Sunday, May 12, 2013

Cần có một thứ sử học khác

































     Từ đầu thế kỷ 20, một quan chức mà cũng là một trí thức
nổi tiếng là Hoàng Cao Khải trong cuốn Việt sử yếu (viết năm 1914)
đã nhận xét rằng bao đời nay, người Việt mình thường tỏ ra thạo sử Trung
Quốc hơn sử Việt. Từ các sĩ phu và quan lại, tình hình này lan ra đến đông
đảo dân chúng.




      Có thể giải thích hiện tượng này bằng
chế độ thi cử ngày xưa. Người ta chỉ cho thi Bắc sử. Và các trường học - dù
là chốn Quốc tử giám của triều đình hay lớp học tự phát của một ông đồ
nghèo ở một làng quê hoang vắng - đâu đâu người Việt cũng hình dung cuộc
đời này qua các trang sử từ đời Trụ Kiệt đến đời Đường Tống...


       Trong khi đó thì bên phần Nam sử, một vài
bộ như Toàn thư, Cương mục, Việt sử
tiêu án, Lịch triều tạp kỷ...
mà ngày nay ta tự hào, thật ra là quá ít
ỏi và chưa bao giờ được mang lưu hành rộng rãi và đưa ra giảng dạy.


       Đến thời chúng ta, tình hình lại đi
theo một hướng khác, nhưng kết cục vẫn như xưa.


        Những bộ sử thời nay do Nhà nước
chỉ đạo biên soạn. Sự định hướng về dân tộc tỏ ra  quá mạnh, thậm chí tôi còn muốn nói thẳng
là lâu nay chúng ta chẳng biết gì đến lịch sử các dân tộc khác, và đó là
một nhược điểm, nó hạn chế ngay sự hiểu biết của chúng ta khi muốn quay về
nhận diện chính mình.


         Thế nhưng tại sao thanh thiếu niên
cũng như nhiều người lớn tuổi vẫn thuộc, và qua phim ảnh, thấy thích sử Tàu
hơn sử ta?


        Nhiều người cho rằng sở dĩ như vậy
là vì người Trung Quốc có nhiều tiền hơn, làm ra những thước phim mùi mẫn
hơn.


        Không, không phải vậy, hoặc lý do
chủ yếu không phải vậy.


        Cái lỗi trước hết là ở chính những
cuốn sử đã viết, trong đó hạt nhân là khái niệm sử mà chúng ta đang sử
dụng.


       Ở những trang sử Trung Quốc, không
chỉ có những ông vua, khi là minh quân khi là bạo chúa chuyên chế, như Càn
Long, như Tần Thủy Hoàng, mà còn có Tào Tháo gian hùng, Bao Công hiểu rõ
tình đời đen trắng, Kỷ Hiểu Lam chăm chỉ học hành, Bạch Cư Dị sau khi đổi
việc quan được dân chúng lưu luyến đưa tiễn...


       Đủ loại sắc thái nhân văn khác nhau
nối tiếp hiện ra trong bộ mặt con người Trung Hoa, được vẽ trong những
trang sử ấy.


     Và đằng sau đó là hình ảnh của cả xã hội
trong suốt chiều dài thời gian mà mặc dù chúng ta khi thì căm ghét, khi thì
ghê rợn, song bao giờ cũng thấy hấp dẫn, đã biết rồi còn muốn biết nữa.


      Quay trở lại với những gì được viết
trong các bộ sử Việt Nam, mà khuôn mặt tiêu biểu thì thấy rõ nhất trong các
sách lịch sử đang dùng ở các trường phổ thông và đại học. Đây tôi không nói
về những gì đã xảy ra trong đời sống lịch sử ngàn năm của dân tộc, tôi chỉ
muốn nói cái nó còn được ghi trong sách vở và truyền tụng giữa các đời.


      Ở những trang sử ta viết cho ta, trên
cái nền là một ít sự kiện nghèo nàn, không có những con người mà chỉ có
những hình nhân với một vài lời lẽ, hành động đôi khi cũng ấn tượng, nhưng
quá  đơn sơ, thô thiển.


      Đọc những trang viết khô khan cằn cỗi
đó, thật không hình dung ra trong hàng chục thế kỷ qua, cộng đồng chúng ta
đã ăn ở, sinh hoạt ra sao, quan hệ với nhau thế nào.


      Lại càng không thể từ đó rút ra những
gợi ý về kiếp làm người của mình hôm nay.


       Bởi những bài học mà người viết sử
gửi kèm chỉ là những kiến thức chính trị nông cạn, hời hợt, đến với người
ta theo lối áp đặt gượng gạo.


       Sức phản cảm mà nó gây ra trong lớp
trẻ thật ra là điều nhiều người đã thấy từ lâu rồi, chẳng qua tất cả cố
tình làm ngơ vì biết rằng vô phương cứu vãn.


      Cái lỗi không phải chỉ là do mấy
người soạn sách giáo khoa. Cái lỗi ở đây là của những người làm sử và những
người đã buộc các nhà sử học phải viết vậy.


        Và suy đến cùng là sự hạn chế, nếu
không muốn nói là nghèo nàn, kém cỏi trong ý thức lịch sử của cả xã hội.


      Vấn đề là ở tư duy lịch sử của người
Việt.


      Chúng ta là một cộng đồng mải chinh
chiến hơn là xây dựng. Trong quá khứ, chúng ta dành quá ít thời gian và tâm
trí để suy nghĩ về chính mình, tìm sự thật về chính mình...


      Đó không chỉ là tình hình có thật
trong cuộc sống của người Việt từ lúc khởi nguyên và kéo dài suốt vài trăm
năm gần đây, mà cũng là của thời đương đại.


     Thời nay, trong hoàn cảnh nước sôi lửa
bỏng của chiến tranh và cách mạng, nền sử học vốn rất còi cọc yếu đuối chỉ
dồn sức vào làm cho được nhiệm vụ trước mắt là giáo dục mọi người sẵn sàng
ra trận, chứ sức đâu mà đáp ứng nổi cái nhu cầu tự nhận thức, cũng tức là
nhu cầu soi lại quá khứ để xác định tương lai.


      Ngay trong cái phần tốt đẹp nhất của
nó, nền sử học mà chúng ta có cho đến hôm nay là một thứ sử học của tồn
tại
mà không phải là một thứ sử học dành cho một cộng đồng muốn phát
triển.
Tóm lại là vậy.


      Cái việc lớp trẻ hiện nay từ chối sử
học thật ra có một tác dụng tích cực. Đã đến lúc chúng ta phải nghĩ tới một
thứ sử khác, sinh động hơn, có hình ảnh con người nhiều hơn. Nghịch lý cuối
cùng chỉ là trong khi những đòi hỏi đã cấp bách lắm rồi, thì những điều
kiện cần thiết không biết bao giờ mới hội tụ đủ.






      


        Đã in TBKTSG  20/10/2011








     Viết thêm 13-5-2013:





     Không riêng gì sử
học, mà toàn bộ học thuật nước ta, cần phải làm khác, nếu nền học thuật ấy còn
muốn vươn tới trình độ hiện đại,  từ đó
có ích cho đời sống.


      “Cần
có một thứ sử học sinh động hơn, gần với 
hình ảnh con người nhiều hơn" – Hai năm trước tôi mới biết đến vậy, nay
thấy nói thế thực là không đủ.


     Trình độ của tôi lúc này không cho phép tôi
phác họa ra một thứ sử học mà chúng ta cần. Tuy nhiên  tôi muốn đề nghị một tiêu chuẩn chủ yếu.


       Trong khi nói về quá khứ, một nền sử học phải
giúp cho con người ngày nay giải thích được khung cảnh trước mắt. Phải thấy được
sự liên tục của tình hình.


      Sự bế tắc hôm
nay là tiếp nối  tình trạng trì trệ triền miên trong quá khứ.


     Những người chèo lái xã hội hôm nay mang trong mình chỗ hay chỗ dở của bộ phận mà ta hay gọi là
giai cấp thống trị quản lý đất nước các thế kỷ trước – thực ra chính họ đã là
tinh hoa của xã hội lúc ấy dù là họ chỉ có thế.


       Cho tới tự nhận
thức của chúng ta về cộng đồng mình, mối quan hệ của chúng ta  như một quốc gia với các quốc gia lân cận…
trên nét lớn vẫn thế.


       Tám mươi năm
thuộc Pháp ta có học được ít nhiều, nhưng rồi mấy chục năm nay, một sự “lại gạo’
lại diễn ra dần dần và chúng ta đang trở nên giống ông cha ta thời trung đại
hơn bao giờ hết.


       Trên đường tìm tới một thứ sử học khác đi—khác
về căn bản  so với những gì sử học hôm nay
đã và đang làm, ngoài việc học hỏi sử học nước ngoài, việc trở lại với sử học của ông
cha cũng đang là việc cấp bách.


         Sử học thời
trung đại ở ta bao gồm hai loại. Có những bộ sử nhà nước như  Đại Việt
sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục... 
Có những bộ
sử do cá  nhân đứng tên  như Việt
sử lược, An Nam chí lươc,, Lịch triều tạp kỷ,  Đại Việt thông sử, Việt sử cương mục tiết
yếu…


      Cả về mặt bao quát  sự kiện chi tiết lẫn trách nhiệm của ngòi bút
và tư cách nhà viết sử nói chung  … các bộ sử xưa  thuộc cả hai loại đó xét ra còn khá hơn sử ngày
nay rất nhiều.

Tuesday, May 7, 2013

Sự nghèo nàn của văn hóa sách ở VN




       Viết về tình trạng của những con đường bảo đảm giao thông đi lại ở nước VN cổ, một nhà nghiên cứu nước ngoài đã dùng đến hai chữ ấu trùng.


       Tôi nghĩ rằng cũng có thể  dùng hai chữ ấy để mô tả tình trạng của sách vở ở ta từ xưa tới nay 


       Gần như dân ta chưa biết làm sách, lại càng không tạo ra được một không gian có ý nghĩa tinh thần cho sách tồn tại và phát triển.   


        Sự nghèo
nàn của văn hóa sách Việt Nam là một căn bệnh kéo dài kinh niên trong lịch sử.






1. Văn hóa Việt Nam
thường được miêu tả qua các phương diện như tín ngưỡng tôn giáo lễ tiết, thi
cử, các ngành nghệ thuật, rồi phong tục tập quán, các nghề thủ công, nhà ở, đồ
ăn thức uống.


     Giở những cuốn lịch sử văn hóa quen thuộc từ Việt Nam văn hoá sử cương (1938)
của Đào Duy Anh, qua Văn minh Việt Nam (1943) của Nguyễn Văn Huyên, Hiểu
biết về Việt Nam
(1954) của P.Huard và M.Durand, không đâu người ta thấy
nói tới nghề làm sách và vai trò của sách trong xã hội.




   Bắt đầu từ quan niệm  Đọc lướt qua các bộ Đại Việt sử ký toàn
thư, Việt sử thông giám cương mục
, thấy những chữ lên ngôi, thiết triều, hạ chiếu, chinh phạt, khởi loạn, rồi ban thưởng,
xướng họa
,... đầy rẫy và lặp đi lặp lại dày đặc bao nhiêu thì chữ sách, đọc sách, soạn sách, dịch sách hiếm hoi bấy nhiêu. Chưa một triều đại nào
trong quá khứ có thời giờ nghĩ nhiều đến sách và coi sách là việc lớn của vương
triều mình.




    Phải công nhận trong khi ghi
chép và phân loại thành tựu văn hóa trong quá khứ, Lịch triều hiến chương
loại chí Phan Huy Chú
đi xa hơn cả. Tác giả đã dành cả một chương mang tên
văn tịch chí ghi lại sách vở các đời.




    Thế nhưng đó vẫn không phải là lịch
sử sách, càng không phải là sự trình bày quan niệm về sách, vai trò của sách vở
trong đời sống của người Việt. Mà lý do chính là vì trong xã hội bấy giờ, những
ý niệm này chưa xuất hiện, tác giả có muốn cũng không làm được.




    Trong khi đó chỉ cần đọc lướt qua
những cuốn lịch sử những nước có nền văn hóa phát triển người ta thấy ở xứ
người, sách đã được quan niệm đầy đủ ra sao và  được dành cho một vị trí như thế nào. Sự ra đời của những cuốn sách
lớn được ghi nhận như những cái mốc lớn lao đánh dấu thành tựu của cộng đồng
trong việc chinh phục thiên nhiên và tự nhận thức về mình, làm chủ cuộc sống
của mình.





    2. Đi vào cụ thể một số mặt trong văn hóa
sách.


   Về kiểu loại sách: Nếu trên phương diện kinh tế, hàng hóa chúng ta sản
xuất ra đã  quá nghèo nàn về mẫu mã và chủng loại thì ở sách cũng có tình trạng
tương tự. Sách được hiểu chủ yếu là các tập thơ tập văn. 


    Trong khi đó, cả ở
phương Tây lẫn phương Đông, xuất bản phẩm có nghĩa rộng hơn nhiều, sách thường
tổ chức theo một hệ thống thể loại chặt chẽ, bao gồm đủ loại từ các biên khảo,
các sách biên niên sử, rồi từ điển và bách khoa thư. Việc làm một cuốn sách một
bộ sách có khi được người ta dành cho cả một đời người.




   Về nội dung sách: Trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam, nhà
nghiên cứu Phan Ngọc, khi tìm hiểu thư mục di sản văn hóa Hán Nôm Việt
Nam đã chỉ rõ trong số 6000 quyển sách tạm gọi là tiêu biểu cho tâm
thức của trí thức Việt Nam trước khi tiếp xúc với văn hóa Pháp, có
quá nửa là sách học để đi thi, các bài mẫu, các sách giảng về các
kinh truyện, các bài thơ phú viết theo lối văn chương hàn lâm mà lại bị làm cho tầm thường đi. 


     Tức theo
Phan Ngọc, đây chỉ là một nền xuất bản phục vụ cho việc học để làm quan! 


       Trong
số 70 quyển thuộc loại nông nghiệp có 9 quyển nói về địa bạ, 4 quyển
về cách kê khai ruộng đất, 5 quyển về đê điều, 18 quyển về việc đóng
thuế, còn lại là nói về các thổ sản. Trong sách về thủ công nghiệp
chỉ thấy nói về tiểu sử các ông thành hoàng các nghề...




 Bảo quản giữ gìn sách: Sau khi
được sao chép ra với số lượng ít ỏi, sách chỉ có cuộc sống ngắn ngủi.


    Ta hay đổ cho nước ngoài - rõ nhất là thời
kỳ quan quân nhà Minh sang đô hộ - tịch thu và tiêu hủy nhiều sách của ta. Song
theo Phan Huy Chú, trước đó sách từng là nạn nhân của những cuộc khởi nghĩa,
khi Thăng Long bị cướp phá, sách vở đã bị đốt rất nhiều.


   Về sau này, trong các thế kỷ XVII- XVIII, cho
tới XIX , tình hình cũng chẳng khá hơn đến mức hai nhà nghiên cứu người Pháp
là L. Cadiere và P.Pelliot đã khái quát “
không ở đâu mà cái gia tài kiến thức của một dân tộc  lại tan biến nhanh như vậy”( dẫn theo Tạ Chí
Đại Trường, lời mở đầu của sách  Lịch sử
nội chiến ở VN từ 1771 đến 1802
– SG  1973)





  Giao lưu với nước ngoài  Một phương diện nữa đánh dấu sự phát triển
của văn hóa sách một quốc gia là khả năng quốc gia đó trao đổi sách vở cùng các
tài liệu in ấn  nói chung với quốc gia
khác, tức là vấn đề xuất nhập khẩu sách (từ đây mở đường cho những cuốn sách
lớn trở thành tài sản chung của nhân loại).




    Trong một tài liệu viết về thư tịch
chữ Hán ở Nhật Bản (in trên tạp chí Nghiên
cứu văn học
ra ở Hà Nội số 4-2008), tôi thấy người ta cho biết triều đình
Nhật có cả một Thư viện gọi là Văn khố hoàng gia, sau gọi là Sảnh thư, chuyên cất giữ sách Trung
Quốc. Một văn khố khác mang tên Văn khố
Hồng diệp sơn
hoặc Văn khố nội các,
hoặc Quốc lập công văn thư quán, đến
nay còn lưu giữ 185.000 quyển. Đại khái có thể ước tính 50% điển tịch đời Tùy,
51,25 % điển tịch đời Đường đã được nhập vào xứ sở Phù Tang.




    Tài liệu trên còn đưa ra một con số:
tới đầu thế kỷ XIX từ 70 đến 80% sách in ở Trung Quốc đã được chuyển sang Nhật.
Mà ở Trung Quốc sách in ra lúc đó đã tới 100.000 loại (loại chứ không phải cuốn
).




    Còn ở Việt Nam thì sao? Trên tôi đã
nói là sử ta không mấy khi nhắc tới việc buôn bán trao đổi sách.


     Chỉ
đọc cuốn Lịch sử Đông Nam Á của D.G.E.Hall,
một  giả người Anh ( lần đầu in ở SG
trước 1975, 1994 được in lại ở HN)  tôi
mới thấy ghi thời thế kỷ XVII, chúa Trịnh từng có lệnh cấm truyền tay sách
Trung Quốc (sách này do những người Tàu nhập cư mang vào).


     Sang đến đời Nguyễn vua quan có chú ý hơn tới việc học hỏi Trung Hoa qua sách vở,
nhưng chưa thể nói là đã có một chủ trương, đừng nói là có một cách tổ chức hợp lý, cho việc du nhập sách ở nước ngoài . Đây cũng là tình trạng giao lưu văn hóa bị hạn chế ở ta suốt thời trung đại.




    Có lần tôi được nhà sử học Dương
Trung Quốc cho biết ngày xưa các vị quan đi sứ, khi về hàng hóa bị kiểm tra rất
ngặt nghèo, chỉ có hai thứ được khuyến khích là thuốc quý và sách.


     Nhập
hàng theo lối tiểu ngạch như vậy, mà lại nhỏ giọt, nên khi mang về sách trở
thành quá ư là quý hóa, thường người mang về chỉ giữ cho riêng mình.


     Tệ
nhất là trường hợp nhiều vị trong số các sứ giả ấy  –  vốn không
hề có ý thức rằng mình là sứ giả văn hóa – có được sách  mang về liền giấu giấu diếm diếm  rồi thuổng luôn của người ta, lấy của người
làm của mình hoặc coi đó làm mẫu, mô phỏng theo. Một đôi khi người có sách lại  kín kín hở hở mang ra khoe nhưng chỉ là để trộ
thiên hạ và làm giá cho bản thân.


     Sách ngoại như vậy là chết luôn sau khi
vào xã hội Việt, hỏi còn đâu vai trò kích thích việc làm sách trong nước.


 TT&VH  25/01/2009 

Friday, May 3, 2013

Một nền hòa bình ngấm bệnh -- Hà Nội 3/4--1/5/1973 ( phần II )






 22/4


    Tự nhiên nổi lên trong đầu óc mọi người vấn
đề  quyền lực.


   Cũng
như các chủ đề khác, nó lại được khơi gợi từ thế giới bên ngoài.


    Cuốn Trăm năm cô đơn bản tiếng Pháp được truyền
tay và bàn luận. Tôi  thấy mấy nhà văn thạo
tin dẫn lại với nhau những câu mà các
anh bảo là của nhân vật chính, đại tá Aureliano Buendia:


   - Sự choáng váng về quyền lực trong ông đã trở thành
những giờ phút bất mãn sâu sắc với ngay  bản thân mình.




    ... Các mệnh lệnh của ông thi hành khi ông
chưa kịp ban ra, thậm chí trước cả khi ông nghĩ ra, và lại được chấp hành vượt
quá cả mức mà ông dám hành động.


    -... Đi đến đâu, ông cũng gặp những thanh
niên đón tiếp. Họ nhìn ông với những đôi mắt giống như đôi mắt ông, họ nói với
ông bằng giọng nói giống giọng nói của ông, họ chào ông với lòng hoài nghi như
ông. Họ chào và họ tự coi là con cháu ông. Ông cảm thấy một cảm giác rất kỳ lạ  -- hình như họ làm cho chính ông nhân tăng
lên nhiều lần song chính vì vậy mà nỗi cô đơn càng trở nên nặng nề hơn, đau đớn
hơn.


    Chúng ta chiến đấu chỉ để giành quyền lực
mà thôi...


    .... Ông phải làm 32 cuộc chiến tranh, phải
phá bỏ mọi điều quy ước với cái chết phải gục xuống trong vũng bùn  vinh quang để 
có thể hiểu ra -- tuy đã muộn gần 40 năm -- sự quý giá của một cuộc sống
bình thường.









   Trên Bản
tin tham khảo  thấy có in bài một nhà báo
Pháp nói về tình hình  VN hiện thời  


-
Nước Việt Nam thường xuyên ở vào những điểm nóng của thế giới, đến nỗi họ tưởng
rằng những tai vạ là ở ngoài vào, chứ không phải chính họ gây ra.


-
Một dân tộc chỉ có thể phát triển trong sự cọ xát với các dân tộc khác. Người
Việt Nam đang tự nhốt họ lại, và tôi ngờ rằng họ sẽ chết ngạt.





25-4


     Đôi lúc, cảm thấy vào những năm này, chỉ
có đàn bà là đáng sống. Đi trên đường Hà Nội, gặp những người đàn bà đạp xe một
cách nhẫn nại, ra dáng một người chủ gia đình, chồng con sau lưng. Đã trưởng
thành, nhưng còn đủ tuổi trẻ để tự trọng -- họ diện một cách kín đáo, nhưng lại
có cái dáng dày dạn, bất cần, xông vào mọi chỗ, giành lấy ánh sáng cho gia đình
mình (gia đình là cái thể chế duy nhất mà những người này tự nguyện thờ phụng!)


     Những người đàn ông giàu tham vọng hôm nay
chẳng có mấy,và hình như chẳng làm ai ngạc nhiên. Những cố gắng hiện lên trên
nét mặt làm cho họ có vẻ đầy ảo tưởng, nhưng nếu không có cái đó, thì họ lại rất
thảm hại. Đàn ông ở xứ này chỉ là dấu hiệu của sự bất lực. Vì họ quá nhiều thất
bại.


    May mà cuộc đời bao giờ cũng có những người
đàn bà, từ đó có một triết lý đàn bà.


-- dẫu sao, cũng phải tận
tuỵ với cái tình thế mình đang lâm vào, cam chịu chấp nhận


-- Sống gắng gỏi nữa.


-- Nếu cần thì cũng diện,
cũng ran rỉnh đùa bỡn như mọi người.


   Triết lý của đàn bà là triết lý thực dụng.





26/4


     Vẫn chuyện xe bò. Ngày mưa, người điều khiển
xe cuốn cái cạp nứa ( vốn chuyên dùng để be thành xe cho tăng thêm sức chứa)
thành một vòm mái che mưa,  rồi ngồi núp
dưới đó.


      Giả sử như tôi làm nghề xe bò, hẳn tôi
luôn luôn phải có đủ thứ mặc cảm. Mặc cảm
tự hào nghênh ngang rằng mọi người cần đến mình. Mặc cảm bất cần. Chẳng
ao ước gì cả. Ăn mặc rách rưới, bẩn thỉu, chân đi đất ư, kệ -- ngồi vào cái xe
bò thì còn tính chuyện gì nữa?


     Mưa.
Năm nay thời tiết ngang trái. Tết thì nắng nồng oi bức. Nắng đến không có chỗ
cho con người ăn diện nữa. Nắng không để cho những ý định cá nhân được mở mày mở
mặt. Làm gì có chỗ cho những cái đó.


      Và bây giờ thì mưa. Đầu hè, mưa hàng mươi
hôm liền. Mưa đá rơi xuống khu vực người về chuẩn bị duyệt binh, những mái lều
của người lính nát bung, trơ ra lần vải bạt bên trong. Mưa trắng trời Hà Nội,
ngập ngay trên những đường phố bị trũng. Trẻ con đi học về lội bì bà bì bõm. Cô
giáo đứng giữa ngã tư đường, cấm, doạ chúng nó mãi chúng nó mới chịu thôi.


         Mưa đã tàn phá một chút gì trên đường
phố và trong tâm hồn đứa trẻ đó (Tôi nhớ cái ý đến với tôi thuở nhỏ: mưa có khả
năng “bộc lộ”, “lột trần tất cả”). Nhưng thôi hãy nói cụ thể. Không đâu cho thấy
tai hại của mưa  bằng ở nhà máy điện. Máy
móc không kịp che, mưa phá những đầu mối, những lò hơi, mưa gây ra sự cố điện cho
cả thành phố -- có buổi sáng, cả thành phố lạnh tanh.


    Cuộc sống sau mưa. Thành phố sau mưa. Những
con đường trơ đá sạch trắng. Lá mới rụng còn xanh đen. Năm nay, căn nhà lợp lá
của gia đình tôi dột đến mức ngay sau cơn mưa phải láng tro trên mặt nền mới đi
lại được, nếu không thì ngã như chơi.





27-4


      Mấy chục năm nay, ta chỉ có phá, mà không
lo làm thêm của cải cho xã hội. Bây giờ, người ta khôn lên, cái gì người ta
cũng có thể biết. Bao nhiêu sáng kiến được đưa ra, nhưng vật liệu đâu, lấy gì
mà làm. Nói theo từ ngữ thời nay, chỉ cần tắc khâu vật tư, là nhắm mắt chịu. 


   Rút cuộc, kẻ có quyền thế nhất trong xã hội, trong mỗi cơ quan -- là những người
nắm vật tư, nắm phương tiện vật chất. 


    Và do lúc này người ta không cho những
người ấy một vị trí xứng đáng, cho nên ở trong bóng tối, họ càng hoành hành tợn.


     Tôi hiểu ra điều ấy khi làm cái
công việc đơn giản của người con trai trong gia đình là tu sửa mái nhà tranh vách đất,  theo nghĩa đen , mà
bố mẹ tôi đã làm từ 1952. 


     Tuần trước tôi đã phải xuống Phà Đen mua ít lá gồi về
dọi lại chỗ dột .


     Mấy chủ nhật nay thì mượn cái xe ba gác bằng
sắt ở cơ quan cùng hai cậu em ra sông Hồng xúc cát rồi kéo qua đường Thanh niên,
qua trường Chu Văn An về nhà. 


      Theo lời khuyên của bà Tèo làm nhà máy
bia đến ở nhờ,  chúng tôi đang lo thay
các bức vách trát bùn ọp ẹp bằng  tường gạch
ba banh.


     Đi xin than xỉ ử các nhà đun bếp lò. Rồi về
giã nhỏ ra. Rồi mang trộn với xi măng cát và ép thành khuôn.


      Việc đóng khuôn thì đã có cậu Đăng em tôi
nhận làm.


     Khó
nhất là chuyện xi măng.  May quá, khi
mang việc này  nói  với anh em ở cơ quan, tôi được anh Doãn Trung
tìm cách giúp.  Anh Trung có người quen
cũ là anh Ninh trước cũng là dân phiên dịch 
Trung văn nay về là ở Ủy ban dưới Ô chợ Dừa. Anh Ninh có thể giúp tôi
mua ít bao xi măng Hải Phòng ở cửa hàng vật liệu xây dựng.


     Mỗi
lần đến anh Ninh lấy giấy giới thiệu ra cửa hàng, tôi không quên mang theo một
tút thuốc Trường Sơn. Nó là tiêu chuẩn anh Trung chạy cho anh em trong cơ quan, thường tôi vẫn dùng để tiếp khách riêng. Lần nào anh Ninh cũng trả tôi tiền thuốc
đầy đủ theo giá nhà nước.





1/5


    Hội
hè là gì? Là những ngày vui, sau công việc. Là những ngày xả hơi buông thả  sau những “chiến dịch” mệt nhoài .


    Thử tìm ý nghĩ của đám tham gia duyệt binh.
Họ quen tuỳ tiện buông thả . Mà duyệt binh trước tiên cần ý chí, nghị lực. Từ
thực tế đánh nhau trở về, người ta dễ xem đây là một việc tội nợ phải làm. 


     Nhưng  rồi máu anh hùng nổi lên, lại nhớ
rằng việc đó rất có ý nghĩa. Và người ta cắn răng lại để làm. 


      Rút cuộc 
thì cảm giác về một cái gì lớn lắm quay lại chi phối đến mức có lúc họ
hiện ra lố bịch!


     Nhờ đi theo phóng viên nhiếp ảnh Đoàn Công
Tính, tôi được vào sâu quảng trường, ngay dưới chân khán đài. Tôi nhìn kỹ những
nét mặt đi qua quảng trường. Rất ít những nét mặt đẹp. Người chúng ta, không phải
là những người để đi duyệt binh. Khuôn mặt thô, nước da xám, mắt tròn, mắt dẹp, cờ ra côm... đủ chuyện. Không có ai đẹp!





     Cuối xuân, đầu hè, lá đã bắt đầu xanh sau
mưa. Khẩu hiệu đỏ rực các đường phố. Thú thực, tôi hơi ghê sợ cái màu đỏ này.
Nó gợi cảm giác hỗn loạn. Nó tượng trưng một sự phá phách.


       Để tìm lại một chút bình
thản, tôi muốn đi về phía sông, phía cát, phía màu xanh.


    Nhưng mà vẫn không dứt khỏi ám ảnh về buổi mít
tinh vừa có mặt. 


    Chưa bao giờ tôi chứng kiến một cuộc mít tinh lộn ẩu thế. Người
đi dự mít tinh thì ít (mỗi khối phố định lấy 20 người, mà lấy được có 10). Sau này nhìn
TV thấy trên quảng trường nhiều chỗ trống.


    Nhưng người đi xem, thì nằm la liệt
mọi ngả đường. Và đây là cái cảnh không có trong những đám mít tinh hồi trước
1964.


    Độ 8h, những người phải đứng thì bỏ về, trong khi người đi xem tràn lên.


    Như một thứ lũ lụt: Người ta chui vào giữa các khối Công an - bộ đội. Người ta
len vào giữa khách nước ngoài. Người vỡ ra từng mảng xô đẩy.


     Công An , Công An Nhân dân vũi trang, đám trật tự viên, tất cả bất lực.


     Ở đường
Hùng Vương, phía bên phải lễ đài, nơi thoát ra của đoàn người diễu hành, người
ta lên xô ra hẳn một nửa đường, chỉ còn lại một nửa đường. Nhục nhã, lộn ẩu ở
phía người diễu hành đi qua, trong khi đó, ở phía sau, không gian rỗng ra.
  Đến
nỗi người như Tính cũng phải nhận:


    - Người ta đã quen với cách sống thời chiến. Lúc này mới hiểu chiến tranh...


    Vẫn theo Tính, chắc người đi qua lễ đài
cũng chán ngán mệt mỏi. Không có Cụ Hồ để hy vọng chào đón, người ta ngoảnh đi
lung tung. Lòng người phân tán quá chừng. Các lãnh tụ cười, vẫy tay chỉ vì nhớ
rằng ống kính các nhà quay phim đang chĩa vào mình.


     Lúc
gần kết thúc, tôi nghe tiếng lao xao: thế này thì người nước ngoài cười chết.
Khu vực quần chúng trống quá. Một giọng hét rất to: Quân nhạc cử Giải phóng miền Nam.


      Khi điệu nhạc Giải phóng miền Nam vừa dứt, lại tiếng lao xao: Đáng nhẽ ông Đồng
phải ra nói trước mọi người.


   Chờ đợi. Rồi ông ấy cũng ra:


    -- Chúng ta đã cử hành ngày lễ một cách rất thắng
lợi (!).


    Và
ông không quên cái điều thực chất nó khiến ta phải làm mít tinh:


    --  Chúng ta yêu cầu các nước anh em tiếp tục đồng
tình ủng hộ chúng ta về mọi mặt.


     Tôi
nghĩ bây giờ thì họ cũng biết mọi chuyện rồi. Nhưng họ mệt mỏi đến nỗi không
thiết gì nữa.





     Đêm trên thành phố là khi con người trở về
với cái hoang dại. Người ta chú ý đến tất cả những gì chung quanh, một tiếng lá
rơi, một ngả đường rộng.  Có thể có ai đó
đang lo chạy cấp cứu vì vợ đẻ, con đau. Nhưng nói chung những khốn khổ hàng
ngày lùi đi rất xa.  Cái lối phớt lờ mọi
chuyện vủa những cặp tình nhân được coi là có lý nhất. Trong đêm, tiếng người
nói to hơn, tiếng móng xe bò gõ trên đường nhựa, nghe nhộn nhạo hơn. Ở đấy là tất
cả những gì đang sống.





     Nhớ một ý Xuân Quỳnh nói buổi chiều:


    - Giá những người đi duyệt binh kia về cày
cuốc, thì được bao nhiêu việc.


    Lúc ấy tôi chỉ hùa theo: “ Ai mà quay về được nữa. Ở mình bây giờ,
những thứ quân sự đã hóa dễ quen hơn dân sự!”. 


      Lúc này tôi nghĩ lan man thêm. Vậy thì ở mình chỉ những sự phá phách là toàn
thắng. Nó ào ào như nước lũ vỡ bờ vô tận, như các dân tộc khác - tự tin, hào hứng,
- làm ra của cải vô tận và thẳng đường tiến tới văn minh.

Thursday, May 2, 2013

Một nền hòa bình ngấm bệnh -- Hà Nội 3/4-- 1/5/1973 (phần I )




3/4


     Vẫn chưa hết ngỡ ngàng vì hoà bình. Bây giờ,
trên nhiều quãng đường, cái âm thanh nghe reo vui nhất, là tiếng máy gạt, máy
san. Và cái mặt đất đẹp nhất, là những nền đất mới. Đất mới đổ xuống hầm hố cá
nhân. Đất mới san nền, đất lật tung ra, từ những hầm đất lâu nay cỏ đã lên
xanh.


   Bầu trời được dọn dẹp đã trở thành bầu trời
bình yên.


   Hôm qua đất là chỗ trú chân. Hôm nay, đất phải
là cuộc sống.




    Sông Hồng. Những con sông, bao giờ cũng gợi
cho người ta nhiều ý nghĩ khác nhau. Sông dạy người ta thế nào là tự nhiên --
cái tự nhiên màu mỡ, trong sáng như là sự sống đậm đà trên một nhành cây một sắc
lá.


     Nhưng sông cũng cho người ta hiểu thế nào
là thiên nhiên hung bạo. Nó hiền lành đó mà phá hoại cũng đó, nó bình thản, nó
đẹp thế, mà nó giở mặt thì chịu.


     Đứng bên thiên nhiên, con người cảm thấy
mình bé nhỏ lạ. Không, con người sẽ làm được tất cả, dần dần làm được nhiều điều
mà nó mong muốn. Nhưng mà con người phải vượt lên kia.


     Đứng
bên sông, con người vừa qua chiến tranh như được đánh thức cảm giác hung bạo. Nếu
không thì lại dậy lên những bản năng tự nhiên - ôm ấp, vuốt ve người khác giới.
Và nếu không thì cáu gắt, chửi đổng, và cuối cùng thì buông lơi đầu hàng. Những
con sông cũng luôn luôn là cái bất trị của mọi thành phố, vùng ven sông là những
vùng ít ổn định nhất.


     Thiên nhiên muốn con người trở lại cái
phía hoang dại của nó. Nhưng người ta liệu có thể vượt lên trên sự kích động?


    Những ý nghĩ trên đây đến với tôi, khi mà,
mấy hôm liền, tôi ra chỗ bãi sông Hồng. Con sông chỗ tựa của lịch sử Hà Nội,
cũng là chỗ tựa của xây dựng Hà Nội. Bắt đầu là việc lấy cát. Hàng ngày có biết
bao nhiêu đoàn xe ra đây. Công ty san nền, công ty xây dựng... Có cả bao nhiêu
là xe bò. Cát bay mù trời. Đống cát dùng băng chuyền cao lên mãi.


    Bãi cát, bãi của hoang sơ, nhưng cũng là khởi
đầu của xây dựng. Bãi cát, trên đó bao nhiêu là vạch đường đi qua. Bãi cát lở,
bãi cát lầy, người ta phải quành sang lối khác. Sách địa lý dạy chỉ có những
lưu vực sông là nơi có người định cư sớm nhất. Một bó củi dâu lồng bồng, những
ruộng dâu mờ mờ ảo ảo. Những người làm nghề tầm tang của một nước nông nghiệp,
tôi biết  -- những ấn tượng xưa còn hằn
trong ký ức.


    Ngày nay, những bãi đá, bãi than của các
công ty xây dựng chạy dọc sông. Than và đá chạy đường thuỷ rẻ nhất. Và ở các thành
phố chỉ dọc sông mới còn đất bãi, còn chỗ trống , còn trổ ra được những hướng mới.





7/4


    Cảm giác rõ nhất của Hà Nội 1973: xe bò.


     Đi
đâu cũng nghe những tiếng gõ của bánh xe bò, tiếng móng bò đập trên đường. Ban
đêm nhìn theo bóng dáng một khối lùm lùm trên đường, chỉ thấy một ngọn đèn lắc
lư, chiều sâu của xe âm âm tối tối.


   Xe chạy âm thầm như xấu hổ, nhưng lại cần mẫn
đến phát sợ . Rất khuya, còn nghe tiếng bánh lăn. Chợt sáng, đã nghe xe dậy. Dễ
xe chui vào tất cả mọi ngả đường, mọi xó xỉnh. Đã bao nhiêu lần, tôi bắt gặp những
người đánh xe như đang thiu thiu ngủ, như đang sống sống qua đi cho xong chuyện.
Nhưng con bò vẫn đi, cái xe vẫn sống, dòng xe vẫn sôi nổi, và tôi vừa bằng
lòng, vừa sợ hãi với cái sức sống đó của Hà Nội.


    Hà Nội và năm tháng. Có bao giờ chúng ta biết
chính xác tuổi Hà Nội. Có bao giờ chúng ta nghĩ mình hiểu hết Hà Nội. Ẩn sau Hà
Nội thanh lịch luôn luôn có một Hà Nội dầu dãi, nhẫn nại. Tôi bắt gặp chất nhẫn
nại ấy khi nhìn những người dân ở đây đi đắp đê, khi nhìn vào những người dân
nông thôn lần đầu ra với  phố xá. Và nhất
là nhìn vào những cụ già ngồi bán qùa, bán bánh đọc đường, họ như là những gốc
cây hiện hồn, những góc phố hiện hồn, họ không muốn chết cùng một Hà Nội nghèo
đói .


     Những nét mặt các cụ già, những căn nhà mốc
meo, những cái bếp dầu khét lẹt, tiếng xe điện guồng bánh mãi từ lâu mà không
thấy tới - đất nước xa vắng như từ thế kỷ nào mang lại. Cách mạng là gì vậy, mà
những cái tốt trong quá khứ thì chết hết cả, những cái xấu thì cứ còn mãi, chìa
ra lan tràn ban phát đầy sông, đầy đường.


    Phan Nhật Nam theo ra trao đổi tù binh về
viết ( có đúng  thế không hay chỉ là đồn
đại?)  người ta đã biến Hà Nội thành một thành phố vô tính (không ra đực,
không ra cái), một thành phố không có người.
Cái câu
Tôi bước đi, không thấy phố, thấy nhà của Trần Dần cần phải thay bằng: Tôi bước đi không thấy phố thấy
người.


   Có bao giờ anh chợt nhận ra có một bầu trời
trên đầu mình ?


   Đi trên thành phố chúng ta cứ bị hấp dẫn bởi
những nét mặt và những hàng cây, đến nỗi quên đi bầu trời trên kia. Bầu trời
trên thành phố là một sự ngơi nghỉ, một thoáng ưu tư. Những hàng cây cho ta ý
niệm về sự trong sạch, cây chết đứng giữa thành phố bụi bẩn, nhưng cây tìm cách
sống. Cắm sâu vào đất, nhưng nó lại vươn lên ánh sáng.





10/4


     Nhàn: Thanh niên bây giờ có loại con các
ông to. Nó tha hồ làm đủ mọi chuyện.


    Niệm: Nó khác mình ở chỗ ấy.  Chúng mình con nhà nghèo nên mình vẫn còn rút
rát. Trong khi ấy, nó cứ đàng hoàng làm bậy, chẳng sợ gì cả.


     Nhàn: Căn bản là vì nó không bị ràng buộc
về kinh tế.


     Niệm: Nhất là nó không bị ràng buộc vì dư
luận. Cái này quan trong hơn nhiều.


       


      Thư, em tôi kể ở lớp có một thằng bạn làm thơ, mơ ngày
mai -- anh này sẽ làm kỹ sư, anh kia sẽ đi
nước ngoài, anh nọ viết văn. Khánh (cháu ngoại cụ Tôn Đức Thắng) làm thơ bác lại:


     -     
Ai khiến anh phát vé cho tôi?


     -     
 Ai
khiến anh ban phát cho mọi người.


     -     
 Tương
lai là thế nào, không ai biết được!


     Ng
Khải nghe tôi kể lại bình luận:


      -- Đúng, đúng thế. Những vấn đề mà giới
văn nghệ nói còn là hiền. Đi ra ngoài nghe người ta nói còn là khốn nạn bằng mấy.
Tai hoạ sẽ do từ chính những người hiểu thực chất hôm nay nhất mà ra.





17/4


     Hôm qua, nhiều người đi xem diễu binh thử.
Hôm nay, suốt từ chập tối, đầu phố Quan Thánh leo lẻo tiếng loa. Đang thử loa mắc
ở đầu đường, để điều khiển người duyệt binh.


     Tôi không thể háo hức với những chuyện duyệt
binh này. Tôi chưa yêu được  những hồi
quang của cái sức sống hùng tráng hôm qua. Hàng ngày tôi chỉ cảm thấy một thứ sức
sống dòi bọ lúc nhúc, người nọ đạp lên đầu người kia.


     Con người ở đây, sống thấp lè tè mặt đất,
còn cả bầu trời trong sạch thì bị thả nổi cho một bọn dốt nát hoành hành. Họ muốn
nói gì thì nói. Như là hành hạ người ta, bắt người ta nghe, tống đủ mọi thứ sáo
rỗng vào đầu người ta. Tiếng loa tiếng đài luôn có cái vẻ  kiêu hãnh của kẻ một mình một gậy múa loạn lên
ở giữa đường như thể ở chỗ không người.


    Chủ nghĩa xã hội là gì? Là một cuộc mít
tinh lớn, trong đó, quần chúng nhân dân là một khối đông đặc, và ở trên, có mấy
lãnh tụ.





     Những mẩu đối thoại


    -- Tôi cảm thấy người dân nơi đây là những
người đầy hiếu động.


    -- Có phải thế đâu. Dân mình là trì trệ nhất.


    -- Không, hiếu động nghĩa là hơi một tí là
sinh sự, chửi bới, đánh nhau, có thể là còn móc mắt nhau, xin nhau tí tiết!  Còn trì trệ là  nhìn từ xa, nhìn bao quát. Mình có cả hai đặc
tính đó.





      Và lúc này dân ta  là những người hay thì thào. Ra phố, hàng nước
có người thì thào; vào mậu dịch, các nhân viên thì thào. Cho đến khi vào những
buổi họp, người ta cũng thì thào. Đất nước mất đi sự thông tin chung. Luật pháp
không xác lập được những mối liên hệ lớn, và người ta cứ phải tự lập những mối
liên hệ, cứ phải quan hệ lẫn nhau. Những mối liên hệ tưởng rất lằng nhằng,
nhưng thật ra nó đơn điệu. Nó chỉ gồm những mạch ngắn.





     Và bây giờ lại hỗn loạn nữa. Nếu quen một
người công an hẳn sẽ được thông báo là ngày nào cũng có những cuộc ẩu đả, đánh
nhau, giết nhau. Đã nghe một người nào đó nói:


   - Nhà nước không có luật pháp gì nữa. Thì để
chúng tôi làm lấy luật pháp vậy.





18-4


       Nhận
ra trên đường phố đan cài rất nhiều những mặt lính, cả những đại uý thiếu tá là
thứ hồi trước chiến tranh rất hiếm.


     Tôi nhớ đến những khoảng rừng. Ở đó, ban đầu
người lính đến ở tạm bợ. Nhưng rồi họ trở thành chính khu rừng.


      Đánh nhau lâu, trở về Hà Nội, người lính
kia lại trở thành một thứ xa lạ, tạm bợ, một thứ sản phẩm bị rừng núi “thuộc’
đi làm biến chất đi.


     Sự tốt đẹp chỉ có thể là sự tốt đẹp của ảo
tưởng. Và một cái nhìn tỉnh táo, thiết thực, chỉ có thể là một cái nhìn đau
xót, nếu như không nói là dẫn đến thực dụng, tầm thường.





21/4


     Dạo
này anh Nhị Ca hay nói với tôi về sự  trả
thù. Suốt những năm hòa bình, dân buôn bán bị dân cán bộ khinh rẻ. Họ bị gọi bằng
cái từ mới xuất hiện mấy năm nay, phe phẩy. Thù nhau ngấm ngầm.


      Nay đến thời chiến thì đám dân  phe phẩy ấy báo thù, khinh lại dân cán bộ ra
mặt. Đơn giản thôi, chỉ cần trông vào bữa cơm của hai gia đình cạnh nhau là thấy
ngay tại sao họ lại có cái quyền ấy.


   Tôi nghĩ đến một cái gì đó, một thứ luận
thuyết thâu tóm chung, gọi là quy luật của đời sống. Và tôi sẽ chứng minh là nước
Việt Nam của tôi, do không chịu tuân theo những luật đó, cho nên không làm được
gì. Hơn nữa, những quy luật  bị dồn ép
khiên cưỡng lại còn bật dậy trả thù người ta nữa.

Tuesday, April 30, 2013

Đùa nhại là chuyện nghiêm chỉnh (nhân một bài thơ mới của Bùi Chí Vinh)

Lướt
qua  các trang mạng hôm nay tôi thấy phải
cắt dán lại bài thơ sau đây




SINH NGHI HÀNH  Bùi Chí Vinh


Sinh nghi ta viết một bài hành

Vợ nghi chồng, em út nghi anh

Cha nghi con cái, bè nghi bạn

Thủ trưởng thì nghi hết ban ngành

Láng giềng dòm ngó nghi hàng xóm

Ngoài đường nghi phố chứa lưu manh

Ngay ta khi viết bài in báo

Cũng nghi mình kiếm chác công danh

Trời ơi, mọi chuyện sinh nghi thiệt

Chén kiểu thường nghi kị chén sành






Thời buổi công hầu như chén cứt

Thiếu chó, mèo ăn cũng rất nhanh

Mèo ăn cho chó leo bàn độc

Vừa sủa vừa nhai riết cũng rành

Trẻ con khát sữa ai cho bú

Vú mẹ gầy, sâu rúc nồi canh

Quang Trung bỏ núi Tây Sơn xuống

Hoảng hốt vì gương vỡ chẳng lành

Nguyễn Du chỉ một đêm dạo phố

Đoạn Trường ngồi viết lại Tân Thanh

Thúy Kiều phát triển nhiều như thế

Thảo nào đất nước hóa lầu xanh

Nhà tù phát triển nhiều như thế

Sĩ tử làm sao dám học hành





Ta làm thơ mà lòng đứt ruột

Suốt đời bao tử chạy loanh quanh

Lãnh tụ nói: đói quên nghi kị

Ơn ấy ngàn năm sáng sử xanh!


29/04/2013






Tôi
thấy gần gũi với bài thơ ở mấy điểm


1/
ở mạch chính,  nó gợi lại một cảm giác
đang lan tràn trong xã hội những ngày này là quan hệ giữa người với người hết
sưc khó khăn và mỗi chúng ta thường nhìn chung quanh với cặp mắt  đầy nghi ngại, chẳng biết tin gì chẳng biết
tin ai.


2/
ở phần thứ hai, nó -- bài thơ -- đi vào tả thực, nói rõ sự bi đát bao trùm. Mọi giá trị tốt xấu đảo lộn. Bất công lan tràn.  Xã hội gợi ra cảm tưởng về  một ổ điếm ( lầu xanh). Mà đó cũng chính  là  tình
cảnh mà người Việt đã từng trải qua trong quá khứ. Hoàn toàn có thể mượn quá khứ để nói về hiện tại.


  Chúng ta thường có ảo tưởng về
cái vẻ hiện đại của cuộc đời đang sống . Lầm hết! Chúng ta vẫn đang ở trong quá
trình bế tắc như ông cha.


3/
nó có nhiều câu gượng gạo. Ngay cả đoạn cuối, bài thơ cũng rơi vào cái tình trạng của
nhiều công việc chúng ta đang làm  hôm
nay. Nghĩa là sau khi mở đầu khá hào hứng,  chẳng biết kết thúc ra sao. Suy rộng ra, với
toàn bộ đời sống,  chúng ta thường bị chi
phối bởi cảm giác  chẳng biết tìm nguyên
nhân sự hư hỏng ở đâu, chẳng biết cắt nghĩa thế nào cho phải, chẳng biết hy vọng
vào cái gì và không dự đoán nổi cái gì sẽ tới.


 Xin nhắc lai vẻ gượng gạo của đoạn kết lại làm
cho tôi thấy gần gũi hơn với tác giả.   Lúc
nhận ra sự gượng gạo ấy  là lúc tôi  muốn ghi nhận  dẫu sao đây cũng là sự kiện đáng nhớ. Nó
buộc chúng ta  phải suy nghĩ tiếp.


  Trong cái vẻ đùa nhại tưng tửng, bài hành trên đây lại có một nội dung nghiêm chỉnh, trong khi có thể nói chắc rằng  nếu đối chiếu với sự vận động của đời sống, phần lớn thơ ca hiện nay lại tồn tại như một cái gì rất, rất  tầm phào, đối với những người quan tâm tới thế sự thì chẳng đọc cũng được..


Ghi chú- Theo các sách nghiên cứu văn học Trung quốc thì hành: là do một thể thơ nhạc phủ trong cổ phong biến đổi mà thành.  Các tác giả lớn đời Đường đều có sử dụng hành. Được nhắc nhiều phải kể là Cổ bách hành của Đỗ Phủ,  Trường Can hành của Lý Bạch, Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị . Thời Thơ mới ,  những bài  thơ bẩy chữ mà chỉ sử dụng một vần như  Xóm Ngự viên , Trời mưa ở Huế của Nguyễn Bính  rất giàu chất hành. Thâm Tâm thì có Tống biệt hành, Can trường hành, Vọng nhân hành. 



Dưới
đây một bài nói về thơ tình Bùi Chí Vinh mà tôi đã viết từ  hơn hai chục năm trước . Cả về tư tưởng lẫn
nghệ thuật  bài Sinh nghi hành trên đây chỉ là nối tiếp cái mạch sẵn có của  tác giả. Bởi thế tôi muốn giới thiệu bài báo cũ  để bạn
đọc nào cũng nhìn nhận Bùi Chí Vinh như tôi có thể tham khảo.












                   
        Xanh vỏ đỏ lòng





Bây
giờ thì Bùi Chí Vinh còn viết tiểu thuyết, viết kịch bản phim. Có điều, với
nhiều tầng lớp độc giả, trước tiên anh vẫn là một nhà thơ, một nhà thơ độc đáo
khiến người này yêu mến hết lòng, người khác thẳng tay cự tuyệt...


Mặc
dù trong đời sống hàng ngày, không thiếu gì những chàng trai nhờ dẻo mồm tán,
khéo nói đùa mà lắm người mê và... lấy được vợ, song, theo "những quy định
không được ghi vào văn bản" thì thơ tình ở ta vẫn là khu vực xa lạ với mọi
thứ đùa cợt.



đây người ta có thể mơ màng, tha thiết, có thể đắng cay bồn chồn, rồi hờn dỗi
đớn đau, rên xiết chán chường đủ thứ, song bao giờ cũng phải nghiêm chỉnh, ít
ra là... giả vờ nghiêm chỉnh.


Mọi
sự bông lơn bị kiêng dè, nếu không nói là bị… sờ gáy.


   Số phận  tập Thơ
tình Bùi Chí Vinh
(1989) gần đây là một ví dụ: trong vòng ba năm sau khi
được in, nó đã lãnh đủ những sự "săn sóc" cần thiết.


Song,
nếu có dịp đọc lại, người ta có thể có ý nghĩ khác: trong một cố gắng liên tục,
hình như người viết những bài thơ này đã có công làm cho một thứ thơ vốn đạo
mạo trở nên xô bồ, tự nhiên, mà cũng là mềm mại, dễ gần hơn. dạng tự phát, qua những thể nghiệm nhiều
khi ngất ngư, ngang trái, hoặc lỗ đỗ, lểnh loảng, cuối cùng tác giả cũng đã
hình thành nên một giọng thơ lấy đùa cợt làm ngón nghề, coi bông lơn là luật
lệ. Cái hướng được mở ra, quả thật đầy vẻ thách thức!


Tôi đùa cợt, vậy
tôi tồn tại


Tự
thân nó, sự nghiêm chỉnh không có lỗi. Sở dĩ giờ đây nó gây khó chịu, vì đã bị
lạm dụng quá đáng, và chỉ trở đi trở lại với một bộ mặt nhàm chán.


Mượn
cách nói của nghề y, có thể bảo đang có tình trạng nhờn thuốc - ở đây là nhờn
thơ - của bạn đọc.


Cầm
bài thơ lên, đọc qua đầu đề, hoặc vài ba câu đầu, người ta dễ dàng đoán ra điều
sẽ viết ở các câu sau. Sự vận hành của ý thơ, rút cuộc, đã có thể quy lại thành
chương trình, tức nằm gọn trong những sơ đồ có sẵn, mà cái trục là một lối tiếp
cận "chân thành" "nghiêm chỉnh" "rưng rưng cảm
động" "không lời nào nói hết" của người làm thơ.


Một
thứ ước lệ.


Một
thứ sáo mới, không gì khác!


Không
phải là Bùi Chí Vinh không có khả năng viết những câu thơ cảm động kiểu ấy. Để
diễn tả cái trống trải và sự "bất tương thông" trong tình yêu, bài Ngã
tư thị trấn
có những câu khá hàm súc "Chỉ riêng ta đứng đó - Thay
một nhánh cây gầy - Cái bóng cây vừa đổ - Xuống em mà chưa hay".


Đây
là hai câu khác, khá tiêu tao, trong Hoa muội: "Khi em bước vào mùa thu
thiếu phụ - Là lá vàng đã rơi ngập vườn tôi".


 Gì thì gì, chứ thứ hàng tầm tầm, làm
theo quy phạm cũ, chắc là làm được!


Song,
ở chỗ người khác dừng lại, nhà thơ này muốn đi xa hơn một chút.


Với
một tư duy thoải mái - đúng hơn là một tâm thế "tự bộc lộ" thoải mái
- cộng với sự hỗ trợ của hoàn cảnh xã hội và những truyền thống của một xứ sở
dễ dàng, cởi mở... anh không chỉ muốn làm ra những bài thơ không giống ai, mà
còn muốn như là tạo ra một sắc thái thẩm mỹ độc đáo không bị ràng buộc trong
các nền nếp cũ.


"Trên
đường đi tìm thơ hay, trước tiên là thơ phải khác" - có thể là khi bắt đầu
cầm bút, Bùi Chí Vinh không có bài bản gì đàng hoàng; song biết đâu, trong cõi
tiềm thức, người làm thơ này chả ủ sẵn một lời nguyền như cái công thức mà tôi
vừa  phác họa?!


Những
chuyện bỡn cợt hàng ngày mà một chàng trai như anh vẫn nói cùng các cô gái,
được đưa vào thơ, chỉ qua vài nét sửa sang đạm bạc.


 Các lớp từ thông tục xâm nhập vào cái thế giới
vốn chỉ diễn tả bằng ngôn ngữ trữ tình, tạo nên một sự trớ trêu ngộ nghĩnh.



bài thơ này, anh bảo một cô gái đưa ngón tay út anh coi và âu yếm dặn "đừng
đưa lộn ngón nghe em - Lỡ ai đeo nhẫn, anh tìm sao ra"?



bài thơ kia, anh kể với một cô gái đang vào cuộc yêu với anh rằng không ai
khác, chính ông già của cô mới là kẻ đáng sợ hơn cả.


Rồi
thơ tán về chiếc ghế mây cô gái vừa ngồi; thơ khoe một lần chở người yêu bằng
xe đạp; thơ làm nũng với một cô đào vì cô đã tặng anh đôi dép quốc doanh đi
phồng cả ngón chân...


Bài
thơ nào cũng được viết bằng cái giọng tưng tửng đùa cợt, như giọng các đôi trai
gái vẫn dấm dẳn trêu chọc nhau, lời lẽ nhiều khi vòng vo luẩn quẩn mà người
nghe đủ mát lòng mát dạ.


Bất
cứ ai đã từng yêu, bằng những tình yêu hồn nhiên, hẳn dễ nhận ra tấm tình
"xanh vỏ đỏ lòng" của Bùi Chí Vinh.


Song
đến khi đứng ở phương diện của sự sáng tạo mà xem xét thơ, thì nhiều đồng
nghiệp lại bắt đầu nhăn mũi, xua tay, chê thơ anh là thô tục, là nhảm nhí.
Những người này thường bắt bẻ tác giả theo cái nghĩa sờ sờ thấy trên mặt giấy
của từng câu thơ, mà quên rằng, trong thi pháp đùa cợt, quy ước đầu tiên ai
cũng biết là tất cả như được làm méo. Như được cấu tạo lại theo những tỷ lệ
riêng. Hoặc như được đặt vào một gam màu duy nhất, chứ không còn là thứ ánh
sáng thông thường mà mọi người quen thấy.


Bảo
những câu thơ đùa bỡn về Gái Huế, Gái Nam, Gái Bắc của Bùi Chí Vinh là
bậy, là hỏng, thì có khác chi người thấy hai em bé cách nhau 3-4 tuổi chơi trò
mẹ con với nhau, liền lắc đầu chê là chúng phá bỏ hết tôn ti trật tự!


Rộng
hơn mà xét - trong những trường hợp các bài như Cao và thấp, Đọc truyện Liêu
Trai nửa đêm, Em là ai và em ở đâu v.v... -
hành động thi ca của Bùi Chí
Vinh phải được xem như một trò chơi với cái nghĩa mà các nhà tâm lý học vẫn nói
"chơi là tuyệt đối vô thưởng vô phạt. Nó là một ốc đảo hạnh phúc trong
cái sa mạc cuộc sống, gọi là nghiêm túc", "Chơi là cách tốt nhất,
giúp ta xem xét lại những quan niệm và ý kiến đã thành nếp
".





Quý trọng nhau
bằng cách... nhại nhau


Bản
chất của con người hiện đại là xu thế dấn thân. Ai đó đã từng bảo "Mỗi
người, dọc theo đời mình, chỉ vật vã và khốn khổ với chuyện đưa mình vào thế
giới".



vẻ như Bùi Chí Vinh cũng không ra khỏi thông lệ đó!


 Trước khi tính chuyện qua mặt các vị tiền bối,
thật ra người làm thơ này đã hết lòng bái phục họ, vùng vẫy thoải mái trong cái
thế giới mà họ tạo ra


 "Xuống phi trường Paris - Mua
giùm anh chiếc nón - Để ngày đưa tháng đón
- Chia nhau đội trên đầu -
Ta đội tình vùng dại...


“Để
bài thơ yêu em - Trú mưa mà không dột - Để lúc ghé Paris
- Mắt em chưa
hề ướt"
.  


  Mấy câu thơ trong bài Em và Paris ấy đầy
chất ngẫu hứng. Ý tưởng, khi gọi nhau, khi dồn dập đuổi bắt nhau .  Song không hiểu sao, tôi lại thường nhớ tới
nó  mỗi khi muốn  hình dung về  sự thanh thoát lui tới của Bùi Chí Vinh trong
mạch thơ hiện đại.


Đã
đành nay là lúc học đòi và mô phỏng đều không đủ nữa, cách tốt nhất để tỏ lòng
kính trọng các bậc tiền bối là làm nốt những việc họ chưa kịp làm, và nói chung
là làm hơn họ.



điều trong khi nhà thơ trẻ phiêu lưu trên con đường riêng, những mảnh vụn văn
hóa từng găm vào da thịt anh vẫn luôn luôn có mặt.


 Chúng cũng quyết liệt đòi được xuất hiện, như
ao ước đổi khác mà anh nung nấu.


Được
nhắc nhở nhiều nhất trong thơ tình Bùi Chí Vinh phải kể là Kinh Thánh. Tiếp đó, không gian văn hóa của anh mở rộng, để ôm trùm
cho hết.  Từ nàng Mona Lisa đến điệu
Lambada hiện đại. Từ Đơn Hùng Tín, Trình Giảo Kim đến Hoa muội cùng không khí Mùa
thu lá bay
của Quỳnh Dao.Từ ca dao, Cung oán ngâm, thơ Vũ Hoàng
Chương, thơ Nguyễn Bính đến nhạc Trịnh Công Sơn, thơ Nguyên Sa và Cung Trầm
Tưởng.


Sở
dĩ chúng, các dữ kiện văn hóa đó, có mặt, vì chúng đã trở thành dữ kiện của đời
sống. Trung thành với khuynh hướng kế thừa và tổng hợp lại trong văn học, nhà
thơ thường xuyên nhắc tới chúng, nhưng nhắc theo cách riêng của mình.



trong một số trường hợp là nhại theo chúng, dù nhại hết sức thân ái.


Từ
một tâm thế mà ai người quen lễ nghĩa - cung kính, dễ bảo là láo lếu, phạm
thượng, -- song thực tế là thấm nhuần tinh thần dân chủ, ngẩng cao đầu đối thoại
với các đỉnh cao trong nghề --  Bùi Chí Vinh đã cấu tứ nên hàng loạt bài thơ độc
đáo.


Nhắc
đến con đường, là nhớ Lỗ Tấn.


 Kể chuyện giang hồ, không thể bỏ qua thần
tượng lang thang du đãng A. Rimbaud.


 Chạm vào một cái gì êm đềm như Đà Lạt, lập tức
cảm thấy "tội nghiệp cho chàng Hàn Mặc Tử" và bên tai nghe vẳng lên
câu thơ bâng quơ mà không hiểu sao, nhớ mãi: Lá trúc che ngang mặt chữ điền.


Đây
nữa, không có phấn thông vàng, để gửi hương cho gió, làm sao lại không
nhắc đến hoàng tử Xuân Diệu, nhại Xuân Diệu chơi khi vẩn vơ đứng ngó trời?!


Cũng
như chỉ cần nhắc đến tiếng ru thôi là phải liên tưởng đến Nắng chia nửa
bãi...
của Huy Cận (Nào ai biết trăm con chim mộng - Vây kín đầu
giường anh hát rong).


Đến
như sự nhại Thâm Tâm mới thật sảng khoái...



lẽ vì quá yêu mến nhà thơ này, nên Bùi Chí Vinh đã nhại ông một cách thật chu
đáo, từ nhại tên bài (Phản Tống biệt hành) đến nhại câu (Ừ thôi về
biển, ta về biển)
rồi nhại cả đoạn (Đưa người ta cứ đưa sang sông -
không sợ tiếng sóng ở trong lòng - Thâm Tâm lên núi mà tống biệt - ta về biển
mặn hóa dòng sông).


 Đọc Bùi Chí Vinh trong những trường hợp
này, dễ nhớ đến loại nhân vật hề nhại trong xiếc: thấy người này leo dây, anh
ta cũng leo, thấy người kia nhào lộn, anh cũng nhào lộn; mọi việc được anh làm
một cách vụng về, khờ khạo, khiến người xem nhiều phen như thót cả tim.


Song
rút cục, mọi chuyện cũng trót lọt.



sau khi thở phào nhẹ nhõm, ta mới chợt nghĩ: hình như lý do tồn tại của anh ta
là thế! Chắc chẳng ai nỡ bảo rằng việc trình diễn theo kiểu nhại, với các tiết
mục tưởng như vụng dại này, là dễ dàng cả.


Theo
dõi sự phát triển của các nền văn học, người ta thấy rằng trong nhiều trường
hợp, cùng với sự phát triển của các thể nhại, đời sống sáng tác bắt đầu bước
sang những giai đoạn mới.





Tiếng gọi đàn
tha thiết


Nguyễn
Du từng bảo: Nghề chơi cũng lắm công phu. Dịch ra ngôn ngữ hiện đại, thì
câu Kiều đó có nghĩa mọi việc trên đời đều cần được làm một cách kỹ lưỡng,
thuần thục, với tất cả kiến thức và kinh nghiệm mà mỗi cá nhân có thể huy động.


Trong
sự nghiêm túc của nó, rồi ra đùa cợt cũng phải được nâng lên thành một thứ văn
hóa tạm gọi là văn hóa đùa, như văn hóa ăn, văn hóa viết, văn hóa
tranh luận
mà người ta vẫn nói.



bởi lẽ sự đùa ấy trong thơ đang mới mẻ, nên lại khó hơn mọi việc khác. Chắc
chẳng phải là quá, khi người ta vẫn bảo rằng đôi khi phải dùng đến công phu dời
non lấp biển thì mới đủ sức biến mấy câu pha trò tầm thường thành một tác phẩm
thơ ca thực thụ.



vẻ như đến mức ấy, thì Bùi Chí Vinh chưa kịp nghĩ tới hoặc chưa muốn nghĩ tới.
Anh còn đang bị quyến theo cái say sưa của một người được đi vào khu vực thênh
thang, và quá lạ lẫm nữa - mà chưa có dịp lắng lại với công việc. Nhiều bài thơ
in trong Thơ tình và rải rác đăng ở các bài báo một hai năm gần đây, có
được cái tứ khá hay, song còn ở dạng nửa thành phẩm; thừa ngẫu hứng tự nhiên,
song lại vẫn thiếu một cái gì như là sự dụng công, sự điên cuồng tìm tòi, hoặc
niềm khao khát hoàn thiện.


Không
nên và không thể đòi hỏi thơ Bùi Chí Vinh phải giống mọi người. Nhưng sẽ là có
lý, khi muốn tác giả vượt lên chính mình. Làm thế nào bây giờ? Hình như trong
việc này, nhà thơ đơn độc đang cần đến sự hỗ trợ của các đồng nghiệp. Nhạc Trần
Tiến, tranh Nguyễn Quân, thơ Nguyễn Duy… những tìm tòi đây đó  của nhiều người khác, khi được khi mất, đều đã
là những đồng minh tự nhiên, nhưng chưa đủ.


Nếu
như từ những thể nghiệm mà Bùi Chí Vinh gợi ra, có thêm nhiều nhà thơ khác cùng
vào cuộc phiêu lưu, tận dụng một số kinh nghiệm thành bại của anh, rượt đuổi
anh, thách thức anh... thì một ngòi bút vốn năng động như Bùi Chí Vinh sẽ có
thêm sức để vượt lên chăng? Dù vẫn do một hai người khởi xướng, song cuối cùng
thế nào cũng cần có những đợt sóng, tức có sự tham gia của nhiều người, thì rồi
các nỗ lực văn hóa mới có cơ trở nên những thành tựu chắc chắn.





In
lần đầu trên TT&VH 1992,


In
lại trong Cánh bướm và đóa hướng dương
1999