Wednesday, May 15, 2013

Hội chứng “ít chịu học hỏi” “ tự mình mê mình” ở người Việt




      Nhiều người Việt sống ở nước ngoài đã chia sẻ
với chúng ta cảm giác thương mến nhớ nhung khi xa Tổ quốc. Nhưng bên cạnh đó,
những ngày gần đây,  người trong nước  còn nhận được những lời tâm sự kín đáo và
những suy nghĩ thâm trầm .


       Như
trường hợp Vĩnh Sính giáo sư đại học Alberta, Canada. 


      Tập
sách Việt Nam và Nhật Bản -- giao lưu văn
hoá
(1) của ông có nội dung khá phong phú.




       Có
bài khái quát Vị trí lịch sử của Trung
quốc đối với Việt Nam và Nhật
Bản
hoặc đề cập tới Trục giao lưu văn hoá
Nhật Bản Trung quốc Việt Nam vào đầu thế kỷ XX.


       Có
bài giới thiệu về các nhân vật của lịch sử Nhật như Fukuzawa Yukichi và Asaba
Sakitarô .


        Có
bài so sánh những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ với những đề án có tính
cách khải mông của những học giả trong hội trí thức Meirokusha.


        Điều
đáng nói là ở đó người ta bắt gặp mấy đoạn ghi nhận về một khía cạnh còn đang
ít được nói tới trong tâm lý dân mình , nhưng lại rất thiết yếu với công cuộc
hội nhập đang được khởi động .


        Lời nhắn nhủ của Vĩnh Sính bộc lộ trong
ba trường hợp :


      1/ Thiên kỷ III đang mỉm cười là mấy trang
sổ tay, ở đó Vĩnh Sính chỉ kể lại ít điều ông ghi nhận được từ một hội nghị văn
hoá châu Á tổ chức ở Hàn quốc vào tháng 11-1998.


       Khi
bàn về giáo dục, trước hết ông nhắc lại ý kiến của học giả Trung quốc Hà Phương
Xuyên là để vươn lên tầm thời đại, các dân tộc châu Á cần chuẩn bị hành trang
cho cuộc giao lưu văn hoá.


        Rồi
ngay sau đó ông dừng lại khá kỹ ở một thứ chủ nghĩa quốc gia văn hoá, hay gọi
đích danh ra là một thứ “chủ nghĩa sô-vanh văn hoá ” cần phê phán.


       Nguyên
đây là một ý trong bài phát biểu của giáo sư Hàn quốc Park Seong Rae bàn về Hội
chứng độc lập (independence syndrome) hay nói nôm na là “ bệnh độc lập ” của
đồng bào mình. Theo Park Seong Rae “ nếu người Hàn quốc càng nhấn mạnh độc
lập văn hoá của nước họ đối với các nước láng giềng ( Nhật Bản và Trung quốc )
-- chẳng hạn như cảm xúc nghệ thuật độc đáo của người Hàn quốc -- thì chính bản
thân họ lại càng phải chịu thiệt thòi nhiều hơn ” (tr 336).


      Liên
hệ tới Việt Nam, Vĩnh Sính viết “ Hội
chứng độc lập trong con người Việt Nam cũng khiến đa số chúng ta thiếu tinh
thần tiếp thu những điều hay cái lạ của các nền văn hoá khác, đồng thời chỉ
thích nói về những gì hay ho ưu việt trong văn hoá Việt Nam hơn là nói ra những
khuyết điểm của mình để sửa chữa. Hội chứng độc lập cũng khiến ta thiếu tinh
thần khách quan khi buôn bán làm ăn hay giao lưu với nước ngoài, chỉ biết mình
nhưng không biết người
” ( tr. 337).


      2/
Bài viết về Shiba Ryôtarô ( 1923-1996 ) giới thiệu một trong những tác giả đại
diện cho nước Nhật và một trong những người viết sử có ảnh hưởng nhất ở Nhật.


       Ông
này có viết riêng một cuốn sách phân tích quá trình lịch sử Việt Nam. Theo ông
ở Việt Nam, “ làng xã vẫn là một đơn vị xã hội có tầm quan trọng hơn nhà nước
“(tr 280), và đó là một nhân tố gốc, nó quy định trình độ phát triển của xã hội
Việt.  Theo tôi hiểu  ý  nhà
viết sử này muốn nói  là  tình trạng lộn ngược đó (  làng quan trọng  hơn nước), là bằng chứng về tình trạng lạc
hậu rõ rệt của cộng đồng mà chúng ta đang sống.


    Trên
đường đi vào tâm lý dân tộc, nhà nghiên cứu Nhật cho là người Việt có một số căn bệnh chưa biết bao giờ mới chữa nổi, như cái
tình trạng thiếu tinh thần hợp tác với nhau để làm việc chung
.


     Đặc
biệt, theo Shiba Ryôtarô, một khuynh
hướng của người Việt là
xem người dân
tộc mình ưu việt so với người dân tộc khác
” ( các tr 288 –289), do đó là một sự cản trở đối với việc học
hỏi và chung sống với thế giới
.


3/ Một dịp khác, Vĩnh Sính dừng lại ở câu chuyện
về một nhân vật của thế kỷ XVII.


     Đó là
Chu Thuấn Thuỷ (1600-1682) một trí thức Trung quốc sống ở thời nhà Minh bị Mãn
Thanh xâm chiếm.


       Trong
quá trình vận động phản Thanh phục Minh, có mấy lần Chu đã lưu lạc sang Việt
Nam.


      Chính
quyền đương thời tức các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã có lúc tính chuyện dung
nạp ông, nhưng việc không thành, về sau Chu sang ở hẳn Nhật, trở thành một trí
thức có công giúp đỡ cho việc đưa nước này vào một giai đoạn hưng thịnh.


       Những
ngày làm việc với người Việt được Chu ghi lại qua tập sách mỏng An Nam cung dịch kỷ sự dịch ra là Ký sự về việc phục dịch ở An Nam , 1657.
(2)


       Dưới
con mắt Chu, xã hội Việt Nam hiện ra với những nhược điểm cố hữu của một cơ chế
khép kín ít tiếp xúc với bên ngoài. Ngay với thế giới Trung Hoa tưởng là quá
quen thì hiểu biết của người Việt cũng rất hạn chế.


       Vừa
gặp Chu, các nha lại địa phương đã giở trò hống hách, bắt người ta lạy, hỏi
người ta bằng cấp gì, và nếu không có bằng cấp thì lập tức rẻ rúng.


       Đúng là cái bệnh quá quê mùa và hay chấp nhặt
mà ngày nay tới thế kỷ XXI, chúng ta còn bảo lưu khá đầy đủ !


       Đến
như những câu chuyện mà các bậc gọi là thức giả bấy giờ quây vào hỏi Chu Thuấn
Thuỷ thì phần lớn cũng là chuyện tầm thường.


       Sự
yếu kém trong đời sống tinh thần của xã hội bộc lộ ở nhiều mức độ.


      Thứ nhất là lối học chỉ hớt lấy những cái lạ mà thiếu cơ
sở học thuật, một sự ngây thơ trong tư duy khiến đương sự phải cười thầm “ Người quý quốc đọc những truyện như Tam quốc diễn nghĩa hoặc Phong thần mà cả tin là thật, cứ đến đây
hỏi tôi hết chuyện này sang chuyện khác mãi không thôi. [Trong khi ấy thì lại
bỏ qua không nghiên cứu những sách kinh điển như Ngũ Kinh, Tam sử ]. Tựa như bỏ vàng ngọc mà chọn gạch đá, nhổ lúa
xanh mà trồng cỏ tranh, không hiểu cái gì phải lấy, cái gì phải bỏ

(tr.393).


      Thứ hai là mê muội vì những trò mà nói theo thuật ngữ hiện đại là văn hoá
tâm linh. “ Nhưng tại sao chư quân tử từ trên xuống dưới lại cứ đến đòi xem
tướng số. Hỏi thật không nhằm chỗ, đến cuối cùng không biết là đã làm nhục Du
(Tức CTT). Người coi tướng, người xem sao đông biết bao nhiêu mà đếm cho hết.
Trong tứ dân (tức sĩ nông công thương -- Vĩnh Sính chú) và chín học phái
(tức cửu lưu : Nho gia, đạo gia, âm dương gia vv… Vĩnh Sính chú ), họ là
hạng người thấp hèn nhất. So họ với nhà nho có đức nghĩa, khác xa một trời một
vực, như đen với trắng, như nước với lửa, hoàn toàn tương phản ” (tr 392).


        Sau
hết, Chu cho rằng xứ này “ tuy là nước
nhỏ, nhưng khí kiêu ngạo, học vấn nông cạn, kiến thức có giới hạn, tuy có thể
tuyển chọn được người tài năng trong nước Dạ Lang của mình, nhưng không tránh
được vẻ ếch ngồi đáy giếng ”
(tr.401).


     Theo
ghi chú của Vĩnh Sính, “ nước Dạ Lang ” nói ở đây là một ẩn dụ, bắt đầu từ câu
chuyện có thật về một nước nhỏ thời Hán, trong giao thiệp với thiên hạ mắc bệnh
hoang tưởng, từng tranh luận với các sứ giả quanh chủ đề “ nước Dạ Lang so với
Trung Quốc bên nào lớn bên nào nhỏ ”. Dạ
Lang tự đại
đã thành một thành ngữ có ghi cả trong các từ điển  Hán—Hán 
phổ thông như Tân Hoa, Tứ giác,
chuyên để chỉ những cộng đồng quen sống biệt lập nên không có ý thức đúng đắn
về vị trí của mình trên thế giới.


      Trên đây là một trong những điều tâm đắc nhất
tôi cảm nhận được khi đọc Vĩnh Sính. Cảm hứng sâu sắc về đời sống tinh thần xã
hội Việt Nam hôm nay đã giúp cho tác giả có cách khai thác lịch sử hợp lý, và
lời đề nghị ông muốn gửi gắm sau các trang viết cũng đã rõ, vấn đề chỉ còn là ở
chỗ chúng ta có chia sẻ và chấp nhận , để rồi cùng bắt tay vào việc đi tìm
những di lụy của nó trong những công việc trước mắt và tìm cách “gỡ rối “… hay
không thôi .



Chú thích


 (1)  (1 ) Nhà xuất bản Văn nghệ TP HCM và Trung tâm Nghiên
cứu quốc học xuất bản , 2001. Những số trang ghi trong bài đều dựa theo bản in
trên


 (2)  (2) Bản dịch
cuốn sách này , do Vĩnh Sính thực hiện đã được Hội khoa học lịch sử VN  cho xuất bản , 1999 , với nhan đề Ký sự đến Việt Nam năm 1657
.





 Đã in
trên TBKTSG 2006


với nhan đề
một căn bệnh gọi là Dạ Lang tự đại





Viết
thêm 15-5-2013


      Trên tinh
thần tự nhận thức vừa được nhen nhóm, chúng ta gần đây hay nói tới những thói
hư tật xấu của người mình như tham lam , gian dối, lười biếng , ích kỷ, trơ
tráo... Suy cho cùng các chứng thoạt nhìn lặt vặt đó cũng có nguồn gốc sâu xa .
Như sự tham lam  sở dĩ nẩy sinh vì con
người ở vào thế  làm ăn kém cỏi, không
thể tự mình thỏa mãn hết những nhu cầu tối thiểu của mình; trong mối quan hệ
với người khác và với cả xã hội chỉ thấy những mối lợi nhỏ. Tham ở người Việt
thường là tham vặt, dấu hiệu của một trình độ phát triển thấp, chứ không phải
những tham vọng lớn của người có tầm nhìn rộng rãi.


     Trong
bài trên, người Việt được mô tả với những thói xấu  trên phương diện quan niệm. Quan niệm của
chúng ta về mình  và chỗ đứng của chúng
ta  trong quan hệ các cộng đồng khác.


     
Trong sự kém cỏi lại loanh quanh trong cái ao nhà , ta ít hiểu biết về
thế giới về con người các dân tộc khác nói chung. Đến khi tiếp xúc với họ
ta  có phần ngợp. Để tự trấn an ta đành
chọn lối kiêu ngạo, trưng ra những 
cái  mà mình cho là ưu việt của
mình để lòe người một phần mà cũng là để tự dối mình.  Rồi 
tự  cho mình  là đứng cao hơn cả so với người các dân tộc
khác. Và xem ai không nhìn mình như thế tức là những người không có thiện chí,
thậm chí là thù địch.


      Như Vính Sính đã  gọi đích danh, đó phải gọi là một thứ "chủ nghĩa sô -vanh " trong văn hóa cần phê phán


       Cần nhấn mạnh là cách
nghĩ này kéo dài trong lịch sử và đến thời hiện đại lại càng phát triển với
những sắc thái tinh vi hơn và ra vẻ có lý hơn.


     Trong
hoàn cảnh của một quốc gia muốn vượt ra cái bóng của nước ngoài  để dành độc lập, tinh thần đó là cần thiết và
tạm chấp nhận được.


      Nhưng cứ kéo dài mãi như hiện nay lại thành ra
lố bịch.


    Và như
tác giả Nhật ở trên đã nói, đó là một sự cản trở đối với việc học hỏi và chung
sống với thế giới.

Tuesday, May 14, 2013

“Bệnh gian và tham của người Việt không thể chữa được”



(GDVN) - Người Việt có thói xấu lớn nhất là sợ nói ra cái xấu của mình, ai nói ra cái xấu của mình thì coi người đó là kẻ thù và họ vội gạt đi để lấp liếm: “Tôi không như thế”… Chính “hệ miễn dịch” với cái xấu không còn khiến người Việt không thể phát triển được…” - Đó là nhận định của nhà nghiên cứu, phê bình Văn học Vương Trí Nhàn khi mở đầu câu chuyện nói về tính cách, điểm mạnh, điểm yếu của người Việt trong bối cảnh hội nhập thế giới.





LỜI TÒA SOẠN: Lá thư của một học sinh lớp 4 Việt Nam đường hoàng gửi các nhà lãnh đạo cao nhất Trung Quốc, đã thể hiện rõ khát vọng hòa bình, bảo vệ vẹn toàn chủ quyền và khát vọng làm chủ đất nước, của những công dân tương lai. Những công dân tương lai này sẽ tiếp bước những cái tên đã trở thành huyền thoại trong giới khoa học toàn cầu như Ngô Bảo Châu. Tên của doanh nhân Phạm Nhật Vượng được xướng lên trong danh sách tỉ phú thế giới của Forbes, đã chứng minh khát vọng của nhiều doanh nhân thời đại mới muốn góp phần đưa nước Việt sánh vai các cường quốc 5 châu.



Đặng Lê Nguyên Vũ muốn Trung Nguyên vượt qua Starbucks ngay tại Hoa Kỳ trên con đường chinh phục vị trí lãnh đạo ngành cà phê thế giới; Hai CEO của Vingroup và Viện nghiên cứu phát triển giáo dục Việt Nam là Lê Thị Thu Thủy và Giản Tư Trung lọt vào danh sách những nhà lãnh đạo trẻ toàn cầu; Hai nữ yếu nhân của Vinamilk và Dược Hậu Giang là Mai Kiều Liên và Phạm Thị Việt Nga lọt danh sách 50 nữ doanh nhân quyền lực nhất Châu Á… tất cả đều là minh chứng hùng hồn của những khát vọng Việt đang trỗi dậy mạnh mẽ trên trường quốc tế.



Nhưng như vậy đã đủ cho một nước Việt hùng cường?



Để cổ vũ, phát hiện và tôn vinh cho khát vọng ấy, Báo điện tử Giáo dục Việt Nam chính thức mở chuyên 


Vương Trí Nhàn là nhà nghiên cứu, phê bình văn học từng gây tiếng vang lớn nhất và được dư luận biết đến nhiều nhất với hàng loạt bài viết đăng tải trên báo Thể thao – Văn hóa nhiều năm về trước về chủ đề: “Thói hư, tật xấu người Việt”. Khi đó mỗi bài viết của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn đều là nghiên cứu, tập hợp những nhận định, góc nhìn của giới trí thức, học giả Việt Nam đầu thế kỷ XX về dân tộc mình.
Dù sau những bài viết này của ông có rất nhiều ý kiến đánh giá, nhận định trái chiều. Nhưng có một điều ai cũng thừa nhận là ông dám nói thẳng, nói thật những tồn tại, những tật xấu mà ai cũng có thể bắt gặp đâu đó của người Việt. 

 mục “Vì Khát vọng Việt” từ tháng 5/2013. Chuyên đề đầu tiên sẽ là: Người Việt “mạnh” hay “yếu”?



Để có cái nhìn đa chiều, bài đầu tiên (dưới đây) xin được nói về những tật xấu, điểm yếu khổng lồ của người Việt qua góc nhìn của nhà nghiên cứu văn hóa, phê bình Vương Trí Nhàn.



Bài 1: “Bệnh gian và tham của người Việt không thể chữa được”



Người Việt có thói xấu lớn nhất là sợ nói ra cái xấu của mình, ai nói ra cái xấu của mình thì coi người đó là kẻ thù và họ vội gạt đi để lấp liếm: “Tôi không như thế”… Chính “hệ miễn dịch” với cái xấu của không còn khiến người Việt không thể phát triển được…”.



Đó là nhận định của nhà nghiên cứu, phê bình Văn học Vương Trí Nhàn khi mở đầu câu chuyện nói về tính cách, điểm mạnh, điểm yếu của người Việt trong bối cảnh hội nhập thế giới.



Người Việt không thể phát triển vì… quá nhiều thói xấu



Nhắc đến nhà nghiên cứu, phê bình văn học Vương Trí Nhàn, không ít người Việt vẫn “cay cú” ông vì cái tội “vạch áo cho người xem lưng” khi nêu rõ tuốt tuồn tuột những thói hư tật xấu của họ qua những tác phẩm văn học, tác phẩm báo chí và qua chính phát ngôn của ông trong cuộc sống hằng ngày.



Dẫu biết, nêu lên những thói xấu là để cảnh tỉnh, để ai đó thấy bóng dáng của mà “tránh đi, thay đổi đi” và quan trọng là giúp người Việt nhận ra những điểm yếu để sửa chữa trong bối cảnh hội nhập với thế giới nhưng theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, làm được điều đó là không dễ, như thể con kiến đối đầu với một tảng núi.



Gần 10 năm, kể từ khi bài viết đầu tiên về thói xấu của người Việt được công khai trước dư luận, đến nay khi ngồi nói chuyện với ông, nhắc đến chủ đề này, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn vẫn lặng lẽ nói: “Hệ miễn dịch” của dân mình với thói xấu đã không còn nên không thuốc gì chữa trị được”. Với ông điều đó rất nguy hiểm, vì nó làm người Việt, nhất là người Việt trẻ không tiến lên được.



Là người yêu văn học Nga, câu nói của nhà văn Sêkhôp: Một con người sẽ tốt hơn nếu ta nói cho anh ta

biết anh ta là người thế nào... chính là “đòn bẩy” để nhà phê bình Vương Trí Nhàn tập hợp lại tất cả những nghiên cứu thói xấu của người Việt từ trước đến nay của ông với mong muốn chia sẻ, mỗi người hãy nhìn lại mình để tốt hơn.



Từ sự đúc kết ấy, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn nhận định: Người Việt bây giờ nhiều thói hư tật xấu hơn nhiều so với trước đây.



Với nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, cái xấu nhất của người Việt chính là ghét những ai nói ra cái xấu của mình. Ông cho rằng người Việt chỉ thích được người khác khen. Ngay cả khi người khác chê mình hợp lý, họ cũng thấy khó nghe.



Theo ông, người Việt không thể phát triển vì… quá nhiều thói xấu.



Chính từ thói xấu này theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, kéo theo người Việt lại nặng óc hư danh và sống không có lý tưởng. “Trước đây ông Phạm Quỳnh từng nói: Dân ta là dân rất hiếu danh, mà hiếu hư danh, tật đó dẫu người nông nổi xét xã hội mình cũng đủ biết. Từ trên xuống dưới từ thấp chí cao, từ anh khố rách trong làng cố cầu cạnh cho được chức trương tuần phó lý để được người ta khỏi gọi là bố đĩ, bố cu cho đến bậc phú hào nơi thành thị thi nhau mà mua lấy tiếng ông bá. ông hàn để ra mặt thượng lưu trong xã hội. Cậu cả, cậu hai luồn lót hàng chục, hàng trăm để được gọi là thầy thông thầy phán… hết thảy đều như có cái ma lực nó run rủi, phải cố chuốc lấy chút danh tiếng hão mới mãn nguyện”, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn nói.



Cũng bàn đến thói xấu nhất người Việt là ghét ai nói cái xấu của mình, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn cho rằng một phần vì cái tính tự ái của người Việt. Ông rất thích và tâm đắc hai câu thơ của nhà thơ Tản Đà: “Dân hai lăm triệu ai người lớn/Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”. Theo ông dân mình “trẻ con” lắm, thích khen, ảo tưởng rất nặng trong tâm lý.



Vì tính “trẻ con” nên hay tự ái, cứ khen thì vỗ tay vào còn hễ ai chê thì bực dọc khó chịu và chối ngay theo cách: “Tôi không như thế”… Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn coi đó là thói nói dối, một thói xấu đáng lên án của người Việt hiện nay.



Hệ miễn dịch với thói xấu không còn nên… không có thuốc chữa



Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn thói xấu thứ hai của người Việt không phải là nói dối mà đáng buồn hơn là nhiều người Việt hiện nay không có nhu cầu tự nhận thức, xem lại mình là người như thế nào, đặt mình trong thời gian, không gian cụ thể thì sẽ ra sao.



Một người nước ngoài từng nói: Người Việt ít có khả năng đặt mình vào vị trí người khác. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn cho rằng nhận xét đó rất chính xác, người Việt ta chỉ tri kỷ chứ không tri âm, hai kẻ nói chuyện với nhau như hai người điếc. Tiếp nữa thói xấu người Việt là sự thiếu chính xác trong mọi thứ, thiếu khoa học, thiếu nghiên cứu sống rất bộc phát hồn nhiên.



Nhưng nhìn lại tất cả theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn “cái xấu người Việt có rất nhiều và tựu trung lại một đó là sự tham và gian”.



Từng đi và nghe người nước ngoài nói rằng người Việt Nam gian xảo và tham lam ngẫm lại ông cho rằng đúng vì tham danh, tham lợi nên người ta phải nói dối phải gian xảo với nhau.



Tất cả những thói xấu này theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn sẽ cản trở sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Hơn hết cái thói tự kỷ trung tâm luận, thấy mình là trung tâm, cứ bắt người khác phải theo ý mình. Sự kiêu ngạo quá lớn của người Việt so với thế giới là điểm bất lợi cho sự phát triển của từng cá nhân và của đất nước.



Ví thói xấu người Việt là căn bệnh nan y, theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn nếu là thầy thuốc ông cũng chịu “bó tay” khi được hỏi về phương pháp “điều trị” thói xấu người Việt. Ông cho rằng, thói xấu ở đâu cũng có nhưng người Việt hiện nay thì “Hệ thống miễn dịch với thói hư tật xấu đã không còn nên không thể trị được”.



Q.Tiên-L.Hoàng

Sunday, May 12, 2013

Cần có một thứ sử học khác

































     Từ đầu thế kỷ 20, một quan chức mà cũng là một trí thức
nổi tiếng là Hoàng Cao Khải trong cuốn Việt sử yếu (viết năm 1914)
đã nhận xét rằng bao đời nay, người Việt mình thường tỏ ra thạo sử Trung
Quốc hơn sử Việt. Từ các sĩ phu và quan lại, tình hình này lan ra đến đông
đảo dân chúng.




      Có thể giải thích hiện tượng này bằng
chế độ thi cử ngày xưa. Người ta chỉ cho thi Bắc sử. Và các trường học - dù
là chốn Quốc tử giám của triều đình hay lớp học tự phát của một ông đồ
nghèo ở một làng quê hoang vắng - đâu đâu người Việt cũng hình dung cuộc
đời này qua các trang sử từ đời Trụ Kiệt đến đời Đường Tống...


       Trong khi đó thì bên phần Nam sử, một vài
bộ như Toàn thư, Cương mục, Việt sử
tiêu án, Lịch triều tạp kỷ...
mà ngày nay ta tự hào, thật ra là quá ít
ỏi và chưa bao giờ được mang lưu hành rộng rãi và đưa ra giảng dạy.


       Đến thời chúng ta, tình hình lại đi
theo một hướng khác, nhưng kết cục vẫn như xưa.


        Những bộ sử thời nay do Nhà nước
chỉ đạo biên soạn. Sự định hướng về dân tộc tỏ ra  quá mạnh, thậm chí tôi còn muốn nói thẳng
là lâu nay chúng ta chẳng biết gì đến lịch sử các dân tộc khác, và đó là
một nhược điểm, nó hạn chế ngay sự hiểu biết của chúng ta khi muốn quay về
nhận diện chính mình.


         Thế nhưng tại sao thanh thiếu niên
cũng như nhiều người lớn tuổi vẫn thuộc, và qua phim ảnh, thấy thích sử Tàu
hơn sử ta?


        Nhiều người cho rằng sở dĩ như vậy
là vì người Trung Quốc có nhiều tiền hơn, làm ra những thước phim mùi mẫn
hơn.


        Không, không phải vậy, hoặc lý do
chủ yếu không phải vậy.


        Cái lỗi trước hết là ở chính những
cuốn sử đã viết, trong đó hạt nhân là khái niệm sử mà chúng ta đang sử
dụng.


       Ở những trang sử Trung Quốc, không
chỉ có những ông vua, khi là minh quân khi là bạo chúa chuyên chế, như Càn
Long, như Tần Thủy Hoàng, mà còn có Tào Tháo gian hùng, Bao Công hiểu rõ
tình đời đen trắng, Kỷ Hiểu Lam chăm chỉ học hành, Bạch Cư Dị sau khi đổi
việc quan được dân chúng lưu luyến đưa tiễn...


       Đủ loại sắc thái nhân văn khác nhau
nối tiếp hiện ra trong bộ mặt con người Trung Hoa, được vẽ trong những
trang sử ấy.


     Và đằng sau đó là hình ảnh của cả xã hội
trong suốt chiều dài thời gian mà mặc dù chúng ta khi thì căm ghét, khi thì
ghê rợn, song bao giờ cũng thấy hấp dẫn, đã biết rồi còn muốn biết nữa.


      Quay trở lại với những gì được viết
trong các bộ sử Việt Nam, mà khuôn mặt tiêu biểu thì thấy rõ nhất trong các
sách lịch sử đang dùng ở các trường phổ thông và đại học. Đây tôi không nói
về những gì đã xảy ra trong đời sống lịch sử ngàn năm của dân tộc, tôi chỉ
muốn nói cái nó còn được ghi trong sách vở và truyền tụng giữa các đời.


      Ở những trang sử ta viết cho ta, trên
cái nền là một ít sự kiện nghèo nàn, không có những con người mà chỉ có
những hình nhân với một vài lời lẽ, hành động đôi khi cũng ấn tượng, nhưng
quá  đơn sơ, thô thiển.


      Đọc những trang viết khô khan cằn cỗi
đó, thật không hình dung ra trong hàng chục thế kỷ qua, cộng đồng chúng ta
đã ăn ở, sinh hoạt ra sao, quan hệ với nhau thế nào.


      Lại càng không thể từ đó rút ra những
gợi ý về kiếp làm người của mình hôm nay.


       Bởi những bài học mà người viết sử
gửi kèm chỉ là những kiến thức chính trị nông cạn, hời hợt, đến với người
ta theo lối áp đặt gượng gạo.


       Sức phản cảm mà nó gây ra trong lớp
trẻ thật ra là điều nhiều người đã thấy từ lâu rồi, chẳng qua tất cả cố
tình làm ngơ vì biết rằng vô phương cứu vãn.


      Cái lỗi không phải chỉ là do mấy
người soạn sách giáo khoa. Cái lỗi ở đây là của những người làm sử và những
người đã buộc các nhà sử học phải viết vậy.


        Và suy đến cùng là sự hạn chế, nếu
không muốn nói là nghèo nàn, kém cỏi trong ý thức lịch sử của cả xã hội.


      Vấn đề là ở tư duy lịch sử của người
Việt.


      Chúng ta là một cộng đồng mải chinh
chiến hơn là xây dựng. Trong quá khứ, chúng ta dành quá ít thời gian và tâm
trí để suy nghĩ về chính mình, tìm sự thật về chính mình...


      Đó không chỉ là tình hình có thật
trong cuộc sống của người Việt từ lúc khởi nguyên và kéo dài suốt vài trăm
năm gần đây, mà cũng là của thời đương đại.


     Thời nay, trong hoàn cảnh nước sôi lửa
bỏng của chiến tranh và cách mạng, nền sử học vốn rất còi cọc yếu đuối chỉ
dồn sức vào làm cho được nhiệm vụ trước mắt là giáo dục mọi người sẵn sàng
ra trận, chứ sức đâu mà đáp ứng nổi cái nhu cầu tự nhận thức, cũng tức là
nhu cầu soi lại quá khứ để xác định tương lai.


      Ngay trong cái phần tốt đẹp nhất của
nó, nền sử học mà chúng ta có cho đến hôm nay là một thứ sử học của tồn
tại
mà không phải là một thứ sử học dành cho một cộng đồng muốn phát
triển.
Tóm lại là vậy.


      Cái việc lớp trẻ hiện nay từ chối sử
học thật ra có một tác dụng tích cực. Đã đến lúc chúng ta phải nghĩ tới một
thứ sử khác, sinh động hơn, có hình ảnh con người nhiều hơn. Nghịch lý cuối
cùng chỉ là trong khi những đòi hỏi đã cấp bách lắm rồi, thì những điều
kiện cần thiết không biết bao giờ mới hội tụ đủ.






      


        Đã in TBKTSG  20/10/2011








     Viết thêm 13-5-2013:





     Không riêng gì sử
học, mà toàn bộ học thuật nước ta, cần phải làm khác, nếu nền học thuật ấy còn
muốn vươn tới trình độ hiện đại,  từ đó
có ích cho đời sống.


      “Cần
có một thứ sử học sinh động hơn, gần với 
hình ảnh con người nhiều hơn" – Hai năm trước tôi mới biết đến vậy, nay
thấy nói thế thực là không đủ.


     Trình độ của tôi lúc này không cho phép tôi
phác họa ra một thứ sử học mà chúng ta cần. Tuy nhiên  tôi muốn đề nghị một tiêu chuẩn chủ yếu.


       Trong khi nói về quá khứ, một nền sử học phải
giúp cho con người ngày nay giải thích được khung cảnh trước mắt. Phải thấy được
sự liên tục của tình hình.


      Sự bế tắc hôm
nay là tiếp nối  tình trạng trì trệ triền miên trong quá khứ.


     Những người chèo lái xã hội hôm nay mang trong mình chỗ hay chỗ dở của bộ phận mà ta hay gọi là
giai cấp thống trị quản lý đất nước các thế kỷ trước – thực ra chính họ đã là
tinh hoa của xã hội lúc ấy dù là họ chỉ có thế.


       Cho tới tự nhận
thức của chúng ta về cộng đồng mình, mối quan hệ của chúng ta  như một quốc gia với các quốc gia lân cận…
trên nét lớn vẫn thế.


       Tám mươi năm
thuộc Pháp ta có học được ít nhiều, nhưng rồi mấy chục năm nay, một sự “lại gạo’
lại diễn ra dần dần và chúng ta đang trở nên giống ông cha ta thời trung đại
hơn bao giờ hết.


       Trên đường tìm tới một thứ sử học khác đi—khác
về căn bản  so với những gì sử học hôm nay
đã và đang làm, ngoài việc học hỏi sử học nước ngoài, việc trở lại với sử học của ông
cha cũng đang là việc cấp bách.


         Sử học thời
trung đại ở ta bao gồm hai loại. Có những bộ sử nhà nước như  Đại Việt
sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục... 
Có những bộ
sử do cá  nhân đứng tên  như Việt
sử lược, An Nam chí lươc,, Lịch triều tạp kỷ,  Đại Việt thông sử, Việt sử cương mục tiết
yếu…


      Cả về mặt bao quát  sự kiện chi tiết lẫn trách nhiệm của ngòi bút
và tư cách nhà viết sử nói chung  … các bộ sử xưa  thuộc cả hai loại đó xét ra còn khá hơn sử ngày
nay rất nhiều.

Tuesday, May 7, 2013

Sự nghèo nàn của văn hóa sách ở VN




       Viết về tình trạng của những con đường bảo đảm giao thông đi lại ở nước VN cổ, một nhà nghiên cứu nước ngoài đã dùng đến hai chữ ấu trùng.


       Tôi nghĩ rằng cũng có thể  dùng hai chữ ấy để mô tả tình trạng của sách vở ở ta từ xưa tới nay 


       Gần như dân ta chưa biết làm sách, lại càng không tạo ra được một không gian có ý nghĩa tinh thần cho sách tồn tại và phát triển.   


        Sự nghèo
nàn của văn hóa sách Việt Nam là một căn bệnh kéo dài kinh niên trong lịch sử.






1. Văn hóa Việt Nam
thường được miêu tả qua các phương diện như tín ngưỡng tôn giáo lễ tiết, thi
cử, các ngành nghệ thuật, rồi phong tục tập quán, các nghề thủ công, nhà ở, đồ
ăn thức uống.


     Giở những cuốn lịch sử văn hóa quen thuộc từ Việt Nam văn hoá sử cương (1938)
của Đào Duy Anh, qua Văn minh Việt Nam (1943) của Nguyễn Văn Huyên, Hiểu
biết về Việt Nam
(1954) của P.Huard và M.Durand, không đâu người ta thấy
nói tới nghề làm sách và vai trò của sách trong xã hội.




   Bắt đầu từ quan niệm  Đọc lướt qua các bộ Đại Việt sử ký toàn
thư, Việt sử thông giám cương mục
, thấy những chữ lên ngôi, thiết triều, hạ chiếu, chinh phạt, khởi loạn, rồi ban thưởng,
xướng họa
,... đầy rẫy và lặp đi lặp lại dày đặc bao nhiêu thì chữ sách, đọc sách, soạn sách, dịch sách hiếm hoi bấy nhiêu. Chưa một triều đại nào
trong quá khứ có thời giờ nghĩ nhiều đến sách và coi sách là việc lớn của vương
triều mình.




    Phải công nhận trong khi ghi
chép và phân loại thành tựu văn hóa trong quá khứ, Lịch triều hiến chương
loại chí Phan Huy Chú
đi xa hơn cả. Tác giả đã dành cả một chương mang tên
văn tịch chí ghi lại sách vở các đời.




    Thế nhưng đó vẫn không phải là lịch
sử sách, càng không phải là sự trình bày quan niệm về sách, vai trò của sách vở
trong đời sống của người Việt. Mà lý do chính là vì trong xã hội bấy giờ, những
ý niệm này chưa xuất hiện, tác giả có muốn cũng không làm được.




    Trong khi đó chỉ cần đọc lướt qua
những cuốn lịch sử những nước có nền văn hóa phát triển người ta thấy ở xứ
người, sách đã được quan niệm đầy đủ ra sao và  được dành cho một vị trí như thế nào. Sự ra đời của những cuốn sách
lớn được ghi nhận như những cái mốc lớn lao đánh dấu thành tựu của cộng đồng
trong việc chinh phục thiên nhiên và tự nhận thức về mình, làm chủ cuộc sống
của mình.





    2. Đi vào cụ thể một số mặt trong văn hóa
sách.


   Về kiểu loại sách: Nếu trên phương diện kinh tế, hàng hóa chúng ta sản
xuất ra đã  quá nghèo nàn về mẫu mã và chủng loại thì ở sách cũng có tình trạng
tương tự. Sách được hiểu chủ yếu là các tập thơ tập văn. 


    Trong khi đó, cả ở
phương Tây lẫn phương Đông, xuất bản phẩm có nghĩa rộng hơn nhiều, sách thường
tổ chức theo một hệ thống thể loại chặt chẽ, bao gồm đủ loại từ các biên khảo,
các sách biên niên sử, rồi từ điển và bách khoa thư. Việc làm một cuốn sách một
bộ sách có khi được người ta dành cho cả một đời người.




   Về nội dung sách: Trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam, nhà
nghiên cứu Phan Ngọc, khi tìm hiểu thư mục di sản văn hóa Hán Nôm Việt
Nam đã chỉ rõ trong số 6000 quyển sách tạm gọi là tiêu biểu cho tâm
thức của trí thức Việt Nam trước khi tiếp xúc với văn hóa Pháp, có
quá nửa là sách học để đi thi, các bài mẫu, các sách giảng về các
kinh truyện, các bài thơ phú viết theo lối văn chương hàn lâm mà lại bị làm cho tầm thường đi. 


     Tức theo
Phan Ngọc, đây chỉ là một nền xuất bản phục vụ cho việc học để làm quan! 


       Trong
số 70 quyển thuộc loại nông nghiệp có 9 quyển nói về địa bạ, 4 quyển
về cách kê khai ruộng đất, 5 quyển về đê điều, 18 quyển về việc đóng
thuế, còn lại là nói về các thổ sản. Trong sách về thủ công nghiệp
chỉ thấy nói về tiểu sử các ông thành hoàng các nghề...




 Bảo quản giữ gìn sách: Sau khi
được sao chép ra với số lượng ít ỏi, sách chỉ có cuộc sống ngắn ngủi.


    Ta hay đổ cho nước ngoài - rõ nhất là thời
kỳ quan quân nhà Minh sang đô hộ - tịch thu và tiêu hủy nhiều sách của ta. Song
theo Phan Huy Chú, trước đó sách từng là nạn nhân của những cuộc khởi nghĩa,
khi Thăng Long bị cướp phá, sách vở đã bị đốt rất nhiều.


   Về sau này, trong các thế kỷ XVII- XVIII, cho
tới XIX , tình hình cũng chẳng khá hơn đến mức hai nhà nghiên cứu người Pháp
là L. Cadiere và P.Pelliot đã khái quát “
không ở đâu mà cái gia tài kiến thức của một dân tộc  lại tan biến nhanh như vậy”( dẫn theo Tạ Chí
Đại Trường, lời mở đầu của sách  Lịch sử
nội chiến ở VN từ 1771 đến 1802
– SG  1973)





  Giao lưu với nước ngoài  Một phương diện nữa đánh dấu sự phát triển
của văn hóa sách một quốc gia là khả năng quốc gia đó trao đổi sách vở cùng các
tài liệu in ấn  nói chung với quốc gia
khác, tức là vấn đề xuất nhập khẩu sách (từ đây mở đường cho những cuốn sách
lớn trở thành tài sản chung của nhân loại).




    Trong một tài liệu viết về thư tịch
chữ Hán ở Nhật Bản (in trên tạp chí Nghiên
cứu văn học
ra ở Hà Nội số 4-2008), tôi thấy người ta cho biết triều đình
Nhật có cả một Thư viện gọi là Văn khố hoàng gia, sau gọi là Sảnh thư, chuyên cất giữ sách Trung
Quốc. Một văn khố khác mang tên Văn khố
Hồng diệp sơn
hoặc Văn khố nội các,
hoặc Quốc lập công văn thư quán, đến
nay còn lưu giữ 185.000 quyển. Đại khái có thể ước tính 50% điển tịch đời Tùy,
51,25 % điển tịch đời Đường đã được nhập vào xứ sở Phù Tang.




    Tài liệu trên còn đưa ra một con số:
tới đầu thế kỷ XIX từ 70 đến 80% sách in ở Trung Quốc đã được chuyển sang Nhật.
Mà ở Trung Quốc sách in ra lúc đó đã tới 100.000 loại (loại chứ không phải cuốn
).




    Còn ở Việt Nam thì sao? Trên tôi đã
nói là sử ta không mấy khi nhắc tới việc buôn bán trao đổi sách.


     Chỉ
đọc cuốn Lịch sử Đông Nam Á của D.G.E.Hall,
một  giả người Anh ( lần đầu in ở SG
trước 1975, 1994 được in lại ở HN)  tôi
mới thấy ghi thời thế kỷ XVII, chúa Trịnh từng có lệnh cấm truyền tay sách
Trung Quốc (sách này do những người Tàu nhập cư mang vào).


     Sang đến đời Nguyễn vua quan có chú ý hơn tới việc học hỏi Trung Hoa qua sách vở,
nhưng chưa thể nói là đã có một chủ trương, đừng nói là có một cách tổ chức hợp lý, cho việc du nhập sách ở nước ngoài . Đây cũng là tình trạng giao lưu văn hóa bị hạn chế ở ta suốt thời trung đại.




    Có lần tôi được nhà sử học Dương
Trung Quốc cho biết ngày xưa các vị quan đi sứ, khi về hàng hóa bị kiểm tra rất
ngặt nghèo, chỉ có hai thứ được khuyến khích là thuốc quý và sách.


     Nhập
hàng theo lối tiểu ngạch như vậy, mà lại nhỏ giọt, nên khi mang về sách trở
thành quá ư là quý hóa, thường người mang về chỉ giữ cho riêng mình.


     Tệ
nhất là trường hợp nhiều vị trong số các sứ giả ấy  –  vốn không
hề có ý thức rằng mình là sứ giả văn hóa – có được sách  mang về liền giấu giấu diếm diếm  rồi thuổng luôn của người ta, lấy của người
làm của mình hoặc coi đó làm mẫu, mô phỏng theo. Một đôi khi người có sách lại  kín kín hở hở mang ra khoe nhưng chỉ là để trộ
thiên hạ và làm giá cho bản thân.


     Sách ngoại như vậy là chết luôn sau khi
vào xã hội Việt, hỏi còn đâu vai trò kích thích việc làm sách trong nước.


 TT&VH  25/01/2009 

Friday, May 3, 2013

Một nền hòa bình ngấm bệnh -- Hà Nội 3/4--1/5/1973 ( phần II )






 22/4


    Tự nhiên nổi lên trong đầu óc mọi người vấn
đề  quyền lực.


   Cũng
như các chủ đề khác, nó lại được khơi gợi từ thế giới bên ngoài.


    Cuốn Trăm năm cô đơn bản tiếng Pháp được truyền
tay và bàn luận. Tôi  thấy mấy nhà văn thạo
tin dẫn lại với nhau những câu mà các
anh bảo là của nhân vật chính, đại tá Aureliano Buendia:


   - Sự choáng váng về quyền lực trong ông đã trở thành
những giờ phút bất mãn sâu sắc với ngay  bản thân mình.




    ... Các mệnh lệnh của ông thi hành khi ông
chưa kịp ban ra, thậm chí trước cả khi ông nghĩ ra, và lại được chấp hành vượt
quá cả mức mà ông dám hành động.


    -... Đi đến đâu, ông cũng gặp những thanh
niên đón tiếp. Họ nhìn ông với những đôi mắt giống như đôi mắt ông, họ nói với
ông bằng giọng nói giống giọng nói của ông, họ chào ông với lòng hoài nghi như
ông. Họ chào và họ tự coi là con cháu ông. Ông cảm thấy một cảm giác rất kỳ lạ  -- hình như họ làm cho chính ông nhân tăng
lên nhiều lần song chính vì vậy mà nỗi cô đơn càng trở nên nặng nề hơn, đau đớn
hơn.


    Chúng ta chiến đấu chỉ để giành quyền lực
mà thôi...


    .... Ông phải làm 32 cuộc chiến tranh, phải
phá bỏ mọi điều quy ước với cái chết phải gục xuống trong vũng bùn  vinh quang để 
có thể hiểu ra -- tuy đã muộn gần 40 năm -- sự quý giá của một cuộc sống
bình thường.









   Trên Bản
tin tham khảo  thấy có in bài một nhà báo
Pháp nói về tình hình  VN hiện thời  


-
Nước Việt Nam thường xuyên ở vào những điểm nóng của thế giới, đến nỗi họ tưởng
rằng những tai vạ là ở ngoài vào, chứ không phải chính họ gây ra.


-
Một dân tộc chỉ có thể phát triển trong sự cọ xát với các dân tộc khác. Người
Việt Nam đang tự nhốt họ lại, và tôi ngờ rằng họ sẽ chết ngạt.





25-4


     Đôi lúc, cảm thấy vào những năm này, chỉ
có đàn bà là đáng sống. Đi trên đường Hà Nội, gặp những người đàn bà đạp xe một
cách nhẫn nại, ra dáng một người chủ gia đình, chồng con sau lưng. Đã trưởng
thành, nhưng còn đủ tuổi trẻ để tự trọng -- họ diện một cách kín đáo, nhưng lại
có cái dáng dày dạn, bất cần, xông vào mọi chỗ, giành lấy ánh sáng cho gia đình
mình (gia đình là cái thể chế duy nhất mà những người này tự nguyện thờ phụng!)


     Những người đàn ông giàu tham vọng hôm nay
chẳng có mấy,và hình như chẳng làm ai ngạc nhiên. Những cố gắng hiện lên trên
nét mặt làm cho họ có vẻ đầy ảo tưởng, nhưng nếu không có cái đó, thì họ lại rất
thảm hại. Đàn ông ở xứ này chỉ là dấu hiệu của sự bất lực. Vì họ quá nhiều thất
bại.


    May mà cuộc đời bao giờ cũng có những người
đàn bà, từ đó có một triết lý đàn bà.


-- dẫu sao, cũng phải tận
tuỵ với cái tình thế mình đang lâm vào, cam chịu chấp nhận


-- Sống gắng gỏi nữa.


-- Nếu cần thì cũng diện,
cũng ran rỉnh đùa bỡn như mọi người.


   Triết lý của đàn bà là triết lý thực dụng.





26/4


     Vẫn chuyện xe bò. Ngày mưa, người điều khiển
xe cuốn cái cạp nứa ( vốn chuyên dùng để be thành xe cho tăng thêm sức chứa)
thành một vòm mái che mưa,  rồi ngồi núp
dưới đó.


      Giả sử như tôi làm nghề xe bò, hẳn tôi
luôn luôn phải có đủ thứ mặc cảm. Mặc cảm
tự hào nghênh ngang rằng mọi người cần đến mình. Mặc cảm bất cần. Chẳng
ao ước gì cả. Ăn mặc rách rưới, bẩn thỉu, chân đi đất ư, kệ -- ngồi vào cái xe
bò thì còn tính chuyện gì nữa?


     Mưa.
Năm nay thời tiết ngang trái. Tết thì nắng nồng oi bức. Nắng đến không có chỗ
cho con người ăn diện nữa. Nắng không để cho những ý định cá nhân được mở mày mở
mặt. Làm gì có chỗ cho những cái đó.


      Và bây giờ thì mưa. Đầu hè, mưa hàng mươi
hôm liền. Mưa đá rơi xuống khu vực người về chuẩn bị duyệt binh, những mái lều
của người lính nát bung, trơ ra lần vải bạt bên trong. Mưa trắng trời Hà Nội,
ngập ngay trên những đường phố bị trũng. Trẻ con đi học về lội bì bà bì bõm. Cô
giáo đứng giữa ngã tư đường, cấm, doạ chúng nó mãi chúng nó mới chịu thôi.


         Mưa đã tàn phá một chút gì trên đường
phố và trong tâm hồn đứa trẻ đó (Tôi nhớ cái ý đến với tôi thuở nhỏ: mưa có khả
năng “bộc lộ”, “lột trần tất cả”). Nhưng thôi hãy nói cụ thể. Không đâu cho thấy
tai hại của mưa  bằng ở nhà máy điện. Máy
móc không kịp che, mưa phá những đầu mối, những lò hơi, mưa gây ra sự cố điện cho
cả thành phố -- có buổi sáng, cả thành phố lạnh tanh.


    Cuộc sống sau mưa. Thành phố sau mưa. Những
con đường trơ đá sạch trắng. Lá mới rụng còn xanh đen. Năm nay, căn nhà lợp lá
của gia đình tôi dột đến mức ngay sau cơn mưa phải láng tro trên mặt nền mới đi
lại được, nếu không thì ngã như chơi.





27-4


      Mấy chục năm nay, ta chỉ có phá, mà không
lo làm thêm của cải cho xã hội. Bây giờ, người ta khôn lên, cái gì người ta
cũng có thể biết. Bao nhiêu sáng kiến được đưa ra, nhưng vật liệu đâu, lấy gì
mà làm. Nói theo từ ngữ thời nay, chỉ cần tắc khâu vật tư, là nhắm mắt chịu. 


   Rút cuộc, kẻ có quyền thế nhất trong xã hội, trong mỗi cơ quan -- là những người
nắm vật tư, nắm phương tiện vật chất. 


    Và do lúc này người ta không cho những
người ấy một vị trí xứng đáng, cho nên ở trong bóng tối, họ càng hoành hành tợn.


     Tôi hiểu ra điều ấy khi làm cái
công việc đơn giản của người con trai trong gia đình là tu sửa mái nhà tranh vách đất,  theo nghĩa đen , mà
bố mẹ tôi đã làm từ 1952. 


     Tuần trước tôi đã phải xuống Phà Đen mua ít lá gồi về
dọi lại chỗ dột .


     Mấy chủ nhật nay thì mượn cái xe ba gác bằng
sắt ở cơ quan cùng hai cậu em ra sông Hồng xúc cát rồi kéo qua đường Thanh niên,
qua trường Chu Văn An về nhà. 


      Theo lời khuyên của bà Tèo làm nhà máy
bia đến ở nhờ,  chúng tôi đang lo thay
các bức vách trát bùn ọp ẹp bằng  tường gạch
ba banh.


     Đi xin than xỉ ử các nhà đun bếp lò. Rồi về
giã nhỏ ra. Rồi mang trộn với xi măng cát và ép thành khuôn.


      Việc đóng khuôn thì đã có cậu Đăng em tôi
nhận làm.


     Khó
nhất là chuyện xi măng.  May quá, khi
mang việc này  nói  với anh em ở cơ quan, tôi được anh Doãn Trung
tìm cách giúp.  Anh Trung có người quen
cũ là anh Ninh trước cũng là dân phiên dịch 
Trung văn nay về là ở Ủy ban dưới Ô chợ Dừa. Anh Ninh có thể giúp tôi
mua ít bao xi măng Hải Phòng ở cửa hàng vật liệu xây dựng.


     Mỗi
lần đến anh Ninh lấy giấy giới thiệu ra cửa hàng, tôi không quên mang theo một
tút thuốc Trường Sơn. Nó là tiêu chuẩn anh Trung chạy cho anh em trong cơ quan, thường tôi vẫn dùng để tiếp khách riêng. Lần nào anh Ninh cũng trả tôi tiền thuốc
đầy đủ theo giá nhà nước.





1/5


    Hội
hè là gì? Là những ngày vui, sau công việc. Là những ngày xả hơi buông thả  sau những “chiến dịch” mệt nhoài .


    Thử tìm ý nghĩ của đám tham gia duyệt binh.
Họ quen tuỳ tiện buông thả . Mà duyệt binh trước tiên cần ý chí, nghị lực. Từ
thực tế đánh nhau trở về, người ta dễ xem đây là một việc tội nợ phải làm. 


     Nhưng  rồi máu anh hùng nổi lên, lại nhớ
rằng việc đó rất có ý nghĩa. Và người ta cắn răng lại để làm. 


      Rút cuộc 
thì cảm giác về một cái gì lớn lắm quay lại chi phối đến mức có lúc họ
hiện ra lố bịch!


     Nhờ đi theo phóng viên nhiếp ảnh Đoàn Công
Tính, tôi được vào sâu quảng trường, ngay dưới chân khán đài. Tôi nhìn kỹ những
nét mặt đi qua quảng trường. Rất ít những nét mặt đẹp. Người chúng ta, không phải
là những người để đi duyệt binh. Khuôn mặt thô, nước da xám, mắt tròn, mắt dẹp, cờ ra côm... đủ chuyện. Không có ai đẹp!





     Cuối xuân, đầu hè, lá đã bắt đầu xanh sau
mưa. Khẩu hiệu đỏ rực các đường phố. Thú thực, tôi hơi ghê sợ cái màu đỏ này.
Nó gợi cảm giác hỗn loạn. Nó tượng trưng một sự phá phách.


       Để tìm lại một chút bình
thản, tôi muốn đi về phía sông, phía cát, phía màu xanh.


    Nhưng mà vẫn không dứt khỏi ám ảnh về buổi mít
tinh vừa có mặt. 


    Chưa bao giờ tôi chứng kiến một cuộc mít tinh lộn ẩu thế. Người
đi dự mít tinh thì ít (mỗi khối phố định lấy 20 người, mà lấy được có 10). Sau này nhìn
TV thấy trên quảng trường nhiều chỗ trống.


    Nhưng người đi xem, thì nằm la liệt
mọi ngả đường. Và đây là cái cảnh không có trong những đám mít tinh hồi trước
1964.


    Độ 8h, những người phải đứng thì bỏ về, trong khi người đi xem tràn lên.


    Như một thứ lũ lụt: Người ta chui vào giữa các khối Công an - bộ đội. Người ta
len vào giữa khách nước ngoài. Người vỡ ra từng mảng xô đẩy.


     Công An , Công An Nhân dân vũi trang, đám trật tự viên, tất cả bất lực.


     Ở đường
Hùng Vương, phía bên phải lễ đài, nơi thoát ra của đoàn người diễu hành, người
ta lên xô ra hẳn một nửa đường, chỉ còn lại một nửa đường. Nhục nhã, lộn ẩu ở
phía người diễu hành đi qua, trong khi đó, ở phía sau, không gian rỗng ra.
  Đến
nỗi người như Tính cũng phải nhận:


    - Người ta đã quen với cách sống thời chiến. Lúc này mới hiểu chiến tranh...


    Vẫn theo Tính, chắc người đi qua lễ đài
cũng chán ngán mệt mỏi. Không có Cụ Hồ để hy vọng chào đón, người ta ngoảnh đi
lung tung. Lòng người phân tán quá chừng. Các lãnh tụ cười, vẫy tay chỉ vì nhớ
rằng ống kính các nhà quay phim đang chĩa vào mình.


     Lúc
gần kết thúc, tôi nghe tiếng lao xao: thế này thì người nước ngoài cười chết.
Khu vực quần chúng trống quá. Một giọng hét rất to: Quân nhạc cử Giải phóng miền Nam.


      Khi điệu nhạc Giải phóng miền Nam vừa dứt, lại tiếng lao xao: Đáng nhẽ ông Đồng
phải ra nói trước mọi người.


   Chờ đợi. Rồi ông ấy cũng ra:


    -- Chúng ta đã cử hành ngày lễ một cách rất thắng
lợi (!).


    Và
ông không quên cái điều thực chất nó khiến ta phải làm mít tinh:


    --  Chúng ta yêu cầu các nước anh em tiếp tục đồng
tình ủng hộ chúng ta về mọi mặt.


     Tôi
nghĩ bây giờ thì họ cũng biết mọi chuyện rồi. Nhưng họ mệt mỏi đến nỗi không
thiết gì nữa.





     Đêm trên thành phố là khi con người trở về
với cái hoang dại. Người ta chú ý đến tất cả những gì chung quanh, một tiếng lá
rơi, một ngả đường rộng.  Có thể có ai đó
đang lo chạy cấp cứu vì vợ đẻ, con đau. Nhưng nói chung những khốn khổ hàng
ngày lùi đi rất xa.  Cái lối phớt lờ mọi
chuyện vủa những cặp tình nhân được coi là có lý nhất. Trong đêm, tiếng người
nói to hơn, tiếng móng xe bò gõ trên đường nhựa, nghe nhộn nhạo hơn. Ở đấy là tất
cả những gì đang sống.





     Nhớ một ý Xuân Quỳnh nói buổi chiều:


    - Giá những người đi duyệt binh kia về cày
cuốc, thì được bao nhiêu việc.


    Lúc ấy tôi chỉ hùa theo: “ Ai mà quay về được nữa. Ở mình bây giờ,
những thứ quân sự đã hóa dễ quen hơn dân sự!”. 


      Lúc này tôi nghĩ lan man thêm. Vậy thì ở mình chỉ những sự phá phách là toàn
thắng. Nó ào ào như nước lũ vỡ bờ vô tận, như các dân tộc khác - tự tin, hào hứng,
- làm ra của cải vô tận và thẳng đường tiến tới văn minh.

Thursday, May 2, 2013

Một nền hòa bình ngấm bệnh -- Hà Nội 3/4-- 1/5/1973 (phần I )




3/4


     Vẫn chưa hết ngỡ ngàng vì hoà bình. Bây giờ,
trên nhiều quãng đường, cái âm thanh nghe reo vui nhất, là tiếng máy gạt, máy
san. Và cái mặt đất đẹp nhất, là những nền đất mới. Đất mới đổ xuống hầm hố cá
nhân. Đất mới san nền, đất lật tung ra, từ những hầm đất lâu nay cỏ đã lên
xanh.


   Bầu trời được dọn dẹp đã trở thành bầu trời
bình yên.


   Hôm qua đất là chỗ trú chân. Hôm nay, đất phải
là cuộc sống.




    Sông Hồng. Những con sông, bao giờ cũng gợi
cho người ta nhiều ý nghĩ khác nhau. Sông dạy người ta thế nào là tự nhiên --
cái tự nhiên màu mỡ, trong sáng như là sự sống đậm đà trên một nhành cây một sắc
lá.


     Nhưng sông cũng cho người ta hiểu thế nào
là thiên nhiên hung bạo. Nó hiền lành đó mà phá hoại cũng đó, nó bình thản, nó
đẹp thế, mà nó giở mặt thì chịu.


     Đứng bên thiên nhiên, con người cảm thấy
mình bé nhỏ lạ. Không, con người sẽ làm được tất cả, dần dần làm được nhiều điều
mà nó mong muốn. Nhưng mà con người phải vượt lên kia.


     Đứng
bên sông, con người vừa qua chiến tranh như được đánh thức cảm giác hung bạo. Nếu
không thì lại dậy lên những bản năng tự nhiên - ôm ấp, vuốt ve người khác giới.
Và nếu không thì cáu gắt, chửi đổng, và cuối cùng thì buông lơi đầu hàng. Những
con sông cũng luôn luôn là cái bất trị của mọi thành phố, vùng ven sông là những
vùng ít ổn định nhất.


     Thiên nhiên muốn con người trở lại cái
phía hoang dại của nó. Nhưng người ta liệu có thể vượt lên trên sự kích động?


    Những ý nghĩ trên đây đến với tôi, khi mà,
mấy hôm liền, tôi ra chỗ bãi sông Hồng. Con sông chỗ tựa của lịch sử Hà Nội,
cũng là chỗ tựa của xây dựng Hà Nội. Bắt đầu là việc lấy cát. Hàng ngày có biết
bao nhiêu đoàn xe ra đây. Công ty san nền, công ty xây dựng... Có cả bao nhiêu
là xe bò. Cát bay mù trời. Đống cát dùng băng chuyền cao lên mãi.


    Bãi cát, bãi của hoang sơ, nhưng cũng là khởi
đầu của xây dựng. Bãi cát, trên đó bao nhiêu là vạch đường đi qua. Bãi cát lở,
bãi cát lầy, người ta phải quành sang lối khác. Sách địa lý dạy chỉ có những
lưu vực sông là nơi có người định cư sớm nhất. Một bó củi dâu lồng bồng, những
ruộng dâu mờ mờ ảo ảo. Những người làm nghề tầm tang của một nước nông nghiệp,
tôi biết  -- những ấn tượng xưa còn hằn
trong ký ức.


    Ngày nay, những bãi đá, bãi than của các
công ty xây dựng chạy dọc sông. Than và đá chạy đường thuỷ rẻ nhất. Và ở các thành
phố chỉ dọc sông mới còn đất bãi, còn chỗ trống , còn trổ ra được những hướng mới.





7/4


    Cảm giác rõ nhất của Hà Nội 1973: xe bò.


     Đi
đâu cũng nghe những tiếng gõ của bánh xe bò, tiếng móng bò đập trên đường. Ban
đêm nhìn theo bóng dáng một khối lùm lùm trên đường, chỉ thấy một ngọn đèn lắc
lư, chiều sâu của xe âm âm tối tối.


   Xe chạy âm thầm như xấu hổ, nhưng lại cần mẫn
đến phát sợ . Rất khuya, còn nghe tiếng bánh lăn. Chợt sáng, đã nghe xe dậy. Dễ
xe chui vào tất cả mọi ngả đường, mọi xó xỉnh. Đã bao nhiêu lần, tôi bắt gặp những
người đánh xe như đang thiu thiu ngủ, như đang sống sống qua đi cho xong chuyện.
Nhưng con bò vẫn đi, cái xe vẫn sống, dòng xe vẫn sôi nổi, và tôi vừa bằng
lòng, vừa sợ hãi với cái sức sống đó của Hà Nội.


    Hà Nội và năm tháng. Có bao giờ chúng ta biết
chính xác tuổi Hà Nội. Có bao giờ chúng ta nghĩ mình hiểu hết Hà Nội. Ẩn sau Hà
Nội thanh lịch luôn luôn có một Hà Nội dầu dãi, nhẫn nại. Tôi bắt gặp chất nhẫn
nại ấy khi nhìn những người dân ở đây đi đắp đê, khi nhìn vào những người dân
nông thôn lần đầu ra với  phố xá. Và nhất
là nhìn vào những cụ già ngồi bán qùa, bán bánh đọc đường, họ như là những gốc
cây hiện hồn, những góc phố hiện hồn, họ không muốn chết cùng một Hà Nội nghèo
đói .


     Những nét mặt các cụ già, những căn nhà mốc
meo, những cái bếp dầu khét lẹt, tiếng xe điện guồng bánh mãi từ lâu mà không
thấy tới - đất nước xa vắng như từ thế kỷ nào mang lại. Cách mạng là gì vậy, mà
những cái tốt trong quá khứ thì chết hết cả, những cái xấu thì cứ còn mãi, chìa
ra lan tràn ban phát đầy sông, đầy đường.


    Phan Nhật Nam theo ra trao đổi tù binh về
viết ( có đúng  thế không hay chỉ là đồn
đại?)  người ta đã biến Hà Nội thành một thành phố vô tính (không ra đực,
không ra cái), một thành phố không có người.
Cái câu
Tôi bước đi, không thấy phố, thấy nhà của Trần Dần cần phải thay bằng: Tôi bước đi không thấy phố thấy
người.


   Có bao giờ anh chợt nhận ra có một bầu trời
trên đầu mình ?


   Đi trên thành phố chúng ta cứ bị hấp dẫn bởi
những nét mặt và những hàng cây, đến nỗi quên đi bầu trời trên kia. Bầu trời
trên thành phố là một sự ngơi nghỉ, một thoáng ưu tư. Những hàng cây cho ta ý
niệm về sự trong sạch, cây chết đứng giữa thành phố bụi bẩn, nhưng cây tìm cách
sống. Cắm sâu vào đất, nhưng nó lại vươn lên ánh sáng.





10/4


     Nhàn: Thanh niên bây giờ có loại con các
ông to. Nó tha hồ làm đủ mọi chuyện.


    Niệm: Nó khác mình ở chỗ ấy.  Chúng mình con nhà nghèo nên mình vẫn còn rút
rát. Trong khi ấy, nó cứ đàng hoàng làm bậy, chẳng sợ gì cả.


     Nhàn: Căn bản là vì nó không bị ràng buộc
về kinh tế.


     Niệm: Nhất là nó không bị ràng buộc vì dư
luận. Cái này quan trong hơn nhiều.


       


      Thư, em tôi kể ở lớp có một thằng bạn làm thơ, mơ ngày
mai -- anh này sẽ làm kỹ sư, anh kia sẽ đi
nước ngoài, anh nọ viết văn. Khánh (cháu ngoại cụ Tôn Đức Thắng) làm thơ bác lại:


     -     
Ai khiến anh phát vé cho tôi?


     -     
 Ai
khiến anh ban phát cho mọi người.


     -     
 Tương
lai là thế nào, không ai biết được!


     Ng
Khải nghe tôi kể lại bình luận:


      -- Đúng, đúng thế. Những vấn đề mà giới
văn nghệ nói còn là hiền. Đi ra ngoài nghe người ta nói còn là khốn nạn bằng mấy.
Tai hoạ sẽ do từ chính những người hiểu thực chất hôm nay nhất mà ra.





17/4


     Hôm qua, nhiều người đi xem diễu binh thử.
Hôm nay, suốt từ chập tối, đầu phố Quan Thánh leo lẻo tiếng loa. Đang thử loa mắc
ở đầu đường, để điều khiển người duyệt binh.


     Tôi không thể háo hức với những chuyện duyệt
binh này. Tôi chưa yêu được  những hồi
quang của cái sức sống hùng tráng hôm qua. Hàng ngày tôi chỉ cảm thấy một thứ sức
sống dòi bọ lúc nhúc, người nọ đạp lên đầu người kia.


     Con người ở đây, sống thấp lè tè mặt đất,
còn cả bầu trời trong sạch thì bị thả nổi cho một bọn dốt nát hoành hành. Họ muốn
nói gì thì nói. Như là hành hạ người ta, bắt người ta nghe, tống đủ mọi thứ sáo
rỗng vào đầu người ta. Tiếng loa tiếng đài luôn có cái vẻ  kiêu hãnh của kẻ một mình một gậy múa loạn lên
ở giữa đường như thể ở chỗ không người.


    Chủ nghĩa xã hội là gì? Là một cuộc mít
tinh lớn, trong đó, quần chúng nhân dân là một khối đông đặc, và ở trên, có mấy
lãnh tụ.





     Những mẩu đối thoại


    -- Tôi cảm thấy người dân nơi đây là những
người đầy hiếu động.


    -- Có phải thế đâu. Dân mình là trì trệ nhất.


    -- Không, hiếu động nghĩa là hơi một tí là
sinh sự, chửi bới, đánh nhau, có thể là còn móc mắt nhau, xin nhau tí tiết!  Còn trì trệ là  nhìn từ xa, nhìn bao quát. Mình có cả hai đặc
tính đó.





      Và lúc này dân ta  là những người hay thì thào. Ra phố, hàng nước
có người thì thào; vào mậu dịch, các nhân viên thì thào. Cho đến khi vào những
buổi họp, người ta cũng thì thào. Đất nước mất đi sự thông tin chung. Luật pháp
không xác lập được những mối liên hệ lớn, và người ta cứ phải tự lập những mối
liên hệ, cứ phải quan hệ lẫn nhau. Những mối liên hệ tưởng rất lằng nhằng,
nhưng thật ra nó đơn điệu. Nó chỉ gồm những mạch ngắn.





     Và bây giờ lại hỗn loạn nữa. Nếu quen một
người công an hẳn sẽ được thông báo là ngày nào cũng có những cuộc ẩu đả, đánh
nhau, giết nhau. Đã nghe một người nào đó nói:


   - Nhà nước không có luật pháp gì nữa. Thì để
chúng tôi làm lấy luật pháp vậy.





18-4


       Nhận
ra trên đường phố đan cài rất nhiều những mặt lính, cả những đại uý thiếu tá là
thứ hồi trước chiến tranh rất hiếm.


     Tôi nhớ đến những khoảng rừng. Ở đó, ban đầu
người lính đến ở tạm bợ. Nhưng rồi họ trở thành chính khu rừng.


      Đánh nhau lâu, trở về Hà Nội, người lính
kia lại trở thành một thứ xa lạ, tạm bợ, một thứ sản phẩm bị rừng núi “thuộc’
đi làm biến chất đi.


     Sự tốt đẹp chỉ có thể là sự tốt đẹp của ảo
tưởng. Và một cái nhìn tỉnh táo, thiết thực, chỉ có thể là một cái nhìn đau
xót, nếu như không nói là dẫn đến thực dụng, tầm thường.





21/4


     Dạo
này anh Nhị Ca hay nói với tôi về sự  trả
thù. Suốt những năm hòa bình, dân buôn bán bị dân cán bộ khinh rẻ. Họ bị gọi bằng
cái từ mới xuất hiện mấy năm nay, phe phẩy. Thù nhau ngấm ngầm.


      Nay đến thời chiến thì đám dân  phe phẩy ấy báo thù, khinh lại dân cán bộ ra
mặt. Đơn giản thôi, chỉ cần trông vào bữa cơm của hai gia đình cạnh nhau là thấy
ngay tại sao họ lại có cái quyền ấy.


   Tôi nghĩ đến một cái gì đó, một thứ luận
thuyết thâu tóm chung, gọi là quy luật của đời sống. Và tôi sẽ chứng minh là nước
Việt Nam của tôi, do không chịu tuân theo những luật đó, cho nên không làm được
gì. Hơn nữa, những quy luật  bị dồn ép
khiên cưỡng lại còn bật dậy trả thù người ta nữa.