Friday, December 12, 2008

Những lối đoạn trường




(minh họa: Khều)

(TBKTSG) - Thư viện quốc gia Hà Nội hàng tháng thường có những buổi nói chuyện về đủ loại vấn đề đang được dư luận quan tâm. Một ngày hè năm 1976, tôi có dịp được nghe một buổi nói chuyện như vậy mà diễn giả là kỹ sư Trần Đại Nghĩa.



Đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, ông cũng như nhiều người nghĩ nhiều đến sự phát triển kinh tế, trong đó có việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài.


Bấy giờ nước Nhật còn là cái gì xa xôi lắm. Trần Đại Nghĩa kể, ở Tokyo các kỹ sư đứng ở ngã tư để nghe mọi người phát biểu về kinh tế, ai nói họ cũng ghi để tham khảo, ai nói hay họ còn trả tiền. Quay về mình, ông bảo đừng ỷ vào tài nguyên mà phải dành nhiều quan tâm cho chuyện quản lý, không quản lý tốt thì nền kinh tế không khác gì thùng không đáy.


Đất nước được quản lý kém thì có độc lập cũng chỉ là độc lập hờ, độc lập giả. Nước mình lạ lắm, càng những ngành then chốt càng lạc hậu, ông nói tiếp. Về hướng phát triển, ông gợi ý đủ thứ, từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn.


Chuyện nhỏ (đúng ra phải nói “có vẻ là nhỏ”) đào tạo công nhân lành nghề khó lắm, thợ hàn cao áp ở Việt Nam đào tạo 100 người chỉ đậu được bốn người. Chuyện lớn (cái này thì lớn thật), phải hiện đại hóa về giao thông và thông tin. Phải tiêu chuẩn hóa mọi chuyện. Tiêu chuẩn hóa là công cụ để đạt tới hiệu lực, biến khó thành dễ.


Một điều lạ nữa với chúng tôi là ở chỗ, tuy làm khoa học kỹ thuật, nhưng Trần Đại Nghĩa lại xem trọng khoa học xã hội. Ông báo động là cả nước có 50 triệu người mà gần như không có ai nghiên cứu tâm lý. Hiểu và xử lý đúng tâm lý xã hội, tâm lý nhân dân không tốt thì quản lý kinh tế cũng không tốt.


Tổng quát hơn, ông nói đến việc mình phải minh bạch với mình, rành mạch với mình. Bấy giờ là những năm tháng đầu tiên sau chiến tranh nên cái sự giấu giấu giếm giếm còn tạm tha thứ được. Song, Trần Đại Nghĩa đã thấy đủ những tai hại mà cái lối “gì cũng coi là bí mật” ấy gây ra. Theo Trần Đại Nghĩa, trong quản lý xã hội, phải xác định bằng được số liệu chính xác. Vì đây là bước đầu để đi tới mình hiểu rõ được mình, tự xác định được vị trí của mình trên thế giới.


Lần giở lại những trang ghi chép được hôm ấy, tôi thấy nó giống như một lời tiên tri. Bởi nó đúng quá, đúng cả với “thời gian lớn” là hơn ba chục năm nay, cả với “thời gian nhỏ” là khoảng dăm bảy năm nay. Cả cái cách nó bị quên lãng nữa chứ! Và tôi thầm nghĩ sao lịch sử oái oăm vậy, những suy nghĩ đúng thì không được thực hiện, những cảnh báo đúng thì không được đề phòng, khiến cho đất nước cứ ì ạch mãi, chưa bứt phá lên được.






"Đất nước được quản lý kém thì có độc lập cũng chỉ là độc lập hờ, độc lập giả".


Trần Đại Nghĩa


Lúc này báo chí đang đăng tải nhiều ý kiến liên quan tới tình hình lạm phát. Nhân đó thử nêu ra những “cách đọc” khác nhau với nền kinh tế. Không kể nhiều chuyên gia nước ngoài, ngay các nhà chuyên môn trong nước cũng nêu được nhiều sự lý giải rất xác đáng. Có người nói nhiều ngành kinh tế của ta đang trong tình trạng học việc mà lại học không đến nơi đến chốn, ngân hàng thì có cái như tiệm cầm đồ cho vay. Vừa rồi có chuyện nông dân nuôi cá ba sa lao đao vì không bán được hàng, còn doanh nghiệp xuất khẩu thì không vay được tiền để mua cá.



Tôi lại nhớ cái buổi nói chuyện hơn ba chục năm trước của Trần Đại Nghĩa.


Hàng ngày có nhiều việc khiến tôi hối hận. Ai mà chẳng thế, có làm là có sai. Nhưng tôi nhớ nhất một số trường hợp rất lạ, trước đó mình đã nghĩ đúng rồi, vậy mà khi bắt tay hành động, vẫn lầm lỡ thảm hại. Những lần như thế khiến tôi đau xót và tiếc nuối bội phần. Tại sao mình lại đổ đốn vậy? Do dốt một phần. Nhưng tôi nghĩ đến một thủ phạm nữa là những thói quen cũ không chế ngự nổi.


Để chỉ cái tình trạng lưỡng phân rất đáng tiếc này, người xưa có nhiều cách nói thú vị: “Hòn chì thì mất hòn đất thì còn, Hoa thường hay héo cỏ thường tươi, Răng cắn phải lưỡi”.  Nghe hơi tục thì có câu “Miệng khôn trôn dại”. Nhưng tôi thích hơn cả là câu trong Truyện Kiều: “Ma đưa lối quỷ đưa đường, lại tìm những lối đoạn trường mà đi”. Đoạn trường ở đây có nghĩa là đứt ruột. Có những lầm lỡ làm người ta tiếc đến đứt ruột, và e sợ hình như ở đây đã có vai trò của ma quỷ.

Cá nhân mắc nạn loại này đã đau lắm rồi. Đến như cả cộng đồng cả xã hội, nếu  không tránh được, thì sự đời chẳng phải là oan nghiệt quá sao?

 Thứ Bảy, 27/9/2008 saigon times online

Thursday, December 11, 2008

Những ý nghĩa mà các thi sĩ Việt Nam đã tìm thấy ở rượu





Một trà một rượu một đàn bà

Ba cái lăng nhăng nó hại ta

Có thể coi mấy câu thơ ấy của Tú Xương là một cách hiểu phổ biến về rượu trong các nhà thơ cổ, từ thế kỷ XX về trước. Uống thì các vị vẫn uống, rồi lại liền ngay đấy cười cợt chế giễu cái sự ham hố buông thả của mình. (Say sưa nghĩ cũng hư được - Hư thời hư vậy, say thời cứ say - Tản Đà). Bảo các vị đạo đức giả e hơi quá! Chẳng qua thời buổi bấy giờ buộc người ta phải thế, phải ra mặt áp chế những ham muốn của mình, phải yên phận sống trong đạm bạc, khổ hạnh. Và để sống tự nhiên mà vẫn tận hưởng mọi niềm vui trần thế, người ta chỉ có cách phân thân nói một đàng làm một nẻo.

Nhưng cũng ngay từ thời phong kiến, trong thâm tâm nhiều thi sĩ rượu đã là một cái gì tốt đẹp hơn nhiều. Rượu là sinh thú của cuộc đời. Là niềm hoan lạc. Là lý do khiến cho đời đáng sống, cũng tức là cái kỷ niệm còn sót lại của một linh hồn sau quãng đời trầm luân, khổ ải. Về phương diện này, bài thơ sau đây (mà tương truyền là của Phạm Thái) đã là một thứ tuyên ngôn:

Sống ở dương gian đánh chén nhè

Thác về âm phủ cắp kè kè

Diêm Vương phán hỏi mang gì đấy

- Be!

Bước sang thời hiện đại, các thú lăng nhăng ngày một nhiều, song đóng vai trò chủ đạo, vẫn là ba món Tú Xương đáng kể, và rượu rõ ra là một món vừa thông dụng, vừa cao quý. Trong số các thi sĩ Việt Nam, Tản Đà có lẽ gần với Lý Bạch hơn cả. Với ông, rượu là bè bạn, là môi sinh. Ông ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, viết báo khi say và tiếp khách ở toà soạn bằng cách mua thức nhắm về làm với nhau một bữa rượu. Vậy mà ông vẫn viết đều đều, sức vóc ông trong nghề viết là sức vóc một đại lực sĩ, ngoài thơ - truyện, ký ông viết cũng tài, mà làm báo cũng một tay bợm! Những bài thơ sảng khoái ca tụng rượu nhiều lần xuất hiện dưới ngòi bút Tản Đà đánh dấu thời kỳ người ta không còn cảm thấy tội lỗi khi hưởng thụ, cũng không phải phân thân nói một đàng làm một nẻo nữa. Có điều thú vị là tự mình uống nhiều đã đành. Tản Đà còn muốn mọi người cùng uống:

Yêu cầu cho khắp mọi nhà

Rượu ty bãi hết rượu ta cất tràn

Tránh cho dân nỗi lầm than

Bã chôn, men giấu, nhà đoan phạt bừa

Tha hồ rượu sớm trà trưa

Nghiêng trai dốc chén say sưa tối ngày.

ở Lưu Trọng Lư, rượu tượng trưng cho cuộc sống phóng túng của một lãng tử. Trong bài thơ nổi tiếng mang tên Giang hồ có tới mấy lần ông nhắc đến rượu mà lần nào cũng chứa chan tình cảm:

- Mời anh cạn hết chén này

Trăng vàng ở cuối non tây ngậm buồn

...

- Để lòng với rượu cùng say

- Giờ này còn của đôi ta

Giang hồ rượu ấy còn pha lệ người.

Trần Huyền Trân làm thơ không nhiều, nhưng có những bài như là rưng rưng trong hơi rượu. Nhà thơ có cái bút danh khăn yếm (chữ của Tô Hoài) từng có những cuộc uống rượu ly biệt với Tản Đà và Lê Văn Trương. Thơ ra đời trong những lúc ấy. Khi mời mọc nhau, ai cũng muốn uống thật nhiều, vì thấy bao nhiêu cũng là không đủ.

Cụ hâm rượu nữa đi thôi

Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu

Rồi lên ta uống với nhau

Rót đau lòng ấy vào đau lòng này.

Khi sảng khoái, nao nức không cần đến rượu bởi biết lúc nào uống cũng kịp, còn uống với nhau vào những dịp khác.

Thôi đợi mùa nao trái chín lành

Tóc này về rúc với râu anh

Bấy giờ hắt toẹt ba chum rượu

Cười kể tâm tình thuở tóc xanh

Tóm lại, với Trần Huyền Trân, rượu là kỷ niệm tình nghĩa bạn bè, là chất men nồng mang lại chút ấm áp trong cuộc đời lạnh giá.

Với một thi sĩ khác là Thâm Tâm thì còn hơn thế, con người càng uống càng tỉnh này nhìn cuộc đời cái gì cũng có liên quan tới rượu. Với ông, rượu trở nên một thứ ngôn ngữ thường trực. Ông nhìn mưa bay bằng con mắt ấy:

Ngoài phố mưa bay xuân bốc rượu

Nhìn cả cuộc đời thoáng qua bằng con mắt ấy:

Người đi? ừ nhỉ, người đi thực

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say

Hầu như toàn bộ thơ Thâm Tâm là tinh hoa chắt ra từ “Cái sống ngang tàng quen bốc men”. Thơ viết bằng rượu. Rượu làm nên thơ. Còn có vinh dự nào hơn?


Wednesday, December 10, 2008

Cây cối thưa thớt



Thuở nhỏ, thằng cháu tôi tên H vốn thích theo các bác các chú về quê, và nay đã ngoài 20, nó vẫn thường được bố mẹ uỷ quyền khi có mặt ở đám giỗ này, khi mừng đám cưới nọ. Thì sẵn xe máy, chỉ vèo một cái, độ tiếng đồng hồ là tới. Lần nào ở quê ra, nó cũng kể cho tôi nghe một vài nhận xét về cái quê gốc của tôi, một làng nghề nổi tiếng ở xứ Kinh bắc. Nhưng chưa bao giờ, tôi thấy nó nêu ra một nhận xét kỳ cục, như cái lần mới đây:
- Cậu ạ, hoá ra nhà quê bây giờ nóng hơn cả Hà Nội.
- Mày nói gì lạ?
- Không có gì lạ, thưa cậu! Trưa nóng quá, người mệt rũ, mà không nhắm mắt ngủ được, ra ngồi vỉa hè, cháu mới để ý: Hoá ra bây giờ làng xóm cây cối thưa thớt quá. Có ít cây cũ thì chặt trụi đi, chưa kịp trồng lại. Cứ bảo làng xóm là ở sau luỹ tre xanh, chứ bây giờ nhiều làng có luỹ tre đâu! Trên đê nhìn xuống, chỉ thấy san sát mái ngói với lại mái bằng. Có mấy cái ao, cũng lấp hết cả, lấy đất xây nhà. Có chút gió đồng thổi vào, thì phải lách qua cả đống bê tông, cậu bảo không nóng sao được?
Có thể cái cách đánh giá của thằng cháu tôi “quê nóng hơn cả Hà Nội” có phần không được khách quan. Chẳng qua là ở Hà Nội, nóng quen đi rồi, còn khi về quê, hy vọng có chút gió mát lại không có, nên nó nói quá lên thế. Nhưng đằng sau cái quá đáng ấy, khôg phải không có một chút sự thực. Là trong giai đoạn bung ra làm ăn xây dựng hiện nay, một số làng xóm nông thôn đang mất đi sự hài hoà vốn có. Đặc biệt là cây cối, loại cây lưu niên, không được chú trọng vun trồng. Cấu trúc bền vững của làng xóm xưa bị phá tung ra, cảnh quan mới hình thành luôn luôn ở tình trạng dang dở, chắp vá. Nếu đúng như thế, thì đó chẳng phải chỉ là nỗi đau của người ở làng, mà còn là nỗi buồn của chúng tôi, những kể xa quê song bao giờ cũng nghĩ về quê như một miền đất thanh bình yên ả. Cái nóng ở quê bao giờ cũng khó chịu đựng

Tuesday, December 9, 2008

Những chấn thương tâm lý hiện đại




(minh họa: Khều)

(TBKTSG) - Nghe báo chí nói tới đã lâu, song mãi tận kỳ vào Sài Gòn hồi tháng 6 vừa qua, tôi mới thật chứng kiến cảnh thành phố kẹt xe triền miên đến vậy. Một tài xế taxi nói: Bây giờ thì chẳng ai nhường đường cho ai nữa, ai cũng cố chen lên bằng được, thành thử đường càng thêm kẹt. Mà con người sao đối xử với nhau quá tệ. Con người bây giờ ác quá!   



Nhận xét ngẫu nhiên của người tài xế đã chạm tới mối quan hệ giữa người với người trong đời sống hàng ngày, mà giao thông chỉ là một khía cạnh. Lẽ ra chúng ta phải nhìn những người đang ngồi trên chiếc xe bên cạnh xe mình với cặp mắt thiện cảm.


Cùng dân thành phố với nhau, cùng lo làm ăn công chuyện, lẽ ra phải giúp đỡ và chia sẻ với nhau. Đằng này hình như mỗi người cùng đi với ta trên đường là đối tượng cạnh tranh với ta, là kẻ ngăn cản ta trong cuộc mưu sinh quyết liệt, kẻ làm hỏng mất dự định tốt đẹp mà ta đang theo đuổi. Giữa những người cùng đi đường tự lúc nào đã nảy sinh cái quan hệ giữa các đối thủ.


Có ai muốn đâu nhưng sao lại có cuộc biến hình khốn khổ vậy!


Chú ý tới một khá cạnh tâm lý nữa: sau khi phải vượt qua một chặng đường chen chúc khó chịu, nhiều người cảm thấy mệt nhoài. Sinh ra nản lòng. Sinh ra ngán ngẩm. Cảm thấy mình không được tôn trọng. Tự thấy mình như bị đọa đày, lại thấy mình có quyền hư hỏng cho đỡ bực...


Có thể tôi đã phóng đại một chút nhưng đó chính là một phần những chấn thương tâm lý mà tình trạng giao thông căng thẳng đã mang lại cho xã hội.  


Tôi lại nhớ tới những chấn thương khác.


Năm 18 tuổi, từ Hà Nội tôi vào thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, học trường đại học sư phạm. Đi cắt hộ khẩu, một việc bình thường mà tôi phải chầu chực, rồi bị vặn vẹo tới mức phải ra ngoài khóc mới đủ sức vào làm tiếp. Gần nửa thế kỷ đã qua, đến nay trong lòng tôi câu chuyện vẫn còn in hằn như vết sẹo.


Con của anh bạn dạy tiếng Anh ở một trường trung học cơ sở mới đây đã xin nghỉ việc để đi làm cho một công ty nước ngoài. Anh bạn cho rằng chỉ vì thu nhập?! Không hẳn. Ở Hà Nội hiện nay chỉ cần biết chút tiếng Anh cũng sống được.


“Khổ nhất với cháu bây giờ là không yêu được học sinh. Chẳng những dốt, lười mà còn... láo với mình nữa chứ. Bài làm mình vừa trả, nó nhìn qua rồi liệng ngay xuống đất. Chỉ vào lớp năm phút nhiều khi cháu đã muốn bỏ lớp để đi. Thế thì làm sao tiếp tục công việc mà người ta bảo là thiêng liêng này được nữa”. Tôi không còn biết khuyên bảo gì nữa khi nghe cháu nói vậy.


Trong các gia đình, các bậc cha mẹ đang phải chứng kiến một lớp trẻ chán chường. Trẻ không thiết học. Trẻ không tìm thấy niềm vui sống. Trẻ nhìn người lớn bằng con mắt nghi ngại, căm ghét. Thế có nên đổ hết lỗi cho lớp trẻ? Không đúng! Mặc dầu chúng ta đã tìm hết cách để hạn chế việc đưa tin gọi là tiêu cực trên mặt báo, song ai cũng hiểu là làm sao ngăn chặn hết được cuộc đời ùa vào tai con em chúng ta. Chỉ cần ra phố, chỉ cần ngồi với một đám bạn bè, chỉ cần nhìn cảnh một phiên tòa trên truyền hình hay lắng nghe câu chuyện qua lại giữa bố mẹ bên mâm cơm... bọn trẻ đã hiểu hết tất cả.


“Cá nhân cảm thấy không thể ảnh hưởng tới hoàn cảnh xã hội đang sống, không tìm được chuẩn mực đúng đắn cho mọi hành vi của bản thân và tự nhiên cuộc đời mất đi khá nhiều ý nghĩa đáng lẽ phải có. Khi nhận ra mọi giá trị đảo lộn, họ cảm thấy chỉ có thể đạt tới mục đích của mình bằng những con đường bất hợp pháp.


Trong khi trở nên càn rỡ hư hỏng, họ vẫn cảm thấy cô đơn và không ai hiểu hết cho mình...”. Đó là nội dung của khái niệm tha hóa được các nhà xã hội học hiện đại miêu tả, và được ghi lại trong cuốn Từ điển xã hội học do nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện chủ biên.


Không còn phân biệt đúng sai, mất lòng tin ở chung quanh và chính mình, không còn cảm thấy cái gì là thiêng liêng, nghe mấy chữ “tình người“ giống như một lời đùa cợt, thấy ai giàu nghĩ ngay rằng người ấy không làm ăn bất hợp pháp thì cũng tham nhũng, ăn cắp... Bằng kinh nghiệm của mình và những người xung quanh, tôi cảm thấy lúc nào cũng có thể bổ sung những chi tiết tương tự để vẽ nên tâm lý con người hiện đại.


Người xưa có câu “cái vạ chết lòng” là chỉ cái ý này. Trong các sách sinh học, người ta nói rằng trước khi chết thực sự, thật ra “cái chết bộ phận” diễn ra thường xuyên trong mỗi sinh vật. Cái sự “chết lòng” nói ở đây cũng dùng theo nghĩa đó. Tôi không nói tất cả, nhưng quả thật tình trạng tha hóa không xa lạ với nhiều người.

Với lớp lớn tuổi thì còn đỡ. Ta tìm cách chống lại. Rồi ta có vẻ khỏi bệnh. Rồi ta lại mắc tiếp. Đến như lớp trẻ thì bệnh trạng phát triển rất nhanh và nhiều trẻ đang nhoài ra khỏi tầm tay chúng ta để sống với niềm tin của những kẻ sống để trả thù đời, bất cần, phá phách. Khi người ta trẻ thì các chấn thương càng nặng.

 Thứ Bảy, 1/11/2008 Thời báo kinh tế Sài Gòn

Những nguy cơ của cuộc sống tạm bợ

(Thử suy nghĩ về một lớp người đặc biệt
những người từ nông thôn kéo lên đô thị
kiếm v iệc dưới góc độ văn hoá)
Chỗ tôi đang sống là một cửa ngõ để ra vào Hà Nội, một thứ “đầu ô” hiện đại. Sáng sớm, cùng với tiếng gà gáy, tôi nghe râm ran tiếng người đi chợ trên đê. Mỗi người mỗi xe đạp, sau xe là cái giá gỗ buộc tạm, trên đặt cây cảnh. Đây là thứ hàng mà họ sẽ phải lang thang suốt ngày ở Hà Nội để bán bằng hết (theo tôi biết, họ thường sáng đi chiều về, chỉ trong trường hợp hàng đọng quá nhiều, mới phải ngủ tạm Hà Nội, nhưng không thường xuyên).
Ai cũng biết đám người bán cây cảnh nói ở đây, chỉ là một bộ phận nhỏ trong đội quân đông đảo những người đêm về nông thôn, nhưng ngày sống với đường phố Hà Nội. Có thể kể thêm vào đây từ mấy chị xe thồ hoa quả hoặc các loại rau xu hào bắp cải, cho tới mấy bà khoác bị giò chả hoặc đôi mẹt quà bánh đi bán rọng. Nhìn qua thì họ vẫn có vẻ nông dân đặc. Nhưng người ta sẽ phải nghĩ khác khi đặt câu hỏi: tính hết thời gian ngày hăm bốn tiếng, họ sống với nông thôn nhiều hơn hay đô thị nhiều hơn? Vậy xếp họ là cư dân ở đâu cho chính xác?
Bên cạnh đám người đi đi về hàng ngày nói trên, còn khá nhiều người từ nông thôn lên tá túc trong những quán trọ bình dân để bám trụ Hà Nội lâu dài hơn. Đó là các chú nhóc chuyên đánh giày len lỏi khắp nơi; là những bà bán kem, hoặc đội thúng bánh mì rao ời ời suốt ngày; rồi những gã trai trẻ hoặc mấy bác diện trung niên thong thả đạp chiếc xe đạp cũ, rọ xe chất chồng các loại bẫy chuột, xích chó, thuốc đánh ruồi..., hoặc những cô gái mặt đỏ rừ đẩy chiếc xe nôi cải tiến, trên xe khi lủng lẳng các loại quần áo, khăn mặt, khi khác chói lên màu xanh đỏ của các loại đồ nhựa. Với những người này, nguồn hàng ở ngay Hà Nội, nên họ không phải đi đi về về mất thì giờ.
Một đặc điểm nữa thấy rõ trong sinh hoạt Hà Nội mấy năm gần đây, ấy là bà con từ quê lên không chỉ lấp đầy đường phố mà còn tràn vào từng gia đình. Tới nhà bạn chơi, thấy có con bé nào là lạ trông em hoặc bưng nước mời khách thì không cần hỏi, ta cũng dễ đoán là loại ô-sin mới học nghề. Ngay nhiều cô cậu đứng bán ở các cửa hàng cũng đều là dân nông thôn tạm tuyển. Mới ra, trông còn đen đủi, nếu như ở đây một hai năm trơn lông đỏ da, cũng dễ nhầm lắm. Song chỉ cần nói mấy câu là lộ chân tướng ngay.
Tóm lại, trước mắt chúng ta là một sự bổ sung thường trực, tạo nên một sự pha trộn kỳ lạ giữa đô thị và nông thôn, nó cũng là một biểu hiện của xu thế đô thị hoá người ta hay nói.
“Một số lượng người chưa từng thấy đang đổ xô vào các thành phố của các nước đang phát triển. Họ làm thế nào để có thể sống nổi?”.
Đó là câu hỏi thảng thốt cất lên trong bài mở đầu của số báo Người đưa tin UNESCO ra tháng 6.1999. Số này dành riêng để nói về tình cảnh người nông thôn ra đô thị kiếm việc, ở hàng loạt nước á - Phi - Mỹ la tinh.
Hoá ra, tình trạng mà trên kia, chúng tôi thử điểm qua, không chỉ là chuyện riêng của Việt Nam.
ở đây, theo thói quen “tình cảm chủ nghĩa”, người ta có thể bắt đầu bằng những cái chép miệng và những lời lẽ thương xót, đại khái như “ối giời! Có khó khăn dân mới phải rời bỏ quê hương bản quán lăn lội kiếm ăn như vậy”, tiếp đó nêu ra vài hoạt động từ thiện cần làm để mọi người cùng an lòng.
Nhưng theo ý chúng tôi, hiện tượng cần được xem xét nghiêm chỉnh hơn. Do chỗ đô thị hoá tự phát đã trở thành một xu thế không thể kiểm soát nổi, nên trước hết nó đòi hỏi một sự phân tích khoa học.
Sự tồn tại của đám người “nửa quê nửa tỉnh” có thể là đề tài của những ai quan tâm tới các vấn đề an ninh, hoặc dân số, hoặc kinh tế. Riêng tôi, tôi muốn lưu ý tới khía cạnh nếp sống của con người trong xã hội, tức xem xét hiện tượng dưới góc độ văn hoá.
Khi nói về một cuộc sống ổn định, dân ta thường dùng hai chữ nền nếp, ý nói mọi hoạt động đi vào cái mạch thông thường của nó, con người sống theo những chuẩn mực mà cộng đồng đã quy định. Qua sự sàng lọc của thời gian, cuộc sống ổn định ấy dần dần hình thành nên một thứ văn hoá chung sống, sinh động, bền vững.
Bắt đầu từ cái tiêu chuẩn ổn định này để xem xét thì thấy cuộc sống của lớp người chúng ta đang nói, thiếu một nền nếp cơ bản nên chỉ còn là bấp bênh, tạm bợ. Do nhu cầu kiếm sống, họ ở trong một tình trạng “rơi tự do”, nghĩa là lạc vào một khung cảnh nhiều phần hỗn độn. Họ không còn là dân nông thôn, chung quanh có gia đình, họ hàng để làm gì cũng phải gìn giữ, phải trông trước trông sau kẻo “mang tiếng”. Họ cũng chưa thành ra dân đô thị, để có được cái mà người ta thường gọi bằng sĩ diện, tức là một chút tự trọng của những cư dân các vùng thuộc loại phát triển trong xã hội. Những thói xấu mà ở nông thôn, giữa môi trường ổn định và quen thuộc, họ dễ dàng kiềm chế, thờ ơ đây được thả lỏng. Ngược lại, những quy chuẩn mà người dân thành thị được giáo dục từ nhỏ tự nguyện noi theo, thì họ không được biết. Vả nếu có biết, họ cũng không bắt buộc phải thực hiện. Vì có ai biết họ là ai mà phải gìn giữ! Quả thật, sự tự do lúc này với con người là cả một thách thức. Có thể với một số người, cuộc kiếm sống đầy gian nan đã rèn giũa cho họ những phẩm chất tốt đẹp. Hàng ngày họ chăm chỉ làm ăn, lam lũ vất vả, chỉ cốt sao có ít tiền gửi về chi viện cho gia đình, hoặc có chút vốn giắt thắt lưng, dùng cho các việc lâu dài. Song với một số người khác, càng sống trong thành thị, họ càng cảm thấy sự vô lý của kiếp người; chắt bóp lắm chẳng qua cũng chỉ thêm được mấy đồng bạc vụn. Trong khi đó những người chung quanh buôn bán trao tay tiền nghìn bạc vạn. Khi đồng tiền kiếm được đã có vẻ vô nghĩa, thì mọi sự gọi là biết điều, đứng đắn cũng vô nghĩa nốt. Trong mỗi con người dễ dàng nảy sinh một thứ hư vô tự phát, tức cho phép mình làm bất cứ việc gì miễn có tiền, và trong lúc chưa có tiền theo ý muốn, dễ rơi vào học đòi, buông thả.
Xin nhắc lại một lần nữa rằng sự tồn tại của đám người nhập cư tự do nói ở đây là một thực tế, và hình như đội ngũ của họ ngày mỗi đông đảo thêm, không cách nào ngăn cản nổi. ....... bây giờ không ai còn nghĩ là chỉ cần dồn họ lên xe chở về quê hương là xong chuyện! Nhưng trong khi chấp nhận họ, người ta lại dễ rơi vào cực đoan khác là phẩy tay mặc kệ, không cần biết họ ăn ở ra sao. Mà cái lối mặc kệ ấy, sau rốt sẽ dẫn đến những tai vạ chung như thế nào đấy là điều ai cũng đoán ra dễ dàng.
Về phần mình, điều đề nghị của chúng tôi ở đây đơn giản là xã hội phải thật sự quan tâm tới họ, và trước khi thi hành bất cứ biện pháp cụ thể nào, hãy suy nghĩ thêm về họ, đặt mình vào địa vị họ để thông cảm. Nên nhớ đám người này chỉ có hai hướng phân hoá.
Một là “gá lắp” mãi cũng thành công, sẽ từ đường vào nhà, từ các quán trọ tiến dần lên định cư trên phố, thành dân đô thị thứ thiệt.
Hai là quay trở lại nông thôn, và trước mặt bà con quê nhà, được coi như những con người từng trải, nhiều khi còn đóng vai trò khơi mào cho mọi thay đổi sẽ diễn ra ở nông thôn.
Bề nào mà xét thì họ cũng là một bộ phận cư dân quan trọng trong lòng xã hội hiện đại./.

Hãy đợi đấy! - hay là thói quen khó bỏ

“Làm thế nào để nếp sống thủ đô trở nên nhuần nhị hơn và văn hoá Hà Nội thật sự là một thứ văn hoá đô thị với nghĩa tốt đẹp của nó?”. Cuối cùng thì ai cũng thấy câu trả lời chả có gì phức tạp, song muốn làm được ngay thì... hãy đợi đấy! Bởi một nếp sống văn hoá không chỉ hình thành trên cơ sở nhận thức - là điều nếu có, may ra có thể - mà còn phải biến thành tiềm thức, thói quen, đến mức không chút cố gắng, người ta cũng làm được. Muốn vậy, phải mất nhiều thời gian lắm.
Khổ một nỗi, trong khi người Hà Nội chưa đủ sức nâng mình lên, thì dân các vùng nông thôn chung quanh lại như là vẫn muốn kéo Hà Nội xuống, và đây mới thật là chuyện “hai lần thương khó”. Có một lẽ công bằng mà không luật pháp nào quy định, song ai cũng thấy phải, ấy là Hà Nội chỉ trở thành đô thị thực thụ nếu nó có thể góp phần giúp cho cuộc sống các vùng chung quanh ngày một ổn định, người dân nông thôn thu nhập khấm khá tới mức nhìn về bà con của mình ở thành thị với con mắt thiện cảm và yên tâm ở lại quê hương “phục vụ” Hà Nội. Nhưng “ốc chưa mang nổi ốc” thì “làm cọc cho rêu” sao được?! Trước mắt, người dân Hà Nội vẫn còn đương phải dựa vào cái ưu thế gần nông thôn của mình để cuộc sống đỡ nặng nề đôi chút, thế mới oái oăm khó gỡ. Lấy một ví dụ: từ lâu, Hà Nội vốn nổi tiếng với các loại hàng rong len lỏi khắp ba mươi sáu phố phường. Vào những ngày này, khi đoàn quân những xe Honda, Dream... hùng hậu nối đuôi nhau trên các ngả đường, thì đội quân hàng rong vẫn nhẫn nại dệt nên tấm võng khổng lồ ngày ngày chụp xuống mọi ngóc ngách Hà Nội. Không chỉ rau cỏ mắm muối mà cả chum vại, cây cảnh và hàng trăm mặt hàng lặt vặt khác đã đến với người dân thủ đô qua đôi vai (hoặc xe đẩy, xe đạp) của người bán rong, phần lớn là những người ven đô, nhưng đôi khi là những người của các tỉnh xa đến kiếm sống. Nhìn mấy chị xe thồ hai bên hai cái sọt to bự nghênh ngang giữa đường, kể ai mà chẳng ngán. Nhưng bù lại, họ mang hàng đến tận nơi mời chào, và đôi khi giá lại rẻ nữa, hỏi tội gì không mua? ấy đấy, trong khi luôn miệng ta thán rằng cái thành phố của mình chẳng khác làng quê, thì người dân Hà Nội vẫn từng ngày từng giờ góp phần làm cho cái nếp sống thôn thôn bắt rễ sâu hơn trong đời sống hằng ngày, nên thay đổi nhanh làm sao nổi.

Chuyện gẫu quanh một bài thơ của Nguyễn Khuyến

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Từ đã bao lâu nay, bài thơ Thu điếu (Câu cá mùa thu) ấy đã được đưa vào các trường phổ thông để dạy, và còn lưu luyến mãi trong tâm trí nhiều lớp người bất kể gốc gác xuất thân là nông thôn hay thành thị. Vào những ngày thu năm nay, mặc dù tuổi đã lớn, tôi và đám bạn bè đồng niên, không ai bảo ai, trong dịp gặp nhau cũng tự nhiên nhắc tới nó. Và khi một người đã lên tiếng, thì những người khác đế theo ngay.
Anh A. thuộc loại mơ mộng:
- Khả năng của văn chương là ghê thật. Nó cố định trong mình những hình ảnh, kèm theo đó là bao nhiêu liên tuởng xa gần.
Anh B. để hồn phiêu diêu trong quá khứ:
- Thế mới biết nông thôn mình đẹp, nó có cái vẻ thơ mộng riêng, không đâu có.
Anh C. thì nghiêng về lối tư duy tỉnh táo, nên sau khi đã cố kiềm chế vẫn phải lên tiếng để dội cho mọi người một gáo nước lạnh:
- Ôi dào, đọc cho vui thôi, chứ bây giờ ở nhiều vùng nông thôn, ao chuôm lấp tiệt cả, cái nào còn lại, nước cống đổ vào cũng đen ngòm. Tát ao mới thấy chả khác cái vũng, cá mú đâu mà câu.
Câu chuyện xem chừng sắp đến chỗ ông chẳng bà chuộc, anh D. phải đứng ra dàn hoà:
- Tôi không muốn làm người ba phải, nhưng trong trường hợp này, cho phép tôi được đồng ý với tất cả các anh và người nào cũng có lý cả. Nhất là tôi muốn nhấn mạnh thêm một khía cạnh: Qua cái ao, thấy số phận của cả nông thôn, những vùng quê của chúng ta. Nông thôn hôm qua, hôm nay, và ở đó, có cả nông thôn ngày mai nữa. Cũng như các anh, tôi thích bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến, nhưng vào những ngày này, tôi thường nghĩ: đến bao giờ chúng ta mới có thêm những bài thơ khác, những tác phẩm văn chương khác, nói cho hết vẻ đẹp hôm nay của nông thôn? Vâng, vẻ đẹp hôm nay, cái đó mới khó!
Còn các bạn đọc của tôi, các bạn có bao giờ nhớ lại bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến, và lúc ấy, bạn chợt nghĩ tới điều gì, có liên quan đến nông thôn Việt Nam xin hãy cho tôi cùng biết.