Thursday, January 22, 2009

Những dòng nước ngược



Những dòng nước ngược

Chuyện buồn giữa đêm vui là tên một thiên truyện của Nam Cao trong đó có nhân vật chính sau khi mời họ hàng đến ăn bữa cơm cuối, kể lại cho vợ nghe về một người cô hôm ấy không có mặt.
Để nội dung cụ thể sang một bên, hãy nới tới cái ý nghĩa khái quát nằm sau đầu đề thiên truyện: cuộc đời chung quanh chúng ta chẳng bao giờ trọn vẹn. Bởi vậy, hình như trong những ngày vui, những người không quá vô tâm, những người có lương tri thường không khỏi nhớ tới những gì chưa được hoàn thiện, những bất công khổ sở còn đầy rẫy quanh mình. Cái buồn ở đây không phải bi quan, càng không phải để làm dáng. Ngược lại, nó là tình cảm tự nhiên ở những con người lành mạnh, có yêu cầu cao về đời sống, và nhạy cảm với những gì đang diễn ra chung quanh.
Nếu không phải tất cả, thì một số nhà văn Việt Nam, nhất là nhưng cây bút hàng đầu của nền văn học dân tộc trong thế kỷ này - Nguyễn Công Hoan và Khái Hưng, Thạch Lam và Nguyễn Tuân, Tô Hoài và Thanh Tịnh... đã nghĩ như vậy. Khá nhiều thiên truyện mà họ đã viết nhân những ngày tết và nội dung có liên quan đến tết, lại là những truyện gợi cảm giác buồn bã.

Người ngựa và ngựa người của Nguyễn Công Hoan có hai nhân vật chính thì một là anh phu xe đói khách, hai là cô gái làng chơi ế hàng, không có tiền cũng cứ gọi xe để
dử mồi. Cuối cùng cả hai đều thất vọng. Cô ả trốn biệt. Anh phu xe bị quỵt tiền. Giữa lúc ấy “tiếng pháo chào xuân nối đuôi nhau đùng đùng toạch toạch”.

Tối ba mươi của Thạch Lam được xây dựng từ một cảm hứng hoàn toàn khác, song cũng buồn không kém. Cả hai nhân vật chính “sống đời truỵ lạc” (chữ của tác giả) song thực ra họ đều là người tử tế, do sa cơ nhỡ bước mà rơi vào vũng bùn. Đêm tất niên,
không có khách lai vãng, hai người càng cảm thấy lạnh lẽo. Họ mua các thứ về thắp hương, cúng tổ tiên, cha mẹ và tủi về thân phận của mình, ôm nhau khóc.
Ngày tết là ngày của hy vọng. Các nhân vật chính trong thiên truyện mang tên Đón khách của Nam Cao cũng không nghĩ khác. Ông bà đồ Cảnh ở đây chỉ mong kiếm cho đứa con gái của mình một tấm chồng sáng giá. Họ nhịn nhục đi vay tiền làm bữa cỗ thật to chờ anh chàng rể tương lai. Nhưng chính lúc đó, họ nhận ra sự thật: anh chàng Sinh, mà họ định bẫy, chỉ buồn tình đùa bỡn gia đình họ cho vui. Anh đã có đám khác. Điều oái oăm là ở chỗ tin thất thiệt đổ ụp xuống gia đình ông đồ Cảnh giữa ngày mồng hai tết.

Có thể kể thêm ra đây nhiều thiên truyện tương tự, ở đó, cái nền xảy ra câu chuyện là những ngày xuân chỉ khiến cho những nỗi đau khổ của các nhân vật thêm nổi bật. Thanh Tịnh từng miêu tả cái vui gượng gạo trong đêm giao thừa của những hành khách trên một chuyến xe lửa cuối năm. Khái Hưng trong một thiên truyện pha hồi ký, kể lại cảnh mình bị khám nhà giữa đêm ba mươi tết (ấy là hồi ông còn làm đại lý xăng dầu ở Ninh Giang). Trong Quê người của Tô Hoài, có một nhân vật tên là Thoại. Do quá nghèo túng, giữa đêm tất niên, Thoại xoay ra đi lùng chó, những con chó sợ pháo chạy lung tung giữa đồng. Nhưng cái mưu đồ ấy cũng không thành. Thoại bị một trận đòn nhừ tủ, đến nỗi xấu hổ quá, dắt vợ con bỏ làng ra đi. Tóm lại, “khôn ngoan đến cửa quan mới biết - Giàu có đến ba mươi tết mới hay” - hình như trong những ngày tết, ai đã vui lại vui hơn, ai đã buồn lại càng buồn hơn. Ngày xuân ngày tết chỉ làm rõ hơn cái tình thế mà mỗi người sẵn có. Và chỉ cần để ý kỹ chung quanh một chút thôi, người ta sẽ nhận ra ngày những cái tết eo hẹp, đạm bạc của những nguời quanh mình để không bao giờ đẩy sự vui vẻ tới mức quá trớn - hình như các nhà văn muốn nói thêm với bạn đọc điều ấy.

Thế cái quy luật này có tồn tại trong thơ, như đã tồn tại trong văn xuôi tiền chiến? Câu trả lời: cũng gần như thế! Cố nhiên, thơ vui ngày tết thì nhiều rồi, nhưng thơ buồn cũng không phải không có. Lấy một ví dụ: Có lần, các nhà sưu tầm thơ Nguyễn Bính đã chọn những bài thơ ông viết về mùa xuân và cảnh tha hương làm thành một tập riêng gọi là Xuân tha hương, trong đó, riêng những bài đầu đề có chữ tết, chữ xuân đã đến hơn chục bài: Xuân về, Vườn xuân, Thơ xuân, Xuân thương nhớ, Hội xuân, Mùa xuân, Rượu xuân, Nhạc xuân, Tết của mẹ tôi, Tết biên thuỳ... Những người quen biết Nguyễn Bính trước 1945 thường kể ông là người duy nhất hồi ấy có thể sống được bằng nhuận bút thơ. Vậy nên có thể dự đoán khá nhiều bài thơ nói về xuân về tết này được làm theo com-măng của các báo. Song, mặc dù được làm theo đơn đặt hàng, đây vẫn là những bài thơ

khá hay. Nếu thời gian mới làm nghề, thơ Nguyễn Bính về xuân và tết thường là những bài thơ vui, thơ về sau, âm hưởng chính lại là buồn bã.
- Em đi dệt mộng cùng người
Lẻ loi xuân một góc trời riêng anh
- Dang dở một thân nơi đất khách
Tết này ta lại ngắm hoa suông


- Huyền Trân Huyền Trân Huyền Trân ơi!
Mùa xuân mùa xuân mùa xuân rồi
Giờ đây chín vạn bông trời nở
Riêng có tình ta khép lại thôi.

Những câu thơ vui, nhí nhảnh của Nguyễn Bính viết về xuân kiểu như Mùa xuân là cả một mùa xanh - Trời ở trên cao lá ở cành... được nhiều bạn đọc trẻ tuổi ghi nhớ. Nhưng cũng có phần chắc chắn không kém là những câu thơ xuân kể lại cảnh cô quạnh, đơn độc của tác giả cũng đã là bàu bạn của lớp người từng trải, hơn thế, là lời an ủi cho những người cùng cảnh ngộ.
Bài viết này mượn nhan đề một tập thơ của Tú Mỡ. Điều may mắn cho chúng tôi là đọc lại tập thơ trào phúng đó cũng có mấy bài viết về tết, mà cũng là Dòng nước ngược, với nghĩa: tuy tác giả không tả những cảnh buồn đau thất vọng, song ông cũng không hùa theo đời, tô vẽ cảnh tết, mà lại nhìn thấy trong ngày vui này những cái nhố nhăng nhếch nhác. Đây là một ví dụ:
Ghét tết
(thơ yết hậu)

Thiên hạ sao ưa Tết?
Hẳn vì mặc áo đẹp
Tớ đây bảo Tết phiền
Ghét!

Tiêu pha thực tốn tiền
Chè chén cứ liên miên
Hết Tết đâm lo nợ
Điên!

Mồng một đi mừng tuổi
Chúc nhau nghe inh ỏi
Toàn câu sáo rác tai
Thối!

Mừng tuổi đèo phong bao
Năm xu lại một hào
Ai sinh cái lệ đó?
Hao!

Kiết xác như vờ rồi
Còn ngông đốt pháo mãi.
Pháo kêu: Tiền hỡi tiền
Dại!

Cố nhiên, nghĩ như Tú Mỡ cũng có phần cực đoan. Sau một năm lao động vất vả, chúng ta có quyền vui tết. Điều có thể chia sẻ với Tú Mỡ trong trường hợp này là: có được một cái Tết cho hợp lý, có ý nghĩa mà cũng là có văn hoá -- cái đó không phải dễ.

. Cùng đón tết với ông Nguyễn


Đã gọi là nhà văn, xa gần ai chả viết về đời sống dân tộc, song trong các nhà văn Việt Nam hiện đại, nếu cần tìm một người biết từ những mảng sống, những thực tế ai cũng sống ấy, đưa lên thành nề nếp, thành một cái gì thuần thục kỹ lưỡng, tóm lại là biết xem xét đời sống ở bình diện văn hoá, thì người ta trước hết nghĩ đến Nguyễn Tuân (1910-1987). Cách sửa soạn cho một ấm trà ban mai hay cái nghi thức thiêng liêng mở đầu cho một ngày. Những đắn đo bàn bạc trước khi làm mấy cái đèn trung thu. Ý nghĩa tìm thấy ở trò chơi thả thơ đánh thơ, quan niệm về nhân cách qua một kiểu viết chữ. Rồi đức hy sinh của một người chị cho một nguời em trai, rồi niềm tự tin hay những kiêu hãnh chính đáng của một vị quan có học... Bao nhiêu nếp sống hàng ngày đã được Nguyễn Tuân ghi nhận! Thì dĩ nhiên là những ngày Tết nguyên đán cũng đã để lại vang và bóng của nó trong tâm trí Nguyễn Tuân, dù nhiều khi chỉ là những vang bóng thoáng qua. Lấy ví dụ như ở thiên truyện Hương cuội in trong Vang bóng một thời. Đặt bên cạnh những Chém treo ngành hoặc Ném bút chì có gươm khua, có máu chảy (dù là tất cả đã được làm một cách rất tài hoa), thì Hương cuội giống như một sự dềnh dàng cố ý cốt cho thấy cách đón xuân của cổ nhân cầu kỳ mà cũng thanh đạm đến như thế nào. Này là cảnh chuẩn bị Tết ở nhà cụ Kép: trong lúc đám dâu con đàn bà ngồi lau lá dong và làm bếp, còn lũ trẻ lo đánh bóng đỉnh đồng, lư hương, thì ông cụ chỉ loanh quanh bên cái chậu hoa, và để hết tâm trí tới việc sửa soạn bữa rượu Thạch lan hương. Quả thật, cái cảnh uống rượu nhắm với đá cuội tẩm kẹo mạch nha là một nét lạ của văn hoá Tết cổ truyền mà có thể đoán là không mấy người thuộc lớp hậu sinh chúng ta được biết, và những trang văn Nguyễn Tuân thật đã có vai trò của những thước phim quay chậm để ghi lại tư liệu quý.
Sau Vang bóng một thời xưa, đâu Nguyễn Tuân còn định viết Vang bóng một thời Tây. Cái ý định ấy, cũng như nhiều dự định hay ho khác, đã xếp xó. Nhưng đây đó, nhà văn thích phác hoạ lại nếp sống một thời và mang lại cho nó vẻ thanh lịch của một hành động văn hoá, nhà văn ấy cũng đã kịp ghi lại vài nếp sống của xã hội ta khi chuyển sang thời Âu hoá, trong đó có cảnh đón Tết ở các đô thị. Đọc Một người cha về ăn tết (in trong Tuỳ bút I) người ta biết rằng vào những năm ba mươi của thế kỷ này, thành phố Hà Nội vẫn chỉ là nơi làm việc của nhiều công chức, chứ không phải gia hương của họ. Cuối tháng chạp âm lịch, hai mươi, hăm lăm gì đó - tuỳ cảnh tuỳ người - nhiều cặp vợ chồng giao nhà cho đầy tớ, rồi kéo con cái về quê ăn tết. Có thể là ở quê, họ lại sẵn sàng ngồi bên nồi bánh chưng cổ truyền suốt đêm để sống lại cái nền nếp vốn có của cha ông. Còn ở thành thị, nơi họ làm việc, thì cái nếp sống Tây phương cũng đã len vào thành những phong tục mới, nhuần nhị và thành thục. Trông nhà trong mấy hôm ấy, một trong những

việc đám thằng nhỏ phải làm là để cái đĩa pha lê ra bàn giữa nhà cho bạn bè của chủ chúng (mà chúng thường gọi là cậu mợ) đến đặt danh thiếp.

Tuy nhiên cái độc đáo của Tết ở văn Nguyễn Tuân chưa phải là ở những mảng sống được ông miêu tả ghi chép như vậy. Sự quyến rũ của văn ông là ở cái hình ảnh bao trùm của con người lãng tử, nên cái ấn tượng về Tết khiến người ta nhớ hơn cả cũng là cách xử sự kỳ lạ của chàng Nguyễn và những phiên bản của chàng vào những ngày mọi người khép mình chờ đợi. Mặc dù biết rõ là Tết sắp đến nhưng Nguyễn của chúng ta vẫn mải mê với việc vui chơi và sẵn sàng lang thang ở những chốn đâu đâu mà không hề đoái hoài tới việc tận hưởng mọi thú vui thông thường, kể cả việc về nhà sum họp cùng vợ con. Trong Những đứa con hoang, người ta gặp cái cảnh Nguyễn với hai người bạn xuống xóm vào một ngày tất niên, khi các nhà cô đầu tịnh không ai đi hát, và từ các bà chủ đến các cô con gái trong nhà có nghĩ gì, thì cũng là nghĩ đến chuyện làm ăn trong năm mới. Lại như câu chuyện Một người cha về ăn Tết. Cái việc tốt đẹp nói ở đầu đề thiên tuỳ bút, thực ra phải đâu là nằm trong dự định của Nguyễn mà chỉ là kết quả của sự tình cờ. Đang ở nhà bạn, định sống thêm một cái Tết tha phương, chợt trông thấy mấy đôi giày trẻ con, thế là lòng nhớ nhà của Nguyễn thức dậy và chàng mới ra ga, về quê trong chuyến tàu rạng sáng ba mươi. Tóm lại, trước sau, Nguyễn vẫn là Nguyễn, Tết chẳng qua là một dịp để con người ấy tiếp tục mài sắc cá tính của mình, càng mang tiếng chơi ngông, trêu ngươi mọi người, càng lấy làm đắc ý. Giữa cái xã hội Âu hoá nhố nhăng, để khẳng định cá tính, Nguyễn vẫn chỉ có một con đường độc đáo để đi. Con đường này đã in dấu chân của nhiều bậc lãng tử cuối mùa, mà ông Cử Hai trong Một cảnh thu muộn là ví dụ.Cáí thần thái chính trong cuộc đời ông Cử Hai có thể tóm gọn lại bằng cái công thức “đem cái tài hoa ra để đùa với cuộc đời”. Đi dạy học thực tế với ông là một thứ “đi ngoạn cảnh hoặc là đi dâng hương ở các đền chùa cổ tích”. Bởi vậy mới có cảnh “gần ngày Tết nhất, người trưởng tràng lúc thu xong sổ đồng môn, chỉ khổ lên vì đi tìm thầy”. Giữa ngày vui của mọi người, cái con người nghệ sĩ “không chịu sống cho người khác và hùa theo với người chung quanh ấy” sẵn sàng ẩn trong một mái đình vắng nào đó, để gọt cho hết một lắp thuỷ tiên. Người ta có thể không sống theo và trước tiên là không thích thú với cách sống cao ngạo trái khoáy này, song phải công nhận người giữ được cái đạo đó phải là người có cuộc sóng nội tâm phong phú, nội lực vững vàng, trong khi biết tìm cho mình những thứ thức ăn tinh thần không giống một ai, họ thật đã có cuộc sống vượt lên cái phàm tục -- một điều mà kẻ sĩ thanh cao xưa nay hằng ao ước.

Đơn độc ngay trên quê hương mình, trốn tránh mọi người, chỉ lấy sự lang thang chỗ này chỗ nọ làm vui, những tưởng ở Nguyễn Tuân đã chết hẳn con người bình thường. Nhưng không, đến khi có dịp xa quê thực sự, thì Nguyễn Tuân lại có một cái Tết thật buồn, đến mức người ta phải tự hỏi không biết đâu mới là bản chất thực của cái con người phiền toái đó. Trong Một chuyến đi ông đã kể lại kỹ lưỡng nhiều chuyện liên quan đến cái lần nhà tài tử nghiệp dư là ông, cùng với một số bè bạn, sang Hồng Kông đóng phim. Cảnh ông ăn Tết ở xứ người chính là xảy ra vào đầu năm Dần đó (1938). Hiện lên trước mắt chúng ta là một bức tranh hai màu đối lập. Một bên là cảnh dân địa phương náo nức vui thú. Những tràng pháo dài hàng vạn quả đua nhau nổ dữ dội. Những gốc đào tươi

tua tủa hoa nhạt và nụ thắm. Rồi đêm Hương Cảng đỏ rực hẳn lên với phiên chợ Tết “như cảnh bài trí trong một truyện thần tiên hoặc trong Liêu Trai...”. Một bên là cái tâm trạng buồn thiu của người lữ khách cô độc, mắt mờ hồn mê, tiền không có, bạn không có, đi giữa đường vui phải giơ tay nắm chắc lấy lòng can đảm của chính mình để khỏi chán chường thêm. Vốn là điều làm nên sự kiêu hãnh của người lãng tử, sự khác người với Nguyễn Tuân trong những ngày Tết năm ấy chỉ còn là một cái gì nặng nề, không sao chịu nổi. Trong lúc tỉnh táo, tác giả cảm thấy rất rõ là mình đang đánh mất mình: “Tôi chiều nay hằn học với số phận, dám cáu kỉnh với cả cuộc đời phiêu lưu mà xưa nay tôi vẫn ca ngợi. Chiều nay, tôi cũng muốn vứt đi một cái gì”.
Chưa bao giờ như trong Một chuyến đi, con người Nguyễn Tuân lại hiện ra yếu đuối đến thế, bất lực đến thế! Song cũng là một sự thực kỳ lạ: ấy cũng là lúc Nguyễn đáng yêu hơn bao giờ hết. Sau cái lần vỏ ngạo ngược, ngông nghênh hoá ra chàng Nguyễn vẫn rất mềm yếu, rất tình cảm, nghĩa là rất gần với mọi người. Có lẽ vì thế, chúng ta hiểu vì sao sau này trong tiếng súng chiến tranh khi cùng một đoàn kịch đi suốt từ Hà Nôị tới Nam Trung bộ, khi lội suối trèo đèo theo bộ đội đánh đồn, nhiều cái Tết trong văn Nguyễn Tuân lại hiện ra với những nét vui vầy đầm ấm, và những ngày hoà bình sau 1954, hầu như Tết nào ông cũng có những bài tuỳ bút vui Tết với mọi người. Vẫn với cách nói hóm hỉnh vốn có, ông bảo rằng đó là những lần mình ngả từ vườn đào nhà ra mấy cành để góp mặt với những ngày vui ở chợ hoa Hàng Lược. Một trong những bài tuỳ bút của Nguyễn Tuân hồi ấy độ một cái tên khá lạ lùng Tôi bán năm cành hoa tết.

Wednesday, January 21, 2009

Gạch nối giữa truyện cười dân gian và đời sống hiện đại



TTC - Dường như đang có sự phân công, các báo ở ta thì in những truyện cười mới sáng tác và mới dịch, trong khi Truyện cười dân gian thì được in ra dưới các hình thức sách phổ thông. Thế nhưng có một câu hỏi đặt ra là tại sao cả hai cùng tồn tại, liệu giữa hai loại truyện này có mối liên hệ nào không? Tôi đem thắc mắc hỏi một anh bạn:

- Ông có nhớ truyện cười dân gian: Bé ơi bé ra mà ăn kẹo?

Bạn tôi nói lại:

- Ai mà chẳng biết! Truyện kể một anh bí quá đành liều dám nhận làm “ông đỡ” cho một người đàn bà khó đẻ. Rồi khi đối mặt với sản phụ, không biết làm gì hơn, anh ta liền giở trò trẻ con, buộc cái kẹo vào đầu dây nhử nhử, miệng lắp bắp: “Bé ơi bé ra mà ăn kẹo...”, không ngờ sản phụ bật cười mà đẻ luôn. Coi như anh ta hoàn thành sứ mệnh và được trả công đàng hoàng.

- Đúng truyện ấy đấy!

Bạn tôi nói tiếp:

- Theo tôi, nhân vật trong truyện chính là một mẫu người phổ biến trong xã hội Việt Nam ngày xưa và cả ngày nay. Nhiều người chúng ta chẳng có nghề gì thành thạo cả và thường làm không đủ ăn. Ta đành tin ở sự may rủi, sẵn sàng ngả sang làm liều, làm cả những chuyện nhảm nhí vớ vẩn nhất. Sự thành công do vậy đôi khi hiện ra hơi buồn cười, nhưng thôi, dẫu sao còn hơn là thất bại. Cuộc sinh nhai coi như tàm tạm, ta tiếp tục tìm những cơ may khác.

Kể ra lý lẽ của anh bạn còn hơi gượng gạo. Nhưng tôi tin ở cái lý lớn hơn là có một mối liên hệ ngấm ngầm giữa những truyện cười dân gian với đời sống hiện đại. TTC là cái gạch nối giữa truyện cười dân gian và đời sống hiện đại. TTC đã soi vào các truyện cười dân gian mà khái quát những thói hư tật xấu người Việt, đôi lúc viết lại theo kiểu hiện đại để rồi giúp nhau sửa chữa.

Thứ Tư, 14/01/2009 Tuổi Trẻ Cười

Thursday, January 15, 2009

Ba mươi tết xưa và nay



Không chỉ những nghi lễ thiềng liêng chào đón năm mới mà mấy ngày kết thúc năm cũ với nhiều người Việt Nam cũng là một thời điểm rất thú vị . Sự chờ đợi quả có cái vị say người khiến cho ai cũng cảm thấy náo nức . Già trẻ tuỳ theo khả năng mỗi người một tay lo liệu cho tết . Bận rộn mà vui . Cho đến buổi chiều ba mươi thì mọi sự chuẩn bị coi như đã xong .

Nhiều gia đình có thêm bóng dáng những người đi xa lúc này vừa mới trở về . Bữa cơm tất niên chưa có cái vẻ thành kính như các bữa cỗ ngày tết nhưng lại đầm ấm tự nhiên . Không phải ngẫu nhiên mà , ở chỗ riêng tư , nhiều người thú nhận rằng đây chính là bữa ăn ngon nhất trong suốt dịp tết , cũng như không khí chuẩn bị vất vả tất bật xem ra lại thú vị hơn những ngày được trịnh trọng gọi là năm mới .
Những buổi chiều ba mươi tết đã được nói tới như thế nào trong các sáng tác văn chương từ xưa tới nay ? Tôi chưa có đủ tài liệu để trả lời câu hỏi này ,chỉ xin nói một cách sơ lược : Suốt thời trung đại bút pháp ước lệ chi phối văn chương Việt Nam , bởi vậy khó lòng tìm thấy ở đó những nét sinh hoạt của người xưa . Chỉ bước sang thế kỷ XX , một đôi khi , cái giờ phút đặc biệt của buổi chiều ba mươi mới có dịp được các nhà văn nhắc nhở tới qua những trang viết mà sau đây là một vài ví dụ .
Tiếng gạo vo sàn sạt _Vịt gà kêu quang quác , nữ thi sĩ Xuân Quỳnh mở đầu bài thơ Chiều ba mươi(1963) của mình bằng mấy câu rất gợi không khí như vậy . Sau khi tả tiếp vài hình ảnh Quang níu cong đòn gánh Mẹ về chợ kia rồi hoặc Cắm đào lên lọ sứ Ông ngắm ra ngắm vào Trên bàn thờ tiên tổ Khói hương bay ngạt ngào ,tác giả kết luận ồ năm chưa đi hết Mà nghe xuân đến rồi !
Ngược lại với vẻ đơn sơ mộc mạc của bài thơ nói trên , thiên tuỳ bút của nhà văn Nguyễn Tuân in trong tập Một ngày một đêm cuối nămMột chuyến đi (1939 ) lại nói về chiều ba mươi từ một góc độ khác hẳn . Nhân chuyện mấy nhà tài tử sang Hồng Công đóng phim ,tác giả vẽ nên tâm trạng buồn bã của một số người phải xa nhà trong dịp năm cùng tháng tận ,qua đó càng thấy những buổi chiều ba mươi để lại ấn tượng sâu sắc trong mỗi người Việt Nam như thế nào .
Thế nhưng cùng với sự thay đổi của thời gian ,những buổi chiều ba mươi và tiếp đó là đêm giao thừa không phải cứ được đón nhận mãi như cũ . Trong tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (in lần đầu 1983) của Nguyễn Minh Châu có một thiên truyện mang tên Giao thừa .Nhân vật chính ở đây là một ông già sống theo nếp cũ , thường sau bữa cơm tất niên còn bắt con cái quây quần ,không cho đứa nào đi đâu hết .Đến một năm nọ , lũ con đã trưởng thành không chịu được nữa ,chúng chỉ hào hứng với không khí chiều ba mươi trong gia đình được một lúc , cơm xong là lấy xe đi chơi với bạn bè .Ban đầu ông già cũng làm mặt nghiêm (và lấy cả xe điếu ra doạ ) nhưng về sau ông phải lặng lẽ cho qua . Với thiên truyện này , Nguyễn Minh Châu tỏ ra khá nhạỵ bén trong việc nắm bắt tâm lý con người đương đại .Trong khi tôn trọng truyền thống đồng thời mỗi thế hệ có cách riêng của mình trong việc chia tay với năm cũ và đón năm mới , đấy là cái điều ngày càng được con người hôm nay tán thành .

Chuyện cũ văn chương

Tuesday, January 13, 2009

Tình yêu một thuở

Giả sử vào những ngày này nghe đồn là có một người con trai nào đó yêu một người con gái nào đó, song lại cứ nằng nặc đòi cô kia phải đan cho mình một chiếc áo len, như một thứ của làm tin, xem áo như dấu hiệu của một tình yêu, của sự chung thuỷ - hẳn nhiên nhiều bạn trẻ sẽ ... chết sặc vì cười.

Sang thời buổi của xe Dream, của các quán Karaoke, cách tỏ tình của thanh niên hiện nay hiện đại hơn, do đó chắc chắn giản tiện hơn, khong rườm rà thủ tục như ngày nào. Nhưng có điều là dù thay đổi đến mấy thì bây giờ người ta vẫn phải yêu và có lúc không cách nào khác, vẫn mượn những trang thơ để bày tỏ nỗi lòng. Bởi vậy mới có hiện tượng cùng với thơ tình Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh, những bài thơ của Nguyễn Bính viết từ nửa thế kỷ trước - trong đó, ở nhiều bài thấy lặp đi lặp lại lời than thở rằng người yêu bỏ mình rồi, mùa rét tới không ai đan cho mình một chiếc áo len nữa, vẫn đang được ưa chuộng trên thị trường sách báo và các độc giả trẻ tuổi rất thông minh hiện thời vẫn biết đọc qua những vần thơ đó cái phần con người ngày nay mới có.
Đọc tiểu sử Nguyễn Bính, người ta vẫn biết rằng trước khi lên thành phố vương vấn với các “cô gái ở lầu hoa” ở những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỷ này, thì ông đã sống những năm đẹp nhất của tuổi trẻ ở một làng quê Nam Định. Bởi vậy, trước khi nói chuyện “đan áo len” thơ ông còn hay nhắc tới chuyện các cô gái trồng dâu, dệt lụa, may áo tặng các chàng, và một vẻ quê quê thường xuyên hiện lên như một sắc thái riêng, làm nên cái duyên dáng riêng của thơ tình Nguyễn Bính. Hãy thử nhớ lại xem khi nào thì con người ở đây yêu nhau: cùng học ở một trường huyện, hoặc sống ở hai thôn nhưng thực ra là một làng; có khi gần hơn, hai nhà chỉ cách nhau một giậu mùng tơi nho nhỏ, và thuở bé hai trẻ vẫn đùa chơi với nhau. Thật là những nguyên cớ rất hồn hậu! Rồi cái đích mà tình yêu đi tới cũng hồn hậu không kém. Lặp đi lặp lại trong nhiều bài thơ là cái công thức về một gia đình lý tưởng: vợ chăn tằm dệt vải, chồng miệt mài đèn sách để chờ ngày thi cử. Về mặt này mà xét, thơ tình Nguyễn Bính ngoài công cuộc Âu hoá đương thời, và không cần so sánh với Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử mà ngay với Lưu Trọng Lư thì những bài thơ in trong Lỡ bước sang ngang, Mây Tần, Mười hai bến nước... vẫn có gì đó dân dã hơn, nguyên chất nông thôn và xa lạ với văn minh thị thành hơn. Vả chăng, bấy nhiêu chuyện có lẻ vẫn chỉ là phong cách biểu hiện bên ngoài. Đằng sau cái vẻ vừa quê mùa, vừa cổ kính, thơ tình Nguyễn Bính nhiều khi đạt tới các mức gần như trùng khít với tâm tình con người đương đại. Ví dụ, dù là ở nông thôn hay thành thị, dù là người của các thế kỷ trước, hay của thời đại văn minh này, thì khi đã yêu, cũng không ai tỉnh như sáo mãi được. Ngược lại, luôn luôn trong con người ta có những phút vẩn vơ không đâu vào đâu. Những lúc ấy, tôi nghĩ, trong tâm trí người thanh niên hiện nay dễ dàng vang hưởng những câu thơ trong bài Tương Tư. Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông - Một người chín nhớ mười mong một người - Nắng mưa là bệnh của trời - Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng, hoặc bài Nhớ: Ví chăng, nhớ có như tơ nhỉ - Em thử quay xem được mấy vòng - Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ - Em thử nào xem được mấy thưng. Lại ví như khi yêu bao giờ người ta cũng thiên vị tức cũng có xu hướng dành cho người yêu của mình những lời lẽ tốt đẹp nhất. Thành thử, những câu thơ sau đây, mà Nguyễn Bính dùng để tả người con gái, tưởng cũ bao nhiêu, mà vẫn cứ luôn luôn là mới:
Một đi làm nhớ hoa sen
Một cười làm rụng hàng nghìn hoa mai
Hương thơm như thể hoa nhài
Những môi tô đậm làm phai hoa đào
Nõn nà như thể hoa cau
Thân hình yểu điệu ra màu hoa lan.
Hoá ra, trong văn chương thơ phú, những chi tiết đã quan trọng, song cái chính vẫn là hồn cốt của tình cảm con người; khi đã có sự thông cảm rồi, thì mọi xa cách không còn gì đáng quan ngại nữa.
Trên một số tạp chí Pháp, các nhà nghiên cứu vừa đưa ra một vài con số thống kê về tình yêu. Điều thú vị khi tìm hiểu những con số thống kê này, người ta nhận ra rằng ngay ở phương Tây hiện đại, tình yêu vẫn không mất đi hẳn những sắc thái cổ điển của nó. Vẫn còn ít ra là 1% không bao giờ biết đến tình yêu, và nếu chỉ giới hạn ở lứa tuổi 15-19 thôi thì vẫn còn 5% thú nhận rằng mình hoàn toàn trinh trắng (tài liệu của báo Phụ nữ TP. HCM).
Nhắc lại những chuyện này ở đây để thấy số phận kỳ lạ của tình yêu nói chung và thơ tình nói riêng. Để cho công bằng, phải nhận là tình yêu được miêu tả trong thơ Nguyễn Bính có chút gì đó hơi cổ. Nó thiêng liêng quá. Nó cao sang. Nó thuần hậu. Nó luôn luôn giả định một sự chân thành làm tiền đề; chẳng những thế, nó luôn luôn nhằm tới cái đích là sự chung sống trong một gia đình. So với thực tế tình yêu của con người ở những năm cuối của thế kỷ XX, rõ ràng có những khía cạnh nó đã bị vượt qua. Thế thì tại sao thứ thơ ấy vẫn được phổ biến rộng rãi, một sự phổ biến, theo chúng tôi quan sát là chỉ đứng sau Truyện Kiều và các truyện nôm như Nhị Độ Mai, Hoa Tiên ngày xưa? Tôi nghĩ rằng ở đây không gì khác, chỉ chứng tỏ loại đã có mặt. Luôn gắn bó với thời gian, nhưng tình yêu cũng là cái gì muôn đời muôn thuở vẫn vậy. Và nhiều khi càng từng trải, càng chai sạn, người ta càng muốn sống lại sự thành thực sự thiêng liêng hồi nào. Văn chương không phải chỉ có việc gợi lại những gì con người đang có, mà còn là viễn tưởng, là hình bóng của cái gì con người ước ao nhưng lại không có, hoặc từng có nhưng đã đánh mất.

Thursday, January 8, 2009

Từ điển văn hoá cười



Tết nguyên đán
Những ngày vui đầu năm khiến nhiều người nghĩ tới mà sợ . Một dịp để người ta tự cho phép có thể sống buông thả , do đó cũng là lý do để khôi phục nhiều hủ tục như chè chén lu bù , rượu chè cờ bạc dông dài . Ca dao cổ : Tháng giêng là tháng ăn chơi -- Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè ...

Chúc tết sếp
Từ mới xuất hiện , thay cho từ cổ lễ tết quan trên hoặc lễ tết thươợng cấp . Thời điểm lý tươởng để bày tỏ sự biết ơn và đầu óc ăn chia sòng phẳng của một kẻ từng đơược che chở sau một năm làm ăn vất vả . Cũng là tình huống để kẻ đến biếu chứng tỏ sự hiểu biết sâu sắc đối với cái gu của cấp trên, phát hiện kịp thời những gì mà nhà sếp còn thiếu , hoặc đặc biệt ươa thích -- , và tài lùng sục những của đươợc coi là lạ hiếm .

Hái lộc
Tục cổ đúng lúc giao thừa bẻ một nhành cây trong vươờn mang vào nhà để mong gặp may mắn , nhương đã biến tươớng thành ham muốn lén bẻ đại cành lá ở những nơi công cộng , vừa là kiếm thêm ít lộc ngoài đường , vừa thoả mãn ý muốn làm bậy trong những lúc sống giữa đám đông . Nhiều người biết là một thói quan xấu song vẫn thích làm .

Hội làng
Cuộc chạy đua giữa các làng xóm , làng nào cũng muốn nhận mình là trung tâm văn hoá của vùng , mình có những nét truyền thống độc đáo , để chèo kéo khách phương xa chuộng lạ .

Du xuân
Những ngày nghỉ ngoài quy định của nhà nước .Với một số cơ quan xí nghiệp ăn nên làm ra, là một dịp để hợp pháp hoá các khoản chia chác nội bộ . Xem thêm mục từ đi chùa đi lễ ở một số báo trước .

Báo tết
Một dịp để các ban biên tập bộc lộ khả năng làm dáng cho tờ báo của mình : nó có thể hào nhoáng đến đâu , mỹ miều đến đâu . Để bày hơn để để đọc .
Cũng là một dịp để ban biên tập trình ra đội ngũ cộng tác viên loại xịn và chiêu đãi họ sau một năm làm ăn khó nhọc bằng những khoản nhuận bút hậu hĩnh hơn so với ngày thường . Tài làm báo tết còn bộc lộ rõ ở tài chạy quảng cáo , và đó là lý do chính khiến người ta vẫn phải lo báo tết bằng được , mặc dù số lượng in của nhiều báo ngày tết thường giảm .

Mừng tuổi ( lì xì )
Trong không khí tết , tặng cho trẻ ít đồng bạc để chứng tỏ quan hệ hữu hảo với cha mẹ chúng . Tại một số dịa phương một số gia đình , đã lan sang cả đối tượng người lớn và trở thành mối quan hệ có đi có lại , tôi mừng tuổi anh thì anh lại mừng tuổi tôi .

Tranh Đông Hồ
Một dòng tranh dân gian thươờng đươợc nhắc tới mỗi khi cần nhấn mạnh truyền thống mỹ thuật cổ , và cũng là để mời chào khách du lịch . Hiện không có chợ quê nào bày bán bởi không ai mua về treo kể cả trong những ngày tết . Phần lớn dân làng Đông Hồ ( Bắc Ninh ) giờ đây sống chủ yếu về nghề làm vàng mã và các loại đồ cúng để đốt cho người chết ( đã tinh xảo tới mức làm được cả ô tô xe máy đẹp nhơư ...thật )

Bánh chưng
Thứ bánh mà người ta tự nguyện kiếm bằng được để bày trên bàn thờ và được xem như món chủ lực của mâm cỗ tết nhưng lại ngại ăn và khi “chót” ăn thường nhắc lại câu thành ngữ dửng dừng dưng như bánh chưng ngày tết .

Nghèo
Thu nhập thấp , lý do được coi như chính đáng cho phép người ta làm bậy kể cả những việc biết chắc là phạm pháp ... Nhân danh cái nghèo người xưa ăn cắp ăn cướp ( tục ngữ có câu đói ăn vụng túng làm càn ) , còn nhiều người ngày nay làm những việc văn minh hơn : người nông dân trồng rau sẵn sàng phun thuốc sâu vào các loại hoa quả ; người bán hàng cân thiếu , và bán hàng giả ; thày giáo lộ đầu bài thi cho học sinh ; thày thuốc kê trong đơn những loại thuốc đắt để ăn hoa hồng và các quan chức thì ăn hối lộ ...

Hàng lậu
Thứ hàng sản xuất từ nước ngoài và thường xuyên được tuồn vào nội địa một cách bất hợp pháp . Do giá rẻ nên cùng lúc đáp ứng được ba điều kiện 1) giúp cho người dân có hàng tiêu dùng 2) thoả mãn yêu cầu kiếm tiền nhanh chóng của những kẻ làm liều làm bậy và giỏi tổ chức bóc lột lao động dư thừa 3) giải quyết cho các nhân viên cơ quan chống buôn lậu tăng thêm thu nhập bù vào tiền lương vốn quá eo hẹp .

Quay cóp
Nghĩa cổ : Học sinh lỡ không thuộc bài , bí quá giở sách hoặc chép bài của bạn . Nghĩa mới phát sinh : Động tác mà các học sinh cầu kỳ chuẩn bị trước các kỳ thi , bao gồm chép sẵn tài liệu vào các loại phao và khéo léo cất giấu , lúc làm bài chép lại , cốt sao không phải học bài mà vẫn đạt điểm cao .

Lớp học tại chức
Hình thức lớp học không phải tập trung , người theo học vẫn đến sở đều đều và chỉ bỏ một số ngày học lấy lệ , nhờ thế vẫn giữ được cái chỗ làm việc béo bở , không để một kẽ hở cho lớp trẻ thâm nhập thay thế . Học viên có thể yên tâm theo học qua loa mà vẫn lấy được bất cứ loại bằng nào cần thiết miễn có chi phí sòng phẳng cho các giảng viên . Hiện các lớp học này không chỉ là nhu cầu của người học mà còn là nhu cầu của người dạy , bởi có thể giảng bài và kiểm tra cho điểm thế nào cũng xong , thu nhập lại cao hơn nhiều lần so với dạy chính khoá .

Thiếp mời ( khánh thành
tân gia hoặc dự tiệc cưới )
Thông báo cho người khác tin vui của gia đình mình nhằm mục đích huy động người đó một ít đóng góp để cùng làm bữa tiệc vui chung , coi như món tạm vay và sẽ trả sau , khi người đó cũng có việc vui tương tự . Cũng thường được hiểu ngược lại là tạo điều kiện cho người khác trả món nợ đã vay của mình trước đây .Trong trường hợp cấp trên mời cấp dưới , tức một dịp nhắc nhở trách nhiệm kẻ được mời thực thi những đạo luật không ghi thành văn bản nhưng đã là quan chức thì ai cũng hiểu . Có thể căn cứ vào chỗ thiếp mời phát ra rộng rãi đến đâu để đánh giá thực lực và triển vọng làm ăn của gia chủ .

Tiếng ồn
Âm thanh tự do tung hoành trong khu vực công cộng : người phụ trách chợ búa , nhà trường , nhà ga ...tha hồ phổ biến các quy định cần thiết buộc mọi người không muốn nghe cũng phải nghe ; các gia đình có việc vui mặc sức mở loa tăng âm ; hàng rong quảng cáo ngay trên đường ; xe máy bóp còi inh ỏi ... Loa rè thế nào , bài hát uốn éo thế nào cũng không ai có thể có ý kiến , riêng còi xe càng to càng tăng uy lực của người tham gia giao thông nên là thứ đồ chơi thú vị của đám thanh niên thích chơi trội .

Cười trừ
Món võ gia truyền trong giao thiệp do các cụ để lại và càng ngày càng thấy hiệu nghiệm . Không ai trong đời không thử dùng nó một đôi lần chẳng hạn khi đã hứa cho con cái món quà gì rồi lại quên biến đi mất . Hoặc như trong nghề viết văn viết báo đã hứa viết cho người ta mà cuối cùng cháy vở không viết nên bài dúng hẹn . Thế nhưng đáng lẽ chỉ nên dùng nó trong một phạm vi hạn chế chẳng hạn với những người thật thân và trong những câu chuyện lặt vặt thì nó lại đang được ngườ ta lạm dụng dẫn đến một thứ tạm gọi là chủ nghĩa cười trừ

Xe đạp
Phương tiện giao thông đọc đáo ở chỗ đi trên mọi loại đường cũng như trên vỉa hè . Do chỗ mang lại cho người sử dụng cái cảm tưởng mình là người di chậm nhất rồi và không ai dám đâm vào mình cũng như không ai nỡ phạt mình nên có thể vượt các ngã tư ngay cả lúc có đèn đỏ . Có thể mang lại khoái cảm đặc biệt cho người sử dụng nhất là ở những quãng dày dặc phương tiện giao thông bởi lẽ ở những quãng ấy xe tha hồ luồn lách và chắc chắn là đi nhanh hơn mọi loại xe có động cơ .

Thị dân đời mới
Người nông dân hôm qua nay với chiếc xe thồ to bự chở các loại hàng rong tung hoành trên các ngả đường thành phố , tối về ngủ tạm ở các nhà trọ rẻ tiền ,
Rác
Các loại chất thải xả ra từ đời sống hàng ngày rất có hại và dễ có mùi khó chịu khi để trong nhà ; nói chung người ta chỉ có thể yên tâm khi tống được nó ra đường , còn sau đó thế nào có hại cho môi trường đến đâu không cần biết .

Bụi
Đất nghiền nhỏ 1) dấu hiệu của một sự gần gũi giữa nông thôn và đô thị , mọi loại xe đi trên đường quê , có thể tự do tha đất vào thành phố 2) bằng chứng của tiến trình xây dựng ồ ạt và vung vãi cát thoải mái 3) hậu quả của tiến trình thi công nhiều quãng đường theo kiểu tha hồ làm ẩu , nghiệm thu là xong , mặt đường bật tung không cần chữa , cũng như tình trạng đào đường liên tục và 4) thí nghiệm tuyệt vời cho thấy khả năng thích ứng của con người : chung sống với bụi , như chung sống với lũ , với rau quả có phun thuốc trừ sâu , hoặc êm đềm hơn , chung sống với ...tham nhũng .

Hoa
Mặt hàng điển hình cho sự dao động trong giá cả , khi rẻ như bèo , khi đắt như vàng ( nhất là trong những ngày lễ như 8/3, 20/ 11 hoặc Noel ,năm mới ... )

Thằng già
Từ mới phát sinh , được nhiều thanh niên chuyên dùng để chỉ những người lớn tuổi , đi lại trên đường chậm chạp hoặc làm vướng chân lớp trẻ . Lưu ý ở đây có sự cách tân trong việc cấu tạo từ , vì trong tiếng Việt xưa nay yếu tố thằng thường chỉ dùng để kết hợp với từ chỉ người ít tuổi hoặc tỏ ý coi thường .

Khách du lịch nước ngoài
Những người không hiểu sao rất sẵn tiền , nhưng nhiều khi lại ngây ngô dễ bị lừa . Đối tượng để các đầu óc tuyệt vời trong việc bán hàng lưu niệm lỳ lợm tấn công , cho đến khi họ phát sợ , phải về nước trước ngày đã định , và không tính chuyện tới một lần nữa .

Khen thưởng và kỷ luật
Cụm từ thường đi song song . Khen thưởng tức ghi nhận cá nhân hoặc cơ quan nào đó ra đời đã lâu , có thể chỉ sống lay lắt và làm ăn kém cỏi nhưng vẫn chưa bị xoá sổ , nay tính ngày tính tháng đã thành lão làng cần phải khẳng định vẫn đang tồn tại . Kỷ luật : Hình thức xử phạt với người có lỗi và thường chỉ được ký khi lỗi đã quá nặng , cấp trên sẽ bị mất mặt nếu không ký giấy thi hành kỷ luật ( thường là mức nhẹ nhất có thể có ) đối với đối tượng .

Saturday, January 3, 2009

Hãy dự kiến trước

TTO - Trong đám đông hỗn độn, cá nhân rất dễ bắt chước nhau. Hãy trù liệu trước, hãy dự kiến những trường hợp xấu nhất có thể xảy ra. Và hãy ngăn chặn ngay từ đầu.



Từ các sự kiện quậy phá của các bạn trẻ trong các sinh hoạt công cộng hiện nay – gần nhất là vụ “tàn phá” lễ hội Hoa anh đào ở triển lãm Giảng Võ, tôi không quá ngạc nhiên vì vụ phố hoa ở Hà Nội đêm Giao thừa tết dương lịch 2009 mà báo chí mấy hôm nay đã đưa.





Tôi không bênh vực cho lớp trẻ. Nghe chuyện dân dùng hóa chất có hại để tăng trưởng hoa quả, tôi đã bao lần như muốn kêu lên “Chúng ta có còn là người nữa không?”. Hôm nay thấy các em hái hoa bẻ cành, tôi cũng không khỏi thầm nghĩ, liệu rồi đây các em sẽ thành những con người ra sao? Mọi sự hỗn loạn trong ứng xử có liên quan đến những bức bối trong tâm lý. Nhưng khả năng kiềm chế của các em đã cạn kiệt hẳn rồi hay sao?



Tuy nhiên tôi muốn nói nhiều tới vai trò của lớp người lớn tuối, của các nhà quản lý và rộng ra, của cả xã hội.



Trên mặt báo chúng ta chỉ kịp phơi ra những sự kiện nổi cộm, trong thực tế còn bao nhiêu sự việc “nho nhỏ”, chỉ do được tiến hành trong bóng tối và thoát hiểm nên không bị lên án. Những cú xoay xở kiếm tiền chỉ thắng vì liều lĩnh bất chấp pháp luật. Những vụ chạy vạy, đứng trên dư luận. Những thái độ trơ tráo thách thức lương tri con người... Từ chuyện làm ăn, chúng trở nên những triết lý sống, hồn nhiên chi phối tâm lý, từ chất độc hại tạo nên một môi trường nhiễm bệnh, cá nhân làm sao chống nổi. Huống chi tất cả những cái đó lại được nhân lên nhiều lần trong cuộc chạy đua nhằm thoát khỏi cơn kinh tế khủng hoảng hiện thời.



Hãy thử đặt mình vào những hoàn cảnh cụ thể. Thật vậy biết đâu trong những em quậy phá trên phố hoa hôm qua chả có những em sắp phải rời trường đại học vì không có tiền nộp học phí, đêm nay đi tung hê một trận để ngày mai từ giã đất thánh cho thảnh thơi? Biết đâu vừa có một vụ làm ăn phá sản, em và gia đình đang nín thở chờ năm mới? Biết đâu em vừa bị mấy bà chủ trọ cho ăn một quả lừa? Các em làm bậy để trả thù đời, và hậu quả là các em làm hoen ố hình ảnh tuổi trẻ.



Đại khái tôi hình dung những vụ “xìcăngđan “ đủ loại to nhỏ... có nhiều chỗ giống với những vụ ách tắc giao thông hàng ngày. Khi toàn cảnh giao thông thành phố không thay đổi, chúng không bùng ra ở chỗ này thì diễn ra ở chỗ kia. Nếu có đường rộng đường đủ tiêu chuẩn, tự nhiên dân tình đi lại ngon lành ngay.



Nếu trên đường đến với một lễ hội trang trọng, người ta có một không gian rộng rãi để thở, không bị chen lấn, không bị các chủ bãi xe chặt chém, không bị móc túi, đến nơi có chỗ đàng hoàng để thưởng ngoạn cảnh đẹp... Tôi tin người ta sẽ trở thành người lịch sự lập tức.



Nói thế để thấy rằng mọi chuyện phía trước còn dài, còn tùy ở sự tiến lên của toàn bộ trình độ sống của cả xã hội.



Tôi không thạo việc quản lý nên không dám nêu ra những biện pháp cụ thể. Để tạm gọi là mách nước cho công tác tổ chức những sinh hoạt công cộng thời nay, tôi chỉ muốn lưu ý một điều: Hãy trù liệu trước, hãy dự kiến những trường hợp xấu nhất có thể xảy ra. Và hãy ngăn chặn ngay từ đầu. Trong đám đông hỗn độn cá nhân rất dễ bắt chước nhau. Bởi vậy hãy xử thật nặng những vụ đầu têu, đó là cách tốt nhất giúp cho những người lương thiện tử tế không a dua làm bậy tiếp.

Thứ Sáu, 02/01/2009 tuoi tre online