Thursday, June 6, 2013

Con người sống sót, thành phố sống sót --Hà Nội th. 5/ 1973


Tiếp tục Nhật ký chiến
tranh





2/5


   Nhớ lại cái phía đời thường của ngày lễ hôm
qua. Công việc được bàn nhiều ở các khu phố là lấp nốt những hố cá nhân. Một mặt
thì ở đó chứa chất tất cả những gì cần phải đổ đi, than xỉ, bùn cống. Mặt khác,
cái miệng cống vẫn quẩn lên một lớp váng như một thứ ký ức   không chịu tan biến đi cho. Dĩ
vãng có mặt trên mỗi đoạn đường chúng ta đi tới.

    Là người công dân Hà Nội lúc này nghĩa là
gì?  Là người thợ may vá chữa quần áo. Là
người thợ thiếc nhặt từng ống bơ cũ về làm lại cái đèn, cái ấm đun nước. 
Là mấy chị phe phẩy lo chạy hàng phục vụ đám dân Hà thành từ nơi sơ tán
trở về. Là… cô giáo cũ đi thu nhặt lại đám học sinh.
... Họ đang là những nhân vật chủ yếu của thành phố!



    Người ta mang về các vườn hoa một ít dụng cụ
đồ chơi. Và đây quả thật là những “quả nhỏ” của chiến tranh: những cái khung đồ
chơi bằng sắt trông nặng, chắc. Những lớp sơn tạm bợ. Tiếng khung sắt động vào
mặt đất xi măng nghe rào rạo một thứ âm thanh xa lạ.


   Hà Nội
thích nói tới sự tài hoa vì Hà Nội chỉ có cái bề ngoài. Hà Nội dũng cảm vì Hà Nội
nghèo khổ. Hà Nội từng trải, lì lợm, vì Hà Nội sống sát mặt đất. Đã bao nhiêu lần,
tôi nghe được những người khác nhau nói về Hà Nội. Có những chuyện vui nhất lẫn
những chuyện buồn nhất. Và tôi hiểu cộng những cái đó lại, mới là Hà Nội.





    Sấu rụng. Lá sấu rơi như mưa, phủ trên mặt
đất một lớp dày, người đi lá sấu rụng trên vai, đứa trẻ ngửng mặt hứng lấy chiếc
lá không cho nó kịp rơi xuống đất.


    Cành sấu không bao giờ trơ lá. Lá sấu già mới
rụng đi, lá sấu non đã nẩy, và trong một sớm một chiều, sấu trên đường vẫn xanh
um.


    Với chúng ta, những sắc phượng đỏ thường gắn
liền với thời khắc buổi trưa. Những trưa hè, màu đỏ như lửa loá lên trong nắng,
-- tưởng như nắng quá, ngọn cây là một chất dễ cháy, đã bốc lên thành ngọn lửa.
Nhưng lúc này phượng hiện ra kinh sợ đối với tôi bởi hình như là một thứ phượng
khác. Buổi chiều phố vắng. Bóng tối mùa hè vốn đã rất ngập ngừng, vẫn cứ dâng
lên, dâng lên. Không khí trong suốt tối dần. Bóng tối ập cả vào mặt người.
Trong cái giờ khắc ấy, tôi ngước lên nhìn hàng phượng, thấy màu đỏ đã thẫm lại,
tím lại, mà nó vẫn cứ không chịu lẫn đi với màu xanh đã trở thành nhợt nhạt của
lá, màu nâu đã hết bản sắc của cành. Tôi nghĩ đến tình yêu của tôi. Tôi lại
nghĩ đến những vết thương rơm máu của xã hội này. Tất cả đều là hiện thực.





3/5


     Tiếng
trẻ con hát lảnh lót bài Oan ta mê la
. Âm thanh đi lại uốn lượn trên vòm trời, như một tiếng cầu kinh của những
tín đồ trung thành  (và cái mà nó gợi
theo, đấy là chủ nghĩa tự do, một thứ tự do vô dụng nên lang thang vô mục đích).


     Những thanh niên nhộn nhạo, ầm ĩ trên đường.
Cái quần loe họ mặc, cái áo màu nghệ thối họ khoác trên người. Những chuyến đi
suốt đêm, có thể là gần suốt đêm bên nhau. Những trận cười thâu đêm, những tình
yêu nồng cháy. Hoà bình là thế, hoà bình phải có những cái ấy, dù đây là một nền
hoà bình có thể đổ sập bất cứ lúc nào.





4/5


   Thế
nào là dấu hiệu của một xã hội suy vi? Người ta, những người dân thường, không
ai muốn làm ăn cẩn thận. Còn lại, chỉ những người tốt là khổ.


   Đã rõ là xã hội không thể, không làm được
cái việc tối thiểu là động viên mọi người làm việc. Mọi người cứ nhớn nhác chờ
một cái gì đó. Chờ một may mắn  từ trên trời
xuống, chờ một phép màu. Chỉ có làm việc
( mà ta gọi là sản xuất) thì không ai
nghĩ tới.





    Một điểm nữa làm tôi kinh sợ. Tôi nhận ra
xã hội đang như một dòng họ thoái hoá. Những lớp người sau ngày càng còi cọc
đi, so với những lớp người trước. Khôn ranh hơn, năng động hơn mà hoá ra hư hỏng
thực sự. Tôi nhớ tới hai chữ đồng huyết. Đây là một khái niệm sinh vật học: những
người khác giới cùng dòng máu phối hợp với nhau, không tạo ra những  biến dị tốt -- mà chỉ làm sinh thể thoái hoá dần.


    (Có lẽ trong công tác tư tưởng, cũng có những
vấn đề tương tự. Tư tưởng, khi không được tiếp xúc với những tư tưởng khác,
sinh ra thoái hoá, luẩn quẩn! Và đấy là hiện tượng thấy ở xã hội hôm nay.
Chúng tôi có biết được gì ngoài mình?)





    Xã hội nào cũng có những luật pháp ghi
thành văn bản, và những tập tục, thói quen, thậm chí cả những thể chế, những luật
pháp quy định những điều được phép và không được phép không ghi thành văn bản.


   Xã hội của chúng ta hiện nay, luật pháp thì
ngặt, ảo tưởng, hoá ra vớ vẩn, không thực hiện được. Thói quen thì tự do hoành
hành, không bị một ràng buộc gì hết. Người ta cho phép mình làm mọi điều trong
bóng tối.





    ... Sao tự nhiên, tôi khao khát mọi nền nếp
của xã hội trước 1945, một thứ pháp điển mới tới với xã hội VN từ hồi Tây
phương xâm nhập, mà sao quá quen thuộc  như tự ngàn đời đã vậy. Những căn nhà yên
tĩnh, những khu phố sạch sẽ, những người làm việc với niềm tin lâu dài. Những
bài giảng về văn học cổ điển. Phút  nhẩn
nha khi đọc một áng thơ cổ. Bức tranh treo trên tường.


    Lâu nay, nặng về tàn phá
mà không xây dựng, nặng về ồn ào ngày lễ, mà không có cái sâu xa của ngày thường.
Trong nhà trường trẻ con biết đến cả những tên tuổi văn học rất là vớ vẩn,
nhưng không biết những giá trị lớn. 


    Đất nước này, người ta chỉ nói tới lịch sử
khi cần che giấu cái trống rỗng hiện tại.





    Việt Anh: Tôi cảm thấy  thời gian sau này người ta đã bắt đầu chú ý
tài năng.


   Nhàn: Chưa bao giờ, chưa bao giờ. Ngay cái
khái niệm tài năng cho chính xác chưa đặt ra, thì làm sao mà chú ý được.


   VA: Tôi cảm thấy cái hướng nghịch của học sinh
bây giờ là phá phách.


    N: Nói phá phách còn nhẹ.  Nó là cái mầm của mất lòng tin, mất phương hướng.


   Bao giờ cho cuộc sống ổn định lại! Tôi vốn
nghiêng về sự bùng phát, sự phá cách chứ không phải rập khuôn theo mẫu. Tôi vốn
nghĩ những chuyện hôm nay là chưa từng có trong lịch sử, vậy phải khai mở lấy
con đường của mình. Nhưng phải biết cái cũ, kể cả những sự phá cách cũ, thì người
ta mới có  điểm tựa, nghĩ về cái mới.





9/5


     Lắm lúc, có cảm tưởng muốn phát khóc vì sự
nhảm nhí của cuộc đời.  Cuộc sống mang lại
cho tôi biết bao nhiêu tin không hay.


  

- Hai thứ trưởng cãi nhau, người ta xây cho 2
ông một bức tường mất 8000 đồng, để khỏi nhìn mặt nhau.


  

 - Nhà tôi dột nát.....Khi nghe nói có thể
mua được ít lá, giấy dầu, bố tôi đang ốm nhỏm ngay dậy.




  -Chung quanh nhà, nuôi vịt, nắng bốc lên mùi
hôi thối,  không sao chịu nổi.




  -Thằng em tôi làm phép phân tích ra thừa số
nguyên tố 
: 100 = 97 + 3. Nó không cần gì cả, kể cả cần học giỏi...




  - Những người như ông Doãn Trung nhà này xe
máy, chụp ảnh, hống hách như vua con, bảo làm có cái đơn vào Đảng cũng lên nước.




  - Xuân Quỳnh đến chỗ tôi, như một người phát
ngộ ( “Thế ông thấy tôi như thế nào, tốt hay xấu? Thế ông còn định bao giờ? Vài
năm nữa, lâu lắm. Tôi cũng chỉ cần một người biết làm việc, và giúp cho tôi làm
việc “).


   Tôi lại có ý nghĩ như ba năm về trước: Ona đến chỗ tôi,  đâu chỉ cần có lời khuyên? Nhưng ngoài lời
khuyên, tôi làm gì có bất cứ một thứ gì khác!


   Nhưng không, tôi không thể dễ dãi được. Vì
đây là một người bạn. (Hãy nhớ mối quan hệ với C: Q tìm đến C. trong những ngày
bị ném bom, ba lần đi, ba lần quay trở lại. Q đón đường hàng tháng trời liền,
xin tha lỗi !Tội nghiệp cho một nữ sĩ nổi tiếng !)





   Một mục nhỏ trên báo Quân đội nhân dân đưa tin: bao nhiêu tiền một viên đạn, mỗi lần chữa
một cái máy, tốn bao nhiêu. Cạnh đó trên báo Nhân Dân là một bài nói về những thứ hàng giả ở thị trường. Thuốc
lá giả, chè giả, mì chính giả, ruốc giả. Chỉ cần đặt hai bài báo đó cạnh nhau
đã thấy khá đầy đủ, một bài nói về những nguyên nhân, và một mô tả hiện trạng
xã hội hiện nay!


     Và, tôi nghĩ, phải bổ sung những tin tức
giả, do báo chí đưa ra. Sai số thực tế, so với sai số cho phép gấp 300 lần.







10/5 


   Xuân Sách kể: ở Hải Phòng, một đám thương binh, tức mình với một tay nói láo, đến phá nhà, quăng đồ đạc ra đường để đốt.



   Ở Hà Nội, CA đánh nhầm diễn viên đoàn kịch Nam  Bộ - tưởng là lưu manh. Xong rồi lại lăn tay họ để làm cung giả mạo. Hiện họ ngừng biểu diễn và doạ không giải quyết việc này, toàn thể chi bộ sẽ xin ra Đảng.

Wednesday, June 5, 2013

Từ vứt bỏ sách cũ có giá trị đến… ồ ạt làm ra sách mới sách rởm

Tiếp tục câu chuyện về nỗi thê thảm của sách



Tại sao lại có tình trạng thê thảm của sách như tôi đã nói ? Ta hãy cùng tìm tới những nguyên nhân đã lùi về xa.



Nỗi thê thảm của trí tuệ

Năm 1954, khi Hà Nội đón đoàn quân từ Việt Bắc trở về, các trường trung học cũ chuyển thành trường cấp II cấp III, trong số những điều đám thanh niên học sinh mới lớn chúng tôi được truyền thụ và phải nhập tâm,có định hướng về tinh thần thực tiễn.



Cái anh này có vẻ sách vở quá! Từ lúc nào tất cả đều hiểu đó là cái câu dùng để chê nhau, mặc dầu chúng tôi đang sống với sách, đang đi học.

Một người thích đọc sách dễ bị những người khác coi là ấm đầu,không thức thời,không thể đi xa trên đường lập nghiệp.

Mấy chục năm qua đi, rồi cái tinh thần vô sư vô sách ấy đã được chính thức hóa trong tất cả các cấp học trong mọi bộ môn.

Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ

Hơn nghìn trang giấy luận văn chương


Một trong những câu thơ Tố Hữu mà tôi nhớ nhất là cái câu khinh rẻ sách chà đạp lên sách như vậy.

Sài Gòn sau 30-4, hẳn nhiều người còn nhớ giữa những phố xá bán đầy hàng cũ, có cả những con đưởng sách. Sách cũng được bày bán như mọi thứ hàng tầm tầm khác,đang bị từ bỏ.

Trước đó ở đồng bằng Bắc bộ và khu bốn cũ, sau Cải cách ruộng đất, sách vở trong các gia đình địa chủ có học cũng bị mang nhóm bếp tất.

Bởi sách vở là tinh hoa nên phải chịu chung số phận với mọi bộ phận ưu tú trong xã hội là người giàu ( tinh hoa trên phương diện làm ăn) và kẻ sĩ (tinh hoa trên phương diện nhận thức cuộc sống.)



Từ tạm thời bỏ sách

đến đoạn tuyệt với kiểu sống cần sách vở


Khi mới bước vào cách mạng và kháng chiến, nhiều thanh niên VN lúc ấy tự nhủ: nay là thời vứt sách. Tức một thời điểm bất thường. Chỉ có hành động là quan trọng. Không được trù trừ phân vân. Không được tính trước tính sau gì cả. Chẳng những phải vứt sách mà phải quên hết những điều sách vở đã nói với mình đã dạy dỗ mình.

Cái tinh thần chế giễu học vấn mà bọn tôi tiếp thu được ở HN sau 1954 vốn có nguồn gốc là thế.

Với hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng hô hào vứt sách lúc đó là cần thiết.

Chỉ có điều cách mạng cứ khó khăn mãi. Cái khẩu hiệu đáng lẽ chỉ có quyền trương lên tạm thời biến thành khẩu hiệu vĩnh viễn.

Có cả một phong trào bài bác trí tuệ bài bác sách vở, trên thực tế là triệt hạ mọi sách vở tử tế, triệt hạ mọi đầu óc có suy nghĩ.

Để rồi khi cần lại tạo ra một loại sách vở mới, tạo ra lớp người viết sách mới.

Chỉ có điều, do đã cắt đứt hết mọi mối liên lạc với lịch sử, nên cái mới này sẽ mang bộ mặt thê thảm và một chất lượng kém cỏi hiếm thấy.



Những cuốn sách bị cấm

Bài trước tôi đã kể ấn tượng mãi về những cuốn sách Pháp gọn gàng mộc mạc mà lại nuột nà, sách của những nhà Gallimard, Grasset, Hachette. Sách vừa đẹp vừa nhã, giấy không trắng quá, chữ in rõ ràng. Cầm quyển sách cứ nhẹ bỗng mà đọc vào lại thấy một nội dung thật nặng, thật nghiêm chỉnh.

Đó là số sách mà trong chiến tranh chống Mỹ Đại sứ quán Pháp ở Hà Nội tặng cho Hội nhà văn VN. Hồi ấy còn nhiều nhà văn biết tiếng Pháp nên đó là cả một kích thích thú vị cho những người ham hiểu biết.

Nhưng có lệnh từ trên là không được cho dịch đã đành, mà cũng không được phổ biến rộng rãi. Tổng thư ký Nguyễn Đình Thi dặn bà Huệ phụ trách Thư viện, chỉ những nhà văn cỡ trung kiên, được gọi là thường vụ Ban chấp hành và những người được ông Thi trực tiếp đồng ý, mới được mượn.

Cái có giá trị và được cả thế giới công nhận phải được coi cái xa lạ hơn thế nữa, hư hỏng sai lạc, không bằng những cái ta làm ra(!).

Sự tự cô lập về mặt trí tuệ là đầu mối của mọi thảm họa trên mọi phương diện khác.

Sau chiến tranh, số phận những cuốn sách của những tác giả nổi tiếng trong văn học phương Tây hiện đại ấy, đã có phần thay đổi.

Nay là lúc các nhà làm sách đua nhau tìm xem có loại nào đang trở thành thời thượng ở phương Tây thì dịch ngấu dịch nghiến, tung ra cho độc giả xài.

Nhưng lớp độc giả nghiêm chỉnh xưa đâu còn nữa và cái mà ta tưởng đáng tiếp thu nhận ngay có khi lại là những bọt bèo rác rưởi của một phương Tây đến ngày nay ta vẫn chưa thật hiểu.

Tôi kể những chuyện này để lưu ý rằng nền sách vở mà chúng ta xây dựng về sau ở vào một độ lùi đáng kể với sách thế giới, và chúng ta cứ thế mà tụt hậu mãi.



Việc nào tác hại hơn?

Chỗ đau nhất của sách thời nay như vậy là ở sự lộn sòng giữa sách thực và sách giả, giữa cái không phải là sách và sách thực sự. Và theo tôi hiểu, không thời nào sự lộn sòng đó công khai và tràn lan như bây giờ.

Ai cũng có thể rút ra kết luận đó nếu có lần vào đọc ở các thư viện công cộng. Ở đó, sách cũ sách có giá trị thì bị xếp xó. Sách mới , những cuốn sách cạn cợt nông nổi thì được trưng ra thật đẹp và sự thực là trở thành cần thiết với một lớp trẻ chỉ biết lao vào thi cử, nghĩa là nói y hệt điều người ta đã nhét vào đầu mình để ăn điểm.

Giá mang đặt lên bàn cân hai sự kiện, một là việc rẻ rúng những cuốn số sách cũ có giá trị và hai là việc làm ra vô vàn những cuốn sách mới nghèo nàn mỏng mảnh kém coỉ giả dối rồi lại thượng chúng lên như những tài sản vô giá mà con ngưởi thời nay gửi cho tương lai, không rõ việc nào gây tác hại hơn.



Thời nay sách đã được viết như thế nào?

Tại một tỉnh nọ khi có chủ trương lập ra Hội văn nghệ thì một cán bộ tuyên huấn được cử sang phụ trách. Anh em xì xào ông này không phải nhà văn. Ông ta tức lắm, liền bỏ tiền ra thuê người viết một cuốn tiểu thuyết đứng tên ông.

Tiền in đã có cơ quan lo.

Còn tiền trả cho người làm thuê? Ông ta đã có cách là lập ra một Hội đồng xét giải rồi tự cho mình giải thưởng. Sau này ông ta còn dùng cuốn sách đi thuê người viết nói trên làm bằng, để xin vào Hội cấp trên nữa. Tính ra có cả lãi đơn lãi kép.

Trường hợp trên, tôi chỉ nghe kể, chứ không tận mắt chứng kiến. Sở dĩ tôi sẵn sàng tin và muốn mọi người cùng tin, vì nó chỉ là biểu hiện tập trung của một sự thực.

Là thời nay, mối quan hệ giữa sản phẩm là sách và các chủ thể viết sách, mối quan hệ ấy đang có một sự đứt gẫy đổ vỡ hoặc nói như một thuật ngữ xã hội học – đang bị tha hóa. Người ta viết sách rất cẩu thả, không phải viết bằng con người lao động chăm chỉ trong mình mà viết như làm hàng, viết như ăn cướp.

Thỉnh thoảng báo chí đã nêu đích danh những vụ đạo văn. Nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng.

Còn rất nhiều trường hợp khác, tuy không dùng lại câu cú chữ nghĩa của người khác, nhưng tinh thần của toàn bộ cuốn sách người ta đứng tên là đi mô phỏng, đi thuổng đi nhặt nhạnh, rồi mông má lắp ghép lại, chữ hồi trước gọi là cao đan hoàn tán.

Đã không thấy sự có mặt của một tác giả trong những cuốn sách làm hàng ấy.

Thế thì có khác chi ông cán bộ đi gọi người viết thuê vừa nói ở trên?

Sự thê thảm bộc lộ ngay trong những cuốn sách bề ngoài hào nhoáng.



Một loại tác giả “ăn khách” chỉ có ở thời nay

Nhà thơ nọ công tác ở một vùng công nghiệp. Luôn luôn anh có thơ in ra và số lượng in các tập thơ của anh thường hơn hẳn các đồng nghiệp ở TW.

Hỏi ra mới biết sở dĩ thơ anh “bán” chạy như vậy nhờ tác giả có mối quen thân với những người làm công tác tuyên truyền và thi đua trong vùng. Sách anh in được đưa vào tủ sách của các công đoàn cơ sở và làm phần thưởng cho các cá nhân có thành tích trong các đợt thi đua địa phương. Tích lại nhiều năm số lượng in lớn có gì là lạ.



Sách dùng để làm gì?

Thời nay có nhiều nhà văn người ta chỉ nghe tên mà không ai kể ra được là ông ta có tác phẩm nào cụ thể. Không phải đó là người lười viết. Tổng cộng sách đứng tên ông cũng vô khối. Chỉ có điều đó là sách nắm sách mớ, sách in ra mà như đứa trẻ hữu sinh vô dưỡng.

Thế sách các nhà văn đó viết đi đâu?

Nhớ một mẩu chuyện vui vui.

Tại quầy cho mượn sách ở một thư viện, người ta thấy một độc giả lùn tịt mè nheo với người thủ thư:

-- Tôi đã bảo chị cho tôi mượn một trong những cuốn sách dày kia cơ. Cuốn nào cũng được, càng dày càng tốt.

-- Ơ cái anh này! Đó đâu phải là sách dùng cho chuyên ngành của anh?

-- Không, tôi không cần đọc. Tôi chỉ cần mượn để kê cao chỗ ngồi.

Nhiều cuốn sách ngày nay sở dĩ là được in ra, được đọc , được trích dẫn được trao giải thưởng nữa, nếu hiểu kê cao theo nghĩa bóng, thì cũng chỉ là để kê cao chỗ ngồi của người viết và người sử dụng mà thôi!

Sunday, June 2, 2013

Nguyễn Tuân và quá trình hiện đại hoá xã hội Việt Nam thế kỷ XX: trường hợp truyện dài Thiếu quê hương (phần tiếp)


                                … và tập
nghĩ cùng nhịp với thế giới









      Những đổi mới trong nếp nghĩ của Bạch bao
gồm hai điểm:


      Một
tìm cách nhìn về  "kẻ
khác" lúc này đang chung sống với cộng đồng mình, dân tộc mình bằng con
mắt thiện cảm chứ không phải căm ghét


      Hai
có cách đánh giá khác đi với  những gì cộng đồng mình vốn có.


       Trong những chuẩn
mực làm nên một con người mới – con người hiện đại , Thiếu quê hương  cho thấy người
ta phải có cách nghĩ mới về dân tộc, thời đại.




     Kẻ khác như một
khái niệm văn hóa
 
Lần đầu tiên tôi được biết khái niệm kẻ khác là từ nhà phê bình Đặng Anh
Đào .


     
Trong một bài viết in trong tập Tài năng và người thưởng thức,
chị Đào dẫn lại một ý của Octavio Paz . Ông
này (
1914/1998)  là nhà thơ, nhà văn Mexico đoạt giải Nobel Văn học năm 1990.  


Miêu tả  tình trạng quê hương Mexico  khi văn hóa châu Âu mới xâm nhập ông  bảo " Tấn bi
kịch của những dân tộc Mỹ la tinh trước giai đoạn Christophe Colombo đó là họ
không có ý niệm gì về kẻ khác
".


    
Hoàn cảnh của người Việt thế kỷ 19 về trước, có chút gì đó tương tự.


    
Sống ở nước mình, song các cụ ta thuộc lòng lịch sử địa lý con người
Trung Hoa. Có điều Trung Hoa lúc ấy bên cạnh vai trò kẻ thù đe doạ sự tồn tại,
lại có vai trò một thứ cội nguồn mà người ta mơ ước trở về và do đó chưa bao giờ tách mình ra khỏi hoàn toàn.


    
Tức là Trung Hoa có cái tình thế
nước đôi, vừa là kẻ khác vừa không phải
.


    
Vai trò người Pháp thời hiện đại thì khác. Ta thường hiểu họ có  vai trò thực dân. Nhưng về mặt văn hóa , họ có vai trò kẻ
khác
 như một nhân tố bên
ngoài thúc đẩy sự phát triển xã hội. Và ở khía cạnh này, sứ mệnh của người Pháp
lẽ ra phải được khẳng định như Bạch đã khẳng định.


    


     Phương
Tây không phải bao giờ cũng xấu
  Nhận
thức cần thiết trên đã được văn học phản ánh như thế nào?


     
Trong cuộc đời và tác phẩm của những Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu,
Đoàn Phú Tứ... sự có mặt của người Pháp như một nét đặc biệt của xã hội Việt
nam từ sau 1884 đã trở nên một nhân tố khách quan hợp lý.


    
Trường hợp Người đầm của Thạch Lam là một ghi nhận chắc chắn.
Không hẹn mà nên, ở chỗ này, Nguyễn Tuân trước 1945 cũng lại gặp Thạch Lam.


   
 Ngay trong chương đầu của Thiếu quê hương,
người ta đã thấy sự hiện diện của mấy người da trắng xa lạ ấy, từ người chủ cửa
hàng mà Bạch làm thuê tới một người lính ngẫu nhiên đến chia sẻ tâm sự với Bạch
như một kẻ tri âm tri kỷ.


    
Hoặc ở đoạn cuối, nhân có một việc cần tác động vào quan chức địa
phương, mà không biết làm cách nào, Bạch liền tìm đến nhà viên công sứ đầu
tỉnh.


   
 Thì ra đây là một người quen cũ
của Bạch. Họ từng  cùng đi trên một
chuyến tàu biển từ Pháp sang Việt Nam.


     
Và cái chính là họ hiểu nhau.


     
Viên quan cai trị này thuộc loại biết người biết của, lại sống có tình.

     So với sự có mặt của những người
Pháp trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng… thì đây
đã là cả một sự thay đổi rõ rệt.


     
Nên đánh giá hiện tượng này như thế nào ?


       Nếu bảo cách nhìn của tác giả trong Bước
đường cùng, Tắt đèn
là hiện thực thì cũng phải nhận Nguyễn Tuân, Thạch Lam
có cái lý riêng của mình. Đó là một phương diện của đời sống xã hội trước 1945.
Và các ông cũng hiện thực.



     Phía
tích cực của những yếu tố ngoại nhập
 
Một sự lo ngại chính đáng thường xảy ra khi nghe nói đến Âu hoá: sợ rằng
nói thế rồi dễ sinh ra nông nổi mất gốc.


       Nhưng nếu hiểu Âu hoá là hiện đại hoá và
nhìn lại lịch sử thì thấy ngược lại. Hiện đại hoá đòi hỏi các cộng đồng cũng
như các cá nhân phải nghĩ về mình, chính trong hiện đại hoá mà các chủ thể đó
trở lại với bản thân để tiến hành công cuộc tự phát hiện đầy thú vị.


    
Tức hiện đại hoá không đẩy người ta đi xa dân tộc mà càng trở về với dân
tộc.


 
    Đây chính là một nghịch lý vốn đã được chứng
minh ở các nước châu Âu, nay đến phương Đông vẫn đúng.










      Nhìn vào học thuật (học thuật với nghĩa cái
phần tự ý thức của dân tộc): chỉ từ thế kỷ 20, chúng ta mới có những sự kiểm
kê di sản nghiêm túc để rồi làm nên những bộ sách cơ bản Việt Nam sử lược
(Trần Trọng Kim), Việt Nam văn hóa sử cương (Đào Duy Anh), Văn minh
Việt Nam
(Nguyễn Văn Huyên), Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng
Hàm).


     Điều này càng thấy rõ hơn trong sáng tác
thơ văn.


     Trong việc tạo ra mối thân tình với con
người, văn học tiền chiến có một sự gần gũi hơn hẳn so với văn học cổ điển.
Điều đó một phần là nhờ ở cái bút pháp tả thực mà các nhà văn lúc này có được
qua học hỏi nguyên tắc sáng tác khoa học của văn học phương Tây. Họ viết ngay
về cảnh vật làng xóm quê hương cũng như các thành thị mới hình thành. Họ viết
ngay về những con người họ gặp hàng ngày.



     Ở chỗ này Nguyễn Tuân có cách làm
riêng.


     Trong khi nét
đặc sắc của nhiều nhà văn tiền chiến xuất sắc là phong cảnh con người nông
thôn thì Nguyễn Tuân tập trung nhiều hơn vào đời sống thị thành từ Hà Nội tới
Hải Phòng Hòn Gai. Rồi theo bước chân của Nguyễn, qua các tùy bút, chúng ta
còn có dịp đến với Huế, Cửa Đại và vào tận Sài Gòn.


     Có thể nói,
trước 1945, không có một nhà văn nào làm được cái việc có mặt trên khắp ba
miền đất nước và sống với nhiều vùng đô thị như ông Nguyễn.


       Trong
khi xê dịch theo các phương tiện hiện đại và bằng tâm lý của con người  hiện đại, bao trùm  trong Nguyễn Tuân
không
phải là sự luyến  tiếc quá khứ  mà là tình yêu một quê hương  đã đổi mới trong xu thế  của một xã hội công nghiệp.









        Nghĩ lại về những gì quen thuộc   Người ta thường lên án cái việc ham
đi  nơi Nguyễn cũng như  Bạch, xem đó là một hành động hưởng thụ
cá nhân  của kẻ vô công rồi nghề.
Nhưng mọi
chuyện có thể được nghĩ khác.
Quê hương là cả đất nước chứ không phải cái xóm nhỏ đầu làng; ham xê dịch
chẳng những không phải là xấu mà nên coi là một thói quen cần được khuyến
khích.



     Xê
dịch một cách lành mạnh như Bạch còn mang lại cho nhân vật cả những mới mẻ
trong cách nghĩ. Bạch thường lấy quan niệm về sự xê dịch làm tiêu chuẩn gốc
để đánh giá con người. Từ đó, Bạch tỏ ra đặc biệt dị ứng với thói quẩn
quanh xó nhà .


      “Đi với người dân thường là một
điều khốn cực, là một cục gạch ném vào hạnh phúc, và cái đời yên nhàn. 


     Về
việc đi, trong ngôn ngữ dân gian có những thành ngữ đê tiện, đại để như
những câu "Sểnh nhà ra thất nghiệp", "ăn mày xuất tàu",
"chạy tiền ăn đường".


      Người động ra tàu là có bao nhiêu người
than khóc ầm lên chạy theo như chạy theo linh cữu
…”. 


      Thói ngại đi của người Việt được Bạch
"gọi mặt chỉ tên" không thương tiếc như vậy


  


       Những
sự từ bỏ quyết liệt
  Từ chuyện xê
dịch nhìn rộng ra, con người xem xét đánh giá lại tất cả.


      Có chỗ, một nhân vật trong Thiếu
quê hương
bảo: xứ mình tẻ lắm ngài nhỉ; có chỗ nhân vật khác lại thoáng
nghĩ đại khái trình độ đương thời là trình độ bán khai. Đến Hòn Gai, Bạch
thấy ở đây đất đen mà lòng người thì trắng. Ở Hải Phòng, Bạch thấy
"cái gì mà người ta sống như ăn cướp và nhà gạch mọi phố thì cái nào
cũng giống cái nào".
Trong một đoạn văn ngắn ở cuối sách, dự một buổi
việc làng Bạch đã nhận ngay ra chân tướng những người nông dân, vừa tham
lam vừa thiển cận, lúc ngồi giữa đám đông bài bây, làm bậy đấy rồi lại khóc
lóc hèn hạ ngay đấy.




      Cùng phụ họa với Bạch, nhân vật
Hòa cũng thấy chung quanh quá tầm thường. Đây là một đoạn Hòa nghĩ khi đi
bên cạnh Bạch:



      "Nàng ngắm mình, ngắm trộm
Bạch, tự cảm thấy rằng hôm nay có hai người đại lữ khách đang đi qua thành
phố Hà Nội nhỏ bé. Một nỗi kiêu căng ngập lòng Hoà, tràn lan ra ngoài. Rồi
nàng lại chỉ muốn làm một cô gái rất bé nhỏ bên cạnh một người anh tên là
Bạch rất ngang tàng trong điềm đạm, đang có bước đi bộ bất chấp cả đến tất
cả chung quanh, từ một cái ôtô rẽ ngoặt bóp liền hai ba thứ còi cho đến một
cái tàu điện lù lù và nghênh ngang mãi ở giữa phố. Không hiểu anh Bạch anh ấy đang nghĩ gì chứ trong lòng Hoà
thì Hoà thấy khinh bỉ Hà Nội quá chừng. Hà Nội trông xấu quá. Có đi sang
đến bên kia một cái cái bờ Thái Bình Dương rồi khi trở về mới thấy cái kinh
thành sinh trưởng của mình là bủn xỉn"
(cuối chương 28).


      Cách nói có phần quá quắt. Nhưng đằng sau
đó là gì nếu không phải là tình yêu tha thiết với đồng bào xứ sở, muốn cho
người mình xứ mình tiến nhanh lên để đạt tới trình độ hiện đại.

    


    Cách
hiểu khác đi về lòng yêu nước
. Để hiểu cái tâm lý thúc đẩy một ngòi bút
sáng suốt như Nguyễn Tuân viết ra những đoạn văn như trên, chúng tôi muốn
tham khảo cách nhìn một nhà văn đầu thế kỷ XXI.




    Vidiahar S. Naipaul đoạt giải
Nobel Văn chương 2001. Ông viết bằng tiếng Anh mặc dù vốn là người quốc gia
có cái tên lạ là Trinidad và Tobago, một hòn đảo nhỏ trên Ấn Độ Dương. Đây
là một đoạn ông trả lời phỏng vấn:




    Hỏi:
Trong lời đáp từ sau khi nhận giải Nobel, ông đã cảm ơn
nước Anh ngôi nhà của tôi và Ấn Độ đất nước của tổ tiên ông. Vì sao ông
không nhắc tới Trinidad, nơi ông sinh ra và sống đến 18 tuổi, và cũng là
nơi tạo hậu cảnh như những tiểu thuyết đầu tiên của ông?




    Trả lời
: Vì sao tôi lại phải làm điều đó. Những cuốn sách đó là
do tôi viết, chứ không phải Trinidad và Tobbago. Trinidad chỉ là nơi cung
cấp tư liệu cho tôi. Nếu không có nước Anh tôi cũng không thể hiểu được
những gì mà tôi đã trải nghiệm tại Trinidad. Ở đó người ta không được học
gì về nguồn gốc lịch sử của hòn đảo này.




     Ở nhiều nước cũng vậy mà ở ta
cũng vậy, lòng yêu nước thường có hai nghĩa chính:


     một là lòng yêu những gì thuộc về làng xóm
quê hương với nghĩa một không gian hẹp và những gì quen thuộc từ thời thơ
ấu.


      Và hai là lòng căm thù những thế lực
ngoại bang đến xâm lược đất nước.


    (Bởi hiểu như thế nên giờ đây người ta
thường chỉ tìm thấy lòng yêu nước rõ rệt trong văn học Việt Nam từ 1932 về
trước. Còn đối với văn học tiền chiến, mặc dầu coi đây là một giai đoạn
chín đẹp bậc nhất của văn học dân tộc, song khía cạnh này ít được nói tới).


      Câu chuyện của Naipaul cho thấy những gì
đã xảy ra trong tâm lý con người hiện đại. Tính công dân thế giới mang lại
cho họ một cách suy nghĩ mới. Và bởi lẽ Naipaul được tặng giải Nobel nên
có thể nghĩ đây là cách nghĩ được thế giới đương đại chấp nhận, coi là cách
nghĩ hiện đại đáng khuyến khích
.


      Về phần Nguyễn Tuân, phải ghi nhận là
ngay từ thời ấy mà ông đã có được cái cách nghĩ tương tự. Khả năng tự ý
thức chính xác về mình, về cộng đồng mình, kèm theo đó là óc phê phán, là
một cái gì đến nay chúng ta vẫn phải bảo nhau bồi đắp.




      Hai cách nhìn. Hai mảng văn học
lớn
Với tư cách là một sự kiện đóng
vai trò chi phối lịch sử Việt Nam, công cuộc hiện đại hoá nửa đầu thế kỷ 20
được phản ánh thành hai mảng sáng tối khác nhau.


        Mảng thứ nhất là dòng của Ngô Tất Tố,
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng… Theo họ, hiện đại hoá làm hỏng xã hội,
làm hỏng con người. Nó cần bị kết án. Đây là một thứ vô thức tập thể cùng
lúc chi phối nhiều nhà văn lúc ấy.


        Trong khi đó, Tự lực văn đoàn và
phong trào Thơ mới toát lên một cách nhìn nhận có xu hướng khác. Với họ,
hiện đại hoá là tốt là khiến cho xã hội và con người tốt hơn, cần được ca ngợi.


       Từ Xuân Diệu tới Hàn Mặc Tử, và ngay
cả ở Nguyễn Bính nữa, người ta đều bắt gặp nỗi ham hố của con người muốn
nhập vào những biến chuyển đang xảy ra trên thế giới rộng lớn và sẵn sàng
sống khác với cuộc sống hôm qua mình đã sống.


       Gọi họ là lãng mạn cũng được .


        Nhưng chớ nên quên đó là một thứ
lãng mạn tích cực, và có ý nghĩa hiện thực, hiện thực trong việc nắm bắt
cái tinh thần cơ bản của cuộc sống chứ không phải những chi tiết bé nhỏ lặt
vặt.


      Cách nhìn của Nguyễn Tuân là một bộ
phận tiếp tục của cái mảng thứ hai này.


      Tiếp tục và nâng cao lên một bước.

      Trong Vang bóng một thời,
lần đầu tiên quá khứ của xã hội Việt Nam được xem xét và ghi chép từ một
cái nhìn hiện đại. Quá khứ có đẹp nhưng là một vẻ đẹp tàn tạ, một vẻ đẹp
một đi không trở lại. Còn trong Thiếu quê hương và các tùy bút,
trước mắt chúng ta là một cuộc sống đang phát triển với tất cả cái năng
động có thể có của một cuộc vận động hợp quy luật. Tác phẩm có sự vượt lên
lối mòn bảo thủ để khai thông về mặt tư tưởng.




      Sự dang dở rất hiện thực Đọc xong Thiếu quê hương, cảm
giác còn lại trong nhiều người có thể là những ngổn ngang dang dở. Dang dở
trong xã hội: dù có sự vận động tiến lên, bóng tối của quá khứ còn dầy đặc.
Dang dở trong kiếp người, các nhân vật chính vừa là cũ vừa mới, mọi thứ ở
họ chồng chéo lên nhau, chẳng cái gì thắng mà cũng chẳng cái gì thua.


       Đoạn cuối Thiếu quê hương gợi ra
cảm giác của một sự bế tắc, hình như viết đến đấy, tác giả không biết cho
câu chuyện kết thúc ra làm sao, đành gượng gạo cài vào một tình thế bất ngờ
rồi viết quấy quá vài câu cho xong.


      Nhưng đây không phải chỉ là vấn đề
của nghệ thuật.


      Sự bế tắc ở đây có nguyên nhân  là ở tình thế của xã hội.


      Xã hội không cung cấp giải pháp cho
khao khát thay đổi ở các nhân vật.


      Nhưng khách quan mà xét điều này một
lần nữa lại xác minh cái nhận xét của chúng tôi rằng đằng sau câu chuyện xê
dịch, Thiếu quê hương đã phác họa khá chính xác chân dung con người
thời đại.


       Nguyễn Tuân rất hiểu xứ sở và rất
đồng tình với phương hướng phát triển của xứ sở.Tác phẩm của ông là một
bằng chứng mà người ta còn có thể khai thác khi muốn tìm hiểu xã hội
trước1945, từ đó mà tìm hiểu cái quá trình lớn diễn ra trên đất nước này
trong cả thế kỷ 20.


       Tôi muốn nói rằng nay là lúc bạn đọc chúng
ta nên đọc lại Nguyễn Tuân tiền chiến; trong thời điểm của không khí mở
cửa, chúng ta sẽ thoát khỏi những định kiến mấy chục năm nay để tìm thấy sự
gần gũi dễ dàng với các nhân vật và nhận ra sâu xa đâu là đóng góp của nhà
văn trong việc ghi chép lịch sử.





 Đã in báoVăn Nghệ 14/1/06,



 Bản trên blog lần này có thêm nhiều sửa chữa
và bổ sung





Nguyễn Tuân và quá trình hiện đại hoá xã hội Việt Nam thế kỷ XX: trường hợp truyện dài Thiếu quê hương


Trong
đờì mình Nguyễn Tuân chỉ một lần viết truyện dài. Thoạt đầu tác phẩm được gọi
Thiếu quê hương, và in nhiều kỳ liên tiếp, trên báo  Hà Nội tân văn, từ 2-1-1940 trở đi (tờ báo
này do Vũ Ngọc Phan “lo phần bài vở” thực tế cũng là một thứ chủ bút).


Đến
năm 1943, cuốn truyện được nhà xuất bản Anh Hoa cho in thành sách, song
lại chỉ mang tên Quê hương  (bỏ chữ
thiếu).


 Các nhà nghiên cứu văn học thành thạo về giai
đoạn này cho biết Nha kiểm duyệt bỏ chữ  thiếu
cho khỏi “sái”, mọi tác phẩm ra đời lúc này phải phù hợp với tinh thần “Cần
lao, gia đình, Tổ quốc” của chính quyền Pháp lúc đó  do thống chế Pétain đứng đầu.




         Trước 1975, tác phẩm từng được nhà xuất bản Trường
Sơn
ở Sài Gòn in lại và vẫn giữ tên Quê hương.


   
     Cho đến khi ông Nguyễn qua
đời (1977), Thiếu quê hương chưa một
lần được in lại ở Hà Nội.


         Mãi tới 1997, người viết bài này mới làm việc
với Nxb Hải Phòng để in lại tập sách
theo đúng nguyên bản của nhà xuất bản Anh
Hoa.
Cũng vì theo bản Anh Hoa này,
nên tác phẩm vẫn được gọi là Quê hương.


        Trong
lần xuất bản ấy, chúng tôi đã có bài giới thiệu đặt đầu sách mang tên Con người Nguyễn Tuân qua một số sáng tác
trước 1945
, sau này có lúc  đổi là Nguyễn Tuân như một con người thời đại
in vào tập Nhà văn tiền chiến và quá
trình hiện đại hóa văn học.


       Về tác phẩm quan trọng này, chúng tôi
còn có bài viết sau đây đã in một lần trên báo Văn Nghệ 2006, nay mới sửa chữa và in lại. Chủ ý của chúng tôi
trong bài là muốn nhấn mạnh mối quan hệ giữa Nguyễn Tuân với thời đại. Ông khao
khát nhập mình vào thế giới hiện đại. Đây là một định hướng sống phù hợp với xu
thế của lịch sử.


     
 Thông qua trường hợp Nguyễn Tuân,
chúng tôi hy vọng phát hiện thêm những giá trị văn học tiền chiến, mà một thời
chúng ta bỏ quên. Việc làm nghèo những giá trị này đã xảy ra ngay với những
nhân vật tưởng đã rất được ngưỡng mộ như Nguyễn Tuân. 




   


                       Những con người tập sống một cuộc sống khác





    Nhân vật tên Bạch   Nhiều nhà văn Việt
Nam họ Nguyễn, song nói đến chàng Nguyễn, cụ Nguyễn, nhiều người trong giới
viết văn nghĩ ngay đến Nguyễn Tuân.


    
Chính tác giả góp phần tạo ra thói quen đó. Bởi một trong những cuốn tuỳ
bút hay nhất của ông mang tên Nguyễn và nhân vật gần như độc nhất ở đó
được gọi là Nguyễn.


    
Nhưng nhà văn còn sống với một cái tên nữa là Bạch, cái tên ông dùng để
gọi nhân vật chính của cuốn truyện dài duy nhất của mình là Thiếu quê hương (1940).
Có thể nói ngay trong văn học tiền chiến cũng hiếm thấy một nhân vật có đời
sống tinh thần phong phú và cao đẹp như Bạch.




    Khoảng 1955-1956, mấy năm Hà Nội
trong vùng Pháp chiếm mới trở về với các lực lượng cách mạng (tiếng hồi ấy gọi
là tiếp quản), cũng là đoạn cuối Nguyễn Tuân đảm nhận vai trò Tổng thư ký Hội
văn nghệ Việt Nam. Trên tờ Văn nghệ chuyển từ tạp chí ra hàng tháng sang
thể tuần báo, Nguyễn Tuân đã viết nhiều bàibáo nhỏ, ký tên là Bạch.


    
Hồi còn Liên Xô, Nguyễn Tuân có một người bạn là nhà văn Xô viết M.Tkachev,
ông này khi tỏ ra thân mật thường hay gọi Nguyễn Tuân là cụ Bạch.

      Trong tùy bút Trang hoa viết
những năm sáu mươi cũng có dẫn lời một người lấy tên là Bạch. Bạch với Nguyễn
tuy hai mà một.




     Từ
Nguyễn đến Bạch
  Thiếu quê hương
vốn không được các nhà nghiên cứu văn học chú ý. Họ cho là Nguyễn Tuân thạo về
tùy bút ngắn chứ không thạo về truyện dài.


     
Song không nên quá bận tâm tới những quy tắc tiểu thuyết phải thế này
tiểu thuyết phải thế khác. Sự thực cuốn sách là một dạng tổng hợp các nhân vật
và hoàn cảnh trong tùy bút Nguyễn Tuân. 
So với nhiều tiểu thuyết gọi là hiện thực đương thời nó vẫn bao trùm
được một cuộc sống với bề rộng  và bề sâu
mà chỉ những tác giả có tầm trí thức hiện đại mới đạt tới.


     
Nếu trong các bài tùy bút ngắn (lúc đầu rải rác in báo sau tập hợp lại
thành các tập Tùy bút I , IINguyễn), nhà văn này đã rất tài
trong việc khai thác mọi ngóc ngách tâm hồn các nhân vật, từ đấy giúp người đọc
nhận ra bóng dáng thời đại thì đến Thiếu quê hương những yếu tố thời đại
lại được ngưng kết trong một lãng tử cụ thể.


   
Bạch cùng lúc tập trung trong mình những mối quan hệ xã hội khác nhau.
Nhất là Bạch được đặt trong một không gian rộng lớn và hết sức đa dạng. Hai chữ
"quê hương" hiện ngay trên tên sách không chỉ có nghĩa cụ thể nơi
chôn rau cắt rốn. Mà nay nó có nghĩa là
môi trường tồn tại, là xứ sở, cái hoàn cảnh thân thiện cần có cho sự phát triển
hết tầm vóc của con người.





 


    
Những kinh nghiệm sống mới mẻ Nét đặc biệt đầu tiên làm thay đổi
ấn tượng về nhiều nhân vật trong Nguyễn Tuân cũng như của chính ông thời tiền
chiến là những mối quan hệ xã hội. So với con người xã hội Việt Nam trung đại,
họ rộng hơn phong phú hơn nhiều.

     Người Việt vốn ít đi xa. Cô Mai
trong Nửa chừng xuân và Thị Mịch trong Giông tố giống nhau ở một
điểm: họ đều mới từ quê ra Hà Nội.


   
Chị Dậu còn ít có may mắn hơn họ: chị chỉ lên tới phủ, đúng hơn là vào
sống làm vú nuôi ở dinh quan phủ.


    
Ông giáo Thứ của Nam Cao trong cuộc kiếm sống tạm thời một chân đặt lên
Hà Nội chân kia vẫn để quê nhà.


    
Ngay Tô Hoài cũng chỉ biết một Hà Nội ngoại ô trong khi khá xa lạ với đô
thị Hà Nội chính cống, Hà Nội trung tâm của mọi vấn đề sôi động của cả đất
nước.




     Trước mắt chúng ta, trong Thiếu
quê hương
, Bạch nổi lên như một nhân vật có tầm hoạt động rộng rãi. Nếu có
điều gì khiến Bạch tự hào nhất thì đó là niềm tự hào chân chính là mình chai
sạn, lịch lãm, từng trải, đã "ăn mòn bát thiên hạ". Vốn vay mượn từ
bên Tầu, song chữ thiên hạ ở đây bao
gồm cả cáí đời sống theo kiểu Tây phương.


   
Bạch lại có một nghề lạ là nghề thuỷ thủ viễn dương để đi nhiều nước.
Tiếp bước chân Bạch còn có Sương bạn Bạch, có Phối em Bạch.


   Trong
văn học Việt Nam, kể cả văn học hiện đại, ít thấy có những nhân vật nào có cái
nghề thú vị và mới lạ đến như vậy. Rồi việc nhân vật Hòa người quen của Bạch đi
dự hội chợ và mang hàng đi bán ở nước ngoài. Rồi việc cả làng Xuân Phả náo động
chờ ngày xuất cảnh mang tích trò của mình sang biểu diễn tận bên Cựu Kim Sơn
tức San Francisco (dù đến những ngày cuối, chuyến đi bị hoãn)...


  
 Có khá nhiều sự kiện hợp cả lại
chứng tỏ cái xã hội bé nhỏ ở Việt Nam đang từng ngày từng giờ vận động để hòa
nhập với thế giới.




    Đây không chỉ là câu chuyện thuộc
nhiều bản đồ địa dư cùng sự ham hố thăm thú đi lại. Cái hơn đời của Bach trong
việc đi nhiều đi rộng rút cục chuyển hóa thành đời sống tinh thần phong phú.


    
Cũng như Nguyễn, Bạch sống theo một nếp sống hiện đại. 


    
So với nếp sống trì trệ vốn ngự trị lâu bền ở xã hội thì đó là một  sự thách thức, một cuộc đảo lộn ghê gớm.


   


    
Thuộc loại người nào?   Con người thành thị. Con người vượt lên sự
kiếm sống  thông thường.  Con người đứng tách ra để nhìn ngắm xã hội. Con ngươi
 suy nghĩ và không quên hưởng thụ đời sống. Con
người thừa. Có thể tóm tắt về Bạch như vậy.


    
Giữa đội quân đông đảo của các nhân vật nông thôn trong văn học tiền
chiến, Bạch nổi cộm lên và gây khó chịu một phần vì đây là một nhân vật thành
thị thứ thiệt.


   
 Trước mắt Bạch không có cái ám
ảnh về miếng cơm manh áo như phần lớn các nhân vật của nền văn học bình dân
hiện đại (mà  các nhà nghiên cứu văn học
tiền chiến ở ta quen gọi là văn học hiện thực).


     
 Thậm chí cả cái gò bó của kiếp
sống công chức và những ràng buộc của cuộc sống gia đình mà một số nhân vật Tự
Lực văn đoàn cam chịu,-- nhân vật của Nguyễn Tuân cũng vượt thoát.


       Không cần làm gì mà lúc nào cũng sống
vương giả, Bạch là một thứ con người thừa chỉ có ở các xã hội tương đối ổn định.
Họ chỉ có một việc là suy nghĩ về đời sống.


    
Cái việc thường xuyên vào ga ngắm cảnh người ta lên đường của Bạch thực
ra cũng chỉ là một cách để chiêm nghiệm và thưởng thức những khả năng của xã
hội đương thời trong việc tạo ra những mối quan hệ không gian chưa từng có và
đẩy người ta nghĩ về một thế giới rộng lớn.


  
 Đang ở Hà Nội, thoắt cái Bạch lại
có mặt ở Hải Phòng Hồng Gai.


    
Nhiều nếp sống mà đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, người Hà Nội mới
học theo, như thói quen du lịch, Bạch đã biết từ lúc ấy.


    
Trong lúc bực mình, Bạch lấy rượu ra uống rồi nghêu ngao hát bằng tiếng
ngoại quốc. Với một người bạn thân như Tần, khi có điều gì sâu sắc, Bạch trao
đổi riêng bằng tiếng Tây.


   
Tóm lại Bạch chính là một con người của hiện đại hóa, con người vượt qua
mặc cảm cố hữu để thay đổi và sự thực đã thay đổi một cách hợp lý.




     Những nhân vật tương phản Thạch Lam từng
có một thiên truyện mang tên Người lính cũ trong đó nhân vật chính từng
qua Pháp, lấy vợ đầm, ấy vậy mà rút cục người lính này nghèo túng trở về quê,
xa lạ ngay giữa những người dân làng, đến mức phải ra ở tạm cái quán giữa đồng.


     
Dù chỉ là một truyện ngắn chưa đầy hai ngàn chữ, song Người lính cũ
mang trong nó hình ảnh khái quát một kiểu người không thích ứng được với Âu
hóa.  Tình cảnh của nhân vật rút lại là
hoàn toàn vô vọng.

     Nhân vật Nguyễn Tuân ở trong tình
thế ngược trở lại. Bạch có lúc chán chường mệt mỏi song đó là do quá yêu mà
chán, đi đã nhiều nên mệt, chứ về cơ bản vẫn là một con người lòng đầy ham muốn
-- ham sống, muốn sống thật trọn vẹn.


   
 Trong cái thế của một người sống
cùng cái nhịp với tiến trình Âu hóa, cũng tức là người đi tiên phong của thời
đại, sự hào hứng thấm vào trong mọi suy nghĩ hành động của Bạch: chàng chỉ sợ
bỏ qua cái vận hội mà trước đó xã hội Việt Nam chưa từng biết.


     
 Từ thời còn mồ ma cụ Tú Xương,
người ta đã bắt gặp những nét tâm lý thuở giao thời nó chi phối  con người nước Việt những năm cuối thế kỷ XIX
đầu XX. Trước những ảnh hưởng ngoại nhập, họ thấy sợ hãi vì  biết nó làm mất đi ở mình khá nhiều nếp cũ. Và
họ xấu hổ khi nhận ra mình rất hào hứng đón nhận cái mới.


   
Nay cả xã hội đã vượt qua cái giai đoạn xấu hổ đó, tự thành thực với cái
nguyện vọng muốn thay đổi của chính mình. Cách sống hiện đại là đáng khao khát
vì nó hợp với nhu cầu phát triển tự nhiên của mỗi con người cũng như của cả xã
hội.


   
Và nó hứa hẹn với người ta rất rất nhiều thú vị.





       Đặt mình trong thế giới . Cần nói riêng về 
sự tiếp xúc của các nhân vật với nền văn hóa mới.


  
Không phải ai cũng có dịp vượt đại dương như Bạch, song nhiều người đã
đi Tây mà không cần xuất cảnh, đi Tây ngay trên quê hương, để mình cuốn theo
cái nếp sống phương Tây một cách hào hứng.


    
Dấu hiệu của sự Âu hóa là người ta sử dụng những phương tiện nghệ thuật
ngoại nhập để biểu lộ tình cảm. Mà sử dụng rất tự nhiên rất thành thục.


   
Đây là một công thức ngắn gọn mà trong tùy bút Đẹp lòng Nguyễn
Tuân dùng để diễn tả niềm vui của mình: "Tôi huýt sáo. Tôi hát nhạc
Tây, Tôi ngâm thơ Tầu cổ".


   
Đây nữa,ở chương XXVIII của Thiếu quê hương, sau câu chào của Hòa
"Anh Bạch, trận gió nào đưa anh lại?", tác giả bỏ nhỏ một câu bình
luận: "Câu chào nghe Tây quá và thân quá". Rồi khi nhận ra cái
nếp sống đầm ấm hiện đại trong gia đình mình, nhân vật lập tức liên tưởng
"cách sống như một gia đình bên Pháp" .


   
    Tức là những gì liên quan đến Tây, vốn là của Tây,
theo lối Tây
đã không còn gắn liền với nhố nhăng xa lạ học đòi, không mang
lại khó chịu phản cảm, mà ngược lại được coi là một giá trị.


     
 Từ đây cả quan niệm của Bạch về
cuộc đời đã hình thành.


   
Bạch từng định nghĩa Hoà (một kẻ phân thân của mình) là “người của một
cuộc đời lớn". Chính Bạch cũng là con người như vậy.


     
Bạch biết rằng mình không chỉ là công dân của một xứ sở thuộc địa mà còn
là một thành viên của thế giới rộng lớn (mượn chính chữ của Bạch, "không
chỉ ở ngòi mà còn ở biển" ).


    
Nhân vật hay xục xặc và có lúc được gán cho đích danh một thứ hoài cổ
bảo thủ này, thực ra lại là người trong thâm tâm chào đón cái mới một cách hết
lòng.


 
  Dưới tác động của Bạch, cả những con người
thuộc loại công chức“sáng vác ô đi tối vác về" như nhân vật Tần cũng cảm
thấy không thể chịu được cuộc sống tù túng và luôn tự nhủ “lẽ ra mình phải sống
khác“.


    
 Qua Bạch, người ta nhận ra sức
sống của tư tưởng hiện đại trong lòng lớp trẻ Việt Nam nửa đầu thế kỷ. Khả năng
con người ta nhập vào thời đại, tự đào tạo mình theo khuôn mẫu thời đại. Và
trước tiên là cái nhìn khác đi về mình cũng như về thế giới… Đó là những yếu tố
khiến ta không thể lẫn họ với con người của các thế kỷ trước.




    Một
ghi chú nhỏ
Trở lại với những nhận xét đã làm nên một thành kiến về Nguyễn
Tuân (rằng ông bất mãn, ông quay lưng lại xã hội chung quanh).


    
Ở đây có một điều thú vị --  sở dĩ
cái huyền thoại đó về Nguyễn Tuân kéo dài một phần chính vì ông cũng tham gia
vào việc xây dựng nó.


     
Trên các trang viết ông tự khuếch trương tô đậm, tức tự tố cái chất cá
nhân ở mình lên một cách quá đáng, tự xỉ vả tự chỉ trích quá nhiều.


     
Song tình yêu với "cuộc sống mới" vừa hình thành đã nằm rất
sâu trong tâm tình con người khinh bạc này và mặc dầu có thể chính ông cũng đôi
lúc tự ngờ vực  song nó vẫn len lỏi trong
tâm tình ông, tha thiết nồng nàn đến độ chi phối mọi suy nghĩ tình cảm của ông.

      Không
nên cường điệu những bực bội khó chịu nơi ông Nguyễn mà nên ghi nhận nó như một
dấu hiệu tích cực, đơn giản là bởi chỉ ở những người có mối liên hệ rộng lớn
với thời đại mới có thể có những đay nghiến dày vò nó, cãi cọ với nó --thời đại --như Nguyễn đã
tự miêu tả.




(còn tiếp)