Thursday, March 7, 2013

Cái đúng hôm qua nay không đúng nữa!













 Ông Tú, nhân vật chính trong truyện ngắn Một thời gió bụi (1991), của Nguyễn Khải là một cán bộ vốn sống ở thành phố, khi nhận sổ hưu, liền có ý định về sống hẳn ở quê. Song chỉ về quê thăm thú ít ngày, ông đã phải bật ra, quay trở lại với vợ con ở thành phố, làm chân phụ việc bán hàng cho vợ.

Tại sao? Theo cách miêu tả của tác giả, nhân vật tưởng đã rất từng trải ở đây đã thực sự bị sốc trước tình trạng xảy ra trên quê hương. Con người gian giảo lừa lọc. Niềm tin và sự bình thản trong tâm tư không còn. Mối quan hệ thuần hậu giữa người với người đã bị biến dạng.





Chữ lợi làm mờ cả mắt. Người ta sẵn sàng làm bất cứ việc gì, kể cả đào trộm một ngôi mộ cổ của một bà thứ phi của chúa Trịnh Doanh, bẻ đầu bà ta, để kiếm vàng. Ấn tượng còn lại ở ông Tú là “một cái làng, một vùng quê không còn quá khứ, không còn lịch sử ”. Quay trở lại với gia đình nơi đô thị, ông nghe một đứa con hỏi : “Về quê có vui không?”, đành đáp: “Cuộc sống gay gắt lắm”. Lại khi nghe hỏi: “Vùng ấy phong cảnh đẹp lắm hả bố”, ông chỉ còn cách trả lời: “Bây giờ thì trần trụi tan hoang cả” (xem Tuyển tập Nguyễn Khải ba tập, tập III, NXB Văn học 1996, các trang 269 và 280).





Nguyễn Khải từng có nhiều thiên truyện viết về nông thôn miền Bắc những năm 60-70 thế kỷ trước, trong đó có truyện Tầm nhìn xa chế giễu ông Tuy Kiền, phó chủ nhiệm hợp tác chuyên xoay xở kiếm lợi. Văn xuôi Nguyễn Khải hồi ấy cho thấy một nông thôn hài hòa mà sôi động, con người đầy khao khát song rất tự chủ, và luôn tự chứng tỏ là có thể đứng vững trước bất cứ thay đổi nào của thời cuộc.





Nay với Một thời gió bụi, tác giả vẫn sắc sảo như xưa, nhưng lại hai lần đáng ca ngợi vì là một sắc sảo phát hiện ra những gì ngược với niềm tin của mình hồi trẻ. Trong phút xuất thần của ngòi bút, Nguyễn Khải thật đã dự cảm chính xác sự băng hoại của nông thôn cổ điển trước công cuộc hiện đại hóa tự phát có pha một chút dã man hôm nay.





Thứ nữa, điều quan trọng không kém, nhà văn còn gọi ra được một lối phản ứng trước hoàn cảnh đang chi phối nhiều người chúng ta. Đó là một cái nhìn tĩnh, một nếp nghĩ trì trệ, chỉ biết mơ màng với những giáo điều cũ kỹ, lúc chạm vào thực tế thì sợ hãi lảng tránh. Trong khi vẽ ra một bức tranh thực tế xa lạ hẳn với thói quen cảm nhận của số đông, tác giả như thoáng có một chút chế giễu cái sự lãng mạn quá lâu của mọi người, và thầm đề nghị rằng mọi suy nghĩ về nông thôn phải thay đổi.





Cần nhấn mạnh cái khía cạnh thứ hai này của tác phẩm vì thời gian gần đây - ngót nghét hai chục năm sau khi Một thời gió bụi ra đời - dường như vẫn đang có một lối nhìn, một mạch suy nghĩ cảm xúc ngự trị trong xã hội, chảy ngầm trong những câu chuyện và len lỏi trong tâm tư mỗi cá nhân lúc họ cô đơn. Đó là niềm lưu luyến khôn nguôi với nông thôn thời quá khứ, là việc lý tưởng hóa mối quan hệ giữa người với người hôm qua, tiếp đó lẽ tự nhiên là tiếng thở dài than vãn vì một cái gì tốt đẹp vừa bị đánh mất, và niềm ao ước thầm kín, giá kể đồng hồ có thể quay ngược, giá kể có thể trở về với những ngày xưa thân ái, tình làng nghĩa xóm, rau cháo có nhau, nghèo khổ nhưng mà đầm ấm.





Con người vốn yếu đuối. Trước những thay đổi quá chừng đột ngột, lại ngả sang dữ dằn ghê gớm của công cuộc hiện đại hóa ít nhiều phi nhân văn hiện nay, cái sự co lại trong hành động, sự mệt mỏi trong tâm tư là điều dễ hiểu. Nhưng tôi tưởng đây chính là lúc chúng ta cần một ít lý trí sáng suốt. Quay về làm sao nổi. Đúng là không thể làm giàu bằng bất cứ cách nào. Nhưng cũng không thể nghèo mãi như cũ. Chỉ có dấn bước đi tới với nghĩa nhìn thẳng vào thực tế, nhận ra những quy luật chi phối sự vận động của xã hội, người ta mới có cơ tìm ra cách ứng xử hợp lý nhất.





Trong việc này, số lượng những tác phẩm văn chương có cái nhìn tỉnh táo như của Nguyễn Khải còn ít, mà - thường tình thay mà cũng đáng tiếc thay - là lối nhìn nhận ngược lại.





Trong một bài phiếm luận, một nhà văn gần đây có tâm sự rằng thuở nhỏ sống với một bà mẹ rất tình cảm và nay mỗi lúc khó khăn trong cuộc đời, tác giả lại tìm thấy sự chỉ bảo nâng đỡ trong những lời mẹ dặn.





Để sang một bên những trường hợp cụ thể, tôi chỉ nghĩ rằng nếu tính đại trà thì nay là lúc con người gặp phải những khó khăn mà các thế hệ trước chưa bao giờ gặp phải. Vậy nên kinh nghiệm sống và suy nghĩ của lớp người đi trước không đủ nữa.





Trong cái việc tự mình cứu mình, có bao hàm cả cái việc chủ động tìm tòi để bứt phá khỏi cái vòng vây của những tư tưởng cũ. Những tư tưởng ấy vốn trước kia đã đúng, lại gắn liền với kỷ niệm của tuổi ấu thơ chúng ta, nên dễ lan truyền và làm tổ trong chúng ta. Dứt bỏ là chuyện đau đớn. Nhưng làm sao khác được! Đi tìm cho được những cái mình cần, đó là trách nhiệm mà cũng là số phận của con người hiện đại

thesaigontimes. Thứ Năm, 15/7/2010

Thơ Huy Cận và những vẻ đẹp của qúa khứ




      Từ
hồi  tuổi mới 20 – 25, Huy Cận đã biết
tạo cho thơ mình một vẻ đẹp già dặn.


      Cái tên Lửa thiêng, có lẽ không
hẳn đã hợp với các bài thơ trong tập, đơn giản là vì chất thiêng mà Huy Cận gợi
nhớ ở đây còn thấp thoáng một vẻ phôi pha trần thế và khó lòng nói là đã  có được sắc thái riêng.


     Mà 
phù hợp hơn, khi muốn tìm ra cái phần tinh hoa trong thơ Huy Cận tiền
chiến, tôi muốn dùng chữ đẹp xưa,
như tên một bài thơ khác của ông.






     Thật vậy, nếu nhớ  tới Xuân Diệu, luôn luôn ta nhớ cái líu ríu
cuống quýt mau với chứ vội vàng lên với chứ của ngày hôm nay thì giọng
thơ Huy Cận lúc trẻ đã thật khoan thai trầm mặc, nó là tiếng nói của một nhà thơ luôn sống với  một quãng lùi để có thể nhìn mãi tận xa xưa.


     Cũng giống như Vang bóng một thời của
Nguyễn Tuân, thơ Huy Cận hồi ấy cho chúng ta biết một khía cạnh đặc biệt làm
nên cái điệu tâm hồn Việt Nam. Ngậm ngùi. Chiều xưa. Tràng giang. Nhạc sầu...
Những bài thơ đó thuộc về cách nghĩ một thời. Quá khứ hằn lên với những vết
mòn. Mờ xa mà thắm thiết. Và xa vắng. Và
đìu  hiu. Tôi nghĩ tới cái màu ngói cổ.
Tôi nghĩ tới cái cái hoà sắc riêng của
những đền chùa Việt Nam, những bức tường rêu phong, những hàng cột không chói
lọi sơn son thiếp vàng, mà màu đỏ ở đây như có cái vẻ trĩu xuống đất, lẫn vào
chung quanh, nhẫn nại, cam chịu.


    Cũng
đã có lần Huy Cận nói tới một vẻ đẹp hoang dại dân dã Đường trong làng hoa
dại với mùi rơm
-- Tôi cùng người đi dạo giữa đường thơm.


    Nhưng những bài thơ hay nhất của ông thường
có cái vẻ sang trọng pha chút quý phái.


     Cố
nhiên không bao giờ ta quên rằng hồn thơ ấy chỉ có thể hình thành nhờ ảnh hưởng
Tây phương. Dấu vết của thơ Pháp còn trải khắp tập Lửa thiêng ( kiểu như Sớm hôm nay hồn em  như tủ áo --  ý trong veo là lượt xếp từng đôi ).


    Có điều,
ở những bài hay nhất trong tập, ta gặp lại cái 
vang hưởng Trung Hoa vốn đến với ta từ lâu lắm. Xa rồi khuất ngựa sau
non
-- Nhỏ  thưa tràng đạc tiếng
còn tịch liêu.
Tràng đạc là gì ? Có phải là tiếng chuông lắc trên cổ con
ngựa ? Sao không nói sông dài mà lại phải gọi Tràng giang ? Không ai
định hỏi  và xưa nay tác giả cũng không
nói. Cũng như ta không bao giờ thắc mắc về những gió thanh tân , tình
vạn lý
,  những đồng trăng lục
nhạt vàng thanh
lối gần..., chỉ 
có cảm tưởng những chữ ấy câu ấy nói hộ một điều  bấy lâu 
vẫn sống âm thầm dai dẳng trong mỗi tâm hồn.



 
  Cái vẻ chín tới này không chỉ có
mặt trong Lửa thiêng mà về sau, còn một lần nưã đến với Huy Cận. Những
năm sáu mươi của thế kỷ XX  không chỉ là
một giai đoạn thanh bình hiếm có đến với đất nước sau cuộc kháng chiến chống
Pháp, mà còn đánh dấu một bước phục hưng 
thực sự trong đời sống thơ ở Hà Nội. Nó không đi tìm những cái mới lạ.
Mà  nó quay về với cái lãng mạn và
bằng  sự hồn nhiên của mình, đạt tới một
trình độ cổ điển mới.


      Chế Lan Viên có Ánh  sáng và phù sa với cái phần e ấp chờ đợi
hồi hộp khát khao ít thấy ; Ánh  sáng
và phù sa
 theo tôi là cái phần hay
nhất trong sáng tác của họ Chế.


   
  Rồi Tế Hanh có Gửi miền Bắc không dễ
dãi như tác giả này vốn có;  Xuân Diệu có
Cầm tay, chùm thơ tình, mà chất lượng hoàn toàn  có thể đọ với Thơ thơ ngày xưa.

      Và Huy Cận có Trời mỗi ngày lại sáng,
Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời
… Nếu đối diện với  những bài hay nhất rút ra từ ba tập này,
chúng ta sẽ thấy lại cái vẻ chín, đầy đặn, chắc chắn của thơ ông.
 


      Thu
tới ngoài kia


      Nghe nhân thơm trong trái nặng


      Nghe nhựa ấm trong cành thưa


      Nghe run rẩy tiếng gió ru lúa chín


     Xôn
xao cuống lá rụng thay mùa
.


       Sinh thời, nói chuyện với tôi,  Nguyễn Minh Châu tỏ ý rất chịu bài Chín  với mấy câu mở đầu như vậy.


      Còn
đám học trò cấp ba chúng tôi hồi trước chiến tranh thì mê đủ thứ, cả  cái vẻ lộng lẫy như trong một bức sơn mài toát
lên từ sự hài hoà của trời đất trong Đoàn thuyền đánh cá,  lẫn cái đạm bạc như một bức tranh thuỷ mạc
của Mưa xuân trên biển ( mà một câu trong đó là Mưa xuân tươi tốt cả
cây buồm
).


      Thơ
ông thường như thứ đồ gốm mộc mạc trong bàn tay anh thợ:


        Xoay
xoay bàn gỗ ơi


       Đất
mịn nhào nắng tươi


       Anh làm thêm cái đẹp


      Chưa
có ở trong đời
 


      Song
lại có lúc vươn lên cả cái kỳ vĩ cái bất ngờ của những công trình văn hóa vượt thời
gian và không gian ( Trò chuyện với Kim Tự tháp ),  để rồi sau đó có những lúc dừng
lại chia sẻ nỗi bồn chồn giữa đời và
mộng (Xem tranh Tề Bạch Thạch ).


       Quá mê các bậc đàn anh tới mức chịu đi
sau làm cái bóng của họ là lỗi của một lớp người trẻ tuổi, song quả thực, có dễ
gì vượt được một chuỗi tài năng cùng lúc toả sáng như vậy.


       Họ đã có lúc chín trong hoàn cảnh của
họ, còn chúng tôi phải chăng cái sự sống sít, dang dở  theo mãi như một nghiệp chướng ? …   


       Một bạn Việt kiều, cũng quê Hà Tĩnh như Huy
Cận, sau mười lần về nước, gần đây có nhận xét rằng người Hà Nội  có vẻ quá “chúi mũi “ vào thưởng thức văn
chương, tự ru ngủ trong những câu thơ vần vèo thánh thót  mà coi nhẹ tư tưởng bộc lộ qua trang viết.


      Lúc tỉnh táo và thử làm khác mình đi, tôi
cũng muốn nghĩ thế.  Nhưng biết làm thế
nào! Cũng như nhiều thế hệ đàn anh, người thanh niên Việt nửa sau thế kỷ XX vào
đời không có âm nhạc cổ điển, không có hội họa hiện đại. Chỉ còn có thơ  mỗi khi muốn nghĩ về một thế giới khác.


      Thơ, với chúng tôi, là sự có mặt trong
đời, là hy vọng, là cái sự  hồn nhiên
được gặp gỡ với  bao nhiêu tâm hồn xa lạ,
nhưng trước hết  là những dịp được trở về
với quá khứ ông cha.


      Một
thứ đêm đêm rì rầm trong tiếng đât – Những
buổi ngày xưa vọng nói về
( thơ Nguyễn Đình Thi).


       Như với Huy Cận mà hôm nay ra đi.


       Chỉ vừa nghe tin ngày 19-2  ông đã vĩnh viễn nằm xuống là tâm trí đã xôn
xao bởi bắt gặp những cảm giác tốt lành nhất cùng rung lên trong lòng.


       Không còn những chuyện tầm thường thô lỗ của
đời sống hàng ngày nơi một quan chức cỡ thứ trưởng bộ trưởng mà bọn tôi vẫn biết, không
còn bao nhiêu trơ lỳ,  già cỗi,
thóai  hoá, nó làm nhòe nhạt hình ảnh
ông,  gạt ông khỏi tâm trí những người
cùng sống một thời.


      Mà chỉ còn  những câu thơ hay nhất  tác giả từng viết, những câu thơ thời trẻ bọn
tôi đã thuộc, lục tục kéo tới gom người ta lại.


      Ấn
tượng sau cùng về tác giả Lửa thiêng là thế, thơ Huy Cận đã thuộc về một
phần tài sản tinh thần của cả mấy thế hệ hôm nay. Nó kể với chúng ta rằng có
một thời người Việt đã sống rất hài hòa rất trong sáng. Đã làm nên những bài
thơ chín đẹp rất trí tuệ. Chứ đâu có như hôm nay.





In
trên TTVH ngày Huy Cận qua đời, 19-2-2005 ,


  bổ sung
2-3-2013

Monday, March 4, 2013

Tư duy nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong các truyện yêu ngôn




Mặc dù Khổng Tử thường
dặn dò các môn sinh là đối với quỷ thần thì kính nhi viễn chi, và tốt
hơn hết là đừng nói tới cái thứ mình không biết đó (bất ngữ quái, lực, loạn, thần), song đối với các
nhà nho ở Trung Hoa và Việt Nam, những chuyện ma quái vẫn có một sức hút kỳ lạ.




 Nói nôm na là họ thường vẫn mê chuyện quỷ
chuyện ma, không kém gì kinh sử!


 Họ không thich nhìn trần thế một cách duy lý,
như Đức Thánh Khổng Ngài đã khuyên, mà thích thêm vào đó một lớp sương mù huyền
ảo.


 Trong cái cuộc sống mờ mờ nhân ảnh ấy, có
người chết không chịu lìa hẳn cõi đời, vẫn muốn trở về tham gia vào mọi sinh
hoạt trên dương gian; lại có nhiều những hồ ly tinh thèm sống, khao khát cảnh sống
lứa đôi, thường hiện hình thành những cô gái đẹp quyến rũ đám học trò, do đó mà
có những mối tình say đắm, khiến cho mỗi khi nghĩ lại, người ta lại vừa sợ vừa
tiếc.


Liêu Trai chí dị đã có sức lôi cuốn bao thế hệ nho sĩ.


Đọc Tam Quốc, Thuỷ
Hử
để nuôi chí anh hùng, đọc Hồng Lâu Mộng để thấy vẻ hấp dẫn
của  những cuộc đời quý phái nhung lụa. Song
bấy nhiêu thứ văn chưa đủ, người ta còn thích trở lại với Liêu Trai  để biết thêm rằng ma sống lẫn với người, và
đời sống cứ có cái vẻ thấp thoáng ẩn hiện không sao nắm bắt nổi.


Cho tới các nhà nho
Việt Nam
đầu thế kỷ XX, thói quen đó còn được tiếp tục, mà  Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là một ví dụ. Không
phải ngẫu nhiên mà giữa trăm công ngàn việc, Tản Đà vẫn mê Liêu Trai
cuối đời đã dịch Liêu Trai với mấy câu đề từ nổi tiếng:


Nói láo mà thôi! Nghe láo chơi!


Dàn dưa lún phún hạt mưa rơi


Chuyện đời hẳn chán không buồn nhắc


Thơ thẩn nghe ma
đọc mấy nhời


Cũng như những Khái
Hưng, Thế Lữ, Nhượng Tống ...., Nguyễn Tuân thuộc loại trí thức mà trước khi
mài đũng quần trên ghế nhà trường thuộc địa, đã được rèn cặp kỹ càng trong cuộc
sống đậm chất nho phong của gia đình cổ.


 Theo chỗ tôi đọc được trước tác giả Vang bóng một thời, , hai chữ “yêu ngôn”,
chưa thấy sử dụng trên báo chí sách vở thời tiền chiến. Nó đã thành tên  một thể tài chỉ thấy ở ông Nguyễn. Tuy không
có một cắt nghĩa chính thức song nó dùng để chỉ loại truyện  ở đó có người mà lại có ma, ma cùng với người
làm nên những chuyện ly kỳ quái đản, song suy cho cùng lại gợi ra cho người đọc
thấy cái tinh thần sâu xa của đời sống hiện thực.





Thử điểm lại các truyện


 có yếu tố yêu ngôn trong Nguyễn
Tuân


Mãi tới  1942-1943 thể tài này  mới thấy xuất hiện trong văn ông
Nguyễn , song tinh thần của nó đã đến với ông từ tác phẩm quan trọng ban đầu và
còn song hành với ngòi bút ông nhiều năm về sau


 Trong  Vang
bóng một thời


Khoa thi cuối cùng kể lại một câu chuyện mang tính cách
báo oán, vốn ám ảnh nhiều sĩ tử thời xưa và được họ dùng để giải thích mỗi khi
thi trượt (do có lần làm hại một người đàn bà trẻ nào đó nên bị trả thù).


Trên đỉnh non Tản thì dựng lại không khí của một  “bồng lai tiên cảnh” mà con người chỉ biết
trong mơ.


 Ta cũng chớ nên quên rằng Vang bóng một
thời
chỉ gồm 12 truyện, mà riêng trong đó, số truyện ngả sang không khí
yêu ngôn
đã lên tới con số 2.


 Loại nghệ sĩ như Nguyễn Tuân thường không làm
việc gì có tính cách vu vơ, mà bao giờ cũng hướng sự sáng tác đi thành luồng
mạch đàng hoàng. Bởi vậy, có thể nói là sau Khoa thi cuối cùngTrên
đỉnh non Tản
, một cách viết đã được vạch ra, để rồi sau đó , nó sẽ tiếp tục
với những Loạn âm, Đới roi, Rượu bệnh v.v...


      
 Ngay trong Vang bóng một thời
đã nên lưu ý thêm tới Bữa rượu máu (có lúc gọi là Chém treo ngành)
với đoạn kết nhiều ngụ ý “Lúc quan công sứ ra về, khi bước ra mười hai cái đầu
lâu còn dính vào cổ người chết kia, giữa sân pháp trường sắp giải tán nổi lên
một trận gió lốc xoáy rất mạnh. Trận gió xoáy hút cát bụi lên, xoay vòng quanh
đám tử thi và đuổi theo các quan đang về. Cái mũ trắng ở trên đầu quan công sứ
bị cơn lốc dữ dội lật rơi xuống bãi cỏ lăn lộn mấy vòng”.





Trong
các tùy bút


1.Tìm đọc Phu nhân
họ Bồ
trong Tuỳ bút II in ra 1943 người ta thấy Nguyễn Tuân bắt đầu nói
tới “vẻ đẹp quái gở” cũng như trong Chiếc lư đồng mắt cua có những nhận
xét bâng quơ “Cái gì đẹp quá vốn ít khi là thực”.


Cùng trong Tuỳ bút
II,
lại có một bài khác (có nhiều chất của một truyện ngắn), mang tên Một
cái tết vô duyên
.


Đây là câu chuyện về
một chàng trai trẻ, con của một người đào hát, nên có tính lang bạt kỳ hồ. Bữa
ấy, theo lời nhắn của mẹ, cậu quay về gia đình ăn tết.


 Nhưng như có tiền định, khi cậu thử bói xem
năm mới ra sao thì bói gì cũng hỏng.


 Bói bằng cách khai bút thì “bỗng quản bút chụt
khỏi tay cậu, nhấn mực xuống xoá nhèm cả mấy chữ cuối cùng”.


Ra sông bói đò thì nhỡ
đò.


 Quay về bói tuồng, “cậu Tám thèm một cái mặt
đỏ của một vai tuồng trung nghĩa”, nhưng “số phận đã cho cậu bói đúng vào chiếc
áo bào xanh lè không có đầu”.


 Sau hết, tối lần ra chùa làng xóc thẻ, cậu rút
phải một cái thẻ không có số hiệu quẻ bói. Như là một ma lực nào đó nhất định
buộc cậu phải trở lại cuộc sống giang hồ và cậu Tám đành đầu hàng số phận.


2. Ngọn đèn dầu lạc
Tàn đèn đầu lạc là hai tập phóng sự Nguyễn Tuân viết về đám dân làng bẹp
(nhà xuất bản Hải Phòng dồn lại in vào thành một cuốn sách chưa đầy
200 trang).


Ở đây, khi nói rằng có
một người đàn bà muốn ông tự diệt mình trong khói thuốc phiện, tác giả không
ngần ngại liên tưởng ngay đến “con hồ ly trong truyện Liêu Trai yêu
người thư sinh chán rồi rút cục là biến mất và để lại cho trần gian một cái xác
co quắp, hình thù cổ quái”.


Trong hai tập phóng sự
này, mỗi khi nhắc nhở tới không khí nơi tiệm hút, là một dịp để tác giả kêu
lên: “Gớm sao mà Bồ Tùng Linh thế!” “Sao mà Edgar Poe thế!”. Trong  quan niệm của tác giả bấy giờ, thì loại thi
sĩ và các nhà viết tiểu thuyết có hơi hướng thần bí mới là loại nhà văn đích
thực, vượt lên trên các tác giả của loại văn chương hạ cấp (ý này được viết trong
chương Tập ký ức của người bồi tiệm)





Những
mảng yêu ngôn trong Nguyễn Tuân sau 1945


 Một số người lầm tưởng rằng tư duy nghệ thuật
kiểu Liêu Trai chỉ có ở các sáng tác của Nguyễn Tuân thời kỳ trước 1945.
Nhưng không phải vậy.


Trong kháng chiến
chống Pháp, khi dựng lại không khí một vùng buôn lậu, ông viết: “Danh từ Cống
Thần tôi tưởng như đó là tên một truyện quái dị, gợi đến một thiên tai có sự
rùng rợn của thuỷ hoả đạo đặc. Tôi nghĩ đến một cơn lốc khổng lồ lật ngửa những
mái gianh đang úp vào mặt bùn kia, hút ngược bao nhiêu cái nhố nhăng kia lên
giời (...)” (bài Cống Thần, in trong Tuỳ bút kháng chiến.)


Sau này, viết Tình
rừng
khi tả những khu rừng cháy, ông sẽ thả cho liên tưởng của mình đi khá
xa. “Ngồi trong lòng đò đuôi én ngược thác sông Đà, tôi nhìn lên nhiều đám cháy
trên đỉnh đầu, tàn cháy nương mùa xuân bay đầy trời như những đàn bướm đen
nhúng cánh vào những ghềnh trắng bọt. Trên rừng cháy chỉ thấy khói không thấy
người. Nghĩ mà thấy giận người đốt rừng, chính người đốt rừng ấy đang đốt bản
thân mình, đang đốt cơ man nào là sách in, trong ấy có cả sách của mình nữa”.


Hoặc như, khi Kể
chuyện vĩ tuyến mười bảy
(in trong Chuyện nghề), ông dừng lại kỹ hơn
ở nơi mà người ta hay bảo là có ma. “Đêm trăng tại nhà thơ ép xác thiệt là buồn
nhức xương... Đêm thanh vắng, gió ngàn lùa về tới đây cả tiếng tru tiếng sủa
trăng của loài sói dấy lên từ phía Cây Tấm, Bến Tắt. Chao ôi, tôi thật là cái
anh hay vẽ chuyện. Nằm ở nhà thờ Phước Sơn để nhìn những tủ sách Kinh La bụi
bặm và bước đi mình toàn là tiếng lạo xạo trên cơ man là mảnh vỡ cửa kính giáo
đường hoang vắng. Đêm gió lửa Tây ô mà sao lại thấy rùng mình và rờn rợn khi
nhìn vào mảng tối chen với ánh trăng suông...”


Đưa
yêu ngôn vào cả phê bình khảo cứu


 Một phần tâm huyết của Nguyễn Tuân những năm
cuối đời dồn vào việc nói về đời sống văn học . Nhưng đó là những trang phê
bình của một người sáng tác nên cũng mang đậm sắc thái cá nhân, nói cách khác,
tác giả đã mang vào đấy những kinh nghiệm sống riêng của ông, đọc bài phê bình người
ta được biết không chỉ tác phẩm ông đang đọc, mà còn cái phần con người riêng
của ông.


Dĩ nhiên, là người đã
viết yêu ngôn, Nguyễn Tuân cũng thường đọc ra ngay chất yêu ngôn ở văn người
khác.


Chẳng hạn, trong số
rất nhiều truyện ngắn của Lỗ Tấn, Nguyễn Tuân có sự biệt nhãn với truyện Thuốc
trong đó có chi tiết cái bánh bao còn nóng máu người “đầy rẫy một mùi thơm quái
lạ”, và trong tay người ốm nó “phụt ra một luồng hơi trắng”.


 Đọc Tắt đèn ông liên tưởng ngay tới Những
linh hồn chết
của Gogol, trong đó có nhân vật địa chủ “bằng một gái rất rẻ,
đã đi vơ vét những hồn ma là các tá điền nông nô đã chết, đem danh sách cầm cho
nhà băng lấy tiền”.


Còn khi trở lại với
thơ Tú Xương, nhân mấy câu Ba kỳ trọn vẹn thêm kỳ nữa - ú ớ u ơ ngọn
bút chì,
Nguyễn Tuân có những lời bình rõ ra chất tư duy nghệ thuật riêng ở
ông: “Đọc lên nghe nó hãi hãi như phải nghe một ông dở người cắm đầu bút vào,
mồm thấm nước bọt cho đậm thêm nét bút chì 
và lấy quá tay hoá ra hóc thỏi chì. Nghe nó còn ghê ghê như người cảm
xúc quá khích vì hút chì, máu uất bốc lên, đâm cấm khẩu giẫy đành đạch và ú ớ
be be như có sự oan khiên, càng cần nói ra lời thì lại càng thất thanh đi”.


Xét ở phương diện kết
hợp văn hoá Đông Tây trong một ngòi bút thì Nguyễn Tuân là một trong những
trường hợp hiếm hoi: cái chất Liêu Trai nói ở đây làm cho các trang sách của
ông có một vẻ thâm trầm cổ kính ít thấy trong văn chương thế kỷ XX. Cũng xin
nói thêm là trước khi trở thành một hiện tượng nghệ thuật, kiểu tư duy này đã
xuất hiện ở ông ngay trong đời sống hàng ngày.


 


Những sự thăng hoa


Chất yêu ngôn ở tác
giả này vốn có nhiều cung bậc khác nhau.


      
  Kể ra, một truyện như Loạn âm còn có
tính cách hiền lành (một ông quan chính trực không muốn lợi dụng tình riêng để
chữa sổ nhà trời). Hoặc một truyện như Xác Ngọc Lam còn dựa trên một
môtíp có phần quen thuộc (cô Dó nhập vai hòn đá, giúp cho nghề làm giấy ở làng
Hồ xưa có được trình độ tinh tế).


Song bên cạnh đó, đã
có những truyện đọc thật sảng khoái, nó cũng ma quái, nhưng là ma quái theo
kiểu Nguyễn Tuân, kỳ cục, dữ dội.


Rượu bệnh quả không hổ với lời đề tặng Kính
gửi vong linh ông bạn rượu Nguyễn Khắc Hiếu
bởi trong đó, sự say sưa được
cực tả để biến thành cái gì phi thường:


“Cô Cốm khom khom rót.
Một chén. Bốn, năm chén. Mười chén. Ba mươi chén. Chén nào Bố Ô cũng chỉ làm
một hơi. Nhanh và ngon như kẻ khát dọc đường vớ được nước suối rừng, vục nón
xuống mà múc lấy múc để. Và rượu vào đến đâu là chân tóc ông già lại đẫm tuôn
mồ hôi ra đến đấy, làm dầm dề cả vải gối. Nhiều dòng nước trắng cứ theo mỗi
chân tóc mà tuôn mạnh ra. Hết cả hai dầu gánh cô Cốm mà Bố Ô còn gào rượu nữa.
Rồi ông già bèn cười sằng sặc nét mặt thắt nhăn lại, thanh âm càng rộn lảnh mãi
lên”.


Trong Chùa Đàn,
có đoạn tả Bá Nhỡ đàn cho cô Tơ hát, tiếng đàn thu hút hết tinh lực của người
đàn, đến mức “mấy đầu ngón tay Bá Nhỡ sưng và bật máu”. Rồi đến đoạn “máu chảy
ra nhiều quá (...) Máu trong cơ thể Bá Nhỡ cứ đều một dòng tuôn mà thấm lậu ra
ngoài”. Ấy là lúc “Tiếng đàn hậm hực, chừng như không thoát hết được vào không
gian (...) Nó là niềm vang dội quằn quại của những tiếng chung tình. Nó là cái
dư ba của buổi chiều đứt chân sóng. Nó là cơn gió chẳng lọt kẽ mành thưa. Nó là
cái lả lay nhào lìa của lá bỏ cảnh. Nó là sự khốn nạn khốn đốn của chỉ tơ con
phím.”


Xuất phát  từ 
những truyện  vốn mang tính cách
tả thực , ông đã sẩy chân mà sa vào ma quái lúc nào không biết. Chính trong khi
tả thực mà ông đi tới sự ma quái  rồi kéo
người đọc theo .


Một nhà nghiên cứu tâm
lý đã nói rất có lý, đại ý rằng cái tưởng tượng, thật ra, lại chính là cái
giống chúng ta hơn cả.


 Đông và Tây, thực và đẹp, sợ và
thích


Nguyễn Tuân là một
trong số ít nhà văn VN đầu thế kỷ XX mang đậm chất văn hóa cả Đông lẫn Tây. Nét
đặc biệt của chất yêu ngôn làm cho người ta nhớ tới cả Bồ Tùng Linh lẫn Edgar
Poe.


Ở phương Tây, có một
loại truyện cũng thường kể về các nhân vật ma quỷ và các hiện tượng dị thường,
được mệnh danh là truyện kinh dị. Các tác giả cổ điển ở đây là E.Poe, E.T.A
Hoffmann, và có thể kể cả N. Gogol. Theo như cách nói của một số nhà nghiên cứu
phương Tây (được dẫn lại trong tạp chí Văn học nước ngaòi  số 4-1998) thì truyện kinh dị được xây dựng
trên nguyên tắc là khai thác nỗi sợ. Bởi sợ là một nhu cầu tự nhiên của con
người
(tên bài viết của Đào Hùng, số báo đã dẫn).


Tư duy kiểu yêu ngôn
chỉ là một cách để giúp tác giả trình bày quan niệm của mình về thế giới thực
và cái đẹp trên đời này. Chỉ trừ cái thực thô thiển, còn hiện thực theo nghĩa
triết học thì bao giờ cũng lung linh ẩn hiện, mà cái đẹp cũng vậy, nhiều khi
phải đi đến cùng của sự kỳ quái, người ta mới gặp được. Thành thử, đọc Nguyễn
Tuân không có gì phải sợ, tuy nhiên, cái sự rờn rợn thì không thiếu, nó là thứ
hiệu quả nghệ thuật mà trong văn học Việt Nam hiện đại, trên đường tìm tòi gian truân và hứng thú, Nguyễn Tuân là một
người một mình đi riêng một đường.

Thursday, February 28, 2013

Một truyện ngắn của Nguyễn Tuân về báo oán: Thạch tinh trong ruột một người







"…đến lúc nào mà đá lại biết nói nữa, thì chúng bay sẽ chết hết "  Kinh Sám Hối

     Dưới đây là một truyện ngắn thuộc dạng yêu ngôn của Nguyễn Tuân, thiên truyện ma quái bậc nhất mà lại chưa hề xuất hiện trong một tuyển tập nào của tác giả mấy chục năm nay.

        Sở dĩ người sưu tầm tha thiết muốn nhiều bạn đọc cùng đọc lại truyện ngắn in ra lần đầu đúng 70 năm trước này vì hai lẽ.





     Thứ nhất nó có những đoạn cực tả về tình trạng thụ bệnh của một con người.

    Xã hội ta hiện  đầy rẫy những người bệnh tật, bệnh nổi có bệnh chìm có; và tổng quát lại có thể coi là một xã hội trong thời hậu chiến bệnh tật.

     Chắc hẳn là sau những trạng thái bệnh bình thường, còn có biết bao nhiêu thứ bệnh kỳ lạ mà chỉ thời hiện đại mới có.

      Hơn nữa, chữ bệnh theo nghĩa đen thường cũng tương ứng với một tình trạng bệnh tật về tinh thần,-- chữ bệnh theo nghĩa bóng

    Với cả hai dạng đó, trước khi bàn chuyện kê đơn chữa chạy, đang cần những người biết miêu tả biết nói ra cho mọi người rõ về bệnh để cùng biết, cùng ngấm, cùng sợ.

    

     Thứ hai truyện nói về sự báo oán báo thù cũng là cái thứ rất nặng nợ trong mối quan hệ giữa người với người thời nay.

    Trong truyện ngắn dưới đây của Nguyễn Tuân, báo oán  là sự trừng phạt kỳ cục với những kẻ lừa dối dẫn đến cái chết của mấy người đàn bà trẻ tuổi.

    Ngày nay đang nẩy sinh những tội ác trên quy mô lớn, động chạm đến số phận tài sản nhân cách hàng vạn hàng triệu người. 

     Các nạn nhân chỉ còn có cách cầu cứu tới những thế lực siêu nhiên. 

    Người ta cùng mong đợi một sự báo oán ghê rợn tột cùng sẽ xẩy ra với bọn ác.

    Niềm tin vào cái công lý mơ hồ huyền bí ấy hình như rất sâu sắc nơi Nguyễn Tuân. Nó buộc ông ở cuối truyện, mượn lời một nhân vật , phải công khai đứng ra khuyên mọi người qua các tình tiết éo le “tìm lấy một ý niệm trong đời sống đạo đức”.

     Tác giả thường bị mọi người coi là một ngòi bút ngang ngược, phá cách, duy mỹ, bất chấp cả những lẽ phải thông thường. Ở đây, qua việc tự nguyện đóng vai giáo huấn, ông có dịp thể hiện một sự “phá cách ngược” nghiêm trang hiếm thấy. 

      Chính nó là cái dư vị kéo dài  khiến tôi tin là thiên truyện đáng được đông đảo chúng ta đọc đi đọc lại và liên hệ với tình hình thời sự.





      Từ cái chuyến đi chơi hội Đèn mùa Xuân năm ấy và đánh Tổ Tôm Người (*) ở làng Nguyệt Tường - về , là cậu Bảy đau nặng. Bệnh lạ quá. Động ăn chút gì vào là thổ ra hết. Thuốc, đến chén này là chén thứ bốn mươi hai -- tính đến cụ lang xóm Bình Xa này là ông danh y thứ mười một --, không chén thuốc nào chịu đi qua cổ họng cậu Bảy.

       Mặc dầu con bệnh cố nuốt nước thuốc mà thuốc không chịu xuống.

       Hễ uống ngụm nào là lại trả ra ngay.

      Nền gạch lá nem dưới giường kia, từ ngày cậu Bảy nằm liệt đó, đã mất cái màu hồng tái cố hữu của nó. Những nước thuốc thổ ra đây đã sơn lên một màu cánh gián dày cộm, mỗi khi gặp kỳ hanh nó lại nứt rộp ra từng tảng cạnh uốn cong. Gặp gió nồm, những tảng sơn đó lại nhũn sũng ra, lênh láng sánh đặc.

     Trông cứ như là thuốc phiện tốt, chan hoà mà không trôi chẩy đi đâu cả.

      Đến thế này thì con bệnh đã phụ thày và phụ thuốc nhiều quá.

      Nước thuốc của đơn nào, cậu Bảy liền giả ngay cho thày đó, không hợp với ai cả.

     Trong khi nằm chờ sự lành vững cũ trở về với thể xác, ở các lỗ chân lông con bệnh vẫn tiết ra một thứ mồ hôi đỏ như máu, mỗi ngày thay đều mấy lượt quần áo mà người vẫn cứ đỏ đẫm ra như máu.

       Máu ấy khô cứng lại, dính bám vào da thịt, mỗi lần con bệnh bị dựng dậy để thay mặc, sự đau khổ thực không biết thế nào mà nói cho hết được.

      Đũng và cạp quần, đường hồ lá sen áo cánh dính bết vào đã đành.

      Lại đến cả đường bâu áo dài cũng phải khéo tay gỡ lắm thì mới tránh được sự nhăn nhó rên la cho con bệnh. Nhục hình đó, sớm chiều ngày nào cũng diễn lại.

      Vào những buổi thay áo và tắm khan cho cậu Bảy, thân quyến đều lánh đi hết. Chỉ có một người đầy tớ già làm việc bên giường.

       Cậu Bảy lo khổ về bệnh thì có một phần và đau xót về nỗi nhục nhã này thì có đến muôn nghìn.

       Không rõ có phải đây là một chứng nan y hay không, nhưng con bệnh tưởng phụ ngay được đời sống bằng một việc quyên sinh, còn hơn là kéo dài ngày chờ khỏi với cái cảnh tượng một phế nhân tanh tởm xấu xí này.

      Hỡi ôi, trông cậu bây giờ, ai dám nghĩ rằng con người ấy, trước đây, đã từng bao nhiêu lần mặc áo gấm lam có vảy bạc và cưỡi một con ngựa màu phấn đạm.

     Cậu Bảy tuy là người của thế kỷ này, nhưng nhất định không dùng ô-tô, mặc dầu cậu thừa sức sắm được - mỗi lần ngừng nhạc (1) ở cổng vườn nhà nào để hỏi thăm tiểu chủ nhân xem đêm trước hoa rụng nhiều hay ít, thì miệng nói ra toàn là thơ và nhời của câu đối cả!

      Con người phong lưu mã thượng ấy, giờ trông đáng kinh tởm lắm.

      Ngày nào cũng vậy, ở các lỗ chân lông, thay cho mồ hôi của một thứ bệnh thoát dương, chưa có tên chua trong y khoa xứ này thời này, máu cứ đều đều rỉ tuôn ra tưởng như không bao giờ cái chất quý ấy ở một người lại có thể cạn kiệt được.

       Gian buồng bệnh, tanh hơn lòng thuyền của người đi bể đánh cá dài hạn.

       Cho người lạ chợt vào đây, cái cử chỉ đầu tiên của người ấy là cứng chân kìm đà bước, ưỡn ngửa người ra sau để đưa tay lên cố mà băn khoăn với một cơn mửa lộn hộc.

          Và nhìn người nằm đờ trên giường bệnh áo quần tẩm ướt đỏ ngòm và dưới gầm bóng loáng nước thuốc nâu cô sánh lại, người ta nghĩ đến một vụ án mạng -- tử thi nằm chờ quan huyện đến khám nghiệm, đối chiếu xác với phép sách Tẩy Oan.

       Thân quyến cũng héo dần trong sự ngậm ngùi.

      Hết lễ bái ở đền này phủ nọ, hết bói toán tướng số thì lại ngờ đến mồ mả gia tiên xem có ai phạm tới không.

      Ông thầy địa lý cũng không hơn gì được ông thầy bói và ông thầy thuốc.

         Cô Chín -- em ruột cậu Bảy -- vốn biết anh mình không phải là một người thẳng thắn, trong tâm tính những lúc ra ngoài, ngờ anh đã dính vào một việc tình cảm ở chỗ đầu sông ngọn nguồn xứ Mường, đã chót chỉ non thề bể với con nhà lang đạo nào ở thượng du, để đến nỗi người ta phải hờn giận mà chài ốm chăng. Bèn nói với mẹ nên đem vàng nhang lên dò hỏi ở những chỗ rừng xanh núi đỏ.

        Cũng vô hiệu. Cũng vẫn không chỉ được cái thứ mồ hôi đó ngày ngày tuôn rỉ ra khắp mình Cậu Bảy.

       Ấy là sự thuốc thang chạy chữa.

        Còn như việc cơm cháo hằng ngày thì con bệnh chỉ chịu uống có nước đậu xanh xanh lòng; còn bất cứ cái gì khác là cũng đều trả ra hết.

        Người, ăn uống như thế, gì mà chẳng teo ngót mãi đi.

        Tứ chi như bốn thân que, khắp mình đường gân xanh nổi lên rõ;

        ổ mắt trũng xuống, xương lồng ngực đội mãi lên;

        cuống họng thắt lại, tiếng nói bé dần, nói ra không ai nghe thấy gì nữa;

         rồi đến thính giác lại càng hỏng quá; không nghe thấy một tiếng động gì của ngoại cảnh lọt được vào và riêng trong đầu mình thì suốt ngày đêm cứ thấy có cái gì nó kêu gào ngay ở đấy --

         lắm lúc nghe sợ quá, con bệnh lại rú lên, vật vã giẫy giụa, trông thương thảm vô cùng.

        Một hôm, theo lệ thường vào thay quần áo lần thứ nhất mỗi ngày cho Cậu Bảy, người nghĩa bộc có tuổi bỗng kêu to lên, làm kinh động cả một gia đình ít lâu nay chỉ còn sống trong âm thầm.

         Y gọi cả nhà lại giường bệnh mà xem.

         Người nằm đây không đỏ đẫm như mọi ngày nữa và giờ lại trắng bệch. Thì ra, không hiểu vì phép sinh lý gì, máu đỏ trong người con bệnh đã hết từ đêm trước và, tuôn ra các lỗ chân lông, giờ chỉ toàn là một thứ máu trắng.

          Lấy tờ giấy bản để lên mình con bệnh một lúc lâu cho nó thấm hút lấy ít máu trắng, người lão bộc thè lưỡi nếm vào mảnh giấy ướt, thấy nó nhạt như vị nước lã, bèn khóc oà lên với một câu: "Thế này thì cậu con chẳng còn sống được mấy chốc nữa đâu. Cả nhà lo liệu đi thì vừa thôi."

        Từ buổi nếm phải một thứ máu không có chất tanh, mặn và thay những quần áo không còn màu đỏ máu như trước nữa, người đầy tớ già xác tín rằng mình đang liệm sống cho một người lả dần về cõi khác.

          Cuối tháng đó, nguời chú Cậu Bảy lật đật về đến nhà, sau khi nhận được gia thư do Cô Chín gởi đi. Ông tức tốc vào buồng bệnh, đem thẳng ngay cát bụi của đường xa vào gian phòng sâm tịch (2), muốn giáp mặt ngay đứa cháu để hỏi chuyện.

          Đã từ lâu, Cậu Bảy vốn không nghe được tiếng gì và không nói được ra tiếng, chú cháu phải lấy giấy mực ra để bút đàm. Tờ giáp (3) cuộc hội đàm thân mật bằng bút này, xem lại y như những lời hỏi cung và những lời thú tội. Gọn rõ và cảm động.

         Chú hỏi: "- Tháng giêng mùa vừa rồi, mày cho ngựa ngày ăn cỏ ở vùng nào?"

         Cậu Bảy, cố thu hết thân lực vào đôi mắt, nhìn ông chú không chớp cố tỏ cho chú biết rằng mình không có điều gì phải minh (4) cùng ai hết.

        Biết đứa cháu có tính gan bướng, ông chú bèn đấu dịu. Bèn viết lại: "Thầy cháu mất đi rồi, lớn nhất trong chi họ nhà ta, chỉ còn có chú. Vì sự mưu sinh, chú phải đi xa luôn. Chú không ở luôn ở nhà được để góp thêm tâm ý vào việc phục hưng gia tộc, thật là một điều lỗi đối với các cháu hàng dưới. Nay nhận được thư của em Chín cháu, kể rõ sự tai biến, chú vội về thăm cháu và cần nhất là hỏi cháu mấy điều, trước khi cháu chết -- chú chẳng cần phải giấu mà không dám nói ngay cho cháu biết rằng sự sống của cháu bây giờ cũng chỉ là việc của khoảnh khắc đây thôi; có kéo dài lắm thì cháu cũng chỉ đậu được đến ngày thu phân tháng sau thôi".

        Đến đây, ông chú chừng cũng bùi ngùi thay cho đứa cháu bạc mệnh, ngừng viết, nhìn Cậu Bảy. Mặt Cậu Bảy rớm lệ. Ông chú viết tiếp:

- Tháng giêng vừa rồi, cháu chơi ở làng Nguyệt Sương?

- Vâng. Chơi Tổ Tôm Người.

- Đúng rồi. Chẳng lúc về đây, tiện đường, chú rẽ vào làng Nguyệt Sương thăm ông Chánh Ba và được nghe một câu chuyện tự ải (5). Người con gái quan Lãnh Tín gieo mình xuống đầm. Rồi ông Chánh Ba lại kể cho chú nghe về phong tư diện mạo một người khách phương xa đến chơi Tổ Tôm Người, khăng khít với một con Thang Thang. Cứ những dáng điệu người và lời thơ hạ chữ đối và gieo tử vận (6), do ông Chánh Ba thuật lại, thì chú đoán ngay ông khách phương xa ấy lại là cháu chú rồi.

     Thế còn cái con Thang Thang ấy? Ai sắm Thang Thang trong hội bài người?

   - Bẩm chú, chính là con gái quan Lãnh.

     Ông chú lịm người đi, tay rời hẳn bút ra. Thế này thì ông hiểu rồi. Chợt trong có một phút của trực giác, ông nhận thấy ngay liên can giữa bệnh người cháu và cái chết đuối của người con gái kia.

     Ông gặng hỏi: "Vậy chớ mày thề thốt những gì với con gái ông Lãnh Tín?".

      Cậu Bảy không trả lời, khẽ thở dài.

       Ông đổi câu chuyện:

    - Giờ tao hỏi về bệnh mày. Thế trong người mày bây giờ nó như thế nào? Kể rõ cho chú nghe.

    - Kể lại cũng vô ích. Thuốc thầy nào chữa nổi. Cháu chỉ còn chờ có chết để tạ lỗi cùng con bài Thang Thang. Việc cô con gái quan Lãnh tự vẫn, cháu được biết từ trước khi chú nói. Chỉ có lửa vạc dầu sôi của một thế giới khác là mới tẩy hết được căn bệnh của cháu. Lửa của cuộc đời này, không đủ nóng để diệt những trùng trong mình cháu. Thôi, ngày giờ của cháu đang bị tính đếm từng li từng phút, chú để cho cháu được yên tĩnh mà nghĩ tới một hậu kiếp của cháu ở ngoài thế giới này.

   - Làm ích được cho đời sống này chút nào, ta vẫn cứ phải gắng, gắng cho tới phút cuối. Bệnh của cháu, tự cổ lai đến giờ, chưa có một y gia cổ kim Đông Tây nào nói đến. Y học Thái Tây thì lại càng không có bàn đến nữa. Nó là ở ngoài khu vực y khoa hiện đại.

       Cháu cứ kể rõ chú nghe. Chú ghi lại để rồi sau sẽ thuật chép ra để chất chính (7) cùng những bậc Biển Thước của năm cõi lục địa. Đã hay rằng việc này là một việc quả báo, một việc âm oán.

       Nhưng biết đâu đấy? Cháu cứ kể rõ. Cháu gây nên tội ác, cháu đau khổ nhục nhã đến như thế, tưởng cũng là đủ cho linh hồn cháu siêu thoát rồi. Đời cháu, vào quãng cuối, thế mà lại còn hơn cả những cuộc đời kẻ khác trọn đời không làm một điều thiện nào và cũng chẳng làm một điều ác nào.

       Cháu cứ bình tĩnh mà kể lại chứng bệnh cháu, may ra có bổ ích gì cho người đồng thời không?

     Tay run run, Cậu Bảy cầm bút.

       Những giòng chữ chằng vào nhau và chữ nọ dính bắt qua chữ khác như chữ phép lá bùa trừ tà.

       Chữ ít, không có linh khiếu, thiếu cả kiến lẫn thức (8), và lại không bác văn quảng học thì có người lại sẽ tưởng đây là một câu thai (9) của sứ Tầu gởi đố và ai giảng được thì sẽ nhất đán (10 )được làm Trạng - theo đúng vào một lời tiên tri của Tả Ao bắt hòn đất nhà mình phải phát vào ngày giờ ấy đây.

      Cậu Bảy kể rằng:

     "Tính về thời kỳ thụ bệnh kể từ hôm người cháu tiết ra một thứ máu trắng cho đến về trước, cháu không biết gì cả. Thân xác cháu ở ngoài Thời Gian và Không Gian. Những chuyện mồ hôi đỏ như máu tuôn rỉ khắp mình cháu là sau này người lão bộc kể lại thì cháu mới rõ đấy thôi. Rồi mới biết kinh sợ và cháu thừa biết là cháu hỏng mất rồi, là đời cháu hết rồi.

      "Máu đỏ chảy cạn hết, thì tiếp ngay đến việc cháu điếc và cháu câm. Ngày lại ngày, cháu nhìn lớp máu trắng tuôn đầy trên mình cháu thay cho lớp máu đỏ trước, tịnh không nghe được ai nói vào một câu nào và cũng tịnh không nói ra với ai một lời nào.

     "Đầu cháu rức nặng như bị đánh đai sắt vào. Ngủ được tí nào thì thôi, chứ hễ thức giấc dậy là như có người la ó trong đó. Tiếng kêu trong đầu rất là phồn tạp hỗn loạn. Có khi như gió ngàn đuổi mãnh thú. Có khi như bẻ bão rượt sóng bờ. Có khi vang dậy như hầm thuốc súng nhỡ bén chạm phải lửa ngoài. Có khi lại xa vắng u tịch như vọng hưởng của đàn chiêu hồn bên sông không có đò chở.

      Ở trong đầu thì vang dậy kinh động như vậy mà nhìn ra quanh mình để lắng lấy tiếng một cái gì quen thuộc của hằng ngày nó có thể làm bạn với mình và nhắc cho mình nhớ rằng mình vẫn là người của cuộc đời này, thì cháu chỉ thấy có im lặng.

      Những bóng người qua lại của cả nhà này đều câm cả. 

       Những hình ảnh đó cử động và mấp máy môi như người trong trò phim câm.

      "Mất đến ba tuần khổ loạn như thế ở trong đầu.

      Được đúng một ngày một đêm, trong đầu cháu tắt hẳn tiếng kêu.

      Nhưng đến ngày sau thì trong người cháu lại có một việc biến rất mới lạ. Là ở trong bụng, lại có tiếng người rì rầm lào xào.

       Hình như đấy là một cuộc nói chuyện tay đôi của hai con người. Không rõ họ là già hay trẻ, đàn ông hay là đàn bà. Vì cái tiếng nói của họ là một thứ âm thanh không có tuổi không phân ra giống cái giống đực.

      Họ nói tuy bé nhưng rồi sau cháu cũng nghe được. 

      Có lẽ vì cháu đã thành một người điếc đối với tất cả biểu diễn của cuộc đời bên ngoài bằng tiếng động, có lẽ vì thính giác của cháu chỉ còn có thu dồn vào để mình lại lắng cái tiếng của cuộc đời bên trong thôi, có lẽ vì thế mà cháu đã nghe nổi những cuộc đối thoại của họ trong bụng cháu chăng? Buổi sớm họ cười đùa, buổi trưa họ hờn giận, buổi chiều họ cãi nhau xỉ vả nhau để lúc khuya khoắt thì lại làm lành và cợt nũng nhau. Không rõ họ có ngủ phút nào trong người cháu không, chứ hễ cháu thức lúc nào là nghe thấy họ kể lể than vãn khúc khích lúc ấy.

      "Một buổi nặng bụng buồn tay quá, cháu có đem việc này kể ra giấy cùng tên nghĩa bộc vẫn luôn luôn có mặt ở bên giường cháu. Ngay chiều ấy, cháu nghe thấy một cuộc than khóc vật vã của họ, tiếng thê thảm đưa từ dưới lên trên đầu, rung mạnh các thớ màng óc. Cháu nghe rõ mồn một. Câu của người thứ nhất:

    " -Này, nó định trục hai đứa ta ra khỏi lòng nó đấy.

    " Câu của người sau:

    " - Sao biết? Và nó định dùng thuật pháp gì? Lòng nó là quê của ta rồi. Một vào nổi là ở mãi, trăm ngàn năm cũng không ra nữa. Chỉ có nó chết, là ta mới chịu rời đi đâu thôi. Chúng ta mà vào ngồi vững được ở đáy lòng nó thì càng là việc Giời. Giời đã bảo ta vào thì rồi cũng chỉ có Giời là bắt ta ra được thôi. Chứ thứ nó thì làm gì nổi.

   "Đến đây, hai người lại hạ thấp giọng xuống.

   " - Tao nghe thấy người nhà nó đang định cho nó ăn thịt chó để đánh bật chúng ta ra ngoài. Người nhà nó, chắc đoán ra hai đứa ta là ai rồi. Vậy chớ mày có sợ mùi thịt chó không?

   " - Nếu thế này, thì cơ nguy đã đến nơi rồi. Ra ngoài, lạnh và lạ lắm. Mà rồi ăn vào đâu, ở vào đâu.

   " - Vậy mày sợ? Tao thì yên trí lắm. Nó muốn làm gì thì làm. Tao vững lắm. Không ra.

   " - Người có chất dương như anh, không sợ đã đành. Nhưng tôi thuộc về chất âm, nghe cái tin này, rất lấy làm buồn sợ. Chúng ta sẽ phải chia rời từ đây. Ra rồi thì khó mà vào lắm. Những lúc tưởng nhớ đến nhau, tôi ở ngoài sẽ thông tin với người ở trong bằng cách nào? Chẳng nhẽ biệt nhau lại có nghĩa là mất hẳn?

    "Đến lúc này, cháu mới rõ rằng trong lòng cháu, có cả một người đàn ông và một người đàn bà và họ đang xây dựng một cái gì trong người cháu. 

      Cháu lấy làm nghĩ nhiều. Cháu liền cho gọi lão bộc vào hỏi. Y cũng nói lại rằng ở nhà ngờ bệnh cháu thuộc về âm loạn và có người mách cho rằng muốn trừ tà khí thì không gì bằng thịt loài cầy và sắp nấu cầy cho cháu ăn.

      Cháu cười và bảo lão bộc nên thôi việc ấy đi. Cháu nghĩ rằng đằng nào thì cháu cũng tận số đến nơi rồi. Có trừ khử được những quái vật ấy ra khỏi lòng dạ mình thì cuộc đời của cháu ở cõi đời này cũng vẫn cứ phải tắt hết như thường. 

      Trước, lúc còn lành mạnh, đã gây nên điều lỗi với đàn bà; giờ, người đã bạc nhược hao mòn đến thế này thì còn nên gây oán luỵ làm gì với một người đàn bà khác - mặc dầu người đó là thuộc về giống yêu, giống quái đang mượn cái lòng bị hình phạt của mình để làm một nơi chung họp với một con quái khác. 

     Không phải là cháu nghĩ đến sự báo thù của giống yêu quái này mà cháu sợ đâu. Điều oán của cháu gây nên ở đời thực tại này, cháu tin rằng cháu đã trang trả xong bằng cái chết mòn này rồi.

     Nhưng cái tương lai của cháu là ở ngoài đời thực tại này kia.

     Công việc kiến thiết của cháu lại phải ở ngoài thế giới này.

      Chết trong bây giờ ở đây, để mai kia cháu sẽ gặp lại con gái quan Lãnh ở chỗ khác để lập lại với nàng một cuộc sống khác công bằng hơn và đẹp hơn.

    "Bây giờ cháu nhờ chú một việc này. Là chú sẽ cho táng cháu ở mé gò Bạch Ảnh, ở bờ phía đông đầm làng Nguyệt-Sương, gần ngay chỗ con quan Lãnh gieo mình. Các bề trên trong gia tộc có gì phản đối về việc chôn cất này, chú thề với cháu là phải làm theo ý nguyện của cháu. 

      Thôi, lạy chú, chú ra đi. Và cho đào huyệt sẵn đi thì vừa. Cái chết đã dâng lên đến nửa phần người cháu rồi."

*

     Lúc Cậu Bảy vừa thở hơi cuối cùng, quạ ở tám phương trời rủ nhau bay đến sao mà nhanh và nhiều đến thế.

       Những cây và các luỹ tre các làng phụ cận bỗng hoá ra màu đen cả.

     Ở những cây đen ngòm ấy, loài ác điểu ngày đêm kêu không ngớt tiếng.

    Trông thi hài Cậu Bảy, người thương tiếc thì ít mà sợ tởm thì rất đông.

     Trời là một đấng biết tha thứ, biết xoá bỏ, đối với một người đã biết hối lỗi là gì rồi, sao Trời lại còn bày thêm ra một việc thảm mục (11) đến thế nữa.

      Cái thây Cậu Bảy ở giữa giường thực không còn hình nữa. Ra từ lúc còn sống, xương Cậu Bảy đã rũa mòn dần mà không ai để ý tới.

       Thành thử cỗ quan làm cho người chết hoá ra to rộng quá. Bỏ bao nhiêu cỗ tổ tôm, bao nhiêu cuốn lịch, bao nhiêu giấy bản, bao nhiêu trà phát du (12) vào đấy cho vừa. Nói cho đúng ra, thì phải đến năm cỗ thi hài Cậu Bảy nữa thì mới chắc kín lòng săng.

     Người ta lại phải thửa áo quan khác. Nó lại chỉ bé bằng thân hình cái tiểu sành có viền đường gấm hoa chanh. Thành ra lúc đám khởi hành, việc hung táng mà người không rõ chuyện lại tưởng là cát táng (13).

     Lúc hạ huyệt, quạ trên một giời cao, một loạt chà xuống mép bờ đầm bâu cứ đen đặc lại. Đứng xa trông, bờ đầm Nguyệt Sương như có người viền một vành khăn đen tròn không nhoè lép lấy một nét.

     Việc tang ma chôn cất người cháu quá mấy tuần cơm cúng rồi, bấy giờ ông chú mới ngồi ở buồng sách tại mái tây biệt thự đã được xông hương trầm mà giở cuốn Gia huấn trong họ nhà ra ghi vào đấy những dòng dưới đây:

    " Đây là những lời quý báu ta để lại cho lũ con chính thống của ta và cho lũ cháu trong họ nhà. Tụi bay, đứa lớn rồi thì phải đọc lấy mà làm trọng và đe mình từ ngay phút này; còn đứa nhỏ thì noi các đàn anh mà gắng hiểu ngay để sớm biết mà e sợ.

    "Việc Cậu Bảy bị chết trong cảnh nghịch biến thương thảm - ta đã có thuật rõ kèm vào đây, ở chương Cố sự nơi cuối tập Gia huấn này - là một điều cảnh cáo của ý Trời. Ta vốn nặng lòng với những điều thuộc về đạo đức thường, ta rất lấy làm đau xót cho danh dự gia tộc đã bị Cậu Bảy làm tì ố. Người chết đã biết sám hối. Ta cũng đã biết tha thứ. Nhưng còn ta còn sống, còn lũ bay còn sống đó!

    "Nhân việc tai biến vừa xảy đến trong họ, ta lại nhớ đến một việc cũ.

    "Trước đây, ta đã nhiều phen lên rừng xuống biển để tìm chân nhân.

     Một chuyến đò đi bể, còn độ phần tư đường, thì ghé được tới đảo có người bên ta bị bọn giặc bể Tầu Ô bắt.

     Ta được thoát chết vì cái đức bình thản của ta trước sự rộ nạt của giáo mác lũ giặc. Đứa đầu đảng bèn đãi ta vào bực khách, lúc ăn ngủ ra vào đều lấy các thứ lễ tiết đối với cao sĩ ra mà dùng. Ngoài những lúc chúng phải bóc lột thuyền buôn để duy trì cuộc sống của chúng trên mặt nước cả, đầu đảng bọn cướp thường vời ta tới bàn để hỏi về thiên văn, địa lý và nhân luân.

     Hắn biết rằng hắn hỏi ta chẳng phải để mà theo; ta biết rằng ta có nói ra, cũng chẳng phải là để cho hắn nghe.

    Nhưng đã đãi nhau là đám có chữ, lấy chữ ra mà nói chuyện thì hỏi đến đâu ta đều trả lời rất thành thực và hắn cũng lấy lễ độ cất những câu ta viết ra.

     Từ đấy, hắn đãi ta vào bực thượng khách.

     Một buổi thuyền Tầu Ô vào vịnh Hạ Long, ghé đảo Cát Bà. Đổ bộ, hắn đưa ta vào hầm đựng của, ở trong một hang núi cách bờ độ lụi hết hai nén hương. Ta vào, chân tay bị vướng bởi vàng lụa, ngà voi, sừng tê, quế chính sơn, mật ong, sa nhân và nhiều thứ nữa.

      Hắn hỏi ta muốn gì và cười, tay giơ thẳng vào đống của cướp.

      Ta cũng cười, hai tay giơ lên giời, nghĩa là đụng vào trần hang.

     Ta để ý xem xét thấy bị mắc kẹt vào bọn châu báu phi nghĩa kia là một cuốn sách đã gần mục. Giở ra xem thì đấy là một tập lữ ký của Trần Dĩ Luyện - một hàng nhân trong một đoàn tuế cống sứ (14) qua Trung-Quốc, về đời Thiệu-Trị -- nói về những điều tai nghe mắt thấy, bên cạnh con đường đi sứ ở Tàu (Ta vốn có khiếu riêng để nhớ những dã sử của nước nhà).

      Ta không đủ thời giờ để hỏi tên cướp xem hắn bắt được sách này ở trường hợp nào. Ta chỉ kịp bảo hắn rằng vàng bạc của hắn định cho ta, ta không lấy gì làm thú bằng việc xin hắn cuốn sách ấy.

       Hắn thuận và cố giữ ta ở lại.

       Ta nhất định bỏ hắn và thoái thác là nhớ quê cũ lắm. Sau hắn phải chịu, cho ta xuống thuyền nhỏ nhìn ta xuôi về Hải Ninh (15) với một cuốn sách cũ.

      "Sách đó, Cậu Bảy, vì thiếu tiền đi chơi đã bán cho một người nước Hiệp Chủng du lịch qua xứ mình.

       Ta tiếc giận vô cùng. (Nếu tụi bay mà tiền và lực có dư và lại muốn nhìn thấy sách đó, ta dám cam đoan với lũ bay rằng sẽ thấy sách đó ở tủ kính một viện bảo tàng Mỹ nào, chứ không sai).

       Sách mất, nhưng trí nhớ của ta thì mất sao được. Ta đọc sách đến đâu, chữ cứ như chôn vào ruột. Vì thế mà ta mới nhớ nổi chuyện lạ của quan Hàn Lâm Trần Dĩ Luyện chép được ở dọc đường đi sứ, để kể nữa - không sai lấy một chữ một lời -- cho tụi bay nghe lại:

     "Đất Giang-Tô, nhiều người đưa lụa trắng ra cho đoàn sứ nước ta đề thi. Thi (16) hay và chữ đẹp quá, họ đều lấy làm cảm kích. 

      Một nhà kia thanh bạch, không biết lấy gì tạ lại người đi qua chỉ có một thuở, bèn đem luôn một cái thảm sử trong gia tộc ra mà kể, tưởng làm như thế cũng là đáp được cái duyên tri ngộ trong muôn một.

      Tổ họ ấy ở đất ấy - tên người và tên đất, ngài Phó Công Sứ Nguyễn Đại Nhân có ghi rõ --, vốn là người có tài và có duyên, lúc ra ngoài, quanh năm chỉ đi chơi, chẳng mấy khi phải ăn bữa nào ở nhà. 

      Những lúc ra ngoài, lại hay thề thốt với rất nhiều giai nhân bên đường. 

      Cơm thiên hạ hay có nhiều sạn sỏi, ăn nhiều vào, sỏi sạn ấy tích lữy và đúc lại thành những hòn cuội trong dạ dầy. Ruột ông tổ nhà họ ấy đã có cuội. 

      Kế đến một lần, ông tổ nhà họ ấy dám thề nhảm với một nguời đàn bà và rủi lại gặp giờ thiêng, sau khi uống láo những giọt nước mắt của người đàn bà vào ruột, những hòn cuội cũ kia bèn hoá thành thạch tinh (17). 

      Những thạch tinh ấy biết nói chuyện và biết làm hại người sống. Nó phá từ trong lòng người ta mà phá ra. Phá hại lúc còn sống chưa đủ, nó lại còn theo rồi đến lúc xuống huyệt nữa kia. 

      Vì thế mà thi hài tổ họ ấy đã mai táng xong xuôi tưởng yên ấm, bỗng một đêm về sáu tháng sau, nó bật lên như có kẻ cắm cốt mìn vào mà bắn.

     "Có lẽ hai con nguời biết nói chuyện trong ruột Cậu Bảy là giống thạch tinh đó.

      Đời Cậu Bảy, tung tích bôn tẩu hồng trần, chắc trong bụng không thiếu gì sỏi sạn của cơm thiên hạ. Và nước mắt thiêng Cậu Bảy uống liều vào trong cơn trí trá với lòng người, chính là nước mắt của con gái quan Lãnh Tín làng Nguyệt Sương đó.

     "Lũ bay nên khớp hai chuyện chênh nhau về cả thời lẫn không-gian, nhưng đều chung một lý do huyền bí, để tìm lấy một ý niệm trong đời sống đạo đức.

   "Ta góp việc này vào tập Gia huấn, tự coi nó như một điều cần đáng thêm vào thập điều trong gia pháp. Lũ bay khá vâng theo”./.



GHI CHÚ VỀ VĂN BẢN

      Sinh thời Nguyễn Tuân, các truyện Yêu ngôn đã viết chỉ mới kịp đăng báo chứ chưa được ráp thành tập. Dựa trên ý đồ và tài liệu sẵn có của tác giả, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã tìm cách dựng lại Yêu ngôn rồi khai sinh cho nó thành một tập sách riêng. Yêu ngôn in ra lần đầu ở nhà xuất bản Hội Nhà văn 1999.

      Chúng ta có dịp đọc lại ở đây Đới roi, Rượu bệnh, Xác ngọc lam, Loạn âm, Lửa nến trong tranh, ngoài ra còn có Khoa thi cuối cùngTrên đỉnh non Tản (lấy từ Vang bóng một thời ), Tâm sự của nước độc (lấy từ Chùa đàn).

       Song theo chúng tôi tìm hiểu, Yêu ngôn không chỉ có vậy.

       Thiên truyện trên đây in ra lần đầu ở một tập sách mang tên Thơ văn mùa xuân ( 1943 ), vốn là một thứ sách tập hợp sáng tác của nhiều người khác nhau. Điều đáng chú ý là trong truyện này, tác giả đã ghi chú là sẽ cho in Tổ tôm người và ở cuối truyện thì có ghi rõ là rút ở tập Yêu ngôn. Tiếp đó, tới đầu 1945, trên tạp chí Thanh Nghị số đặc biệt ( 100,101.102,103,104) , còn thấy NXB Tân Việt quảng cáo rằng đã in của Nguyễn Tuân một tập ký mang tên Xe đào ( ghi rõ bản thường mỗi cuốn 7 đồng ) và sẽ cho in Cậu lãnh một.

       Xe đào nói ở đây tức là xe điều, một quân trong cỗ tam cúc; còn lối gọi nhân vật là “cậu lãnh một” cũng xui người ta liên tưởng tới cách gọi nhân vật trong Chùa đàn.

    Lại một lần nữa chúng ta thấy sự liên tục của những mô típ và chất liệu.

     Bởi vậy mặc dù chưa tìm thấy các cuốn sách trên trong các thư viện ( thậm chí Cậu lãnh một có thể là mới rao thế thôi, nhưng tác giả chưa cho in, thậm chí chưa viết ), chúng tôi vẫn muốn tin rằng có cả một mạch tư duy “ kiểu yêu ngôn “ mà vào khoảng 1942 - 1945, Nguyễn Tuân đã theo đuổi.

     Có khả năng cả loạt tác phẩm đã được thai nghén, và dù chỉ một số đã xuất xưởng, số ấy cũng nhiều hơn những truyện trong tập Yêu ngôn chúng ta đang có.

       Thiên truyện Thạch tinh trong ruột một người, in đúng như văn bản đã tìm thấy, kể cả cách viết hoa trong một số trường hợp ; chỉ riêng cách viết một số từ, chúng tôi sửa theo quy định chính tả hiện nay. Chú giải đầu tiên của tác giả đánh dấu hoa thị, các chú giải sau đều là của người sưu tầm.



Chú giải

(*) Xem truyện Tổ tôm người sẽ đăng ở Thơ văn, tập mùa hạ

(1 ) tức là dừng ngựa

(2) sâu và vắng

(3) Ngày nay hay viết : tờ nháp

(4) làm rõ,cắt nghĩa

(5) Cũng có nghĩa tự tử tuy nghĩa ban đầu nói rõ là tự thắt cổ

(6) Cái vần gieo đến mức tuyệt vời . Tương tự như tử công phu là hết sức công phu .

(7) Gạn hỏi để tìm câu trả lời đúng

(8) Kiến : điều thấy ; thức : điều biết ; đây chỉ cả kinh nghiệm lẫn hiểu biết qua sách vở

(9)Câu đố

(10) Một ngày kia

(11) Đau xót cho con mắt ( khi phải chứng kiến những chuyện thương tâm )

(12) Chúng tôi chưa tra cứu được

(13 ) Người chết chôn xuống lần đầu gọi là hung táng , bốc mả chôn lại gọi là cát táng

(14) Đoàn đi cống theo chu kỳ hàng năm ; hành nhân , nghĩa đen là người đi đường , nhưng đây chỉ người phiên dịch đi theo các sứ bộ

(15) Tên một tỉnh cũ sát biên giới Việt Trung , sau nhập vào thành tỉnh Quảng Ninh

(16) Đầu thế kỷ XX, trong ngôn ngữ hàng ngày , nhiều người vẫn gọi thơ là thi .

(17) Chỉ phần tinh tuý của đá






























Tuesday, February 26, 2013

Hà Nội tháng 2 1973




Nhật ký chiến tranh








4/2


     Trong lúc này vẫn không thể quên được các
vấn đề cơ bản như vấn đề  trí thức.




    Nhàn: Tôi khổ tâm lắm. Tôi không dám tin gì
cả.


    Khải: Tất nhiên, mọi chuyện ngày mai có thể
là vẫn thế thôi. Nhưng tôi cũng mong rằng ông sai, tôi sai, nghĩa là mọi chuyện
lại thay đổi theo kiểu khác. Ví dụ như về các chuyện hòa bình này nhớ. Hôm qua
tôi ngồi ở nhà Nguyễn Thành Long, ngồi bàn, thấy không ngờ hòa bình lại có thể
gọn ghẽ như vậy. Thế có phải là có gì ngoài mong ước không. Lãnh đạo một cuộc
chiến tranh như thế này khó lắm chứ. Thằng Mỹ nó cũng biết không phải nó đứng
bên bờ vực thẳm, mà là mình bên bờ vực thẳm. Nó biết rằng mình đã bị lừa nhiều
rồi. Rằng mình rất cay mấy tay kia (Cụ Hồ hồi 46: Thà ngửi phân tây còn hơn dọn
cứt cho thằng Tàu, nhưng biết bao giờ hết mùi) Rằng cơ sở kinh tế của mình khốn
khó.Thế nhưng mà nó vẫn chịu mình.


    - Thế nghĩa là có một cái gì đấy thuộc về
bí mật của giới lãnh đạo Bắc Việt? Tôi cũng nghe thằng Chu nói rằng ông Duẩn rất
ghê, đến nỗi Chu chỉ sợ ông ấy bị lật.


   - Không, cái ông này nói thì bao giờ cũng có
những khía cạnh mới (như ông ấy nói về sử, dân tộc mình nhuộm răng đen, không
bó chân, làm cho nó khác người Trung quốc) cho nên, vấn đề không phải chỉ là
nói, vấn đề là làm cơ!


    - Tôi thấy cái cách làm ăn như của mình
không được. Phải tạo điều kiện cho giới trí thức làm nhiệm vụ kích thích, nhiệm
vụ nói lên một tiếng nói thách thức....


    - Không, ông ơi, chính những người như
Kíssingger lại nói nhiều đến quyền lực. Tay mưu sĩ ấy rất thích đe dọa, rất coi
thường quần chúng. Quần chúng là cái gì đâu, Quốc hội Mỹ làm được việc gì đâu.


   - Dẫu sao thì vẫn phải nói đến trí thức.


   Ví dụ như trong tác phẩm của anh, hay nói đến
chuyện khôn dại là đúng thôi. Điều tôi lo ngại chỉ còn là chỗ này. Làm sao để
người ta khôn lớn, chứ không phải là sự tính toán lặt vặt.


   - Đúng, chỗ ấy thì đúng. Chính là tôi thấy
dân mình lại quá ít suy nghĩ, quá ít trí tuệ. Người mình hay thay đổi lắm, nông
nổi, nhẹ dạ, cả những người ghê gớm nhất cũng hay thay đổi. Còn tin vào cái gì
được nữa? Cho nên tôi cứ nghĩ được cái gì, biết cái ấy. Tôi không thể nào xây dựng
được điển hình.


   - Sao có lúc, anh nói rằng ông Đồng rất tuyệt
vời. Rồi có lúc, các anh lại nói ông ấy rất vớ vẩn (có mỗi cái trò: "Các đồng
chí viết không bằng tôi!")


  - Thì ông phải biết rằng chúng tôi là cái dân
văn nghệ bốc phét. Có lúc tôi vui, có lúc tôi buồn. Khi tôi khen người này hết
lời. Cũng có lúc tôi lại chê thẳng cánh. Chúng tôi là như thế. Bao nhiêu chuyện
tôi nói với ông, lẽ ra đều nên viết ra cả.


    ... Cái thân anh văn nghệ báo chí ở cái xứ
Đông Nam Á da vàng mũi tẹt này thì khổ lắm. Như vừa rồi Kíssingger sang Thái
Lan ở sân bay xuống, nó không thèm tiếp các nhà báo, nó mới thả một lô chó ra,
chó cứ sủa các nhà báo đi thôi.


 6/2


    Chiều
nghe ông Đồng nói chuyện.  Một sự loanh
quanh, không biết chính sách là hoà bình hay chiến tranh. Một sự răn đe, rằng  cẩn thận không có Nhân văn Giai phẩm.


   Bùi Bình Thi: Đề phòng giai cấp lãnh đạo Bắc
Việt ngủ lì trên thắng lợi!


   Nhàn: Có nhiều chuyện, hồi trước chịu được,
bây giờ không chịu được.


   Khải: Thế thì anh chết thôi. Anh có thấy
không, hiện nay các nước nó bò sát mặt đất mà ca ngợi mình (Bà Gandi: Thử xem
người châu Âu mà đổ máu như vậy, thì người ta có chịu không?). Mà càng như thế,
tức là càng chứng tỏ đường lối của mình là đúng đắn. Anh mà nói ngược, anh lại
càng bỏ mẹ. Rồi nay mai, còn học chính trị, còn là nhồi nhét mọi chuyện vào đầu
óc.





    Ông Lê Duẩn vào trong 559: Bây giờ mà đòi hỏi
địa vị, hưởng lạc là tàn ác.


    Ông Tố Hữu: Hôm qua không đi miền Nam tội một
-- Hôm nay tội mười


...


   Tôi biết sống sao đây? Những hiểm hoạ trong
thời bình sẽ rất khủng khiếp. Cái ác trong hoà bình sẽ biến hóa khôn lường.
Nhưng biết làm sao được, mọi chuyện là vậy.





10/2 (2 tuần sau hoà bình)


     Cán
bộ trung cấp tập họp, nghe nói về vụ chống Đảng.


     Khải : Xem mới thấy các ông ấy, khi phun
ra nhau, cũng khủng khiếp lắm.


    - Thế họ có gì là xấu, hay họ chỉ khác về
quan điểm?


    - Bán bí mật cho nước ngoài, phản bội, phản
quốc, thế là xấu quá rồi còn gì? Ở các nước khác, người ta còn mang xử công
khai nữa!


...


     - Cho nên, tôi chỉ thấy tốt hơn hết là anh
nên yên tâm với công việc đã có. Không nên biết nhiều. Biết nhiều quá, lại sinh
ra thắc mắc. Yên chí làm một người lao động bình thường.


     - Tôi cũng nghĩ rằng chính quyền này là
chính quyền của các anh, hết những ông Lê Duẩn, Trường Chinh, lại đến các ông Nguyễn
Lam Vũ Quang. Lớp già như thế nào, thì lại đẻ ra lớp trẻ như vậy.


    - Phải, nghĩ thế là phải.


   - Nhưng nhỡ ra, chính giữa các ông ấy nổ ra
mọi chuyện thì sao?


   - Không, không thể có chuyện gì cả, vì trong
số đó, đã có một thiên tài rồi.


     -…


    -  Nghĩ mọi chuyện lắm lúc cũng không biết đằng
nào mà ho he cả. Nó là cả một guồng máy. Người khá nhất trong những người vừa
qua, rồi cuối cùng cũng thành một người vô hiệu.





      Đôi lúc, tôi cảm thấy như có vẻ mình nghe
được một điều gì đấy thuộc về đời sống tinh thần của đất nước nói chung. Tất cả
hôm nay sẽ  là như hôm qua, như chiến
tranh, như trong mãi tận chiến trường. Nhưng vẫn là có những dấu hiệu của cái
gì đó khang khác. Ví dụ như đây là dấu hiệu của những ngày này. Người ta đang bất
mãn, đang đòi hỏi, người ta đang muốn đánh giá lại, suy xét lại mọi thứ. Cái
yêu cầu của cấp dưới thì bao giờ cũng hơi quá lên một ít. Yêu cầu của trên lại chỉ
muốn giữ một sự chỉ đạo, chỉ huy đúng như hôm qua khồng có gì thay đổi cả.


11/2


    Chủ
nhật đầu tiên sau tết.


    Đêm
thứ bảy hôm qua, tôi đến nhà những người công nhân đường sắt. Quyền, một người
nông dân, đi làm cách mạng, chân thành và dại dột. Nhuận và cái khu nhà mênh
mông trong Nhà hát nhân dân. Tôi chỉ có họ.


   Ga Hà Nội lại đông. Những đám người tụ tập đầy
đường (Quyền: Toa tầu bẩn như lòng đường nhựa. Năm nay, bao nhiêu người khu Bốn
về thăm nhà!).


     Sáng chủ nhật, tôi và Tính ngồi bàn nhau định
đến thăm một trận địa ở giữa sông. Tính giở ảnh vợ con ra xem (những đứa trẻ,
người ta ghép cho nó đến lắm khả năng và ý nghĩa!)


    Mấy người bạn của Tính đến chơi. Hiệu,
trung đoàn phó, một D trưởng, 1 C trưởng. Trông ba người ra ba dáng khác nhau.
Một cán bộ chỉ huy kiểu Tsapaev nông dân, thô tục, nhưng lại sắc sảo. Một anh
chàng quê mùa, ngậm miệng như cóc. Một anh chàng học sinh duyên dáng mới ra Hà
Nội đã sắm dép nhựa. Họ rủ nhau đi xem B52 (trong kia, thấy nó thả từng dây,
bây giờ mới tận mắt nhìn thử xem nó thế nào) Họ còn nói chuyện về chiến trường,
những ngày E27 vào tận Hải Lăng.... Trên người cậu D trưởng, là một chiếc áo của
địch. Loại áo vi ny lông, nhưng may theo kiểu va rơi, và cung đã hơi cổ. Anh
khoe một hôm, mưa rất to, cái áo cũng không ướt.


    Hỏi đường đi xem B52 xong, họ hỏi đường ra
Hàng Trống, may những bộ quần áo vi ny lông. Cái cảm tưởng chính: họ là những
người quá tự do. Họ làm chủ cái đất nước này.





     Tôi đi cắt tóc. Từ chuyện rẽ đầu ngôi, ra
đủ mọi chuyện.


    - Thôi cần gì đầu ngôi, để cho gọn là được.


     - Không. Khối anh chải đầu chải óc cẩn thận,
ăn mặc đẹp, mà nói năng không ra sao cả.


    - Bây giờ chính phủ còn đang bận bao nhiêu
chuyện, chưa dạy được. Hoà bình được ít ngày, mấy cái thằng trong kia lại còn
phá thối. Nhưng mà thầy nó theo mình rồi, thế là được rồi.


      (Lại nhớ lời ai đó nói cuộc chiến đấu của
dân tộc làm cho người dân thường của mình cũng có những hiểu biết rất đặc biệt)





     Mai 12/2, ngày trả tù binh Mỹ (140 tay Mỹ
về nước!) ở bên sân bay Gia Lâm.Từ ngày người phi công Mỹ đầu tiên bị bắt đến
hôm nay đã gần 9 năm,một quãng đời người, dài lắm!


   ... Ngày mai, các trường Hà Nội khai giảng.


    Hôm nọ, tôi đã thấy các em ở trường Hàng
Than quét lá, thu dọn trường. Bọn con trai lấy chổi phi trên trời, như những
chiếc máy bay.


     Hôm nay, tôi thấy học trò Chu Văn An đến
trường dọn dẹp, trở về, các em lại chui vào cái bể nước giữa vườn hoa ( nay là
vườn hoa Tây Hồ ) rửa ráy.


     Những em bé đi đường bây giờ, sao không thấy
vẻ thư thái, như lũ chúng tôi hồi nhỏ. Các em băm bổ vội vã. Mấy em con trai ra
đường, gạ chúng tôi đèo xe hộ. Cách sống của ngày hôm qua, thời đi sơ tán.


      Thư, em tôi, kể trường nó chỉ lớp 10 là
được ưu tiên bàn ghế. Lớp 9, lớp 8 thiếu. Một số lớp học sinh lại phải lấy loại
bàn ghế nhỏ  chỉ thấy ở các vùng quê.





     Buổi tối, lâu lắm mới mò đi xem nhờ Vô tuyến
truyền hình. Một chương trình ca ngợi đất nước. Và một người con gái, mà bây giờ
mọi người đều nghĩ là tiêu biểu cho Hà Nội. Cô hát bài Đường chúng ta đi.


     Bài này, có lúc, do một chị diễn viên cũ
hát. Chị là một người không đẹp, nhưng tiếng lại đẹp. Chị hát nhiều trên đài.
Trong tiếng hát của chị, ra một người từng trải. Và một đất nước từng trải.


     Đằng
này, người diễn viên non dại và qua giọng cô, người ta lại nghĩ về một đất nước
trẻ trung.


    Đất nước là tất cả những cái đó, là cả những
người mẹ lẫn những em bé, cả tiếng phát thanh trên đài, tiếng xe bò kẽo kẹt triền
miên, đất nước là mặt đường lép nhép, và có lúc bụi mù, là sắc vàng hoa cúc, là
màu cờ đỏ trên những đống gạch đổ, là những cành xoan đầu xuân chỉ còn những
cành, nhưng đã chớm những chồi non -- đất nước là có cả lụi tàn và hy vọng!


     Chỉ nghe đài phát thanh cũng đủ hình dung
những đổi mới đến với Hà Nội. Nhiều bài hát cũ được hát lại. Những người lớn tuổi
nhớ đến hoà bình lần trước cuối 1968. Lần trước, ai cũng nghĩ chiến tranh hết hẳn,
thì chiến tranh quay lại . Lần này, mọi người cứ nơm nớp -- biết đâu hoà bình lại
bền lâu!





     Dạo này, tôi và bạn bè của tôi thường hay
nói đến tính cách người Việt Nam. Có một cái gì ở trong đó, mà chúng tôi cảm thấy
cần nhìn thẳng vào, cần giải thích.


      Người
Việt Nam là hời hợt hay sâu sắc? Người Việt Nam dũng cảm, nhưng dũng cảm như thế
nào? Người Việt Nam nhẫn nhục. Người Việt Nam cần cù v.v.... Có một cái gì gọi
là ý chí?


       Người nước ngoài ca ngợi Việt Nam nhiều
quá. Đất nước thật sự vinh quang. Hình như đối với một số ai đó, vinh quang chỉ
là những hư danh. Mỗi người đang sống hết sức nhọc nhằn, có thể nói là thân tàn
ma dại nữa.


     Nhưng tận trong mỗi người, còn đầy hy vọng.


     Khi
tôi nói trông mong ở tương lai, một người như Nguyễn Minh Châu sẽ bảo: “Tất cả  mọi người, đều là những người của ngày hôm
qua, hy vọng sao được.” Nhưng khi tôi cũng chán ngán, thì chính nhà văn ấy lại
bảo: “Không, cũng không biết đâu mà ngờ.”


     Một trong những sức mạnh của ngôn từ là nó
thay đổi khá tương ứng theo thái độ của người ta. Nó thông tin khá chính xác.
Ví như hôm trước, người ta gọi là giặc lái, hôm sau, người ta gọi là nhân viên
quân sự. Người ta thân thiện với kẻ mà hôm qua được mệnh danh là kẻ thù. Và tất
cả đều có lý của nó! Và điều duy nhất có thể rút ra là mỗi kiếp người quá ư bé
nhỏ, hiện thực thì lớn lao, quá ư lớn lao. Đôi lúc, tôi oán trách, sao tôi lại ở
vào cái ngành có khả năng quan hệ rộng như văn chương, để lúc nào tôi cũng bị
ám ảnh bởi cái ao ước này-- ao ước nắm bắt tất cả.


    Chiến tranh có cái gì đó, đồng nhất với socialism. Sự san bằng tất cả. Nhưng mặt
đất thì không còn bằng bặn. Và bây giờ hoà bình thì từ đấy, người ta lại phải
xây dựng lên một cái gì khác. San mặt bằng rồi mới có thể làm mọi việc khác.
Chính với việc san bằng, chúng ta nhận ra thêm nhiều tội ác kẻ thù. Với việc
san bằng, lại thấy thêm những di luỵ thời chiến.


    Granitxy
voiny
? Ranh giới của chiến tranh: có cái đó không? Chẳng lẽ lại không có!
Chắc chắn chiến tranh không động vào được một thứ, đó là sự sinh sôi. Chiến
tranh như những chiếc ô tô vận tải. Đi trên đường phố, tôi sợ hãi vì lúc nào
cũng thấy những chiếc ô tô, ô tô sau lưng, ô tô trước mặt, ô tô hung dữ lao
trên đường, ô tô bất cần công việc, chỉ trừ việc của nó. Tôi nhớ tới những đoàn
xe hoả hiền hoà và đầy năng lực của thời bình. Tôi yêu những nền nếp. Tôi cũng
yêu những tập thể. Những chiếc ô tô, nó chính là những con người trong chiến
tranh, những con người của một đám đông hung dữ, mải miết vì những mục đích xa.
Thật là kỳ lạ, đất nước như một con người rút ruột ra, làm việc gì đó, một con
người mà da thịt xanh xao nhưng bộ ruột thật vĩ đại. Nhớ Vinh, thành phố đổ
nát, đường phố bụi bậm, bẩn thỉu, những con người lầm lụi đi trong mưa gió.
Nhưng những đoàn xe cứ lao đi mải miết, trên xe là bao nhiêu giá trị, bao nhiêu
là của cải.





      Ở đường Phan Đình Phùng, các gia đình ra
nậy hố cá nhân lên, không biết để làm gì. Tôi chợt nhận ra các hố thường nêm rất
chặt bằng những gạch củ đậu.


     Có lẽ một chủ đề mà văn học đáng nhẽ có thể
làm được là: chiến tranh đến với tất cả các gia đình, chiến tranh đến với tất cả
các phần việc.


12/2


        Ngày khai trường. Những cố gắng lấy lại
nền nếp. Học sinh đeo khăn mang cờ, đứng xếp hàng.


       Học sinh đi diễu chung quanh phố. Đón học
sinh lớp 1, học sinh lớp 4 cầm cờ ra đứng hai bên đường từ cổng trường vào.
Bánh pháo đốt, lại tắc, lại đốt. Những cô giáo đứng vón vào nhau. Học sinh nghịch,
lại chơi cảnh lấy chổi phi lên trời, giả làm máy bay.


      Sân trường cũ trong thời gian chiến tranh
biến thành nơi để gạo. Trấu rắc khắp nơi.Trước ngày khai giảng, nhà trường mới
kiên quyết đuổi kho gạo đi, người ta phải dỡ tạm mọi thứ ra sân. Buổi sáng, xe
bò vào chở các thứ. Có tiếng ai kỳ kèo: Bò nó ỉa... Ông lái xe bò cãi, người
cũng phải ỉa, nữa là bò. Xe cứ đi nghênh ngang vào trường. Xe đi đến đâu, trẻ
xô theo đến đấy. Nhiều đứa trẻ còn nhảy lên xe nghịch. Để chờ đến khi bò có
quay lại, chúng nó lại rạt ra.


    Lại còn ô tô, giữa lúc học sinh lớp 1 đi
vào giữa những cờ sao rủ bóng của học sinh lớp 4, thì ô tô vào. Ô tô phải đợi đấy
cái đã.


     Không biết bao giờ những đứa trẻ này lại
có thể nói: Ngày khai trường của năm lớp 1 của tôi là ngày còn đang dọn dẹp những
dấu vết chiến tranh. Trường dột. Cầu thang hỏng. Nền sàn đầy trấu. Các cô giáo
chúng tôi gày guộc, vẫn cố  ăn mặc một
cách mô đéc. Nhưng chúng tôi đã có hoà bình. Ngày hôm nay là ngày tên tù binh Mỹ
đầu tiên về nước. Tiến sĩ H. Kissinger đang ở Hà Nội. Trong các thông cáo, văn
kiện, mối quan hệ Việt Mỹ được dùng kèm theo những chữ: thẳng thắn, thân thiện.


     Hà Nội, thành phố của trẻ con, thành phố của
bụi. Thành phố của xe đạp. Thành phố của tiếng ồn.


      Tôi cảm thấy phải có cách nào đó, để nói
về Hà Nội. Những quy luật nào của cuộc sống thấy rõ nhất ở Hà Nội - Quy luật về
tài năng? Quy luật về sự chọn lọc? Quy luật về sự đa đạng?


      Tại sao người ta viết quá ít về Hà Nội?
Phải chăng điều đó chỉ chứng tỏ tính chất tỉnh lẻ của nền văn học này.


15/2


      Ng
Khải: Thật làm nhà văn có lúc rớt nước mắt. Hôm nọ, vào trong Cục, vừa thấy tay
Bồng, lão vỗ vai mình, thế nào, nghe nói cậu sắp đi đấy phải không? Ý lão nhắc
chuyện đi chiến trường. Cái vỗ tay thật nhẹ mà mình cứ thấy sụn cả lưng. Một giọt
nước mắt cứ định vỡ ra. Thấy như là thuở bé bị bêu nhục. Mình là cái thân phận
gì, lão ta là cái gì, nghĩ cứ thấy nao nao cả lòng.


18/2


     Một dịp khác , vẫn tôi và ông Khải:


- Hôm nọ, Bằng Việt nó nói
với tôi, sao mày cứ buồn thế. Trông ông Khải kia, ông ấy cứ nhơn nhơn thế.


- Đúng, bên Hội nhà văn,
các ông cũng lạ cho tôi, lúc nào cũng nhơn nhơn ra. Nhưng mà thế thôi, chứ lúc
này ai mà chẳng buồn. Buồn hết. Lúng ta lúng túng thế này, ai biết làm gì được.
Văn chương là phong cốt của cả một dân tộc. Lúc này mà văn chương không thấy hé
răng cái gì, thì tức là có chuyện rồi. Không trước thì sau, có chuyện thôi.


     Nhưng tôi khuyên ông, lúc này nên ít đi
chơi thôi. Cái lúc nhốn nháo này, ông xem, dễ vạ mồm lắm.