không phải nghe ai hoặc học theo ai hết.

Sau này nghĩ lại thấy thời gian chờ đợi ấy cũng lạ. Đằng đẵng một năm trời đi bộ hàng ngày năm sáu cây số để học thêm, chứ có ít đâu. Vậy mà chẳng cần vận dụng quyết tâm nghị lực gì cả. Bởi đây không phải là trường hợp riêng của tôi. Hồi ấy chung quanh mọi người đều nghĩ thế, ở địa vị mình mọi người đều làm thế. Vào trung học thì phải vào Chu Văn An. Và nếu chưa vào được thì bỏ ra học tư một năm để năm sau thi lại cũng không sao.

Một sớm cuối tháng tám 1955, sự chờ đợi đã được đền đáp xứng đáng. Cổng trường , trên cái bảng đặt sau tấm lưới mắt cáo có dán danh sách học sinh trúng tuyển, tên tôi đặt ở hàng thứ chín. Mấy hôm sau thì tựu trường.

Suốt đời không bao giờ tôi quên được cái cảnh là đám học sinh đệ thất ( tương đương lớp sáu bây giờ) chờ ở ngoài cổng. Đúng giờ chúng tôi được hướng dẫn bước qua cổng trường. Từ phía sân trường, các anh chị lớp trên ùa ra đón. Là những người cuối cấp, dân đệ tam, đệ nhị các anh chị toàn những người to lớn, người nào cũng khiến chúng tôi choáng ngợp. Còn nhớ một anh bế thốc tôi lên, làm tôi đến nghẹt thở. Sau này đã vào trường, thỉnh thoảng tôi cứ thoáng đưa mắt tìm xem anh nào hôm ấy đã bế mình đó, mà chịu không nhận ra nổi.

Thiêng liêng làm sao cái cảm giác của buổi đầu nhập học! Cảm giác đó theo mãi trong tôi, nó như một thứ hương vị chan hòa trong không khí, lúc nào bọn tôi cũng ngây ngất.

Cảm giác ấy còn đến từ thày bạn mà tôi mới tiếp xúc.

Tôi cho rằng một trong những bất hạnh lớn nhất của con người hiện nay là không còn cảm giác thiêng liêng. Như đám cán bộ -- công chức già cỗi không cảm thấy cái thiêng liêng của buổi đi làm. Mà đám học trò không cảm thấy thiêng liêng của buổi đi học thì cũng tương tự.

Thỉnh thoảng, có dịp hỏi han con cái trong nhà, tôi thấy chúng không có hiểu biết gì nhiều về trường chúng học. Ngoài cô giáo chính và một vài cô có dạy ở lớp, chúng chẳng biết một thày một cô nào ở trường. Hoặc có biết chăng thì toàn biết những chuyện không đâu vào đâu thường khi là những nét đời tư lặt vặt của họ.

Hồi những năm năm mươi của thế kỷ trước thì có khác. Cuối năm 1954, trường Thăng Long còn mở ở cái địa điểm cũ, đường Phùng Hưng. Một trường tư thục đệ nhất cấp thôi. Nhưng tôi nhớ ngoài cổng có một bảng kê ghi rõ trường có những giáo sư nào, giáo sư đó học ở những trường nào ra và đã từng dạy ở những trường nào.

Thói quen nghĩ tới các thày như những trí thức, mỗi thày giáo – dù chỉ tương đương trung học cơ sở hôm nay thôi – đã là một trí thức độc lập, là điều tôi được lây truyền từ hoàn cảnh xã hội và tôi mang nó vào trong cái nhìn về trường Chu Văn An.

Tuy mới chỉ năm đầu tức học đệ thất, nhưng tôi đã được nghe rằng trường tôi vừa nhập học có những giáo sư nổi tiếng dạy các lớp ban Tú tài. Thày Bùi Phùng dạy hóa. Thày Huấn dạy Sinh vật. Thày Nghiêm Sách dạy địa. Thường đi xích lô đến trường là thày Nguyễn Tường Phượng dạy văn. Dạy tiếng Pháp có ông bà mơ-xi-ơ Tongas. Dạy Hán văn là hai cụ đồ Nho, một cụ hơi mập, cụ Can, một cụ gày hơn, cụ Tiếp. Trong khi các thày khác mặc complet thì hai cụ cử cử đều khăn đóng áo dài.

Năm cuối cùng của chương trình học trong Hà Nội cũ còn ghi nhận sự có mặt của các thày từ kháng chiến mới bổ sung. Cảm tưởng của tôi chẳng có cơ sở gì, nhưng không hiểu sao tôi cứ tin rằng những người thày mới này, từ Thái Nguyên về hay từ Đức Thọ Hà Tĩnh ra, đều ghi nhớ rằng mình đang được chuyển về dạy ở một trường lớn, tầm cỡ quốc gia. Mỗi người có dịp tự nâng mình lên cho xứng với cái cơ sở giáo dục danh giá nhất mà mình được làm việc.

Giờ đây, ta không có loại trường chung cả cấp II lẫn cấp III nữa. Để dễ quản lý, tôi cũng thấy lý do đó là đúng. Nhưng hãy để cho tôi nói thêm như một ngoại lệ : kiểu gộp cả học sinh trung học vào một trường sáu bảy năm gì đó có cái hay của nó. Nó giúp cho bọn học trò tiểu học hôm qua chúng tôi dứt khoát với quá khứ của mình. Nó thầm thì vào tai rằng chúng tôi đã bước vào một quãng đời khác. Trước mắt chúng tôi, các anh chị học lớp trên hình như đã rất chững chạc. Chu Văn An 1955-56 là vậy.Tuy mới học năm đẩu, tôi đã nghe loáng thoáng đến tên tuổi các anh cán bộ hiệu đoàn. Anh Trai. Anh Dương Tự Minh. Một lần nào đó liên hoan, anh Qúy Dương cùng với anh Trần Hiếu song ca . Những tinh hoa đó có mặt trong trí nhớ của tôi về trường Chu Văn An một thuở.

Niên học 1955-56, bọn học sinh đệ thất chúng tôi học mãi ở cuối ngôi trường như thuở ban đầu của nó, tức ngôi nhà ba tầng sâu vào bên trong, giáp sang Sở trồng hoa và ươm cây, và gần với ngôi nhà biệt thự Hồ Tây của ông hiệu trưởng trường Bưởi cũ. Chỉ riêng cái việc bước qua cổng trường rồi còn phải đi mãi tới cuối trường đối với bọn học trò tuổi mười hai mười ba chúng tôi năm ấy đã là những chuyến đi kỳ lạ. Con đường xi măng bình dị. Những hàng cây cao đến mức ngửa hết cả cổ lên mới thấy ngọn. Lá lim lớp đang lưng trời phất phơ, lớp đã nằm im dưới đất mà sao trông vẫn sạch bong. Phải chúng tôi đang đi qua một nhà thờ lớn ? Không biết, chỉ nhớ tất cả là khang trang cao ráo là thanh bình yên ả.

Đó là không kể lúc đó trường còn dải đất ven hồ, chạy suốt từ phía Công ty Công viên cho tới cái sân vận động mà mãi tới 1961, khi tôi rời trường, sân vẫn còn. Theo lệ thường thì không học sinh nào được bén mảng tới khu vực nguy hiểm đó. Nhưng chính vì vậy chúng tôi càng hướng về nó như một mảnh đất huyền bí. Sau những năm chiến tranh nơi ăn chốn ở nhập nhèm hỗn loạn, nay dải đất ven hồ đã trở thành khu nhà dân. Nhưng sao tôi cứ ước ao có ngày Chu Văn An lấy lại được phần tiếp giáp với hồ của mình. Cái phần mà chúng tôi không được bén mảng tới, cái phần dư thừa ấy từng làm cho hình ảnh của trường lung linh trong tâm trí lớp trẻ chúng tôi. Ước chi nó cũng tồn tại như thế trong lòng lớp trẻ tài năng về sau.

Cái sự rộng rãi chuẩn mực của trường như luôn thì thào vào tai chúng tôi rằng tất cả đang ở trong không khí của học vấn, chúng tôi vào đây là để học, chúng tôi được tôn trọng do đó cần phải giỏi giang chăm chỉ để trở nên anh tài đất nước, -- không ai bảo ai mà cảm giác đó cứ lây lan và lắng đọng trong lòng người.

Thế Lữ có hai câu thơ mà Xuân Diệu rất thích nhắc lại Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy – Ngàn năm chưa dễ đã ai quên. Những cảm giác trên đối với tôi là thiêng liêng vì nó thuộc về thuở ban đầu năm đệ thất.

Những năm từ khoảng 1958 trở đi, Chu Văn An cũ được xẻ ra thành hai trường riêng. Cấp II học buổi chiều, cấp III học buổi sáng. Nét quán xuyến trong đời sống giáo dục của chúng ta những năm về sau này là sự gần gũi với đời sống. Vẫn còn kỷ niệm về những giờ lên lớp, nhưng ấn tượng hơn lại là những buổi học ngoại khóa. Hồi cấp III, học sinh lớp 8C chúng tôi – lớp có Đặng Thùy Trâm -- xuống xã Phú Thượng đâu đến nửa tháng, tham gia gặt lúa. Hàng tuần vào hai buổi sáng thứ tư thứ sáu, chúng tôi ra đường thanh niên, một số đi xe bò chở cát lên đầu giốc, một số theo xe goòng đổ cát xuống hồ mở rộng con đường Cổ Ngư gầy guộc cũ thành đường Thanh Niên bề thế. Hồi cấp II, có lần lớp sáu chúng tôi còn được điều xuống san đất ở Mai Dịch. Theo sự bươn trải chung của xã hội, các nhà trường trở về với sự lầm lụi hàng ngày. Ngay lúc ấy, một số kỷ niệm mấy năm về trước đã bắt đầu hiện về. Còn nhớ các anh lớp trên – tương đương lớp 11- 12 hiện nay --lúc ấy đã rất chững chạc, và các chị dưới trường Trưng Vương thì mặc áo dài, vận động mãi các chị mới mặc áo ngắn đi học.

Mới một hai năm qua đi, mà đã cảm thấy như xa lăm lắm.

Thế nhưng tinh thần của một cái gì tinh hoa, vượt lên thông thường, tôi nghĩ vẫn còn mãi trong lớp học sinh học Chu Văn An năm ấy.

Sắp tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Năm ngoái 2006, có người hỏi tôi có phải như Hà Nội mấy chục năm nay đã sa sút đi, con người Hà Nội xô bồ và quê mùa tỉnh lẻ hơn. Tôi bảo làm sao không mòn mỏi được, bởi cuộc chiến tranh lớn như vậy xô đẩy, và nhìn chung nửa thế kỷ qua, Hà Nội chưa bao giờ được là chính mình.

Những năm trước chiến tranh lớp thanh niên mới lớn chúng tôi nghĩ chuyện học xong là đi xa, chứ mấy khi nghĩ là mình sẽ cống hiến ở ngay Hà Nội.

Dẫu chưa hết hẳn, nhưng cách nghĩ ấy ngày nay không ai muốn nhớ tới nữa.

Bản thân cái việc giờ đây, nhiều người bắt đầu thấy cần phải nghĩ lại về Hà Nội và muốn đi tìm cái chất cao quý riêng của con người Hà Nội – riêng việc đó thôi cũng chứng tỏ có một Hà Nội kỳ lạ, Hà Nội mông lung mà cụ thể, một thứ chất Hà Nội không một biến động nào làm phai mờ nổi. Cả người sinh ra ở đây, cả người mới đến đây năm năm mười năm hai mươi năm, bất cứ ai bắt đầu tự hỏi về mình, mối quan hệ của mình với mảnh đất kinh kỳ thiêng liêng, và tưởng tượng ra một Hà Nội sang trọng để soi mình, ấy là lúc trong họ bắt đầu có một con người Hà Nội chân chính hình thành.

Số phận trường Chu Văn An – một địa danh văn hóa Thủ đô – có gì cũng giống như chính số phận Hà Nội.

Con người sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu những gì được chắt lọc trong thời gian, những gì gọi là tinh hoa thực sự , sẽ quay trở lại dẫn dắt cuộc sống đi tới.

7-2007